Từ thuở ấu thơ các em đã được đến với thế giới nghệ thuật dân gian qua những câu chuyện thần thoại, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn …Nhưng ở mỗi một lứa tuổi, theo sự phát triển của tư d
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ KIM ANH
RÈN KĨ NĂNG TỰ HỌC TRUYỆN DÂN GIAN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ PHUƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
MÃ SỐ 60 14 10
HÀ NỘI – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ KIM ANH
RÈN KĨ NĂNG TỰ HỌC TRUYỆN DÂN GIAN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ PHUƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
MÃ SỐ 60 14 10
Nguời huớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thúy Hồng
HÀ NỘI – 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của:
Lãnh đạo trường Đại học giáo dục – Đại học quốc gia Hà Nội, các phòng khoa và các thầy cô trường Đại học giáo dục
Lãnh đạo trường THPT Gia Lộc, THPT Nguyễn Tất Thành
Các bạn đồng nghiệp và học sinh trường THPT Gia Lộc, THPT Nguyễn Tất Thành
Đặc biệt sự hướng dẫn nhiệt tình của PGS.TS Nguyễn Thúy Hồng
Với tấm lòng trân trọng, tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của quý thầy cô, các bạn và các em học sinh
Dù đã rất cố gắng song chắc chắc luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự góp ý của các thầy cô và các bạn đồng nghiệp
Hà Nội tháng 12 năm 2013
Tác giả
Phạm Thị Kim Anh
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNTT: công nghệ thông tin
Trang 5MỤC LỤC
Mở đầu 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
2.1 Tự học trong nhà trường 2
2.2 Tự học trong môn Ngữ văn 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiêncứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu……….4
4.2 Phạm vi nghiên cứu………4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết………5
5.1 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn……… 5
6 Cấu trúc luận văn 5
Chương I: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài 1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Tự học 6
1.1.2 Kĩ năng tự học 14
1.1.3 Truyện dân gian và kĩ năng tự học truyện dân gian 19
1.1.4 1.2 Cơ sở thực tiễn 31
1.2.1.Chương trình VHDG lớp 10……… 31
1.2.2 Thực trạng rèn kĩ năng tự học truyện dân gian cho HS THPT 34
Kết luận chương 1……… 44
Chương 2: Một số biện pháp rèn kĩ năng tự học truyện dân gian cho HS THPT……….45
2.1 Những căn cứ đề xuất biện pháp rèn kĩ năng tự học truyện dân gian
Trang 6cho HS THPT ………45
2.1.1 Căn cứ vào chương trình giáo dục phổ thông… 45
2.1.2 Căn cứ vào đặc điểm tâm lí nhận thức của HS THPT 45
2.1.3 Căn cứ vào định hướng đổi mới PPDH môn học và phần học 46
2.1.4 Căn cứ vào thực tế rèn kĩ năng tự học truyện dân gian cho HS THPT 48
2.2 Một số kĩ năng tự học truyện dân gian cần hình thành………48
2.2.1 Kĩ năng thu thập thông tin……….49
2.2.2 Kĩ năng xử lí thông tin……… 49
2.2.3 Kĩ năng hợp tác trao đổi thông tin……….50
2.2.4 Kĩ năng tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả học tập……… 51
2.3 Một số biện pháp rèn kĩ năng tự học truyện dân gian cho HS THPT…… 52
2.3.1 Nhóm biện pháp rèn kĩ năng thu thập thông tin về truyện dân gian cho HS THPT………52
2.3.2 Nhóm biện pháp rèn kĩ năng xử lí thông tin trong tự học truyện dân gian cho HS THPT……… 64
2.3.3 Nhóm biện pháp rèn kĩ năng hợp tác trao đổi thông tin………68
2.3.4 Nhóm biện pháp rèn kĩ năng tự kiểm tra – đánh giá và tự điều chỉnh trong tự học truyện dân gian……….73
Kết luận chương 2……….76
Chương 3: Thực ng hiệ m s ư phạm … 77
3.1 Mục đích thực nghiệm……… ……… 77
3.2 Đối tượng thực nghiệm……….77
3.3 Nội dung thực nghiệm……… 79
3.4 Phương pháp tiến hành thực nghiệm………79
3.4.1 Cách tiến hành……… 79
3.4.2 Cách đánh giá ……… 80
3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm……….81
3.3.1 Nhận xét chung về kết quả thực nghiệm………81
Trang 73.3.2 Kết quả thực nghiệm cụ thể……… 81
Kết luận chương 3……… ……… 84
Kết luận và khuyến nghị……… 85
1 Kết luận……… 85
2 Khuyến nghị……… 86
Tài liệu tham khảo……… 88
Trang 8
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Chương trình dạy học VH dân gian cho HS THPT………31 Bảng 1.2 Chương trình dạy học truyện dân gian cho HS THPT…………33 Bảng 1.3 Thực trạng nhận thức của học sinh THPT về tác dụng của tự
học………35 Bảng 1.4 Thực trạng về kĩ năng tự học của học sinh THPT………37 Bảng 1.5 Thực trạng hoạt động dạy – tự học của giáo viên……….40 Bảng 1.6 Thực trạng rèn kĩ năng tự học truyện dân gian cho học sinh THPT
……… 41 Bảng 3.1 So sánh trình độ HS trước khi dạy thực nghiệm……… 78 Bảng 3.2 So sánh trình độ HS sau khi dạy thực nghiệm……… 82 Biểu đồ 3.1: So sánh kết quả học tập trước khi dạy thực nghiệm………….78 Biểu đồ 3.2: So sánh kết quả học tập sau khi dạy thực nghiệm………82
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1 Bất kì thời đại xã hội nào cũng luôn tồn tại nghịch lí: tri thức là vô hạn mà kiến thức của từng người thì có hạn, điều cần học thì nhiều mà thời gian học thì ít, nhu cầu hiểu biết của con người thì cao mà năng lực của mỗi người lại có hạn chế Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay thì khoảng cách ấy lại ngày càng lớn nếu như mỗi người không tích cực tự bồi đắp kiến thức cho mình Tăng cường tự học, tự nghiên cứu là cách làm có hiệu quả nhất của con người để rút ngắn khoảng cách đó Vấn đề tự học và học suốt đời hiện nay đã trở thành một xu thế trên thế giới Theo đó việc học của mỗi người không chỉ đóng khung trong nhà trường, trong thời gian đi học mà là học bất kì lúc nào, học bất kì nơi nào và học suốt đời Để làm được điều đó, người học phải có năng lực tự học, tự nghiên cứu; nhà trường phải thay đổi cách dạy: dạy học sinh cách học trong đó có dạy cách tự học
2 Cũng như các môn học khác, môn Ngữ văn không thể đứng ngoài mục tiêu đào tạo, giáo dục hiện nay Ngày nay việc dạy văn không còn chỉ quan tâm đến dạy cho HS kiến thức mà là “dạy cho học sinh biết cách tự đọc, lấy việc tự đọc nuôi việc tự học, từ đó mà lớn lên, tham gia chủ động vào các hoạt động xã hội” (Trần Đình Sử) Nghĩa là chú trọng hình thành cho học sinh kĩ năng tự đọc,
từ đó làm cơ sở cho kĩ năng tự học Quan điểm, chủ trương là vậy nhưng thực tế dạy học Văn hiện nay cho thấy: việc dạy – học Văn vẫn nặng về trang bị kiến thức mà nhẹ về trang bị kĩ năng Những kĩ năng tự học của HS lại càng chưa được chú trọng Chính bởi vậy mà HS tỏ ra khá lúng túng trong việc tự học môn Ngữ văn – môn học đòi hỏi khá cao ở kĩ năng tự học của HS
3 Truyện dân gian là nhóm thể loại khá quen thuộc với HS Từ thuở ấu thơ các em đã được đến với thế giới nghệ thuật dân gian qua những câu chuyện thần thoại, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn …Nhưng ở mỗi một lứa tuổi, theo sự phát triển của tư duy, của tâm lí nhận thức, người học lại có những cách nhìn, cách cảm thụ khác nhau về truyện dân gian Vì thế, ở mỗi một cấp học, mỗi câu
Trang 10chuyện dân gian lại đem đến cho người học những thông tin vừa quen thuộc vừa
lạ lẫm, vừa gần gũi vừa mới mẻ tạo nên sức hấp dẫn riêng Chính bởi những điều hấp dẫn đó mà truyện dân gian mở ra nhiều cơ hội cho người học tự học, tự khám phá
Thêm vào đó, trong chương trình THPT, truyện dân gian được dạy học ngay từ những tuần đầu của học kì 1 chương trình Ngữ văn 10 Đây là thời điểm rất phù hợp để rèn kĩ năng tự học bởi hình thành kĩ năng là cả một quá trình Nếu kĩ năng tự học được chú trọng rèn ngay từ đầu cấp học sẽ tạo tiền đề, cơ sở vững chắc cho HS trong việc học các phần học tiếp theo trong nhà trường cũng như ngoài nhà trường
Để đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi của thời đại, đặc trưng của môn học, phần học
và yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, việc rèn luyện kĩ năng tự học truyện dân gian cho học sinh THPT có ý nghĩa vô cùng cấp thiết Với những lí
do trên, chúng tôi chọn đề tài: Rèn kĩ năng tự học truyện dân gian cho học sinh Trung học phổ thông
“Tự học như thế nào” của Rubakin xuất b ả n 1982 đã giúp bạn đọc biết tự học tập, nâng cao kiến thức toàn diện cho mình Cuốn “Phương pháp dạy và học hiệu quả” – Cark Rogers – một nhà giáo dục học, nhà tâm lý học người Mĩ
đã giải đáp cho HS câu hỏi học cái gì và học như thế nào? Câu hỏi dạy cái gì
và dạy như thế nào cũng được giải đáp Ngoài ra, còn khá nhiều cuốn sách
Trang 11cũng đề cập đến vấn đề tự học
Ở nước ta, trong những năm gần đây vấn đề tự học rất được quan tâm Tác giả Vũ Quốc Anh có bài viết: “Tạo ra năng lực tự học sáng tạo của HS THPT” Tại Hà Nội năm 1998, một cuộc hội thảo khoa học với tiêu đề “Nghiên cứu tự học – tự đào tạo” đã được tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều giáo sư đầu ngành Trong cuộc hội thảo này, nội dung các bài viết, các bài phát biểu đều nhấn mạnh tầm quan trọng của tự học và yêu cầu các cấp, các ngành phải chăm lo xây dựng phong trào tự học toàn dân Bên cạnh đó, còn có một số cuốn sách đã được xuất bản như “Tôi tự học” – Nguyễn Duy Cần, “Tự học là một nhu cầu của thời đại” – Nguyễn Hiến Lê, “Luận bàn và kinh nghiệm
tự học” – Nguyễn Cảnh Toàn Những cuốn sách này chủ yếu đúc kết những kinh nghiệm quý báu trong quá trình tự học của một số tác giả Đặc biệt, Trung tâm nghiên cứu và phát triển tự học còn cho ra mắt bạn đọc tạp chí “Tự học” Tạp chí này đã thu hút sự quan tâm chú ý và sự tham gia luận bàn về vấn
đề tự học của nhiều nhà khoa học, giáo sư, nhà giáo
Cuốn “Học và dạy cách học” do tác giả Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên là một trong những cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam viết một cách có hệ thống về việc “học” và “dạy cách học” Cuốn sách này thực sự là tài liệu bổ ích giúp cho việc đổi mới phương pháp dạy và học ở Việt Nam, đặc biệt là quá trình dạy tự học
2.2 Tự học trong môn Ngữ văn
Ngữ văn là một môn học có những đặc trưng riêng nên tự học trong môn Ngữ văn cũng có những nét khác biệt Cuốn “Áp dụng dạy và học tích cực trong môn Văn học” do nhóm tác giả Trần Bá Hoành, Nguyễn Trí, Cao Đức Tiến, Nguyễn Trọng Hoàn biên soạn đã nói đến một trong những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực đó là tự học Trong bài: “Dạy văn để HS tự học văn”, GS Phan Trọng Luận đặt ra yêu cầu và mục tiêu của việc dạy Văn là dạy
HS cách tự học Văn Trong các luận văn, luận án, bài viết của các tác giả gần đây, vấn đề tự học cũng rất được quan tâm Hai tác giả Phạm Thị Xuyến và Vũ
Thị Sáu trong hai cuốn luận văn Dạy học văn học sử theo hướng hình thành và
Trang 12phát triển năng lực tự học ở học sinh lớp 10 và Hình thành thói quen tự học cho học sinh THPT qua bài học Văn học sử (tác gia) đã quan tâm đến việc hình thành năng lực, thói quen tự học trong phần văn học sử Tác giả Trần Thị Hương Mai trong luận văn Dạy học phần đọc thêm các tác phẩm tự sự trong chương trình Ngữ văn lớp 12 theo hướng tự học có hướng dẫn lại đi sâu nghiên cứu dạy
học các bài đọc thêm theo hướng tự học có hướng dẫn Ngoài ra còn có một số
bài viết khác như Cách tự học môn Ngữ văn hiệu quả (Nguyễn Văn Phiên), Rèn
kĩ năng tự học môn Ngữ văn (Đặng Quang Sơn) trong đó các tác giả mới đề xuất
những cách làm mang tính chất kinh nghiệm chứ chưa đi sâu nghiên cứu kĩ vấn
đề…
Như vậy, qua tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi nhận thấy: Lí luận chung về tự học đã được các tác giả nghiên cứu khá kĩ tạo ra cơ sở lí luận vững chắc cho những nghiên cứu tiếp theo về tự học Tuy nhiên có rất ít công trình nghiên cứu chuyên sâu về các khía cạnh cụ thể của tự học như năng lực tự học, kĩ năng tự học…Riêng ở bộ môn Ngữ văn, những nghiên cứu sâu về kĩ năng tự học các phần học cụ thể như Tiếng Việt, Làm văn, Đọc văn (trong đọc văn có đọc văn bản văn học) cũng chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp sư phạm nhằm hình thành kĩ năng tự học truyện dân gian cho HS THPT qua đó phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong quá trình dạy-học truyện dân gian nói riêng và TPVC nói chung; từ đó, nâng cao
chất lượng các giờ dạy học truyện dân gian trong chương trình THPT
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Kĩ năng tự học truyện dân gian trong chương trình
Ngữ văn THPT
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Biê ̣n pháp hình thành kĩ năng tự học truyện dân gian
cho học sinh lớp 10 THPT
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Tìm hiểu các tài liệu, sách báo, văn kiện của Đảng và Nhà nước, nội dung kiến thức của quá trình học tập cao học, các tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: khảo sát bằng phiếu điều tra, phỏng vấn đối với
- Phương pháp thực nghiệm: ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có cấu trúc sau:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu
- Chương 2: Một số biện pháp rèn kĩ năng tự học truyện dân gian cho học sinh THPT
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14Tự học là một khái niệm rất rộng và trừu tượng Ở Việt Nam có một
số nhà nghiên cứu về giáo dục học đã đi sâu phân tích khái niệm này
Trong Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, tác giả Thái Duy
Tuyên viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo,
là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học” [30]
Tác giả Trần Bá Hoành cho rằng: “Tự học là người học tích cực chủ động,
tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình
Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình
cá nhân hóa việc học” [29]
Còn theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, ) và
có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý chí muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình [22]
Trên thế giới khái niệm tự học cũng được tập trung nghiên cứu từ cuối thế kỉ XX Tác giả Candy (1987) đã xác định có ít nhất 30 khái niệm khác nhau được sử dụng đồng nghĩa với khái niệm tự học Ví dụ, ông liệt kê ra tự học, học
Trang 15tập độc lập, người học tự kiểm soát, hướng dẫn bản thân, học tập phi truyền thống, học tập mở, tham gia học tập, tự học, tự giáo dục, học tập tự tổ chức, tự học theo kế hoạch, tự chịu trách nhiệm về việc học, tự học và tự dạy… Trong quá trình nghiên cứu về tự học, một số tác giả đi đến thống nhất: có hai phương diện liên quan đến tự học đó là tính cách của người học và phương pháp học tập Đặc điểm tính cách hay "tính tự định hướng của người học" thuộc về bản chất của người học và là những đặc trưng cá nhân cho phép họ thể hiện "mong muốn chịu trách nhiệm với việc học" Đây là đặc điểm bên trong Phương pháp học tập là một đặc điểm bên ngoài nói đến "một quá trình mà trong đó người học
có vai trò chính trong việc lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá các trải nghiệm" (Brockett 11 & Hiemstra) Với Brockett & Hiemstra, hai phương diện này có mối quan hệ biện chứng và cùng nhau dẫn đến "tự học"
Từ các quan niệm trên, chúng tôi cho rằng: tự học là một quá trình học tập độc lập, chủ động, tích cực của người học trong việc chiếm lĩnh tri thức khoa học, cũng như những kiến thức trong cuộc sống hằng ngày Nó có thể được cá nhân người học tiến hành ở trên lớp hay ngoài lớp học
1.1.1.2 Các hình thức tự học
Xét về phạm vi diễn ra quá trình tự học, có thể chia hình thức tự học làm hai loại:
- Tự học trong các cơ sở giáo dục: là hình thức tự ho ̣c của người ho ̣c diễn
ra trong các cơ sở giáo du ̣c có sự hướng dẫn , tổ chức của thầy theo kế hoa ̣ch giáo dục đã định sẵn
- Tự học trong cuộc sống: là hình thức tự học được tiến hành ở bên ngoà i các cơ sở giáo dục, diễn ra bất cứ lúc nào, với bất cứ ai có nhu cầu ho ̣c tâ ̣p
Trang 16Xét về mối quan hệ của người tự học trong tự học, có:
- Tự học không tương tác: là hình thức học tập mà người học làm việc độc
lâ ̣p, chủ động có hoặc không có sự hướng dẫn của người thầy
- Tự học trong tương tác: là hình thức tự học mà người học kết hợp với những người khác (có thể với bạn, với thầy) trong ho ̣c tâ ̣p để nghiên cứu , lĩnh
hô ̣i và vâ ̣n du ̣ng kiến thức , kĩ năng; có hoặc không có sự hướng dẫn của ng ười thầy
Như vậy với HS, hoạt động tự học chủ yếu liên quan đến các cơ sở giáo dục Hoạt động này thường kết hợp giữa học cá nhân với học hợp tác và là tự học có hướng dẫn của giáo viên
1.1.1.3 Chu trình tự học
- Tự học là một chu trình gồm ba giai đoạn:
Giai đoạn 1- Tự nghiên cứu: Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải
thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới
Trang 17(chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu (sản phẩm thô) có tính chất cá nhân
Giai đoạn 2 - Tự thể hiện: Người học tự thể hiện mình bằng văn bản,
bằng lời nói, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học
Giai đoạn 3 - Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua sự
hợp tác trao đổi với các bạn và thầy, cô giáo; sau khi thầy, cô giáo kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học
Sơ đồ 1.1 Chu trình tự học (theo Quá trình dạy – tự học, tr160)
- Dưới tác động của thầy, hoạt động tự học của trò được tiến hành theo quy trình 3 thời nhằm đạt mục tiêu giáo dục như sau:
Thời 1: Nghiên cứu cá nhân
Theo hướng dẫn của thầy, HS tự đặt mình vào vị trí của người tự nghiên cứu,
tự tiến hành khám phá tìm ra các kiến thức mới hoặc các giải pháp bằng cách tự
Tự thể hiện (2)
Tự kiểm tra điều chỉnh (3)
Tự nghiên cứu (1)
Trang 18lực suy nghĩ, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề thầy đặt ra cho mình theo trình tự các thao tác sau:
1 Nhận biết, phát hiện vấn đề
2 Định hướng giải quyết vấn đề
3 Thu thập thông tin
4 Xử lí thông tin
5 Xây dựng các giải pháp giải quyết
6 Thử nghiệm các giải pháp, kết quả
7 Đưa ra kết luận
8 Ghi lại kết quả cùng cách nghiên cứu
Như vậy, sau thời 1 HS đã tự mình tìm ra cách xử lí tình huống, vấn đề thầy đặt ra Bằng hành động của chính mình, HS đã tạo ra “sản phẩm giáo dục ban đầu”
Thời 2: Hợp tác với bạn, học bạn
“Sản phẩm giáo dục ban đầu” có giá trị và ý nghĩa lớn với HS vì là kết quả đạt được do nỗ lực của bản thân song dễ mang tính phiến diện, chủ quan Để trở nên khách quan, khoa học hơn, sản phẩm đó phải thông qua sự đánh giá, phân tích, sàng lọc, bổ sung của cộng đồng các chủ thể - lớp học Nghĩa là HS phải tương tác với bạn thông qua hình thức trao đổi cá nhân, thảo luận nhóm – lớp, các hoạt động tập thể…Dù ở hình thức nào, người học cũng phải tích cực, chủ động tự mình thể hiện theo các trình tự thao tác sau (không thụ động nghe bạn nói, nhìn bạn làm):
1 Tự trình bày, giới thiệu, bảo vệ sản phẩm ban đầu của mình
2 Tỏ rõ thái độ của mình trước chủ kiến của bạn
3 Tự ghi lại ý kiến của các bạn theo nhận thức của mình
Trang 194 Khai thác những gì đã hợp tác với bạn, bổ sung, điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình thành một sản phẩm tiến bộ hơn
Vậy ở thời 2 thông qua hợp tác với bạn, sản phẩm ban đầu của người học đã tiến bộ hơn; song trong hoạt động và thảo luận tập thể xảy ra tình huống: cả lớp gặp phải những vấn đề nan giải, khó phân biệt đúng sai, khó đi đến kết luận khoa học Lúc này, HS phải học thầy và tự kiểm tra, điều chỉnh sản phẩm
“nghiên cứu” của mình
Thời 3: Hợp tác với thầy, học thầy, tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Thực ra, HS đã học thầy từ thời 1 qua nhiệm vụ thầy đặt ra và thời 2 qua sự
tổ chức, đạo diễn cho tập thể lớp thảo luận Ở thời 3, thầy là người trọng tài kết luận về những gì cá nhân và tập thể lớp đã tìm ra thành bài học khoa học Trong lúc học thầy, HS cũng không thụ động nghe thầy kết luận mà tích cực học thầy bằng hành động của chính mình theo trình tự các thao tác sau đây:
1 Tự lực xử lí tình huống, giải quyết vấn đề theo sự hướng dẫn của thầy
2 Chủ động hỏi thầy về những gì mình còn thắc mắc
3 Tự ghi lại chính xác ý kiến kết luận của thầy
4 Học cách phân tích, tổng hợp các ý kiến khác nhau của thầy, cách ứng xử của thầy trước những tình huống gây cấn nổi lên trong quá trình hoạt động tập thể
5 Dựa vào kết luận của thầy, tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình thành sản phẩm khoa học
Xem xét quy trình 3 thời chúng ta thấy: thời nào cũng có vai trò và hoạt động của thầy và trò Song ở thời 1 nổi lên vai trò lao động cá nhân của HS với kết quả là sản phẩm ban đầu; ở thời 2 là vai trò của cộng đồng các chủ thể - lớp học;
ở thời 3 nổi bật vai trò của thầy với những kết luận khoa học tạo điều kiện cho
cá nhân HS tự đánh giá, điều chỉnh Quy trình trên cũng cho thấy rõ một điều: cả
3 thời đều diễn ra hành động học, tự học tích cực, chủ động của chủ thể HS dưới
Trang 20sự hướng dẫn của GV Có thể cho rằng, thời 2 và 3 là sự tiếp tục lao động cá nhân ở thời 1 dưới hình thức lao động khác là lao động hợp tác với bạn và thầy
để tự điều chỉnh sản phẩm ban đầu thành một sản phẩm khoa học, tiến bộ hơn
Từ chu trình tự học và quy trình 3 thời trên có thể nhận thấy: hoạt động tự học của HS là hoạt động chủ động, tích cực của cá nhân người học nhưng không thể thiếu sự tương tác với bạn, với thầy Trong quá trình tương tác với bạn, với thầy, hoạt động tự học của HS được thể hiện ở việc HS tự trình bày, trao đổi, bổ sung, điều chỉnh sản phẩm giáo dục của mình để có được một sản phẩm khoa học, tiến bộ theo như mục tiêu đã đề ra
- Hoạt động dạy của thầy nhằm tác động hợp lí, phù hợp và cộng hưởng với quy trình tự học của trò Tương ứng với quy trình ba thời tự học của HS là quy trình ba thời dạy – tự học của thầy
Thời 1: Hướng dẫn – đạo diễn
Thầy hướng dẫn trò về các tình huống học, các vấn đề cần giải quyết, các nhiệm vụ phải thực hiện bằng cách:
1 Giới thiệu vấn đề (mục tiêu, ý nghĩa, định hướng)
2 Hướng dẫn cách thu nhận thông tin
3 Hướng dẫn cách xử lí thông tin
4 Hướng dẫn cách giải quyết vấn đề
5 Tạo điều kiện thuận lợi cho trò nghiên cứu
Thời 2: Tổ chức – trọng tài
Thầy tổ chức cho trò tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, với thầy để tìm
ra kiến thức, chân lí Ở thời này, thầy là người đạo diễn, tổ chức
1 Tổ chức trao đổi trò – trò, trò – thầy
2 Hướng dẫn trò trình bày bảo vệ sản phẩm
Trang 213 Điều khiển cuộc tranh luận của trò theo đúng mục tiêu
4 Kết luận cuộc tranh luận
Thời 3: Cố vấn
Từ chỗ đưa ra kết luận để khẳng định về mặt khoa học kiến thức do người học tự tìm ra, thầy trở thành người cố vấn, kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của trò trên cơ sở trò tự đánh giá, tự điều chỉnh
1 Hướng dẫn trò tự kiểm tra, tự đánh giá, tự kết luận
2 Cung cấp thông tin liên hệ ngược về sản phẩm học
3 Hướng dẫn trò tự rút kinh nghiệm về cách học
Như vậy, rõ ràng quá trình tự học của HS trong nhà trường không thể thiếu vai trò hướng dẫn, tổ chức, cố vấn của người thầy Và luôn có sự kết hợp hữu cơ giữa quy trình dạy – tự học của thầy với quy trình tự học của trò qua từng thời
để cho người học tự mình chiếm lĩnh tri thức
1.1.1.4 Vai trò và ý nghĩa của tự học
Tự ho ̣c là mô ̣t trong những yếu tố quyết đi ̣nh chất lượng giáo du ̣c Chất lượng giáo du ̣c của mo ̣i nhà trường suy đến cùng ch ính là chất lượng học tập và rèn luyện của HS Để ta ̣o ra chất lượng đó đòi hỏi nhiều yếu tố trong đó có vấn
đề tự học, tự giáo du ̣c của mỗi HS Người da ̣y dù cố gắng đến đâu nhưng người học không động não, không tự tìm tòi, suy nghĩ trong quá trình lĩnh hô ̣i tri thức , rèn luyện kĩ năng thì kết quả học tập sẽ không thể như mong đợi
Tự học là con đường tạo ra tri thức vững chắc, lâu bền cho mỗi người trên hành trình đi tìm kiến thức Kiến thức do tự học đem lại bao giờ cũng vững chắc, lâu bền, thiết thực và đầy sáng tạo
Tự học đã và đang trở thành chiếc “chìa khoá vàng” mở cánh cửa thông tin hiện nay Bất cứ một nền giáo dục tiên tiến nào cũng đề cao năng lực
cá nhân, coi trọng vấn đề tự học, tự mình giáo dục, tự mình phát triển Tự học là
Trang 22con đường tự khẳng định, con đường đi đến thành công của mỗi con người
Tự học còn là con đường thử thách rèn luyện và hình thành ý chí cao đẹp của mỗi con người trên con đường lập nghiệp Con người luôn luôn phải tự học
để nâng cao học vấn Vì tự học chính là một biểu hiện rõ nét của chí lớn lập nghiệp để hoà nhập với cộng đồng của mỗi con người
Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứng với mọi biến cố của sự phát triển kinh tế - xã hội Bằng con đường tự học mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức to lớn từ môi trường nghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao
Như vậy, có thể khẳng định rằng: nếu xây dựng được phương pháp tự học, đặc biệt là sự tự giác, ý chí tích cực chủ động sáng tạo sẽ khơi dậy năng lực tiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh to lớn cho người học
1.1.2 Kĩ năng tự học
1.1.2.1 Khái niệm kĩ năng tự học
* Khái niệm kĩ năng
Có nhiều ý kiến khác nhau về kĩ năng : Nhóm các tác giả AV Petrovxki, VA Cruchetxki, AG Covaliov, Trần Tro ̣ng Thủy xem kĩ năng là kĩ thuật của hành động Các tác giả quan niệm rằng: kĩ năng là phương tiện thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động nào đó Người có kĩ năng là người nắm vững tri thức về hoạt động và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu mà không chú trọng kết quả của hành động
Các tác giả KK Platonov, ND Levitov, B Phlomov, MA Danhilov, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết lại xem kĩ năng không chỉ là kĩ thuật của hành động mà bao gồm cả năng lực thực hiê ̣n hành đ ộng “Kĩ năng không chỉ bao gồm các hành động vận động mà cả những hành động trí tuệ, độc lập lập kế
Trang 23hoạch quá trình làm việc, tìm thấy trong mỗi trường hợp cụ thể các phương pháp hợp lí”
Theo tác giả Nguyễn Kỳ , Võ Quang Phúc , Nguyễn Thúy Hồng kĩ năng là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy Quan điểm này cũng thống nhất với
quan điểm được trình bày trong báo cáo Xác định và Lựa chọn các năng lực hành động then chốt về chương trình DeSeCo (Cơ quan thống kê của Liên bang
Thụy Sĩ) Theo Báo cáo này thì thuật ngữ kĩ năng được sử dụng để chỉ rõ khả năng sử dụng kiến thức của một người một cách tương đối dễ dàng để thực hiện các nhiệm vụ tương đối đơn giản
Theo chúng tôi, nếu xem kĩ năng đơn thuần chỉ nghiêng về mặt kĩ thuật của hành động thì có thể sẽ đồng nhất những kĩ năng với các thao tác của thiết bị máy móc đã được lập sẵn thành chương trình nhằm đáp ứng chính xác kĩ thuật
Vì thế, kĩ năng không chỉ biểu hiện ở mặt kĩ thuật, thao tác hành động mà nó còn là khả năng thực hiện hành động có kết quả trong những tình huống cụ thể Người có kĩ năng là người biết lựa chọn, sắp xếp các thao tác hành động hướng đích phù hợp và thực hiện đúng các thao tác nhằm đạt kết quả mong muốn
Ở đây, chúng tôi tiếp cận kĩ năng trên bình diện khả năng thực hiện có kết quả một công việc nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm về hành động này để tiến hành phù hợp với những điều kiện cho phép
Khái niệm kĩ năng này nhiều khi bị dùng lẫn với khái niệm năng lực Vậy đâu là điểm phân biệt giữa kĩ năng với năng lực ? “Năng lực là những khả năng
và kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”(Weinert, 2001) Trong tài liệu Chương trình giáo dục phổ thông và phát triển chương trình giáo dục phổ thông, tác giả Nguyễn Thúy
Hồng cũng thống nhất cho rằng: Năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, tổng hòa của các thành tố; kiến thức, kĩ năng, thái độ, các giá trị và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động của cá nhân được thể hiện thông qua giải quyết
Trang 24có trách nhiệm và hiệu quả các nhiệm vụ, vấn đề trong những bối cảnh và tình huống khác nhau Như vậy năng lực là sức mạnh tổng hợp của kiến thức, kĩ năng và thái độ trong đó thái độ sẽ đưa ra những cam kết thực hiện
và quyết định kết quả công việc, kĩ năng cần có để cam kết công việc sẽ được thực hiện, kiến thức sẽ quyết định đến quá trình thực hiện và kết quả công việc đạt được trong một tình huống cụ thể
Những nghiên cứu trên cho thấy: năng lực và kĩ năng có mối liên hệ mật thiết với nhau, mang tính chất cấu thành và kĩ năng là một yếu tố cơ bản, quan trọng cấu thành nên năng lực Muốn phát triển năng lực cần dựa trên cơ sở phát triển các thành phần như kiến thức, kĩ năng, thái độ…, huy động tổng hợp các thành phần trong những tình huống đa dạng Để có thể tự học, người học phải nắm được những tri thức về hành động, phải vận dụng những tri thức đó để tiến hành các hành động nhằm thu được những kết quả phù hợp với mục đích Nói cách khác, người học phải có kĩ năng tự học phù hợp với môn học Những kĩ năng tự học này, cùng với các thành phần khác sẽ góp phần hình thành và phát triển năng lực tự học ở người học
* Khái niệm kĩ năng tự học
Theo Vũ Thị Liên “Kĩ năng tự học có thể hiểu là phương thức hành động dựa trên cơ sở lựa chọn và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện có kết quả mục tiêu học tập đã đặt ra và phù hợp với những điều kiện cho phép”
Tác giả Đỗ Thị Quyên trong Luận văn “Rèn luyện kĩ năng tự học cho HS trong dạy học bài Ôn tập, sơ kết, tổng kết môn Lịch sử” cho rằng: “kĩ năng tự học là kĩ năng tự thu nhận thông t n phục vụ cho những mục đích học tập nhất định và vận dụng cá thông t n đó để giải quyết một nhiệm vụ mới.”[8]
Tác giả Nguyễn Thị Bích Hà trong luận án “Biện pháp hoàn thiện kĩ năng tự học môn Giáo dục học cho sinh viên Đại học Sư phạm theo quan điểm sư
Trang 25phạm tương tác thì cho rằng : kĩ năng tự học là khả năng thực hiện có kết quả hoạt động tự học đúng như những hiểu biết về hoạt động tự học và về kĩ năng tự học mà người học đã được l ̃nh hội trong hoạt động dạy học.[16]
Qua nghiên cứu, chúng tôi cho rằng: Kĩ năng tự học là khả năng thực hiện
có kết quả một hay một nhóm hành động tự học bằng c ch vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép
Có thể nhâ ̣n thấy, kỹ năng tự học là điều kiện vật chất bên trong để người học thực hiện sự nghiên cứu khám phá, biến động cơ tự học thành kết quả cụ thể, giúp người học biết ứng dụng sáng tạo để vận dụng kiến thức đã có vào giải quyết mâu thuẫn của quá trình nhận thức Kĩ năng tự học bao gồm cả vốn thông tin và tri thức sẵn có, phương pháp và các thao tác vận dụng chúng để người học
tự mình giải quyết các nhiệm vụ học tập, chiếm lĩnh tri thức mới Để tự học có kết quả, người học phải có một số kĩ năng tự học như kĩ năng thu thập thông tin,
kĩ năng xử lí thông tin, kĩ năng vận dụng thông tin, kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá, Mỗi kĩ năng trên đòi hỏi người học phải có sự hiểu biết và mức độ thành thạo nhất định trong thao tác Cho nên trong quá trình tổ chức hoạt động học tập cho HS, người dạy cần phải coi trọng hình thành kĩ năng tự học, coi kĩ năng tự học vừa là phương tiện, điều kiện vừa là nội dung và mục đích của tự học, tự đào tạo
1.1.2.3 Các thành phần cơ bản của kĩ năng tự học :
Denise Chalmers – Richard Fuller dựa vào các nhiê ̣m vu ̣ ho ̣c tâ ̣p – nhâ ̣n thức, chia kĩ năng tự ho ̣c thành 4 nhóm :
- Nhóm kĩ năng tích lũy thông tin : gồm kĩ năng tiếp câ ̣n thông tin , kĩ năng xác đi ̣nh ý chính từ bài giảng , bài đọc, kĩ năng đọc sách phục vụ cho chủ đề
Trang 26- Nhóm kĩ năng xử lí thông tin : gồm kĩ nă ng diễn đa ̣t ý kiến , kĩ năng
đă ̣t câu hỏi, kĩ năng sắp xếp khái niệm , kĩ năng viết tóm tắt , kĩ năng nghiên cứu theo nhóm, kĩ năng giải quyết vấn đề
- Nhóm kĩ năng xác nhận kết quả tự học : gồm kĩ năng tự kiểm tra , kĩ năng tự đánh giá
- Nhóm kĩ năng quản lí kế hoạch tự học cá nhân
Tác giả Thái Duy Tuyên lại chia kĩ năng tự ho ̣c thành các nhóm:
- Nhóm kĩ năng kích thích động cơ, xây dựng kế hoa ̣ch tự học: gồm kĩ năng xác đi ̣nh nhu cầu, đô ̣ng cơ, kích thích hứng thú
- Nhóm kĩ năng xác định mục đích, nhiê ̣m vu ̣ tự ho ̣c : gồm kĩ năng xác
đi ̣nh mu ̣c đích, kĩ năng xác định nhiệm vụ
- Kĩ năng xây dựng kế hoạch
- Kĩ năng lựa chọn tài liệu, hình thức tự học
- Kĩ năng tiếp nhận thông tin : gồm kĩ năng đo ̣c sách , kĩ năng nghe giảng, kĩ năng xemina, kĩ năng điều tra, khảo sát
- Kĩ năng xử lí thông tin : gồm kĩ năng tóm tắt , kĩ năng xây dựng sơ đồ grap, kĩ năng phân loại, kĩ năng phân tích – tổng hợp, so sánh
- Kĩ năng vận dụng thông tin để giải quyết vấn đề: gồm kĩ năng làm bài
tâ ̣p, kĩ năng viết báo cáo, kĩ năng xử lí các tình huống
- Kĩ năng kiểm tra – đánh giá
Nhóm tác giả Hà Thị Đức, Võ Quang Phúc, Trịnh Quang Từ, Nguyễn Thi ̣ Tính chia kĩ năng tự ho ̣c thành các kĩ năng:
- Kĩ năng lập kế hoạch tự học
- Kĩ năng nghe và ghi bài học trên lớp
- Kĩ năng đọc sách
- Kĩ năng ôn tập
- Kĩ năng tự kiểm tra và đánh giá, tự điều chỉnh
Căn cứ vào nhiệm vụ và tính chất của hoạt động tự học của HS đã nêu ở mục 1.1.1.3, chúng tôi xin đề xuất một số kĩ năng tự học cơ bản của người học như sau :
Trang 27- Nhóm kĩ năng thu thập thông tin: gồm kĩ năng tìm kiếm thông tin, kĩ năng thu nhận thông tin, kĩ năng sắp xếp thông tin
- Nhóm kĩ năng xử lí thông tin: gồm kĩ năng tóm tắt, phân loại thông tin, kĩ năng so sánh, đối chiếu, phân tích, lí giải, kĩ năng tổng hợp
- Nhóm kĩ năng hợp tác, trao đổi thông tin: gồm kĩ năng trình bày, chia sẻ thông tin, kĩ năng trao đổi, thảo luận,
- Nhóm kĩ năng tự kiểm tra, tự đánh giá: gồm kĩ năng tự kiểm tra, tự đánh giá, kĩ năng tự điều chỉnh
1.1.3 Truy n dân gian và kĩ năng tự học truyện dân gian
1.1.3.1 Truyện dân gian
i Khái niệm
Khi phân loại c c thể loại tự sự dân gian, tác giả Đinh Gia Khánh cho rằng: Văn tự sự dân gian chủ yếu gồm có truyện và vè Dựa vào phương thức biểu diễn và phương thức sáng tá , nhà nghiên cứu Hoàng Tiến Tựu trong Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy – nghiên cứu văn học dân gian xếp truyện dân gian, vè kể chuyện vào nhóm phương thức kể tương ứng với phương thức tự sự.Trong cuốn Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, tác giả Nguyễn Bích Hà xếp
c c thể loại tự sự dân gian gồm có: thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ
tch, truyện cười, truyện ngụ ngôn, truyện thơ, tục ngữ, c u đố, vè Như vậy truyện dân gian không phải là một thể loại cụ thể của VHDG Việt Nam mà là tập hợp của một nhóm thể loại có cùng đặ điểm: biểu diễn theo phương thức kể
và sáng tác theo phương thức tự sự, sử dụng yếu tố hư c u và mang t nh khái quát
Từ đây, ta có thể định nghĩa: Truyện dân gian là cá tá phẩm tự sự dân gian miêu tả c c sự kiện, hiện tượng diễn ra trong thế giới khách quan dưới hình thức kể chuyện
Trang 28i Phân loại
Tác giả Đinh Gia Khánh trong cuốn “Văn học dân gian Việt Nam” xếp
c ́c thể loại tự sự dân gian gồm : thần thoại, truyện cổ t ́ch, truyện ngụ ngôn,truyện cười, vè [9] Trong “Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy – nghiên cứu văn học dân gian”, Tá giả Hoàng Tiến Tựu xếp c ́c loại truyện kể xuôi, kể vần,
c ́c bài vè tự sự… thuộc nhóm sáng tác theo phương thức tự sự [76] Tác giả Nguyễn Viết Chữ trong “Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong n hà trường” đặt c ́c thể loại thần thoại, truyền thuyết, cổ t ́ch, ngụ ngôn,truyện cười vào nhóm truyện cổ dân gian [83] Thể loại sử thi tác giả xếp là thể loại giao thoa của truyện cổ dân gian, thơ ca dân gian và sân khấu dân gian Như vậy hầu hết c ́c tài l ệu hiện nay chỉ phân loại theo nhóm các thể loại tự sự dân gian
Căn cứ vào khái niệm truyện dân gian đã xác định , căn cứ vào đối tượng miêu tả và phương thức miêu tả trong c ́c thể loại , chúng tôi phân loại t ruyện dân gian bao gồm c c thể loại sau: thần thoại, sử thi, truyện cổ tch, truyện ngụ ngôn,truyện cười,truyện thơ
i Đặc điểm
i Đặc điểm chung
Truyện dân gian là những tá phẩm tự sự dân gian nên vừa mang những đặc điểm chung của tá phẩm tự sự vừa mang những đặc điểm rất riêng của táphẩm VHDG.Cụ thể:
+ Kết cấu: kết cấu trong những tác phẩm truyê ̣n dân gian là kết cấu đường thẳng, theo sự việc hành động, theo thứ tự thời gian, cái gì xảy ra trước kể trước, cái gì xảy ra sau kể sau Kết cấu này mang đậm màu sắc dân gian, làm cho tác phẩm mang vẻ đẹp mộc mạc, trong sáng lại dễ hiểu, dễ kể, dễ nhớ
Trang 29+ Nhân vật: tư duy cộng đồng của truyê ̣n dân gian biểu hiện trong việc xây dựng nhân vật chính Nhân vật được phân tuyến rạch ròi: nhân vật thiện thì không có ác , tốt thì không có xấu , và ngược lại Từ tư duy phân loa ̣i này mà nhân vật trong truyện cổ dân gian chỉ là những điển hình tính cách chứa chưa phải là điển hình nhân vật , chỉ là những biểu trưng cho thiện và ác , chính và tà, khôn và dại với tính chất tượng trưng phiếm chỉ của nó chứ chưa có đời sống tâm lý phức tạp như các nhân vật trong văn học trung đại và hiện đại sau này Nhân vật trong truyện cổ dân gian, dù phức tạp như Mị Châu, Trọng Thủy, Trương Chi…xét cho cùng vẫn chưa phải là những điển hình nhân vật
+ Thời gian và không gian trong truyê ̣n dân gian mang tính phiếm chỉ và ý nghĩa biểu trưng , nhiều trường hợp mang tính công thức , ước lệ , biểu trưng Trong truyện cổ , đó là ngày xửa ngày xưa , một hôm, hôm sau, đến ngày… là cảnh hội làng, là nơi đồng ruộng, là gà gáy bên sông
+ Ngôn ngữ truyê ̣n dân gian in đậm dấu ấn cộng đồng dân tộc Đặc điểm của nó là trong sáng, giản dị và chuẩn mực vì đã trải qua sự sàng lọc gọt giũa của tập thể dân gian Trong ngôn ngữ truyện kể thì mang không khí cổ xưa, đậm
đà phong vị dân tộc
Bên cạnh những đặ điểm chung nêu trên, mỗi thể loại cụ thể của truyện dân gian lại có những đặ trưng riêng
i Đặc trưng riêng của từng thể loại
Có 4 t êu chí phân biệt đặc trưng của c ́c thể loại văn học dân gian gồm: đề tài,chức năng,thi pháp,phương thức diễn xướng
Trang 30* Thần thoại:
+ Đề tài Nêu nguồn gốc của một số sự vật,hiện tượng tự nhiên và xã hội
+ Chức năng: Thể hiện sự nhận thức thế giớ i của người xưa ; mang ý nghĩa thiêng l êng của một t ́n ngưỡng gắn với c ́c hình thức nghi lễ
+ Chức năng: Ca ngợi con người với khí phách anh hùng,ý thức nghĩa vụ,
tnh thần cộng đồng để khai sáng văn hóa và chiến đấu chống ngoại xâm bảo vệ bộ tộc và địa vực cư trú
+ Thi pháp:
++ Thi pháp của sử thi anh hùng xoay quanh những người anh hùng mang
vẻ đẹp kì vĩ, giàu l tưởng, trọng danh dự, đạo đức và trá h nhiệm cao với cộng đồng
Trang 31++ Sử dụng thủ pháp so sánh, phóng đại, trùng điệp tạo nên những hình tượng hoành tráng.
++ Đan xen yếu tố tự sự, trữ t̀nh, kịch tạo nên một thể loại văn học dân gian tổng hợp đặc biệt
+ Phương thức diễn xướng: kể, hát xen với biểu diễn
+ Thi pháp:
++ Cốt truyện thường đơn giản với ba chặng: hoàn c nh,sự kiện, kết cục
++ Nhân vật là nhân vật l ̣ch sử được hình tượng hóa và kì ảo hóa theo quan điểm của nhân dân Nhân vật chính của truyền thuyết gắn với sự kiện l ̣ch sử được kể lại
+ Phương thức diễn xướng : thường gắn với tập tục , kể với lòng thành kính tự hào
Trang 32* Truy ̣n cổ t ́ch :
+ Đề tài Số phận của con người bình thường trong xã hội Qua số phận của những con người bình thường, bé nhỏ trong xã hội, truyện cổ t́ch phản ánh xung đột gia đình và xã hội, cuộc đấu tranh giữa cá lực lượng tốt - xấu, chính nghĩa - gian tà; đồng thời thể hiện ước mơ của nhân dân trong xã hội có giai cấp: thiện thắng á , chính nghĩa thắng gian tà
+ Chức năng: Truyện cổ t ́ch đã nảy sinh và tồn tại như một sự t́ch hợp của nghi lễ và giáo huấn trong xã hội có giai c ́p Nó thể hiện giấc mơ đẹp của nhân dân lao động về một hiện thực trong mơ ước
+ Thi pháp:
++ Cốt truyện và kết c ́u:
Cốt truyện của truyện cổ t ́ch thường ngắn gọn,ít t ̀nh t ết phức tạp, không có những chi t ết rườm rà mà thay vào đó là những công thức trần thuật đơn giản, gọn nhẹ Truyện được kể trung thành theo trục thời gian : việc gì xảy ra trước thì kể trước,việc gì xảy ra sau thì kể sau
Truyện cổ t ́ch thường có một số kết c ́u như sau: Kết cấu một trục thẳng,kết c ́u ba chặng tăng c ́p, kết c ́u đồng quy
++ Nhân vật Nhân vật chính của truyện cổ t́ch là những con người bình thường, bé nhỏ trong xã hội người mồ côi, người con riêng, người em út, người làm thuê…Đó là những nhân vật mang t ́nh chất đại diện chứ không mang t ́nh
c ́ nhân,c ́ thể
++ Yếu tố thần kì: Cổ t ́ch có sự tham gia của nhiều yếu tố hoang đường,
kì ảo (đặ biệt là truyện cổ t ch thần kì) Nhờ yếu tố thần kì mà cốt truyện có thể kéo dài hay rút ngắn theo ý người kể chứ không phụ thuộc vào lô -gic thực tế
Trang 33Cũng nhờ yếu tố thần kì mà truyện cổ t ́ch hấp dẫn mọi lứ a tuổi, mọi thời đại,thể hiện một cách sinh động ước mơ của nhân dân lao động.
+ Phương thức diễn xướng: chủ yếu là kể
* Truy ̣n ngụ ngôn :
+ Đề tài Bài học suy l ́, triết l ́ trong cuộc sống của con người được ngụ ý qua những câu chuyện về loài vật,đồ vật hoặc về chính con người
+ Chức năng: Nêu những quan niệm sống, những bài học đạo l , những kinh nghiệm ứng xử, những triết l nhân sinh nhằm khuyên nhủ, răn dạy con người trong cuộc sống
+ Thi pháp:
++ Cốt truyện và kết c ́u: truyện ngụ ngôn có dung lượng ngắn,cốt truyện đơn giản, kết c u chặt chẽ Truyện thường có hai phần: phần truyện kể và phần bài học kinh nghiệm Hai phần đó có khi tách rời nhau, hết phần truyện kể là lời bình manh t ́nh chất giáo huấn Cũng có truyện kết thúc không có lời bình, phần thứ hai lẩn chung vào phần một để người đọc tự ngẫm nghĩ mà t ̀m ra lời răn dạy cho mình
++ Nhân vật Thường là c c con vật Ngoài ra có thể là con người hoặ
c c bộ phận trên cơ thể người, là c y cối, khoáng sản núi sông,là thần, phật,ma,quỷ…Nhân vật của truyện ngụ ngôn không được mô tả toàn diện, không có t ́nh
c ́ch và sự phát triển t ́nh c ́ch Nó chỉ được gán cho một nét t́nh c ́ch, một đặc điểm hành động, một ấn tượng nào đó về nhân vật trong thực tế để từ đó chứng minh cho một một quan điểm, một nhận xét, một kinh nghiệm nào đó
++ Biện pháp nghệ thuật thường sử dụng nghệ thuật ẩn dụ
+ Phương thức diễn xướng: kể hoặc hát
Trang 34+ Thi pháp:
++ Cốt truyện và kết c ́u: Dung lượng ngắn, kết cấu chặt chẽ, mâu thuẫn phát triển nhanh, kết thúc bất ngờ, đột ngột Mỗi câu chuyện thường có đủ ba chặng: chặng đầu giới thiệu hoàn cảnh và nhân vật, chặng hai là t ̀nh huống gây cười, chặng ba bản chất đáng cười được bộc lộ
++ Nhân vật Truyện cười ít nhân vật Nhân vật trong truyện cười không hoàn chỉnh, không có số phận, chỉ bộc lộ một nét t ́nh cách, một hành động nào đó có tác dụng gây cười
++ Yếu tố gây cười truyện cười thường không sử dụng một yếu tố nào đó để gây cười mà thường sử dụng phối hợp nhiều phương t ện khác nhau cùng một lúc như: t ̀nh huống gây cười , ngôn ngữ, hành động của nhân vật…để hỗ trợ nhau tạo ra tếng cười
+ Phương thức diễn xướng: thường kể hoặc kết hợp kể với diễn
* Truy n thơ
+ Đề tài Số phận của người nghèo khổ cùng khát vọng đấu tranh chống áp bức bóc lột,đấu tranh cho t ̀nh yêu tự do, cho chính nghĩa
Trang 35+ Chức năng: Truyện thơ dân gian là sản phẩm t nh thần của các dân tộc ít người Nó phản ánh tư tưởng,t ̀nh cảm, quan niệm của cộng đồng c ́c dân tộc về cuộc sống Đó là những c u chuyện kể về thân phận hẩm hiu , đau khổ của những người lao động nghèo bị áp bức, bóc lột là truyện kể về t ̀nh yêu thiết tha ngang trái của c ́c chàng trai cô gái dân tộc cùng khát vọng đấu tranh cho t ̀nh yêu tự do,cho hạnh phúc.
+ Thi pháp:
++ Kết c ́u: Truyện thơ là hình thức kể chuyện bằng thơ Các truyện thơ một mặt mang đậm t ́nh tự sự , có kết cấu tương tự kết cấu của truyện cổ t ́ch ; mặt khác do hình thức thơ của nó nên truyện kể có xen nhiều yếu tố cảm thán,tự bạch của tác giả hoặc của nhân vật Kết c ́u của truyện thơ thường là: gặp gỡ – tai biến – chia l (hoặc cùng chết) Kết thúc có hậu rất hiếm gặp trong truyện thơ
++ Nhân vật Nhân vật trong truyện thơ không nhiều , thường có địa chỉ,lai l ̣ch rõ ràng Nhân vật truyện thơ chủ yếu có hai loại nhân vật bất hạnh (gồm những người nghèo, người phụ nữ , người mồ côi ) và nhân vật gây hại (gồm những tên vua, quan bất tài, độc ác; những ông bố bà mẹ bị mù quáng b ởi tập tục mà vô t ̀nh gây đau khổ cho con…)
+ Phương thức diễn xướng: chủ yếu hát xen kể
Trước khi tự học những tá phẩm cụ thể của nhóm truyện dân gian, người học phải có những kiến thức cơ bản về nhóm thể loại này như khái niệm, c c thể loại, đặ biệt là đặ trưng cơ bản của từng thể loại Đây sẽ là một trong những chiếc chìa khóa quan trọng giúp HS cảm thụ và chiếm l nh tá phẩm truyện dân gian
Trang 361.1.3.2 Kĩ năng tự học truy n dân gian
Kĩ năng tự học truyện dân gian: là khả năng thực hiện có kết quả một hay một nhóm hành động tự học truyện dân gian bằng c ch vận dụng những tri thức,những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép
Tự học truyện dân gian thực chất là quá trình HS tự đọc – hiểu tá phẩm truyện dân gian Quá trình này trong nhà trường phổ thông hiện nay được HS
tến hành ở c 3 khâu: trước khi lên lớp,trong khi lên lớp và sau khi lên lớp
- Trước khi lên lớp, HS phải chuẩn bị bài ở nhà bằng việ soạn bài theo
c u hỏi hướng dẫn học bài trong SGK hoặ theo hướng dẫn của GV Ở khâu này, HS phải tự mình thu thập thông t n, phân t ch, c t nghĩa và đánh giá văn bản truyện dân gian được học Hoạt động này của người học tương ứng với giai đoạn 1: Tự nghiên cứu trong chu trình tự học Sản phẩm của hoạt động tự học này là bài soạn được ghi lại trong vở Soạn văn, Phiếu học tập hoặ dưới những hình thức khá
- Trong khi lên lớp, dưới sự điều khiển của thầy, HS trình bày, trao đổi,chia sẻ kết quả đọc – hiểu của mình với bạn, với thầy Trong quá trình hợp tánày, HS vừa bảo vệ chủ kiến, vừa lắng nghe, tếp thu, vừa bổ sung, chỉnh sửa nhằm hoàn thiện hơn kết quả đọc – hiểu ban đầu Sau khi nghe kết luận của thầy, HS tự điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình thành sản phẩm khoa học Hoạt động tự học của HS ở khâu này tương ứng với giai đoạn 2, 3 của chu trình
Trang 37thành thạo hơn, từ đó, năng lực tự học của người học ngày càng được trau dồi thêm
Để tự học truyện dân gian, HS cần có các kĩ năng sau:
- Nhóm kĩ năng thu thập thông tin: gồm kĩ năng tìm kiếm thông tin, kĩ năng thu nhận thông tin, kĩ năng sắp xếp thông tin
- Nhóm kĩ năng xử lí thông tin: gồm kĩ năng tóm tắt, phân loại thông tin, kĩ năng so sánh, đối chiếu, phân tích, lí giải, kĩ năng tổng hợp
- Nhóm kĩ năng hợp tác, trao đổi thông tin: gồm kĩ năng trình bày, chia sẻ thông tin, kĩ năng trao đổi, thảo luận,
- Nhóm kĩ năng tự kiểm tra, tự đánh giá: gồm kĩ năng tự kiểm tra, tự đánh giá, kĩ năng tự điều chỉnh
1.1.4 Đặc điểm tâm lí, nhận thức của học sinh THPT
Tâm lí học lứa tuổi chia các giai đoạn phát triển tâm lí của HS ra làm ba thời kì Mỗi thời kì phát triển có những nét đặc trưng riêng
Thời kì nhi đồng: từ 6 – 11, 12 tuổi
Thời kì thiếu niên: từ 11, 12 – 14, 15 tuổi
Thời kì đầu tuổi thanh niên: từ 14, 15 – 17, 18 tuổi
Theo sự phân chia đó, HS THPT ở vào độ tuổi đầu thanh niên
Về sinh lý: tuổi đầu thanh niên là thời kì đầu đạt được sự tăng trưởng về mặt thể lực
Về tâm lý: do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển, cùng với sự phát triển của quá trình nhận thức và ảnh hưởng của hoạt động học tập, HS THPT đã đa ̣t được sự phát triển trí tuê ̣ và nhân cách tương đối cao
Trang 38- Sự phát triển trí tuệ:
Trong thời kì này năng lực trí tuệ của các em đã phát triển cao Người học
có sự thay đổi về tư duy như: có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, chặt chẽ có căn cứ và mang tính nhất quán Khả năng tư duy của các em cũng trở nên sâu sắc và rộng mở, có năng lực giải quyết những nhiệm vụ trí tuệ ngày một khó khăn hơn, có tiến bộ hơn Những sự phát triển nói trên cùng với óc quan sát tích cực và nghiêm túc sẽ tạo khả năng cho HS biết cách lĩnh hội một cách tối ưu, mà đó là cơ sở của toàn bộ quá trình học tập
- Sự phát triển nhân cách:
Điều đáng nói nhất trong sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi này là sự phát triển của tự ý thức Các em nhâ ̣n thức được địa vị mới mẻ của bản thân trong tập thể Những quan hệ mới với thế giới xung quanh buộc các em phải ý thức được đặc điểm nhân cách của mình Không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiện tại mà người tuổi đầu thanh niên còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội, tương lai Ở lứa tuổi này , các em có khả năng đánh giá những cử chỉ , hành
vi riêng lẻ, từng thuộc tính riêng biệt; biết đánh giá nhân cách của mình nói chung trong toàn bộ những thuộc tính nhân cách
Cùng với sự phát triển của tự ý thức là sự hình thành thế giới quan ở các
em Chỉ số đầu tiên của sự hình thành thế giới quan là sự phát triển của hứng thú nhận thức đối với những vấn đề thuộc nguyên tắc chung nhất của vũ trụ , những quy luật phổ biến của tự nhiên , của xã hội Việc hình thành thế giới quan của các em không chỉ giới hạn ở tính tích cực nhận thức , mà còn thể hiện ở phạm vi nội dung
Trong lĩnh vực giao tiếp và đời sống tình cảm, tuổi thanh niên mới lớn là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất Ở lứa tuổi này , các em có khuynh hướng làm bạn với bạn bè cùng tuổi Các em giao tiếp trong nhóm ba ̣n và tham gia vào nhiều nhóm bạn khác nhau
Những đă ̣c điểm về tâm lí , nhâ ̣n thức trên của HS THPT góp phần đi ̣nh hướng cho nhà trường , GV trong công tác giáo du ̣c , dạy học Mô ̣t mă ̣t, người
GV cần giúp các em phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của mình, nhìn nhận
và đánh giá các vấn đề một cách khách quan ; mă ̣t khác, GV cũng cần phải tôn
Trang 39trọng ý kiến của học sinh , biết lắng nghe ý kiến của các em , đồng thời có biện pháp khéo léo để các em hình thành được một biểu tượng khách quan về nhân cách của mình Bên ca ̣nh đó , GV cũng cần chú ý đến ảnh hưởng của nhóm , tổ chức cho các nhóm HS tham gia vào các hoạt động tập thể Từ đó, xây dựng thế giới quan lành mạnh, đúng đắn cho các em
HS THPT mới vào lớp 10 cũng có những đặc điểm riêng về tâm lí, nhận thức Chuyển tiếp từ bậc THCS lên THPT có rất nhiều điều mới mẻ: môi trường học tập mới, phạm vi giao tiếp mới, cách dạy, cách học mới khơi gợi hứng thú khám phá của các em Nhưng chính những điều thay đổi mới mẻ đó cũng là một khó khăn đòi hỏi các em phải sớm thích nghi trong học kì đầu tiên của lớp 10 Riêng với dạy học truyện dân gian trong nhà trường THPT, đặc điểm tâm
lí, nhận thức của HS cũng có tác động, ảnh hưởng rất lớn Do tư duy lôgic đã tương đối phát triển nên HS THPT nhìn chung khó tin vào những điều phi thường, phi lí trong truyện dân gian Những yếu tố phi thường kì diệu đó dễ làm cho tuổi thơ yêu thích nhưng lại khiến cho lứa tuổi đầu thanh niên như HS THPT “khó tin, khó hiểu và do đó cũng khó thích Phải đợi khi con người khôn lớn, trưởng thành trải qua kinh nghiệm đường đời, họ mới có điều kiện để nhận thức lại và hiểu thêm về truyện dân gian” Điều này cũng là một khó khăn cho
cả người dạy lẫn người học nếu không tìm cách khắc phục Cho nên, theo nhà nghiên cứu Hoàng Tiến Tựu: Hãy kéo học sinh trung học về hai đầu của cuộc đời mà giảng truyện dân gian
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Chương trình văn học dân gian lớp 10
VHDG được giảng dạy ở bậc THPT trong chương trình Ngữ văn lớp 10 Đây là bộ phận văn học lớn mở đầu cho sự phát triển của nền VH Việt Nam nên được dạy học trong phần đầu chương trình: từ tuần 3 đến tuần 10 với các bài học được thống kê ở bảng sau:
Trang 40Bảng 1.1 Chương trình dạy học VH dân gian cho HS THPT
loại Số tiết Chương trình học
1 Khái quát VHDG Việt
Nam
Văn học sử 2
nó phải bằng hai mày)
11 Ca dao than thân, yêu
thương tình nghĩa Ca dao
2(CB) 3(NC)