Tiêu biểu trong số đó là các nghiên cứu của tác giả Trần Bá Hoành về những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực; tác giả Bùi Văn Nghị với các nghiên cứu vận dụng lí luận vào thực t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN TỐ NGA
DẠY HỌC KHÁM PHÁ CHỦ ĐỀ BẤT ĐẲNG THỨC
CHO HỌC SINH LỚP 12
LUẬN VĂN THẠC SĨ - SƯ PHẠM TOÁN
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Huy
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN Những lời cảm ơn chân thành đầu tiên của tác giả xin được gửi tới Ban Giám đốc, các thầy giáo, cô giáo và cán bộ, viên chức của Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội về những giúp đỡ nhiệt tình, quý báu trong suốt khóa học và trong quá trình nghiên cứu đề tài này của tác giả.
Tác giả xin đặc biệt cảm ơn Tiến sỹ Nguyễn Đức Huy – người đã trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn tác giả thực hiện đề tài này. Không có sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của Thầy, tác giả khó có thể hoàn thiện được các công việc theo đúng các yêu cầu về chất lượng và thời gian.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo và các
em học sinh Trường Trung học Phổ thông Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, những người đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả được đi học, đồng thời giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện luận văn.
Tác giả bày tỏ tình cảm và lòng biết ơn đối với các thành viên của “đại gia đình” lớp 3-K8, Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, nơi đã không chỉ cho tác giả sự giúp đỡ quý báu, sự cổ vũ lớn lao, mà cả không khí đầm
Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 2014
Tác giả
Trần Tố Nga
Trang 5
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vii
Danh mục các biểu đồ và đồ thị vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC KHÁM PHÁ 6
1.1. Lịch sử nghiên cứu 6
1.1.1. Dạy học khám phá trong các công trình của Jerome Bruner 6
1.1.2. Dạy học khám phá trong các công trình của Goeffrey Petty 7
1.1.3. Một số nghiên cứu khác về dạy học khám phá 8
1.1.4. Nghiên cứu về dạy học khám phá ở Việt Nam 8
1.2. Khái niệm dạy học khám phá 10
1.2.1. Khái niệm khám phá và dạy học khám phá 10
1.2.2. Ưu điểm, nhược điểm của phương pháp dạy học khám phá 12
1.2.3. Điều kiện để áp dụng dạy học khám phá 13
1.3. Nội dung của phương pháp dạy học khám phá 14
1.3.1. Các hình thức của dạy học khám phá 14
1.3.2. Các giai đoạn của dạy học khám phá 15
1.3.3. Ví dụ về phương pháp dạy học khám phá 16
1.4. Quy trình dạy học khám phá 17
1.4.1. Hoạt động của giáo viên 17
1.4.2. Hoạt động của học sinh 19
1.4.3. Các bước của buổi dạy học khám phá 19
1.5. Chủ đề bất đẳng thức trong chương trình trung học phổ thông 20
1.5.1. Yêu cầu về kiến thức và kỹ năng 20
1.5.2. Thời lượng dạy chủ đề bất đẳng thức trong trường trung học phổ thông 21
1.6. Thực trạng việc sử dụng phương pháp dạy học khám phá trong trường trung học phổ thông vào dạy học chủ đề bất đẳng thức cho học sinh lớp 12 hiện nay 21
Trang 6Kết luận Chương 1 23
Chương 2 DẠY HỌC KHÁM PHÁ CHỦ ĐỀ BẤT ĐẲNG THỨC CHO HỌC SINH LỚP 12 25
2.1. Một số cách thông dụng để tạo tình huống khám phá trong dạy học bất đẳng thức 25
2.1.1. Dựa vào tình huống có thực trong thực tiễn 25
2.1.2. Tạo tình huống khám phá từ việc giải bài toán mà người học chưa biết cách giải 26
2.1.3. Tạo tình huống khám phá từ các kiến thức đã học 26
2.1.4. Lật ngược vấn đề khám phá 26
2.1.5. Tương tự hóa 27
2.1.6. Khái quát hóa 27
2.1.7. Tìm sai lầm trong lời giải (hoặc tìm nguyên nhân mắc sai lầm và sửa sai). 27
2.2. Thiết kế một số hoạt động dạy học chủ đề bất đẳng thức theo phương pháp khám phá 29
2.2.1. Sử dụng bất đẳng thức Côsi và bất đẳng thức Bunhiacôpxki để chứng minh bất đẳng thức 29
2.2.2. Sử dụng phương pháp đạo hàm để chứng minh bất đẳng thức 43
2.2.3. Sử dụng phương pháp tiếp tuyến để chứng minh bất đẳng thức 56
Kết luận Chương 2 72
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 74
3.1. Mục đích thực nghiệm 74
3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm 74
3.3. Phương pháp thực nghiệm 74
3.4. Tổ chức thực nghiệm 74
3.5. Nội dung thực nghiệm 75
3.5.1. Một số giáo án dạy học khám phá chủ đề bất đẳng thức 75
3.5.2. Nội dung các đề kiểm tra 94
3.5.3. Cơ sở để đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 97
3.5.4. Kết quả thực nghiệm sư phạm 98
Kết luận Chương 3 104
Trang 7KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105
1. Kết luận 105
2. Khuyến nghị 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC I 109
PHỤ LỤC II 113
PHỤ LỤC III 117
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, hội nhập với thế giới là xu thế tất yếu của mỗi quốc gia. Việt Nam cũng đang trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào khu vực và thế giới. Trong tiến trình hội nhập toàn diện ấy, mọi lĩnh vực của đất nước đều phải điều chỉnh cho phù hợp. Giáo dục cũng không là ngoài lệ. Quá trình hội nhập đòi hỏi chúng ta phải đổi mới giáo dục để hội nhập và ngược lại hội nhập cũng là cơ hội để giáo dục được phát triển.
Nhiều đánh giá đã chỉ ra rằng, giáo dục nước ta còn bất cập so với thế giới về nội dung, chương trình dạy học, phương pháp dạy học, hình thức tổ chức, kiểm tra đánh giá, quản lý trong giáo dục. Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự lạc hậu của giáo dục nước ta so với thế giới chính là cách tiếp cận dạy học, hay phương pháp giáo dục truyền thống mà chúng ta đã kế thừa và áp dụng trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Phương pháp dạy học truyền thống với vai trò trung tâm của người thầy đã không kích thích được khả năng tư duy sáng tạo của học sinh.
Ý thức được vấn đề mấu chốt đó, Đảng ta đã chủ trương đổi mới toàn diện
giáo dục với quan điểm chỉ đạo là: “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước” [5]. Trong các mục tiêu đặt ra thì đối với giáo dục phổ thông, mục tiêu cụ thể là: “phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” [5].
Trên thực tế, việc cải cách giáo dục đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm
từ nhiều năm qua. Nghị quyết các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng và các Hội nghị Trung ương đều đề cập đến vấn đề này. Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương
8 khóa XI vừa qua (tháng 11, năm 2013), vấn đề đổi mới giáo dục được đặt ra một cách triệt để hơn, toàn diện hơn. Hội nghị đã thông qua Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, với một trong các quan điểm chỉ đạo là: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” và một trong số
Trang 11các mục tiêu là “giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân” [5]. Nghị quyết đưa ra tám giải pháp để đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục ở Việt Nam, trong đó để phát triển phẩm chất, năng lực của người học cần “đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc” [5].
Như vậy, trong yêu cầu đổi mới giáo dục, người thầy không chỉ cung cấp kiến thức cho học sinh mà còn phải giúp học sinh phát triển khả năng tư duy độc lập, tính tích cực, chủ động, sáng tạo. Một trong những phương pháp dạy học có thể đáp ứng hiệu quả các đòi hỏi trên là phương pháp dạy học khám phá, đối với bậc phổ thông là khám phá có hướng dẫn.
Chủ trương là như vậy, nhưng trên thực tế, việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực (lấy học sinh làm trung tâm) nói chung và phương pháp dạy học khám phá nói riêng vẫn còn rất hạn chế. Mặc dù Luật Giáo dục 2005, rồi Luật Giáo dục
sửa đổi 2009, đều có yêu cầu: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [15],
nhưng dường như cách dạy học truyền thống đã ăn sâu và trở thành thói quen khó thay đổi của một bộ phận không nhỏ các thầy cô. Nhiều người ngại thay đổi, thậm chí sợ thay đổi. Đặc biệt, đối với những môn học khó, những phần chương trình phức tạp, các thầy cô thường vẫn lựa chọn cách dạy truyền thống để “an toàn” hơn.
Do vậy, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về phương pháp dạy học tích cực nói chung, dạy học khám phá nói riêng, được triển khai và áp dụng nhằm thực hiện chủ trương của Đảng về đổi mới giáo dục cũng như triển khai các yêu cầu của Luật Giáo dục, nhưng những bộ môn khó, đặc biệt là những phần chương trình khó của các bộ môn khó, thường vẫn ít được quan tâm đổi mới. Ở bậc trung học phổ thông, Toán học là một bộ môn như vậy và bất đẳng thức là phần ít được quan tâm đổi mới
về phương pháp dạy và học. Việc dạy và học các nội dung của phần này thường vẫn được áp dụng theo phương pháp dạy học truyền thống.
Trang 12trong ứng dụng bất đẳng thức vào trong các loại hình toán đã được nâng lên. Sự
phức tạp của nó, tuy có làm cho giáo viên dễ gặp trở ngại, khó khăn trong giảng
Trang 136 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng hợp lý phương pháp dạy học khám phá có hướng dẫn trong dạy bất đẳng thức ở lớp 12, bậc trung học phổ thông thì sẽ nâng cao chất lượng dạy
9 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận: thu thập, phân tích, tổng hợp các tài liệu về lí luận dạy
học môn toán nói chung và các tài liệu về phương pháp dạy học khám phá có hướng dẫn nói riêng.
- Phương pháp điều tra: tiến hành trao đổi, phỏng vấn một số đồng nghiệp
và một số học sinh; phát phiếu điều tra (bảng câu hỏi) để thu thập ý kiến của giáo
Trang 14viên và học sinh về các nội dung liên quan đến việc dạy và học chủ đề bất đẳng thức lớp 12 ở bậc trung học phổ thông.
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến phương pháp dạy học khám phá.
Chương 2: Dạy học khám phá chủ đề bất đẳng thức cho học sinh lớp 12. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC KHÁM PHÁ 1.1 Lịch sử nghiên cứu
Trên thế giới, nhất là ở các nước Phương Tây, việc tôn trọng những ý tưởng sáng tạo của học trò là một đặc điểm xã hội khá phổ biến.1 Đây cũng chính là tiền
đề để phương pháp dạy học khám phá được nghiên cứu sớm ở các nước này. Từ những năm 1940, A.N. Leotiev và R.L. Rubinstien đã đưa ra những ý tưởng về phương pháp dạy học khám phá. Cùng ở thời điểm này, Jerome Bruner và Leo Postman cũng nghiên cứu về những cách thức mà các nhu cầu, động lực và mong ước ảnh hướng đến sự nhận thức.
Tuy nhiên, phương pháp dạy học khám phá chỉ thực sự được nghiên cứu sâu hơn và đưa vào áp dụng trong thực tiễn từ năm 1960, sau công trình nghiên cứu
quan trọng “Quá trình giáo dục” (The Process of Education) của Jerome Bruner.
Đây được xem là một bước ngoặt trong lý thuyết về giáo dục. Hướng tiếp cận mới này đã tiếp tục được các nhà nghiên cứu trên thế giới, như Geofrey Petty, Jacke Richards, John Platt và Heidi Platt… phát triển và đào sâu thêm. Tuy nhiên, ở Việt Nam, nghiên cứu về phương pháp dạy học khám phá được thực hiện muộn hơn. Từ những năm 2000 trở lại đây mới có nhiều công trình nghiên cứu được công bố. Một
số các tác giả có đóng góp quan trọng như Bùi Văn Nghị, Trần Bá Hoành, Đào Tam… (xem [10], [18], [23], [24]).
1.1.1 Dạy học khám phá trong các công trình của Jerome Bruner
Jerome Bruner là một trong những nhà tâm lý học nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng nhất của thế kỷ XX. Ông là một trong những nhân vật trung tâm của “cuộc cách mạng về nhận thức”. Những đóng góp của ông đặc biệt quan trọng và có tầm
ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực giáo dục. Các tác phẩm “Quá trình Giáo dục” (The Process of Education) và “Tiến tới một Học thuyết về Giảng dạy” (Towards a
Trang 16cố gắng và khuyến khích học sinh tự khám phá ra các nguyên lý, cả giáo viên và học sinh cần phải thực sự hoà nhập trong quá trình dạy học (xem [1]).
Trong tác phẩm “Quá trình Giáo dục”, Jerome Bruner đã chỉ ra ba yếu tố cơ bản của phương pháp dạy học khám phá. Thứ nhất, giáo viên nghiên cứu nội dung bài học đến mức độ sâu cần thiết, tìm kiếm những yếu tố tạo tình huống, tạo cơ hội cho hoạt động khám phá, tìm tòi. Thứ hai, giáo viên thiết kế các hoạt động của học sinh, trên cơ sở đó xác định các hoạt động chỉ đạo, tổ chức của giáo viên. Thứ ba, giáo viên khéo léo đặt người học vào vị trí của người khám phá (khám phá cái mới của bản thân), tổ chức và điều khiển cho quá trình này được diễn ra một cách thuận lợi để từ đó người học tự xây dựng kiến thức (xem [1]).
1.1.2 Dạy học khám phá trong các công trình của Goeffrey Petty
Geofrey Petty cho rằng, có hai cách tiếp cận trong dạy học đó là: dạy học bằng cách giải thích và dạy học bằng cách đặt câu hỏi. Với dạy học bằng cách đặt câu hỏi, giáo viên đặt câu hỏi hoặc giao bài tập yêu cầu học sinh phải tự tìm ra kiến thức mới - mặc dù vậy vẫn có sự hướng dẫn hoặc chuẩn bị đặc biệt. Kiến thức mới này được giáo viên chỉnh sửa và khẳng định lại. Khám phá có hướng dẫn là một ví
dụ của cách tiếp cận này. Dạy học khám phá chỉ có thể được sử dụng nếu người học
có khả năng rút ra được bài học mới từ kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của mình (xem [19]).
Trang 171.1.3 Một số nghiên cứu khác về dạy học khám phá
Trong tác phẩm nghiên cứu về giảng dạy ngôn ngữ và ngữ văn ứng dụng, các tác giả Jacke Richards, John Platt và Heidi Platt cho rằng, dạy học khám phá là phương pháp dạy và học dựa trên năm quy luật cơ bản sau: Thứ nhất, người học phát triển quá trình tư duy liên quan đến việc khám phá và tìm hiểu thông qua quá trình quan sát, phân loại, đánh giá, tiên đoán, mô tả và suy luận. Thứ hai, giáo viên
sử dụng một phương pháp dạy học đặc trưng hỗ trợ quá trình khám phá và tìm hiểu. Thứ ba, giáo trình giảng dạy không phải là nguồn thông tin, kiến thức duy nhất cho người học. Thứ tư, kết luận được đưa ra với mục đích thảo luận chứ không phải là khẳng định cuối cùng. Cuối cùng, người học phải lập kế hoạch, tiến hành và đánh giá quá trình học của mình với sự hỗ trợ của giáo viên (xem [22]).
Các tác giả và nhóm tác giả khác nhau có các nghiên cứu về phương pháp dạy học khám phá từ nhiều góc độ khác nhau. Pierre-A Mandrin, Daniel Preckel nghiên cứu về hiệu quả trong hình thành khái niệm của phương pháp dạy học khám phá có hướng dẫn dựa trên phép tương đương (xem [17]). David Dean và Deanna Kuhn nghiên cứu sự tương phản giữa hướng dẫn trực tiếp và khám phá trong dài hạn (xem [6]). Ngoài những công trình nghiên cứu tiêu biểu nêu trên, dạy học tích cực nói chung và dạy học khám phá nói riêng vẫn tiếp tục được nhiều học giả và nhà nghiên cứu quan tâm, nhất là trong triển khai ứng dụng.
1.1.4 Nghiên cứu về dạy học khám phá ở Việt Nam
Ở Việt Nam, việc phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo cũng đã được đặt ra khá sớm trong ngành Giáo dục
và Đào tạo. Từ cuối những năm 1960, khẩu hiệu "Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo" đã đi vào các trường sư phạm. Các nhà nghiên cứu, nhà sư phạm
và hoạch định chính sách đã bắt đầu để ý đến việc giúp học sinh tự khám phá, tự có được những tri thức mới chứ không chỉ là thụ động tiếp thu những tri thức, kỹ năng
do thầy truyền thụ cho.
Từ năm 1980, cải cách giáo dục được triển khai ở các trường phổ thông ở nước ta theo hướng áp dụng phương pháp dạy học giúp học sinh tự khám phá, tự có được tri thức, kỹ năng mới; bỏ dần cách học theo kiểu thụ động. Tuy nhiên, sự chuyển biến về phương pháp dạy học trong trường phổ thông ở nước ta diễn ra rất
Trang 18chậm chạp. Phương pháp dạy học truyền thống – học thụ động với vai trò trung tâm của người thầy, hay kiểu dạy học “thầy đọc, trò chép”, “thầy truyền đạt kiến thức trò tiếp thu”, “thuyết trình giảng giải xen kẽ vấn đáp tái hiện”,… vẫn còn phổ biến ở các bậc học của chúng ta, đặc biệt là cấp phổ thông. Mặc dù đã có một số người đi tiên phong trong đổi mới phương pháp giáo dục từ phương pháp dạy học truyền thống sang phương pháp dạy học tích cực (trong đó có dạy học khám phá), nhưng
số lượng còn chưa nhiều, chưa được duy trì một cách thường xuyên, liên tục và chưa được thực hiện một cách có hệ thống. Các giờ dạy phát huy tính tích cực của học sinh mới chỉ dừng lại ở các hoạt động mang tính minh họa, biểu diễn và mới được thực hiện trong các giờ thao giảng, thi giáo viên giỏi.
Gần đây có một số nghiên cứu về vấn đề vận dụng phương pháp dạy học khám phá trong dạy học nói chung và trong dạy học bộ môn Toán nói riêng. Phương pháp dạy học mới này đã được ứng dụng vào dạy học một số nội dung cụ thể. Tiêu biểu trong số đó là các nghiên cứu của tác giả Trần Bá Hoành về những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực; tác giả Bùi Văn Nghị với các nghiên cứu vận dụng lí luận vào thực tiễn dạy học môn Toán ở trường phổ thông và vận dụng phương pháp dạy học khám phá trong dạy học Hình học không gian (xem [18]); tác giả Đào Tam với phương pháp dạy học hình học ở trường trung học phổ thông (xem [24]); tác giả Nguyễn Văn Hiến nghiên cứu về rèn luyện năng lực khám phá toán học (xem [8]); tác giả Nguyễn Thị Vân Hương và Nguyễn Thị Hồng Quý với quy trình vận dụng dạy học khám phá để giáo dục môi trường trong môn tự nhiên và xã hội (xem [12]); hai tác giả Dương Thị Quỳnh và Ngô Thị Tâm nghiên cứu một số biện pháp bồi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học giải bài tập toán (xem [21])…
Theo tác giả Trần Bá Hoành, để sử dụng cách khám phá trong dạy học, trước hết cần phải xây dụng được các bài toán có tính khám phá, đó là bài toán được cho gồm có những câu hỏi, những bài toán thành phần để học sinh trong khi trả lời hoặc tìm cách giải các bài toán thành phần dần thể hiện cách giải bài toán ban đầu (xem [10]). Cách giải này thường là những quy tắc hoặc khái niệm mới. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu ứng dụng dạy học khám phá trong các chuyên đề nhất định của môn
Trang 19Toán hoặc trong các môn học khác như Vật lý, Hóa học, Sinh học… đã được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu.
Như vậy, phương pháp dạy học khám phá đã được nhiều học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, đồng thời được một số thầy, cô giáo nghiên cứu
và áp dụng vào dạy học các bộ môn. Tuy nhiên, việc khai thác, áp dụng lí luận này vào thực tế giảng dạy vẫn còn thiếu thường xuyên, chưa phổ biến. Đặc biệt, vẫn còn một số phần của nhiều bộ môn chưa được đưa vào giảng dạy bằng phương pháp dạy học này. Một trong số đó là nội dung bất đẳng thức lớp 12 của môn Toán.
1.2 Khái niệm dạy học khám phá
Quan điểm của các nhà nghiên cứu về phương pháp dạy học khám phá từ lúc ban đầu đến nay đã có những điều chỉnh, thay đổi theo hướng hoàn thiện dần. Phương pháp dạy học mới này khi du nhập vào mỗi quốc gia cũng được giải nghĩa
và phát triển phù hợp với đặc thù của mỗi nước. Nhưng nhìn chung, chúng vẫn bảo đảm được những yếu tố cơ bản trong khái niệm với những ưu điểm, nhược điểm và vẫn cần phải có những điều kiện chung để áp dụng.
1.2.1 Khái niệm khám phá và dạy học khám phá
Trong từ điển tiếng Việt, “khám phá” là phát hiện ra cái ẩn giấu, bí mật. Sự khám phá là hành động tìm hiểu nhằm phát hiện ra những cái ẩn giấu, bí mật và sau quá trình tìm kiếm ấy sẽ thấy được một sự vật bị che giấu hoặc chưa được thấy (xem [27]).
Trong tiếng Anh, khám phá (discover) được giải nghĩa là tìm ra, phát hiện ra, nhận ra, vỡ lẽ ra, nhận thức ra; hay khám phá là tìm ra những sự vật, hiện tượng bị che khuất. Hoạt động khám phá (discovery) được giải nghĩa là một hoạt động hay quá trình tìm thấy hoặc biết về những sự vật hiện tượng trước đó chưa được biết tới;
là quá trình xác định sự tồn tại, sự hiện diện hay một thực tế; khám phá còn là nhìn thấy lần đầu tiên, mang đến một sự thật, là tìm thấy cái mong muốn, thực hiện một tìm kiếm mới [28, tr. 434-435].
Trong giáo dục, nói đến khám phá, người ta thường hiểu đó là quá trình hoạt động tư duy tích cực của chủ thể nhằm tìm kiếm những cái mới, bên trong của vấn
đề nghiên cứu. Hoạt động khám phá trong dạy học gồm ba kiểu, đó là: khám phá dẫn dắt (guided discovery) – giáo viên đưa ra vấn đề, đáp án và dẫn dắt học sinh tìm
Trang 20cách giải quyết vấn đề đó; khám phá hỗ trợ (modified discovery) – giáo viên đưa ra vấn đề và gợi ý học sinh trả lời và khám phá tự do (free discovery) – vấn đề, đáp án
và phương pháp giải quyết do học sinh tự lực tìm ra. Hai kiểu khám phá đầu được gọi là “khám phá có hướng dẫn”
Cụ thể, theo David Dean và Deanna Kuhn thì khám phá mở (open inquiry hay free discovery) là việc người học khám phá một lĩnh vực mới nhằm thu được hiểu biết tốt hơn về lĩnh vực đó mà không có sự định trước mục tiêu về kiến thức cần khám phá của giáo viên. Còn khám phá có hướng dẫn (guided discovery learning) là một kiểu chỉ dẫn theo đó người học được dẫn dắt để khám phá ra mục tiêu đã định trước (xem [27]).
Ở bậc phổ thông, hoạt động dạy học khám phá giúp người học tìm thấy, phát hiện ra những tri thức mới, đồng thời giúp họ tích cực, chủ động chiếm lĩnh những tri thức đó. Tuy nhiên, do trình độ học sinh phổ thông còn hạn chế nên hoạt động dạy học khám phá ở bậc học này không phải là quá trình tự nghiên cứu, tìm tòi của người học mà thường là quá trình khám phá được tổ chức, hướng dẫn hoặc điều khiển bởi giáo viên (xem [4]; [12]). Vì vậy, phương pháp dạy học khám phá ở bậc phổ thông được hiểu là phương pháp dạy học trong đó dưới sự hướng dẫn của giáo viên, thông qua các hoạt động, học sinh khám phá ra một tri thức nào đấy trong
chương trình môn học, hay đó chính là “phương pháp dạy học khám phá có hướng dẫn” và ở đây ta gọi tắt là phương pháp dạy học khám phá (xem [18]).
Trong dạy học khám phá, hoạt động của người thầy bao gồm: định hướng phát triển tư duy cho học sinh; lựa chọn nội dung của vấn đề và bảo đảm mức độ phù hợp đối với học sinh; tổ chức cho học sinh trao đổi theo nhóm trên lớp với sự
hỗ trợ cần thiết của các phương tiện trực quan… Giáo viên phải hoạt động, chỉ đạo như thế nào để cho mọi thành viên trong các nhóm đều trao đổi, tranh luận một cách tích cực. Đó là yêu cầu không dễ đáp ứng, đòi hỏi người giáo viên phải đầu tư công phu vào nội dung bài giảng.
Trong dạy học khám phá, học sinh tiếp thu các tri thức khoa học thông qua con đường nhận thức: từ tri thức của bản thân thông qua hoạt động hợp tác với các bạn đã hình thành tri thức có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học; giáo viên kết
Trang 21luận về cuộc đối thoại, đưa ra nội dung của vấn đề, làm cơ sở cho học sinh tự kiểm tra, tự điều chỉnh tri thức của bản thân, tiếp cận với tri thức khoa học của nhân loại.
1.2.2 Ưu điểm, nhược điểm của phương pháp dạy học khám phá
Trong các nghiên cứu về phương pháp dạy học khám phá, các tác giả đã chỉ
ra những điểm ưu việt và những hạn chế của phương pháp dạy học này từ các góc tiếp cận khác nhau. Những ưu điểm, nhược điểm được phân tích trong “Những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực” của Trần Bá Hoành; trong “Quy trình vận dụng dạy học khám phá để giáo dục môi trường trong môn tự nhiên và xã hội” của Nguyễn Thị Vân Hương và Nguyễn Thị Hồng Quý; trong “Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học” của Nguyễn Thành Kỉnh hay trong
“Tiếp cận các phương pháp dạy học không truyền thống trong dạy học toán ở trường đại học và trường phổ thông” của Đào Tam, Lê Hiển Dương… (xem [10]; [12]; [15]; [24]). Dưới đây là tổng hợp những ưu điểm và nhược điểm của phương pháp dạy học này.
a) Ưu điểm:
- Phát huy được nội lực của học sinh, giúp học sinh có tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo trong quá trình học tập.
- Kích thích trực tiếp sự ham mê học tập của học sinh, tạo động lực cho học sinh trong quá trình học tập. Đây cũng chính là động lực của quá trình dạy học đối với cả thầy và trò.
- Giúp học sinh hợp tác với các bạn trong quá trình học tập, tự đánh giá, tự điều chỉnh vốn tri thức của bản thân. Dạy học khám phá chính là cơ sở để hình thành phương pháp tự học của học sinh và cũng chính là động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững của mỗi cá nhân trong cuộc sống (hình thành thói quen tự nghiên cứu và tự học suốt đời).
- Việc giải quyết các vấn đề nhỏ vừa sức của học sinh được tổ chức thường xuyên trong quá trình học tập. Phương pháp dạy học này giúp học sinh hình thành thói quen, tiếp cận tư duy và cách thức giải quyết các vấn đề có nội dung khái quát rộng hơn.
Trang 22- Việc đối thoại giữa trò với trò, trò với thầy đã tạo ra bầu không khí học tập sôi nổi, tích cực và góp phần hình thành mối quan hệ giao tiếp trong cộng đồng xã hội; phát triển kỹ năng phối hợp và làm việc nhóm của các em.
b) Nhược điểm:
- Để áp dụng được phương pháp này, học sinh phải có kiến thức, kĩ năng cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ mang tính khám phá, tìm ra tri thức mới. Đối tượng học sinh trung bình, yếu sẽ gặp khó khăn khi học theo phương pháp này, đặc biệt là khi phương pháp dạy học truyền thống vẫn còn tồn tại phổ biến, phương pháp dạy học tích cực còn rất mới mẻ đối với cả thầy và trò.
- Việc triển khai dạy học khám phá đòi hỏi người giáo viên cũng phải có kiến thức, nghiệp vụ vững vàng, có sự chuẩn bị bài giảng công phu.
- Trong quá trình khám phá của học sinh thường nảy sinh những tình huống, những khám phá ngoài dự kiến của giáo viên, đòi hỏi sự linh hoạt trong xử lí các tình huống cũng như tầm hiểu biết sâu, rộng của người giáo viên – người dẫn đường của cuộc khám phá.
- Thời gian của quá trình khám phá ra kiến thức mới chiếm khá nhiều trong toàn bộ tiến trình của bài học, nên tùy thuộc vào từng nội dung, mục tiêu dạy học và
sự phân phối thời gian dạy học mới có thể áp dụng được.
1.2.3 Điều kiện để áp dụng dạy học khám phá
Với những tính chất đặc thù của phương pháp dạy học khám phá, việc áp dụng nó trong giảng dạy đòi hỏi phải đáp ứng được một số điều kiện nhất định. Các điều kiện được nêu trong “Quy trình vận dụng dạy học khám phá để giáo dục môi trường trong môn tự nhiên và xã hội” của Nguyễn Thị Vân Hương và Nguyễn Thị Hồng Quý bao gồm:
- Đa số học sinh phải có những kiến thức, kỹ năng cần thiết để thực hiện các hoạt động khám phá do giáo viên tổ chức.
- Sự hướng dẫn của giáo viên cho mỗi hoạt động phải ở mức hợp lý, không quá ít, không quá nhiều, bảo đảm cho học sinh phải hiểu chính xác mình phải làm gì trong mỗi hoạt động khám phá. Muốn vậy, giáo viên phải hiểu rõ khả năng của học sinh.
Trang 23- Hoạt động khám phá phải được giáo viên giám sát trong quá trình học sinh thực hiện: giáo viên phải chuẩn bị một số câu hỏi gợi mở từng bước để giúp học sinh tự lực đi tới mục tiêu của hoạt động. Nếu là hoạt động tương đối dài, có thể từng chặng yêu cầu một vài nhóm học sinh cho biết kết quả tìm tòi của mình (xem [12]).
Như vậy, để áp dụng được phương pháp dạy học khám phá thì cần phải có những điều kiện cụ thể, trong đó cơ bản là trình độ của học sinh cũng như giáo viên phải đạt được một mức độ nhất định. Những phân tích cụ thể về nội dung của phương pháp dạy học này ở phần sau sẽ cho thấy nó đòi hỏi giáo viên và học sinh phải làm việc nhiều hơn so với phương pháp dạy học thụ động truyền thống.
1.3 Nội dung của phương pháp dạy học khám phá
Để tìm hiểu về nội dung của phương pháp dạy học khám phá, cần làm rõ các giai đoạn, mức độ của dạy học khám phá, cấu trúc và các hình thức của phương pháp dạy học khám phá. Trong “Tiếp cận các phương pháp dạy học không truyền thống trong dạy học toán ở trường đại học và trường phổ thông” của Đào Tam, Lê Hiển Dương (xem [24]) và trong “Quy trình vận dụng dạy học khám phá để giáo dục môi trường trong môn tự nhiên và xã hội” của Nguyễn Thị Vân Hương và Nguyễn Thị Hồng Quý (xem [12]), các tác giả đã đề cập đến các hình thức và giai đoạn của dạy học khám phá. Dưới đây là tổng hợp của các nội dung này.
1.3.1 Các hình thức của dạy học khám phá
Trong học tập, hoạt động khám phá có nhiều dạng khác nhau và ở các trình
độ khác nhau, từ thấp lên cao. Các dạng này tùy thuộc vào trình độ, năng lực tư duy của người học và người tổ chức hoạt động; tùy theo cách thức tổ chức hoạt động dạy học khám phá - theo cá nhân, theo nhóm nhỏ hoặc theo nhóm lớn; đồng thời còn tùy thuộc vào mức độ phức tạp của vấn đề khám phá. Các hoạt động khám phá trong quá trình học tập bao gồm:
- Trả lời câu hỏi;
- Điền từ, điền bảng;
- Lập bảng, biểu đồ, đồ thị, sơ đồ;
- Thử nghiệm, đề xuất phương án giải quyết, phân tích nguyên nhân, thông báo kết quả;
Trang 24- Thảo luận, tranh cãi về một vấn đề được nêu ra;
- Giải bài toán, bài tập;
- Điều tra thực trạng, đề xuất giải pháp cải thiện thực trạng, thực nghiệm giải pháp mới;
- Làm bài tập lớn, chuyên đề, luận án, luận văn, đề án.
Vấn đề quan trọng là hiệu quả học tập được quyết định bởi những gì học sinh làm chứ không phải những gì giáo viên làm. Vì vậy, phải thay đổi quan niệm và cách tiếp cận trong việc soạn giáo án - từ tập trung vào thiết kế hoạt động của giáo viên sang tập trung vào thiết kế hoạt động của học sinh.
Tuy nhiên, cũng không nên có tham vọng biến toàn bộ nội dung bài học thành chuỗi các nội dung bài học khám phá mà phải có sự kết hợp hài hòa giữa dạy học khám phá và phương pháp dạy truyền thống. Mức độ sử dụng mỗi phương pháp tùy thuộc vào nội dung phải giảng, đối tượng học sinh. Về phần khám phá, số lượng hoạt động và mức độ tư duy đòi hỏi ở hoạt động trong mỗi tiết học phải phù hợp với trình độ của học sinh để bảo đảm có đủ thời lượng cho thầy trò thực hiện các hoạt động khám phá.
1.3.2 Các giai đoạn của dạy học khám phá
Để có thể đi đến mục tiêu cuối cùng của công việc dạy và học, tức là, phải giúp học sinh tìm ra và hiểu được vấn đề đang quan tâm, đòi hỏi thầy và trò phải thực hiện các công đoạn của cả quá trình dạy – học, dẫn dắt – khám phá. Quá trình này có thể được chia thành bốn giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1 - Học sinh tiếp nhận nhiệm vụ: Giáo viên đưa ra tình huống khám phá. Học sinh tiếp nhận nhiệm vụ từ giáo viên. Các em cần hiểu rõ nhiệm vụ cần giải quyết là gì, điều sẽ phải phát hiện ra là gì; các em sẽ cần đến những phương tiện, đồ dùng, dụng cụ gì; cách thức xử lý sẽ như thế nào - tiến hành riêng từng cá nhân hay theo nhóm…
Giai đoạn 2 - Học sinh thực hiện nhiệm vụ, giải quyết vấn đề: Trong quá trình thực hiện này, học sinh cần nhận thức lại vấn đề rồi định hướng việc giải quyết vấn đề; cần thu thông tin, huy động vốn tri thức và kinh nghiệm cũ để đưa ra các giải pháp; thử các giải pháp khác nhau, quan sát và biểu diễn; đưa ra kết quả, kết luận. Bước này có thể được tổ chức riêng từng cá nhân hoặc theo nhóm. Trong lúc
Trang 25đó, giáo viên quan sát, nếu thấy học sinh gặp khó khăn thì giáo viên sẽ đưa ra định hướng.
Giai đoạn 3- Học sinh báo cáo kết quả trước lớp: Trong giai đoạn này, học sinh trình bày kết quả giải quyết vấn đề: báo cáo trước lớp kết quả thực hiện nhiệm
vụ, cách giải quyết vấn đề; nêu những quan sát mà các em ghi nhận được; giải thích những diễn biến, hiện tượng; rút ra kết luận khoa học… Trong khi đó, những học sinh khác chú ý lắng nghe; quan sát cách làm của bạn; đối chiếu với kết quả của bản thân; tỏ rõ thái độ (đồng ý, không đồng ý); tham gia ý kiến (bổ sung, tranh luận) và
đề xuất cách giải quyết khác (nếu có).
Giai đoạn 4 - Rút ra kết luận khoa học: Giáo viên đóng vai trò là “người trọng tài khoa học” giúp tổng kết các cách giải quyết vấn đề, kết thúc các cuộc tranh luận của học sinh và đưa ra kết luận cuối cùng về tri thức khoa học, về cách giải quyết vấn đề đúng nhất, phù hợp nhất.
1.3.3 Ví dụ về phương pháp dạy học khám phá
Sau khi học sinh đã học bài Bất đẳng thức, Chương trình Đại số lớp 10, giáo viên đưa ra ví dụ sau:
Với a b c, , là các số thực không âm thỏa mãn điều kiện a b c 1. Chứng minh rằng 3a 1 3b 1 3c 1 3 2.
Giai đoạn 1. Học sinh nhận nhiệm vụ làm bài toán trong ví dụ trên.
Giai đoạn 2. Học sinh tìm kiếm khám phá.
+ Các nhóm tìm kiếm, khám phá (thử sai, huy động vốn tri thức và kinh nghiệm cũ, quy nạp để tự mình giải quyết vấn đề tìm ra những tri thức mới).
+ Trong lúc đó, giáo viên quan sát, nếu thấy học sinh gặp khó khăn thì giáo viên sẽ đưa ra định hướng:
[?] Các em đã học những bất đẳng thức cơ bản nào?
[?]Có thể sử dụng bất đẳng thức Côsi hoặc Bunhiacôpxki để giải quyết bài toán này được không?
[?] Dự đoán điểm cân bằng của bất đẳng thức trong bài toán này?
[?] Hãy biến đổi vế trái để có thể sử dụng được một trong hai bất đẳng thức này?
Giai đoạn 3. Báo cáo kết quả trước lớp và toàn lớp thảo luận.
Trang 26* Phương án 1: VT = 1 3a 1 1 3b 1 1 3c1 nên áp dụng bất đẳng thức Bunhiacôpxki ta có:
1.4 Quy trình dạy học khám phá
1.4.1 Hoạt động của giáo viên
Trong quy trình dạy học khám phá, giáo viên phải thực hiện bốn nhóm hoạt động sau đây:
Trang 27Trong nội dung của bài giảng thường chứa đựng nhiều vấn đề học tập, nhưng trong đó có một (hoặc một vài) vấn đề trọng tâm là cơ sở để nhận thức các vấn đề khác. Đây chính là vấn đề cần khám phá và nên được lựa làm nội dung khám phá cho bài giảng. Dạy học khám phá thường được vận dụng để học sinh giải quyết các vấn đề nhỏ, bắt đầu từ vấn đề trọng tâm này, học sinh sẽ tiếp tục phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết các vấn đề có liên quan khác. Vì vậy, lựa chọn vấn đề cần khám phá là yếu tố quan trọng giúp bảo đảm sự thành công của phương pháp dạy học khám phá này.
Khi lựa chọn vấn đề học tập cần chú ý ba nội dung sau đây. Thứ nhất, là vấn
đề trọng tâm, là vấn đề chứa đựng thông tin mới của bài học. Thứ hai, vấn đề thường được đưa ra dưới dạng câu hỏi hoặc bài tập nhỏ. Thứ ba, vấn đề học tập được lựa chọn phải vừa sức với học sinh và tương ứng với thời gian làm việc. (3) Phân nhóm học sinh
Khi phân nhóm học sinh để tổ chức tiết học theo phương pháp khám phá, giáo viên cần lưu ý một số điều kiện sau:
- Sự phân nhóm bảo đảm cho các thành viên đối thoại và giáo viên di chuyển thuận lợi để đối thoại với trò và bao quát lớp.
- Số lượng học sinh mỗi nhóm bao nhiêu tùy theo nội dung của vấn đề, đồng thời bảo đảm sự hợp tác tích cực giữa các thành viên trong nhóm.
Trang 28- Chú ý khả năng nhận thức của học sinh trong mỗi nhóm để đảm bảo sự hợp tác mang lại hiệu quả.
(4) Kết quả khám phá:
Mục đích của việc dạy học khám phá là hình thành các tri thức khoa học cho học sinh dưới sự chỉ đạo, dẫn dắt của giáo viên. Trong quá trình dạy và học, giáo viên tổ chức hợp tác giữa các nhóm về nội dung kiến thức của vấn đề, đối thoại với từng học sinh để mỗi thành viên tự đánh giá, tự điều chỉnh và rút ra tri thức khoa học. Thông thường, nội dung vấn đề học tập mà các nhóm học tập cần đạt được do giáo viên chuẩn bị trước.
1.4.2 Hoạt động của học sinh
Trong giờ học theo phương pháp dạy học khám phá, học sinh là trung tâm của lớp học và các hoạt động chủ yếu của các em gồm:
- Sự phân nhóm học tập và xác định thời gian học tập trong nhóm của học sinh. Việc này do giáo viên chỉ đạo dựa trên vấn đề học tập.
- Sự hợp tác trong từng nhóm: Mỗi nhóm có suy nghĩ, có giải pháp riêng của bản thân để giải quyết vấn đề. Sau đó các thành viên trao đổi, tranh luận để tìm ra quan điểm chung trong tiến trình khám phá vấn đề. Tuy nhiên vẫn có thể tồn tại những ý kiến cá nhân chưa được thống nhất.
- Sự hợp tác giữa các nhóm trong tập thể lớp: Mỗi nhóm trình bày tóm tắt nội dung của vấn đề được phát hiện. Trên cơ sở đó có sự tranh luận giữa các nhóm về kết quả khám phá dưới sự chỉ đạo của giáo viên.
Trong quá trình này, giáo viên đóng vai trò như một trọng tài lựa chọn, phán đoán, kết luận đúng của các nhóm để hình thành kiến thức mới.
1.4.3 Các bước của buổi dạy học khám phá
Một buổi dạy học theo phương pháp khám phá có thể được khái quát bao gồm 5 bước sau đây:
Bước 1 - Xác định rõ vấn đề: Trong bước này, giáo viên giúp từng học sinh xác định rõ vấn đề cần khám phá và mục đích của việc khám phá đó.
Bước 2 - Nêu các giả thuyết (ý kiến): Sau khi nắm rõ mục đích, vấn đề cần khám phá, từng học sinh làm việc cá nhân hoặc làm việc nhóm và đề xuất các giải pháp để giải quyết vấn đề.
Trang 29Bước 3 - Thu thập các dữ liệu: Học sinh tìm kiếm dữ liệu, thông tin để chứng
tỏ đề xuất mình đưa ra có tính khả thi. Từ đó, học sinh sẽ bác bỏ những đề xuất bất khả thi và lựa chọn đề xuất hợp lí.
Bước 4 - Đánh giá các ý kiến: Ở bước này, học sinh trao đổi, tranh luận về các đề xuất được đưa ra và đánh giá các ý kiến của các bạn.
Bước 5 - Khái quát hóa: Dưới sự chỉ đạo của giáo viên, mỗi nhóm sẽ trình bày về vấn đề được phát hiện. Từ đó, giáo viên lựa chọn những phán đoán và cách giải quyết hợp lý, tổng hợp và kết luận vấn đề để hình thành và chốt kiến thức mới. 1.5 Chủ đề bất đẳng thức trong chương trình trung học phổ thông
Ở bậc trung học phổ thông, học sinh được tiếp cận với nội dung bất đẳng thức từ đầu Chương 4, phần Đại số lớp 10, với thời lượng 06 tiết. Sau khi học xong Bài 3, Chương 1 về ứng dụng của đạo hàm trong chương trình Giải tích lớp 12 nâng cao (tiết thứ 8 theo phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo), học sinh được trang bị thêm phương pháp chứng minh bất đẳng thức bằng cách sử dụng đạo hàm hoặc phương trình tiếp tuyến. Vì bài toán bất đẳng thức thường xuất hiện trong các đề thi tuyển sinh cao đẳng, đại học và các đề thi học sinh giỏi nên giáo viên trung học phổ thông thường lấy nội dung bất đẳng thức làm chủ đề tự chọn nâng cao và dạy vào khoảng thời gian từ tiết thứ 9 đến tiết thứ 13.
1.5.1 Yêu cầu về kiến thức và kỹ năng
+ Biết vận dụng linh hoạt các phương pháp để chứng minh bất đẳng thức.
- Về tư duy, thái độ:
Trang 30+ Giáo dục cho học sinh tính cần cù, cẩn thận, không ngại khó, phương pháp làm việc khoa học, khả năng khám phá vấn đề nhanh nhạy, hiệu quả.
+ Hình thành và phát triển năng lực khám phá, năng lực tự học, tự nghiên cứu.
1.5.2 Thời lượng dạy chủ đề bất đẳng thức trong trường trung học phổ thông
Bằng những kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy của bản thân, qua trao đổi với các đồng nghiệp cũng như các giáo viên và học sinh ở bậc trung học phổ thông mỗi khi có dịp, tôi thấy phần đông mọi người đều có chung nhận định rằng: Trong chương trình Toán phổ thông, chủ đề bất đẳng thức là một trong những nội dung khó nhất. Mặc dù chỉ chiếm tổng thời lượng 11 tiết, với 6 tiết ở lớp 10 và 5 tiết
ở lớp 12 (1 tiết ôn luyện lại các bất đẳng thức cơ bản đã học ở lớp 10 và 4 tiết chủ
đề tự chọn nâng cao sau khi học Chương 1 - Ứng dụng đạo hàm để khảo sát và vẽ
đồ thị hàm số) nhưng bất đẳng thức được ứng dụng và xuất hiện nhiều trong các tài liệu khác nhau. Nội dung này đặc biệt khó trong chương trình lớp 12, khi học sinh
Trang 31phải vận dụng các kiến thức đã học vào các bài toán chứng minh bất đẳng thức. Có
lẽ cũng chính vì lý do đó mà trong quá trình dạy và học bộ môn Toán, chủ đề này thường ít được các giáo viên và học sinh dành đủ thời gian và sự quan tâm để nghiên cứu. Một số giáo viên thậm chí còn khuyên học sinh bỏ hẳn câu bất đẳng thức trong các đề thi tuyển sinh cao đẳng và đại học để tập trung cho các nội dung khác. Nhiều học sinh cũng đã xác định từ rất sớm là sẽ bỏ nội dung này trong các đề thi tuyển sinh. Trong khi trên thực tế, đây lại là một chủ đề rất hay và lý thú. Các bài tập về bất đẳng thức thường rất phong phú, đa dạng và thường đòi hỏi tính sáng tạo, tư duy logic cao. Nhiều giáo viên và học sinh đã tìm được nguồn cảm hứng lớn trong việc khai thác các nội dung liên quan đến phần này.
Để điều tra cụ thể về thực trạng dạy và học chủ đề bất đẳng thức lớp 12, chúng tôi đã tiến hành khảo sát ở Trường THPT Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, tiến hành dự giờ, trao đổi trực tiếp và phát phiếu điều tra đối với 22 giáo viên và
180 học sinh khối lớp 12 của Trường (nội dung phiếu điều tra và kết quả điều tra xem tại Phụ lục 1 và Phụ lục 2 của Luận văn này). Phân tích kết quả điều tra thực trạng cho thấy một số đặc điểm như sau:
Nhận định chung về chuyên đề bất đẳng thức, gần 70% số học sinh được hỏi cho rằng đây là một nội dung khó đối với các em, trong đó hơn 21% học sinh trả lời đây là chủ đề rất khó. Kết quả này phù hợp với nhận định của các thầy cô về chủ đề này khi 2/3 số thầy cô được hỏi đều cho rằng đây là chủ đề khó đối với học sinh. Điều này cũng giải thích tại sao chỉ có 30,5% học sinh yêu thích chủ đề này, trong khi gần 58% học sinh chỉ coi việc học chủ đề là một nhiệm vụ bắt buộc và khoảng 40% học sinh không có hứng thú với việc học chủ đề này.
Về phương pháp dạy học đang được áp dụng đối với chủ đề này, phần lớn giáo viên được hỏi đều đã có sử dụng những kỹ năng riêng lẻ trong tương tác giữa thầy và trò như vấn đáp, giảng giải minh họa. Một số nhỏ đã dùng giáo án điện tử trong giảng dạy. Nhưng phần lớn các thầy cô (77,3%) vẫn cho rằng việc dạy của mình vẫn thiên về thuyết trình, trong khi chỉ có khoảng 18% giáo viên đã sử dụng phương pháp dạy học khám phá. Mặc dù vậy, phần đông các thầy cô (86,4%) vẫn khẳng định rằng phương pháp dạy học khám phá áp dụng trong giảng dạy chủ đề này sẽ mang lại hiệu quả tích cực trong dạy học và tạo được sự hứng thú cho học
Trang 32sinh trong học tập nội dung này. Nhưng cũng chính vì phần lớn các thầy cô (86,6%) đều cho rằng phương pháp này làm mất nhiều thời gian trong việc chuẩn bị bài giảng; (60%) giáo viên gặp khó khăn trong việc tạo ra tình huống khám phá, cũng như (72,7%) giáo viên dễ bị “cháy giáo án” khi để học sinh khám phá mà có lẽ tỷ lệ các thầy cô sử dụng phương pháp này trong dạy học còn rất khiêm tốn.
Về phía học sinh, phần nhiều (69%) các em đều nghiên cứu trước bài học theo nội dung hướng dẫn của giáo viên; 50% các em cố gắng suy nghĩ, tìm cách trả lời câu hỏi, bài tập để phát biểu khi được thầy cô giáo đưa vấn đề ra. Nhưng gần nửa các em cũng cho rằng, các em gặp khó khăn trong áp dụng lý thuyết vào việc giải các bài tập; các em thường chỉ học thuộc lòng bài cũ một cách máy móc mà không hiểu sâu sắc bản chất của vấn đề cũng như không có khả năng vận dụng linh hoạt kiến thức trong các dạng bài tập phong phú đa dạng. Do vậy, khoảng 50% các
em không tự tin với phương án giải bài của mình và không dám mạnh dạn phát biểu trước lớp. Trong khi đó, khi được giáo viên tạo cơ hội để cả lớp được chủ động tìm tòi khám phá, thì có tới 3/4 các em đều thấy giờ học thoải mái, thú vị và các em nhớ kiến thức lâu hơn. Khi đã hiểu vấn đề, gần 80% các em thường hào hứng hơn và luôn tìm tòi để khám phá sâu thêm vấn đề.
Như vậy, có thế thấy rằng, phần lớn giáo viên đều thấy hiệu quả của phương pháp dạy học khám phá áp dụng với chủ đề bất đẳng thức lớp 12, nhưng do những hạn chế về thời gian chuẩn bị bài giảng và khó khăn trong việc tạo ra tình huống khám phá mà phần lớn giáo viên chưa sử dụng phương pháp này. Trong khi đó, với phương pháp dạy học truyền thống, phần lớn học sinh thấy gặp khó khăn trong việc học chủ đề này. Việc được tạo cơ hội để khám phá các nội dung trong chủ đề này có tác động tích cực đến tinh thần, không khí và hiệu quả học tập của các em. Do vậy, cần khắc phục những hạn chế trong việc dạy của các thầy cô để điều chỉnh phương pháp dạy học nhằm mang lại hiệu quả cao hơn cho việc học tập của các em.
Kết luận Chương 1 Trong chương này, luận văn đã tóm tắt lịch sử quá trình nghiên cứu phương pháp dạy học khám phá của các học giả trong và ngoài nước, đồng thời phân tích khái niệm, nội dung và quy trình của phương pháp dạy học mới này. Tuy cần có
Trang 33những điều kiện nhất định để áp dụng nhưng phương pháp dạy học khám phá có nhiều ưu điểm hơn hẳn so với phương pháp dạy học truyền thống, nhất là trong phát huy nội lực, kích thích sự ham mê học tập của học sinh, giúp học sinh hình thành tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo trong quá trình học tập.
Qua khảo sát thực tế việc dạy học chủ đề bất đẳng thức ở một số lớp 12, luận văn cho thấy những hạn chế về khả năng khám phá của học sinh và khả năng ứng dụng của giáo viên đối với phương pháp dạy học mới này. Mặc dù đều thừa nhận hiệu quả của phương pháp dạy học khám phá áp dụng với chủ đề bất đẳng thức lớp
12, nhưng những khó khăn về thời gian chuẩn bị bài giảng, đặc biệt là khó khăn trong tạo ra tình huống khám phá cho chủ đề bất đẳng thức, đã ngăn cản phần lớn giáo viên áp dụng phương pháp này. Để khẳng định khả năng tạo ra các tình huống khám phá đối với chủ đề bất đẳng thức lớp 12, luận văn đã xây dựng một ví dụ về phương pháp dạy học khám phá cho chủ đề này theo các giai đoạn như lý thuyết nêu. Cùng với mẫu tình huống khám phá đó, những cơ sở lý luận được trình bày trong chương này sẽ là cơ sở cho quá trình vận dụng cụ thể ở chương tiếp theo.
Trang 34
CHƯƠNG 2 DẠY HỌC KHÁM PHÁ CHỦ ĐỀ BẤT ĐẲNG THỨC
CHO HỌC SINH LỚP 12 2.1 Một số cách thông dụng để tạo tình huống khám phá trong dạy học bất đẳng thức
2.1.1 Dựa vào tình huống có thực trong thực tiễn
Trong thực tế, để đạt hiệu quả kinh tế cao, chúng ta hay phải giải các bài toán với yêu cầu làm thế nào để tốn ít vật liệu nhất hoặc tốn ít thời gian nhất hoặc số tiền thu được là nhiều nhất… Sau đây là một ví dụ từ các tình huống thực tiễn.
Ví dụ 2.1. Trong sản xuất để làm những bình chứa nước hoặc những hộp đựng sữa bò người ta sẽ phải nghiên cứu bài toán làm thế nào để cực tiểu hóa được diện tích toàn phần nhằm tiết kiệm nguyên liệu khi hình trụ có thể tích không đổi.
3 2 k , đạt được khi 3
2
k R
Trang 35Như vậy trong thực tế những hình trụ tròn xoay thường có kích thước đạt tỷ
lệ “vàng” 1:1 giữa chiều cao và đường kính đáy.
Mở rộng ứng dụng này, ta có thể tìm tỷ lệ “vàng” cho hình nón, hình nón cụt hay những hình đa diện khác.
2.1.2 Tạo tình huống khám phá từ việc giải bài toán mà người học chưa biết cách giải
Sau khi học xong phần lý thuyết, để củng cố kiến thức và giúp học sinh vận dụng tốt lý thuyết vào giải bài tập, giáo viên sẽ đưa ra một số bài tập áp dụng các kiến thức vừa học đó.
Ví dụ 2.2. Chứng minh rằng 2
2
2573
x x
Đây là tình huống để học sinh khám phá sau khi học sinh học nội dung Bất đẳng thức trong Sách giáo khoa Đại số lớp 10 Nâng cao.
2.1.3 Tạo tình huống khám phá từ các kiến thức đã học
Sau khi học xong phần kiến thức nào đó, để giúp học sinh phát triển tư duy lôgic, năng lực sáng tạo, giáo viên đưa ra một số tình huống khám phá ở mức độ nâng cao hơn. Ví dụ, sau khi học xong nội dung “Bất đẳng thức” trong Sách giáo khoa Đại số lớp 10 Nâng cao thì ví dụ 2.2 ở trên (chứng minh 2
2
2573
Ví dụ 2.4. Chứng minh rằng, nếu a b c, , là các số thực không âm thỏa mãn điều kiện a b c 1 thì 3a 1 3b 1 3c 1 3 2.
* Có học sinh xung phong trình bày bài toán này như sau:
Trang 36Ví dụ 2.5. Với a b c, , là các số thực không âm thỏa mãn a b c 5. Chứng minh rằng 3a 1 3b 1 3c 1 3 6.
2.1.6 Khái quát hóa
Từ các bài toán cụ thể, giáo viên khái quát hóa thành bài toán chung của dạng toán đó. Ví dụ, từ cách giải của bài toán ở Ví dụ 2.4, giáo viên có thể đưa ra bài toán khái quát như sau:
Ví dụ 2.6. Với a b c, , là các số thực không âm thỏa mãn a b c m (với
Trang 37với nội dung bất đẳng thức, sai lầm hay gặp là không để ý đến điều kiện xảy ra dấu bằng của bất đẳng thức. Dưới đây là một số ví dụ cụ thể.
Ví dụ 2.7. Cho a b , 0 thỏa mãn 2a b 4, hãy tìm GTNN của biểu thức
sử dụng các bất đẳng thức này nhiều lần trong một bài toán.
Ví dụ 2.8. Chứng minh rằng với a 2 ta có 1 5
2
a a
Giáo viên: Có thể áp dụng bất đẳng thức Côsi với hai số a và 1
a được không?
Học sinh: Có thể được nhưng em thấy đề bị sai!
Giáo viên: Tại sao em lại cho là như vậy?
Học sinh: Vì áp dụng bất đẳng thức Côsi với 2 số a và 1
a ta được
Trang 38 hay a 1. Giáo viên: Nhưng a 1 không thỏa mãn điều kiện a 2. Vì vậy, việc sử dụng bất đẳng thức Côsi như trên là chưa được.
Các em hãy tìm điểm cân bằng cho bài toán (dễ thấy a 2 thì đẳng thức xảy ra). Từ đó đưa ra cách đánh giá.
2.2 Thiết kế một số hoạt động dạy học chủ đề bất đẳng thức theo phương pháp khám phá
Sự phân chia quá trình dạy học khám phá thành bốn giai đoạn (học sinh tiếp nhận nhiệm vụ; học sinh thực hiện nhiệm vụ, giải quyết vấn đề; học sinh báo cáo kết quả trước lớp và giáo viên tổng kết, rút ra kết luận khoa học) là cơ sở để giáo viên thiết kế các hoạt động dạy học theo phương pháp khám phá. Công thức chung này có thể áp dụng đối với các môn học và các nội dung của mỗi môn học. Trong nội dung bất đẳng thức, việc xây dựng các hoạt động khám phá có thể được thực hiện đối với từng phương pháp chứng minh bất đẳng thức.
2.2.1 Sử dụng bất đẳng thức Côsi và bất đẳng thức Bunhiacôpxki để chứng minh bất đẳng thức
Bài toán 1. Cho a b c , , 0. Chứng minh rằng
* Giai đoạn 1. Học sinh nhận nhiệm vụ là làm Bài toán 1
* Giai đoạn 2. Học sinh khám phá
- Các nhóm tìm kiếm, khám phá, huy động vốn tri thức và kinh nghiệm cũ, quy nạp để tự mình giải quyết vấn đề, tìm ra những tri thức mới.
- Trong lúc đó, giáo viên quan sát, nếu thấy học sinh gặp khó khăn thì GV sẽ đưa ra định hướng.
[?] Dự đoán điểm cân bằng cho bài toán?