Xét xử sơ thẩm được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng hình sự quy định sẽ bảo đảm cho công tác xét xử được khách quan, chính xác, thể hiện được vai trò, vị thế nhân
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG QUANG PHƯƠNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn ghi trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Tác giả luận văn
Nguyễn Sỹ Thành
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1:NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM 7
1.1 Khái niệm, vai trò, ý nghĩa của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 7
1.1.1 Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 7
1.1.2 Vai trò của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 8
1.1.3 Ý nghĩa của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 9
1.2 Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2003 9
1.2.1 Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự từ năm 1945 đến năm 1988 9
1.2.2 Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự 1988 10
1.3 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 11
1.3.1 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 11
1.3.2 Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 18
1.3.3 Quy định chung về xét xử tại phiên tòa sơ thẩm hình sự 28
1.3.4 Trình tự xét xử vụ án hình sự tại phiên toà sơ thẩm 34
1.3.5 Một số thủ tục tố tụng sau phiên tòa sơ thẩm 45
Chương 2: THỰC TIỄN THI HÀNH QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM TẠI TỈNH ĐẮK LẮK 47
Trang 52.1 Đánh giá chung về tình hình xét xử sơ thẩm hình sự của Tòa án
nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk 47
2.2 Thực tiễn xét xử sơ thẩm hình sự của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk 52
2.3 Những vi phạm, sai lầm trong thực tiễn xét xử sơ thẩm hình sự tại tỉnh Đắk Lắk 54
2.3.1 Những vi phạm, sai lầm trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm 54
2.3.2 Những vi phạm, sai lầm về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm 61
2.3.3 Những vi phạm, sai lầm về các thủ tục sau phiên tòa sơ thẩm 70
2.3.4 Nguyên nhân của những vi phạm, sai lầm 71
Chương 3:CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ TẠI TỈNH ĐẮK LẮK 75
3.1 Những đòi hỏi nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm hình sự 75
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm hình sự tại tỉnh Đắk Lắk 77
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về xét xử sơ thẩm 77
3.2.2 Giải pháp hướng dẫn thi hành pháp luật và xây dựng án lệ 100
3.2.3 Giải pháp về tăng cường năng lực người tiến hành tố tụng 102
3.2.4 Các giải pháp khác 103
KẾT LUẬN 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC 116
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCA: Bộ Công an
BLHS: Bộ luật hình sự
BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT: Cơ quan điều tra
ĐHQGHN: Đại học Quốc gia Hà Nội HĐTP: Hội đồng Thẩm phán
TAND: Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
TAQS: Tòa án quân sự
TTHS: Tố tụng hình sự
TTLT: Thông tư liên tịch
TW: Trung ương
VKS: Viện kiểm sát
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG Ở PHỤ LỤC
Bảng 2.1: Số liệu các phiên tòa hình sự sơ thẩm tổ chức rút kinh nghiệm
về chất lượng xét xử của TAND hai cấp tỉnh Đắk Lắk 116 Bảng 2.2: Số liệu bản án hình sự sơ thẩm bị hủy, cải sửa nghiêm
trọng của TAND hai cấp tỉnh Đắk Lắk 116 Bảng 2.3: Số liệu vụ án hình sự sơ thẩm TAND hai cấp tỉnh Đắk
Lắk trả hồ sơ để điều tra bổ sung 117 Bảng 2.4: Số liệu hội thẩm tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk 117 Bảng 2.5: Số liệu vụ án hình sự sơ thẩm có luật sư tham gia bào
chữa cho bị cáo tại các phiên tòa hình sự sơ thẩm của TAND hai cấp tỉnh Đắk Lắk 117 Bảng 2.6: Số liệu văn phòng luật sư và số lượng luật sư trên địa bàn
Bảng 2.7: Số liệu vụ án hình sự sơ thẩm có trợ giúp viên pháp lý của
trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Đắk Lắk tham gia bào chữa 118
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết vụ án hình sự là một quá trình gồm nhiều giai đoạn khác nhau từ giai đoạn khởi tố vụ án, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành bản án và do nhiều cơ quan tố tụng tiến hành Các giai đoạn này đều có vai trò, ý nghĩa nhất định trong việc tìm ra sự thật của vụ án Trong đó, hoạt động xét xử sơ thẩm của Tòa án có vị trí rất quan trọng, được coi là trung tâm của quá trình giải quyết vụ án hình sự Tất
cả các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố đều nhằm phục vụ cho việc xét xử của Tòa án và đều được thể hiện một cách công khai tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Xét xử sơ thẩm được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng hình sự quy định sẽ bảo đảm cho công tác xét xử được khách quan, chính xác, thể hiện được vai trò, vị thế nhân danh Nhà nước của Tòa án trong việc thực hiện chức năng xét xử, nhằm bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Thực tiễn xét xử trong một số năm vừa qua trên địa bàn cả nước nói chung
và trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng cho thấy mặc dù số lượng án hình sự hàng năm đều tăng, nhưng nhìn chung Tòa án các cấp đã thực hiện tốt các quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong xét xử hình sự nói chung và xét xử sơ thẩm nói riêng.Tuy nhiên, hiệu quả xét xử sơ thẩm hình sự vẫn chưa thực sự được nâng cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp Thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk vẫn xảy ra tình trạng án để quá hạn, án xử sai
và còn có trường hợp án sơ thẩm xử oan người không có tội, bỏ lọt tội phạm mà điển hình là vụ án Trần Thọ Đức bị TAND huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk xét xử
sơ thẩm về tội “Vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”,
án sơ thẩm lần một tuyên Trần Thọ Đức phạm tội, án phúc thẩm hủy án sơ thẩm để điều tra lại Kết quả điều tra lại, Cơ quan điều tra đã ra quyết định đình chỉ bị can đối với Trần Thọ Đức và khởi tố bị can đối với Trần Thanh Sang Bởi vì, kết quả điều tra lại vụ án đã có căn cứ xác định Trần Thanh Sang là người điều khiển xe mô
Trang 9tô gây tai nạn chứ không phải là Trần Thọ Đức Vụ án này xảy ra từ năm 2010 nhưng đến cuối năm 2014 mới xét xử sơ thẩm lần hai, kết quả xét xử sơ thẩm hai lần hoàn toàn khác nhau, gây bất bình trong nhân dân, bức xúc trong dư luận, làm giảm uy tín của các cơ quan tư pháp, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật và đấu tranh phòng chống tội phạm
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại nói trên, trong đó có nguyên nhân rất quan trọng là những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự cụ thể là quy định chưa đồng bộ, chưa đẩy đủ, chưa rõ ràng, gây khó khăn trong việc áp dụng Bên cạnh đó, Đắk Lắk là tỉnh miền núi, trình độ dân trí thấp, công tác cán bộ ngành tư pháp vẫn còn nhiều hạn chế, cơ sở vật chất của Tòa án các cấp còn thiếu thốn, chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay
Trong giai đoạn hiện tại, cùng với việc tiếp tục đẩy nhanh quá trình cải cách kinh tế và cải cách nền hành chính Quốc gia, công cuộc cải cách tư pháp cũng đang được Đảng và Nhà nước ta đẩy mạnh, coi đây là khâu đột phá quan trọng, thúc đẩy quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam Xã hội chủ nghĩa Một trong những nhiệm vụ của cải cách tư pháp hiện nay theo tinh thần của Nghị
quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020” là phải “Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn
vị trí, quyền hạn, nhiệm vụ của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh, nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp” [3]
Xuất phát từ những đòi hỏi của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay và thực
tiễn xét xử sơ thẩm hình sự trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, việc nghiên cứu đề tài: “Xét
xử sơ thẩm theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)”, là yêu cầu khách quan, cần thiết cả về phương diện lý luận
cũng như thực tiễn nhằm góp phần nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm hình sự, đảm bảo quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xét xử sơ thẩm hình sự đã được các nhà khoa học pháp lý và cán bộ thực tiễn nghiên cứu ở nhiều cấp độ và phạm vi khác nhau
Trang 10Công trình nghiên cứu mang tính đại cương có: 1 TS Nguyễn Ngọc Chí chủ
biên (2001), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Khoa Luật, Đại học Quốc
gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2 PGS-TS Hoàng Thị Minh Sơn chủ
biên (2008), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam (tái bản lần thứ 4, có sửa đổi,
bổ sung), Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân 3 TS Nguyễn Sơn
(2004), phần 5 chương 2, chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự - Giáo trình kỹ
năng giải quyết vụ án hình sự, Nxb Tư pháp, Hà Nội
Các công trình nghiên cứu chuyên sâu có: 1 TS Hoàng Thị Minh Sơn chủ
nhiệm đề tài (2009), Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự nhằm nâng cao hiệu quả
xét xử theo tinh thần cải cách tư pháp, đề tài cấp trường, Đại học Luật Hà Nội 2
Tống Thị Thanh Thanh (2004), Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Luận văn
thạc sỹ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội 3 Nguyễn Quỳnh Trang
(2008), Thủ tục tố tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, Luận văn thạc sỹ Luật học,
Khoa luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội
Các bài viết có: 1 TS Hoàng Thị Minh Sơn: “Một số qui định của Bộ luật tố
tụng hình sự về quyết định của Tòa án trong hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm và thực tiễn áp dụng”, tạp chí Luật học số 7/2009; 2 Nguyễn Quốc Việt: “Tranh tụng trong hoạt động tố tụng hình sự và vấn đề hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự”, tạp
chí Dân chủ và pháp luật số 6/2010; 3 Đinh Văn Quế: “Phương hướng hoàn thiện
các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự”, tạp
chí Tòa án nhân dân (số 17/T9 - 2011); 4 Vũ Gia Lâm: “Hoàn thiện một số quy
định về xét xử sơ thẩm hình sự nhằm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử”, tạp chí Tòa án nhân dân (số 21/T11 - 2011)
Các công trình khoa học và bài viết nêu trên đều có giá trị rất lớn về lý luận
và thực tiễn, nhưng chỉ mới nghiên cứu những vấn đề chung hoặc về từng giai đoạn của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về xét xử sơ thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ lý luận và nội dung cơ bản của hoạt động xét xử sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, làm sáng tỏ những thiếu sót bất cập theo quy định của BHTTHS 2003 về xét xử sơ thẩm trước yêu cầu đẩy mạnh cải cách tư pháp hiện nay, việc áp dụng các qui định pháp luật tố tụng hình sự trong thực tiễn xét xử sơ thẩm hình sự tại tỉnh Đắk Lắk cũng như xác định một số vi phạm, sai lầm và nguyên nhân của nó, tác giả đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm hình sự trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
Mặt lý luận: Xây dựng khái niệm, phân tích đặc điểm cơ bản, vai trò, ý nghĩa của hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, đồng thời phân tích và đánh giá những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đối về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Mặt thực tiễn: Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự từ thực tiễn tại tỉnh Đắk Lắk Thông qua đó phân tích những khiếm khuyết bất cập các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và những sai lầm, vi phạm trong việc áp dụng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 từ thực tiễn của TAND hai cấp tỉnh Đắk Lắk, tìm ra nguyên nhân vi phạm, sai lầm và đề ra phương hướng nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm hình sự trong mối quan hệ với yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay cũng như nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến định
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thứ nhất, các vấn đề lý luận cơ bản về xét xử sơ thẩm hình sự
Thứ hai, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự và thực tiễn áp dụng của TAND hai cấp tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, tại phiên tòa sơ thẩm và một số hoạt động tố tụng khác sau phiên tòa sơ thẩm
Trang 125 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận Triết học Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Để hoàn thiện luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp khảo sát thực tiễn
6 Ý nghĩa của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu khoa học chuyên ngành Luật tố tụng hình sự tương đối có hệ thống và đầy đủ các vấn đề lý luận và thực tiễn đối với hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở cấp độ một luận văn thạc sĩ Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã làm sáng tỏ một số vấn đề sau: Phân tích một cách
có hệ thống và tương đối toàn diện vấn đề lý luận về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: Khái niệm, bản chất, vai trò, ý nghĩa của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Luận văn chỉ ra được nhiều bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình
sự hiện hành về thẩm quyền xét xử, giới hạn xét xử, thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm Trên cơ sở đó đề xuất kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự trước yêu cầu cải cách tư pháp
Đánh giá được thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND hai cấp tỉnh Đắk Lắk Qua đó đề xuất một số giải pháp cho từng nhóm vấn đề nhằm nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm hình sự để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh cải cách tư pháp hiện nay
Về mặt lý luận, Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học tương đối toàn
Trang 13diện những vấn đề về lý luận và thực tiễn đối với hoạt động xét xử sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn góp phần làm sáng tỏ và bổ sung vào khoa học pháp lý tố tụng hình sự, là tài liệu tham khảo trong quá trình giảng dạy môn Luật tố tụng hình sự ở các cơ sở đào tạo pháp luật ở Việt Nam
Về mặt thực tiễn, Luận văn nhằm đóng góp cho việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật
tố tụng hình sự sắp tới theo hướng bảo vệ quyền con người, quyền công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013 Là tài liệu tham khảo cho những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong việc nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm hình sự theo tinh thần đẩy mạnh cải cách tư pháp hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có
3 chương:
- Chương 1 Những vấn đề chung và Quy định của pháp luật tố tụng hình sự
Việt Nam về xét xử sơ thẩm
- Chương 2 Thực tiễn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 về xét xử sơ thẩm tại tỉnh Đắk Lắk
- Chương 3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm hình sự tại tỉnh
Đắk Lắk
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM
1.1 Khái niệm, vai trò, ý nghĩa của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.1 Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Các bản Hiến pháp của nước ta, đặc biệt là Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013 đều quy định Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa Quân sự là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Như vậy, xét xử là chức năng của Tòa án, không có cơ quan nào ngoài Tòa án có thể thực hiện chức năng xét xử Trong việc thực hiện chức năng xét xử, Tòa án xét xử về hình sự, xét xử về dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và các lĩnh vực khác do pháp luật quy định
Hoạt động xét xử của Tòa án hiểu theo nghĩa chung nhất là “hoạt động của các cơ quan và cá nhân được quyền căn cứ vào pháp luật để xem xét những vấn đề pháp lý và đưa ra những phán quyết có tính bắt buộc” cụ thể hơn ta có thể hiểu hoạt động xét xử là “hoạt động nhân danh Nhà nước đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp, tính đúng đắn pháp luật hay quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp và mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích khác nhau” [7 tr.253]
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một công đoạn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nhưng
là một công đoạn đặc biệt quan trọng Việc xét xử sơ thẩm chỉ được tiến hành sau khi
Cơ quan điều tra đã có bản kết luận điều tra vụ án và Viện kiểm sát đã truy tố bị can
ra trước Tòa án bằng bản cáo trạng Trên cơ sở hồ sơ vụ án và quyết định truy tố của Viện kiểm sát chuyển sang, Tòa án lần đầu tiên sẽ nghiên cứu để quyết định đưa vụ
án ra xét xử hay không Nếu Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì vụ án hình
sự lần đầu tiên sẽ được đưa ra xem xét công khai tại phiên tòa và xét xử sơ thẩm được xác định như là một giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết một vụ án hình sự Mọi tài liệu, chứng cứ của vụ án do Cơ quan điều tra, truy tố thu thập trong quá trình
Trang 15điều tra vụ án được xem xét một cách công khai tại phiên tòa, những người tiến hành
tố tụng và người tham gia tố tụng được nghe trực tiếp lời nói của nhau, được tranh luận chất vấn những điều mà tại Cơ quan điều tra họ không có điều kiện thực hiện Xét xử sơ thẩm được coi như là đỉnh cao của quyền tư pháp bởi vì, tại phiên tòa quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được thực hiện công khai đầy đủ nhất, nếu như bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra và bản cáo trạng của Viện kiểm sát chỉ là những kết luận sơ bộ về vụ án thì bản án của Tòa
án mới là kết luận chính thức và công khai về việc bị cáo có tội hay không có tội, nếu
có tội thì bị cáo phạm tội gì, theo qui định tại điểm, khoản, điều nào của Bộ luật hình
sự và mức hình phạt cụ thể được áp dụng đối với bị cáo [7, tr.175]
Từ những phân tích như trên có thể đưa ra khái niệm: Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng hình sự mà Tòa án được giao thẩm quyền, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, lần đầu tiên đưa vụ án hình sự ra xem xét công khai tại phiên tòa, nhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải là người phạm tội hay không để từ đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp với tính chất của vụ án mà Viện kiểm sát đã truy tố
1.1.2 Vai trò của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Với vị trí là trung tâm của quá trình giải quyết vụ án hình sự, xét xử sơ thẩm
có vai trò đặc biệt quan trọng mang tính quyết định trong việc giải quyết đúng đắn, khách quan vụ án hình sự, bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà bước, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự còn có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo các quyền tự do dân chủ, quyền bình đẳng trước pháp luật của công dân Bởi vì, tại phiên tòa sơ thẩm, những người tham gia tố tụng được bình đẳng với nhau và bình đẳng cả với đại diện Viện kiểm sát trong việc xuất trình chứng cứ, tranh luận
và đưa ra các yêu cầu, đề nghị thay đổi những người tiến hành tố tụng, yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng Người tham gia tố tụng được trực tiếp nghe lời khai, lời trình bày của những người tham gia tố tụng khác, được đối chất và tự mình hoặc nhờ người khác đưa ra những lý lẽ để bảo vệ mình Bởi vậy có thể nói,
Trang 16phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là nơi thể hiện đầy đủ nhất quyền dân chủ của cá nhân, công dân [32, tr.16]
1.1.3 Ý nghĩa của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Bằng việc xét hỏi và tranh luận công khai và việc áp dụng hình phạt công bằng, nghiêm minh đối với người phạm tội, người phạm tội và những người tham gia phiên tòa sẽ hiểu rõ các quy định của pháp luật cũng như quan điểm xử lý và chính sách của Nhà nước đối với người phạm tội để tránh vi phạm pháp luật Điều này góp phần nâng cao ý thức pháp luật của người dân trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm
Xét xử sơ thẩm là một giai đoạn tố tụng mà ở đó đòi hỏi những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải tập trung một cách cao nhất trí tuệ, xử
lý tình huống một cách nhanh chóng nhưng phải đúng quy định của pháp luật, các
lý lẽ đưa ra không chỉ đòi hỏi sự chính xác mà phải mang tính thuyết phục nhưng đồng thời phải tuân theo những quy định của pháp luật Vì vậy, thông qua xét xử
sơ thẩm có thể đánh giá được trình độ nghiệp vụ của Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, của Luật sư và những người tham gia tố tụng khác Cũng thông qua xét
xử sơ thẩm mà Thẩm phán, Kiểm sát viên, Hội thẩm, Luật sư nâng cao được trình
độ nghiệp vụ, năng lực công tác và kỹ năng nghề nghiệp, những người dự phiên tòa hiểu biết thêm về pháp luật, củng cố lòng tin vào Công lý, niềm tin vào Tòa
án Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm hình sự với kết quả bằng bản
án, quyết định khách quan, chính xác, toàn diện có tác dụng to lớn không chỉ đối với một vụ án cụ thể mà còn tạo được lòng tin trong nhân dân, làm giảm tỷ lệ án
sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, góp phần tiết kiệm được thời gian, tiền bạc của Nhà nước và nhân dân, nâng cao uy tín của ngành Tòa án
1.2 Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2003
1.2.1 Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự từ năm 1945 đến năm 1988
Trong giai đoạn từ ngày thành lập nước Việt nam dân chủ cộng hòa (1945)
Trang 17cho đến trước khi ban hành Hiến pháp năm 1959, các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự về xét xử nói chung và xét xử sơ thẩm hình sự nói riêng chưa được hệ thống hóa trong một văn bản nhất định mà nằm rải rác trong các Sắc lệnh của Chủ tịch nước, Luật, Thông tư Nhìn chung, các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự ở giai đoạn này chịu ảnh hưởng của pháp luật tố tụng hình sự của Pháp và còn đơn giản, chung chung, chưa cụ thể nên còn được áp dụng tùy tiện, sai lầm điển hình là trong cải cách ruộng đất 1953 - 1956
Trong giai đoạn từ năm 1959 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988: Hiến pháp năm 1959 và luật tổ chức Tòa án năm 1960, luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 ra đời đã đánh dấu một bước phát triển mới trong lịch
sử lập pháp của nước ta Lần đầu tiên, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng được xác định rõ trong các văn bản pháp luật, chức năng xét xử hình
sự được tách khỏi chức năng buộc tội, cơ quan Công tố tách khỏi Chính phủ Có thể nói đây là cơ sở pháp lý để hoàn thiện một bước pháp luật tố tụng hình sự nói chung
và pháp luật tố tụng hình sự về xét xử sơ thẩm nói riêng
Như vậy, trong giai đoạn từ năm 1959 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, chúng ta vẫn chưa có một Bộ luật tố tụng hình sự thống nhất Tuy vậy, các quy phạm của pháp luật tố tụng hình sự ở giai đoạn này tuy chưa đầy
đủ, cụ thể, rõ ràng nhưng đã góp phần bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hình sự chính xác, đảm bảo nhiệm vụ bảo vệ chế độ, bảo vệ Nhà nước, bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của công dân Đặc biệt với việc ban hành hướng dẫn về trình tự, thủ tục tố tụng hình sự sơ thẩm đã làm cơ sở nền tảng cho việc xây dựng Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
1.2.2 Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo qui định của Bộ luật tố tụng hình
sự 1988
Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội nước ta thông qua vào ngày 28/6/1988 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989 Bộ luật này là sự kế thừa của các quy định về pháp luật tố tụng hình sự trước đó và chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của Bộ luật tố tụng hình sự Liên Xô
Trang 18Xét xử sơ thẩm được quy định tại phần thứ ba của Bộ luật tố tụng hình sự này
Có thể thấy, đây là bộ luật quy định tương đối đầy đủ và rõ ràng về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự nói chung và xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng Sau khi ban hành bộ luật này một thời gian, nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm trong tình hình mới đồng thời để phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 1992, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều vào các năm 1990, 1992 và năm 1999 Sau các lần sửa đổi, bổ sung
đó, các quy định về xét xử sơ thẩm được sửa đổi theo hướng “dựa trên nguyên tắc không hạn chế quyền của bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, đồng thời bảo đảm hoạt động có hiệu quả của các cơ quan bảo vệ pháp luật trước yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới”
1.3 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự
BLTTHS năm 2003 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004 Xét xử sơ thẩm được quy định tại phần thứ ba từ chương XVI đến chương XXII của bộ luật này gồm: Chương XVI quy định về thẩm quyền xét xử; Chương XVII quy định về chuẩn bị xét xử; Chương XVIII quy định chung về thủ tục tố tụng tại phiên tòa; Chương XIX quy định về thủ tục bắt đầu phiên tòa; Chương XX quy định về thủ tục hỏi tại phiên tòa; Chương XXI quy định về tranh luận tại phiên tòa; Chương XXII quy định về nghị án và tuyên án
1.3.1 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là việc phân định thẩm quyền giữa các cấp Tòa án căn cứ vào sự việc phạm tội, đối tượng phạm tội và nơi tội phạm được thực hiện
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 dựa vào một số dấu hiệu nhất định của vụ
án hình sự để phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của các cấp Tòa án Đó là các dấu hiệu về tính chất nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm (loại tội phạm), nơi tội
Trang 19phạm thực hiện và người thực hiện tội phạm, cá biệt còn căn cứ vào hành vi phạm tội gây thiệt hại cho lĩnh vực quản lý nhà nước nào để xác định thẩm quyền xét xử
sơ thẩm giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự trong một số trường hợp nhất định Dựa trên ba tiêu chí được xác định ở trên, pháp luật tố tụng hình sự hiện hành phân định các loại thẩm quyền như sau:
Thứ nhất là thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc: Là loại thẩm quyền được phân định giữa các cấp Tòa án với nhau căn cứ vào tính chất của tội phạm Căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của từng tội phạm cụ thể mà giữa các Tòa án có sự phân định thẩm quyền xét xử theo sự việc
Trong hệ thống TAND và TAQS nước ta hiện nay, TAND cấp huyện và TAQS khu vực là Tòa án cấp thấp nhất.Việc quy định đúng đắn về thẩm quyền xét
xử của TAND cấp huyện và TAQS khu vực có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ tố tụng hình sự Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cho thấy thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện và TAQS khu vực ngày càng được mở rộng một cách hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển của
xã hội cũng như yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, cụ thể là: Trước năm
1960 pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định TAND cấp huyện và cấp tương đương chỉ được xử phạt vi cảnh
Luật tổ chức TAND năm 1960 quy định TAND cấp huyện được phân xử những việc hình sự nhưng không phải mở phiên tòa
Pháp lệnh ngày 23/6/1961 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về tổ chức của
TANDTC và TAND địa phương quy định: “Tòa án nhân dân địa phương thuộc
tỉnh, thành phố, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương có thẩm quyền
sơ thẩm những vụ án hình sự có thể phạt tù từ hai năm trở xuống” [39]
Tại Điều 36 Luật tổ chức TAND năm 1981 quy định: Các Tòa án nhân dân huyện quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền sơ thẩm những vụ án hình
sự có mức phạt tù từ 5 năm trở xuống, trừ những loại việc sau đây:
+ Những tội xâm phạm an ninh Quốc gia
+ Những tội phạm hình sự khác có tính chất nghiêm trọng, phức tạp hoặc gây hậu quả lớn
Trang 20Như vậy, theo quy định của điều luật này thì TAND cấp huyện và tương đương có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà luật quy định mức hình phạt
từ 5 năm tù trở xuống
Tại thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 26/7/1986 hướng dẫn: Các Tòa án huyện cũng được xét xử một số tội mà pháp luật quy định hình phạt từ 7 năm tù trở xuống nhưng có tình tiết giảm nhẹ cho phép xử 5 năm tù trở xuống
Tại khoản 1 Điều 145 BLTTHS 1988 quy định: TAND cấp huyện và TAQS khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những tội phạm mà BLHS quy định hình phạt 7 năm tù trở xuống, trừ những tội sau:
+ Các tội xâm phạm an ninh Quốc gia
+ Các tội quy định ở các Điều 95, 96, khoản 1 Điều 172 và các điều 222,
223, 263, 294, 295 Bộ luật hình sự (BLHS năm 1985)
Khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm 2003 quy định: Tòa án nhân dân cấp huyện
và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm
ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ các tội phạm sau đây:
a) Các tội phạm xâm phạm an ninh Quốc gia
b) Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh c) Các tội quy định tại các Điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221,
222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự (BLHS năm 1999)
Như vậy, theo quy định của BLTTHS năm 2003, thẩm quyền xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự của TAND cấp huyện, TAQS khu vực đã tăng lên đáng kể Việc quy định thẩm quyền của TAND cấp huyện, TAQS khu vực về sự việc đã căn cứ vào việc phân loại tội phạm trong BLHS năm 1999 tạo ra tính nhất quán trong các quy định khác của BLTTHS như thời hạn điều tra, truy tố, xét xử Tuy nhiên việc tăng thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cho TAND cấp huyện còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như trình độ năng lực của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán cấp huyện, số lượng đội ngũ những người tiến hành tố tụng, cơ sở vật chất của
Trang 21TAND cấp huyện vì vậy Nghị quyết số 24/2003/QH11 về việc thi hành BLTTHS năm 2003 đã quy định lộ trình áp dụng thẩm quyền, chậm nhất ngày 01/7/2009 thì tất cả TAND cấp huyện, TAQS khu vực thực hiện thống nhất thẩm quyền xét xử quy định tại khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm 2003
Có thể thấy, căn cứ để xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của TAND cấp huyện, TAQS khu vực dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội phạm trong vụ án hình sự được đưa ra xét xử sơ thẩm không vượt quá 15 năm tù Mức hình phạt từ 15 năm tù trở xuống là do Bộ luật hình sự 1999 quy định đối với từng tội phạm mà Viện kiểm sát truy tố trước Tòa án cấp huyện.Trong trường hợp tội phạm được đưa ra xét xử có mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt mà Bộ luật hình sự quy định trên 15 năm tù thì không thuộc thẩm quyền xét xử
sơ thẩm của TAND cấp huyện và TAQS khu vực
Trong phần các tội phạm có nhiều điều luật mà ở mỗi điều luật đó có nhiều khung với nhiều mức hình phạt khác nhau, trong đó có khung có mức hình phạt từ
15 năm tù trở xuống và có khung có mức hình phạt trên 15 năm tù Trong trường hợp này những khung nào của điều luật quy định từ 15 năm tù trở xuống thì thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện, TAQS khu vực; những khung nào của điều luật quy định mức hình phạt trên 15 năm tù trở lên thì vụ án đó không thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp huyện, TAQS khu vực
Nếu một người phạm nhiều tội, mà mỗi tội có mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy từ 15 năm tù trở xuống thì vẫn thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp huyện, TAQS khu vực Trong trường hợp này khi tổng hợp hình phạt có thể ấn định hình phạt chung trên 15 năm tù nhưng không vượt quá mức hình phạt tù (30 năm)
Nếu bị cáo phạm nhiều tội, trong đó có tội thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện, TAQS khu vực, có tội thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh, TAQS cấp quân khu thì Tòa án cấp trên xét xử sơ thẩm vụ án đó
Trong trường hợp TAND cấp huyện, TAQS khu vực xét xử tội phạm được quy định trong BLHS có mức hình phạt từ 15 năm tù trở xuống, nhưng qua xét xử
Trang 22mà thấy rằng tội phạm này có mức hình phạt trên 15 năm tù (khung hình phạt nặng hơn) thì Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để VKS chuyển hồ sơ lên cho VKS cấp trên để truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án theo đúng thẩm quyền
Xuất phát từ tính chất của tội phạm cũng như các phức tạp trong cấu thành tội phạm của một số tội phạm cụ thể và trình độ năng lực của đội ngũ Thẩm phán TAND cấp huyện, TAQS khu vực, các tội xâm phạm an ninh Quốc gia quy định tại chương XI và các tội phạm quy định tại các Điều 93, 95, 96 khoản 1 Điều 172 và các Điều 22, 223, 263, 294, 295, 296 BLHS thì mặc dù mức cao nhất của khung hình phạt đối với các tội phạm này từ 15 năm tù trở xuống nhưng không thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện, TAQS khu vực Những vụ án này thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp trên
Khoản 2 Điều 170 BLTTHS quy định thẩm quyền xét xử của TAND cấp
tỉnh, TAQS cấp quân khu: “Tòa án nhân dân cấp tỉnh, TAQS cấp quân khu xét xử
sơ thẩm các vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện, TAQS khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới
mà mình lấy lên để xét xử”
Theo quy định của điều luật thì TAND cấp tỉnh, TAQS cấp quân khu xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự đối với hai loại tội phạm:
Một là những tội phạm được quy định trong BLHS có mức cao nhất của
khung hình phạt đối với tội phạm ấy trên 15 năm tù trở lên và những tội xâm phạm
an ninh Quốc gia quy định tại chương XI và các tội phạm quy định tại Điều 93, 95,
96, khoản 1 Điều 172 và các Điều 22, 223, 263, 294, 295, 296 BLHS
Hai là những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện,
TAQS khu vực nhưng TAND cấp tỉnh, TAQS cấp quân khu lấy lên để tự mình xét
xử khi thấy cần thiết Thông thường đó là những vụ án hình sự có nhiều tình tiết phức tạp liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, những vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Sỹ quan Công an, Cán bộ chủ chốt cấp huyện, người nước ngoài, người có chức sắc trong dân tộc, tôn giáo Những vụ án này, đúng ra thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp huyện, TAQS khu vực nhưng nếu để
Trang 23Tòa án cấp này xét xử thì không có lợi về chính trị - xã hội, cho nên Tòa án cấp trên lấy những vụ án này lên để tự mình xét xử
Thứ hai là thẩm quyền xét xử sơ thẩm hình sự theo đối tượng: Là sự phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm giữa TAND và TAQS, cũng như giữa các TAQS các cấp căn cứ vào đối tượng phạm tội
Đối tượng phạm tội ở đây có những đặc điểm nhân thân nhất định là căn cứ
để phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm giữa các TAQS
Theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 2002 và hướng dẫn tại phần III Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC - VKSNDTC -BCA - BQP ngày 18/4/2005: “Các Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử những vụ
án hình sự mà bị cáo là:
1 Quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân viên quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu, dân quân tự vệ phối hợp với Quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị Quân đội trực tiếp quản lý
2 Những người không thuộc các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này
mà phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội
+ Bí mật quân sự là bí mật của Quân đội, bí mật về an ninh quốc phòng được xác định là bí mật quân sự và được quy định trong các văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành
+ Gây thiệt hại cho Quân đội là gây thiệt hại đến tính mạng sức khỏe, tự do, danh dự nhân phẩm của những người quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự hoặc tài sản của những người này được Quân đội cấp phát để thực hiện nhiệm vụ quân sự, gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội
+ Tài sản của Quân đội là tài sản do Quân đội quản lý, sử dụng kể cả tài sản Quân đội giao cho người khác quản lý sử dụng để chiến đấu hoặc phục vụ Quân đội
Những thành phần khác do TAND xét xử, nếu có tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa TAND và TAQS thì Chánh án TANDTC xem xét và quyết định
Điều 4, 5 của Pháp lệnh này quy định: Trường hợp vụ án vừa có bị cáo hoặc
Trang 24tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS vừa có tội phạm hoặc bị cáo thuộc thẩm quyền xét xử của TAND thì TAQS xét xử toàn bộ vụ án Nếu vụ án có thể tách ra để xét xử riêng thì TAQS xét xử những bị cáo thuộc thẩm quyền của mình Những người không còn phục vụ trong Quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trong thời gian phục vụ Quân đội; hoặc những người bị phát hiện là phạm tội trước khi nhập ngũ thì thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS về những tội phạm liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội Những tội phạm khác do TAND xét xử
Thứ ba là thẩm quyền theo lãnh thổ: Là sự phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm giữa các Tòa án với nhau (cùng cấp) căn cứ vào nơi tội phạm thực hiện hoặc nơi kết thúc điều tra tội phạm
Khoản 1 Điều 171 BLHS quy định: “Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án
hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện, trong trường hợp tội phạm được thực hiện ở nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra” [44]
Thông thường tội phạm xảy ra ở đâu thì Tòa án nơi đó có thẩm quyền xét xử người phạm tội không kể người phạm tội đó cư trú ở nơi đâu Nếu không xác định nơi tội phạm xẩy ra thì Tòa án nơi kết thúc điều tra có thẩm quyền xét xử tội phạm đó
Trường hợp bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu được đưa về xét xử trong nước thì khoản 2 Điều 171 BLHS quy định:
Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì do Tòa án cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử, nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử
Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì do Tòa án quân sự cấp Quân khu trở lên xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự Trung ương [44, Điều 171] Đối với những tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước CHXHCNVN
Trang 25đang hoạt động ở ngoài không phận hoặc lãnh hải của Việt Nam, theo quy định tại Điều 172 BLTTHS năm 2003 thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam nơi có sân bay, bến cảng mà tàu bay, tàu biển đó trở về đầu tiên trên lãnh thổ Việt nam hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký
Thứ tư là chuyển vụ án và giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử sơ thẩm Trước khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải căn cứ vào các Điều 170, 171,
172, 173 BLTTHS để xác định vụ án đó có thuộc thẩm quyền xét xử của mình hay không, nếu không thuộc thẩm quyền thì theo quy định của Điều 174 BLTTHS Tòa
án đó phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền xét xử Việc chuyển vụ án trong phạm
vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, quân khu do Chánh án Tòa án quyết định; việc chuyển vụ án cho Tòa án ngoài phạm vi tỉnh, quân khu do Tòa án nhân dân cấp tỉnh,Tòa án quân sự cấp quân khu quyết định
Chỉ được chuyển vụ án cho Tòa án khác khi vụ án chưa được xét xử, trong trường hợp này, việc chuyển vụ án do Chánh án Tòa án quyết định Nếu vụ án thuộc thẩm quyền của TAQS hoặc Tòa án cấp trên thì vụ án được đưa ra xét xử vẫn phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền Trong trường hợp này, việc chuyển vụ án do Hội đồng xét xử quyết định
Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử: Theo quy định tại Điều 175 BLTTHS, việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các TAND hoặc TAQS do Chánh án Tòa án cấp trên quyết định Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử vụ án giữa các TAND cấp huyện thuộc tỉnh, Thành phố trung ương khác nhau do Chánh án Tòa án nơi kết thúc việc điều tra quyết định Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự do Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao quyết định
1.3.2 Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Theo quy định của BLTTHS năm 2003, xét xử sơ thẩm hình sự do TAND cấp huyện, TAND cấp tỉnh, TAQS khu vực và TAQS cấp quân khu thực hiện BLTTHS năm 2003 không chia xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thành những giai đoạn riêng biệt, bởi lẽ, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động tố tụng khép kín Nhưng từ góc độ nghiên cứu khoa học, tác giả chia hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án
Trang 26hình sự thành ba giai đoạn gồm: Giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự, giai đoạn xét xử tại phiên tòa sơ thẩm hình sự và các thủ tục tố tụng sau phiên tòa sơ thẩm
Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của xét xử sơ thẩm được tính kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án hình sự sơ thẩm
Về phương diện ngôn ngữ học thì “Chuẩn bị là làm cho có sẵn cái cần thiết
để làm việc” [27, tr.175], “Xét xử là xem xét và xử các vụ án” [27, tr.1108], “Sơ thẩm là xét xử vụ án lần thứ nhất” [27, tr.868]
Trong khoa học luật TTHS Việt Nam, khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự chưa được quan tâm một cách đầy đủ, các sách, giáo trình, bài viết và các công trình nghiên cứu chuyên sâu chỉ mới phân tích quy định của pháp luật TTHS và đưa ra một số khái niệm cơ bản về chuẩn bị xét xử vụ án hình sự Hơn nữa trong BLTTHS năm 2003 cũng không có một quy định nào định nghĩa thế nào
là chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự mà chỉ quy định nội dung của hoạt động này Theo đó, chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một quá trình do Tòa án tiến hành các công việc để chuẩn bị giải quyết vụ án hình sự, ra các quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật Từ khi VKS chuyển hồ sơ vụ án hình sự kèm bản cáo trạng truy tố bị can sang Tòa án, cán bộ của Tòa án tiếp nhận hồ sơ phải kiểm tra toàn diện hồ sơ, đối chiếu bản kê tài liệu với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kiểm tra việc giao bản cáo trạng cho bị can đã thực hiện theo quy định của pháp luật hay chưa Nếu đã đầy đủ thì Tòa án nhận hồ sơ và tiến hành thụ lý vụ án [45] Trên
cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án, Tòa án áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn theo quy định tại Điều 177 BLTTHS, đồng thời Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có thể ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án nếu thuộc trường hợp quy định tại Điều 180 BLTTHS, ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung nếu thuộc trường hợp quy định tại Điều 179 BLTTHS, ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm nếu không thuộc các trường hợp nêu trên Trong trường hợp này, công việc chuẩn bị cho phiên tòa sơ thẩm được tiến hành bao gồm: Lập lịch xét xử hình sự, ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định tại Điều 178 BLTTHS, giao quyết định đưa vụ án ra xét xử, giao giấy triệu tập cho những người
Trang 27tham gia tố tụng, mời người bào chữa, người phiên dịch và chuẩn bị những điều kiện cần thiết khác cho phiên tòa sơ thẩm
Toàn bộ những công việc nêu trên được thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Xét về góc độ pháp luật, chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một chế định của luật TTHS được quy định trong BLTTHS nên đây là hoạt động mang tính chất bắt buộc của trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Vì vậy, tác giả đưa ra khái niệm về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là bước đầu tiên của giai đoạn xét xử sơ thẩm, trong đó, Tòa án có thẩm quyền phải tiến hành các việc làm cần thiết để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hình sự đúng quy định của pháp luật, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa sơ thẩm
Hay nói cách khác: Chuẩn bị xét xử là một khâu, một phần của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, gồm các hoạt động tố tụng khác nhau, có mối liên hệ và cùng hướng tới việc làm “tiền đề” cho hoạt động xét xử sơ thẩm, đảm bảo việc xét xử vụ
án hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Như vậy, chuẩn bị xét xử tuy chỉ là một khâu của giai đoạn xét xử sơ thẩm nhưng nó bao gồm một hệ thống các hoạt động phức tạp, phối hợp với nhau để cùng hướng tới mục đích chung là đảm bảo hiệu quả xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Đó là hoạt động thụ lý vụ án, nghiên cứu hồ sơ vụ án và ra các quyết định tố tụng và thực hiện các hoạt động cần thiết đối với việc giải quyết sơ thẩm vụ án hình sự
Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự độc lập trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, bởi vì hoạt động này thỏa mãn đầy đủ các yếu tố như chủ thể và mục đích hoạt động
Chủ thể chịu trách nhiệm chính trước pháp luật của hoạt động chuẩn bị xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự là Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa
Mục đích của hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là: Ra quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc là ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc là
ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án
Trang 28Có thể nói giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm có vai trò đặc biệt quan trọng đối với xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Bởi lẽ, nếu không có việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thì không thể có hoạt động xét xử sơ thẩm tại phiên tòa Vì vậy,
có thể gọi đây là hoạt động tố tụng hình sự bắt buộc phải có trong xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự, thời điểm bắt đầu của giai đoạn chuẩn bị xét xử được tính từ khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án hình sự Thời điểm kết thúc của giai đoạn chuẩn bị xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự được tính đến ngày mở phiên tòa sơ thẩm nếu vụ án được đua
ra xét xử; là ngày Thẩm phán ra quyết định trong trường hợp tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án; là ngày Thẩm phán ra quyết định và giao trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nếu thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng bao gồm các hoạt động chủ yếu của Tòa án, do vậy những chủ thể được pháp luật tố tụng hình sự quy định bao gồm: Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án
Chuẩn bị xét xử vụ án hình sự được xác định với điểm mốc đầu tiên kể từ khi Tòa án cấp sơ thẩm nhận hồ sơ vụ án hình sự do VKS chuyển đến và thụ lý vụ án Khi tiến hành tiếp nhận hồ sơ, cán bộ Tòa án (thường là Thư ký Tòa án được giao nhiệm vụ thụ lý án hình sự) nhận hồ sơ phải kiểm tra toàn diện hồ sơ như đối chiếu các tài liệu trong hồ sơ với bản kê tài liệu của Cơ quan điều tra, VKS, kiểm tra việc giao bản cáo trạng cho bị can đã thực hiện hay chưa, kiểm tra tang vật, vật chứng (nếu có) của vụ án được giao cùng hồ sơ có đúng như biên bản giao và biên bản thu giữ tang vật, vật chứng hay không, trong trường hợp tang vật, vật chứng không kèm theo hồ sơ thì cần kiểm tra xem đã có biên bản giao nhận tang vật, vật chứng giữa
Cơ quan điều tra và Cơ quan thi hành án dân sự hay chưa hoặc đã có các giấy tờ tài liệu liên quan đến tang vật, vật chứng không Trường hợp chưa đủ các điều kiện nói trên thì không nhận hồ sơ, trường hợp hồ sơ đã đầy đủ thì nhận hồ sơ và thụ lý vụ
án [33] Hồ sơ sau khi thụ lý phải chuyển ngay cho Chánh án (hoặc Phó Chánh án được Chánh án phân công phụ trách) để phân công Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa Trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên
Trang 29tòa có thể xem xét áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với bị can (trừ biện pháp tạm giam) Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Thẩm phán phải ra một trong các quyết định như: Đưa vụ án ra xét xử, trả hồ sơ điều tra bổ sung, đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án Trong giai đoạn này, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa còn có nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, yêu cầu của người tham gia tố tụng Cũng trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có thể đề nghị Chánh án Tòa án ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam, gia hạn thời hạn xét xử, thay đổi người tiến hành tố tụng, chuyển vụ án
Trong trường hợp Thẩm phán quyết định đưa vụ án ra xét xử thì căn cứ vào tính chất, đặc điểm cụ thể của từng vụ án, Thẩm phán đề xuất với Chánh án phân công Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử, khi được phân công tham gia Hội đồng xét xử thì HTND là người tiến hành tố tụng trong vụ án đó và phải nghiên cứu hồ sơ vụ án và thực hiện nhiệm vụ quyền hạn trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật
Chuẩn bị xét xử được thực hiện tốt sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động xét xử của Tòa án, là cơ sở điều kiện cần thiết để giải quyết vụ án có hiệu quả
và đạt được mục đích trong xét xử là góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm, giáo dục pháp luật trong nhân dân
Chuẩn bị xét xử giúp cho việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại phiên tòa đạt hiệu quả cao bởi vì, do có sự xem xét các điều kiện pháp lý trước khi mở phiên tòa nên có thể hạn chế được những sai lầm, thiếu sót trong xét xử sơ thẩm, hạn chế được những biểu hiện bị động, lúng túng của HĐXX tại phiên tòa sơ thẩm, góp phần nâng cao uy tín của ngành Tòa án
Thông qua các hoạt động trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa nắm vững bản chất, sự thực khách quan của vụ án để có định hướng giải quyết vụ án đạt hiệu quả cao
Thời hạn chuẩn bị xét xử là khoảng thời gian theo quy định của pháp luật để Tòa án thực hiện các hoạt động tố tụng và các công việc cần thiết khác đảm bảo cho việc xét xử vụ án tại phiên tòa sơ thẩm đạt chất lượng và hiệu quả cao
Trang 30Việc xác định một thời gian nhất định phải dựa vào cơ sở khoa học cụ thể, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nhằm đạt được các mục đích cơ bản như sau:
Thứ nhất là đảm bảo đủ thời gian để Tòa án (chủ yếu là Thẩm phán được
phân công chủ tọa phiên tòa) thực hiện hàng loạt những hoạt động cần thiết cho việc xét xử sơ thẩm vụ án và để những người tham gia tố tụng thực hiện quyền của mình theo luật định
Thứ hai là để đảm bảo cả đối với các thời hạn khác của quy trình tố tụng
hình sự phù hợp với điều kiện kinh tế, kỹ thuật của đất nước và tâm lý xã hội
Thứ ba là có sự phân biệt đối với các loại tội phạm cụ thể phụ thuộc vào tính
phức tạp, nghiêm trọng của tội phạm
Theo quy định tại khoản 2 Điều 176 BLTTHS, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được tính từ ngày Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa nhận được hồ sơ vụ án, cụ thể như sau:
+ Đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 30 ngày;
+ Đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 45 ngày;
+ Đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá hai tháng;
+ Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, không quá ba tháng
Như vậy thời hạn để Thẩm phán ra các quyết định tố tụng phụ thuộc vào loại tội phạm mà VKS truy tố đối với bị can Trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều
176 BLTTHS, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định sau: Đưa vụ án ra xét xử; Trả hồ sơ điều tra bổ sung; Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án
Tuy nhiên, đối với những vụ án phức tạp, có thể được gia hạn thời hạn chuẩn
bị xét xử nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Đối với thủ tục rút gọn áp dụng theo quy định tại các Điều 318, 319, 320 BLTTHS thì thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 324 BLTTHS có tính
Trang 31cá biệt là: Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định: Đưa vụ án ra xét xử; Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Tạm đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án
Các biện pháp ngăn chặn là một trong những biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự, do người có thẩm quyền ở các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc các cơ quan khác được giao một số hoạt động tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo… nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội, không để họ cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội cũng như nhằm đảm bảo việc thi hành án
Điều 79 BLTTHS năm 2003 quy định các biện pháp ngăn chặn gồm 6 biện pháp là: Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm
Tại Điều 177 BLTTHS năm 2003 quy định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm hình sự như sau: Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tòa phiên tòa có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, trừ việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án hoặc Phó Chánh án quyết định Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét
xử theo quy định tại Điều 176 của Bộ luật này Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa, thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử, thì Tòa án ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm
Theo quy định tại điều luật này, Tòa án áp dụng biện pháp ngăn chặn trong trường hợp bị can chưa bị CQĐT, VKS áp dụng biện pháp ngăn chặn hoặc đã bị áp dụng nhưng đến thời điểm Tòa án thụ lý vụ án thì biện pháp đó đã bị hủy bỏ
Tòa án thay đổi biện pháp ngăn chặn đang được áp dụng đối với bị can là buộc bị can phải chịu một trong các biện pháp ngăn chặn quy định tại Điều 79 BLTTHS thay cho biện pháp ngăn chặn mà bị can đang bị áp dụng
Tòa án hủy bỏ biện pháp ngăn chặn là trường hợp khi thụ lý vụ án, bị can
Trang 32đang bị áp dụng một trong các biện pháp ngăn chặn quy định tại Điều 79 BLTTHS nhưng thấy không cần thiết phải áp dụng biện pháp ngăn chặn nữa.Trong trường hợp này Tòa án ra quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, không buộc bị can phải chịu bất kỳ một biện pháp ngăn chặn nào Đối với bị can chưa thành niên hạn chế
áp dụng biện pháp bắt, tạm giam đối với họ
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Tòa án ra một trong các quyết định:
Thứ nhất là quyết định đưa vụ án ra xét xử
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, nếu thấy đủ điều kiện để đưa vụ án ra xét xử
sơ thẩm hoặc trong trường hợp đã điều tra bổ sung và chuyển hồ sơ cho Tòa án, nếu thấy không cần thiết phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung lần thứ hai, hoặc trường hợp VKS không điều tra bổ sung theo yêu cầu của Tòa án và giữ nguyên quan điểm truy
tố thì Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử
Theo quy định tại Điều 178 BLTTHS, Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải ghi rõ:
1 Họ tên, ngày tháng năm sinh, nghề nghiệp, nơi cư trú của bị cáo
2 Tội danh và điều, khoản của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát
áp dụng đối với hành vi của bị cáo
3 Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa
4 Xét xử công khai hay xử kín
5 Họ tên Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án; họ tên Thẩm phán dự khuyết, Hội thẩm dự khuyết (nếu có)
6 Họ tên Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, họ tên Kiểm sát viên
dự khuyết (nếu có)
7 Họ tên người bào chữa (nếu có)
8 Họ tên người phiên dịch (nếu có)
9 Họ tên những người được triệu tập để xét hỏi tại phiên tòa
10 Vật chứng đưa ra xem xét tại phiên tòa [45]
Như vậy, việc quy định nội dung quyết định đưa vụ án ra xét xử là cơ sở để
Trang 33bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, người bị hại có thể đề xuất thêm những người cần triệu tập để xét hỏi tại phiên tòa hoặc vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa Đồng thời đó là cơ sở để họ thực hiện quyền đề nghị thay đổi những người tiến hành tố tụng đảm bảo cho việc xét xử vụ án được khách quan
Theo quy định tại Điều 182 BLTTHS, quyết định này phải gửi ngay cho VKS cùng cấp và phải được giao cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ và người bào chữa chậm nhất là mười ngày trước khi mở phiên tòa sơ thẩm
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trong trường hợp có lý do chính đáng thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày Trong trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn thì trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án
Thứ hai là quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung
Điều 179 BLTTHS năm 2003 quy định Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung trong những trường hợp sau:
- Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa được: Là trường hợp được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT ngày 27/8/2010 của BCA -VKSNDTC– TANDTC, các chứng cứ đó gồm: Chứng cứ để chứng minh có hành vi phạm tội xảy ra hay không,
là chứng cứ để xác định hành vi đó có đủ yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS hay thuộc các trường hợp không phải là hành vi phạm tội như: Phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ, quan hệ dân sự, kinh tế, vi phạm hành chính; Chứng cứ chứng minh thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội, xác định nếu có hành vi phạm tội thì hành vi đó xảy ra ở đâu, phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội như thế nào; Chứng cứ để chứng minh ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi; Chứng cứ để xác định năng lực trách nhiệm hình sự, động cơ mục đích phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Đặc điểm nhân thân và lý lịch tư pháp; Đánh giá tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội trong việc
Trang 34xác định tội phạm và quyết định hình phạt, xác định độ tuổi của bị can, người bị hại; Vai trò của bị can trong vụ án đồng phạm
- Khi có căn cứ để cho rằng bị can phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác: Đó là việc định tội chưa đúng hoặc bỏ loạt tội phạm, cụ thể, nếu chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy ngoài bị can đã bị truy tố còn có đồng phạm khác trong
vụ án chưa bị khởi tố, chưa bị truy tố hoặc bị đình chỉ vụ án đối với bị can trái quy định của pháp luật Không được trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong trường hợp việc điều tra đã đầy đủ, chứng cứ rõ ràng cấu thành một hay nhiều tội khác với tội danh
mà VKS đã truy tố nhưng Tòa án có thể xét xử tương ứng bằng hoặc nhẹ hơn hoặc
ít tội hơn so với tội mà VKS truy tố; Không trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong trường hợp đã có quyết định tách vụ án
- Khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng: Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT, ngày 27/8/2010 của BCA- VKSNDTC -TANDTC là thuộc các trường hợp: Không tuân thủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án dẫn đến xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc là cho việc giải quyết vụ
án thiếu khách quan, toàn diện
Trong ba trường hợp này, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa ra quyết trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung Theo quy định tại Điều 121 BLTTHS, Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung không quá hai lần và chỉ ra quyết định trả hồ sơ
để điều tra bổ sung lần thứ hai trong trường hợp những vấn đề yêu cầu điều tra bổ sung lần thứ nhất chưa được thực hiện hoặc tuy đã điều tra bổ sung nhưng chưa đạt yêu cầu hoặc từ kết quả điều tra bổ sung xét thấy cần điều tra bổ sung
Thứ ba là quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án
Điều 180 BLTTHS quy định: Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ quy định tại Điều 160 của bộ luật này, cụ thể như sau: Khi bị can, bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của hội đồng giám định pháp y mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử; Trong trường hợp chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu mà đã
Trang 35hết thời hạn chuẩn bị xét xử; Trường hợp đã trưng cầu giám định nhưng chưa có kết quả giám định mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử
Thẩm phán ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 và các điểm 3, 4, 5, 6, 7 Điều 107 BLTTHS hoặc khi VKS rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa
Khoản 2 Điều 105 BLTTHS quy định: Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu này trước ngày mở phiên tòa thì vụ án phải được đình chỉ
Tuy nhiên, không phải bất cứ trường hợp nào cũng phải đình chỉ mà trong trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án
Quyết định đình chỉ vụ án phải ghi rõ thời gian ra quyết định, lý do và căn cứ đình chỉ vụ án và những vấn đề khác có liên quan như hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, trả lại đồ vật, tài liệu đã bị tạm giữ (nếu có)
1.3.3 Quy định chung về xét xử tại phiên tòa sơ thẩm hình sự
Trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Tòa án không chỉ tuân theo các nguyên tắc cơ bản của việc xét xử như xét xử công khai, xét xử tập thể, xét xử
có Hội thẩm nhân dân tham gia, xét xử độc lập mà còn tuân theo những quy định chung khác về xét xử sơ thẩm tại phiên tòa, bao gồm:
- Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục (Điều 184 BLTTHS)
Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục là việc xét xử mà trong đó, Tòa án trực tiếp xem xét, kiểm tra, đánh giá chứng cứ công khai ngay tại phiên tòa sơ thẩm bằng cách hỏi, trả lời và được tiến hành liên tục từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm
Xét xử trực tiếp là việc Tòa án trực tiếp xem xét chứng cứ vụ án ngay tại phiên tòa mà không chỉ căn cứ vào hồ sơ vụ án Ngay tại phiên tòa, HĐXX kiểm tra đánh giá chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, đồng thời HĐXX trực tiếp xem xét những chứng cứ mới được đưa ra ngay tại phiên tòa để xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự, làm cơ sở cho việc ra bản án
Trang 36Xét xử bằng lời nói là việc HĐXX phải hỏi những người tham gia tố tụng và việc trả lời bằng lời nói của những người tham gia tố tụng đối với những câu hỏi của HĐXX để từ đó HĐXX xác định sự thật của vụ án Nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt thì HĐXX công bố lời khai của họ tại Cơ quan điều tra
Xét xử liên tục là việc xét xử được tiến hành từ khi bắt đầu phiên tòa cho đến khi kết thúc phiên tòa trừ thời gian nghỉ cần thiết như nghỉ trưa, nghỉ tối, nghỉ ngày lễ Trong thời gian xét xử, HĐXX phải có mặt liên tục tại phiên tòa, khi chưa kết thúc phiên tòa thì những người tiến hành tố tụng không được tiến hành tố tụng đối với vụ án khác
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm (Điều 185 BLTTHS)
Thành phần HĐXX sơ thẩm được quy định tại Điều 185 BLTTHS năm 2003 đáp ứng nguyên tắc của tố tụng hình sự là việc xét xử của Tòa án có Hội thẩm tham gia, nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số Đây là sự kết hợp giữa tính chuyên nghiệp của Thẩm phán và tính đại diện cho quần chúng của Hội thẩm; đảm bảo cho các bản án, quyết định của Tòa án đúng pháp luật đồng thời thể hiện lợi ích chung của xã hội Tùy theo tính chất của vụ án mà thành phần HĐXX được quy định khác nhau để đảm bảo việc thực hiện nguyên tắc trên và giải quyết
vụ án đúng đắn khách quan
HĐXX sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm Trong trường hợp vụ
án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì HĐXX có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm Đối với vụ án mà bị cáo bị xét xử về tội theo khung hình phạt cao nhất là
tử hình thì HĐXX gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm BLTTHS năm 2003 không
có quy định cụ thể trường hợp nào được xem là vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp, tuy nhiên thực tiễn xét xử thường coi vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp là vụ án có nhiều bị cáo; Có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, địa phương khác nhau; Vụ án có liên quan đến chính sách tôn giáo, dân tộc…
Theo quy định tại Điều 307 BLTTHS năm 2003, đối với vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên thì thành phần HĐXX sơ thẩm phải có một Hội thẩm là Giáo viên hoặc là cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Trang 37Các thành viên của HĐXX sơ thẩm phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên tòa Trong quá trình xét xử, nếu có Thẩm phán, Hội thẩm không tiếp tục tham gia xét xử được thì Tòa án vẫn có thể xét xử vụ án nếu có Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết và những người này phải có mặt tại phiên tòa từ đầu thì mới được tham gia xét xử Trong trường hợp HĐXX có hai Thẩm phán mà Thẩm phán chủ tọa không tiếp tục tham gia xét xử được thì Thẩm phán là thành viên HĐXX làm chủ tọa phiên tòa và Thẩm phán dự khuyết được bổ sung làm thành viên HĐXX
Trong trường hợp không có Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết để thay thế hoặc phải thay đổi chủ tọa phiên tòa mà không có Thẩm phán khác để thay thế theo quy định trên thì phải hoãn phiên tòa và vụ án được xét xử lại từ đầu
- Những người cần có mặt tại phiên tòa sơ thẩm
Về nguyên tắc, tất cả những người tham gia tố tụng theo triệu tập của Tòa án phải có mặt tại phiên tòa Vì vậy những người cần có mặt tại phiên tòa sơ thẩm là: Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc những người đại diện hợp pháp của họ, người làm chứng, người giám định
Theo quy định tại Điều 189 BLTTHS, Kiểm sát viên VKS cùng cấp phải có mặt tại phiên tòa là bắt buộc Đối với vụ án phức tạp, nghiêm trọng thì có thể hai KSV tham gia Nếu KSV vắng mặt, bị thay đổi mà không có KSV dự khuyết để thay thế thì HĐXX quyết định hoãn phiên tòa và báo ngay cho VKS cùng cấp
Theo quy định tại Điều 187 BLTTHS, bị cáo phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án nếu vắng mặt không có lý do chính đáng thì bị áp giải trong trường hợp này, Tòa án có thể áp dụng biện pháp tạm giam để phục vụ cho việc xét xử; nếu bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa
Nếu bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo khác thì HĐXX tạm đình chỉ vụ án cho đến khi bị cáo khỏi bệnh Nếu bị cáo trốn thì HĐXX tạm đình chỉ vụ án và yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị cáo
Với quy định trên cho thấy Tòa án phải đảm bảo sự có mặt của bị cáo tại phiên tòa Tuy nhiên, Tòa án có thể xét xử vắng mặt bị cáo trong các trường hợp: Bị
Trang 38cáo trốn tránh mà việc truy nã bị cáo không có kết quả; bị cáo đang ở nước ngoài và không thể triệu tập đến phiên tòa; bị cáo vắng mặt nhưng sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử và họ đã được giao giấy triệu tập hợp lệ
Điều 190 BLTTHS quy định: Người bào chữa có nghĩa vụ tham gia phiên tòa Người bào chữa có thể gửi trước bản bào chữa cho Tòa án Nếu người bào chữa vắng mặt, Tòa án vẫn phải mở phiên tòa xét xử
Trong trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 57 của Bộ luật này mà người bào chữa vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa
Những trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa theo quy định tại khoản
2 Điều 57 BLTTHS năm 2003 bao gồm: Bị cáo phạm tội có khung hình phạt đến tử hình; bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tinh thần
Tuy nhiên, trong hai trường hợp trên bị cáo và người đại diện hợp pháp của
bị cáo vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa BLTTHS năm
2003 chưa quy định cụ thể về vấn đề này, do vậy NQ số 03/HĐTP - TANDTC ngày 02/10/2004 đã hướng dẫn như sau:
“+ Trước khi mở phiên tòa bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ có yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa thì người có yêu cầu phải làm văn bản trong đó cần ghi rõ lý do yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa; Trường hợp
họ trực tiếp đến Tòa yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa thì người có yêu cầu phải ký tên hoặc điểm chỉ vào biên bản Văn bản về yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa phải được lưu vào hồ sơ vụ án Tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ có yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa thì phải ghi vào biên bản phiên tòa Trong trường hợp này, Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng xử án, Hội đồng xét xử có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa Nếu chấp nhận thì phải hoãn phiên tòa và Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử yêu cầu Đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư cử người khác bào chữa cho bị cáo Nếu không chấp nhận thì thông báo cho người yêu cầu biết và nói rõ căn cứ của
Trang 39việc không chấp nhận Quyết định của Hội đồng xét xử về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu thay đổi người bào chữa không phải lập thành văn bản nhưng phải được ghi vào biên bản phiên tòa
+ Trường hợp yêu cầu từ chối người bào chữa trước khi mở phiên tòa và tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử cần phải giải thích cho họ biết người bào chữa giúp bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo và chi phí cho người bào chữa do Tòa án thanh toán
+ Trong trường hợp bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm
về thể chất tinh thần mà cả bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo vẫn giữ nguyên ý kiến từ chối người bào chữa thì cần ghi vào biên bản phiên tòa và tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung mà không có sự tham gia của người bào chữa được cử
+ Nếu chỉ có bị cáo từ chối người bào chữa còn người đại diện hợp pháp của
bị cáo không từ chối người bào chữa hoặc chỉ có người đại diện hợp pháp của bị cáo từ chối còn bị cáo không từ chối người bào chữa thì tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung có sự tham gia của người bào chữa được cử”
Điều 191 BLTTHS quy định: Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt thì tùy từng trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn hoặc vẫn tiến hành xét xử, nếu sự vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc xét xử thì hoãn phiên tòa Trong trường hợp họ vắng mặt nhưng lời khai của họ tại Cơ quan điều tra
đã rõ và chứng cứ của vụ án đã cụ thể, đồng thời sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử thì Tòa án có thể xét xử vắng mặt họ
Trong trường hợp sự vắng mặt của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự chỉ gây trở ngại cho việc giải quyết vấn đề bồi thường thì Hội đồng xét xử có thể tách việc bồi thường dân sự để xét xử theo thủ tục tố tụng dân sự
Theo quy định tại Điều 192 BLTTHS năm 2003, người làm chứng tham gia phiên tòa là nghĩa vụ, mặc dù họ đã có lời khai tại Cơ quan điều tra Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa khi lời khai của họ là quan trọng mà sự vắng mặt của
Trang 40họ không đảm bảo cho việc xét xử chính xác thì phải hoãn phiên tòa và thực hiện việc dẫn giải người làm chứng đến phiên tòa Tuy nhiên, phiên tòa vẫn có thể được
mở khi lời khai của người làm chứng đã đầy đủ, rõ ràng tại Cơ quan điều tra và lời khai của họ không phải là những vấn đề quan trọng Trong trường hợp này lời khai của người làm chứng tại Cơ quan điều tra được công bố tại phiên tòa
- Người giám định tham gia phiên tòa là bắt buộc khi có giấy triệu tập của Tòa án Trong trường hợp Tòa án đã triệu tập nhưng người giám định vắng mặt thì việc hoãn phiên tòa hay vẫn tiếp tục xét xử do HĐXX quyết định Thông thường nếu có người tham gia phiên tòa thắc mắc về kết quả giám định mà người giám định không có mặt thì phải hoãn phiên tòa
- Giới hạn của việc xét xử
Điều 196 BLTTHS quy định: “Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những
hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và Tòa án đã có quyết định đưa
ra xét xử” [45]
Như vậy, Tòa án không được xét xử những người và những hành vi mà VKS không truy tố, nếu qua xét xử mà HĐXX phát hiện còn có người khác phạm tội hoặc tội phạm khác của bị cáo chưa được truy tố thì HĐXX có thể ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc yêu cầu VKS khởi tố vụ án theo quy định tại Điều 104 BLTTHS Tòa án chỉ xét xử bị cáo theo tội danh mà VKS đã truy tố, tuy nhiên Tòa
án có thể xét xử bị cáo về tội danh bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà VKS đã truy tố
Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố nhưng phải trong cùng một điều luật, khoản khác có thể nhẹ hoặc nặng hơn khoản
mà VKS đã truy tố Khi thực hiện quyền xét xử bị cáo theo khoản khác nặng hơn nhưng vẫn thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án phải ghi rõ trong quyết định đưa vụ
án ra xét xử
- Việc rút quyết định truy tố của VKS
Trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố
và thực hiện chức năng này bằng cách ra bản cáo trạng truy tố bị cáo ra trước Tòa
án và tham gia phiên tòa sơ thẩm để thực hiện việc buộc tội Là cơ quan thay mặt