Đối với nước ta, giải quyết việc làm còn là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động đáp ứng nhu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ VĂN PHO
PH¸P LUËT VIÖC LµM Vµ THùC TR¹NG GI¶I QUYÕT VIÖC LµM T¹I TØNH TH¸I B×NH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ VĂN PHO
PH¸P LUËT VIÖC LµM Vµ THùC TR¹NG GI¶I QUYÕT VIÖC LµM T¹I TØNH TH¸I B×NH
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS PHẠM TRỌNG NGHĨA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết lời cam đoan này kính đề nghị Khoa Luật xem xét
để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Vũ Văn Pho
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 7
1.1 Khái niệm việc làm và giải quyết việc làm 7
1.1.1 Quan niệm về việc làm 7
1.1.2 Phân loại việc làm 17
1.1.3 Ý nghĩa của việc làm và giải quyết việc làm 19
1.2 Sự điều chỉnh của pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm 20
1.2.1 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm 20
1.2.2 Quá trình phát triển của các quy định pháp luật về việc làm ở nước ta 23
1.2.3 Nội dung pháp luật về việc làm, giải quyết việc làm 28
1.3 Pháp luật của một số nước về việc làm và giải quyết việc làm và những gợi mở cho Việt Nam 42
1.3.1 Tổ chức lao động quốc tế 42
1.3.2 Pháp luật của một số quốc gia 44
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TẠI TỈNH THÁI BÌNH 46
2.1 Thực trạng các quy định pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm 46
2.2 Thực tiễn giải quyết việc làm tại tỉnh Thái Bình 51
Trang 52.2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, dân số, lao động
của tỉnh Thái Bình 512.2.2 Thực trạng giải quyết việc làm tại tỉnh Thái Bình 59
2.3 Một số nhận xét về tình hình việc làm và giải quyết việc làm ở
tỉnh Thái Bình 76
2.3.1 Những thuận lợi về tình hình việc làm và giải quyết việc làm ở
tỉnh Thái Bình 762.3.2 Những khó khăn về tình hình việc làm và giải quyết việc làm ở
tỉnh Thái Bình 792.3.3 Nguyên nhân của những khó khăn vướng mắc về tình hình việc
làm và giải quyết việc làm ở tỉnh Thái Bình 80
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TỪ THỰC TIẾN TẠI TỈNH THÁI BÌNH 82 3.1 Những yêu cầu đặt ra cần phải nâng cao hiệu quả thực thi
pháp luật việc làm và giải quyết việc làm 82
3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm phải đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 823.1.2 Xuất phát từ thực trạng pháp luật về việc làm của Việt Nam 83
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
việc làm và giải quyết việc làm tại tỉnh Thái Bình 83
3.2.1 Xây dựng, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái
Bình gắn với giải quyết việc làm 843.2.2 Đẩy mạnh triển khai và thực hiện tốt các biện pháp trực tiếp hỗ
trợ giải quyết việc làm 873.2.3 Thực hiện tốt các vấn đề về dân số kế hoạch hóa gia đình 933.2.4 Tăng cường phối hợp, tổ chức thực hiện công tác giải quyết việc
làm giữa các cấp 943.2.5 Hoàn thiện các thể chế, chính sách có liên quan 96
Trang 63.3 Một số kiến nghị cụ thể từ thực tiễn giải quyết việc làm tại
tỉnh Thái Bình 96
3.3.1 Về quy định pháp luật 96
3.3.2 Về tổ chức thực hiện 98
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 104
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
HĐND: Hội đồng nhân dân
ILO: Tổ chức Lao động quốc tế International Labour Organization UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất tính đến 31/12/2014 phân theo loại
Bảng 2.2 Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2014 phân theo
Bảng 2.3 Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo giới tính
Bảng 2.4 Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo giới tính
Bảng 2.5 Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm
Bảng 2.6 Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm
Bảng 2.7 Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm
Bảng 2.8 Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm
Bảng 2.9 Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm
Bảng 2.10 Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời
điểm 1/7 hàng năm trong nền kinh tế đã qua đào tạo phân
Bảng 2.11 Tỷ lệ thất nghiệp phân theo giới tính, thành thị, nông thôn 108
Bảng 2.12 Giá trị sản xuất theo giá hiện hành phân theo khu vực
Bảng 2.13 Giá trị sản xuất theo giá hiện hành phân theo khu vực
Bảng 2.14 Số trường, số giáo viên trung cấp chuyên nghiệp 109
Bảng 2.15 Số học sinh trung cấp chuyên nghiệp 110
Bảng 2.16 Số trường, số giáo viên cao đẳng 111
Bảng 2.17 Số sinh viên cao đẳng 112
Bảng 2.18 Số trường, số giảng viên đại học 113
Bảng 2.19 Số sinh viên đại học 114
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm là một trong những vấn đề có tính chất toàn cầu là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia, có tác động không chỉ đối với sự phát triển của nền kinh tế mà còn đối với đời sống xã hội, nó phản ánh thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó Tăng việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp là một trong những biện pháp tốt nhất để từng bước ổn định và nâng cao đời sống nhân dân Giải quyết việc làm ở các nước đang phát triển đặc biệt là ở những nước có lực lượng lao động lớn như Việt Nam đang ngày càng trở thành vấn đề cấp bách, nếu không giải quyết nó sẽ là yếu tố kìm hãm tăng trưởng kinh tế và là nguyên nhân, nguồn gốc sâu xa nhất gây ra những tiêu cực về mặt xã hội Đối với nước ta, giải quyết việc làm còn là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động đáp ứng nhu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, là yếu tố quyết định để phát huy nội lực con người
Luật Việc làm được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 16 tháng 11 năm 2013, đó là cơ
sở pháp lý quan trọng điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến lĩnh vực việc làm của người lao động không chỉ trên phạm vi cả nước mà còn cụ thể
đến từng địa phương
Thái Bình là một tỉnh ven biển ở đồng bằng châu thổ sông Hồng, miền Bắc Việt Nam với diện tích đất tự nhiên là 1.570,79km2, dân số năm 2014 là 1.788.700 người, mật độ dân số là 1.139 người/km2, tỷ lệ dân cư ở khu vực nông thôn vẫn chiếm đa số là 89,99%, trong đó tỷ lệ dân cư ở khu vực đô thị chỉ chiếm 10,01% [2, tr.21 - 22] Trong điều kiện một tỉnh nền sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, nguồn lực tăng nhanh qua các năm, chưa được sử dụng hết
Trang 10là một sức ép rất lớn về việc làm, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội trong toàn tỉnh Do vậy giải quyết việc làm là một yêu cầu cấp thiết không thể thiếu được trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vấn đề tạo việc làm đang là sự bức xúc nóng bỏng của tỉnh, chính vì lẽ đó tác giả xin chọn đề tài:
“Pháp luật việc làm và thực trạng giải quyết việc làm tại tỉnh Thái Bình”
làm luận văn Thạc sĩ luật học của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn hướng đến mục đích làm sáng tỏ trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về việc làm Luận văn góp phần xây dựng quan điểm lý luận pháp lý chuyên ngành về việc làm và giải quyết việc làm trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở thực tiễn thi hành các quy định về việc làm tại tỉnh Thái Bình, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật; đồng thời, đóng góp những ý kiến cụ thể cho địa phương về vấn đề giải quyết việc làm
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Vấn đề việc làm có thể xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, luận văn của tôi xin đề cập đến vấn đề việc làm ở địa phương dựa trên các quy định pháp luật về việc làm
Đặc biệt, lần đầu tiên Việt Nam có một văn bản pháp lý riêng “Luật
Việc làm năm 2013”, vì vậy luận văn của tôi hướng đến việc đề ra những kiến
nghị nhằm giải thích các quy định của pháp luật việc làm với mong muốn góp tiếng nói nhỏ để các cơ quan thi hành pháp luật có định hướng tốt hơn và các quy định của Luật Việc làm được thực thi tốt trong cuộc sống
Luận văn có đối tượng nghiên cứu chủ yếu là những quy định của Luật Việc làm năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Đặc biệt tác giả cũng tập trung nghiên cứu những quy định của địa phương tỉnh Thái Bình về việc làm và giải quyết việc làm
Trang 11Vì vấn đề “việc làm” có nội dung rất rộng và khá phức tạp, đặc biệt
Luật Việc làm năm 2013 bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015, nên tác giả cũng không có ý định giải quyết toàn diện các mặt của đề tài mà chỉ chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn đề việc làm trong phạm vi quan hệ lao động làm công ăn lương (người lao động theo nghĩa hẹp) - đối tượng chính của Luật Việc làm và các văn bản liên quan
Để đạt được mục đích và phù hợp với đối tượng nêu trên luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về việc làm, giải quyết việc làm, phân tích các quy định pháp luật hiện hành về giải quyết việc làm Cần nghiên cứu những công ước quốc tế về việc làm và liên quan đến việc làm, những quy định của pháp luật cũng như kinh nghiệm của một số nước trong lĩnh vực giải quyết việc làm
- Phân tích đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về giải quyết việc làm tại tỉnh Thái Bình
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện và áp dụng các quy định pháp luật
về việc làm và một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm tại tỉnh Thái Bình
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được tác giả thực hiện trên cơ sở sử dụng lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lê - Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế - xã hội, về vấn đề việc làm và giải quyết việc làm
Trong quá trình nghiên cứu tác giả sẽ vận dụng các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp cụ thể sau đây để nghiên cứu:
Trang 12phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp đối chiếu, so sánh, phương pháp tổng kết lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp điều tra, phương pháp bình luận…
5 Tình hình nghiên cứu đề tài
Lần đầu tiên Việt Nam ban hành một văn bản pháp lý riêng về việc làm, vì vậy những bài nghiên cứu từ trước đến nay chủ yếu nghiên cứu vấn đề việc làm dưới góc độ là một phần của Bộ luật Lao động như:
- Phạm Công Trứ, “Một số vấn đề pháp lý về việc làm và giải quyết
việc làm ở Việt Nam”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 6/2003
- Nguyễn Hữu Chí, “Lao động, việc làm trong bối cảnh toàn cầu hóa và
những yêu cầu với pháp luật lao động”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, chuyên
đề số 5 tháng 12/2003
- Trường Đại học Luật Hà Nội, Lưu Bình Nhưỡng (chủ biên), Việc làm
và giải quyết việc làm trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp trường, 2004
- Nguyễn Thị Kim Phụng, “Bàn về khái niệm “Việc làm” dưới góc độ
của pháp luật lao động”, Tạp chí luật học, số 6/2004
- Đỗ Thị Dung, “Vai trò của tổ chức công đoàn trong vấn đề giải quyết
việc làm cho người lao động”, Tạp chí luật học, số 6/2005
- Nguyễn Hữu Chí, “Vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực giải quyết
việc làm”, Tạp chí luật học, số 1/2006
Tuy nhiên các tác giải trên chủ yếu nghiên cứu việc làm là một phần của Bộ luật Lao động, do vậy, luận văn tôi thực hiện chủ yếu đi vào tìm hiểu việc làm trên cơ sở là một văn bản pháp lý độc lập, đặc biệt có gắn với tình hình áp dụng tại địa phương tỉnh Thái Bình
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
- Một là: Luận văn là một công trình khoa học trình bày một cách toàn
Trang 13diện và tương đối đầy đủ những vấn đề lý luận của pháp luật về việc làm, luận văn sẽ góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận về pháp luật việc làm
- Hai là: Luận văn đã đánh giá một cách tương đối toàn diện thực trạng
quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết vấn đề việc làm tại tỉnh Thái Bình, những vấn đề còn vướng mắc
- Ba là: Luận văn đã chỉ rõ một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả áp dụng pháp luật về việc làm nói chung và tại tỉnh Thái Bình nói riêng
7 Ý nghĩa của luận văn
Với kết quả nghiên cứu trên, luận văn đã:
- Làm rõ về khái niệm việc làm, thất nghiệp trên cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn; tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của việc giải quyết việc làm
- Giới thiệu các quy định pháp lý quốc tế (chủ yếu là của ILO), trên cơ
sở so sánh, cũng như kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong việc điều chỉnh vấn đề việc làm Từ đó tác giả đưa ra những đánh giá, nhận xét cần thiết trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam nói chung và địa bàn tỉnh Thái Bình nói riêng
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm giải thích và áp dụng pháp luật về việc làm một cách hiệu quả trong thực tế; cũng như hoàn thiện các quy định còn mang tính bất cập của pháp luật về việc làm
- Đánh giá việc áp dụng pháp luật về việc làm trên địa bàn tỉnh Thái Bình để từ đó có những ý kiến, quan điểm về vấn đề việc làm có tính chất đặc thù với địa phương
- Ngoài ra, luận văn còn có giá trị tham khảo cho sinh viên các trường đại học cũng như các cán bộ nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và những ai quan tâm đến vấn đề này
Trang 148 Kết cấu của luận văn
- Chương 1: Khái quát chung về việc làm, giải quyết việc làm và sự
điều chỉnh của pháp luật
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về việc làm và thực tiễn giải quyết
việc làm tại tỉnh Thái Bình
- Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực
thi pháp luật việc làm và giải quyết việc làm từ thực tiễn tại tỉnh Thái Bình
Trang 15Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT
1.1 Khái niệm việc làm và giải quyết việc làm
1.1.1 Quan niệm về việc làm
1.1.1.1 Khái niệm việc làm
Việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản của người lao động để đảm bảo cuộc sống và sự phát triển toàn diện Cuộc sống của bản thân và gia đình người lao động phụ thuộc rất nhiều vào việc làm của các thành viên trong gia đình đó Cũng như sự tồn tại và phát triển của một quốc gia cũng gắn liền với hiệu quả của chính sách việc làm Chính vì vậy, việc làm luôn được các nhà nghiên cứu xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau như: kinh tế,
xã hội, lịch sử và pháp lý
a Dưới góc độ kinh tế - xã hội
Dưới góc độ kinh tế học, lao động là hình thức mà qua đó con người tác động lên thế giới tự nhiên, môi trường xung quanh nhằm duy trì sự tồn tại cho bản thân Quá trình lao động của con người được thể hiện cụ thể thông qua các hình thức việc làm của từng người - chính là công cụ, phương thức để con người không chỉ đáp ứng nhu cầu bản thân mà còn là cơ hội để khẳng định chính mình, góp phần phát triển kinh tế, xã hội
Lao động trước hết là một hành động diễn ra giữa con người với thế giới tự nhiên, trong lao động con người đã vận dụng trí lực và thể lực cùng với công cụ tác động vào giới tự nhiên tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, đời sống con người, lao động là một yếu tố tất yếu không thể thiếu được của con người, nó là hoạt động rất cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người Con người không thể sống khi không có lao động
Quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động, sức lao
Trang 16động là năng lực của con người nó bao gồm cả thể lực và trí lực, nó là yếu tố tích cực đóng vai trò trung tâm trong suốt quá trình lao động, là yếu tố khởi đầu, quyết định trong quá trình sản xuất, sản phẩm hàng hóa có thể được ra đời hay không thì nó phải phụ thuộc vào quá trình sử dụng sức lao động Bản thân mỗi cá nhân con người trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những vị trí nhất định, mỗi vị trí mà người lao động chiếm giữ trong hệ thống sản xuất xã hội với tư cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá trình sản xuất được coi là chỗ làm hay việc làm
Như vậy, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân
Quan niệm về việc làm hiện nay vẫn có nhiều ý kiến, rất nhiều tác giả
đã cố gắng đưa ra những khái niệm dưới nhiều góc độ khác nhau:
Theo Phó Cố vấn kinh tế Giăng Mu-tê, Văn phòng lao động quốc tế thì:
“Việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công
bằng tiền hoặc hiện vật, do có một sự tham gia tích cực có tính chất cá nhân
và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” [30, tr.10 - 11] Như vậy, theo cách định
nghĩa này, Giăng Mu-tê đã lấy biểu hiện trả công trong quan hệ lao động để xác định một hành vi là việc làm
Theo tác giả Guy-Han Tơ, Viện phát triển hải ngoại Luân Đôn (Anh)
có nhận định: “Việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của
xã hội, nghĩa là tất cả những gì quan hệ tới cách thức kiếm sống của con người, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn, hành vi tạo thành khuôn khổ trong quá trình phát triển kinh tế” [30, tr.10 - 11] Như vậy, cách nhìn
này đã dựa vào mục đích mưu sinh trong các hoạt động của con người để xác
Trang 17Theo như H.A Gô-rê-lốp (Liên Xô cũ) thì quan niệm: “Việc làm là một
quan hệ sản xuất nảy sinh do có sự kết hợp giữa cá nhân người lao động với các phương tiện sản xuất” [30, tr.10 - 11] Như vậy các nhìn này đã dựa trên
sự xem xét mối quan hệ giữa người lao động và tư liệu sản xuất, khi có sự kết hợp giữa con người với những công cụ, phương tiện có thể tác động vào giới
tự nhiên thì lúc đó sẽ này sinh hành vi làm việc
Cũng theo Giáo sư Sô-nin và Phó Tiến sĩ E.Jit-nôp (Liên Xô cũ) lại cho
rằng: “Việc làm là sự tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt
động xã hội có ích trong khu vực xã hội hóa sản xuất, trong học tập, trong công việc nội trợ, trong kinh tế phụ của nông trang viên” [30, tr.10 - 11] Như
vậy, theo quan điểm này, thì hai tác giả đã có sự đánh giá sự tích cực, có ích của con người vào hoạt động xã hội, không phân biệt loại hình hoạt động
Hội nghị quốc tế lần thứ 13 của Tổ chức Lao động quốc tế (International Labour Organization - ILO) có khẳng định rằng: Người có việc làm là những người làm một việc gì đó được trả công, lợi nhuận hay được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính tự tạo việc làm
vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không nhận được tiền công hoặc hiện vật
Theo Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội,
có quan niệm về việc làm dưới góc độ kinh tế xã hội như sau: “Xét về phương
diện kinh tế - xã hội, có thể hiểu việc làm là các hoạt động tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập cho người lao động được xã hội thừa nhận” [23, tr.168]
Như vậy, với những cách nhìn khác nhau, mỗi tác giả sẽ có những quan điểm không giống nhau về việc làm Tuy nhiên, về cơ bản các khái niệm trên đã nêu ra được bản chất của việc làm: đó là những dạng thức hoạt động nhằm kiếm sống của con người mà qua đó con người đã bỏ sức lao động để đem lại thu nhập, thỏa mãn nhu cầu của bản thân Việc làm luôn luôn gắn liền với “thu nhập”
Trang 18Việc làm là hành động luôn luôn gắn với con người mà không xuất hiện ở bất cứ loài vật nào khác Có thể có những loài vật cũng có những hành động cụ thể để đáp ứng nhu cầu của bản thân, nhưng những hành động đó không được coi là việc làm bởi nó chỉ là những hành động bản năng mang đặc tính loài Còn việc làm luôn gắn với con người, bởi để tiến hành được việc làm thì cần được thực hiện bởi ý chí, lý trí và tình cảm, mà ý chí, lý trí, tình cảm lại chỉ có ở con người, một đối tượng có nguồn gốc xã hội, mang dấu ấn
xã hội sâu sắc
Việc làm vừa có dấu ấn cá nhân vừa mang đặc trưng xã hội Trước hết mỗi con người từ khi sinh ra đến khi ý thức được hành vi của mình, có nhu cầu làm việc thì họ đã bắt tay vào một hoạt động nhất định để phục vụ các nhu cầu của cá nhân như ăn, mặc, ở, giải trí Việc làm của cá nhân thường gắn với trả công, tuy nhiên trong nhiều trường hợp việc làm của cá nhân lại xuất phát từ việc họ làm để tự tạo ra và tự đáp ứng các nhu cầu của bản thân, hay những việc làm mang tính từ thiện cho cộng đồng Việc làm của con người còn mang đậm đặc trưng xã hội, bởi mỗi chúng ta sinh ra, lớn lên trưởng thành không thể tách rời cộng đồng Mọi hoạt động của chúng ta đều trong mối quan hệ gắn bó mật thiết với cộng đồng, có sự san sẻ với cộng đồng, gia đình và cũng nhận lại được sự san sẻ đó Đặc biệt những lúc con người mới sinh ra hay già yếu thì việc làm của những người thân trong gia đình hay việc làm của cộng đồng đều có sự gắn bó mật thiết với cuộc sống của con người trong những trường hợp này
Khi nghiên cứu về vấn đề việc làm thì song song đó ta phải nghiên cứu vấn đề thất nghiệp, bởi việc làm và thất nghiệp luôn đi liền với nhau và là hai mặt của một vấn đề Đối với quốc gia, thất nghiệp, thiếu việc làm là sự lãng phí nguồn nhân lực Đối với gia đình và xã hội, thất nghiệp, thiếu việc làm,
“nhàn cư vi bất thiện” là mầm mống đưa con người mắc các tệ nạn xã hội,
Trang 19vào vòng phạm pháp, làm mất nhân cách con người Do vậy, tạo việc làm đi đến toàn dụng nhân lực được xem là một quốc sách trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trong bối cảnh nước ta vẫn còn ở thời kỳ bao cấp, kế hoạch hóa tập trung thì gần như không có khái niệm thất nghiệp, bởi ở đó con người sinh ra
đã gắn liền với các hợp tác xã từ thưở ấu thơ, gắn với các xí nghiệp quốc doanh Chỉ tiêu làm việc của con người trong giai đoạn này phụ thuộc vào kế hoạch của Nhà nước và thành quả lao động của họ là hoàn thành kế hoạch, hay vượt kế hoạch Chính điều này đã kìm hãm xã hội phát triển, dẫn đến những hệ quả khủng hoảng trầm trọng giai đoạn cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ trước Theo tinh thần từ điển kinh tế Liên Xô cũ (1977), thất nghiệp được hiểu là: hiện tượng chỉ có trong chế độ tư bản chủ nghĩa, khi một bộ phận người lao động không tìm được việc làm, trở thành cư dân thừa và xung vào đội quân lao động dự trữ
Theo như Giáo trình Luật Lao động Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì lại cho rằng:
Thất nghiệp là vấn đề của mỗi cá nhân và cũng là vấn đề của xã hội Đối với mỗi cá nhân, thất nghiệp là tình trạng người đó không có việc làm, bị mất việc làm và điều đó gây nên những hậu quả tiêu cực đối với bản thân và gia đình của họ Song ở phạm vi xã hội, thất nghiệp là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp thể hiện tình trạng lao động, việc làm của xã hội trong đó có lực lượng không nhỏ những người lao động bị thất nghiệp Có rất nhiều quan niệm khác nhau về thất nghiệp Song nhìn chung các quan niệm đều cho rằng thất nghiệp là tình trạng trong đó có một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không tìm được việc làm; còn người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, hiện không có việc làm
và đang tìm việc làm [23, tr.169]
Trang 20b Dưới góc độ pháp lý
Việc làm là vấn đề được Nhà nước ta rất quan tâm và đã quy định trong rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật Trong thời kỳ bao cấp Nhà nước có trách nhiệm bố trí việc làm cho người lao động Vì vậy, trong xã hội không thừa nhận có hiện tượng thất nghiệp, thiếu việc làm, lao động dư thừa Việc làm còn được coi là một quyền của công dân, quyền của người lao động Hiến
pháp năm 1959 có quy định: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có
quyền làm việc Nhà nước dựa vào sự phát triển có kế hoạch của nền kinh tế quốc dân dần dần mở rộng công việc làm, cải thiện điều kiện lao động và lương bổng, để đảm bảo cho công dân được hưởng quyền đó” [15, Điều 30]
Như vậy quy định này đã khẳng định quyền làm việc của công dân, điều này
đã được kế thừa tại Hiến pháp năm 1980 lại khẳng định: “Công dân có quyền
có việc làm” [15, Điều 58] Điều này là sự ảnh hưởng tư tưởng một cách sâu
sắc trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, cả nước dồn lực cho kháng chiến chống Mỹ cứu nước Việc làm vẫn được coi là trách nhiệm của quốc gia đối với mỗi công dân, và còn coi làm việc cũng là kháng chiến
Đến Hiến pháp năm 1992 đã có một bước chuyển mình: “lao động là
quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động” [15, Điều 55] Như vậy quan điểm
mới này đã mở ra một bước chuyển căn bản nhận thức về việc làm và giải quyết việc làm đối với Nhà nước và mỗi cá nhân công dân Từ quan điểm trên thì Nhà nước sẽ tổ chức, chỉ đạo, quản lý các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nhằm tạo ngày càng nhiều cơ hội việc làm cho người lao động; đồng thời Nhà nước tạo điều kiện hỗ trợ người lao động tự tạo việc làm cho mình và cho cộng đồng Ngược lại, với mỗi công dân thì lao động là quyền của họ (điều này xuất phát từ việc Nhà nước sẽ có cơ chế để bảo vệ quyền này cho người lao động) và còn là nghĩa vụ của công dân, họ lao động sản xuất không
Trang 21chỉ nuôi sống bản thân mà còn hỗ trợ gia đình, góp phần thúc đẩy sản xuất, tăng trưởng kinh tế của quê hương, đất nước Công dân có quyền tự do lao động, sản xuất kinh doanh, họ có quyền tự do hành nghề, tự do liên doanh, liên kết, tự do thuê mướn lao động theo quy định pháp luật để tự tạo việc làm cho mình và thu hút thêm lao động
Trên tinh thần của Hiến pháp năm 1992, Nhà nước ta đã ban hành Bộ luật Lao động năm 1994 và được sửa đổi, bổ sung nhiều lần vào năm 2002,
2006 và 2007 Bộ luật Lao động đã đưa ra khái niệm việc làm hoàn toàn mới
so với trước, theo đó thì: “mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị
pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [16, Điều 13] Xét về mặt lịch
sử pháp lý, đây là lần đầu tiên quan niệm về việc làm được ghi nhận trong một văn bản pháp luật quan trọng của Nhà nước Trước đó, các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực lao động tuy có ít nhiều đề cập đến vấn đề việc làm nhưng chủ yếu là đề cập ở góc độ các cơ chế, chính sách bảo đảm việc làm cho người lao động, nhưng chưa đưa ra một định nghĩa hay quan niệm chính thức về việc làm Quy định này đã bước đầu tạo ra cơ sở cho việc hình thành khái niệm việc làm, là tiền đề tạo ra những kết quả điều tra, thống kê được chính xác Đặc biệt trong bối cảnh nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường chưa lâu, quy định đó góp phần mở rộng quan niệm việc làm khi đa số người lao động chỉ muốn chen chân vào làm việc tại các cơ quan Nhà nước
Đến Bộ luật Lao động năm 2012 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm
2012 có quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không
bị pháp luật cấm” [17, Điều 9]
Và một lần nữa tại Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 2013 Đảng và Nhà nước ta lại khẳng định: “Công dân có quyền làm
việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm, nơi làm việc” [18, Điều 35]
Trang 22Đặc biệt ngày 16 tháng 11 năm 2013 tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật Việc làm
với quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị
pháp luật cấm” [19, Điều 3] Như vậy, Bộ luật Lao động năm 2012 và Luật
Việc làm năm 2013 đều có quy định tương đồng về khái niệm việc làm Tuy nhiên đến Luật Việc làm năm 2013 thì một vấn đề được cả xã hội quan tâm đã được quy định trong một văn bản quy phạm pháp luật độc lập Điều này cho thấy tầm quan trọng sống còn của mỗi quốc gia và vấn đề an sinh xã hội luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm đặc biệt
Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật Việc làm năm 2013 thì điều kiện cần và đủ để có thể coi một hoạt động là việc làm như sau:
Thứ nhất, việc làm phải là những hoạt động lao động của con người
Có thể hiểu lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần trong xã hội Hoạt động lao động có thể là lao động trí óc hay lao động chân tay giản đơn, lao động có trình độ cao hay những lao động của công nhân kỹ thuật Như vậy, nếu không có hoạt động lao động thì không có việc làm, nhưng đó chỉ là dấu hiệu cơ bản của việc làm mà không thể đồng nhất lao động với việc làm Yếu tố lao động trong việc làm phải có tính hệ thống, tính thường xuyên, tính nghề nghiệp, điều này khác hẳn với lao động thông thường
Thứ hai, hoạt động lao động đó phải tạo ra nguồn thu nhập có tính ổn
định Để thực hiện việc làm người lao động phải sử dụng sức lao động của mình tác động vào các đối tượng lao động và sự tiêu hao sức lao động đó phải được bù đắp bằng một lượng giá trị nhất định để tái sản xuất sức lao động và duy trì cuộc sống Do đó việc trả thù lao cho người lao động là cần thiết và công bằng để người lao động tiếp tục tái sản xuất sức lao động Thù lao ở đây
có thể trả bằng vật chất hay giá trị tinh thần tùy thuộc vào sự thỏa thuận của
Trang 23Thứ ba, việc làm là những hoạt động lao động mà pháp luật quốc gia
không cấm Đây là một yếu tố cấu thành mang tính chất mở Chỉ có những hoạt động mà pháp luật không cấm mới là hoạt động hợp pháp, đúng pháp luật Vì vậy, trong thực tế có những hoạt động có thể tạo ra rất nhiều giá trị vật chất nhưng không hợp pháp nên cũng không được thừa nhận là việc làm
Làm rõ khái niệm “việc làm” theo pháp luật về việc làm của Việt Nam
là cơ sở để hiểu được vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam hiện nay nói chung và tại địa phương tỉnh Thái Bình nói riêng một cách toàn diện và hoàn chỉnh Từ đó góp phần hoàn thiện pháp luật về việc làm, bảo hiểm xã hội… góp phần thúc đẩy các biện pháp giải quyết việc làm đạt hiệu quả
1.1.1.2 Khái niệm giải quyết việc làm
Ở Việt Nam, vấn đề giải quyết việc làm có những thay đổi qua từng thời
kỳ của đất nước, mặc dù vậy ở thời kỳ nào vấn đề giải quyết việc làm cũng được Nhà nước coi trọng và đề cao là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu Điều đó được minh chứng rõ nét khi Nhà nước đã ghi nhận giải quyết việc làm ở các văn bản pháp lý cao như: Hiến pháp, Bộ luật Lao động, Luật Việc làm… Theo
đó, giải quyết việc làm bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về nguyên tắc, biện pháp và trách nhiệm của các chủ thể trong giải quyết việc làm cho người lao động
Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, giải quyết việc làm là nhiệm vụ của Nhà nước, Nhà nước có trách nhiệm tạo công ăn việc làm cho công dân bằng cách tuyển dụng vào biên chế Nhà nước hay làm trong các hợp tác xã Trong thời gian này, người lao động chỉ có thể làm việc trong biên chế Nhà nước hay là thành viên của hợp tác xã, Nhà nước duy trì nền kinh tế hai thành phần là quốc doanh và tập thể Nhà nước có nhiệm vụ tạo ra việc làm
để thu hút lực lượng lao động trong xã hội Nội dung này được cụ thể trong
Hiến pháp năm 1980: “Công dân có quyền có việc làm, người có sức lao động
Trang 24phải lao động theo quy định của pháp luật, Nhà nước dựa vào kế hoạch phát triển kinh tế văn hóa mà tạo thêm việc làm sắp xếp công việc căn cứ vào năng lực, nguyện vọng cá nhân và yêu cầu xã hội…” [15, Điều 58] Như vậy, gánh
nặng về giải quyết việc làm dồn cả vào Nhà nước, điều này không có lợi cho nền kinh tế mà còn tạo tâm lý ỷ lại vào Nhà nước, vào tập thể của một số người trong xã hội, dẫn tới năng suất lao động không cao, kìm hãm sự tìm tòi,
sáng tạo của người lao động bởi tâm lý “cào bằng” Nhận thức được hạn chế
đó, năm 1986 nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa đã tạo ra một sự thay đổi lớn trong vấn đề giải quyết việc làm Trách nhiệm giải quyết việc làm đã có sự thay đổi Theo quy định tại
Bộ luật Lao động năm 1994 được sửa đổi bổ sung năm 2002, 2006, 2007
thì: “giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều
có cơ hội việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội” [16, Điều 13] Đến Bộ luật Lao động năm 2012 Nhà nước
cũng có quy định cụ thể hơn: “Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội
có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội việc làm” [17, Điều 9] Đặc biệt Luật Việc làm
năm 2013 là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng về việc làm được ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong cuộc sống phát sinh
Như vậy, giải quyết việc làm bao gồm phát triển kinh tế, xã hội nhằm tạo việc làm, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế tự tạo việc làm cho bản thân và xã hội Điều này có nghĩa là vấn đề tự tạo việc làm cho bản thân chịu sự tác động của việc thực hiện hàng loạt cơ chế pháp lý khác như quyền tự do kinh doanh, tự do cư trú, bình đẳng giữa các doanh nghiệp… Còn việc làm cho người lao động trong quan hệ với người sử dụng lao động chịu sự tác động của các chế độ pháp lý như: quyền được lao động,
tự do tìm việc làm, quyền được bảo vệ trong quá trình lao động…
Trang 25Qua đó có thể khẳng định được giải quyết việc làm là một chính sách lớn của Nhà nước thông qua hàng loạt cơ chế, chính sách, biện pháp để nhằm tạo việc làm, hạn chế thất nghiệp hướng tới phát triển kinh tế và đảm bảo các vấn đề xã hội
1.1.2 Phân loại việc làm
Hiện nay có rất nhiều cách phân loại việc làm, tuy nhiên phổ biến với một số cách phân loại việc làm như sau:
- Việc làm bình thường và việc làm nặng nhọc độc hại, nguy hiểm
Việc làm bình thường là loại việc làm trong đó các công việc không chứa đựng hoặc chứa đựng ít các yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm Việc làm bình thường xét về mặt kỹ năng thường có thao tác hoạt động, quy trình, quy phạm của nghề, công việc tương đối đơn giản Người lao động tiến hành công việc trong điều kiện lao động tương đối thuận lợi và ít bị nguy cơ đe dọa
về tính mạng thân thể
Việc làm nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm là công việc chứa các yếu tố
có hại cho cơ thể con người như hóa học, vật lý, sinh học, môi trường đối với
cơ thể người lao động Khi người lao động trực tiếp thực hiện các công việc trong điều kiện lao động đó thì các yếu tố trên sẽ có tác động vào cơ thể người lao động gây ra các bệnh nghề nghiệp ảnh hưởng đến sức khỏe Ngoài ra với các yếu tố nguy hiểm độc hại của công việc thì nguy cơ tai nạn lao động xảy
ra đối với người lao động là rất lớn
- Việc làm cho người lao động bình thường và việc làm cho người lao động đặc thù
Đối với những người lao động bình thường có sức khỏe về thể lực và trí lực thì họ sẽ lao động trong các điều kiện lao động bình thường Họ là những người có năng lực lao động đầy đủ
Trang 26Tuy nhiên đối với một số lực lượng lao động đặc thù như lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, lao động nữ… Nhà nước có những quy định cụ thể đối vớ họ Điều này thể hiện trong việc Nhà nước đưa ra những điều kiện ưu tiên và những hành vi cấm người lao động, người sử dụng lao động không được làm và có cả cơ chế ưu đãi đối với người sử dụng lao động nếu có sử dụng lực lượng lao động này
- Công việc làm trọn thời gian và công việc không làm trọn thời gian
Công việc làm trọn thời gian là việc làm mà người lao động có thể thực hiện công việc với thời gian làm việc bình thường theo ngày hoặc theo tuần được quy định trong pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành hay quy định của người sử dụng lao động Theo đó, người lao động phải dành toàn bộ thời gian làm công việc đó và phải có trách nhiệm với công việc đó Đặc biệt khi người lao động có sự gắn bó với công việc thì sẽ tạo được kỹ năng và tính yêu nghề, tâm lý ổn định cho họ
Việc làm không trọn thời gian là việc làm có thời gian làm việc ngắn hơn với thời gian làm việc bình thường theo ngày được quy định trong pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc quy định của người sử dụng lao động Theo đó, công việc làm không trọn thời gian thì những người thực hiện việc làm đang có một công việc đòi hỏi thời gian làm việc không dài hoặc tính chất công việc không ổn định Người lao động chỉ phải thực hiện nghĩa vụ công việc trong một thời gian ngắn, sự có mặt của người lao động tại nơi làm việc không đòi hỏi thường xuyên Đây là công việc mà người lao động thường làm thêm hoặc công việc có tính chất tạm thời Tuy nhiên việc thực hiện công việc đó vẫn phải tuân theo các quy định của pháp luật lao động về việc làm và các quy định về việc làm
Trang 271.1.3 Ý nghĩa của việc làm và giải quyết việc làm
Việc làm tạo ra giá trị vật chất và tinh thần trong đời sống con người, làm cho xã hội luôn phát triển, quan hệ việc làm có thể là quan hệ tiền quan
hệ lao động, có thể đan xen với quan hệ lao động, không có việc làm thì không thể có quan hệ lao động
Việc làm đem lại thu nhập cho người lao động, giúp họ nuôi sống bản thân, gia đình và đóng góp một phần vào sự phát triển của xã hội Việc làm là điều kiện tiên quyết giúp con người tồn tại, hòa nhập vào cộng đồng cũng như nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi người với cộng đồng xã hội Thông qua việc làm mọi người lao động có điều kiện khẳng định mình trong cuộc sống
và luôn hướng tới những giá trị nhân văn cao đẹp
Đối với mỗi quốc gia thì việc làm lại là chỉ tiêu đánh giá sự phát triển, tiến bộ của quốc gia, bởi thế giải quyết việc làm phải gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội Một xã hội phát triển bền vững phụ thuộc vào sự nỗ lực quan tâm giải quyết việc làm của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và toàn xã hội Nước ta vẫn là nước nghèo, thu nhập quốc dân còn thấp so với thế giới, vì vậy để phát triển xã hội cần xác định giải quyết được việc làm cho nhân dân, tạo thu nhập cho mọi người dân có điều kiện để ổn định cuộc sống Bên cạnh đó, giải quyết được việc làm sẽ tránh hoặc hạn chế được tình trạng người không có việc làm, ổn định trật tự xã hội, giảm tỷ lệ người vi phạm pháp luật do thiếu công ăn việc làm, hạn chế được sự mất ổn định kinh tế của đất nước Đồng thời, qua đó cũng ổn định được chính trị, bảo vệ được chủ quyền quốc gia Bởi vì tình hình chính trị phụ thuộc và gắn bó hữu cơ với sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội Một khi tỷ lệ người thiếu việc làm ngày càng tăng sẽ kéo theo các tệ nạn xã hội nảy sinh, gây mất ổn định trật tự xã hội, có thể gây ra biến động ảnh hưởng đến tình hình chính trị của quốc gia Đặc biệt khi chúng ta gia nhập WTO, cũng như chúng ta là thành viên của tổ
Trang 28chức ASEAN thì song song với những thuận lợi cũng là những khó khăn, thách thức cho nền kinh tế buộc chúng ta phải có bước đi cho phù hợp Tình hình về người lao động có trình độ kỹ thuật tay nghề, có tính kỷ luật lao động,
có tác phong công nghiệp, năng động… là những vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta còn phải quan tâm hơn nữa
1.2 Sự điều chỉnh của pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm
1.2.1 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm
Nguyên tắc giải quyết việc làm được thể hiện trong các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về việc làm trong đó tập trung vào một số nguyên tắc sau:
Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý lĩnh vực việc làm và giải quyết việc làm
Việt Nam khi hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế thế giới thì vấn đề việc làm của người lao động chịu ảnh hưởng rất lớn từ các quy luật khách quan cung cầu lao động Thị trường lao động trong nước tăng, giảm là phụ thuộc vào tình hình sản xuất của nền kinh tế Khi Nhà nước chưa có sự chuẩn bị tốt về các biện pháp, công cụ trước những biến động của nền kinh tế thì người lao động là những người chịu ảnh hưởng lớn nhất Vì vậy, Nhà nước phải có sự can thiệp đảm bảo cho mọi công dân được tiếp cận việc làm một cách công bằng và hiệu quả Nhà nước thông qua các công cụ, chức năng kinh tế của mình để điều tiết ở tầm vĩ mô để đảm bảo điều chỉnh cung cầu lao động
Ở nước ta hiện nay, Nhà nước vừa là chủ thể quản lý và vừa là chủ thể lao động lớn nhất Nhà nước có trách nhiệm tạo việc làm và thúc đẩy quá trình giải quyết việc làm cho người lao động Nhà nước chỉ đạo và có
cơ chế ưu đãi đối với các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp phát triển nhằm tạo
Trang 29ngày càng nhiều việc làm cho người lao động Bên cạnh đó, Nhà nước có
cơ chế kiểm soát, quản lý hoạt động việc làm và giải quyết việc làm Hoạt động quản lý và giải quyết việc làm của Nhà nước chủ yếu thực hiện ở tầm
vĩ mô với hàng loạt các biện pháp như: ban hành văn bản pháp luật về giải quyết việc làm, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật đó; hỗ trợ các chương trình giải quyết việc làm và giải quyết việc làm, chỉ đạo, phân bổ nguồn ngân sách và bảo đảm lực lượng phục vụ quá trình giải quyết việc làm của quốc gia đến từng địa phương
Nguyên tắc đa dạng hóa việc làm và giải quyết việc làm
Để tạo nhiều việc làm cho người lao động thì yêu cầu cần phải có nhiều ngành nghề với những nhu cầu nhân lực đa dạng phong phú Chính vì vậy, đa dạng hóa việc làm là một trong những nguyên tắc góp phần tạo ra ngày càng nhiều việc làm cho xã hội Nguyên tắc này được hiểu là việc Nhà nước huy động mọi nguồn lực, khả năng của xã hội trong giải quyết việc làm, đồng thời phải đa dạng và sử dụng một cách linh hoạt các hình thức tạo và giải quyết việc làm Bên cạnh đó, cần phải huy động và phát huy tính chủ động của mọi người lao động trong xã hội và khả năng thu hút lao động của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Ngoài ra để tạo nhiều việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động thì Nhà nước còn có những chính sách vĩ
mô điều tiết về nguồn nhân lực, tài chính, đất đai, môi trường, cải cách thủ tục hành chính để tạo việc làm và giải quyết việc làm
Nguyên tắc bình đẳng trong lĩnh vực việc làm và giải quyết việc làm
Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Việc làm năm 2013 thì: “Bình
đẳng về cơ hội việc làm và thu nhập” Đó là nguyên tắc mà Nhà nước đặt ra
để đảm bảo quyền bình đẳng trong việc làm Bởi khi tham gia quan hệ lao động, trong thị trường lao động thì những người lao động yếu thế, kém may
Trang 30mắn luôn khó cạnh tranh việc làm Hơn nữa, việc chủ sử dụng lao động luôn muốn có lợi nhuận tối đa sẽ rất dễ khiến việc bóc lột người lao động xảy ra Chính vì vậy Nhà nước đề ra nguyên tắc bình đẳng trong việc làm sẽ góp phần đảm bảo và tạo sự cân bằng trong quá trình tham gia quan hệ lao động của người lao động nói chung và người lao động yếu thế nói riêng Nguyên tắc này cũng là sự cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, theo đó:
“Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” Như vậy người lao động có cơ hội bình đẳng về việc làm, được đối xử bình đẳng trong quá trình tạo việc làm
và được trả công ngang nhau khi làm những công việc như nhau, có năng suất tương ứng Tại Bộ luật Lao động năm 2012 cũng quy định người lao động có
quyền: “làm việc, tự đo lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao
trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử” Bên cạnh đó, Nhà nước
cũng quy định những biện pháp để bảo đảm nguyên tắc bình đẳng này như: cấm phân biệt, đối xử về giới tính, dân tộc, màu da, thành phần xã hội, tình trạng hôn nhân, tín ngưỡng, tồn giáo… trong lao động cũng như việc làm và giải quyết việc làm Đặc biệt là sự phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp; xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động Trong quá trình tuyển dụng lao động các hành vi tuyển dụng vào làm việc trái phép, dụ dỗ, hứa hẹn, quảng cáo gian dối để lừa gạt người lao động hoặc lợi dụng dịch vụ việc làm, thông tin thị trường lao động để thực hiện những hành vi trái pháp luật, gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện chính sách về việc làm, cản trở gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng đều bị pháp luật nghiêm cấm
Nguyên tắc cấm ngược đãi, cưỡng bức người lao động trong việc làm
và giải quyết việc làm
Theo quy định tại Luật Việc làm năm 2013 thì trong quan hệ việc làm
Trang 31phải đảm bảo làm việc trong điều kiện an toàn lao động, vệ sinh lao động Như vậy, Luật Việc làm đã đặt ra nguyên tắc trong đó người sử dụng lao động phải có trách nhiệm đảm bảo cho người lao động tránh sự cưỡng bức Bởi trong quan hệ lao động, người lao động thường là thế yếu hơn so với người sử dụng lao động chính vì vậy dễ có tâm lý lạm quyền, điều hành để chèn ép người lao động; đặc biệt có hành vi cưỡng bức, bóc lột người lao động Vì vậy trong hầu hết các quốc gia nguyên tắc cấm cưỡng bức người lao động luôn đực quan tâm và coi đó là nguyên tắc sống còn trong việc duy trì quan hệ lao động
1.2.2 Quá trình phát triển của các quy định pháp luật về việc làm ở nước ta
- Giai đoạn 1945 - 1954
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công là một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta, mở ra trang sử mới cho dân tộc, từ một đất nước nô lệ thuộc địa trở thành một đất nước có chủ quyền Tuy nhiên ngay sau khi cách mạng thành công, đất nước ta ngay lập tức bước vào công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ, gian khổ Cũng chính vì vậy mà vấn đề việc làm cũng chỉ được quan tâm ở chừng mực nhất định, nên có một số ít văn bản quy định về vấn đề này như: Nghị định số 01 ngày 01/10/1945 quy định các điều kiện bảo đảm việc làm, bênh vực quyền lợi củ người lao động, quy định thời hạn báo trước khi muốn thải hồi công nhân; Sắc lệnh số 64/SL ngày 05/8/1946 về thành lập hệ thống cơ quan lao động trong cả nước với chức năng bảo đảm việc làm và bênh vực quyền lợi cho người lao động Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 tại Điều 1
có quy định trong toàn cõi Việt Nam những sự giao dịch về việc làm công giữa các chủ nhân người Việt Nam hay người ngoại quốc và các công nhân Việt Nam làm tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ thương điếm và các nhà làm nghề tự do Đặc biệt tại Nghị định số 21 ngày 15/5/1947 của Bộ Lao động và
Trang 32Thông tư số 02 ngày 18 tháng 5 năm 1948 của Bộ Lao động về việc quy định nhiệm vụ các cơ quan giới thiệu công nhân
Như vậy, trong thời kỳ này pháp luật về việc làm của nước ta còn khá ít
và quy định rời rạc xuất phát từ hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ
- Giai đoạn 1955 - 1985
Ngay sau khi dân tộc ta làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy
năm châu, trấn động địa cầu” thì chúng ta lại bước vào cuộc kháng chiến mới
với Đế quốc Mỹ, gay go và quyết liệt Hơn 21 năm (1954 - 1975) đất nước gồng mình trong kháng chiến, bị chia cắt hai miền, lúc này Đảng và Nhà nước
ta đề ra khẩu hiệu “tất cả vì tiền tuyến” với kế hoạch kinh tế tập trung, bao
cấp đã ăn sâu vào tư tưởng và ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống kinh tế -
xã hội Việc làm của mọi công dân đều xoay quanh hai khu vực là: kinh tế tập thể, kinh tế quốc doanh Các hợp tác xã được thành lập, các xí nghiệp quốc doanh đã giải quyết công ăn việc làm cho người lao động lúc bấy giờ Nhưng cũng chính vì vậy, mà cả một thời gian dài tính năng động, sáng tạo trong lao động không được phát huy Kéo theo đó là hệ thống văn bản pháp lý quy định
về lĩnh vực việc làm cũng chưa có tính đồng bộ cao… Lần đầu tiên trong lịch
sử, Hiến pháp năm 1960 đã quy định về quyền có việc làm của công dân (điều
mà Hiến pháp năm 1945 chưa có quy định cụ thể) Nghị định số 24/CP ngày 13/3/1963 đã quy định Điều lệ tạm thời về tuyển dụng và cho thôi việc với công nhân, viên chức Nhà nước Nghị định số 186/CP quy định về trách nhiệm, quyền lợi của người làm công và chủ tư nhân Việt Nam ở các cơ sở sản xuất công thương nghiệp tư bản tư doanh Thông tư 21/LĐ-TT ngày 08/11/1961 quy định về chế độ hợp đồng lao động với những công việc có tính chất tạm thời trong các xí nghiệp, đơn vị sử dụng lao động của Nhà nước
và không được vượt quá chỉ tiêu lao động của kế hoạch Nhà nước Điều lệ xí nghiệp quốc doanh ban hành kèm theo Nghị định 93/CP ngày 08/4/1977
Trang 33Có thể nói, giai đoạn này nền kinh tế chủ yếu dựa trên hai hình thức sở hữu là quốc doanh và tập thể, các quy định pháp luật vẫn còn hạn chế, không phát huy được thành phần kinh tế tư nhân, nên vấn đề việc làm cho người lao động còn gặp trở ngại, lực lượng lao động trong biên chế Nhà nước nhiều nhưng không phát huy được hiệu quả, không đem lại năng suất cao dẫn đến khủng hoảng kinh tế trong thời kỳ này
- Thời kỳ 1986 - 1994
Năm 1986 Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam với việc đề ra và tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đã mở ra một bước ngoặt lịch sử quan trọng trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước Đặc biệt quan điểm, chủ trương về vấn đề lao động, việc làm cũng có những thay đổi rõ nét Nhà nước đã cụ thể hóa các chủ trương, đường lối về việc làm phục vụ công cuộc đổi mới được đề ra từ Đại hội Đảng lần thứ VI, việc đổi mới này thể hiện cụ thể trong các quy định pháp luật Hiến pháp năm
1992 đã khẳng định rõ nét hơn quyền và nghĩa vụ của công dân trong vấn đề việc làm, đồng thời chỉ ra trách nhiệm không chỉ của Nhà nước mà của cả xã
hội trong vấn đề tạo việc làm cho người lao động: “Lao động là quyền và
nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động” [15, Điều 55] Quyết định số 217/HĐBT ngày
14 tháng 11 năm 1987 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành Bản quy định về đổi mới kế hoạch hóa và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa với xí nghiệp quốc doanh, trong đó đã đề cập việc chuyển dần từng bước chế độ tuyển dụng vào biên chế Nhà nước sang chế độ hợp đồng lao động Quyết định 176/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 09/10/1989 quy định các biện pháp nhằm sắp xếp lại lao động trong các đơn vị kinh tế quốc doanh Nghị định số 233/HĐBT ngày 22 tháng 66 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng về việc ban hành quy chế lao động đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước
Trang 34ngoài Pháp lệnh Hợp đồng lao động ngày 30/8/1990 của Hội đồng Nhà nước, quy định hợp đồng lao động được áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân thuộc ngành, các thành phần kinh tế có sử dụng, thuê mướn lao động và đối với những người lao động làm công và được trả tiền công Nghị định số 370/HĐBT ngày 09/11/1991 ban hành Quy chế về đưa người lao động ở Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Nghị quyết số 120/HĐBT ngày 11/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về chủ trương, phương hướng và biện pháp giải quyết việc làm trong các năm tới Quyết định 259/CT ngày 13/7/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về quản lý, sử dụng quỹ sắp xếp lao động và giải quyết việc làm trong Ngân sách Nhà nước năm 1992 Quyết định số 327/CT ngày 15/9/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quy định về điều động lao động, dân cư xây dựng vùng kinh tế mới Quyết định số 15/TTg ngày 20 tháng 10 năm 1992 của Thủ tướng Chính phủ quy định về vấn đề việc làm đối với các đối tượng lao động yếu thế
Như vậy, pháp luật về thời kỳ này đã bao quát được hầu hết các vấn đề liên quan đến sử dụng lao động, tạo cơ sở cho việc giải quyết việc làm Nó đã thể hiện rõ sự phát triển về mặt pháp lý của vấn đề việc làm phù hợp với sự nhận thức và đòi hỏi của thực tiễn thời kỳ này
- Giai đoạn 1994 - 2012
Năm 1994 Quốc hội đã ban hành Bộ luật Lao động và được sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007 đã đề cập đến việc làm và các vấn đề liên quan, điều đó được quy định thành một Chương riêng (Chương II) Nghị định 72/CP ngày 31/10/1995 đã quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về việc làm; Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 sửa đổi, bổ sung Nghị định 72/CP ngày 31/10/1995 đã quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về việc làm Nghị định của Chính phủ số 19/2005/NĐ-CP ngày 20/8/2005 về thành lập
Trang 35trung tâm dịch vụ việc làm Nghị định của Chính phủ số 139/2006/NĐ-CP ngày 20/11/2006 hướng dẫn Luật Giáo dục và Bộ luật Lao động về dạy nghề
+ Nghị định số 126/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động Nghị định của Chính phủ số 34/2008/NĐ-CP ngày 25/3/2008 về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam Nghị định của Chính phủ số 71/2008/NĐ-CP ngày 05/6/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2005/NĐ-CP Bộ luật Lao động năm 2012 đã cụ thể hóa hơn và quy định vấn đề việc làm tại Chương II với 06 Điều
- Giai đoạn từ 2013 đến nay
Luật Việc làm được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 16 tháng 11 năm 2013, đó là cơ
sở pháp lý quan trọng điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến lĩnh vực việc làm của người lao động Luật Việc làm bao gồm 7 chương và 62 điều Nghị định số 28/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12 tháng 3 năm 2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp Nghị định số 31/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24 tháng 3 năm 2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; Thông tư số 28/2015/TT-BLĐTBXH ngày 31/7/2015 của Bộ Lao động - Thương Binh và Xã hội, hướng dẫn thực hiện Điều 52 của Luật Việc làm và một số điều của Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp
Ngoài các quy định trong Luật Việc làm, Bộ luật Lao động, các vấn đề lao động, việc làm nói chung và giải quyết việc làm, bảo đảm việc làm nói riêng cũng được đề cập trong khá nhiều đạo luật khác như: Luật Công đoàn,
Trang 36Luật Doanh nghiệp, Luật Giáo dục, Luật Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài…
1.2.3 Nội dung pháp luật về việc làm, giải quyết việc làm
1.2.3.1 Trách nhiệm của các chủ thể liên quan trong lĩnh vực việc làm
và giải quyết việc làm
Trách nhiệm của Nhà nước
Nhà nước là chủ thể đặc biệt, giữ vai trò chủ đạo trong công tác giải quyết việc làm, điều này được quy định cụ thể trong các văn bản quan trọng
của Đảng và Nhà nước ta Tại Đại hội lần thứ IX, Đảng ta đã xác định: “Giải
quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và nhu cầu chính bức thiết của nhân dân” [7, tr.210]
Hiến pháp năm 1992 quy định: “Giải quyết việc làm bảo đảm cho mọi
người có khả năng lao động đều có cơ hội việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội” [15, Điều 55]
Luật Việc làm năm 2013 quy định về chính sách của Nhà nước về việc làm, theo đó Nhà nước: Có chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm tạo việc làm cho người lao động, xác định mục tiêu giải quyết việc làm trong chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; bố trí nguồn lực để thực hiện chính sách về việc làm Khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia tạo việc làm và tự tạo việc làm có thu nhập từ mức lương tối thiểu trở lên nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, phát triển thị trường lao động Có chính sách hỗ trợ tạo việc làm, phát triển thị trường lao động và bảo hiểm thất nghiệp Có chính sách đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia gắn với việc nâng cao trình độ kỹ năng nghề Có chính sách ưu đãi đối với ngành, nghề sử dụng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao hoặc sử dụng nhiều lao động phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Hỗ trợ người sử dụng lao động
Trang 37sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật, lao động nữ, lao động là người dân tộc thiểu số
Đặc biệt tại Luật Việc làm năm 2013 đã có quy định về nội dung và thẩm quyền quản lý Nhà nước về việc làm, để phân rõ trách nhiệm của chủ thể Nhà nước đối với vấn đề giải quyết việc làm
Theo đó nội dung quản lý nhà nước về việc làm bao gồm: Ban hành và
tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về việc làm Tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về việc làm Quản lý lao động, thông tin thị trường lao động, đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia và bảo hiểm thất nghiệp Quản lý tổ chức và hoạt động của trung tâm dịch vụ việc làm, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại,
tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về việc làm Hợp tác quốc tế về việc làm
Thẩm quyền quản lý nhà nước về việc làm được quy định cụ thể tại Luật Việc làm năm 2013, theo đó: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về việc làm trong phạm vi cả nước Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về việc làm Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước về việc làm Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện quản lý nhà nước về việc làm tại địa phương
Cùng với đó là Bộ luật Lao động năm 2012 đã có quy định rất rõ về chính sách của Nhà nước hỗ trợ phát triển việc làm như sau: Nhà nước xác định chỉ tiêu tạo việc làm tăng thêm trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
05 năm, hàng năm Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, Chính phủ trình Quốc hội quyết định chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và dạy nghề Có chính sách bảo hiểm thất nghiệp, các chính sách khuyến khích để người lao động tự tạo việc làm; hỗ trợ người sử dụng lao động sử
Trang 38dụng nhiều lao động nữ, lao động là người khuyết tật, lao động là người dân tộc ít người để giải quyết việc làm Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh để tạo việc làm cho người lao động Hỗ trợ người sử dụng lao động, người lao động tìm kiếm và mở rộng thị trường lao động ở nước ngoài Thành lập Quỹ quốc gia về việc làm để hỗ trợ cho vay ưu đãi tạo việc làm và thực hiện các hoạt động khác theo quy định của pháp luật
Như vậy, trong vấn đề giải quyết việc làm Nhà nước đóng vai trò chủ đạo Ở tầm vĩ mô, Nhà nước định chỉ tiêu tạo việc làm cho người lao động trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm năm; lập quỹ quốc gia về việc làm Quốc hội giao Chính phủ và các tỉnh cụ thể hóa chính sách pháp luật của Nhà nước; Nhà nước hoạch định các chính sách, chương trình phát triển kinh
tế, công tác xã hội gắn liền với công tác giải quyết việc làm Bên cạnh đó Nhà nước cũng có những chính sách quan tâm đến từng đối tượng lao động cụ thể, đặc biệt là lao động là người khuyết tật
Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với các cơ sở sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật như giảm thuế, ưu tiên cho vay vốn, ưu tiên sử dụng đất Đồng thời Nhà nước cũng quy định trách nhiệm của người sử dụng đối với lao động là người khuyết tật… Đối với những lao động là phụ
nữ, lao động chưa thành niên… Nhà nước cũng có những quan tâm đặc biệt được thể hiện trong các quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 để bảo đảm việc làm cho các đối tượng này, tránh những tổn thương xuất phát từ đặc thù của đối tượng
Trách nhiệm của người sử dụng lao động
Trong quan hệ lao động người sử dụng lao động phải đảm bảo tính hợp pháp của việc làm, cũng như thỏa thuận về thời gian làm việc trong hợp đồng lao động Người sử dụng lao động phải thực hiện đầy đủ nội
Trang 39dung mà hai bên đã cam kết trong hợp đồng lao động cũng như trong thỏa ước lao động tập thể
Người sử dụng lao động phải đảm bảo việc làm cho người lao động trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động Người sử dụng lao động phải đảm bảo những điều kiện cần thiết để người lao động hoàn thành được công việc của mình Người sử dụng lao động phải đáp ứng những đều kiện chung
về an toàn lao động, vệ sinh lao động để người lao động có điều kiện đảm bảo sức khỏe phục vụ cho quá trình tái sản xuất sức lao động Việc sắp xếp việc làm cho người lao động phải phù hợp với trình độ chuyên môn, nghề nghiệp của họ, tạo điều kiện để phát huy hết năng lực, sở trường mới có kết quả làm việc tốt nhất Đặc biệt người sử dụng lao động phải sắp xếp việc làm phù hợp với sức khỏe của người lao động sau khi người lao động bị suy giảm khả năng lao động do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp để đảm bảo cuộc sống cho người lao động Bên cạnh đó, nếu gặp khó khăn trong sản xuất hay do nhu cầu điều hành, người sử dụng lao động có thể chuyển người lao động đi làm việc ở nơi khác nhưng vẫn phải đảm bảo điều kiện làm việc cho họ, đồng thời phải thực hiện một số điều kiện luật định để giảm thiểu khó khăn do việc điều chuyển đó gây ra Quy định này nhằm đảm bảo cho cuộc sống người lao động không bị xáo trộn quá lớn khi thuyên chuyển công tác và cũng giúp cho người
sử dụng lao động có nhiều phương án sử dụng lao động linh hoạt hơn trong công việc Người sử dụng lao động phải đảm bảo việc làm cho người lao động trong trường hợp hợp đồng lao động bị gián đoạn, trong trường hợp thay đổi cơ cấu tổ chức, công nghệ sản xuất, trường hợp lao động nữ kết hôn, có thai và sinh con, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi
Đặc biệt đối với người lao động là người khuyết tật Để đảm bảo cho cuộc sống của lực lượng lao động này, người sử dụng lao động cũng có một phần trách nhiệm trong việc bảo đảm việc làm cho họ Pháp luật lao động đã
Trang 40quy định, người sử dụng lao động phải nhận một số lao động là người khuyết tật vào làm việc trong doanh nghiệp của mình
Tuy nhiên vấn đề pháp luật về lao động, việc làm hiện nay vẫn có chỗ quy định khá cứng nhắc về nghĩa vụ của người sử dụng lao động, gây khó khăn cho họ trong quá trình duy trì việc làm Theo Bộ luật Lao động năm
2012 thì: “Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định
thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này” [17, Điều 37]
Như vậy, người lao động không cần lý do chính đáng cũng có thể đơn phương chấm dứt quan hệ lao động nếu đã ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với người sử dụng lao động Tuy vậy, pháp luật lại không ràng buộc trách nhiệm của người lao động trong trường hợp này, điều đó có thể gây khó khăn cho người sử dụng lao động về vấn đề nhân lực Đó là một trong những nguyên nhân để người sử dụng lao động hạn chế ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn, phản tác dụng trong việc bảo vệ việc làm cho người lao động
Trách nhiệm của tổ chức Công đoàn
Việc làm và giải quyết việc làm không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước, của người sử dụng lao động mà còn là trách nhiệm của các tổ chức xã hội nói chung và tổ chức công đoàn nói riêng
Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và người lao động Công đoàn có trách nhiệm đại diện cho người lao động và bảo vệ họ khi quyền lợi của họ bị xâm phạm Nhiệm vụ của tổ chức công đoàn được quy định trong Hiến pháp, trong Luật Công đoàn và trong các văn bản pháp luật
có liên quan khác của Nhà nước ta