Xuất phát từ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của học phần Tiếng Việt nói chung và những bài ôn tập Tiếng Việt nói riêng Đối với việc học môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Tiếng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ THUÝ
SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC BÀI ÔN TẬP TIẾNG VIỆT LỚP 6
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ THUÝ
SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC BÀI ÔN TẬP TIẾNG VIỆT LỚP 6
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn
Mã số : 60 14 01 11
Cán bộ hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Ban
HÀ NỘI – 2014
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Ban, người đã tận tình giúp đỡ và chỉ dẫn cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ, các thầy cô và các em học sinh tại hai trường THCS Tân Hưng và THCS Gia Tân đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình khảo sát, điều tra và tiến hành thực nghiệm sư phạm để hoàn thành đề tài
Xin cảm ơn gia đình và người thân, những người luôn ở bên cạnh động viên, giúp tôi vững bước trong cuộc sống và phấn đấu trong học tập
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè và đồng nghiệp đã luôn quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và làm luận văn
Với tầm hiểu biết còn hạn chế của người viết, luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy
cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014 Học viên
Phạm Thị Thúy
Trang 5iii
MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT Error! Bookmark not defined
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Giả thuyết khoa học 10
7 Cấu trúc luận văn 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11
1.1 Lí thuyết về Bản đồ tư duy 11
1.1.1 Khái niệm và sự ra đời của Bản đồ tư duy 11
1.1.2 Cấu trúc Bản đồ tư duy 12
1.1.3 Đặc điểm và cơ chế hoạt động 14
1.1.4 Quy trình thiết kế bản đồ tư duy 16
1.1.5 Khả năng ứng dụng Bản đồ tư duy vào dạy học 18
1.1.5.1.Tác dụng của bản đồ tư duy 18
1.1.5.2 Khả năng ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học 21
1.2 Thực trạng dạy học bài ôn tập Tiếng Việt 6 23
1.2.1 Hoạt động dạy của giáo viên 23
1.2.2 Hoạt động học của học sinh 25
1.2.2.1 Về hứng thú học tập của học sinh 25
1.2.2.2 Về cách học bài ôn tập Tiếng Việt 6 của học sinh 27
Tiểu kết chương 1 31
Trang 6iv
CHƯƠNG 2 CÁCH THỨC TẠO LẬP VÀ SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY
TRONG DẠY HỌC BÀI ÔN TẬP TIẾNG VIỆT LỚP 6 32
2.1 Đặc điểm các bài ôn tập Tiếng Việt lớp 6 32
2.2 Tác dụng của việc sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học bài ôn tập Tiếng Việt 6 39
2.3 Cách thức tạo lập bản đồ tư duy trong dạy học bài ôn tập Tiếng Việt lớp 6 40
2.3.1 Các bước để tạo bản đồ tư duy hiệu quả trong dạy học bài ôn tập Tiếng Việt 6 40
2.3.2 Tạo bản đồ tư duy cho các bài học ôn tập Tiếng Việt lớp 6 42
2.4 Cách thức sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học bài ôn tập Tiếng Việt lớp 6 45
2.4.1 Sử dụng trong kiểm tra bài cũ 46
2.4.2 Sử dụng trong ôn tập lí thuyết 48
2.4.3 Sử dụng trong luyện tập thực hành 52
2.5 Giới thiệu một số bản đồ tư duy trong ôn tập Tiếng Việt 59
2.5.1 Một số bản đồ tư duy thiết kế thử nghiệm 59
2.5.2 Một số bản đồ tư duy do học sinh tự thiết kế 63
2.6 Một số lưu ý khi sử dụng bản đồ tư duy vào dạy học Tiếng Việt 64
2.6.1 Phân biệt bản đồ tư duy với Graph 64
2.6.2 Lưu ý khi tạo bản đồ tư duy 68
Tiểu kết chương 2 72
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73
3.1 Mục đích thực nghiệm 73
3.2 Đối tượng, thời gian thực nghiệm 73
3.3 Nội dung thực nghiệm 73
3.4 Phương pháp thực nghiệm 73
3.5 Các bước thực hiện 74
3.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm 75
Tiểu kết chương 3 81
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 87
Trang 7v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng: 1.1 Thống kê tỉ lệ vai trò của các giác quan trong việc thu nhận tri thức 22
Bảng: 1.2 Tỉ lệ tri thức lưu lại trong trí nhớ 23
Bảng:1.3.Thống kê tỉ lệ cách dạy học ôn tập của GV bài ôn tập chung 24
Bảng:1.4 Thống kê tỉ lệ cách dạy học ôn tập của GV bài mới 24
Bảng:1.5 Thống kê tỉ lệ học sinh hứng thú với học phần Tiếng Việt 27
Bảng:1.6 Bảng thống kê tỉ lệ học sinh ôn bài 28
Bảng:1.7 Thống kê tỉ lệ học sinh lựa chọn các cách ôn tập Tiếng Việt 28
Bảng: 3.1 Thống kê xếp loại điểm bài làm lớp 6A 77
Bảng: 3.2 Thống kê xếp loại điểm bài làm lớp 6C 78
Biểu đồ: 3.1 So sánh kết quả kiểm tra lớp thực nghiệm và đối chứng 78
Trang 8vi DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ: 3.1 So sánh kết quả kiểm tra lớp thực nghiệm và đối chứng 78
Trang 9vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình: 1.1 BĐTD: Kế hoạch năm học 12
Hình: 1.2 Cấu tạo bộ não người 14
Hình: 1.3 Từ trung tâm 16
Hình: 1.4 Thiết lập nhánh chính của bản đồ tư duy 17
Hình: 1.5 Thiết lập các nhánh phụ của bản đồ tư duy 17
Hình: 1.6 BĐTD: Các đồ lưu niệm bạn thích 18
Hình: 1.7 BĐTD: Hoạt động phân tích nhân vật 21
Hình: 2.1 Bản đồ tư duy khái quát 43
Hình:2.2 Bản đồ tư duy cụ thể 43
Hình:2.3.Bản đồ tư duy đầy đủ 44
Hình:2.4.1 Bản đồ tư duy khuyết nội dung nhánh 44
Hình:2.4.2 Bản đồ tư duy khuyết từ trung tâm 44
Hình:2.5.BĐTD Giờ học bài Ẩn dụ 46
Hình:2.6 BĐTD trong hoạt động kiểm tra bài cũ 48
Hình:2.7 BĐTD Nhắc nhanh lại phần cấu tạo từ 50
Hình:2.8 BĐTD sử dụng củng cố kiến thức cuối bài 51
Hình:2.9 BĐTD sử dụng để kiểm tra ghi nhớ nhanh lí thuyết trên lớp 51
Hình:2.10 BĐTD: Giải nghĩa từ 56
Hình:2.11 BĐTD: Giải nghĩa từ “dong” 57
Hình: 2.12 BĐTD Bài tập bổ sung về Hoán dụ 58
Hình: 2.13 BĐTD: Bài ôn tập về các dấu câu 60
Hình: 2.14 BĐTD: Tổng kết phần Tiếng Việt (Từ loại) 60
Hình: 2.15 BĐTD: Ôn tập các biện pháp tu từ 61
Hình: 2.16 BĐTD: Giải nghĩa của từ “ghế” 61
Hình:2.17 BĐTD: Các hình ảnh ẩn dụ 62
Hình: 1.18 BĐTD bài Các thành phần chính của câu 63
Trang 10viii
Hình:2.19 BĐTD bài Nhân hóa 63
Hình:2.20 BĐTD tổng kết bài Từ loại 64
Hình:2.21 Graph 1 66
Hình: 2.22 Graph 2 66
Hình: 2.23 Graph 3 67 Hình: 2.24 Giao diện phần mềm ConceptDraw MINDMAP 5 Professional 71
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ những ứng dụng mang tính lợi thế của bản đồ tư duy
Vào những năm 60 của thế kỉ trước lí thuyết về bản đồ tư duy lần đầu tiên xuất hiện gắn với cái tên Tony Buzan đã tạo được tiếng vang lớn Trong
cuốn Lập bản đồ tư duy của tác giả Tony Buzan, ông đã khẳng định bản đồ tư duy “giúp bạn bằng rất nhiều, rất nhiều cách khác nhau” [17; tr.30] và đã kể
ra 13 trong số rất nhiều lợi ích mà bản đồ tư duy mang lại, đó là: bản đồ tư duy giúp con người sáng tạo hơn, tiết kiệm thời gian hơn, giải quyết các vấn
đề, tập trung, tổ chức và phân loại suy nghĩ của bạn, vượt qua các kì thi với điểm số tốt, ghi nhớ tốt, học nhanh hơn và hiệu quả hơn, tạo ra cách học nhẹ nhàng, nhìn thấy “bức tranh tổng thể”, lên kế hoạch, truyền đạt thông tin và cuối cùng là sống lâu hơn Với những lợi ích đó, bản đồ tư duy đã trở thành một công cụ được sử dụng rộng rãi Ban đầu bản đồ tư duy được tạo nhằm phát triển trí tuệ ở trẻ em nhưng dần nó được ứng dụng trong tất cả các phương diện của đời sống hàng ngày Bản đồ tư duy đã được xem như một công cụ hỗ trợ tư duy của con người trong việc ghi nhớ một cách có hệ thống
và sáng tạo những tri thức, những công việc…trong đời sống Việc sử dụng bản đồ tư duy trong giáo dục nói chung và trong dạy học nói riêng là một gợi
ý tích cực, thúc đẩy chúng tôi nghiên cứu, tìm hiểu về lí thuyết về bản đồ tư duy và việc sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy học bài ôn tập Tiếng Việt lớp 6
1.2 Xuất phát từ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của học phần Tiếng Việt nói chung và những bài ôn tập Tiếng Việt nói riêng
Đối với việc học môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông
Tiếng Việt là một học phần không thể thiếu trong bộ môn Ngữ văn Với tinh thần tích hợp của sách giáo khoa Ngữ văn nói chung và sách giáo khoa Ngữ văn 6 nói riêng thì ba học phần: Văn học – Làm văn và Tiếng Việt có mối liên hệ khăng khít và tác động qua lại Nếu Văn học là ngữ liệu
Trang 122
để việc học Tiếng Việt thuận lợi hơn thì ngược lại Tiếng Việt cung cấp cho chúng ta những tri thức để có thể cảm nhận và hiểu một cách cặn kẽ, sâu sắc
về các văn bản văn học
Với học phần Làm văn cũng vậy Muốn viết được một bài văn đúng về
từ, về câu, về diễn đạt đòi hỏi cần nắm vững các chuẩn về từ vựng, về ngữ pháp câu Muốn viết một bài văn hay, giàu hình ảnh, cảm xúc…cần biết và vận dụng hiệu quả các biện pháp tu từ…tất cả những tri thức đó đều nằm trong học phần Tiếng Việt
Đặc biệt, với xu thế đổi mới kiểm tra, đánh giá năng lực học Ngữ văn của học sinh hiện nay thì phần Tiếng Việt lại đóng vai trò hết sức quan trọng trong các câu hỏi đọc – hiểu văn bản Do vậy, ngay từ những kiến thức ngữ pháp đầu tiên của bậc học mới càng đòi hỏi chúng ta có một phương pháp dạy học hiệu quả để giúp học sinh nắm chắc kiến thức để vận dụng và làm nền tảng để tiếp nhận các kiến thức nâng cao
Rõ ràng có thể thấy Tiếng Việt đóng một vai trò quan trọng trong việc học môn Ngữ văn
Tiếng Việt là công cụ giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày
Tiếng Việt có vai trò đặc biệt trong đời sống hàng ngày Phân môn Tiếng Việt cung cấp cho chúng ta những tri thức chuẩn về mặt ngữ pháp và ngữ dụng học, giúp chúng ta có thể giao tiếp hiệu quả trong sinh hoạt cũng như trong công việc trên tất cả các kĩ năng Nghe – Nói – Đọc và Viết
Tiếng Việt là ngôn ngữ của người dân Việt nhưng trong thực tế không phải ai cũng nói và hiểu tiếng Việt một cách chuẩn xác Đã xảy ra rất nhiều sự hiểu lầm trong những trường hợp “Ông nói gà, bà nói vịt” Nguyên nhân dẫn đến điều này là do nhân vật giao tiếp chưa diễn tả đúng nội dung muốn truyền đạt hoặc người nghe chưa đủ trình độ để lĩnh hội hết những gì người nói muốn thể hiện Do đó, để giao tiếp có hiệu quả, đòi hỏi chúng ta cần có một vốn từ vựng phong phú, cần phải nắm chắc các quy tắc ngữ pháp, các quy tắc
Trang 13Học phần Tiếng Việt lớp 6 bao gồm khá nhiều nội dung kiến thức quan trọng làm sơ sở, nền tảng không chỉ cho việc học Tiếng Việt ở các lớp, các bậc học tiếp theo mà còn đóng vai trò trong việc cảm thụ văn học và phân tích văn chương trong hai học phần Văn học và Làm văn Có thể kể đến đó là một loạt các kiến thức về Từ loại, về Câu, Cách sử dụng câu, Các biện pháp tu từ…đây đều là những đơn vị kiến thức quan trọng và cần thiết
Bài ôn tập trong chương trình Tiếng Việt 6 có nhiệm vụ khắc sâu và hệ thống hóa lại toàn bộ kiến thức học sinh đã học trước đó Với nhiệm vụ này, các bài ôn tập sẽ giúp các em ghi nhớ lại kiến thức cũ, lấy đó làm nền tảng để tiếp nhận những kiến thức mới Đồng thời, thông qua những bài học ôn tập, giáo viên có thể kiểm tra, đánh giá năng lực học Tiếng Việt của mỗi học sinh
Trang 144
chỉ được tìm hiểu kỹ hơn các đơn vị về từ và câu mà còn được học thêm một
số đơn vị kiến thức khác cùng nằm trong hệ thống tiếng Việt phổ thông
Đối với các bài ôn tập Tiếng Việt, việc nhắc lại một cách hệ thống, logic các đơn vị kiến thức lí thuyết đã được học trước đó là một yêu cầu bắt buộc và cần thiết Nó không chỉ giúp học sinh nhớ lại các đơn vị kiến thức cũ, lấy đó làm nền tảng cho việc tiếp nhận kiến thức mới mà còn là cơ hội để giáo viên kiển tra, đánh giá năng lực tiếng Việt của học sinh thông qua một loạt các loại bài tập về cả lí thuyết lẫn vận dụng, thực hành
Với cấu trúc của bản đồ tư duy gồm từ trung tâm và các nhánh cho phép việc hệ thống các đơn vị kiến thức lí thuyết được diễn ra một cách dễ dàng Nhìn vào bản đồ tư duy cấp độ 1, chúng ta có thể biết được những nét chính nhất của đơn vị kiến thức đó, nó cung cấp bức tranh tổng thể về đối tượng đang được đề cập đến
Với các cấp độ nhỏ hơn của bản đồ tư duy sẽ thuận lợi cho việc trình bày các đơn vị kiến thức nhỏ hơn, làm chi tiết, cụ thể thêm các nội dung Bản
đồ tư duy cấp độ 2, 3, sẽ được xem như những nhánh phụ của một con sông lớn Như vậy, với một sơ đồ mạng như vậy sẽ cho phép hệ thống, cụ thể hóa nhiều đơn vị kiến thức trên cùng một hình vẽ Ngoài ra sự hỗ trợ đắc lực của các yếu tố: hình ảnh, kí hiệu, màu sắc sẽ giúp cho việc ghi nhớ kiến thức một cách hiệu quả, giờ học trở nên thú vị hơn, không còn khô khan nữa
Rõ ràng, với những đặc điểm này thì bản đồ tư duy là một sự lựa chọn phù hợp cho việc dạy học bài ôn tập Tiếng Việt 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Nghiên cứu và ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học
Với hơn 50 năm có mặt trên thế giới cùng với những lợi thế mang lại, bản đồ tư duy đã và đang được hơn 250 triệu người trên thế giới sử dụng, phát huy tầm ảnh hưởng nhiều hoạt động thuộc các lĩnh vực ngành nghề khác nhau
Trang 155
Việc đề xuất và phát triển ý tưởng bản đồ tư duy của Tony Buzan được
thể hiện trong nhiều công trình nghiên cứu đã xuất bản Với cuốn “Bản đồ tư
duy trong công việc” (Mindmaps at work), tác giả giúp bạn đọc khám phá
“khả năng đạt đến sự cân bằng hơn giữa công việc và cuộc sống” [15, tr 18] bằng việc trình bày những phương pháp mới để giải quyết vấn đề, nắm bắt sức mạnh của sự thay đổi, cách thức hoạt động nhóm hiệu quả, bí quyết thuyết trình thành công,… Thông qua những ví dụ sinh động về những điển hình đã áp dụng thành công bản đồ tư duy trong công việc của mình như Con Edison – nhà cung cấp khí đốt và điện cho thành phố New York, hãng máy tính Apple,… Tony Buzan khẳng định khả năng ứng dụng đa lĩnh vực của ý tưởng này Trong đó, phạm vi hoạt động hiệu quả nhất mà vô hình chung tác giả hướng tới là lĩnh vực kinh doanh Ứng dụng bản đồ tư duy trong công việc giảng dạy như thế nào hầu như chưa được đề cập
Ở công trình “Đón nhận thay đổi” (Embracing change), Tony Buzan
nêu ra bảy bộ công cụ mà theo ông, cần thiết phải sử dụng để tự bản thân mỗi người có sự chuyển biến, thấy mình mạnh mẽ như thế nào, ảnh hưởng cá nhân tới người khác lớn đến đâu, phải dùng trí tuệ ra sao để đạt tới hiệu năng cao nhất… Bản đồ tư duy là một trong bảy bộ công cụ hữu ích này Với chương
“Tự nhận thức: Cách thay đổi thế giới của bạn”, Buzan đề cập đến việc ông
đã “khai thác khả năng lập sơ đồ tư duy như một công cụ học tập, hỗ trợ trí nhớ trong lúc cố gắng ghi chép sao cho hiệu quả vào những năm tháng còn là sinh viên” [16, tr 118] Từ trải nghiệm phi thường này, sơ đồ tư duy được phát triển thành một bộ công cụ mang đến tầm nhìn mới và thành công Xét một cách cụ thể hơn, ở đây Buzan đã hệ thống lại cách tạo tập một bản đồ tư duy thông thường như sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, từ khoá, Đồng thời,
do mục đích chính của cuốn sách là hướng đến sự thay đổi nên tác giả cũng nêu lên vấn đề việc việc áp dụng bản đồ tư duy trong thay đổi nhà cửa, kinh doanh, các mối quan hệ, thời gian rỗi hay việc làm Như thế, ở công trình này, Tony
Trang 166
Buzan không đề cập tới quan điểm của ông đối với sự ứng dụng bản đồ tư duy trong hoạt động giảng dạy và học tập nhà trường nói chung
“Ứng dụng bản đồ tư duy” – cuốn sách của Joyce Wycoff – là công
trình đã hiện thực hoá nhiều vấn đề lí thuyết về bản đồ tư duy Thông qua việc giới thiệu lại kĩ thuật xây dựng một bản đồ tư duy thông thường, tác giả khẳng
định bản chất của nó – đó là kĩ thuật suy nghĩ bằng cả bộ não Ông cho thấy
khả năng vận dụng rộng rãi bản đồ tư duy vào nhiều lĩnh vực trong thực tiễn đời sống con người, bao gồm việc viết lách, quản lí kế hoạch, quản lí các cuộc họp, thuyết trình, học tập, phát triển cá nhân, Xét riêng về mảng học tập, Wycoff nhấn mạnh “lập bản đồ tư duy là hình thức ghi chép hiệu quả” vì nó cho phép người sử dụng “nhanh chóng ghi lại các ý tưởng bằng từ khoá, sắp xếp một cách cơ bản thông tin khi nó được truyền tải”, “tự động loại bỏ những từ không quan trọng và đưa ra sự sắp xếp sơ bộ thông tin được tiếp nhận” [14, tr 188] Như vậy, yếu tố được tác giả quan tâm ở đây là hiệu quả của bản đồ tư duy với khả năng ghi nhớ ở người dùng
Bên cạnh các công trình tiêu biểu kể trên, còn hàng loạt các cuốn sách
khác của các tác giả nước ngoài cũng sử dụng bản đồ tư duy Đó là “Học khôn
ngoan mà không gian nan” (Kevin Paul), “Phương pháp học tập siêu tốc”
(Bobbie Deporter), “Một tư duy hoàn toàn mới” (Daniel Pink), “Cú đánh thức
tỉnh trí sáng tạo” (Roger Von Dech), Trong các cuốn sách này, các tác giả
hầu như không trình bày lại lí thuyết bản đồ tư duy của Tony Buzan mà sử dụng chính bản đồ tư duy để minh hoạ cho ý tưởng của mình, làm phần tổng kết hay khái quát những kết quả nghiên cứu thu được
Ở Việt Nam, đặc biệt, trong lĩnh vực dạy học, bản đồ tư duy đã được đưa vào nghiên cứu và sử dụng như một phương tiện, một phương pháp để nâng cao chất lượng dạy học Có thể thấy rõ điều này qua các nghiên cứu như của thầy Hoàng Đức Huy – giáo viên Trung tâm Giáo dục thường xuyên
Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh Thầy đã cho xuất bản cuốn sách Bản đồ tư
duy – Đổi mới dạy học, cuốn sách giới thiệu về lý thuyết bản đồ tư duy và
Trang 177
một số thiết kế nội dung bài học dành cho các giáo viên nói chung Bài viết
của Châu Vân Anh trên Tạp chí giáo dục với tiêu đề: Sử dụng bản đồ tư duy
rèn luyện một số kỹ năng học tập cho học sinh [1] cũng cho chúng ta thấy
được khả năng ứng dụng của bản đồ tư duy vào học tập của học sinh Đặc
biệt các bài viết của TS.Trần Đình Châu, Sử dụng bản đồ tư duy- một biện
pháp hiệu quả hỗ trợ học sinh học tập môn Toán, Tạp chí Giáo dục, kì 2,
tháng 9-2009, Bản đồ tư duy- công cụ hiệu quả hỗ trợ dạy học và công tác
quản lý nhà trường, Báo Giáo dục & Thời đại, số 147 ngày 14/9/2010…là
những nghiên cứu có giá trị về việc ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học ở Việt Nam
2.2 Nghiên cứu và ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học Tiếng Việt
Nghiên cứu và ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn
Hiện nay, ở Việt Nam đã có rất nhiều những nghiên cứu và ứng dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn Có thể kể ra một số bài viết của một số
tác giả như: Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn Ngữ văn của TS Phạm Văn Nam (Dự án phát triển Giáo dục Trung học cơ sở II, Bộ GD & ĐT); Dạy
học bằng sơ đồ tư duy ở môn Ngữ văn bậc THPT của tác giả Bùi Túy
Phượng, Trường THPT Mai Thanh Thế - Sóc Trăng hay Khóa luận Tốt
nghiệp của Trần Thu Thủy nghiên cứu về Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy
học phần Văn học dân gian (Chương trình Ngữ văn lớp 10, Ban cơ bản) Đây
chính là những bước tiến tiếp theo cho việc nghiên cứu và ứng dụng Bản đồ
tư duy trong dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng, đồng thời cũng thể hiện yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học trong Giáo dục nước nhà hiện nay
Nghiên cứu và ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học Tiếng Việt
Nói về việc ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học Tiếng Việt thì đây không còn là một đề tài mới Hiện nay, ở rất nhiều trường Tiểu học, Trung học đã áp dụng việc sử dụng bản đồ tư duy vào việc dạy Tiếng Việt Ở bậc
tiểu học, chúng ta có đề tài: Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Luyện từ và
Trang 188
câu cho học sinh lớp 4, 5 của tác giả Phạm Lê Trang – Luận văn thạc sỹ khoa
học, trường Đại học Vinh Sang bậc trung học phổ thông có đề tài “Ứng dụng
lí thuyết bản đồ tư duy vào dạy học tiếng Việt ở trung học phổ thông” của tác
giả Trần Hoài Phương Luận văn đã trình bày rất chi tiết và hệ thống những ứng dụng của bản đồ tư duy trong dạy học Tiếng Việt ở cấp 3 với cách thức tạo lập và sử dụng bản đồ tư duy một cách hiệu quả
Song, ở bậc trung học cơ sở, đặc biệt là chương trình Tiếng Việt 6, tất
cả sự ứng dụng mới dừng lại ở việc áp dụng trên một vài đơn vị kiến thức nhỏ, lẻ phục vụ cho việc dạy một vài bài trên lớp mà chưa có sự nghiên cứu một cách có hệ thống, bài bản
Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Sử dụng bản đồ tư duy
trong dạy học bài ôn tập Tiếng Việt 6” như một bước mở đầu cho việc nghiên
cứu sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Tiếng Việt ở bậc trung học cơ sở Điều này, sẽ giúp giáo viên xây dựng phương pháp dạy bài ôn tập cho học sinh một cách có hệ thống và hiệu quả
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn đề xuất cách thức tạo lập và sử dụng bản đồ tư duy để dạy học bài ôn tập Tiếng Việt cho học sinh lớp 6, từ đó giúp các em củng cố, ghi nhớ kiến thức tạo nền tảng cho việc học và sử dụng Tiếng Việt trong đời sống, trong các lớp học sau đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt nói riêng và dạy học Ngữ văn nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng bản đồ tư duy để ôn tập phần kiến thức Tiếng Việt cho học sinh lớp 6
- Khảo sát thực tế học Tiếng Việt của học sinh lớp 6 tại 2 trường: THCS Tân Hưng và THCS Gia Tân tỉnh Hải Dương
Trang 199
- Đề xuất một số cách thức sử dụng bản đồ tư duy từ đó đi vào quá trình thiết kế một số bản đồ tư duy cho một số nội dung ôn tập Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn lớp 6
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại hai trường đã nêu để bước đầu đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng bản đồ tư duy trong việc ôn tập kiến thức Tiếng Việt 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sẽ lấy việc ứng dụng bản
đồ tư duy trong dạy học ôn tập phần kiến thức Tiếng Việt lớp 6 làm đối tượng nghiên cứu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Với giới hạn của đề tài, Luận văn tập trung nghiên cứu phần ôn tập Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn lớp 6 bao gồm hai phần: ôn tập lí thuyết và luyện tập thực hành
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu, tổng hợp những vấn đề lí thuyết, những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu các đơn vị kiến thức trong học phần Tiếng Việt lớp 6
5.2 Phương pháp điều tra và phỏng vấn
- Phát phiếu điều tra, bảng hỏi
- Phỏng vấn giáo viên, học sinh
5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tổ chức dạy học thực nghiệm và đối chứng trên các đối tượng sau đó tiến hành tổng hợp, đối chiếu kết quả thực nghiệm và đối chứng
Trang 206 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được cách thức sử dụng bản đồ tư duy để dạy học ôn tập phần Tiếng Việt 6 khả thi, hợp lí thì sẽ giúp cho học sinh hệ thống, ghi nhớ tốt kiến thức từ đó nâng cao kết quả học tập phần Tiếng Việt, tăng khả năng
sử dụng hiệu quả các đơn vị kiến thức đó trong học tập và trong đời sống
7 Cấu trúc luận văn
Luận văn bao gồm 3 phần: Phần mở đầu, Phần nội dung, Phần kết luận
và khuyến nghị
Trong đó, phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Cách thức tạo lập và sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học bài ôn tập Tiếng Việt lớp 6
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 2111
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Lí thuyết về Bản đồ tư duy
1.1.1 Khái niệm và sự ra đời của Bản đồ tư duy
Bản đồ tư duy (Mindmap) hay còn gọi là sơ đồ tư duy, bản đồ trí não,
tâm bản đồ là kết quả sáng tạo của Tony Buzan – một nhà khoa học người
Anh vào những năm 60 của thế kỉ trước
Bản đồ tư duy được biết đến đầu tiên là bản đồ tư duy về phương pháp động não được dùng nhằm phát triển trí tuệ ở trẻ em Cũng từ đó, bản đồ tư duy được nghiên cứu và áp dụng phổ biến hơn ở Anh trên nhiều lĩnh vực của đời sống hàng ngày Chẳng hạn như để thiết lập một kế hoạch làm việc cho mỗi cá nhân, một tình huống trong kinh doanh, trong gia đình hay những nội dung quản lý và giảng dạy trong giáo dục
Cho đến nay, bản đồ tư duy đã được biết đến và sử dụng nhiều hơn trên thế giới trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống Đã có rất nhiều nghiên cứu về khả năng ứng dụng của bản đồ tư duy như một công cụ tổ chức tư duy nền tảng
Adam Khoo, một nhà doanh nghiệp nổi tiếng Singapore, một diễn giả năng động nhất Châu Á, cũng là tác giả có nhiều cuốn sách bán chạy nhất về
bản đồ tư duy Ông quan niệm như sau: “Bản đồ tư duy là một công cụ tổ
chức tư duy Đây là phươngpháp dễ nhất chuyển tải thông tin vào bộ não của con người rồi đưa ra thông tin ra ngoài bộ não Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả…” [9; tr 77]
Trong cuốn sách Ứng dụng Bản đồ tư duy, năm 2008, Joyce Wycoff cũng mang đến cho độc giả những hình dung về bản đồ tư duy “cũng tương tự như
bản đồ đường phố giúp cho hành trình của bạn, bản đồ tư duy sẽ cung cấp cái nhìn toàn cảnh, bức tranh tổng thể về một chủ đề cụ thể và giúp bạn hoạch định lộ trình hay lựa chọn của mình” Tác giả nhấn mạnh “bản đồ tư duy lưu trữ lượng lớn thông tin một cách hiệu quả, nhưng phần quan trọng
Trang 2212
nhất là thấy được bản đồ tư duy cuối cùng không những dễ nhìn, dễ đọc mà hơn thế nữa còn sử dụng tiềm năng của bộ não theo cách rất thú vị Nó giúp phát triển những kỹ năng mới cho bộ não – những điều thường bị lướt qua trong các phương pháp dạy học truyền thống”
Từ những nhận định trên, có thể nhận thấy rằng, các nhà nghiên cứu ít nhiều cũng đã có sự gặp gỡ nhau trong cách giải thích khái niệm bản đồ tư duy Song rất khó có thể xác định được một định nghĩa hoàn chỉnh về thuật ngữ này
Trên cơ sở phân tích, tổng kết các quan niệm của các tác giả, chúng tôi tóm lược khái niệm về bản đồ tư duy như sau:
“Bản đồ tư duy là một loại bản đồ được cấu tạo bởi 1 từ trung tâm và những nhánh phát triển từ từ trung tâm; trong đó có sử dụng những màu sắc, đường nét, kí hiệu Bản đồ tư duy phản ánh khả năng tư duy, tổng hợp và phát triển ý của người thực hiện Nó có tác dụng làm tăng khả năng ghi nhớ và phát huy tiềm năng sáng tạo không ngừng của con người.”
1.1.2 Cấu trúc Bản đồ tư duy
Để khái quát về cấu trúc của một bản đồ tư duy chúng tôi xin lấy ví dụ một bản đồ tư duy về Kế hoạch năm học:
Hình: 1.1 BĐTD: Kế hoạch năm học
Nhìn vào BĐTD lập ở trên có thể thấy nó được cấu tạo bởi hai phần chính
Từ ở giữa bản đồ là: kế hoạch năm học
Trang 2313
Có 6 nhánh phụ tỏa ra từ trung tâm (trong đó có 2 nhánh để trống): chỉ
tiêu, chủ đề, biện pháp thực hiện, biên chế
Và từ đó lại thiết lập những nhánh phụ ở cấp độ nhỏ hơn Chẳng hạn:
nhánh chứa từ chỉ tiêu có thêm 3 nhánh phụ: GV, HS, Các HĐ khác
Chúng ta lại thấy tiếp một cấp độ nhỏ hơn từ chính các nhánh phụ của
BĐTD cấp độ này Ví dụ, ở nhánh GV: có thêm 3 nhánh phụ: giỏi cấp trường,
giỏi huyện, giỏi tỉnh
Như vậy, thông qua việc quan sát và phân tích cấu trúc của BĐTD ở trên chúng ta có thể khái quát cấu trúc của một BĐTD thông thường như sau Một bản đồ tư duy thông thường gồm có 2 phần chính:
Một là: từ trung tâm
Hai là: các nhánh phụ tỏa ra từ từ trung tâm
Trong đó: Từ trung tâm (hay còn gọi là từ khóa) thường biểu diễn một
ý tưởng chính hay hình ảnh đặc trưng, đại diện Từ trung tâm thường là một câu hay một cụm từ diễn đạt một ý hoàn chỉnh khái quát về nội dung cần triển khai Việc bắt đầu từ trung tâm, sẽ giúp cho sự tự do sáng tạo của bạn trải rộng một cách chủ động và sự thể hiện trở nên phóng khoáng hơn, tự nhiên hơn
Các nhánh phụ được tỏa ra từ từ trung tâm có tác dụng cụ thể hóa ý tưởng chính
Tùy thuộc vào chủ ý người lập bản đồ và sự phát triển ý mà các nhánh phụ có thể được phát triển theo các cấp độ nhỏ hơn (cấp độ 2, 3…) Khi đó các từ, hình ảnh khái quát đó lại trở thành từ trung tâm ở cấp độ 2 Các nhánh nhỏ được phát triển từ từ trung tâm ở cấp độ 2 có tác dụng thể hiện chủ đề ở mức độ sâu hơn
Ngoài từ trung tâm và các nhánh phụ, chúng ta cần phải kể đến yếu tố không thể thiếu làm nên nét độc đáo và thu hút của bản đồ tư duy đó là những
kí hiệu, màu sắc và hình ảnh, đôi khi còn là những mối liên hệ giữa các nhánh
Trang 2414
Ở từ trung tâm hoặc ở mỗi nhánh có thể sẽ được kí hiệu bởi những hình ảnh khác nhau, những màu sắc, kí hiệu khác nhau được chọn tùy thuộc vào chủ ý của người tạo lập Mục đích của việc sử dụng hình ảnh, màu sắc và kí hiệu là để giúp bản đồ tư duy trở nên đặc sắc hơn và giúp ghi nhớ nhanh và lâu hơn
Giữa các nhánh, các hình ảnh có sự kết nối với nhau Như chúng ta đã biết, bộ não làm việc bằng sự liên tưởng Khi chúng ta nối các nhánh lại sẽ giúp việc hiểu và nhớ nhiều thứ một lúc trở nên dễ dàng
1.1.3 Đặc điểm và cơ chế hoạt động
Bộ não của chúng ta có thể xử lý hầu hết các sự việc rất phức tạp nhưng
nó lại dựa trên những nguyên tắc hết sức đơn giản Theo nghiên cứu vào năm
1972 của tiến sĩ y học Richard Restak, quy luật tư duy của bộ não chính là:
mọi thông tin tồn tại trong não bộ của con người đều cần có các mối nối, liên kết để có thể được tìm thấy và sử dụng Khi có một thông tin mới được đưa vào bộ não, để được lưu trữ và tồn tại, chúng cần kết nối với các thông tin cũ
Trang 2515
Mỗi bán cầu não thực hiện những nhiệm vụ trí tuệ chuyên biệt: các dòng kẻ, chuỗi, chữ số và danh sách được xử lý bởi các kỹ năng thần kinh của bán cầu não trái; chức năng thần kinh của bán cầu não phải gồm sự tri nhận màu sắc, hình ảnh, nhịp điệu và khả năng không gian
Dù thực hiện các nhiệm vụ trí tuệ khác nhau nhưng hai bán cầu não luôn có sự phối hợp, liên kết với nhau Bán cầu não trái giúp con người đưa ra
lý luận và phân tích vấn đề Bán cầu não phải giúp con người có được sư cảm nhận và mơ mộng Mức độ hợp tác giữa chúng càng cao thì hoạt động của bộ não càng hiệu quả
Trong nghiên cứu của mình Tony Buzan đã chỉ ra rằng cơ chế hoạt
động của bộ não chúng ta là dựa trên hình ảnh với các mạng lưới liên tưởng
Và ông cũng đã khẳng định bản đồ tư duy cũng mang cơ chế hoạt động như
thế, dựa trên nguyên tắc tưởng tượng và liên kết Điều này chúng ta có thể
thấy rõ trong cấu trúc của bản đồ tư duy
Ở vị trí trung tâm bản đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện ý tưởng hay khái niệm chủ đạo Ý trung tâm sẽ được nối với các hình ảnh hay
từ khóa cấp 1 bằng các nhánh chính, từ các nhánh chính lại có sự phân nhánh đến các từ khóa cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn Cứ thế, sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được kết nối với nhau Chính sự liên kết này sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả về ý trung tâm một cách đầy
đủ và rõ ràng
Như vậy, bản đồ tư duy đã thể hiện ra bên ngoài cách thức mà não bộ chúng ta hoạt động, đó là liên kết, liên kết và liên kết Mọi thông tin tồn tại trong bộ não của con người đều cần có các mối nối, liên kết để có thể được tìm thấy và sử dụng Khi đó có một thông tin mới được đưa vào đó, để được lưu trữ và tồn tại, chúng cần kết nối với các thông tin cũ đã tồn tại trước đó Điều đặc biệt ở bản đồ tư duy đó là việc sử dụng các kí hiệu, màu sắc, hình ảnh, các đường cong làm kích thích khả năng tưởng tượng, liên tưởng
Trang 2616
của bộ não, giúp người xem tăng khả năng hình dung và tưởng tượng Do đó
có thể ghi nhớ thông tin một cách lâu nhất có thể
Như vậy, bản đồ tư duy là sự biểu thị cho cơ chế tư duy của bộ não, công cụ này hoạt động dựa trên các quy luật tư duy Nó không ngừng giúp người sử dụng lưu ý tới trung tâm của vấn đề và bằng liên kết, tưởng tượng,
nó sẽ là nguồn cảm hứng mạnh mẽ của tư duy logic và sáng tạo
1.1.4 Quy trình thiết kế bản đồ tư duy
Bản đồ tư duy là kết quả của sự liên kết và trí tưởng tượng của mỗi người Trước đây, khi bản đồ tư duy mới ra đời thì người ta thường thiết kế chúng trên những tờ giấy trắng đặt nằm ngang để có thể triển khai các nhánh trong bản đồ một cách dễ dàng Còn hiện nay với sự phát triển của khoa học công nghệ chúng ta đã có những phần mềm vẽ bản đồ tư duy như FreeMind hay Imindmap Tuy nhiên, dù có dùng phương tiện nào để lập bản đồ tư duy thì cũng đều cần phải trải qua những bước cơ bản
Trong cuốn Lập bản đồ tư duy của tác giả Tony Buzan, ông đã chỉ ra 7
bước để tạo lập một bản đồ tư duy thông thường, tuy nhiên để có thể hiểu một cách ngắn gọn và dễ nhất có thể chúng tôi xin thu gọn lại 7 bước trên thành 4 bước cơ bản
Bước 1: Tạo trung tâm của bản đồ tư duy
Lựa chọn từ khóa biểu thị cho chủ đề của bản đồ tư duy
Từ khóa viết bằng kiểu chữ mà bạn yêu thích, sử dụng màu sắc và hình ảnh minh họa phù hợp, tạo được ấn tượng
Hình: 1.3 Từ trung tâm
Trang 2717
Bước 2: Thiết lập nhánh chính – bản đồ tư duy cấp độ 1
Chọn một màu và vẽ một nhánh cong xuất phát từ hình ảnh trung tâm Lựa chọn từ khóa biểu thị nội dung của nhánh chính và viết trên nhánh Tương tự sử dụng những màu sắc khác đối với những nhánh xuất phát
từ hình ảnh trung tâm Mỗi nhánh biểu thị một khía cạnh của chủ đề
Điều quan trọng cần lưu ý là sự kết nối giữa các nhánh, bởi điều này sẽ tạo nền hay thiết lập cấu trúc nền tảng trong suy nghĩ và liên tưởng của chúng
ta Chúng ta cần vẽ những nhánh cong để thu hút sự chú ý của mắt
Hình: 1.4 Thiết lập nhánh chính của bản đồ tư duy Bước 3: Hình thành các nhánh nhỏ - Bản đồ tư duy cấp độ 2, 3…
Từ các nhánh chính vẽ các nhánh nhỏ để cụ thể hóa nội dung nhánh chính
Cấp độ phân xuất nhánh tương ứng với cấp độ của bản đồ tư duy Bản
đồ tư duy ở cấp độ càng cao thì nội dung, ý tưởng chủ đề càng được phân tích
cụ thể
Hình: 1.5 Thiết lập các nhánh phụ của bản đồ tư duy
Trang 2818
Bước 4: Lựa chọn hình ảnh, từ khóa cho mỗi nhánh
Mỗi từ hay hình ảnh có tính linh hoạt cao, có thể mang đến những liên tưởng thú vị, khơi dậy ý tưởng mới Chính vì vậy, cần sử dụng hình ảnh và từ khóa trong suốt quát trình xây dựng bản đồ tư duy
Hình: 1.6 BĐTD: Các đồ lưu niệm bạn thích 1.1.5 Khả năng ứng dụng Bản đồ tư duy vào dạy học
1.1.5.1 Tác dụng của bản đồ tư duy
Với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động của bộ não, bản đồ tư duy
sẽ giúp con người:
Tiết kiệm thời gian, công sức
Nhờ vào việc tận dụng những từ khóa và hình ảnh sáng tạo, một khối lượng kiến thức dài vài trang giấy có thể được ghi chú hết sức cô đọng chỉ một trang, mà không bỏ sót bất kì một thông tin quan trọng nào Tác dụng này
có hiệu quả tối đa khi chúng ta sử dụng bản đồ tư duy trong việc khái quát, hệ thống hóa kiến thức đã được học của học sinh
Khi cần phải hệ thống kiến thức của chương sách dài 20 trang chúng ta chỉ cần cụ thể qua 2-3 trang bản đồ tư duy Những người khác có thể mất một tiếng hoặc hơn thế nữa để hoàn tất việc ôn lại cùng một chương sách mà vẫn
có thể bỏ sót thông tin trong khi chúng ta chỉ cần 20 phút để ôn lại toàn bộ kiến thức một cách hoàn chỉnh Như vậy, so sánh với cách học truyền thống
Trang 29lý hơn so với một số quyển sổ liệt kê các công việc thông thường Với bản đồ
tư duy người ta sẽ có cách giải quyết công việc một cách khoa học hơn, hiệu quả hơn
Tổ chức và phân loại suy nghĩ
Có thể nói bộ não của chúng ta như một cái kho sách với đủ các loại sách khác nhau Và sự lộn xộn của kho sách ấy chính là sự lộn xộn của những thông tin, kiến thức có trong bộ não người Hầu hết thời gian con người thu nhận thông tin một cách có ý thức và không có ý thức Thế nhưng những thông tin ấy không được lưu trữ theo thứ tự ngăn nắp để dễ dàng tìm lại sau này Do đó con người cảm thấy khó khăn trong việc hồi tưởng lại thông tin được lưu trữ trong não Một trong những bí quyết để phát huy trí nhớ là sử dụng bản đồ tư duy phát triển một hệ thống mục lục thông tin trong não bộ Với những hình ảnh, kí hiệu, màu sắc và hệ thống từ khóa, bản đồ tư duy sẽ giúp con người nhớ lại kiến thức một cách nhanh chóng khi cần
Kích thích tiềm năng sáng tạo
Chúng ta thấy ngoài việc sử dụng các từ khóa, bản đồ tư duy còn vận dụng được khá nhiều các nguyên tắc làm tăng khả năng ghi nhớ của não bộ từ
Trang 3020
đó tăng khả năng tiếp thu bài nhanh hơn Cụ thể, bản đồ tư duy đòi hỏi người
sử dụng phải:
Hình dung: Bản đồ tư duy có rất nhiều hình ảnh giúp con người có thể
hình dung về kiến thức cần nhớ Đối với não bộ, bản đồ tư duy giống như một bức tranh lớn đầy hình ảnh, màu sắc Nó phong phú hơn là một bài học khô khan, nhàm chán
Ghi nhớ, liên tưởng: Bất cứ khi nào thông tin được xuất hiện trong bộ
não, thì Bản đồ tư duy cho phép các ý tưởng được ghi lại rất nhanh ngay khi
nó được sinh ra vào một hệ thống tổ chức Vì thế chẳng cần phải viết cả một câu Bản đồ tư duy như một phương tiện nhanh và hiệu quả trong việc tổng quát và vì thế giữ lại các hồi tưởng rất nhanh gọn bản đồ tư duy hiển thị sự liên kết giữa các ý tưởng một cách rất rõ ràng
Sáng tạo: Bản đồ tư duy sẽ giúp con người giải phóng cách suy diễn cổ
điển với phương thức ghi chép sự kiện theo dòng tẻ nhạt, đơn điệu Bản đồ tư duy cho phép các ý tưởng mới được hình thành nhanh chóng theo luồng tư duy xuất hiện Các ý tưởng trọng tâm được nổi bật với việc sử dụng những màu sắc kích cỡ, hình ảnh đa dạng Để xây dựng bản đồ tư duy hoàn chỉnh người tạo lập phải vận dụng trí tưởng tượng sáng tạo đầy phong phú của mình, tạo sự liên kết chặt chẽ với tất cả những gì được học Ngoài ra, mỗi người cũng có thể xây dựng bản đồ tư duy theo cách chủ quan, cá nhân, cốt làm sao giúp học ứng dụng một cách hiệu quả nhất
Sử dụng rộng rãi, hiệu quả và dễ dàng ở mọi lĩnh vực
Sử dụng rộng rãi, hiệu quả và dễ dàng ở mọi lĩnh vực như: học tập, nghiên cứu, thuyết trình, kinh doanh, các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội… Hầu hết các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới hiện nay đều sử dụng bản
đồ tư duy như là một phương pháp củng cố, hệ thống, tìm ra cách thức, giải pháp nâng cao năng suất và hiệu quả công việc cho tập đoàn của mình
Trang 3121
1.1.5.2 Khả năng ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học
Ứng dụng bản đồ tư duy như một phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là cách thức tiến hành các hoạt động của người dạy và người học nhằm thực hiện nội dung dạy học đã được xác định Bằng phương pháp dạy học, người dạy có thể tổ chức các hoạt động dạy học hướng tới mục tiêu xác định Bản đồ tư duy có thể được ứng dụng như một cách tiếp cận trong tổ chức các hoạt động dạy học, nhằm đạt được mục tiêu dạy học Ứng dụng bản đồ tư duy như một phương pháp dạy học là nhấn mạnh việc giáo viên ứng dụng cách tiếp cận của bản đồ tư duy để thiết kế các hoạt động dạy học Cách tiếp cận đó diễn ra theo hướng xuất phát từ một hoạt động trung tâm, giáo viên xác định những hoạt động phân nhánh khác, nhằm hỗ trợ hoạt động trung tâm đạt mục đích, hiệu quả
Ví dụ:
Trong hoạt động bình giảng văn học, giáo viên có thể chọn hoạt động chủ đạo là hoạt động phân tích nhân vật Để làm sáng tỏ nội dung hoạt động này giáo viên sẽ tiến hành (hoạch định) hàng loạt những hoạt động phân nhánh khác
Hình: 1.7 BĐTD: Hoạt động phân tích nhân vật
Trang 3222
Ứng dụng bản đồ tư duy như một phương tiện dạy học
Không chỉ được ứng dụng như một phương pháp dạy học, bản đồ tư duy còn có thể được ứng dụng như một phương tiện dạy học Với vai trò của một phương tiện dạy học, bản đồ tư duy có khả năng truyền đạt thông tin, trình bày thông tin và hỗ trợ việc ghi nhớ trong quá trình dạy học
Bản đồ tư duy là phương tiện truyền tin
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, tỷ lệ vai trò của các giác quan trong việc thu nhận tri thức có sự chênh lệch đáng kể
Bảng: 1.1 Thống kê tỉ lệ vai trò của các giác quan
trong việc thu nhận tri thức
Bản đồ tư duy là phương tiện trình bày thông tin
Bản đồ tư duy hình thành theo cơ chế bản đồ mở rộng Cùng với việc phân nhánh bản đồ tư duy, các thông tin có thể liên tiếp được trình bày và nội dung, ý tưởng càng được khai thác sâu rộng hơn Bằng một bản đồ tư duy, người học vừa có thể trình bày những thông tin thu thập được một cách hệ thống
Trang 3323
Bản đồ tư duy là phương tiện hỗ trợ cho quá trình ghi nhớ thông tin Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, tri thức còn lưu lại trong trí nhớ bằng các hoạt động học tập là không giống nhau
Bảng: 1.2 Tỉ lệ tri thức lưu lại trong trí nhớ
Căn cứ vào kết quả trên, có thể thấy rằng, tỷ lệ tri thức còn lưu lại trong
trí nhớ đạt được ở mức cao nhất (90%) là nhờ hoạt động tự làm và trình bày
Bản đồ tư duy là phương tiện dạy học phát huy được hiệu quả này Học sinh
có thể nhánh chóng trình bày tri thức, những thông tin thi thập được trên một bản đồ tư duy Bởi bản đồ tư duy hoạt động theo cơ chế của bộ não Thông qua việc tự trình bày thông tin trên bản đồ tư duy, học sinh sẽ có được một phương tiện phục vụ cho việc ghi nhớ của người học
1.2 Thực trạng dạy học bài ôn tập Tiếng Việt 6
1.2.1 Hoạt động dạy của giáo viên
Trước đây, trong ba học phần Văn học, Làm văn và Tiếng Việt thì phần Văn học vẫn được cả giáo viên và học sinh dành nhiều thời gian và công sức
để dạy và học hơn nhiều so với phần Làm văn và Tiếng Việt Hiện nay, phần Tiếng Việt cũng đã được đầu tư hơn song mới chỉ dừng lại ở ít bộ phận giáo viên còn về phía học sinh thì vẫn chưa có những chuyển hướng rõ rệt
Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 7 giáo viên bộ môn Ngữ văn thuộc hai trường THCS Tân Hưng và THCS Gia Tân thuộc tỉnh Hải Dương
Trang 3424
- Nội dung khảo sát: Tìm hiểu hoạt động dạy học ôn tập Tiếng Việt của giáo viên bộ môn Ngữ văn tại hai trường THCS Tân Hưng và THCS Gia Tân, tỉnh Hải Dương
- Cách thức tiến hành: Phỏng vấn qua bảng hỏi
- Kết quả thu được:
Ở nhiều trường học, với lối dạy và học truyền thống, rất nhiều giáo viên thường không coi trọng và không đặt nhiều tâm huyết vào các bài ôn tập Tiếng Việt – tiết học mà lẽ ra giáo viên cần phải quan tâm và đầu tư nhiều hơn
Qua phỏng vấn khảo sát các giáo viên dạy Ngữ văn tại hai trường THCS Tân Hưng và THCS Gia Tân thuộc tỉnh Hải Dương cho kết quả như sau:
Đối với những bài ôn tập chung:
Bảng:1.3.Thống kê tỉ lệ cách dạy học ôn tập của GV bài ôn tập chung
Cách ôn tập Ghi lại kiến thức trên bảng Phát tài liệu (file word) Cách khác
Đối với tiết học bài mới
Bảng:1.4 Thống kê tỉ lệ cách dạy học ôn tập của GV bài mới
Cách ôn tập Cho HS đọc lại phần ghi nhớ Gạch ý chính trên bảng Cách khác
Dựa vào hai bảng khảo sát trên có thể thấy hầu hết các giáo viên thường
ôn tập cho học sinh bằng cách hệ thống lại những kiến thức thông qua việc ghi lại kiến thức đó trên bảng, hoặc cho các em tự chép lại các phần ghi nhớ trong SGK, hoặc phát cho các em một tài liệu hệ thống lí thuyết để ôn tập
Trang 35mà không có sự hệ thống lại một cách rõ ràng, cụ thể, dễ nhớ
Như vậy, ngay từ cách ôn tập chưa thực sự khoa học và thiếu đầu tư sẽ
là một nguyên nhân dẫn đến việc giảm hứng thú học tập cho các em
Rõ ràng, cách ôn tập thông thường này chưa thực sự đem đến hiệu quả cho các em trong quá trình ôn tập và học Hầu hết, việc ôn tập với các em chỉ xem như một cách học để đối phó với các bài kiểm tra trên lớp
Như đã nói ở trên, mục đích của luận văn ngoài việc giúp các em có nền tảng cho việc học và sử dụng tiếng Việt trong học tập thì luận văn còn hướng đến việc tạo thói quen tư duy và sử dụng ngôn ngữ cho học sinh trong cuộc sống, làm nền tảng cho sự phát triển tư duy và ngôn ngữ sau này
1.2.2 Hoạt động học của học sinh
1.2.2.1 Về hứng thú học tập của học sinh
Hứng thú nhận thức
Sang đến bậc THCS khối lượng và độ khó về mặt kiến thức của các môn học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng đã được tăng lên Các tác phẩm phần Văn học đã được nâng cao về mặt dung lượng và độ sâu Với phân môn Tiếng Việt chương trình được xây dựng ở các cấp độ cao hơn, từ tìm hiểu từ đến câu rồi các biện pháp tu từ Phần Làm văn, do sự nâng cao về hai phân môn trước nên phần Làm văn cũng đòi hỏi học sinh khả năng tư duy, tổng hợp cao hơn Do đó ở giai đoạn này, các em có sự phân hóa sâu hơn với những bài học mà mình thích hay không thích, mức độ nhận thức của các em phụ thuộc vào độ hứng thú mà phương pháp dạy học của giáo viên đóng vai trò quan trọng
Trang 36để có thành tích cao trong học tập, được khen thưởng, được hãnh diện với người thân, bạn bè Đối với một số em khác, các em lại coi việc học là để lĩnh hội kiến thức Cho dù động cơ học tốt môn Ngữ văn của các em là gì thì chúng ta cũng phải thấy một điều đó là, môn Ngữ văn là một trong 2 môn chính có trong kỳ thi vào cấp 3, do đó dù muốn hay không các em vẫn phải nghiêm túc trong việc học tập để có thể tiến xa hơn trên con đường tri thức của mình
Về thái độ
Như đã nói ở trên, giai đoạn này, học sinh đã có sự phân hóa về mức độ thích hay không thích môn học nào, do đó dù là 1 trong 2 môn chính thi Tốt nghiệp và cấp 3 thì chúng ta vẫn thấy được mức độ hứng thú, thái độ học tập môn Ngữ văn ở các em là khác nhau Với những em xác định thi lên cấp 3 vào các lớp chuyên Văn thì ở các em có thái độ học tập nghiêm túc hơn các
em thi ban thường và ban chuyên tự nhiên
Để tìm hiểu về hứng thú học tập của học sinh với học phần Tiếng Việt, chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát với học sinh thuộc 2 trường đã chọn
Cụ thể:
- Đối tượng khảo sát:
+ Học sinh lớp 6A, 6B, 6C trường THCS Tân Hưng
+ Học sinh lớp 6A, 6B, 6C trường THCS Gia Tân
(Tổng: 214 học sinh)
Trang 3727
- Nội dung khảo sát: Tìm hiểu hứng thú học tập Tiếng Việt của học sinh 6 lớp trên
- Cách thức tiến hành: Điều tra bằng phiếu hỏi (Xem Phụ lục 1)
- Kết quả thu được:
Sau khi phát phiếu điều tra tại 6 lớp trên, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Về mức độ hứng thú của học sinh với học phần Tiếng Việt:
Bảng:1.5 Thống kê tỉ lệ học sinh hứng thú với học phần Tiếng Việt
1.2.2.2 Về cách học bài ôn tập Tiếng Việt 6 của học sinh
Cùng với đối tượng, cách thức tiến hành khi khảo sát mức độ hứng thú của học sinh với học phần Tiếng Việt, chúng tôi cũng tiến hành điều tra, khảo sát với nội dung thứ hai: Tìm hiểu về cách học bài ôn tập Tiếng Việt 6 của học sinh
Kết quả như sau:
Trang 38Chỉ ôn khi tiết sau KT
Học và ôn tập thường xuyên Tổng
- Nhận xét, đánh giá
Nhìn vào bảng thống kê kết quả điều tra ở trên, chúng tôi tạm rút ra một
số nhận xét, đánh giá như sau:
Cách ôn tập thông thường nhất mà các em hay sử dụng đó là học thuộc phần Ghi nhớ trong SGK và phần ghi chép trong vở
Chép lại lí thuyết ra vở để học cũng là sự lựa chọn của một số em, tuy nhiên phỏng vấn một vài em thì hầu hết các em đều trả lời chỉ khi nào có nhiều thời gian mới ngồi làm đề cương để học Như vậy, sự ôn tập diễn ra không liên tục
Trong số 3 em lựa chọn cách lập ý khác thì cả 3 em cho đáp án thường
sử dụng sơ đồ, học theo cách hướng dẫn ôn tập trong phần cuối của SGK Ngữ văn 6, tập 2
Trang 3929
Rõ ràng, có thể thấy rằng việc ôn tập phần Tiếng Việt của các em chưa được chú trọng, tất cả vẫn phụ thuộc vào hứng thú nhiều mà chưa rèn thành kĩ năng, thói quen
Tiếng Việt là học phần quan trọng, cung cấp cho các em phương tiện để giao tiếp hàng ngày, là phương tiện để giúp các em học tốt hai học phần Văn học và Làm văn nhưng lại chưa được coi trọng Dựa vào kết quả phỏng vấn sau khi phát phiếu điều tra, kết hợp với những đánh giá mang tính chủ quan của người viết, chúng tôi tạm đưa ra một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó:
Thứ nhất: do quan niệm của người dạy và người học về môn Ngữ văn
Hầu hết cả giáo viên và học sinh khi tiếp cận môn Ngữ văn đều coi trọng phần Văn hơn phần Ngữ Từ quan niệm học Ngữ văn là học các tác phẩm, cảm thụ các tác phẩm văn học, đi thi cũng là thi viết văn, thi về các tác phẩm văn học nên vai trò của phần Ngữ đã bị ẩn lấp cho dù đây là phần có ý nghĩa ngang bằng với phần Văn Do đó, trước khi có những sự thay đổi trong cách dạy, cách học cả giáo viên và học sinh cần thay đổi cách quan niệm về học phần Tiếng Việt, phải hiểu được ý nghĩa và vai trò to lớn của học phần này không chỉ trong học tập mà còn trong cả đời sống
Thứ hai: từ quan điểm có phần sai lệch trên sẽ dẫn tới việc xem nhẹ,
giảm hứng thú dạy và học phần Tiếng Việt Dẫn tới việc giáo viên không đầu
tư nhiều thời gian và công sức cho bài dạy, học sinh không quan tâm nhiều đến các đơn vị kiến thức Bài giảng trở nên sơ sài, giờ học thiếu hứng thú Và đương nhiên, sẽ dẫn tới việc kĩ năng sử dụng từ và câu của học sinh không tốt, bài viết của các em sẽ mắc nhiều lỗi chưa nói tới việc sử dụng từ ngữ trong cuộc sống sẽ có nhiều lúng túng Điều đó cũng giải thích lí do tại sao một số em nói giờ học vô vị, nhàm chán Vấn đề này, trước tiên cần có sự thay đổi trong cách quan niệm, trong cách dạy của giáo viên
Thứ ba: do bị mất kiến thức nền tảng từ cấp I Khi phỏng vấn một số
em học sinh lí do tại sao không thích học phần Tiếng Việt đã có em trả lời do
Trang 40Vấn đề cốt lỗi là người giáo viên cần tạo cho học sinh một môi trường học tập thoải mái nhưng vẫn trong khuôn khổ, tạo được hứng thú học tập cho học sinh Giờ học cần có sự sôi nổi, các em cần được lĩnh hội các kiến thức và được thể hiện những tư duy, sáng tạo của bản thân để mỗi ngày đến trường thực sự là một ngày vui