1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH QUA SỬ DỤNG TÀI LIỆU THAM KHẢO TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

155 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 3,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, vấn đề tự học được đi sâu tìm hiểu qua luận án và luận văn thạc sĩ như: Luận án tiến sĩ: Trần Văn Hiếu với “Xây dựng quy trình làm việc độc lập với sách và tài liệu học tập

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC - -

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thế Bình

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

3 Đối tượng nghiên cứu 11

4 Phạm vi nghiên cứu 12

5 Mục tiêu nghiên cứu 12

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 12

7 Phương pháp nghiên cứu 13

9 Đóng góp của đề tài 13

10 Cấu trúc của luận văn 14

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO HS QUA SỬ DỤNG TLTK TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 15

1.1 Cơ sở lý luận 15

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 15

1.1.2 Cơ sở xuất phát của vấn đề phát triển kỹ năng tự học của học sinh qua sử dụng tài liệu tham khảo 27

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của sử dụng TLTK đối với việc phát triển kỹ năng tự học cho HS 32

1.1.4 Một số kỹ năng tự học cần hình thành và phát triển cho HS khi sử dụng TLTK 36

1.2 Cơ sở thực tiễn 39

1.2.1 Thực trạng việc phát triển kỹ năng tự học cho HS qua sử dụng TLTK ở trường THPT 39

1.2.2 Nguyên nhân thực trạng dạy - tự học Lịch sử qua sử dụng TLTK trong dạy học Lịch sử trường THPT 49

Trang 3

Chương 2 : MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO HS QUA SỬ DỤNG TLTK TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT (VẬN DỤNG TRONG DẠY HỌC LSVN 1945-1954) 52

2.1 Mục tiêu, cấu trúc, nội dung cơ bản của chương trình lịch sử THPT 52

2.1.1 Mục tiêu 52

2.1.2 Cấu trúc, nội dung cơ bản 53

2.2 Vị trí, vai trò, nội dung cơ bản của chương trình LSVN 1945 - 1954 55

2.3 Một số yêu cầu sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học Lịch sử 57

2.4 Một số biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho HS qua sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử (vận dụng trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954) 59

2.4.1 Phát triển kỹ năng phát hiện kiến thức cơ bản qua TLTK 59

2.4.2 Phát triển kỹ năng so sánh, đối chiếu TLTK với SGK để khắc sâu kiến thức cơ bản 65

2.4.3 Phát triển kỹ năng dùng TLTK để trả lời câu hỏi 68

2.4.4 Phát triển kỹ năng trình bày kiến thức thu được từ TLTK 71

2.4.5 Phát triển kỹ năng sưu tầm TLTK 81

2.4.6 Phát triển kỹ năng ghi chép TLTK 86

2.4.7 Phát triển kỹ năng biết thắc mắc, đặt câu hỏi và tìm cách tự trả lời 89

2.4.8 Phát triển kỹ năng tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập qua TLTK 92

2.4.9 Phát triển kỹ năng sử dụng TLTK để chuẩn bị cho các hoạt động ngoại khóa 94

2.5 Thực nghiệm sư phạm 102

2.5.1 Mục đích thực nghiệm 102

2.5.2 Đối tượng thực nghiệm 102

2.5.3 Nội dung thực nghiệm 103

2.5.4 Phương pháp thực nghiệm 103

2.5.5 Kết quả thực nghiệm 103

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113 PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong xã hội hiện đại, bùng nổ của tri thức, khoa học kỹ thuật, yêu cầu bức thiết đặt ra: giáo dục, đào tạo cho thế hệ trẻ không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ tri thức mà phải hướng tới việc bồi dưỡng cho học sinh khả năng tự học Việc tự học thể hiện quan điểm giáo dục của Đảng ta: biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 của Ban chấp hành Trung Ương Đảng lần thứ VIII về “Định hướng chiến lược phát triển

giáo dục và đào tạo” (12/1996) nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp

giáo dục, khắc phục lối truyền thụ một chiều rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”[34, tr 11] Để thực hiện được định hướng đó, đòi hỏi học sinh phải nghiên cứu trước bài học, đọc thêm các tài liệu liên quan, đề xuất vấn đề… Hàng loạt công việc độc lập trên chỉ có thể giải quyết được bằng con đường tự học

Tự học của HS là vấn đề quan trọng vì đó là một khâu trong quá trình thống nhất của việc tự học Tự học là 1 trong những yếu tố quyết định chất lượng giáo dục Người dạy dù cố gắng đến đâu nhưng người học không động não, không tự tìm tòi, suy nghĩ trong quá trình lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thì kết quả dạy học không thể tốt được Vì vậy, có thể khẳng định tự học là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả học tập ở trường phổ thông Rèn luyện năng lực tự học cho HS THPT có vị trí quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu bộ môn và góp phần đào tạo ra những con người lao động có năng lực thực hành, tự chủ, năng động, sáng tạo, lòng say mê học tập

và ý chí vươn lên

Trang 6

Có thể nói, tự học là khả năng tiềm tàng trong mỗi con người Vấn đề

tự học đã được quan tâm, nhiều trường phổ thông đã tổ chức hội thảo bàn về đổi mới phương pháp dạy học Tuy nhiên đa số mới chỉ dừng lại ở lý luận, còn trong thực tiễn dạy học, GV vẫn còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng Nhiều GV và HS vẫn chưa ý thức được tầm quan trọng của việc tự học nên

chưa quan tâm chú trọng tới việc rèn kỹ năng này

Đối với môn Lịch sử, còn nhiều quan niệm lệch lạc cho rằng: Lịch sử là môn phụ; chỉ cần học thuộc sự kiện, không cần tư duy sáng tạo, học Lịch sử không phục vụ nhiều cho cuộc sống Do đó, môn Lịch sử không được coi trọng, phương pháp dạy học Lịch sử không hiệu quả và tạo hứng thú cho HS Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng chưa được quan tâm

Để HS tiếp nhận đầy đủ và sâu sắc về các sự kiện, nhân vật, vấn đề lịch

sử là vô cùng cần thiết Phương pháp tốt nhất để thực hiện được mục tiêu ấy không gì hơn là phải phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh Mặt khác nội với nội dung kiến thức hết sức phong phú trong khi thời lượng các tiết học trên lớp hạn chế, đòi hỏi HS phải tự học qua khai thác thêm các tài liệu tham khảo ngoài SGK

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Một số biện pháp

phát triển kỹ năng tự học cho HS qua sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở trường THPT” làm đề tài nghiên cứu

Trang 7

(551-479 TCN) – nhà giáo dục lỗi lạc của Trung Hoa cổ đại Khổng Tử cho

rằng người đi học không cố gắng suy nghĩ các vấn đề đã học thì dù có dạy cũng không có ích gì Cách dạy của ông là gợi mở để học trò tìm ra chân lý,

người thầy không được làm thay học trò Ông vẫn thường nói:“trong ba

người đồng hành tất có một người là thày ta” Theo ông có thể học bất kỳ ai,

học bất cứ nơi nào, yếu tố quyết định sự thành công là ở người học

Tiến sĩ R.R.Sing ở Ấn Độ đưa ra quan niệm về “quá trình nhận biết

dạy học” Ông nhấn mạnh người học phải tích cực, chủ động trong quá trình

học kiến thức và nhận ra các tiềm năng của bản thân

Như vậy, ở phương Đông người ta đã nghiên cứu về tự học từ rất lâu Song tự học mới chỉ được nghiên cứu chung chung, khái quát, chưa được nghiên cứu sâu, nhất là về kĩ năng tự học Họ chỉ mới dừng lại ở việc khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động tự học – yếu tố quyết định sự thành công của mỗi người

Đối với các nhà khoa học phương Tây, vấn đề này cũng được quan tâm, nghiên cứu sâu trên từng khía cạnh cụ thể

Nhà giáo dục vĩ đại của Hi Lạp cổ đại Xôcrat (469-399 TCN) được biết

đến với phương pháp dạy học gọi là “thuật đỡ đẻ” nhằm phát huy tính tích cực tư duy của HS Ông quan niệm: trong mỗi con người luôn chứa đựng kiến thức tiềm ẩn, trách nhiệm của nhà giáo dục là phải khơi gợi những tiềm ẩn đó cho HS

J.A.Cômenxki (1562-1670) nhà sư phạm Tiệp Khắc thể kỷ XVII đã

đưa ra những biện pháp dạy học hướng HS phải tìm tòi, suy nghĩ để nắm

được bản chất của sự vật, hiện tượng Ông nói: “Tôi thường bồi dưỡng cho

HS của tôi tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng vào thực tiễn” Ông cũng cho rằng, tính tự lực, tự giác phải được

hình thành và rèn luyện ngay từ nhỏ: “giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo

là việc quan trọng” [17, tr 36]

Trang 8

J.J.Rousseau (1712-1778), người Thụy Sĩ cho rằng phải hướng HS tích

cực đánh giá kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo Ông nói:

“Đừng cho trẻ em học khoa học mà hãy để cho nó tự phát minh ra” [17, tr 36]

Theo Tohr Dewey (1859-1952), người Mĩ thì: “Việc dạy học phải kích

thích được hứng thú, phải để HS độc lập tìm tòi, thầy giáo là người thiết kế, người cố vấn” [17, tr 37]

Trong cuốn “Chuẩn bị giờ học Lịch sử như thế nào”, tiến sĩ

N.Đ.Đairi đã trình bày các nguyên tắc cơ bản trong giờ học lịch sử ở trường

THPT Ông đưa ra các yêu cầu để một gờ học đạt hiệu quả cao: chuẩn bị tốt giáo án, giáo viên sử dụng tốt các nguồn tài liệu, linh hoạt các phương pháp giảng dạy… Đặc biệt ông nhấn mạnh đến việc đưa ra các bài tập độc lập để phát huy tính tự lực của HS trong học tập

I.F.Kharlamov trong cuốn “Phát huy tính tích cực của HS như thế nào”

cũng đã khẳng định: công tác tự học giữ vai trò to lớn trong việc nâng cao tính tích cực hoạt động trí tuệ của HS khi thông hiểu và tiếp thu tri thức mới

Vai trò quan trọng của tự học còn được khẳng định qua nghiên cứu của

các nhà giáo dục tiêu biểu thế kỷ XVII – XIX như Petalogi (1824-1890),

Ditecvec (1790-1886), và Usinxki (1824-1870) Họ nhấn mạnh phương thức

học tập bằng con đường tìm tòi, khám phá nỗ lực của bản thân Tư tưởng này

có tác dụng lớn trong việc đổi mới phương pháp tư duy của HS nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách người học

Năm 1979, UNESCO xuất bản cuốn “Thuật ngữ giáo dục người lớn”

bằng ba thứ tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha đã nêu: “sự giáo dục mà nội dung

quá trình tự học được xác định bởi các nhu cầu mong muốn của người học và

họ tham gia tích cực vào việc hình thành và kiểm soát, sự giáo dục này huy động những nguồn lực và kinh nghiệm của người học” Trong khuyến cáo

của UNESCO về “giáo dục cho thế kỷ XXI” khẳng định bốn trụ cột của giáo

dục là: “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người”

Trang 9

Với tác phẩm “Tự học như thế nào” (Nxb Thanh niên, 1982),

Rubakin đã kết luận rằng: “Hãy mạnh dạn tự đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm

lấy câu trả lời, đó là tự học.” Ông cũng đưa ra 1 số nguyên tắc cho việc tự

học là: hãy làm tất cả những gì có thể làm được và hãy cố gắng làm sao để có thể làm được nhiều nhất

Nhà sư phạm T.Makiguchi (1871-1944) trong cuốn “giáo dục vì cuộc

sống sáng tạo” (Nxb Trẻ -1994) cho rằng: “Giáo dục, xét như một quá trình

hướng dẫn tự học, động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ra giá trị

để đạt tới hạnh phúc của bản thân và của cộng đồng [61, tr 19] Như vậy,

ông đã nhấn mạnh vai trò của giáo dục và hoạt động tự học của con người để giúp con người sáng tạo ra những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, xã hội

Tóm lại, các quan điểm trên tuy đề cập đến những góc độ khác nhau nhưng đều khẳng định năng lực thực tiễn của trẻ em dưới hình thức tự học, tự phát triển

2.2 Các tác giả trong nước

Theo chiều dài của lịch sử, nền giáo dục có sự chuyển biến sâu sắc Quan niệm về tự học không giống nhau qua mỗi thời kỳ

Do ảnh hưởng của văn hóa-giáo dục Trung Hoa thời phong kiến, việc

tự học được thực hiện một cách máy móc, kĩ năng chủ yếu là ghi nhớ kiến thức, học thuộc lòng Thời Pháp thuộc do những chính sách cai trị của thực dân Pháp, nền giáo dục bị kìm nén, trì trệ Do đó, tự học chưa được bàn đến Sau 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, một số nhà giáo dục có tư tưởng

tiến bộ đã quan tâm đến vấn đề tự học như: Trần Kim Bảng, Nguyễn Duy

Cần, Lê Đinh Ngọc Ân… Tuy nhiên các tác giả chưa đi sâu nghiên cứu một

cách hệ thống toàn diện hoạt động, nhất là kỹ năng tự học của HS Họ chỉ mới dừng lại ở việc tổng kết kinh nghiệm giảng dạy, tự học của cá nhân

Hoạt động tự học chỉ thực sự được quan tâm dưới nền giáo dục XHCN

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập sâu sắc đến vấn đề học tập và tự học Bác

Trang 10

dạy: “Trong học tập, phải lấy tự học làm cốt”, “phải tự nguyện, tự giác, coi

học tập là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành nhiệm

vụ, phải tích cực chủ động hoàn thành kế hoạch học tập” [54, tr 14] Tư

tưởng đó của Người được Đảng vận dụng và là quan điểm chỉ đạo được đề ra

từ nghị quyết Trung Ương Đảng lần 2 khóa VIII về đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các bậc học, ngành học Quan điểm này tiếp tục được khẳng định

ở Nghị quyết Trung ương Đảng khóa IX

Ngày nay, trung tâm nghiên cứu tự học – tự đào tạo với sự tham gia của giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo… đã ra đời Trên

cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận về tự học, các tác giả đã nêu lên các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả tự học

Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn đã đóng góp nhiều công sức trong việc

tìm hiểu vấn đề tự học ở nhiều loại hình đào tạo khác nhau (tập trung, đào tạo

từ xa, trung tâm giáo dục thường xuyên…) trong tuyển tập tác phẩm: Bàn về

giáo dục Việt Nam – Nxb Lao động, 2002

Cuốn sách “Quá trình dạy – tự học” của Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn

(Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997) đã đi sâu tìm hiểu hoạt động dạy của thầy, tự hoc của trò Trong quá trình dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm thực chất là biến quá trình dạy của thầy thành quá trình tự học của trò

Mặt khác, trong cuốn sách “Luận bàn về kinh nghiệm tự học”, tác giả

đã đưa ra các kinh nghiệm bản thân về việc tự học và hiệu quả của quá trình

tự học

Về phương pháp tự học trong môn Lich sử, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đê này

Cuốn “Đối mới việc dạy, học lịch sử lấy HS làm trung tâm” của Hội

khoa học lịch sử Việt Nam do GS Phan Ngọc Liên chủ biên đã đề cập đến

phương hướng, biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường

Trang 11

phổ thông hiện nay, trong đó nhấn mạnh đến vấn đề phát huy năng lực tư duy của HS

Trong cuốn “Phát huy tính tích cực của HS trong dạy học Lịch sử ở

trường THCS” do Giáo sư Phan Ngọc Liên, PGS Trịnh Đình Tùng chủ biên

đã đề cập đầy đủ cơ sở lý luận, thực tiễn của việc phát huy tính tích cực học tập của HS Đồng thời đề ra những biện pháp sư phạm cần thiết nhằm phát huy tính tích cực, khả năng tư duy độc lập của HS THCS

Tác phẩm “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Lịch

sử ở trường phổ thông”, GS TS Nguyễn Thị Côi đã trình bày cụ thể quan

niệm về tự học Lịch sử, nội dung và các hình thức tự học

Ngoài ra, vấn đề này cũng được đề cập đến trong cuốn “Hệ thống các

phương pháp dạy học lịch sử ở trường THCS” do PGS Trịnh Đình Tùng chủ

biên Thông qua tìm hiểu việc tự học của HS, tác giả nêu rõ mối quan hệ mật thiết giữa phương pháp giảng dạy của GV với phương pháp học tập của HS góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy

Vấn đề tự học đã được luận bàn sôi nổi trên các tạp chí như: Giáo dục

và thời đại; Nghiên cứu giáo dục; Nghiên cứu Lịch sử; tạp chí Giáo dục Các

bài viết: “Một vài suy nghĩ về đổi mới nội dung giảng dạy lịch sử ở trường

phổ thông hiện nay” của tác giả Nghiêm Đình Vì và Trịnh Đình Tùng trên

tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 5/1991, “Về biện pháp nâng cao chất lượng dạy

học Lịch sử” của PGS Trịnh Đình Tùng trên tạp chí Nghiên cứu giáo dục số

5/1994, “Bồi dưỡng khả năng tự học cho HS THCS” (Th.S Võ Hoàng Ngọc,

tạp chí Giáo dục), “Đổi mới việc chỉ đạo hoạt động tự học ở nhà của HS”

(Vũ Duy Yên, “Dạy phương pháp học cho HS” (PGS TS Nguyễn Văn Đản),

“Tự học-một chìa khóa vàng của giáo dục” (GS Phan Trọng Luận), “Tạo hứng thú tự học bộ môn Lịch sử cho HS” (Nguyễn Thị Thế Bình, tạp chí giáo

dục số 258 năm 2011) đã đi sâu nghiên cứu vào các khía cạnh khác nhau của

vấn đề tự học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn

Trang 12

Đặc biệt là hội thảo khoa học “Nghiên cứu phát triển – tự học – tự đào

tạo” tổ chức tại Hà Nội ngày 6/1/1998 với nhiều bài phát biểu, bài viết xung

quanh vấn đề tự học, phát huy nguồn lực con người và các biện pháp cần được tiến hành đồng bộ hiện nay để phát triển năng lực tự học nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo

Bên cạnh đó, vấn đề tự học được đi sâu tìm hiểu qua luận án và luận văn thạc sĩ như:

Luận án tiến sĩ: Trần Văn Hiếu với “Xây dựng quy trình làm việc độc

lập với sách và tài liệu học tập cho HS”; Trịnh Khắc Hậu với đề tài “Một số biện pháp quản lý tự học cho HS trường nội trú Đồ Sơn”; Ngô Đình Qua với

“Một số biện pháp phát huy tính tự lực của HS THPT”, Phạm Thị Xuyến với

đề tài “Hình thành thói quen tự học cho HS THPT qua giờ Văn học sử”… Luận văn “Rèn luyện năng lực tự học cho HS trong dạy học Lịch sử Việt Nam

1858-1918 ở lớp 11 THPT” của Nguyễn Thị Thanh Thủy; “Sử dụng TLTK

theo hướng phát huy tính tích cực của HS trong dạy học Lịch sử Việt Nam

1945-1954” của Nguyễn Thị Xuân Khang…

Như vậy chúng ta thấy, có không ít các công trình nghiên cứu về vấn đề

tự học và kỹ năng tự học qua TLTK Các tài liệu tập trung nghiên cứu khá sâu sắc và hệ thống về mặt lý luận: vai trò ý nghĩa, hình thức, các biện pháp phát triển kỹ năng tự học Tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu việc phát triển kỹ năng tự học qua sử dụng TLTK

Những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước chính là nguồn tài liệu quý báu, là những căn cứ, gợi ý có giá trị cho chúng tôi thực hiện luận văn này

3 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình dạy học môn Lịch sử ở trường THPT

Trang 13

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài không đi sâu nghiên cứu vấn đề tự học nói chung, mà tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển kĩ năng tự học với TLTK cho HS và đề xuất một

số biện pháp sư phạm nhằm phát triển kỹ năng tự học qua sử dụng TLTK cho

HS trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Do thời gian hạn chế nên đề tài giới hạn việc vận dụng các biện pháp

phát triển kỹ năng tự học qua sử dụng TLTK cho HS trong dạy học Lịch sử

Việt Nam giai đoạn 1945-1954 lớp 12 THPT (chương trình chuẩn)

- Phần thực nghiệm, chúng tôi chỉ tiến hành qua một bài học trên lớp

- Phạm vi thực nghiệm giới hạn ở một số trường phổ thông tại Hà Nội

và các tỉnh phía Bắc như: THPT Phạm Hồng Thái (Hà Nội), THPT Trần Hưng Đạo (Hà Nội), THPT Hồng Thái (Đan Phượng, Hà Nội), THPT Hùng Vương (Thái Bình), THPT Chuyên Hạ Long (Quảng Ninh), THPT Chuyên Amsterdam (Hà Nội), Trung tâm GDTT Thuận Thành (Bắc Ninh)

5 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở khẳng định tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng tự học với TLTK cho HS THPT, đề tài đi sâu đề xuất một số biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho HS qua sử dụng TLTK trong dạy học lịch sử ở trường THPT (vận dụng qua phần LSVN giai đoạn 1945-1954, lớp 12 THPT -

Chương trình chuẩn)

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tự học nói chung và tự học của HS qua

sử dụng TLTK lịch sử nói riêng

- Tìm hiểu thực tiễn việc phát triển kỹ năng tự học của HS THPT qua

sử dụng tài liệu tham khảo

Trang 14

- Tìm hiểu khái quát chương trình Lịch sử THPT và đi sâu tìm hiểu chương trình Lịch sử Việt Nam 1945-1954 làm căn cứ để xác định, đề xuất

một số biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho HS qua sử dụng TLTK

- Thực nghiệm sư phạm và đánh giá hiệu quả của các biện pháp đã

đề xuất

7 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi đã tiến hành các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: sưu tầm, đọc và phân tích các

nguồn tài liệu như: sách, báo, Internet, tạp chí, luận văn, luận án đề cập các vấn đề liên quan đến đề tài luận văn tốt nghiệp

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm: quan sát, dự giờ,

trao đổi với giáo viên, học sinh, điều tra xã hội học, phương pháp thống

kê toán học

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

8 Giả thuyết nghiên cứu

Trong thực tế giảng dạy lịch sử ở trường THPT hiện nay, nhiều GV chưa chú ý đến việc phát triển kỹ năng tự học với TLTK cho HS Chất lượng dạy học Lịch sử ở trường THPT sẽ được nâng cao, đáp ứng mục tiêu môn học nếu vận dụng được các biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho HS qua sử dụng TLTK như luận văn đưa ra

Trang 15

phạ ệc hướng dẫn cho HS trong học tập môn Lịch sử

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển kỹ năng tự học của HS qua sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Chương 2: Một số biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho HS qua sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở trường THPT (vận dụng vào dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954)

Trang 16

Có nhiều quan điểm khác nhau về tự học Rubakin trong cuốn “Tự học

như thế nào” đã kết luận rằng: “Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra cho mình câu

hỏi rồi tự tìm lấy câu trả lời, đó là phương pháp tự học” Ông cho rằng tự học

không chỉ là xem sách mà còn phải biết so sánh cái viết trong sách với thực tế cuộc sống, biết liên hệ giữa các môn khoa học Không nên sợ bất đồng ý kiến với người khác, không nghiên cứ cái chung chung mà phải nghiên cứu vấn đề

đang trao đổi, thảo luận – “hãy học bằng tất cả lí trí, tâm hồn, cảm xúc của

chính mình” Như vậy, với Rubakin tự học là một quá trình người học tự so

sánh, đối chiếu hỏi và đáp, so sánh lý thuyết và thực hành, giữa sách vở với thực tế cuộc sống từ đó rút ra cho mình một tri thức riêng đầy sáng tạo

Theo GS TS Đặng Vũ Hoạt thì “Tự học là một hình thức hoạt động

nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, hoặc không theo chương trình SGK đã được quy định Tự học có quan hện chặt chẽ với quá trình dạy học nhưng nó có tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân

[25, 174]

Đối với GS Nguyễn Cảnh Toàn, thì “Học, cốt lõi là tự học, là quá trình

phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên

Trang 17

ngoài thành tri thức bên trong con người mình” “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực

đó thành sở hữu của mình [60, tr 621]

Từ những khái niệm trên, có thể đưa ra khái niệm tự học như sau: “Tự

học là hoạt động tự giác, tích cực, tự lực phát huy nội lực của bản thân nhằm tìm ra cách học để lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, hình thành và phát triển tàn diện nhân cách người học”

Hoạt động tự học diễn ra với nhiều hình thức và mức độ khác nhau Đối với HS THPT, tự học chính là tự học có hướng dẫn của GV Với sự hướng dẫn của GV, HS tự phải phát huy cao độ tính tích cực chủ động để tự tìm ra kiến thức, biến kiến thức của nhân loại thành của mình Khi hoạt động tự học không có GV điều khiển trực tiếp, HS tự mình sắp xếp kế hoạch, huy động các năng lực bản thân để củng cố, đào sâu , mở rộng và hoàn chỉnh tri thức, hoàn thành nhiệm vụ học tập do GV giao cho, đồng thời lĩnh hội tri thức mới

Với vai trò là nội lực, tự học có ý nghĩa quyết định trong quá trình nhận thức Chất lượng giáo dục đạt được đỉnh cao khi tác động dạy của GV (ngoại lực) cộng hưởng với năng lực tự học của HS (nội lực) GV giỏi là thầy dạy cho HS biết tự học Song động lực tự học sẽ khó phát triển nếu thiếu sự hướng dẫn của GV và sự hợp tác của HS Ngược lại, tác động của GV và môi trường xã hội sẽ kém hiệu lực nếu không phát huy được động lực tự học của

HS Do đó, phải kết hợp nội lực với ngoại lực để phát huy cao nhất chất lượng học tập

Trang 18

1.1.1.2 Khái niệm kỹ năng

Có nhiều ý kiến khác nhau về kỹ năng

Ph.N Gônôbôlin cho rằng: “Kỹ năng là phương thức tương đối hoàn

chỉnh của việc thực hiện những hành động bất kỳ nào đó Các hành động này được hoàn thành trên cơ sở của các trí thức, kỹ năng và kỹ xảo – những cái con người được lĩnh hội trong quá trình hành động” [53, tr 165]

N.D Levitôv cho rằng: “Kỹ năng là khả năng con người thực hiện một

hành động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm – những cái đã được lĩnh hội từ trước” [53, tr 166] Theo M.A Đanilốp và

M.N xcatkin: “Kỹ năng bao giờ cũng xuất phát từ kiến thức, dựa trên kiến

thức, kỹ năng chính là kiến thức trên hành động” [51, tr 10]

E.P Êxipôp trong giáo trình “Những cơ sở của lý luận dạy học” (Nxb

Giáo dục, 1971), tập 2 cho rằng: kỹ năng chính là khả năng con người biết sử

dụng một cách có mục đích, sáng tạo những tri thức và kỹ xảo của mình trong quá trình hoạt động thực tiễn

Trong nước, cá nhà tâm lý học, giáo dục cũng có những quan điểm khác nhau về kỹ năng:

Theo GS Trần Bá Hoành: “Kỹ năng chính là khả năng vận dụng những

tri thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào hoạt động thực tiễn”

[52, tr 14]

PGS TS Phạm Viết Vượng khẳng định: “Kỹ năng là khả năng thực hiện

thành công một loại công việc trên cơ sở nắm vững lý thuyết Kỹ năng được hình thành trong quá trình rèn luyện lâu dài” [71, tr 78]

GS TS Nguyễn Thị Côi cho rằng: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết

quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những kinh nghiệm cho phép” [12,

tr 14]

Trang 19

Như vậy, cơ bản tồn tại hai quan niệm khác nhau về kỹ năng Khi thì kỹ năng được xem xét ở khía cạnh kỹ thuật của hành động (A.V.Petrovxki, Ph N Gônôbôlin, N.A Rubakin, Trần Trọng Thủy…), có khi được xem xét ở bình diện năng lực thực hiện hành động (N.D.Levitov, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết…)

Chúng tôi tiếp cận kỹ năng trên bình diện khả năng thực hiện được hành động nào đó đúng theo mục đích, yêu cầu của hành động ấy

Khả năng được hiểu là “tính chất của người có những điều kiện tự

nhiên hoặc do hoàn thiện, học tập hay kinh nghiệm tạo ra để làm tốt việc gì”

(Từ điển tiếng Việt, 1997)

Như vậy, khả năng là khái niệm rộng Nó không chỉ bao gồm những điều kiện cho phép cá nhân được thực hiện hành động, sự nhận thức về mục tiêu hành động mà cá nhân đạt đến mà còn bao hàm cả các mức độ thực hiện hành động – các mức độ của kỹ năng

Từ cách hiểu trên, có thể rút ra 2 nhận xét sau:

- Kỹ năng là từ dùng để chỉ mức độ nhất định của khả năng thực hiện

có hiệu quả những yêu cầu của một hoạt động nhất định Trong một kỹ năng

cụ thể lại bao gồm những kỹ năng nhỏ hơn – các kỹ năng bộ phận

- Kỹ năng có thể được hình thành nhờ tác động của dạy học Nhờ học tập và rèn luyện mà cá nhân có được kỹ năng của một hoạt động nhất định Điều này thực sự có ý nghĩa với việc hình thành và phát triển kỹ năng tự học của HS

- Từ những phân tích trên theo chúng tôi, kỹ năng có thể hiểu là khả

năng thực hiện có kết quả một hành động trên cơ sở lựa chọn và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để đạt được mục tiêu và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cho phép

Về khái niệm “năng lực”, các tác giả X Roegiers, Phạm Minh Hạc,

Nguyễn Kỳ đưa ra các quan điểm khác nhau nhưng nhìn chug đều thông nhất

Trang 20

rằng: Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hoạt

động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay các cá nhân trong tình huống khác nhau, trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng trong hành động

Như vậy, kỹ năng và năng lực đều là sản phẩm của quá trình đào tạo, rèn luyện (bao gồm cả tự đào tạo, tự rèn luyện) Kỹ năng có tính riêng lẻ, cụ thể, còn năng lực có tính tổng hợp, khái quát Kỹ năng là bộ phận cấu thành năng lực của con người trong hoạt động thực tiễn

1.1.1.3 Kỹ năng tự học và tự học lịch sử

Kỹ năng tự học là khả năng thực hiện có kết quả hoạt động tự học cũng như những hiểu biết về hoạt động tự học và kỹ năng tự học mà người học đã được lĩnh hội trong hoạt động dạy học

Trong dạy học Lịch sử, quan niệm về vấn đề tự học của HS là quan trọng để giúp cho GV xác định các phương pháp dạy học thích hợp

Trước đây đã tồn tại một số quan niệm sai lầm cho rằng: HS chỉ cần nhớ một số điều cơ bản, thuộc lòng một số sự kiện, tóm tắt sơ lược nội dung SGK, không có tư duy, không cần thực hành Quan niệm này đã làm nghèo nội dung, hạ thấp chất lượng, hứng thú học tập và khả năng tự học của HS

Ngày nay, cùng với quá trình đổi mới giáo dục, chúng ta cần có quan niệm đúng về tự học Lịch sử của HS

Tự học LS là việc HS tự nắm vững kiến thức lịch sử một cách chính xác, vững chắc, được suy nghĩ nhận thức sâu sắc và có thể vận dụng một cách thành thạo

Như vậy, tự học lịch sử của HS là việc tự nắm vững kiến thức lịch sử

và vận dụng thành thạo Đó là quá trình đi từ biết đến hiểu đến vận dụng Học tập lịch sử là quá trình nhận biết những điều đã diễn ra trong quá khứ của xã hội để hiểu về hiện tại và chuẩn bị cho tương lai

Trang 21

Việc tự học lịch sử phải được tiến hành với sự say mê, hứng thú, ý thức trách nhiệm, tinh thần lao động cần cù HS không chỉ hiểu sâu kiến thức mà còn có tư cách phẩm chất của người lao động: kiên nhẫn, tự tin, sáng tạo

Có thể quan niệm việc tự học của HS là việc các em độc lập hoàn thành những nhiệm vụ được giao với sự giúp đỡ, hướng dẫn, kiểm tra của GV Tự học lịch sử bao gồm cả việc tập dượt nghiên cứu lịch sử của HS THPT Tự học của HS trong quá trình học tập lịch sử thể hiện cả ở trên lớp và ở nhà

Tự học trên lớp là:

Những hoạt động tự nhận thức trên lớp khi nghe GV giảng (biết tự điều chỉnh để nghe giảng, chọn lọc kiến thức ghi chép, tự trả lời câu hỏi của GV nêu ra)

Tự học ở nhà thể hiện qua các công việc :

- Đọc và ghi lại tóm tắt ngắn gọn những vấn đề cơ bản của bài viết SGK, TLTK

- Ghi lại và tìm hiểu những nội dung khó hiểu, đặc biệt là các thuật ngữ, khái niệm lịch sử

- Hoàn thành câu hỏi, bài tập trong SGK

- Biết tự làm việc với bản đồ, tranh, ảnh trong và ngoài SGK, tìm hiểu nội dung và trình bày các nội dung lịch sử theo bản đồ, tranh, ảnh

- Đọc và làm việc với các tài liệu lịch sử, văn học, các tư liệu tham khảo khác nhằm hiểu rõ hơn những kiến thức đã học, mở rộng sự hiểu biết cho HS

- Tự ôn tập dưới sự hướng dẫn của thầy

Qua những biểu hiện trên cho thấy, tự học là khâu quan trọng của quá trình học tập Tự học không có nghĩa là cô lập người học Tự học là tự mình suy nghĩ, giải quyết vấn đề bằng nỗ lực của bản thân qua sự hướng dẫn của thầy cô giáo

Trang 22

Bản chất của tự học lịch sử là quá trình nhận thức một cách tự giác, tích cực, sáng tạo của người học mà không có sự tham gia trực tiếp của GV nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụ học tập bộ môn Thực chất chính là sự tự lực của người học trong việc tìm kiếm tri thức cho bản thân, tức là tự tổ chức, tự điều khiển, tự điều chỉnh, tự kiểm tra, tự đánh giá quá trình học tập

Sự hướng dẫn của thầy là quan trọng nhưng nếu không có sự nỗ lực, cố gắng của trò thì kết qua học tập sẽ không cao Thực tiễn đã chứng minh nếu thầy có kiến thức uyên thâm đến đâu nhưng nêu HS không đầu tư thời gian tự học, không có kế hoạch học tập hợp lý thì không thể biến tri thức của nhân loại thành của mình được Do đó, muốn nâng cao chất lượng dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng ở trường phổ thông, cần hướng dẫn HS quy trình tự học, tự nghiên cứu qua các tài liệu học tập

1.1.1.4 Phát triển kỹ năng tự học lịch sử

Phát triển theo từ điển tiếng Việt nghĩa là mở mang từ nhỏ thành to, từ

yếu thành mạnh

Phát triển kỹ năng được hiểu là nâng cao khả năng cho HS trong việc

thực hiện hệ thống các thao tác nhằm làm biến đổi đối tượng, đối chiếu chúng với hành động cụ thể để đạt tới những phẩm chất hay trình độ vững vàng

Theo GS TS Nguyễn Thị Côi, để hình thành một kỹ năng phải trải qua nhiều bước :

Trước hết, HS cần nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động Đồng thời với việc nhận thức đúng mục đích, cần phải nắm vững các bước của kỹ năng Việc lĩnh hội này có thể do con người tự học cũng có thể do người khác hướng dẫn Nhưng chỉ là nắm lý thuyết chứ chưa phải hành động thực sự, vì vậy có thể nói là chưa có kỹ năng Nhưng nếu không có bước này thì người học phải lần mò, khó hoàn thành công việc có hiệu quả và mất nhiều thời gian

Trang 23

Tiếp theo là giai đoạn GV làm mẫu bằng các ví dụ minh họa cụ thể qua các tiết học, bài học, HS sẽ “quan sát mẫu” và “làm thử theo mẫu” Công việc này sẽ giúp các em thấy được khả năng vận dụng tri thức vào hoạt động thực tiễn, xem hành động và có những ưu và nhược điểm gì, cần sửa chữa và củng

cố tri thức đã nắm Ở giai đoạn này, việc thử làm ngắn hay dài tùy theo năng lực của mỗi HS

Tiếp nữa, sau khi đã làm thử để nắm chắc cách làm, người học phải tiến hành luyện tập, luyện tập nhiều lần Ở giai đoạn này, các thao tác, các bước thực hiện hành động dần dần được tiến hành chính xác hơn Đồng thời các tri thức và cách thức hành động được ôn luyện làm cho người học nắm chắc hành động hơn Đến đây có thể nói kỹ năng đã được hình thành, song chưa hoàn toàn ổn định Kỹ năng thực sự ổn định khi trong điều kiện khác con người hành động vẫn đạt kết quả

Cuối cùng, GV phải kiểm tra và điều chỉnh việc thực hiện kỹ năng của

HS Việc kiểm tra giúp GV có thể nắm bắt được khả năng lĩnh hội kiến thức

và hình thành kỹ năng của HS Qua đó, GV có thể điều chỉnh các bước hình thành kỹ năng cho phù hợp với từng đối tượng HS, có thể tăng thời lượng của bước “làm mẫu” hoặc bước luyện tập…

Như vậy, quy trình hình thành kỹ năng gồm các bước :

- Bước 1 : Nắm được mục đích, cách thức, các bước của kỹ năng

- Bước 2 : GV minh họa, làm mẫu, HS quan sát mẫu

- Bước 3 : GV tổ chức cho HS thử làm theo mẫu, luyện tập

- Bước 4 : Cuối cùng GV kiểm tra và điều chỉnh việc thực hiện kỹ năng của HS

Có thể thấy, để hình thành được một kỹ năng, GV và HS phải thực hiện nhiều thao tác, phải có sự kiên trì, tích cực Đối với HS THPT, HS phải có nền tảng, kỹ năng tự học đã được hình thành Vì vậy, đề tài không nêu lên các

Trang 24

biện pháp hình thành kỹ năng cho HS mà đi sâu vào việc đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao, phát triển các kỹ năng đó

Để phát triển kỹ năng tự học phù hợp với đặc trưng của môn lịch sử,

GV hướng dẫn HS tuân thủ các bước chung về hình thành kỹ năng như trên Đồng thời, cần phát triển cho HS những kỹ năng phù hợp với đặc trưng bộ môn như: kỹ năng so sánh, đối chiếu các sự kiện lịch sử; kỹ năng hệ thống hóa kiến thức; kỹ năng trình bày; kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn… Điều đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn trong trường phổ thông

Sự phát triển của kỹ năng nói chung, kỹ năng tự học bộ môn lịch sử nói riêng được hiểu theo hai khía cạnh một là, quá trình tăng dần về số lượng các

kỹ năng, trên cơ sở các kỹ năng đã có sẽ hình thành và phát triển thêm những

kỹ năng tự học mới; hai là, phát triển về mặt chất lượng kỹ năng, tức là trên

cơ sở các kỹ năng đã được hình thành (HS biết làm) sẽ phát triển lên mức độ cao hơn (làm thành thạo) Để các kỹ năng trở nên thành thục đòi hỏi một quá trình lao động lâu dài, kiên trì của HS và sự hướng dẫn, kiểm tra thường xuyên của GV Vì vậy, trong quá trình dạy học ở trường phổ thông, nhiệm vụ hình thành và phát triển kỹ năng có vai trò đặc biệt quan trọng

1.1.1.5.Tài liệu tham khảo

Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, tài liệu là những sách báo giúp cho việc tìm hiểu một vấn đề gì đó Ví dụ : tài liệu học tập, tài liệu tham khảo, tài liệu giảng dạy… Như vậy có thể hiểu, TLTK trong dạy học lịch sử chính là

những sách, báo (ngoài SGK) hay các công trình nghiên cứu về những điều

đã xảy ra trong quá khứ của xã hội loài người

Có nhiều loại tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi chỉ đề cập đến 2 loại tài liệu tham khảo cơ bản : tài liệu lịch sử và tài liệu văn học

Trang 25

* Tài liệu lịch sử

Tài liệu lịch sử có ý nghĩa quan trọng với việc nghiên cứu khoa học, cũng như đối với việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông Tài liệu lịch sử có nhiều loại như tài liệu thành văn, tài liệu hiện vật, dân tộc học, ngôn ngữ địa danh… Tuy nhiên, trong luận văn này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu về tài liệu thành văn

Tài liệu lịch sử thành văn gồm nhiều loại, nội dung và tính chất của mỗi loại cũng không giống nhau

* Tài liệu lịch sử gốc: bao gồm các văn kiện, tài liệu có liên quan trực

tiếp đến thời điểm xảy ra sự kiện như: các văn tự cổ, các hiệp ước, điêu tuyên ngôn… Loại tài liệu này dùng để dẫn chứng, minh họa cho các sự kiện đang trình bày

* Tài liệu trích trong các tác phẩm của các tác giả kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin, các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của các đồng chí lãnh

đạo của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là các văn kiện Đảng phản ánh những

vấn đề quan trọng nhất của sự phát triển lịch sử lúc bấy giờ về tình hình kinh

tế xã hội của đất nước, chính sách đối nội và đối ngoại, các phong trào xã hội

và cách mạng trong lịch sử đất nước ta cũng như LSTG có thể sử dụng như tài liệu lịch sử

* Tài liệu trong các tác phẩm hồi ký của những người được chứng kiến

sự việc xảy ra

Loại tài liệu này cũng góp phần giúp HS hiểu rõ các sự kiện đang học,

có tác dụng cao trong việc khơi gợi cảm xúc người đọc

* Tài liệu văn học

Trong dạy học lịch sử, GV thường dùng các loại tài liệu văn học chủ yếu sau:

- Tài liệu dân gian: ra đời sớm và rất phong phú, bao gồm các thể loại

như thần thoại, truyền thuyết, truyển cổ tích, ca dao, dân ca… Đây là những

Trang 26

tài liệu có giá trị, phản ánh nhiều nội dung quan trọng trong lịch sử dân tộc Nếu gạt bỏ yếu tố thần bí, hoang đường trong đó, chúng ta có thể tìm được những yếu tố hiện thực của lịch sử trong văn học dân gian

* Văn học yêu nước và cách mạng: phản ánh rất trung thực các sự kiện

lịch sử, là một trong những vũ khí đấu tranh rất sắc bén của quần chúng nhân dân chống giai cấp thống trị Trong việc dạy học các khóa trình lịch sử dân tộc ở trường THPT đều có thể sử dụng loại tài liệu văn học này

* Tác phẩm văn học của những người được chứng kiến sự kiện hoặc

những người đời sau là một trong những ngồn cung cấp kiến thức cho HS

khôi phục lại bức tranh lịch sử Các tác giả kinh điển của chủ nghĩa Lênin đã nhấn mạnh ý nghĩa nhận thức của loại tác phẩm này

Mác-* Tiểu thuyết lịch sử có vai trò không nhỏ đối với việc dạy học lịch sử,

vì các tiểu thuyết này có chủ đề gần với những sự kiện trong khóa trình lịch

sử, giúp HS khôi phục lại bối cảnh lịch sử, hình ảnh các sự kiện, nhân vật trong quá khứ Song cần lựa chọn và xác định những tiểu thuyết lịch sử nào đáp ứng những yêu cầu dạy học lịch sử, tránh những loại tiểu thuyết bịa đặt, ảnh hưởng xấu đến nhận thức lịch sử của HS

Bên cạnh tài liệu thành văn, trong dạy học lịch sử còn sử dụng TLTK khác như: tài liệu hiện vật, dân tộc học, ngôn ngữ địa danh…

Do đặc trưng của bộ môn lịch sử, có thể thấy các TLTK ngoài SGK có

ý nghĩa quan trọng trong việc khôi phục, tái hiện hình ảnh trong quá khứ TLTK không chỉ cung cấp thêm những tư liệu lịch sử phong phú, bổ sung những thiếu hụt của SGK, mà còn làm sáng rõ hơn những kiến thức cơ bản của bài học Nó là bằng chứng về tính chính xác, khoa học và phong phú của

sự kiện lịch sử Nó còn khắc phục được hiện tượng “hiện đại hóa” lịch sử và

“hư cấu” sai sự thực Do việc, việc phát triển kỹ năng tự học cho HS qua sử dụng TLTK là rất cần thiết

Trang 27

1.1.1.6 Phát triển kỹ năng tự học với tài liệu tham khảo

Kỹ năng tự học là khả năng thực hiện có kết quả hoạt động tự học cũng như những hiểu biết về hoạt động tự học và kỹ năng tự học mà người học đã được lĩnh hội trong hoạt động dạy học

Tự học lịch sử của HS là việc tự nắm vững kiến thức lịch sử và vận dụng thành thạo Đó là quá trình đi từ biết đến hiểu đến vận dụng Học tập lịch sử là quá trình nhận biết những điều đã diễn ra trong quá khứ của xã hội

để hiểu về hiện tại và chuẩn bị cho tương lai

Tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử là những sách, báo (ngoài SGK) hay các công trình nghiên cứu về những điều đã xảy ra trong quá khứ của xã hội loài người

Như vậy, có thể hiểu phát triển kỹ năng tự học lịch sử qua sử dụng tài

liệu tham khảo chính là nâng cao khả năng HS tự nắm vững kiến thức lịch sử

và vận dụng thành thạo kiến thức đó trong cuộc sống qua việc đọc, nghiên cứu sách, báo, công trình nghiên cứu (ngoài SGK)

Đối với HS THPT, làm việc với TLTK là rất cần thiết để các em lĩnh hội được khối lượng kiến thức phong phú, đa dạng Điều này lại càng quan trọng hơn trong học tập lịch sử bởi đặc thù môn học là những điều đã xảy ra, không thể tri giác trực tiếp được Tự học với TLTK là con đường tiếp nhận tri thức một cách chủ động, tích cực Bên cạnh kiến thức, tự học với TLTK còn giúp các em phát triển các phẩm chất cần thiết không những trong học tập mà còn trong cuộc sống: sự sáng tạo, kiên trì, cầu tiến, nghị lực…

Để hình thành được một kỹ năng, HS phải nắm được mục đích, cách thức, các bước thực hiện kỹ năng đó Bước đầu, HS phải thực hiện từ việc quan sát cách làm của GV, sau đó, HS phải có sự điều chỉnh dưới sự hướng dẫn của GV để đạt kết quả tốt hơn Đó là các bước cơ bản để hình thành một

kỹ năng

Trang 28

Phát triển kỹ năng tự học lịch sử cho HS tức là trên cơ sở các kỹ năng

đã được hình thành (HS biết làm) sẽ phát triển lên mức độ cao hơn (làm thành thạo) Đối với HS THPT, các kỹ năng đã được hình thành từ bậc THCS, ví dụ: cách đọc tài liệu, ghi chép, sử dụng tài liệu lịch sử để trả lời câu hỏi Tuy nhiên, trên cơ sở các em đã biết, đòi hỏi GV hướng dẫn để phát triển các kỹ năng đó ở mức độ thành thục, nhuần nhuyễn Muốn kỹ năng đó được phát triển, đòi hỏi HS phải thực hành rất nhiều lần cho đến khi thành thạo, chất lượng Để làm được điều đó, cần có hệ thống các thao tác, các bước cụ thể, khoa học

1.1.2 Cơ sở xuất phát của vấn đề phát triển kỹ năng tự học của học sinh qua sử dụng tài liệu tham khảo

1.1.2.1 Mục tiêu giáo dục và đào tạo

Môn Lịch sử với chức năng và nhiệm vụ của mình góp phần tích cực vào việc giáo dục và đào tạo con người toàn diện Việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông phải đạt được mục tiêu về mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ

* Về kiến thức: cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản, hệ thống,

toàn diện về tiến trình phát triển hợp quy luật của lịch sử nhân loại và dân tộc Kiến thức cơ bản gồm sự kiện lịch sử, nhân vật tiêu biểu, thời gian, không gian, các khái niệm, thuật ngữ, những vấn đề về phương pháp nghiên cứu và học tập phù hợp với yêu cầu và trình độ của HS

* Về kỹ năng: Tiếp tục hoàn thiện các kỹ năng cần thiết cho việc học

tập lịch sử được rèn luyện ở tiểu học, THCS như: có quan điểm lịch sử khi xem xét sự kiện và nhân vật, làm việc với SGK và các nguồn sử liệu, biết phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát…, có năng lực tự học, phát hiện, đề xuất giải quyết vấn đề…

* Về thái độ: Bộ môn lịch sử có ưu thế trong việc giáo dục tư tưởng đạo

đức, thái độ, tình cảm cho HS, góp phần vào việc đào tạo con người Việt Nam

Trang 29

toàn diện: giáo dục lòng yêu quê hương đất nước; bồi dưỡng tinh thần đoàn kết quốc tế, tình hữu nghị với các dân tộc; có ý thức làm nghĩa vụ công dân, sẵn sang thực hiện nghĩa vụ quốc tế; bồi dưỡng những phẩm chất cần thiết trong cuộc sống cộng đồng…

Tóm lại, mục tiêu của môn Lịch sử ở trường THPT là cung cấp kiến thức cơ bản, có hệ thống về lịch sử phát triển hợp quy luật của dân tộc và xã hội loài người Trên cơ sở đó, giáo dục thái độ, tình cảm đúng với các sự kiện, nhân vật lịch sử, bồi dưỡng lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH

Để đạt được mục tiêu trên, cần phải không ngừng đổi mới phương pháp dạy học lịch sử Việc hướng dẫn HS tự học qua sử dụng TLTK sẽ phát huy tính tích cực của HS, góp phần thực hiện tốt mục tiêu môn học đề ra

1.1.2.2 Đặc trưng của bộ môn Lịch sử

Lịch sử mang tính quá khứ: Tất cả những hiện tượng và sự kiện lịch sử

được chúng ta nhắc đến đều là những chuyện đã xảy ra, mang tính quá khứ Chúng ta không thể trực tiếp quan sát được lịch sử mà chỉ nhận thức được chúng thông quan tài liệu được lưu lại Vì vậy, dạy học lịch sử có những khó khăn nhất định HS không thể quan sát sự kiện lịch sử , chỉ có thể tri giác các tài liệu sự kiện

Lịch sử mang tính không lặp lại: Tri thức lịch sử nhìn chung mang tính

không lặp lại về cả thời gian và không gian Mỗi hiện tượng, sự kiện thường chỉ xảy ra vào một thời gian và không gian nhất định, chỉ xảy ra một làn duy nhất Vì thế khi trình bày, nghiên cứu một sự kiện lịch sử phải xem xét tính cụ thể cả về thời gian và không gian làm nảy sinh sự kiện Qua đó nhận thấy các

sự kiện lịch sử là riêng biệt nhưng có mối quan hệ kế thừa

Lịch sử có tính cụ thể: Lịch sử là khoa học nghiên cứu tiến trình lịch sử

cụ thể của cá nước, các dân tộc khác nhau và quy luật của nó Lịch sử mỗi nước, mỗi dân tộc đều có diện mạo riêng Mỗi sự kiện lại diễn ra trong một hoàn cảnh cụ thể về không gian, thời gian Chính đặc điểm này đòi hỏi việc

Trang 30

trình bày các sự kiện, hiện tượng lịch sử càng cụ thể bao nhiêu càng sinh động bấy nhiêu

Lịch sử mang tính hệ thống (tính logic lịch sử): Sự vận động của lịch sử

từ quá khứ tới hiện tại, từ hiện tại tới tương lai luôn là quá trình phát triển hợp quy luật Do vậy, khi dạy học lịch sử người GV phải chú ý đến mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng, các vấn đề lịch sử để cung cấp cho HS những tri thức lịch sử mang tính hệ thống và hoàn chỉnh

Tính thống nhất giữa “sử” và “luận”: Phần “sử” là kiến thức về lịch

sử đã xảy ra trong xã hội loài người: sự kiện, nhân vật, địa điểm, diễn biến… Phần “luận” là giải thích, đánh giá sự kiện Do đó, trong quá trình học tập, GV cần rèn luyện cho HS biết nhận thức lịch sử trong tính hệ thống, logic Đồng thời, tự học cách trình bày sự kiện lịch sử kết hợp với đánh giá, bình luận

Từ những đặc trưng trên chúng ta nhận thấy rằng để HS biết được hiện thực lịch sử thì nhất thiết các em phải có biểu tượng chân thực, cụ thể, sinh động về các sự kiện, hiện tượng lịch sử Để làm được điều đó, ngoài SGK cần phải sử dụng nhiều loại tài liệu khác nhau nhằm khôi phục lại lịch sử một cách sinh động, chính xác, sâu sắc

Bên cạnh đó, dạy học lịch sử ở trường phổ thông còn phải cung cấp cho

HS những tri thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội trong

sự phát triển của lịch sử nhân loại HS khi học lịch sử cần phải lĩnh hội, mở rộng kiến thức trên nhiều lĩnh vực khác nhau Vậy nên, để nâng cao hiệu quả bài học lịch sử, người học cần phải bổ sung những kiến thức ở các lĩnh vực khoa học xã hội khác có liên quan như: văn học, địa lý, giáo dục công dân…

Do đó, vai trò của tài liệu tham khảo trong học tập lịch sử là rất quan trọng

1.1.2.3 Đặc điểm tâm sinh lý học sinh THPT

Ở độ tuổi THPT, bên cạnh sự hoàn thiện về thể chất, về nhận thức, về ý thức trách nhiệm cũng như quyền lợi của bản thân thì sự phát triển về trí tuệ

Trang 31

của HS cũng được nâng cao Sự phát triển tâm lý cũng có những biến đổi quan trọng Trong học tập, các em trở nên tự giác hơn, chủ động hơn Tính chủ động phát triển ở tất cả các quá trình nhận thức Các em biết lắng nghe nhưng cũng biết bảo vệ những gì cho là phải, dám phản bác lại những điều tự cho là không đúng Sự áp đặt không còn thích hợp đối với lứa tuổi này Năng lực tự giác đã trở nên có mục đích, hệ thống và toàn diện Sự nhận biết không còn dừng lại ở cảm tính nữa mà đã phát triển ở mức độ tư duy cao hơn

Do ảnh hưởng của nội dung chương trình giáo dục cùng với sự phát triển của cấu trúc chức năng não, hoạt động tư duy ở HS có nhiều thay đổi quan trọng Các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy sáng tạo, đặc biệt là sự phát triển của năng lực phân tích, đánh giá Tư duy cũng chặt chẽ hơn, logic hơn, có căn cứ và nhất quán hơn Đồng thời ở lứa tuổi này, tính phê phán của

tư duy cũng phát triển Các em đã có sự đòi hỏi vấn đề phải có lập luận, có căn cứ xác thực, có logic, có hệ thống, thích tranh cãi, tranh luận Đặc biệt hơn, ở HS đã phát triển năng lực tổng hợp, khái quát hóa vấn đề Những thay đổi quan trọng trên tạo điều kiện cho các em có khả năng thực hiện những

thao tác tư duy phức tạp và trừu tượng

Như vậy, vấn đề đặt ra trong giáo dục nói chung, giảng dạy môn Lịch

sử nói riêng là phải dựa vào đặc điểm tâm lý và tiềm năng tư duy của lứa tuổi

HS để có một giải pháp giảng dạy thích hợp, tạo điều kiện tối đa cho HS tự mình nỗ lực đi đến chân lý bài học một cách độc lập và sáng tạo Đó cũng là con đường để chúng ta thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học Người

GV đóng vai trò hướng dẫn, chỉ đạo, dẫn dắt HS trên cơ sở hiểu, tin và tôn trọng khả năng, kinh nghiệm và vốn sống của HS để giúp các em khắc phục khó khăn, kiên trì để đạt hiệu quả giáo dục như mong muốn

Sự tổng hợp những đặc điểm tâm sinh lý của HS THPT khẳng định việc hình thành kỹ năng tự học, tự nghiên cứu cho HS là một việc làm hợp

lý có cơ sở khoa học Việc làm này không những phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, sự phát triển nhân cách và trí tuệ của HS phù hợp với quan

Trang 32

niệm dạy học mới đáp ứng được nội dung chương trình mà còn thể hiện tính nhân văn sâu sắc, đó là tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của mỗi con người

1.1.2.4 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Vấn đề đổi mới phương pháp trong dạy học lịch sử là một yêu cầu bức

thiết Điểm hạn chế nổi bật trong chất lượng giáo dục nước ta là kỹ năng thực

hành và khả năng HS vận dụng kiến thức vào cuộc sống còn yếu

Vài năm gần đây, tại các trường phổ thông đã tiến hành đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy học Song nhìn chung phương pháp dạy học lịch sử vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra Nhiều

GV chưa kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học tích cực để gây hứng thú cho HS Những hạn chế đó không thể đáp ứng yêu cầu đổi mới về phương pháp giảng dạy hiện nay cũng như không hoàn thành mục tiêu giáo dục đề ra

Đổi mới phương pháp dạy học nói chung, đổi mới phương pháp dạy học lịch sử nói riêng là khuyến khích chúng ta chuyển từ mô hình dạy học lấy

“GV là trung tâm” sang dạy học lấy “HS là trung tâm” Bản chất của dạy học lấy “HS là trung tâm” chính là phát huy một cách cao nhất tính tích cực, độc lạp nhận thức, trong đó đặc biệt là tư duy của HS trong học tập dưới sự điều khiển của GV để các em tự chiếm lĩnh lấy tri thức Tài liệu lịch sử là nguồn kiến thức quan trọng, vì vậy, đòi hỏi người GV phải hướng dẫn HS cách tự học Từ đó phát huy tính tích cực, chủ động của HS

Tóm lại, do khả năng vận dụng kiến thức, khả năng thực hành của HS còn yếu nên đổi mới phương pháp dạy học lịch sử hiện nay là yêu cầu cấp thiết Tự học là con đường để HS phát huy vai trò chủ động, rèn luyện những phẩm chất, năng lực cá nhân nhằm khắc phục những hạn chế trên TLTK lại

là nguồn kiến thức phong phú, cần thiết trong dạy học lịch sử Chính vì vậy, việc phát triển kỹ năng tự học cho HS qua sử dụng TLTK là cần thiết, đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong giáo dục

Trang 33

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của sử dụng TLTK đối với việc phát triển kỹ năng tự học cho HS

1.1.3.1 Vai trò

Dạy học nói chung, dạy học môn lịch sử nói riêng ở trường phổ thông

là nhằm cung cấp cho HS những kiến thức khoa học cơ bản, giúp HS có được vốn hiểu biết ban đầu để tiếp tục học lên cấp cao hơn Song trong học tập lịch

sử ở trường THPT, với những đặc trưng riêng của bộ môn “tính quá khứ, tính không lặp lại”, HS không thể trực quan sinh động, mà phải thông qua nhiều nguồn kiến thức khác nhau Trong đó, sử dụng TLTK là phương tiện cần thiết

để HS hiểu rõ hơn về nội dung SGK và làm cho bài giảng của GV sinh động, hấp dẫn

1.1.3.2 Ý nghĩa

Sử dụng TLTK trong tự học lịch sử có ý nghĩa to lớn

Về kiến thức: Lịch sử là bộ môn nghiên cứu về những vấn đề đã xảy ra

trong quá khứ, không tái diễn lần thứ hai cho HS quan sát, tri giác Việc tạo được biểu tượng chân thực, sinh động, chính xác là yêu cầu quan trọng nhất Việc này không hề đơn giản Trong dạy học lịch sử, TLTK là phương tiện quan trọng để cụ thể hóa kiến thức đang học, nhằm tạo cho HS có biểu tượng

rõ ràng, cụ thể, tăng thêm tính chất sinh động, gợi cảm của bài giảng và gây hứng thú cho việc học tập của các em

Trong dạy học, GV hướng dẫn, tổ chức hoạt động cho HS thông qua hệ thống các TLTK khiến các em tích cực hoạt động, phát huy trí sáng tạo, lựa chọn tốt các kiến thức từ các tài liệu và tạo được biểu tượng lịch sử

Trên cơ sở tạo được biểu tượng rõ ràng, cụ thể, sử dụng TLTK còn giúp

HS hiểu được bản chất, mối liên hệ giữa các sự kiện, là phương tiện hiệu quả góp phần hình thành những khái niệm quan trọng, giúp HS nắm vững các quy luật của phát triển xã hội Nhận thức lịch sử khó hơn các môn khoa học khác

ở việc có hệ thống khái niệm riêng biệt Các khái niệm lịch sử chính là đặc

Trang 34

trưng, tính chất của sự kiện Tạo được biểu tượng lịch sử chân thực giúp HS

dễ dàng đi đến khái niệm và rút ra các quy luật về sự phát triển của xã hội, qua đó HS sẽ khắc sâu kiến thức đã học Sử dụng TLTK có vai trò rất lớn trong việc giúp HS nhớ kĩ, hiểu sâu những kiến thức đã học

Ví dụ: Khi dạy về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, GV sử dụng

các tài liệu lịch sử của Hồ Chí Minh, của các đồng chí lãnh đạo Đảng như Lê Duẩn, Trường Chinh để hướng dẫn các em tạo biểu tượng cụ thể về sự ra đời của Đảng: Sự ra đời của ba tổ chức Cộng sản cuối năm 1929 gây ra nhiều khó khăn và sự phát triển của phong trào cách mạng Vì vậy, yêu cầu cấp thiết là phải hợp nhất ba tổ chức đó Tháng 2-1930, quá trình hợp nhất ba tổ chức Cộng sản được hoàn thành

Sau khi đã có biểu tượng về Đảng Cộng sản Việt Nam, GV hướng dẫn

HS dựa vào các TLTK để hình thành khái niệm Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp vô sản, đai biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động Đảng ra đời là sự kết tinh của chủ nghĩa Mác-Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước

Bên cạnh đó, việc sử dụng TLTK trong tự học còn giúp HS đi sâu vào bản chất của các sự kiện, hiện tượng lịch sử, là cơ sở để hình thành khái niệm, rút ra quy luật và bài học vận dụng vào thực tiễn cuộc sống Lịch sử phản ánh những sự kiện, hiện tượng diễn ra trong quá khứ, khi HS dựng lại “bức tranh quá khứ” cũng là lúc các em tự trau dồi cho mình kiến thức của nhân loại qua các thời kỳ, qua đó, trình độ văn hóa của các em được nâng lên rõ rệt

Ví dụ: Khi dạy học về những thành tựu của Cách mạng khoa học lần

thứ hai, GV hướng dẫn cho HS sưu tầm các phát minh khoa học, kỹ thuật Từ

đó, GV hướng dẫn các em phân tích vai trò, ý nghĩa của cuộc cách mạng này đối với sự phát triển của nhân loại

Khi các em tự mình thực hiện nhiệm vụ này dưới sự hướng dẫn của GV thì trình độ văn hóa chung của các em được nâng lên đáng kể

Trang 35

Về thái độ: Việc sử dụng TLTK trong tự học không chỉ giúp HS có

biểu tượng chính xác, sinh đông về sự kiện, hiện tượng lịch sử mà còn khơi dậy cho các em xúc cảm lịch sử, là cơ sở để giáo dục tình cảm đạo đức cho HS

Ví dụ: học bài “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953-1954)” HS tìm hiểu về các nhân vật: Bế Văn Đàn, Tô Vĩnh Diện,

Cù Chính Lan, Phan Đình Giót… cùng với chiến công oanh liệt của họ Thông qua đó, các em cảm nhận được tinh thần yêu nước nồng nàn, chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu của nhân dân ta Đồng thời, thông qua hình ảnh của các anh bộ đội chiến đấu kiên cường, dũng cảm, không ngại hi sinh xương máu cho nền độc lập dân tộc sẽ khơi dậy cho các em lòng kính yêu, khâm phục và biết ơn các anh hùng dân tộc Chính điều này đã góp phần giáo dục lòng yêu nước, ý chí bảo vệ Tổ quốc cho HS

Tự học với TLTK có ý nghĩa to lớn cho HS trong việc rèn luyện tinh thần làm việc chuyên cần, hăng say, sáng tạo trong học tập Bằng cách này,

HS không chỉ khắc phục được thói quen ỷ lại, thụ động mà còn rèn tính chủ động trong bất kỳ hoàn cảnh nào

Bên cạnh đó, sử dụng TLTK trong tự học góp phần phát triển các thành phần nhân cách của HS Những xúc cảm được tạo ra khi làm việc với tài liệu như sự yêu-ghét, kính trọng, khâm phục hay căm thù kích thích các hứng thú học tập, ý chí vượt khó để hoàn thành nhiệm vụ Bằng sự tích cực tư duy, chủ động hoạt động học tập, sáng tạo, các em sẽ trở nên tự tin hơn, năng động hơn, linh hoạt hơn trước tập thể và làm chủ được kiến thức của mình

Tóm lại, khi làm việc với TLTK, các em sẽ hiểu sâu sắc các sự kiện lịch sử, từ đó nảy sinh cảm xúc, đây là cơ sở để giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức một cách đúng đắn cho các em Bên cạnh đó, HS luôn biết trân trọng, giữ gìn những di tích, di vật lịch sử, có ý thức khảo cứu, sưu tầm, bảo vệ di dản văn hóa dân tộc

Trang 36

Về kỹ năng: Sử dụng TLTK trong tự học có ý nghĩa to lớn trong việc

phát triển các năng lực nhận thức, đặc biệt là năng lực tư duy của HS Để hiểu các sự kiện, hiện tượng một cách cụ thể, sinh động, HS cần phải chủ động quan sát, tri giác, phát huy trí tưởng tượng, phán đoán, so sánh, đối chiếu những sự kiện - hiện tượng lịch sử nhằm hiểu được bản chất của vấn đề Khi

tự học, tính tích cực, độc lập trong hoạt động nhận thức nói chung, tư duy nói riêng được phát triển Bên cạnh đó, khi làm việc với TLTK, kỹ năng đọc của các em cũng thuần thục hơn Qua đó, kỹ năng nhận xét, đánh giá, khả năng sử dụng ngôn ngữ, trí nhớ cũng được nâng cao

Ví dụ: Khi học bài “Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1953-1954)” GV hướng dẫn HS sưu tầm

TLTK về các chiến dịch lịch sử như: chiến dịch Quang Trung, chiến dịch Trung Du, chiến dịch Hòa Bình… và tự làm việc với tài liệu thông qua câu hỏi mở của GV:

- Xác định thời gian, địa điểm diễn ra chiến dịch đó? Kết quả?

- Thế chủ động đánh địch trên chiến trường chính Bắc Bộ của quân ta

sau chiến thắng Biên giới thu - đông năm 1950 đến trước đông - xuân

1953-1954 được thể hiện như thế nào?

Để trả lời được câu hỏi đó, HS phải đọc các tài liệu GV cung cấp, phải nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, đánh giá, rút ra những kết luận xác đáng Khi hoàn thành nhiệm vụ học tập, các em cũng phát triển được khả năng tri giác, làm việc với các tài liệu học tập

Quá trình tự học với TLTK đòi hỏi HS sử dụng nhiều hoạt động, thao tác học tập: kết hợp nhiều loại tài liệu, phân tích, so sánh, khái quát hóa, đánh giá…Khi trình bày, các em phải lựa chọn ngôn ngữ phù hợp, diễn đạt rõ ràng, mạch lạc Rõ ràng, việc sử dụng TLTK đúng cách còn giúp phát triển các kỹ năng thực hành bộ môn

Trang 37

Như vậy, sử dụng TLTK trong tự học có tác dụng thiết thực trong việc bồi dưỡng nhận thức, giáo dục tư tưởng tình cảm, đạo đức đúng đắn và phát triển toàn diện HS

1.1.4 Một số kỹ năng tự học cần hình thành và phát triển cho HS khi sử dụng TLTK

Là khả năng tiềm ẩn trong mỗi HS, song nếu GV không khơi nguồn, rèn luyện thì khả năng tự học chỉ tồn tại ở dạng tiềm tàng Nếu không có sự hướng dẫn của GV thì các em phải tốn nhiều thời gian, công sức, thậm chí kết quả không được như mong muốn Do đó, GV cần rèn luyện và phát trển cho HS các kỹ năng làm việc với TLTK Có thể tập trung vào những kỹ năng sau:

Kỹ năng phát hiện kiến thức cơ bản qua TLTK: TLTK là nguồn kiến

thức quan trọng, hết sức phong phú Khi HS làm việc với TLTK, không nhất thiết phải nhớ tất cả các thông tin đưa ra mà phải biết chọn lọc những kiến thức cơ bản, trọng tâm nhất HS cần tìm được ý bản chất, chủ đạo nhất, nghĩa

là trả lời được các câu hỏi: nội dung kiến thức đề cập đến vấn đề gì? Đề cập tới khía cạnh nào? Trong số các vấn đề được trình bày thì vấn đề nào là quan trọng? Việc này có ý nghĩa rất quan trọng trong khâu thu nhận thông tin Yêu cầu: phải xác định đúng, đầy đủ ý chính của nội dung đọc được; sắp xếp được các mối quan hệ của chúng; các ý được diễn đạt ngắn gọn, súc tích Hiểu biết thêm những kiến thức mới ngoài SGK chính là thước đo năng lực tự học của

HS nói riêng, năng lực học tập nói chung

Kỹ năng đối chiếu TLTK với SGK để khắc sâu kiến thức cơ bản: Đây

là kỹ năng cơ bản của tự học Nó không chỉ giúp HS nhớ mà còn khắc sâu kiến thức SGK là nguồn tài liệu chủ đạo, quan trọng bởi SGK đã cung cấp các kiến thức cơ bản và cốt lõi nhất TLTK là nguồn kiến thức bổ trợ, làm cho

sự kiện, hiện tượng lịch sử trở nên phong phú, sinh động hơn Do đó, khi làm việc với TLTK đòi hỏi người học phải có sự so sánh, đối chiếu Từ đó, củng

cố và khắc sâu kiến thức cơ bản

Trang 38

Kỹ năng trình bày kiến thức cơ bản qua TLTK: được hiểu là khả năng

trình bày nội dung kiến thức bằng hình thức ngôn ngữ nào đó thích hợp nhằm giải quyết nhiệm vụ học tập đề ra Khả năng trình bày được thể hiện dưới 2 hình thức: trình bày miệng và trình bày viết Điều cơ bản là HS phải diễn đạt bằng ngôn ngữ của mình, cách hiểu của mình, không phải là việc trình bày lại

y nguyên nội dung TLTK Ví dụ, nếu HS trình bày dưới dạng biểu đồ, sơ đồ,

đồ thị cần có hệ thống và minh họa rõ ràng Đồng thời, phải biết lựa chọn đồ thị, sơ đồ hợp lý để diễn đạt kiến thức Khi đọc bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ…

HS phải đọc được các ký hiệu, quy ước, chỉ ra mối liên hệ giữa các yếu tố

Kỹ năng sử dụng TLTK để trả lời câu hỏi: Khi làm việc với TLTK

thông tin đã được mã hóa và lưu trữ lâu dài trong trí nhớ của HS Khi cần thiết có thể vận dụng để giải quyết câu hỏi, bài tập… theo yêu cầu của GV Mức độ vận dụng cao hay thấp sẽ là thước đo mức độ, năng lực tự học của

HS Nội dung của kỹ năng này là HS phải biết lựa chọn kiến thức thu nhận được từ việc nghiên cứu TLTK kết hợp với SGK và phân tích, tổng hợp, so sánh để hoàn thành các câu hỏi, bài tập trong SGK và do GV giao cho

Kỹ năng sưu tầm TLTK: Để giải quyết một câu hỏi, một nhiệm vụ học

tập đòi hỏi người học cần huy động kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau SGK chỉ cung cấp kiến thức cơ bản Vì thế muốn đào sâu, mở rộng một vấn đề, HS phải tham khảo, nghiên cứu thêm các tài liệu khác Bên cạnh việc GV cung cấp tài liệu cho HS thì đôi khi HS là người phải tự đi tìm thông tin, nguồn kiến thức Vậy phải tìm kiếm, sưu tầm tài liệu như thế nào cho đúng và hiệu quả? Kỹ năng sưu tầm TLTK là kỹ năng quan trọng Có làm được điều này,

HS mới có thể bắt tay vào việc đọc, ghi chép, nghiên cứu… và giải quyết nhiệm vụ đề ra Sưu tầm TLTK phải đúng nội dung, đúng chủ đề và có nguồn gốc đáng tin cậy

Kỹ năng ghi chép nội dung kiến thức qua TLTK: Với kỹ năng này,

HS phải tái hiện lại kiến thức qua cách hiểu của mình Sau khi đọc, nghiên cứu TLTK, công việc tiếp theo của người học là ghi chép Công đoạn này

Trang 39

giúp HS ghi nhớ, khắc sâu kiến thức HS cần chắt lọc kiến thức và ghi theo ý hiểu của mình HS có thể hệ thống hóa bằng sơ đồ tư duy, lập bảng…Từ đó, các em mới có thể biến kiến thức thành của mình

Kỹ năng biết thắc mắc, đặt câu hỏi và tìm cách trả lời: Khi nghiên

cứu TLTK, HS cần chú ý đến những khái niệm, thuật ngữ chưa hiểu rõ Từ

đó, biết đưa ra những thắc mắc, biết đặt câu hỏi HS có thể tự suy nghĩ để trả lời, hoặc có thể nhờ sự hướng dẫn của thầy cô, sự giúp đỡ của bạn bè Biết thắc mắc cũng là cách HS đào sâu, tìm hiểu rõ hơn về kiến thức Yêu cầu là

HS phải đưa ra những câu hỏi liên quan đến nội dung, bản chất của vấn đề

Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá: Khi đánh giá đúng về mình, người

học có thể xác định rõ phương hướng cho sự tự giáo dục Do đó, HS cần tận dụng việc kiểm tra, đánh giá của GV đồng thời kết hợp với việc tự kiểm tra, đánh giá của bản thân để củng cố và hiểu sâu sắc kiến thức Kiểm tra chỉ phát huy tối đa năng lực nhận thức của HS khi biến các hình thức kiểm tra trên thành bài tự kiểm tra đánh giá của các em Trên cơ sở kiểm tra đánh giá của GV, HS phải tự tiến hành kiểm tra đánh giá bằng cách: tái hiện lại kiến thức đã học và tập trình bày cho bản thân và người khác nghe, trả lời các câu hỏi trong SGK, hoàn thành các bài tập GV đưa ra, tìm ra những kiến thức mới…

Kỹ năng sử dụng TLTK trong các hoạt động ngoại khóa: Việc thực

hiện chủ đề và nội dung của hoạt động ngoại khóa rất đa dạng và linh hoạt Vì vậy, công tác ngoại khóa lịch sử góp phần bồi dưỡng, làm sâu sắc, phong phú, toàn diện tri thức lịch sử mà HS thu nhận trên lớp Trong hoạt động ngoại khóa, có thể hướng dẫn cho HS đọc tài liệu lịch sử để chuẩn bị cho các hoạt động như: kể chuyện lịch sử, tham gia dạ hội lịch sử, Game Show về kiến thức lịch sử…

Như vậy, TLTK không chỉ là nguồn kiến thức hết sức phong phú đa dạng mà còn là phương tiện để rèn luyện, phát triển cho HS các KNTH: kỹ

Trang 40

năng sưu tầm, ghi chép tài liệu, kỹ năng đọc, kỹ năng củng cố, mở rộng kiến thức, kỹ năng thực hành… Mỗi phương pháp đều có nội dung và phương pháp rèn luyện, phát triển khác nhau, song đều cẫn có sự nỗ lực không ngừng của HS để nâng cao chất lượng học tập ở trường phổ thông

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng việc phát triển kỹ năng tự học cho HS qua sử dụng TLTK

ở trường THPT

Để xác định cơ sở thực tiễn cho đề tài, chúng tôi đã tiến hành quan sát

sư phạm, dự giờ, trao đổi, điều tra qua phiếu thăm dò đối với GV và HS một

số trường trên địa bàn Hà Nội, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Thái Bình, Thanh Hóa, Hà Nam…

1.2.2 .Mục đích khảo sát

Tìm hiểu quan điểm của GV, HS về tự học, tầm quan trọng của tự học; các hình thức, phương pháp tự học với TLTK của HS Từ đó, đề xuất các biện pháp nhằm phát triển kỹ năng tự học cho HS qua sử dụng TLTK, góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử nói chung

12.3 Đối tượng khảo sát

Chúng tôi đã tiến hành thăm dò điều tra 26 GV và 370 HS thuộc địa bàn Hà Nội (THPT chuyên Amsterdam, THPT Hồng Thái, THPT Trần Hưng Đạo, THPT Phạm Hồng Thái), Quảng Ninh (THPT chuyên Hạ Long), Bắc Ninh (TTGDTX Thuận Thành), Thái Bình (THPT Hùng Vương), Thanh Hóa (THPT chuyên Lam Sơn, THPT Đông Sơn 1), Hà Nam (THPT Bình Lục B)

Ngày đăng: 26/09/2020, 01:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w