CB, GV của trường không tránh khỏi khó khăn trong QL, tổ chức thực hiện và chỉ đạo dạy học theo Chuẩn KT, KN của CTGD phổ thông.Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: "Quản lí h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRƯƠNG THỊ TRANH
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC,
KĨ NĂNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN VĂN
CỪ HUYỆN HÓC MÔN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa ho ̣c: GS.TS Nguyễn Đức Chính
HÀ NỘI – 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn tới:
Toàn thể Thầy giáo, Cô giáo - giảng viên trường Đại học giáo dục - Đại học quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập để có những kiến thức, kĩ năng cần thiết trong nghiên cứu, thực hiện luận văn và quá trình công tác
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Đức Chính, người đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong
suốt thời gian thực hiện các nhiệm vụ của đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn đội ngũ cán bộ quản lí, tập thể giáo viên và học sinh trường THPT Nguyễn Văn Cừ, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh đã ủng hộ, cộng tác, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, khảo sát thu thập các dữ liệu liên quan đến đề tài
Xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm giúp đỡ, cổ
vũ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong học tập, nghiên cứu, song luận văn vẫn khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tác giả kính mong nhận được những ý kiến góp ý, chỉ bảo của các thầy cô, các nhà khoa học, bạn bè đồng nghiệp và những người quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2015
Tác giả
Trương Thị Tranh
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CBQL: Cán bộ quản lí
CSVC: Cơ sở vật chất CTGD: Chương trình giáo dục GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo
HĐDH: Hoạt động dạy học KHDH: Kế hoạch dạy học KHBH: Kế hoạch bài học KQHT: Kết quả học tập
KT, KN: Kiến thức, kĩ năng PPDH: Phương pháp dạy học
THPT: Trung học phổ thông
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn I Danh mục chữ viết tắt III Mục lục IV Danh mục các bảng VII Danh mục sơ đồ, biểu đồ VIII
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG Ở TRƯỜNG THPT 7
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 8
1.2.1 Quản lí 8
1.2.2 Quản lí nhà trường 13
1.2.3 Hoạt động dạy học 14
1.2.4 QL hoạt động dạy học 15
1.3 Chuẩn KT, KN và vai trò của Chuẩn KT, KN trong dạy học, đánh giá 17
1.3.1 Khái niệm Chuẩn KT, KN và những yêu cầu của chuẩn 17
1.3.2 Vai trò của Chuẩn KT, KN trong dạy học, đánh giá 23
1.4 Trường THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân 24
1.4.2 Đội ngũ GV THPT 25
1.4.3 Đặc điểm HS THPT 26
1.4.4 Đặc điểm HĐDH và QL HĐDH ở trường THPT 28
1.5 QL hoạt động dạy học theo Chuẩn KT, KN 28
1.5.1 QL khâu lập KHDH theo Chuẩn KT, KN 28
1.5.2 QL khâu lập kế hoạch bài học theo Chuẩn KT, KN 29
1.5.3 QL thực hiện kế hoạch bài học theo Chuẩn KT, KN của GV 30
1.5.4 QL khâu tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS theo Chuẩn KT, KN 31
1.6 Những yếu tố tác động tới QL HĐDH theo chuẩn 31
1.6.1 Các yếu tố chủ quan 31
1.6.2 Các yếu tố khách quan 32
KếT LUậN CHƯƠNG 1 34
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
NGUYỄN VĂN CỪ HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 35
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh 35
2.2 Khái quát về đặc điểm trường THPT Nguyễn Văn Cừ huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh 36
2.2.1 Quá trình thành lập 36
2.2.2 Cơ sở vật chất 37
2.2.3 Các tổ chức chính trị - xã hội 38
2.2.4 Đội ngũ Cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên của trường THPT Nguyễn Văn Cừ 38
2.2.5 Chất lượng giáo dục trong 3 năm học: 2012-2013, 2013-2014, 2014-2015 39
2.2.6 Thành tích của trường 40
2.2.7 Đánh giá chung 40
2.3 Thực trạng QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN ở trường THPT Nguyễn Văn Cừ huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh 41
2.3.1 Thực trạng nhận thức của CB, GV và HS về dạy học theo Chuẩn KT, KN 42
2.3.2 Thực trạng QL việc lập KHDH theo Chuẩn KT, KN 44
2.3.3 Thực trạng QL việc lập kế hoạch bài học (soạn giáo án) theo Chuẩn KT, KN 44
2.3.4 Thực trạng QL thực hiện kế hoạch bài học theo Chuẩn KT, KN của GV 51
2.3.5 Thực trạng QL kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS theo Chuẩn KT, KN 54
2.3.6 Đánh giá thực trạng QL hoạt động dạy học theo Chuẩn KT, KN ở trường THPT Nguyễn Văn Cừ huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh 56
2.3.7 Những vấn đề đặt ra trong QL hoạt động dạy học ở trường THPT Nguyễn Văn Cừ huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh 57
KếT LUậN CHƯƠNG 2 58
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN VĂN CỪ HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 59
Trang 63.1 Những nguyên tắc đề xuất các biện pháp QL HĐĐH theo chuẩn kiến thức, kĩ
năng ở trường THPT 59
3.1.1 Nguyên tắc tuân thủ đường lối lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và chính sách, pháp luật của Nhà nước; các quy chế chuyên môn của ngành GD&ĐT 59
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện và đồng bộ 60
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 60
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 60
3.2 Các biện pháp QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN của trường THPT Nguyễn Văn Cừ huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh 61
3.2.1 Biện pháp 1: Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng CB, GV về nhận thức và quy trình dạy học theo Chuẩn KT, KN 61
3.2.2 Biện pháp 2: Tổ chức lập KHDH theo hướng lấy Chuẩn KT, KN làm cơ sở trọng tâm 62
3.2.3 Biện pháp 3: Đổi mới việc lập kế hoạch bài học theo hướng lấy Chuẩn KT, KN làm cơ sở 66
3.2.4 Biện pháp 4: Tổ chức bồi dưỡng năng lực tổ chức triển khai kế hoạch bài học trên lớp theo hướng tích cực có sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại 73
3.2.5 Biện pháp 5: Tổ chức tập huấn kĩ năng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS theo Chuẩn KT, KN 77
3.2.6 Biện pháp 6: Huy động các nguồn lực tài chính từ cộng đồng tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học 84
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 86
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất 88
3.4.1 Tổ chức lấy ý kiến 88
3.4.2 Kết quả thăm dò ý kiến 88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93
1 Kết luận 93
2 Khuyến nghị 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 98
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2 1: Cơ cấu và trình độ đào tạo tính đến năm 2015 38
Bảng 2 2: Kết quả đánh giá xếp loại CB, GV, NV trong 3 năm học: 2012-2013, 2013-2014, 2014-2015 38
Bảng 2 3: Thống kê danh hiệu chiến sĩ thi đua trong 3 năm học: 2012-2013, 2013-2014, 2014-2015 39
Bảng 2 4: Điểm tuyển sinh đầu vào trong 3 năm học: 2012-2013, 2013-2014, 2014-2015 39
Bảng 2 5: Kết quả giáo dục 2 mặt trong 3 năm học: 2012-2013,2013-2014, 2014-2015 39
Bảng 2 6: Thành tích của trường THPT Nguyễn Văn Cừ trong 3 năm học: 2012-2013, 2013-2014, 2014-2015 40
Bảng 2 7: Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy học 43
Bảng 2 8: Kết quả khảo sát căn cứ xây dựng KHBH của GV 45
Bảng 2 9: Kết quả khảo sát nội dung kế hoạch bài học 46
Bảng 2 10: Kết quả khảo sát thực trạng QL việc lập kế hoạch bài học theo Chuẩn KT, KN của GV 49
Bảng 2 11: Kết quả khảo sát thực trạng thực hiện kế hoạch bài học theo Chuẩn KT, KN của GV 51
Bảng 2 12: Kết quả khảo sát thực trạng QL việc thực hiện KHBH theo Chuẩn KT, KN của GV 53
Bảng 2 13: Kết quả khảo sát thực trạng việc thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 55
Bảng 3 1: Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết của các biện pháp 88
Bảng 3 2: Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp 89
Bảng 3 3: Mức độ tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 90
Bảng 3 4: Biểu đồ mức độ tương quan thứ bậc giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 91
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3 1: Biểu đồ mức độ tương quan thứ bậc giữa tính cần thiết
và tính khả thi của các biện pháp 91
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thế giới hiện đại, mọi người đều biết rằng bất cứ công cụ sản xuất nào dù tinh vi hiện đại đến đâu cũng đều là sản phẩm của con người, do con người sử dụng và được con người tiếp tục hoàn thiện Phát triển lực lượng sản xuất trong điều kiện hiện nay, cần phải hiểu phát triển con người là trước hết
Đó là nhân tố đảm bảo phát triển các yếu tố của lực lượng sản xuất Đại hội X của Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định “Giáo dục và Đào tạo cùng khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu” Phát triển giáo dục là nền tảng, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Nghị quyết của Đảng khẳng định:
"Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống QL giáo dục, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá".[36]
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục xác định "Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế" và "Phát triển nhanh nguồn nhân lực , nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao , tâ ̣p trung vào viê ̣c đổi mới căn bản và toà n diê ̣n nền giáo dục quốc dân".[37]
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một công việc hết sức trọng đại Trung ương ban hành Nghị quyết để thống nhất nhận thức và hành động; phát huy trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, huy động các nguồn lực với sự phối hợp của nhiều cơ quan, ban ngành và các tổ chức xã hội cho sự nghiệp giáo dục
Quan điểm chỉ đạo đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông là bước chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội Chương trình giáo dục phổ thông sẽ được xây dựng thành một chỉnh thể xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12; tích hợp cao ở các lớp học, cấp học dưới; phân hoá mạnh ở các lớp học, cấp học cao hơn, nhất là ở trung học phổ thông Nội dung các môn học sẽ "tinh
Trang 10giản, cơ bản, hiện đại, tăng tính thực hành và vận dụng kiến thức và kỹ năng vào thực tiễn" Định hướng trên hạn chế được tính hàn lâm , xa rời cuộc sống Phương pháp dạy và học sẽ khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều , ghi nhớ máy móc ; phát huy tính tích cực , chủ động, sáng tạo và vận dụng KT , KN của người học , tập trung dạy cách học , cách nghĩ và̀ tự ho ̣c , theo phương châm "giảng ít, học nhiều" Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học; đa dạng hoá các hình thức tổ chức giáo dục…
Trong những năm gần đây, việc đổi mới QL và nâng cao chất lượng giáo dục luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, xem đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của mỗi cơ sở giáo dục Có nhiều cách tiếp cận khác nhau
về vấn đề đổi mới QL, song cách tiếp cận theo hướng công cụ QL là cách tiếp cận khoa học, hiệu quả và phù hợp với thực tiễn hơn cả Đó là việc chuyển dần từ QL theo chức năng sang QL theo chuẩn Gần đây chúng ta đã được tiếp cận với rất nhiều bộ chuẩn trong giáo dục đã được Bộ GD&ĐT ban hành như: Chuẩn cơ sở giáo dục (Chuẩn trường Đại học, Cao đẳng; Chuẩn trường phổ thông; Chuẩn trường tiểu học; ) Chuẩn các chức danh (Chuẩn hiệu trưởng trường trung học, Chuẩn giám đốc TT GDTX, Chuẩn hiệu trưởng trường tiểu học, Chuẩn nghề nghiệp GV trung học, Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học, ) Chuẩn KT, KN các môn học, Các
bộ chuẩn này chính là công cụ hữu ích được sử dụng trong quá trình QL các cơ sở giáo dục và các hoạt động của nó
Dạy học theo Chuẩn KT, KN được Bộ GD&ĐT triển khai ở tất cả các môn học ở bậc học phổ thông trong nhiều năm nay Từ đó, Chuẩn KT, KN là một thành phần của CTGD phổ thông, các nhà trường đã có những chuyển biến trong công tác
QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN từ nhận thức của CBQL, GV về vấn đề dạy học theo Chuẩn; xây dựng KHDH, xây dựng KHBH theo Chuẩn đến việc triển khai dạy học trên lớp; từ việc xác định mục tiêu đến việc kiểm tra đánh giá HS theo Chuẩn;
từ việc đánh giá HS cho đến việc chấm điểm giờ dạy của GV
Dù Bộ GD&ĐT đã hướng dẫn, khuyến khích GV áp dụng linh hoạt chương trình và sách giáo khoa theo đặc điểm vùng, miền và đối tượng HS, nhưng không ít CBQL, GV vẫn lúng túng khi vận dụng chương trình, sách giáo khoa trong QL, chỉ đạo và dạy học cho các đối tượng HS, dẫn đến tình trạng “quá tải” hoặc “non tải”
Trang 11CB, GV của trường không tránh khỏi khó khăn trong QL, tổ chức thực hiện và chỉ đạo dạy học theo Chuẩn KT, KN của CTGD phổ thông.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: "Quản lí hoạt động dạy học theo
chuẩn kiến thức, kĩ năng ở trường THPT Nguyễn Văn Cừ huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh" với mong muốn xây dựng được các biện pháp QL
HĐDH theo Chuẩn KT, KN ở trường THPT Nguyễn Văn Cừ đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay, thực hiện tốt nhất nhiệm vụ của nhà trường mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận, thực trạng QL HĐDH và đề xuất các biện pháp QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN ở trường THPT Nguyễn Văn Cừ huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học ở trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lí hoạt động dạy học theo Chuẩn KT, KN ở trường THPT Nguyễn Văn
Cừ huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh
4 Câu hỏi nghiên cứu
Hoạt động dạy học theo Chuẩn KT, KN tại các trường THPT đang đặt ra cho các nhà quản lí những vấn đề gì và cần những biện pháp QL nào để Quản lí hoạt động dạy học theo Chuẩn KT, KN ở trường THPT Nguyễn Văn Cừ huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh?
5 Giả thuyết nghiên cứu
Quản lí hoạt động dạy học là hoạt động quan trọng nhất trong quản lí nhà
Trang 12trường Chất lượng dạy học phụ thuộc phần lớn vào công tác quản lí Chất lượng dạy học ở trường THPT Nguyễn Văn Cừ huyện Hóc Môn hiện nay còn thấp so với mặt bằng chung của các trường THPT trong thành phố Hồ Chí Minh và vẫn còn rất nhiều hạn chế, bất cập
Nếu lựa chọn và thực hiện hợp lý các biện pháp QL HĐDH theo Chuẩn KT,
KN thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT Nguyễn Văn Cừ huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN năng ở trường THPT
6.2 Khảo sát đánh giá thực trạng việc QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN ở trường THPT Nguyễn Văn Cừ huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh
6.3 Đề xuất một số biện pháp QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN ở trường THPT Nguyễn Văn Cừ huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 137 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Do điều kiện thời gian và năng lực còn hạn chế tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những biện pháp QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN ở các trường THPT Nguyễn Văn Cừ huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh Thời gian khảo sát trong ba năm học: 2012-2013; 2013-2014; 2014-2015
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu khoa học về QL,
QL nhà trường, QL HĐDH cấp THPT nhằm mục đích xác định cơ sở lý luận về QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN ở trường THPT
8.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Quan sát, điều tra bằng phiếu hỏi, xin ý kiến chuyên gia, phỏng vấn, tổng kết kinh nghiệm với mục đích khảo sát và đánh giá thực trạng dạy học tại trường THPT
và thực trạng QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN ở trường THPT Nguyễn Văn Cừ huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Trang 14Chương 1: Cơ sở lý luận về QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN ở trường THPT Chương 2: Thực trạng QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN ở trường THPT Nguyễn Văn Cừ huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Một số biện pháp QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN ở trường
THPT Nguyễn Văn Cừ huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 15Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG Ở TRƯỜNG THPT
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quản lí hoạt động dạy học thực sự là vấn đề bức thiết đã được quan tâm nghiên cứu và cần tiếp tục nghiên cứu để đổi mới nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường
HĐDH là nội dung hoạt động trung tâm ở các nhà trường Đồng thời cũng
là nội dung cơ bản, quan trọng nhất trong công tác QL trường học Chính vì lẽ
đó, vấn đề QL HĐDH luôn được các nhà nghiên cứu, các nhà QL giáo dục đề cập trong các công trình nghiên cứu khoa học Giáo trình giảng dạy của trường
ĐH sư phạm Hà Nội, Trường Đại học giáo dục có các công trình nghiên cứu và giảng dạy về chuyên đề QL HĐDH trong trường phổ thông
Ngày 5/5/2006, Bộ GD&ĐT đã ban hành quyết định số 16/2006/QĐ – BGD&ĐT về chương trình giáo dục phổ thông theo Chuẩn KT, KN Từ năm học 2009-2010, Bộ GD&ĐT đã tổ chức biên soạn tài liệu Hướng dẫn thực hiện Chuẩn
KT, KN cho tất cả các môn học Để thực hiện tốt chương trình giáo dục theo Chuẩn
KT, KN thì mỗi CB, GV cần nghiên cứu và bám sát Chuẩn KT, KN Đã có những công trình nghiên cứu dạy học theo Chuẩn KT, KN như sau:
Đề tài “Dạy học và kiểm tra đánh giá theo chuẩn” của tác giả Vũ Nho, Viện khoa học Việt Nam, đề tài phân tích về các loại chuẩn mà các nhà làm công tác giáo dục Châu Âu đang sử dụng như chuẩn tối thiểu, chuẩn thông dụng, chuẩn tối đa; từ
đó tác giả liên hệ với các Chuẩn KT, KN mà dạy học và kiểm tra đánh giá đang sử dụng Đề tài này kết luận: chúng ta đã xây dựng chương trình và viết sách giáo khoa theo cả ba mức chuẩn (nhận biết, thông hiểu, vận dụng); chúng ta dạy học và kiểm tra đánh giá cũng kết hợp cả ba mức chuẩn Tùy từng vùng miền, từng lớp học cụ thể mà GV sử dụng phối hợp tỉ lệ ba mức chuẩn đó sao cho hiệu quả nhất [30]
Luận văn “Quản lí hoạt động dạy học theo Chuẩn KT, KN ở trường trung học phổ thông nội trú tỉnh Lạng Sơn” của tác giả Trần Thanh Tịnh, đã nghiên cứu
về dạy học, dạy học theo Chuẩn KT, KN; thực trạng dạy học ở trường trung học phổ thông nội trú tỉnh Lạng Sơn; đề xuất một số biện pháp QL dạy học theo Chuẩn
Trang 16KT, KN ở trường trung học phổ thông nội trú tỉnh Lạng Sơn [34]
Tác giả Nguyễn Cao Cường với đề tài “Quản lí hoạt động dạy học theo Chuẩn KT, KN ở trường trung học cơ sở Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội”, đã hệ thống được lý luận dạy học, tổng hợp được các vấn đề liên quan đến Chuẩn KT, KN
và dạy học theo Chuẩn KT, KN ở trường phổ thông; đánh giá được thực trạng việc
QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN; đề xuất biện pháp nhằm QL HĐDH theo Chuẩn
KT, KN ở trường trung học cơ sở Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội [14]
Luận văn “QL hoạt động dạy học theo Chuẩn KT, KN ở trường tiểu học” của tác giả Nguyễn Hắc Hải, đã nghiên cứu về QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN ở trường tiểu học; thực trạng và các biện pháp QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN tại trường tiểu học ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; đề xuất biện pháp QL HĐDH theo Chuẩn
KT, KN của Hiệu trưởng trường tiểu học ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc [18]
Các đề tài đã có những nghiên cứu về lý luận dạy học những điều cơ bản
về Chuẩn KT, KN trong chương trình giáo dục phổ thông; kiểm tra, đánh giá,
QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN; các đề tài cũng đề xuất các biện pháp QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN trên cơ sở khảo sát thực trạng ở mỗi đơn vị Hiện nay, trên địa bàn huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh thì vấn đề QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN cũng chưa được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt ở trường THPT Nguyễn Văn Cừ huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh
Vì vậy, luận văn này sẽ nghiên cứu lý luận về dạy học theo Chuẩn KT, KN
ở trường THPT; đánh giá thực trạng và xác lập một số biện pháp (mang tính hệ thống bám sát theo quy trình dạy học) nhằm tìm ra các biện pháp QL HĐDH theo Chuẩn KT, KN ở các trường THPT Nguyễn Văn Cừ huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lí
1.2.1.1 Quản lí
QL hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người Nó
bắt nguồn và gắn chặt với sự phân công, hợp tác lao động QL là một dạng hoạt
động xã hội đặc thù, trở thành một nhân tố của sự phát triển xã hội, một hoạt động phổ biến, diễn ra ở mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người Có thể
Trang 17nói QL là một trong những loại hình lao động có hiệu quả nhất, quan trọng nhất
QL là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động
Ngay từ khi con người bắt đầu hình thành nhóm đã biết phối hợp các nỗ lực
cá nhân để thực hiện mục tiêu duy trì sự sống Từ khi xuất hiện nền sản xuất xã hội, nhu cầu phối hợp các hoạt động riêng lẻ càng tăng lên Bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, hoạt động của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp… đến một tập thể thu nhỏ như tổ sản xuất, tổ chuyên môn bao giờ cũng có hai phân hệ: Người QL và đối tượng được QL, sự cần thiết của QL được C Mác viết: "Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo
để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những cơ quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" (C Mác và Ăngghen - Toàn tập, tập 23 trang 34-NXB Chính trị Quốc gia)
Như vậy C.Mác đã chỉ ra bản chất QL là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu quan trọng trong quá trình phát triển của
xã hội loài người QL trở thành một hoạt động phổ biến, mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người Đó là một loại hoạt động
xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung
Khi bàn đến Khái niệm QL có nhiều cách tiếp cận khác nhau:
Theo Hà Sĩ Hồ: QL là một quá trình tác động có định hướng (có chủ định)
có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được
ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định
Theo Nguyễn Ngọc Quang: "QL là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể QL) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến".[29,tr35]
Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: "QL là sự tác động có
Trang 18định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" [8,tr9]
Như vậy, QL phải bao gồm các yếu tố sau: Phải có mục tiêu đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể làm căn cứ định hướng cho mọi hoạt động của tổ chức, phải có nội dung, phương pháp, phương tiện và kế hoạch hành động, một môi trường nhất định
1.2.1.2 Các chức năng QL
Có nhiều ý kiến khác nhau về phân loại chức năng QL, tuy nhiên tựu trung lại có
4 chức năng cơ bản: Lập kế hoạch; tổ chức; chỉ đạo; kiểm tra
- Chức năng kế hoạch: Là một chức năng, một khâu quan trọng nhất trong hoạt động QL, lập kế hoạch là hoạt động nhằm thiết lập các mục tiêu cần thiết cho
sự phấn đấu của một tổ chức, chỉ ra các hoạt động, những biện pháp cơ bản và các điều kiện cần thiết để thực hiện mục tiêu đó Kế hoạch là nền tảng của QL, là sự quyết định lựa chọn đường lối hành động của một tổ chức và các bộ phận của nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổ chức
- Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả Ứng với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức đơn vị cũng khác nhau Nhờ tổ chức hiệu quả mà người
QL có thể phối hợp điều phối tốt hơn nguồn nhân lực và các nguồn lực khác Một
tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát huy được năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá kế hoạch thành hiện thực
- Chức năng chỉ đạo: Là quá trình nhà QL dùng ảnh hưởng của mình tác động đến con người trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức Vai trò của người chỉ đạo là phải chuyển được ý tưởng của mình vào nhận thức của người khác, hướng mọi người trong tổ chức về mục tiêu chung của đơn vị
- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quan trọng của QL, QL
mà không kiểm tra thì coi như không có QL Nhờ có hoạt động kiểm tra mà người QL đánh giá được kết quả công việc, uốn nắn, điều chỉnh kịp thời những hạn chế từ đó có biện pháp phù hợp điều chỉnh kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo
Trang 191.2.1.3 Các nguyên tắc QL
Các nguyên tắc QL là các quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn hành vi mà các
cơ quan QL, các nhà lãnh đạo phải tuân thủ trong quá trình QL
Nguyên tắc tập trung dân chủ:
Đây là nguyên tắc quan trọng tạo khả năng QL một cách khoa học có sự kết hợp chặt chẽ sức mạnh của cơ quan quyền lực với sức mạnh sáng tạo của quảng đại quần chúng trong việc thực hiện mục tiêu QL Tập trung trong QL được hiểu là toàn
bộ hoạt động của hệ thống được tập trung vào cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này
có nhiệm vụ vạch đường lối, chủ trương, phương hướng mục tiêu tổng quát và đề xuất các giải pháp cơ bản, chủ yếu để tiến hành thực hiện
Nguyên tắc tập trung được thể hiện thông qua chế độ một thủ trưởng - người chịu trách nhiệm trước tập thể cán bộ, công nhân viên về toàn bộ hoạt động của đơn
vị, tổ chức mình Dân chủ trong QL được hiểu là sự huy động trí lực của mọi thành viên trong tổ chức để tiến hành QL Dân chủ được thể hiện ở chỗ: Các chỉ tiêu, phương án đều được tập thể tham gia bàn bạc, kiến nghị các biện pháp thực thi trước khi đi đến quyết định Các tổ chức quần chúng, người lao động còn được tham gia thực hiện các chức năng QL: tham gia xây dựng kế hoạch, kiểm tra, giám sát
Tập trung và dân chủ có quan hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết với nhau, có dân chủ phát huy tốt sức sáng tạo của quần chúng, động viên quần chúng tích cực lao động và tham gia bàn bạc thống nhất hành động thì tập trung càng cao và ngược lại Tuy nhiên, trong thực tiễn, nguyên tắc này thường nảy sinh hai thái cực: Tập trung quá dẫn tới quan liêu, độc đoán, chuyên quyền và dân chủ quá dẫn tới vô chính phủ
Cả hai thái cực này dẫn đến làm suy yếu hiệu lực QL Bởi vậy, để thực hiện tốt chức năng lãnh đạo, người QL phải phối hợp hài hoà nguyên tắc tập trung và dân chủ
Nguyên tắc kết hợp hài hoà các lợi ích xã hội:
QL trước hết là QL con người Con người có những lợi ích, những nguyện vọng và những nhu cầu nhất định, do đó một trong những nhiệm vụ quan trọng của QL là chú ý đến lợi ích của con người để khuyến khích, kích thích tính tích cực của họ Lợi ích là một động lực to lớn nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của con người vì vậy trong QL phải kết hợp hài hòa lợi ích
cá nhân với lợi ích tập thể và lợi ích chung toàn xã hội
Trang 20Nguyên tắc hiệu quả:
Hiệu quả là cơ sở kinh tế cho sự tồn tại và phát triển của một tổ chức Vấn đề đặt ra là làm thế nào để một CSVC kỹ thuật, một nguồn tài sản, một lực lượng lao động hiện có của tổ chức có thể tạo ra một thành quả lớn nhất, chất lượng tốt nhất và hiệu quả cao nhất Hiệu quả không những là nguyên tắc QL
mà còn là thước đo trình độ tổ chức, lãnh đạo và tài năng QL
Nguyên tắc nắm khâu trọng yếu:
Nguyên tắc này đòi hỏi người QL phải có khả năng phân tích chính xác các tình thế của hệ thống trong quá trình xây dựng và phát triển để tìm ra các khâu, các việc chủ yếu, những vấn đề then chốt có ý nghĩa quan trọng trong sự thành bại của
tổ chức Nắm vững nguyên tắc này người QL khắc phục được tình trạng dàn trải chung chung, tập trung vào những vấn đề then chốt quyết định trong việc QL tổ chức thực hiện mục tiêu
Nguyên tắc kiên định mục tiêu:
Đây là nguyên tắc đòi hỏi người QL các tổ chức có ý chí kiên định thực hiện cho được mục tiêu đã xác định Bởi vì một tổ chức dù có mục tiêu đúng đắn nhưng không phải lúc nào cũng được xã hội chấp nhận, đồng tình ủng hộ Nếu người QL thiếu tự tin, không quyết tâm thì mục tiêu không dễ đạt được
Thực tiễn QL cho thấy không có phương pháp nào là vạn năng, phương pháp nào cũng có mặt ưu điểm, mặt nhược điểm Bởi vậy, chủ thể QL cần biết phối hợp các phương pháp một cách linh hoạt nhằm khai thác được những mặt mạnh, hạn chế được những nhược điểm của từng phương pháp Vận dụng các phương pháp có
Trang 21thành công hay không phụ thuộc vào tài năng của nhà QL, nghệ thuật sử dụng các phương pháp đòi hỏi nhà QL sự sáng tạo, còn bản thân các phương pháp không phải
là cái quyết định thành công của nhà QL
có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới".[29,tr43]
Theo Phạm Viết Vượng: “QL trường học là lao động của các cơ quan QL nhằm tập hợp và tổ chức lao động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục
và đào tạo trong nhà trường” ".[41, tr23]
Tóm lại: “QL nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế
hệ trẻ và với từng HS”
Bản chất của hoạt động QL trong nhà trường là QL hoạt động dạy học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo
QL nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của QL, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng của nó QL nhà trường khác với các loại QL xã hội khác, được quy định bởi bản chất hoạt động sư phạm của người
GV, bản chất của quá trình dạy học, giáo dục trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng QL vừa là chủ thể hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận
QL nhà trường là phải QL toàn diện nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách của
Trang 22thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả Thành công hay thất bại của nhiệm vụ đổi mới nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhà trường phụ thuộc rất lớn vào điều kiện cụ thể của nhà trường Vì vậy muốn thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục người QL phải xem xét đến những điều kiện đặc thù của nhà trường, phải trú trọng tới việc cải tiến công tác QL giáo dục để QL có hiệu quả các hoạt động trong nhà trường
1.2.3 Hoạt động dạy học
Dạy học có thể tiếp cận như một hoạt động
Theo thuyết hoạt động, dạy học gồm hai hoạt động: hoạt động dạy của thầy
và hoạt động học của trò Hai hoạt động này luôn gắn bó với nhau, tồn tại trong một quá trình thống nhất
Hoạt động dạy: là sự tổ chức, điều khiển quá trình lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách HS Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy được biểu hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển hoạt động học tập của HS, giúp HS hình thành các kĩ năng, thái độ để tiếp nhận các kiến thức có hiệu quả Hoạt động dạy có chức năng kép là truyền đạt, tiếp nhận thông tin ngược và điều khiển hoạt động học
Hoạt động học: là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh tri thức khoa học, hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách Vai trò tự điều khiển của hoạt động học thể hiện ở sự tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo dưới sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn của thầy Khi chiếm lĩnh tri thức, HS đồng thời đạt được ba mục đích, đó là: tiếp nhận tri thức khoa học, phát triển năng lực trí tuệ và hình thành những phẩm chất, nhân cách Hoạt động học có hai chức năng lĩnh hội và điều khiển quá trình chiếm lĩnh tri thức, các khái niệm một cách tự giác, tích cực Nội dung hoạt động học bao gồm hệ thống khái niệm của môn học, phương pháp đặc trưng của bộ môn để biến tri thức của nhân loại hình thành những kiến thức của bản thân, hình thành và phát triển năng lực con người theo đúng mục tiêu giáo dục
Như vậy, HĐDH là một trong những hoạt động giao tiếp sư phạm mang ý nghĩa xã hội Các chủ thể của HĐDH tiến hành các hoạt động khác nhau nhưng không đối lập nhau mà tồn tại và phát triển song song với nhau trong một quá trình thống nhất, cùng hướng tới mục tiêu chung, đó là sự biến đổi của người học về nhận thức, kĩ năng và thái độ Kết quả của HS được đánh giá không chỉ là kết quả của quá trình học mà còn là kết quả của hoạt động dạy
Trang 23Tóm lại, dạy học là quá trình hoạt động cộng đồng hợp tác giữa GV với
HS, giữa HS với HS Dạy tốt, học tốt là đảm bảo thống nhất của điều khiển, bị điều khiển, tự điều khiển và mối liên hệ ngược thường xuyên, bền vững [41, tr.58]
1.2.4 QL hoạt động dạy học
1.2.4.1 Lý luận về QL HĐDH
Chúng ta đã biết, QL giáo dục là hoạt động có ý thức của nhà QL nhằm đạt tới mục tiêu QL Nhà QL cùng với đông đảo đội ngũ GV, HS, các lực lượng xã hội, bằng hành động của mình biến mục tiêu đó thành hiện thực
Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất với nhau là hoạt động trung tâm của nhà trường Mọi hoạt động đa dạng và phức tạp khác của nhà trường đều hướng vào tiêu điểm này Vì vậy, QL nhà trường thực chất là QL quá trình sư phạm của thầy, hoạt động học tập – tự giáo dục của trò, diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học
Như vậy, QL hoạt động dạy – học thực chất là những tác động của chủ thể
QL vào quá trình dạy học (được tiến hành bởi tập thể GV và HS với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường
1.2.4.2 Vị trí QL HĐDH
Hoạt động dạy học ở nhà trường phổ thông giữ vị trí trung tâm bởi nó chiếm hầu hết thời gian khối lượng công việc của thầy và trò trong một năm học; nó làm nền tảng quan trọng để thực hiện thành công mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường phổ thông; đồng thời nó quyết định kết quả đào tạo của nhà trường HĐDH còn là hoạt động đặc thù của nhà trường phổ thông, nó được quy định bởi đặc thù lao động sư phạm của người GV Vì vậy, nó cũng quy định tính đặc thù của công tác QL nhà trường nói chung và QL HĐDH nói riêng
Người Hiệu trưởng phải nhận thức đúng vị trí quan trọng và tính đặc thù của HĐDH để có những biện pháp QL khoa học, sáng tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
Công tác QL hoạt động dạy – học giữ vị trí quan trọng trong công tác QL nhà trường Mục tiêu QL chất lượng đào tạo là nền tảng, là cơ sở để nhà QL xác định các mục tiêu QL khác trong hệ thống mục tiêu QL của nhà trường
Trang 24QL hoạt động dạy – học là nhiệm vụ trọng tâm của người Hiệu trưởng Xuất phát từ vị trí quan trọng của HĐDH, người Hiệu trưởng phải dành nhiều thời gian
và công sức cho công tác QL HĐDH nhằm ngày càng nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội
1.2.4.3 Nội dung QL HĐDH
Trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi chỉ nghiên cứu nội dung QL HĐDH của Hiệu trưởng trường THPT Khi chủ thể là Hiệu trưởng trường THPT thì nội dung QL HĐDH gồm:
* Chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch HĐDH
- Chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch chuyên môn của nhà trường
- Chỉ đạo việc xây dựng thời khóa biểu
- Chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch năm học
- Chỉ đạo GV xây dựng kế hoạch năm học
* Thực hiện công tác tổ chức trong QL HĐDH
- Phân công giữa Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng chuyên môn để QL HĐDH
- Xây dựng tổ chuyên môn
- Hiệu trưởng phân công giảng dạy và chủ nhiệm
- Hiệu trưởng sắp xếp HS vào các lớp học
* Điều hành, lãnh đạo hoạt động giảng dạy của GV và hoạt động học của
HS
- Hiệu trưởng điều hành, lãnh đạo hoạt động giảng dạy của GV
+ Hiệu trưởng chỉ đạo trực tiếp: QL GV thực hiện chương trình dạy học; QL công tác chuẩn bị giờ lên lớp của GV; QL giờ dạy trên lớp của GV; QL việc GV kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS
+ Hiệu trưởng chỉ đạo hoạt động của tổ chuyên môn để QL hoạt động dạy của GV
+ Hiệu trưởng phối hợp với các tổ chức xã hội trong nhà trường để QL hoạt động dạy của GV
- QL hoạt động học của HS
+ Tổ chức xây dựng và thực hiện nội quy học tâp của HS
Trang 25+ Phát động phong trào thi đua học tập
+ Chỉ đạo GV xây dựng kế hoạch chủ nhiệm
+ Chỉ đạo công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường để QL hoạt động học của HS
+ Chỉ đạo phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm và các lực lượng giáo dục khác
* Kiểm tra HĐDH
Hiệu trưởng kiểm tra hoạt động dạy của GV; Hiệu trưởng kiểm tra hoạt động học của HS
1.3 Chuẩn KT, KN và vai trò của Chuẩn KT, KN trong dạy học, đánh giá
1.3.1 Khái niệm Chuẩn KT, KN và những yêu cầu của chuẩn
Theo Chuẩn KT, KN của CTGD phổ thông và theo tác Nguyễn Cao Cường [14] khái hiệm Chuẩn KT, KN và những yêu cầu của chuẩn được trình bày cụ thể:
1.3.1.1 Khái niệm Chuẩn KT, KN
Chuẩn là cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để làm mẫu [42, tr.397] Đạt được những yêu cầu của chuẩn là đạt được mục tiêu mong muốn của chủ thể
QL hoạt động, công việc, sản phẩm đó
Chuẩn là những yêu cầu, tiêu chí (gọi chung là những yêu cầu) tuân theo những nguyên tắc nhất định, được dùng để làm thước đo đánh giá hoạt động, công việc, sản phẩm của lĩnh vực nào đó Đạt được những yêu cầu của chuẩn là đạt được mục tiêu mong muốn của chủ thể QL hoạt động, công việc, sản phẩm đó
Yêu cầu là sự cụ thể hóa, chi tiết hóa, tường minh hóa những nội dung, những căn cứ để đánh giá chất lượng Yêu cầu có thể được đo thông qua chỉ số thực hiện Yêu cầu được xem như những “chốt kiểm soát” để đánh giá chất lượng đầu vào, đầu ra cũng như quá trình thực hiện
1.3.1.2 Những yêu cầu của Chuẩn KT, KN
Có tính khách quan, chuẩn không lệ thuộc vào quan điểm hay thái độ chủ quan của người sử dụng Chuẩn
Có tính ổn định, nghĩa là có hiệu lực, cả về phạm vi lẫn thời gian áp dụng
Có tính khả thi, nghĩa là Chuẩn có thể thực hiện được (Chuẩn phù hợp với trình độ hay mức độ dung hòa hợp lý giữa yêu cầu phát triển ở mức cao hơn với
Trang 26những thực tiễn đang diễn ra)
Có tính cụ thể, tường minh và có chức năng định lượng
Không mâu thuẫn với các chuẩn khác trong cùng lĩnh vực hoặc những lĩnh vực có liên quan
1.3.1.3 Chuẩn KT, KN của CTGD phổ thông
Chuẩn KT, KN và yêu cầu về thái độ của CTGD phổ thông được thể hiện cụ thể trong các chương trình môn học, hoạt động giáo dục (gọi chung là môn học) và các chương trình cấp học
Chuẩn KT, KN của chương trình môn học là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu
về KT, KN của môn học mà HS cần phải và có thể đạt được sau mỗi đơn vị kiến thức (mỗi bài, chủ đề, chủ điểm, mô đun)
Chuẩn KT, KN của một đơn vị kiến thức là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về
KT, KN của đơn vị kiến thức mà HS cần phải và có thể đạt được
Yêu cầu về KT, KN thể hiện mức độ cần đạt về KT, KN
Mỗi yêu cầu về KT, KN có thể được chi tiết hóa hơn bằng những yêu cầu về
KT, KN cụ thể, tường minh hơn, được minh chứng bằng những ví dụ thể hiện được
cả nội dung KT, KN và mức độ cần đạt về KT, KN
Chuẩn KT, KN của chương trình cấp học là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu
về KT, KN của các môn học mà HS cần phải và có thể đạt được sau từng giai đoạn học tập trong cấp học
Chuẩn KT, KN ở chương trình các cấp học đề cập tới những yêu cầu tối thiểu về KT, KN mà HS cần và có thể đạt được sau khi hoàn thành CTGD của từng lớp học và cấp học Các chuẩn này cho thấy ý nghĩa quan trọng của việc gắn kết, phối hợp giữa các môn học nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của cấp học
Việc thể hiện Chuẩn KT, KN ở cuối chương trình cấp học biểu hiện hình mẫu mong đợi về người học sau mỗi cấp học và cần thiết cho công tác QL, chỉ đạo, đào tạo, bồi dưỡng GV
Chương trình cấp học thể hiện Chuẩn KT, KN không phải đối với từng môn học mà đối với từng lĩnh vực học tập Trong văn bản về chương trình của các cấp học, các Chuẩn KT, KN được biên soạn theo tinh thần:
Các Chuẩn KT, KN không những được đưa vào cho từng môn học riêng biệt
Trang 27mà còn cho từng lĩnh vực học tập nhằm thể hiện sự gắn kết giữa các môn học và hoạt động giáo dục trong nhiệm vụ thực hiện mục tiêu của cấp học
Chuẩn KT, KN và yêu cầu về thái độ được thể hiện trong chương trình cấp học là các chuẩn của cấp học, tức là những yêu cầu cụ thể mà HS cần đạt được ở cuối cấp học Cách thể hiện này tạo một tầm nhìn về sự phát triển của người học sau mỗi cấp học, đối với những gì mà mục tiêu cấp học đã đề ra
Những đặc điểm của Chuẩn KT, KN
Chuẩn KT, KN được chi tiết hóa, tường minh hóa bằng các yêu cầu cụ thể,
rõ ràng về KT, KN
Chuẩn KT, KN có tính tối thiểu, nhằm đảm bảo mọi HS cần phải và có thể đạt được những yêu cầu cụ thể này
Chuẩn KT, KN là thành phần của CTGD phổ thông
Trong CTDG phổ thông, Chuẩn KT, KN và yêu cầu về thái độ đối với người học được thể hiện, cụ thể hóa ở các chủ đề của chương trình môn học theo từng lớp
và ở các lĩnh vực học tập Đồng thời, Chuẩn KT, KN và yêu cầu về thái độ cũng được thể hiện ở phần cuối của chương trình mỗi cấp học
Chuẩn KT, KN là thành phần của CTGD phổ thông nên việc chỉ đạo dạy học, kiểm tra, đánh giá theo Chuẩn KT, KN sẽ tạo nên sự thống nhất; hạn chế tình trạng dạy học quá tải, đưa thêm nhiều nội dung nặng nề, quá cao so với Chuẩn KT,
KN vào dạy học, kiểm tra, đánh giá; góp phần làm giảm tiêu cực của dạy thêm, học thêm; tạo điều kiện cơ bản, quan trọng để có thể tổ chức giảng dạy, học tập, kiểm tra, đánh giá và thi theo Chuẩn KT, KN
1.3.1.4 Các mức độ của Chuẩn KT, KN của CTGD phổ thông
Các mức độ về KT, KN được thể hiện cụ thể trong Chuẩn KT, KN của CTGD phổ thông
Về kiến thức: yêu cầu HS phải hiểu rõ và nắm vững các kiến thức cơ bản
trong chương trình, sách giáo khoa để từ đó có thể phát triển năng lực nhận thức ở cấp cao hơn
Về Kĩ năng: yêu cầu HS phải biết vận dụng các kiến thức đã học để trả lời
câu hỏi, giải bài tập, làm thực hành; có kĩ năng tính toán, vẽ hình, dựng biểu đồ,
Kiến thức, kĩ năng phải dựa trên cơ sở phát triển năng lực, trí tuệ HS ở các
Trang 28cấp độ, từ đơn giản đến phức tạp, bao hàm các mức độ khác nhau của nhận thức
Mức độ cần đạt được về kiến thức được xác định theo 6 mức độ: nhận biết,
thông hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá và sáng tạo (có thể tham khảo thêm phân loại Nikko) gồm 4 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng ở mức thấp, vận dụng ở mức cao)
Nhận biết là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây; là sự nhận biết
thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lý thuyết phức tạp Đây là mức độ, yêu cầu thấp nhất của trình độ nhận thức, thể hiện ở chỗ HS có thể và chỉ cần nhớ hoặc nhận ra khi được đưa ra hoặc dựa trên những thông tin có tính đặc thù của một khái niệm, một sự vật, một hiện tượng
HS phát biểu đúng một định nghĩa, định lí, định luật nhưng chưa giải thích
và vận dụng được chúng
Có thể cụ thể hóa mức độ nhận biết bằng các yêu cầu:
- Nhận ra, nhớ lại các khái niệm, định lí, định luật, tính chất
- Nhận dạng được (không cần giải thích) các khái niệm, hình thể, vị trí tương đối giữa các đối tượng trong các tình huống đơn giản
- Liệt kê, xác định các vị trí tương đối, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu
tố, các hiện tượng
Thông hiểu là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, sự
vật, hiện tượng; giải thích, chứng minh được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện tượng Thông hiểu là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà HS đã học hoặc đã biết Điều đó có thể được thể hiện bằng việc chuyển thông tin từ dạng này sang dạng khác, bằng cách giải thích thông tin (giải thích hoặc tóm tắt) và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai (dự báo các hệ quả hoặc ảnh hưởng)
Có thể cụ thể hóa mức độ thông hiểu bằng các yêu cầu:
- Diễn tả bằng ngôn ngữ cá nhân các khái niệm, định lí, định luật, tính chất, chuyển đổi được từ hình thức ngôn ngữ này sang hình thức ngôn ngữ khác (ví dụ: từ lời sang công thức, kí hiệu, số liệu và ngược lại)
Trang 29- Biểu thị, minh họa, giải thích được ý nghĩa của các khái niệm, hiện tượng, định nghĩa, định lí, định luật
- Lựa chọn, bổ sung, sắp xếp lại những thông tin cần thiết để giải quyết một vấn đề nào đó
- Sắp xếp lại các ý trả lời câu hỏi hoặc lời giải bài toán theo cấu trúc lôgic
Vận dụng là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ
thể mới như vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra Vận dụng là khả năng đòi hỏi HS phải biết khai thác kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó
Đây là mức độ cao hơn mức độ thông hiểu ở trên, yêu cầu áp dụng được các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lí, định lí, định luật, công thức để giải quyết một vấn đề trong học tập hoặc của thực tiễn
Có thể cụ thể hóa mức độ vận dụng bằng các yêu cầu:
- So sánh các phương án giải quyết vấn đề
- Phát hiện lời giải có mâu thuẫn, sai lầm và chỉnh sửa được
- Giải quyết được những tình huống mới bằng cách vận dụng các khái niệm, định luật, định lí, tính chất đã biết
- Biết khái niệm hóa, trừu tượng hóa từ tình huống đơn giản, đơn lẻ quen thuộc sang tình huống mới, phức tạp hơn
Phân tích là khả năng phân chia một thông tin ra thành các phần thông tin
nhỏ sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của các bộ phận cấu thành và thiết lập mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng
Đây là mức độ cao hơn mức độ vận dụng vì nó đòi hỏi sự thấu hiểu cả về nội dung lẫn hình thái cấu trúc của thông tin, sự vật, hiện tượng Mức độ phân tích yêu cầu chỉ ra được các bộ phận cấu thành, xác định được mối quan hệ giữa các bộ phận, nhận biết và hiểu được nguyên lí cấu trúc của các bộ phận cấu thành
Có thể cụ thể hóa mức độ phân tích bằng các yêu cầu:
Phân tích các sự kiện, dữ kiện thừa, thiếu hoặc đủ để giải quyết được vấn đề Xác định được mối quan hệ giữa các bộ phận trong toàn thể
Cụ thể hóa được những vấn đề trừu tượng
Nhận biết và hiểu được cấu trúc các bộ phận cấu thành
Trang 30Đánh giá là khả năng xác định giá trị của thông tin: bình xét, nhận định, xác
định được giá trị của một tư tưởng, một nội dung kiến thức, một phương pháp Đây
là một bước mới trong việc lĩnh hội kiến thức được đặc trưng bởi việc đi sâu vào bản chất của đối tượng, sự vật, hiện tượng Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất định; đó có thể là các tiêu chí bên trong (cách tổ chức) hoặc các tiêu chí bên ngoài (phù hợp với mục đích)
Mức độ đánh giá yêu cầu xác định được các tiêu chí đánh giá (người đánh giá tự xác định hoặc được cung cấp các tiêu chí) và vận dụng được các tiêu chí đó
để đánh giá
Có thể cụ thể hóa mức độ đánh giá bằng các yêu cầu:
Xác định được các tiêu chí đánh giá và vận dụng chúng để đánh giá thông tin, sự vật, hiện tượng, sự kiện
Đánh giá, nhận định giá trị của các thông tin, tư liệu theo một mục đích, yêu cầu xác định
Phân tích những yếu tố, dữ kiện đã cho để đánh giá sự thay đổi về chất của
sự vật, sự kiện
Đánh giá, nhận định được giá trị của nhân tố mới xuất hiện khi thay đổi các mối quan hệ cũ
Các công cụ đánh giá có hiệu quả phải giúp xác định được KQHT ở mọi cấp
độ nói trên để đưa ra một nhận định chính xác về năng lực của người được đánh giá
về chuyên môn liên quan
Sáng tạo là khả năng tổng hợp, sắp xếp, thiết kế lại thông tin; khai thác, bổ
sung thông tin từ các nguồn tư liệu khác để sáng lập một hình mẫu mới
Mức độ sáng tạo yêu cầu tạo ra được một hình mẫu mới, một mạng lưới các quan hệ trừu tượng (sơ đồ phân lớp thông tin) KQHT trong lĩnh vực này nhấn mạnh vào các hành vi, năng lực sáng tạo, đặc biệt là trong việc hình thành các cấu trúc và mô hình mới
Có thể cụ thể hóa mức độ sáng tạo bằng các yêu cầu:
Mở rộng một mô hình ban đầu thành mô hình mới
Khái quát hóa những vấn đề riêng lẻ, cụ thể thành vấn đề tổng quát mới
Kết hợp nhiều yếu tố riêng thành một tổng thể hoàn chỉnh mới
Trang 31Dự đoán, dự báo sự xuất hiện nhân tố mới khi thay đổi các mối quan hệ cũ Đây là mức độ cao nhất của nhận thức, vì nó chứa đựng các yếu tố của những mức độ nhận thức trên và đồng thời cũng phát triển chúng
1.3.2 Vai trò của Chuẩn KT, KN trong dạy học, đánh giá
Chuẩn KT, KN là cơ sở để biên soạn sách giáo khoa, QL dạy học, đánh giá
kết quả giáo dục ở từng môn học và hoạt động giáo dục nhằm đảm bảo tính thống nhất, tính khả thi của chương trình phổ thông; bảo đảm chất lượng và hiệu quả của
quá trình giáo dục phổ thông
1.3.2.1 Đối với việc lập KHDH, xác định mục tiêu bài học
Chuẩn KT, KN là cơ sở để lập KHDH cho cả bậc học, lớp học, môn học Căn cứ vào Chuẩn KT, KN người lập KHDH xác định được mục tiêu cho cả bậc học, lớp học, môn học Đồng thời nó cũng là thước đo nhằm đối chiếu mức độ đạt được của hoạt động dạy của GV và mức độ đạt được của hoạt động học của HS
Chuẩn KT, KN giúp xác định mục tiêu bài học Chú trọng dạy học nhằm đạt được các yêu cầu cơ bản và tối thiểu về KT, KN, đảm bảo không quá tải và không quá lệ thuộc hoàn toàn vào sách giáo khoa Mức độ khai thác sâu KT, KN trong sách giáo khoa phải phù hợp với khả năng tiếp thu của HS
1.3.2.2 Đối với việc lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học
Chuẩn KT, KN giúp sáng tạo về phương pháp dạy học, phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác học tập của HS Chú trọng rèn luyện phương pháp tư duy, năng lực tự học, tự nghiên cứu; tạo niềm vui, hứng khởi, nhu cầu hành động và thái
độ tự tin trong học tập của HS
Chuẩn KT, KN giúp trong dạy học thể hiện được mối quan hệ tích cực giữa
GV và HS, giữa HS với HS; tiến hành dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập của HS, kết hợp giữa học tập cá thể với học tập hợp tác, làm việc theo nhóm
Chuẩn KT, KN là cơ sở để trong dạy học, chú trọng đến việc rèn luyện các kĩ năng, năng lực hành động, vận dụng kiến thức, tăng cường thực hành và gắn nội dung bài học với thực tiễn cuộc sống
Chuẩn KT, KN là cơ sở để trong dạy học, chú trọng đến việc sử dụng có hiệu quả phương tiện, thiết bị dạy học được trang bị hoặc do GV và HS tự làm; quan tâm
Trang 32đến ứng dụng công nghệ thông tin
Chuẩn KT, KN là cơ sở để trong dạy học, chú trọng đến việc động viên, khuyến khích kịp thời sự tiến bộ của HS trong quá trình học tập; đa dạng hóa nội dung, các hình thức, cách thức đánh giá và tăng cường hiệu quả việc đánh giá
Như vậy, có thể nói Chuẩn KT, KN là cơ sở để thực hiện đổi mới phương pháp dạy học thành công
1.3.2.3 Đối với việc tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS
Kiểm tra và đánh giá là hai khâu trong một quy trình thống nhất nhằm xác định kết quả thực hiện mục tiêu dạy học Kiểm tra là thu thập thông tin từ riêng lẻ đến hệ thống về kết quả thực hiện mục tiêu dạy học Đánh giá là xác định mức độ đạt được về thực hiện mục tiêu dạy học
Đánh giá KQHT thực chất là việc xem xét mức độ đạt được của hoạt động học của HS so với mục tiêu đề ra đối với từng môn học, từng lớp học, cấp học Mục tiêu của mỗi môn học được cụ thể hóa thành các Chuẩn KT, KN Từ các chuẩn này khi tiến hành kiểm tra, đánh giá KQHT môn học, cần phải thiết kế thành những tiêu chí nhằm kiểm tra được đầy đủ cả về định tính và định lượng KQHT của HS
Như vậy, ta có thể thấy Chuẩn KT, KN có ảnh hưởng tới tất cả các khâu của quá trình kiểm tra, đánh giá KQHT của HS Chuẩn KT, KN là thước đo xây dựng
hệ tham chiếu mức độ đạt được trong quá trình học tập của HS, nghĩa là Chuẩn KT,
KN chính là công cụ nhằm thu nhập thông tin phục vụ quá trình kiểm tra Sau khi thu thập được thông tin, xử lý số liệu ta bắt đầu quá trình đánh giá, tức là đối chiếu kết quả thu được với Chuẩn KT, KN để đánh giá hiệu quả học tập của HS Từ đó,
có biện pháp tư vấn, thúc đẩy phát triển hoạt động học của HS theo hướng đáp ứng yêu cầu của Chuẩn KT, KN
1.4 Trường THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.4.1 Vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn của trường THPT
1.4.1.1 Vị trí của trường THPT
Theo Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGD&ĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, trường trung học có vị trí “Trường trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục
Trang 33quốc dân Trường có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng.”
1.4.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của trường THPT
Trường THPT có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1 Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, CTGD dành cho cấp THPT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công khai mục tiêu, nội dung các hoạt động giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục
2 QL GV, CB, nhân viên ; thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật
3 Tuyển sinh và tiếp nhận HS; vận động HS đến trường; QL HS theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
4 QL, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước Huy động các nguồn lực cho hoạt động giáo dục Phối hợp với gia đình
HS, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục
5 Tổ chức cho GV, nhân viên, HS tham gia hoạt động xã hội
6 Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục
của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục
1.4.2 Đội ngũ GV THPT
Theo Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGD&ĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, quy định: GV trường trung học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, gồm: Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, GV bộ môn, GV làm công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (Trợ lý thanh niên), GV làm công tác tư vấn cho HS
Nhiệm vụ của GV trường THPT:
1 Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục, KHDH của nhà trường theo chế độ làm việc của GV do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định; QL HS trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giáo dục; tham gia nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng;
2 Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để
Trang 34nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục; vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học của HS;
3 Thực hiện Điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của Hiệu trưởng, chịu
sự kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng và các cấp QL giáo dục;
4 Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước HS; thương yêu, tôn trọng HS, đối xử công bằng với HS, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của HS; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; tạo dựng môi trường học tập và làm việc dân chủ, thân thiện, hợp tác, an toàn và lành mạnh;
5 Phối hợp với GV chủ nhiệm, các GV khác, gia đình HS, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, trong dạy học và giáo dục HS;
6 Tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phương và các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
1.4.3 Đặc điểm HS THPT
Theo Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGD&ĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, quy định:
* Tuổi HS trường THPT
- Tuổi của HS vào học lớp 10 là 15 tuổi Đối với những HS được học vượt lớp ở cấp học trước hoặc HS vào cấp học ở độ tuổi cao hơn tuổi quy định thì tuổi
vào lớp 10 được giảm hoặc tăng căn cứ vào tuổi của năm tốt nghiệp cấp học trước
- HS là người dân tộc thiểu số, HS khuyết tật, HS có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, HS ở nước ngoài về nước có thể vào cấp học ở tuổi cao hơn 3 tuổi so với tuổi quy định
- HS không được lưu ban quá 02 lần trong một cấp học
- HS có thể lực tốt và phát triển sớm về trí tuệ có thể vào học trước tuổi hoặc học vượt lớp trong phạm vi cấp học Thủ tục xem xét đối với từng trường hợp cụ thể được thực hiện theo các bước sau:
+ Cha mẹ hoặc người đỡ đầu có đơn đề nghị với nhà trường;
+ Hiệu trưởng nhà trường thành lập hội đồng khảo sát, tư vấn gồm: các đại diện của Ban giám hiệu và Ban đại diện cha mẹ HS của trường; GV dạy lớp HS
Trang 35đang theo học; GV dạy lớp; nhân viên y tế;
+ Căn cứ kết quả khảo sát của hội đồng tư vấn, Hiệu trưởng xem xét, quyết định
- HS trong độ tuổi THPT ở nước ngoài về nước, con em người nước ngoài làm việc tại Việt Nam đều được học ở trường trường THPT tại nơi cư trú hoặc trường THPT ở ngoài nơi cư trú nếu trường đó có khả năng tiếp nhận Thủ tục như sau:
+ Cha mẹ hoặc người đỡ đầu có đơn đề nghị với nhà trường;
+ Hiệu trưởng nhà trường tổ chức khảo sát trình độ của HS và xếp vào lớp phù hợp
3 Rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh cá nhân.Tham gia các hoạt động tập thể của trường, của lớp, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; giúp đỡ gia đình
và tham gia các công tác xã hội như hoạt động bảo vệ môi trường, thực hiện trật tự
an toàn giao thông,
4 Giữ gìn, bảo vệ tài sản của nhà trường, nơi công cộng; góp phần xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của nhà trường
* Quyền của HS THPT
1 Được bình đẳng trong việc hưởng thụ giáo dục toàn diện, được bảo đảm những điều kiện về thời gian, CSVC, vệ sinh, an toàn để học tập ở lớp và tự học ở nhà, được cung cấp thông tin về việc học tập của mình, được sử dụng trang thiết bị, phương tiện phục vụ các hoạt động học tập, văn hoá, thể thao của nhà trường theo quy định
2 Được tôn trọng và bảo vệ, được đối xử bình đẳng, dân chủ, được quyền khiếu nại với nhà trường và các cấp QL giáo dục về những quyết định đối với bản thân mình; được quyền chuyển trường khi có lý do chính đáng theo quy định hiện hành; được học trước tuổi, học vượt lớp, học ở tuổi cao hơn tuổi quy định theo Điều
Trang 3637 của Điều lệ này
3 Được tham gia các hoạt động nhằm phát triển năng khiếu về các môn học, thể thao, nghệ thuật do nhà trường tổ chức nếu có đủ điều kiện; được giáo dục kĩ năng sống
4 Được nhận học bổng hoặc trợ cấp khác theo quy định đối với những HS được hưởng chính sách xã hội, những HS có khó khăn về đời sống và những HS có năng lực đặc biệt
5 Được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật
đã có của HS Tạo niềm vui, hứng khởi, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho HS Giúp HS phát triển tối đa năng lực, tiềm năng của bản thân
Quản lí hoạt động dạy học ở trường THPT được thực hiện thông qua Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, tổ chuyên môn, tổ Giám thị và đặc biệt là khâu tự quản của giáo viên bộ môn Do đó, ứng với mỗi chủ thể QL ở trường THPT lại có một đối tượng QL tương ứng Vì vậy, ở mỗi cấp độ khác nhau, thì phạm vi, mức độ QL cũng khác nhau Người QL HĐDH ở trường THPT ngoài việc
am hiểu kiến thức về QL mà cần phải tinh thông về kiến thức trên các lĩnh vực khoa học xã hội và khoa học tự nhiên để nhận thức đúng tính đặc thù của HĐDH, từ đó
có những biện pháp QL khoa học, sáng tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
1.5 QL hoạt động dạy học theo Chuẩn KT, KN
1.5.1 QL khâu lập KHDH theo Chuẩn KT, KN
Trang 37Việc xây dựng KHDH, GV cần phân tích nhu cầu của HS, tìm hiểu các thông tin về HS để xác định nội dung dạy học; nghiên cứu mối quan hệ giữa môn học của mình giảng dạy với các môn học khác để xác định được vị trí và mối quan hệ giữa các môn học trong chương trình, từ đó xác định và sắp xếp mục tiêu môn học, bài học (đã được quy định trong tài liệu Chuẩn KT, KN của từng môn học) theo một trình tự logic, khoa học GV cần tổ chức nội dụng, lựa chọn phương pháp, thiết bị phù hợp với các cấp độ mục tiêu, đối tượng HS và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nhà trường; thiết kế công cụ và quy trình đánh giá KQHT của HS; lập KHDH dựa trên cơ sở văn bản chương trình, kế hoạch năm học và những thông tin có được
từ sự phân tích nhu cầu Những thông tin trên phải được thể hiện rõ trong hồ sơ HS
Người QL nhà trường cần tập huấn, phổ biến, quy định cho GV về quy trình, các loại biểu mẫu khảo sát nhu cầu, phương pháp xử lí thông tin; các loại giấy tờ, sổ sách cần lưu lại trong hồ sơ môn học, chẳng hạn như: phiếu điều tra nhu cầu của
HS, kết quả xử lí thông tin, đề kiểm tra kiến thức nền, KHDH Đặc biệc, KHDH phải thể hiện được những thông tin về môn học, các chuẩn của môn học, xác định mục tiêu chi tiết của môn học, khung chương trình, lịch trình dạy học chi tiết
1.5.2 QL khâu lập kế hoạch bài học theo Chuẩn KT, KN
Sau khi có KHDH, GV cần lập KHBH QL khâu thực thi KHDH theo Chuẩn
KT, KN cần quan tâm tới việc xây dựng kế hoạch bài dạy, chuẩn bị môi trường dạy học, lập hồ sơ môn học
Về việc xây dựng kế hoạch bài dạy, GV cần thể hiện rõ việc xác định mục tiêu bài dạy chi tiết ứng với từng đơn vị nội dung của bài Những mục tiêu này hướng tới mục tiêu bài học Mục tiêu của bài hướng tới mục tiêu của bộ môn và của chương trình giáo dục nói chung Bên cạnh đó, GV cần thể hiện rõ trong kế hoạch bài dạy hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học, các thiết bị dạy học sử dụng trong bài dạy
Về việc kiểm tra, đánh giá KQHT của HS, yêu cầu GV cần phải thể hiện bằng kế hoạch kiểm tra đánh giá, các đề kiểm tra, đáp án, biểu điểm, ma trận của các đề kiểm tra đánh giá
Tất cả các nội dung để thực thi KHDH, người QL yêu cầu GV thể hiện trong
hồ sơ môn học như: lịch báo giảng, giáo án, sổ theo dõi KQHT của HS, sổ dự giờ,
Trang 38đề kiểm tra, sổ ghi chép đánh giá của đồng nghiệp về tiết dạy, sổ lưu thông tin phản hồi từ HS
Việc QL khâu thực thi KHDH cần thể hiện thành hai hoạt động: kiểm tra hồ
sơ và dự giờ dạy của GV Đối với việc dự giờ của GV cần sử dụng tiêu chí đánh giá giờ dạy theo Chuẩn KT, KN
1.5.3 QL thực hiện kế hoạch bài học theo Chuẩn KT, KN của GV
Đối với giờ lên lớp, vai trò của Hiệu trưởng là gián tiếp, nói như vậy hoàn toàn không phải là Hiệu trưởng không thể tác động có hiệu quả đến giờ lên lớp, Hiệu trưởng một mặt phải có những biện pháp tạo khả năng điều kiện cho GV lên lớp có hiệu quả, mặt khác Hiệu trưởng cùng với những người giúp việc phải tìm mọi biện pháp tác động trực tiếp đến giờ lên lớp của GV Đó là tư tưởng chỉ đạo hành động QL giờ lên lớp của Hiệu trưởng
Để nâng cao chất lượng giờ dạy trên lớp của GV Hiệu trưởng cần thực hiện một số biện pháp cơ bản sau:
Xây dựng tiêu chuẩn giờ lên lớp
Thông thường, có hai giai đoạn mà Hiệu trưởng và những người giúp việc có thể tác động tốt đến giờ lên lớp của GV, đó là lúc GV chuẩn bị giờ dạy và lúc rút kinh nghiệm về giờ dạy, nhưng như thế vẫn là trước hoặc sau giờ lên lớp Làm thế nào GV vẫn có thể tự kiểm soát được giờ lên lớp của họ, tự biết được mình đang làm gì, làm như thế nào, tốt hay chưa tốt, Hiệu trưởng cần xây dựng chuẩn giờ lên lớp
Xây dựng được chuẩn giờ lên lớp là một việc làm cần thiết, chuẩn này trước hết là cơ sở để GV tự đánh giá kết quả công việc của họ mà phần lớn không có người chứng kiến ngoài HS, nhưng ý nghĩa và tác dụng đối với sự tiến bộ nghề nghiệp, đối với chất lượng dạy học lại rất lớn Chuẩn này cũng có thể dùng để đánh giá việc giảng dạy của GV Vì vậy, khi xây dựng chuẩn cần đảm bảo tính khoa học
và tính thực tiễn, phù hợp với trình độ của GV Chuẩn giờ lên lớp cũng là một quyết định QL của Hiệu trưởng, nó gắn liền với thực tế trình độ của GV trong từng giai đoạn, vì vậy cần thấy rõ sự vận động của các tiêu chuẩn và làm cho nó càng tiến bộ hơn Những căn cứ để xây dựng chuẩn:
+ Yêu cầu về KT, KN của các môn học được quy định trong chương trình; + Tiêu chuẩn đánh giá tiết dạy mà Bộ hoặc Sở GD&ĐT quy định;
Trang 39+ Những quy định về các loại bài (giảng kiến thức mới, luyện tập, thực hành, );
+ Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học (để nắm được những vấn đề cần nhấn mạnh hoặc có sửa đổi nội dung);
+ Các phương pháp mới trong giảng dạy ở trường phổ thông
Tổ chức việc dự giờ và phân tích giờ dạy của GV
Quản lí hoạt động dạy học thông qua việc dự giờ và phân tích sư phạm giờ dạy để trên cơ sở đó đề ra những quyết định QL hợp lý nhằm thúc đẩy mọi hoạt động của nhà trường, đó là chức năng trung tâm của Hiệu trưởng, đây cũng là nét đặc thù của QL trường học
Tư tưởng chỉ đạo đối với việc QL giờ lên lớp là Hiệu trưởng càng tác động trực tiếp vào giờ lên lớp càng tốt, do đó dự giờ dạy của GV là biện pháp trực tiếp nhất và quan trọng nhất trong các biện pháp QL giờ lên lớp Vậy việc dự giờ và phân tích các bài học là công việc quan trọng nhất của người Hiệu trưởng
Phó hiệu trưởng cần lập kế hoạch tổng thể về việc dự giờ và phân tích sư phạm bài học toàn năm học Trên cơ sở đó xếp lịch dự giờ và phân tích giờ dạy trong từng tuần Để nâng cao chất lượng công tác dự giờ, Hiệu trưởng cần bồi dưỡng cho toàn thể GV kĩ năng dự giờ và phân tích giờ dạy của GV theo quy trình nhất định
1.5.4 QL khâu tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS theo Chuẩn
KT, KN
Xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá KQHT của HS theo Chuẩn KT, KN
Tổ chức lực lượng kiểm tra, đánh giá HS theo Chuẩn KT, KN
Tổ chức xây dựng hệ thống ngân hàng đề kiểm tra bám sát yêu cầu Chuẩn KT, KN
Tổ chức kiểm tra, đánh giá HS theo định kì hàng tháng, cuối kì và cuối năm học
1.6 Những yếu tố tác động tới QL HĐDH theo chuẩn
1.6.1 Các yếu tố chủ quan
1.6.1.1 Mục tiêu, nội dung, chương trình và sách giáo khoa
Trong QL HĐDH thì việc xây dựng mục tiêu, nội dung, chương trình, sách giáo khoa là yếu tố quan trọng hàng đầu của các cấp QL giáo dục Muốn đạt được hiệu quả trong dạy học cần xác định rõ mục tiêu dạy học theo từng lớp, từng độ
Trang 40tuổi, môn học đảm bảo đủ các yêu cầu về KT, KN, thái độ Tiếp theo là việc xây dựng nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học cho phù hợp với từng vùng miền, phù hợp với tâm lý lứa tuổi và thực tế xã hội Tất cả các yếu tố đó cần được Hội đồng khoa học cấp Trung ương, Bộ GD&ĐT thẩm định và đưa vào chương trình, sách giáo khoa áp dụng thực tế sau khi đã thử nghiệm Việc xây dựng mục tiêu, nội dung, chương trình, sách giáo khoa ảnh hưởng đầu tiên, trực tiếp tới công tác QL HĐDH vì đó là kim chỉ nam, là yếu tố để đánh giá chất lượng giáo dục, chất lượng dạy học của nhà trường Vậy vấn đề đặt ra hiện nay đối với giáo dục THPT là tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình, sách giáo khoa cho đảm bảo và phù hợp với thực tế đáp ứng nhu cầu hội nhập hiện nay.[18,tr.37]
1.6.1.2 Hoạt động QL của CBQL đối với HĐDH ở trường THPT
Kết quả QL của nhà trường phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố đóng vai trò quyết định chính là năng lực của CBQL trong nhà trường đó đối với việc thực hiện các chức năng QL: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Như vậy, năng lực của CBQL tác động trực tiếp đến kết quả QL dạy học Chính vì vậy, CBQL nhà trường phải là người có trình độ lý luận về QL và năng lực QL giáo dục,
QL nhà trường, hiểu sâu sắc về lý luận dạy học; đồng thời cũng phải là nhà giáo có kinh nghiệm thực tiễn về dạy học và QL HĐDH,
1.6.1.3 Năng lực đội ngũ GV và đội ngũ phục vụ dạy học
Trong nhà trường THPT, đòi hỏi phải có đội ngũ GV và đội ngũ phục vụ dạy học có trình độ chuyên môn đạt chuẩn, có năng lực sư phạm vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt và phong cách nhà giáo đúng mực Đây là yếu tố về con người, cho nên trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm của đội ngũ ảnh hưởng đến việc xác định mục tiêu, nội dung và chương trình, lựa chọn các phương pháp và hình thức sử dụng các phương tiện dạy học, tạo môi trường dạy học, nhằm mang lại kết quả dạy học như mục tiêu mong muốn Như vậy, có thể nói chất lượng, hiệu quả giáo dục được quy định bởi năng lực, phẩm chất, ý thức, thái độ, trách nhiệm của mỗi thành viên trong nhà trường trước công việc được giao Đây là nhân tố quan trọng định ra kết quả cao hay thấp của công tác QL HĐDH
1.6.2 Các yếu tố khách quan