ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC LÊ THỊ THỦY HƯỚNG DẪN HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐỌC HIỂU BÀI THƠ TRÀNG GIANG NGỮ VĂN 11 TẬP II CỦA HUY CẬN THEO HƯỚNG TIẾP CẬN CẤU
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ THỦY
HƯỚNG DẪN HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐỌC HIỂU BÀI THƠ TRÀNG GIANG( NGỮ VĂN 11 TẬP II)
CỦA HUY CẬN THEO HƯỚNG TIẾP CẬN
CẤU TRÚC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Ái Học
HÀ NỘI - 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi chân thành cảm ơn những tấm lòng, sự nhiệt thành của các thầy cô giáo đang công tác tại trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội - những người đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo chúng tôi trong suốt khóa học đã luôn quan tâm giúp đỡ tôi cũng như các học viên cao học khóa 2011- 2013 trong thời gian chúng tôi học tập tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn tới TS Nguyễn Ái Học, người đã tận tâm chỉ
dạy, hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và quá trình hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh của trường Trung học Phổ thông Nam Duyên Hà; những người thân trong gia đình đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực nghiệm luận văn
Hà Nội, ngày 18 tháng 11 năm 2013
Tác giả
LÊ THỊ THỦY
Trang 3DANG MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Cơ sở lí luận 5
1.1.1 Khái niệm cấu trúc tác phẩm văn chương 5
1.1.2 Sự vận động bên trong của cấu trúc tác phẩm 7
1.1.3 Vận dụng lý thuyết cấu trúc trong nghiên cứu và phân tích tác phẩm văn học 9
1.1.4 Hướng dẫn học sinh đọc - hiểu tác phẩm văn chương từ góc độ lý thuyết cấu trúc 16
1.2 Cơ sở thực tiễn (Thực trạng của việc dạy học bài thơ “Tràng giang” ở trường phổ thông) 19
1.2.1 Khảo sát 19
1.2.2 Kết luận về thực trạng 24
CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC VĂN BẢN TRÀNG GIANG VÀ VIỆC HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN TRÀNG GIANG 30
2.1 Bài thơ “Tràng giang” trong chương trình Ngữ văn lớp 11 Trung học phổ thông 30
2.1.1 Tràng giang – Bài thơ tiêu biểu của phong trào thơ lãng mạn Việt Nam 30
2.1.2 Bài thơ Tràng giang giữ một vị trí quan trọng trong chương trình Ngữ văn Trung học Phổ thông 31
2.2 Cấu trúc văn bản của bài thơ “Tràng giang” 32
2.2.1 Cấu trúc bề nổi của bài thơ Tràng giang 32
2.2.2 Cấu trúc bề sâu của tác phẩm 56
2.3 Các biện pháp hướng dẫn học sinh đọc hiểu bài thơ Tràng giang qua việc phân tích cấu trúc tác phẩm 61
Trang 52.3.1 Hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm để thâm nhập vào văn bản thơ 61
2.3.2 Hướng dẫn học sinh sử dụng hệ thống câu hỏi bám sát cấu trúc văn bản thơ 63
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 67
3.1 Giáo án thực nghiệm 67
3.2 Thực nghiệm 82
3.2.1 Mục đích thực nghiệm 82
3.2.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 83
3.2.3 Nội dung và tiến trình thực nghiệm 83
3.2.4 Kết quả thực nghiệm và nhận xét đánh giá 84
3.2.5 Nhận xét và đánh giá chung 86
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 91
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tổng kết điểm kiểm tra của học sinh 84 Bảng 3.2 Phân loại kết quả 85
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở nước ta, cùng với những biến đổi và biến động xã hội, tâm lý về nhiều mặt, kể cả những tác động từ bên ngoài vào, vấn đề giảng dạy văn học trong nhà trường càng trở thành mối quan tâm chung Vì vậy không chỉ là công việc của bản thân nhà trường, lại càng không phải là chuyện văn chương chữ nghĩa đơn thuần mà là vấn đề có ý nghĩa xã hội chính trị,trước mắt cũng như về lâu dài Không phải ngẫu nhiên mà một viện sĩ nổi tiếng thế giới Mikhancôp – khi bàn về văn học đã nói rằng: “Giảm nội dung văn học trong chương trình nhà trường là giảm nhẹ chất nhân văn, bộ mặt tinh thần của thế hệ trẻ ngày nay và sau này ra sao không những tùy vào việc dạy cái gì mà còn do dạy như thế nào?” Vấn đề dạy học văn được Quốc hội khoa VI đã có lần đặt vấn đề này vào chương trình nghị sự của tiểu ban Văn hóa giáo dục Với cải cách giáo dục môn văn trong nhà trường đã có được những bước tiến đáng kể Chất văn chương, chất nhân văn của chương trình văn học đã được nâng lên khá rõ Thế nhưng, còn một bài toán khó chưa được đặt ra để bàn bạc và từng bước tìm cách giải quyết Đó là vấn đề
phương pháp dạy học văn trong nhà trường
Như vậy là vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học văn nói riêng đang là một vấn đề bức xúc của nhà trường chúng
ta hiện nay Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong nghị quyết Trung Ương 4 khóa VII(1-1993), nghị quyết Trung Ương 2 khóa VIII(12-1996): “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, phát triển mạnh mẽ phong tào tự học tự đào tạo thường xuyên rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên”, Định hướng đổi mới
Trang 8phương pháp dạy và học được thể chế hóa trong luật giáo dục (2005):
“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng
tự hành, niềm say mê học tập và ý chí vươn lên”
Cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động dạy học chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động của học sinh Từ những cơ sở pháp chế như trên đòi hỏi mỗi người giáo viên cần xác định rõ nhiệm vụ hàng đầu là phải đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng những yêu cầu của ngành giáo dục, cũng như góp phần quan trọng vào sự phát triển mọi mặt của đất nước Trong nhà trường phổ thông hiện nay, vấn đề dạy học văn mà đặc biệt là dạy học tác phẩm trữ tình tồn tại nhiều vấn đề bất cập xa rời bản chất đặc trưng của nó: Bệnh công thức như chủ đề, chia đoạn, phân tích ý1, ý2… tổng kết Khi phân tích quá thiên về nội dung,hoặc quá thiên về hình thức mà ít chú ý tới khoái cảm nghệ thuật, giá trị thẩm mỹ của tác phẩm Không chú ý tới tình huống cảm thụ nghệ thuật, người dạy nói nhiều thậm chí không thuộc thơ, chưa biết đọc diễn cảm, câu hỏi tháo gỡ phát hiện nhiều hơn câu hỏi cảm thụ Bên cạnh đó, một bộ phận giáo viên còn ỷ lại nhiều vào sách giáo viên và các sách hướng dẫn giảng dạy dẫn đến sự trơ lì trong dạy học hiện đại Đặc biệt việc tiếp cận tác phẩm văn chương đôi khi còn tùy tiện, chưa đồng bộ, chưa phát huy
được sức mạnh liên hoàn của các phương pháp, biện pháp
“Tràng giang” của Huy Cận là một trong những bài thơ nổi tiếng của phong trào Thơ mới, bài thơ này đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình phổ thông Với tác phẩm “Tràng giang” của Huy Cận – (chương trình Ngữ văn sách giáo khoa 11 tập 2) thì việc dạy và học tác phẩm này hiện nay còn thiên về diễn xuôi từng câu thơ, tìm ý,làm cho mạch cảm xúc của bài thơ
bị đứt đoạn,và chưa thấy được vẻ đẹp của cái tôi trữ tình trong thơ, cũng như
ý nghĩa triết lý của bài thơ Việc giảng dạy này làm cho một giờ học văn trở nên tẻ nhạt, trầm lắng, không phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh Do vậy làm mất đi hứng thú học tập của các em và làm cho việc dạy và học chưa đạt kết quả cao
Trang 9Từ những lý do trên đang đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với người dạy phải tìm ra một phương pháp dạy học thích hợp Để giúp cho việc dạy và học những tác phẩm thơ nói chung cũng như bài thơ “Tràng giang” nói riêng đạt
hiệu quả cao chúng tôi đã chọn đề tài: “Hướng dẫn học sinh Trung học Phổ thông đọc hiểu bài thơ Tràng giang(Ngữ văn 11 tập II) của Huy Cận theo hướng tiếp cận cấu trúc tác phẩm văn chương”
2 Lịch sử vấn đề
Huy cận đã đi qua một chặng đường thơ dài hơn sáu thập kỷ Thời kỳ nào Huy Cận cũng thu hút được sự chú ý của giới phê bình, nghiên cứu và đông đảo bạn đọc Trong sáu thập kỷ qua đã có hơn 80 bài tiểu luận viết về thơ Huy cận viết từ nhiều góc độ khác nhau Các nhà thơ, nhà phê bình, nghiên cứu văn học như Xuân Diệu, Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Lê Đình kỵ, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử, Vũ Quần Phương, Đỗ lai Thúy.v.v… Đều có những bài tiểu luận sâu sắc về Huy Cận Các nhà thơ, nhà nghiên cứu đều trân trọng những đóng góp của Huy Cận trên cả hai chặng đường thơ, trước và sau cách mạng Tiêu biểu là những bài tiểu luận như: “Thế giới thơ Huy Cận” của Xuân Diệu, tập sách được in năm 1987, với bài tiểu luận này giúp người đọc đi vào thế giới thơ Huy Cận
“Huy Cận và cái gốc của một hồn thơ” của Ngô Quân Miện, “những chặng đường thơ của Huy Cận” của Nguyễn Xuân Nam, “thi pháp thơ Huy Cận” của Trần Khánh Thành, “Huy Cận quê ở hành tinh” của Vũ Quần Phương.v.v…
Các bài nghiên cứu về tác phẩm “Tràng giang” của Huy Cận tiêu biểu như: “ Tràng giang, Sự hiện diện độc đáo của một tâm trạng” của Lê Dy,
“Linh hồn tạo vật trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận” của Hà Bình Trị,
“Tràng giang – bài thơ hiện đại mang đậm màu sắc cổ điển” của Nguyễn Thúy Nga.v.v… Tất cả những bài nghiên cứu này đều có giá trị lớn cho việc tham khảo, tìm hiểu, phân tích, giảng dạy bài thơ Tuy nhiên những bài nghiên cứu đó chưa đề ra được hướng tiếp cận cũng như những phương pháp dạy học cụ thể cho quá trình dạy và học trong nhà trường phổ thông Và vẫn chưa phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình học
Trang 10Những công trình này sẽ là những tư liệu quý cho chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài của mình Chúng tôi xin mạnh dạn đề xuất hướng dạy học
mà chúng tôi cho là phù hợp nhất với việc dạy học bài thơ Tràng giang của Huy Cận ở trường Phổ thông Đó là dạy học bài thơ Tràng giang của Huy Cận theo hướng tiếp cận cấu trúc tác phẩm văn chương
3 Mục đích nghiên cứu
Tìm cho được một cách dạy học thích hợp nhất đối với bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận qua tiếp cận cấu trúc tác phẩm văn chương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận – Ngữ văn 11 tập 2
Phương pháp tiếp cận cấu trúc trong dạy học bài thơ “Tràng giang”
5 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài này chúng tôi sử dụng các nhóm phương pháp
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo,và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Cấu trúc văn bản Tràng giang và việc hướng dẫn học sinh
đọc - hiểu văn bản Tràng giang
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm cấu trúc tác phẩm văn chương
Là tổ chức nội tại, mối quan hệ qua lại của các yếu tố của tác phẩm mà
sự biến đổi một yếu tố nào trong đó sẽ kéo theo sự biến đổi của các yếu tố khác Từ xưa người ta đã biết đến cấu trúc của tác phẩm văn học, nhưng chỉ hiểu ở khía cạnh hòa hợp, hài hòa, đối xứng Nghiên cứu văn học từ những năm 20 của thế kỉ XX hiểu cấu trúc của tác phẩm là kết cấu, cấu tạo và mối quan hệ qua lại của nhân vật với các hình tượng khác, quan hệ giữa các lớp tư tưởng chủ đề và lớp tạo hình, tổ chức lời văn
Ngày nay, cấu trúc của tác phẩm văn học là một khái niệm được sử dụng phổ biến và được hiểu như là mối quan hệ qua lại của các kí hiệu thẩm
mĩ đặc thù, bởi tác phẩm là một thông báo bằng một ngôn ngữ đặc biệt Khác với ngôn ngữ tự nhiên, các yếu tố cấu trúc của tác phẩm đều có ý nghĩa riêng
Ví dụ một câu tục ngữ: Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng, thì cả mực và đen, đèn và sáng, trong cấu trúc của câu tục ngữ đều hàm chứa những nội dung mà những chữ ấy thông thường tách riêng ra không thể có được Do đó muốn hiểu tác phẩm văn học, ta phải tìm hiểu cấu trúc của nó, đặt các yếu tố vào trong cấu trúc của nó
Tác phẩm văn học là một cấu trúc phức tạp, hiện vẫn chưa có một quan niệm thỏa mãn được mọi người Tuy vậy nhìn chung, khái niệm cấu trúc của tác phẩm có thể hình dung đại thể như sau: Xét từ lí luận chỉnh thể, cấu trúc của tác phẩm bao gồm các yếu tố được đặt trong trật tự (cấp độ) phụ thuộc vào nhau như sau đây: tư tưởng – chủ đề (gồm cả đề tài), hệ thống hình tượng( có thể bao gồm cả cốt truyện), kết cấu, ngôn từ Cũng có
ý kiến xem nội dung tư tưởng – chủ đề là yếu tố ưu trội, quy định cả hệ thống tác phẩm, còn cấu trúc đích thực của tác phẩm thì bao gồm hai yếu
Trang 12tố: ngôn ngữ, cốt truyện, được tổ chức với nhau bằng kết cấu Yếu tố kết cấu là đặc trưng cho bản chất nghệ thuật nói chung của văn học, nó tạo ra nhịp điệu chung cho tác phẩm và cho từng bộ phận Yếu tố cốt truyện đặc trưng cho văn học với tư cách là nghệ thuật thời gian, gắn với nó xuất hiện con người, không gian, thời gian, xung đột, biến cố Yếu tố ngôn ngữ tiêu biểu cho đặc trưng nghệ thuật nhân từ Sự thống nhất các yếu tố (cấp độ) này tạo ra thế giới nghệ thuật của tác phẩm
Trên cấp độ chủ đề, cốt truyện, người ta chỉ ra các câu, các từ ngữ chìa khóa có ý nghĩa đặc biệt như là các chủ đề nhỏ, các môtip Cốt truyện được hiểu như là tổng thể các môtíp và tiếp theo, chỉ ra các cốt truyện “di chuyển”, các chủ đề “vĩnh cửu” (thiên nhiên, tình yêu, cái chết,…) Trên cấp độ hình tượng, người ta chia ra hình tượng ngôn từ (các phép chuyển nghĩa), các hình tượng nhân vật, phong cảnh, chân dung, nội tâm(chiếm một phần văn bản), các hình tượng về thế giới, không gian, thời gian (chiếm toàn văn bản) Trên cấp độ thời gian, người ta chia các yếu tố dòng thơ, khổ thơ, văn bản thơ Trên cấp độ ngôn ngữ, người ta phân biệt ngữ âm, hình thái, cú pháp, yếu tố trên câu, toàn văn bản, liên văn bản Toàn bộ các yếu tố vừa kể trên ở các cấp
độ đều tham gia vào cấu trúc của tác phẩm nhằm tạo ra một hình thái về mối quan hệ thẩm mĩ giữa chủ thể và thế giới
Mỗi tác phẩm văn chương là một chỉnh thể, khi chúng ta đi vào tìm hiểu cấu trúc của một tác phẩm cụ thể thì bao gồm: Cấu trúc bề nổi và cấu trúc bề sâu của tác phẩm Cấu trúc bề nổi là những gì mà chúng ta tri nhận được từ tác phẩm bao gồm toàn bộ các yếu tố do văn bản tạo nên, đó là các hình tượng, các hình ảnh, nhịp điệu, ngôn ngữ hay các biên pháp tu từ.v.v… Đây còn gọi là cấu trúc nội tại của tác phẩm văn chương Còn cấu trúc bề sâu là những giá thẩm mỹ được rút ra từ tác phẩm, cấu trúc bề sâu được hình thành do sự tương tác giữa các yếu tố trong tác phẩm, do sự tương tác giữa văn bản và với nhận thức cảm thụ của độc giả Cấu trúc bề sâu tạo nên những giá trị cho tác phẩm, làm cho tác phẩm có sức sống lâu bền trong lòng độc giả
Trang 131.1.2 Sự vận động bên trong của cấu trúc tác phẩm
Cấu trúc nội tại tác phẩm văn chương là sự vận động bên trong mang tính quy luật, lôgic, là sự phù hợp tương giao giữa nội dung và hình thức Nó được thể hiện một cách khoa học, hệ thống mang tính đặc trưng nghệ thuật,sự vận động của cấu trúc nội tại tác phẩm gắn với sự vận động của cấu trúc ngoài tác phẩm tạo nên sự vận động của cấu trúc thế giới hình tượng nghệ thuật tác phẩm Đó chính là con đường đến với thế giới hình tượng nghệ thuật, cũng như giá trị đích thực của mỗi tác phẩm văn chương
Với quan niệm cấu trúc là một chỉnh thể toàn vẹn và vận động Nó là khối gắn kết mềm dẻo không tách rời giữa nội dung và hình thức Nhưng chúng ta cũng không cực đoan mà nhìn nhận rằng cấu trúc chỉ là sự vận động bên trong mà nó còn có nhiều mối quan hệ khác Có thể nói cấu trúc thế giới nghệ thuật là vấn đề lớn nhất của tác phẩm văn chương, phải đến với nó như đến với một chỉnh thể, hệ thống và toàn vẹn Vận động cấu trúc nghệ thuật là một trong những vận động không thể cảm nhận bình thường, quan sát bình thường mà phải bằng cả sự trải nghiệm, vốn sống, tâm hồn và những nỗ lực cao của người tiếp nhận tác phẩm mới có thể nắm bắt được Đó chính là sự vận động của nghệ thuật, sự tinh tế, tài năng nhiều mặt ở người viết được thể hiện qua cấu trúc tác phẩm
Sự vận động của cấu trúc tác phẩm gắn với đề tài, tư tưởng, chủ đề, tư tưởng nghệ thuật, phong cách nghệ thuật, các quan niệm về thế giới Ở đây chúng ta không đi sâu vào những vấn đề về đề tài tư tưởng, chủ đề… mà nhìn nhận chúng trong mối quan hệ với cấu trúc Đó chính là sự hòa quyện, tương quan, cấu trúc thể hiện ở các vấn đề đó và các vấn đề trên lại chi phối cấu trúc
Qua các tầng bậc của cấu trúc, ta có hệ thống chỉnh thể cấu trúc Từ đó thấy được các lớp ý,nghĩa Cần phân biệt ý và nghĩa của ngôn từ với cấu trúc, bởi vì ngôn từ chỉ là những đơn vị để tạo nên sự vận động của cấu trúc Cấu trúc được nắm bắt thì cũng là lúc các lớp ý- nghĩa hiện ra Đây là mối quan hệ hữu cơ nhiều tầng bậc, rất phức tạp, tinh tế không thể giản đơn nghĩ rằng ý và
Trang 14nghĩa được “sinh ra” từ cấu trúc như tinh thần được sinh ra từ vật chất Cấu trúc không phải là cái nhìn thấy “ vật chất – thực” mà cấu trúc còn có cả sự vận động của nghệ thuật mang tâm linh, tình cảm, nhưng điều không thể phủ nhận được là không dựa vào cấu trúc thì chẳng tìm được ý – nghĩa Cũng có trường hợp dựa vào ý - nghĩa ban đầu người ta kiến tạo nên cấu trúc Sự vận động của cấu trúc thế giới nghệ thuật có mối quan hệ khăng khít với lôgic nội tại của tác phẩm Lôgic nội tại chính là sự tồn tại mang tính hợp lý, gắn kết có dụng ý của người viết, các suy tưởng - liên tưởng có lý của người viết cũng như người tiếp nhận Chính dựa vào cấu trúc mà người ta tìm ra lôgic của chính nó Ngược lại cũng từ lôgic mà người ta có thể để cho cấu trúc vận động như vậy cho hợp lôgic Đồng thời chúng ta cũng thấy rõ mối quan hệ giữa lôgic nội tại tác phẩm – lôgic ngoài tác phẩm – cấu trúc nghệ thuật Đó chính là mối quan hệ không thể tách rời, lôgic ngoài tác phẩm là những mối quan hệ bên ngoài như hoàn cảnh, thời đại, hoàn cảnh tác giả, hoàn cảnh cảm hứng của tác giả (khi viết và được viết trong tác phẩm), hoàn cảnh của thời đại và hoàn cảnh riêng của người trực tiếp tiếp nhận, cũng như các thế hệ độc giả Có thể lôgic trong – ngoài tác phẩm và cấu trúc nội tại tác phẩm tạo nên
sự cộng hưởng “sinh ra” giá trị của tác phẩm văn chương
Sự vận động của cấu trúc gắn liền với sự vận động của thế giới hình tượng nghệ thuật tác phẩm Tiếp nhận tác phẩm văn chương là tiếp nhận thế giới hình tượng nghệ thuật Bạn đọc rung động, nhận ra một điều gì đó, họ đã thức tỉnh, vẫy gọi không bằng ngôn ngữ bình thường mà chính nhờ các tín hiệu nghệ thuật được sắp xếp một cách có hệ thống – lôgic.v.v… Cấu trúc thế giới hình tượng nghệ thuật được tạo nên từ cấu trúc nội tại tác phẩm Sự vận động của cấu trúc nội tại tạo nên sự vận động của thế giới nghệ thuật Ngược lại cấu trúc thế giới hình tượng nghệ thuật chi phối cấu trúc nội tại tác phẩm
Cấu trúc là sự vận động bên trong của tác phẩm Nhưng sự vận động đó
có hợp quy luật, tính có lý – hợp lý và sự suy tưởng ra sao cho những điều mà nhà văn nêu ra thông qua hình tượng nghệ thuật được người tiếp nhận lĩnh hội
Trang 15như sự “gợi ý” của người cầm bút Lôgic nội tại của tác phẩm phải dựa vào mối tương quan, hệ thống, chỉnh thể, thông qua cấu trúc để bạn đọc có thể dựa vào đó mà nhận ra thế giới nghệ thuật Như vậy có thể nói trong tác phẩm văn chương thì cấu trúc – lôgic – thế giới hình tượng nghệ thuật chúng có mối quan hệ khăng khít, không thể bóc tách Mà đó là sự hòa quyện tự nhiên trong tác phẩm Tất nhiên điều đó còn phụ thuộc vào trình độ của người tiếp nhận tác phẩm, giao điểm tiếp nhận của người tiếp nhận và tác phẩm càng lớn thì càng thấy rõ mối quan hệ này và từ đó càng lĩnh hội tác phẩm sâu sắc hơn Chúng ta cũng nhận thấy có khi từ cấu trúc nội tại của tác phẩm – người tiếp nhận đã tìm ra “sự đi chệch” lôgic mà tác giả không dự định, đó là “sự vượt tầm” (tác giả cũng không ngờ tới) thì đây là sự sáng tạo của bạn đọc Như vậy dựa vào mối quan hệ giữa cấu trúc- lôgic và thế giới hình tượng nghệ thuật sẽ tạo ra cách nhìn nhận mới về cấu trúc cũng như phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông
1.1.3 Vận dụng lý thuyết cấu trúc trong nghiên cứu và phân tích tác phẩm văn học
Tác phẩm văn học là mối tổng hòa của hàng loạt tương quan Tác phẩm viết xong là một tổ chức, một chỉnh thể, một cấu trúc, bao gồm những tương quan nội tại chặt chẽ
Tác phẩm văn học là một cấu trúc văn bản nghệ thuật được tổ chức một cách chặt chẽ thành một sinh mệnh, một chỉnh thể Ngay người xưa cũng bước đầu nhận ra cái chân lí này Nhữ Bá Sỹ viết: “Loại văn chương tột bậc trong thiên hạ, đúng là không ở trong cái giới hạn đóng mở kết cấu, nhưng mà không đóng mở kết cấu thì cũng không thành văn chương” Là một kiểu tổ chức ngôn ngữ, tác phẩm văn học dĩ nhiên phải có đóng mở kết cấu, lớp lang,
có sự gắn bó hữu cơ giữa bộ phận này với bộ phận khác, giữa bộ phận với toàn thể v.v… Như thế những mối liên hệ nội tại trong tác phẩm văn học bao gồm nhiều mặt,nhưng mối liên hệ cơ bản nhất là giữa nội dung và hình thức
- Nghiên cứu tác phẩm văn học trong mối liên hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức:
Trang 16Nội dung và hình thức là một cặp phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa cặp phạm trù này, lí luận văn học mác xít cho rằng ở những tác phẩm văn học chân chính, có giá trị thẩm mỹ cao, hình thức và nội dung có sự thống nhất hài hòa cao độ Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức của sự vật nói chung là ở mức độ thấp – nghĩa là còn so le, sai biệt bời vì đang ở dạng tự phát Còn trong văn học nghệ thuật, thì sự thống nhất hài hòa đó là kết quả của một hành vi sáng tạo đầy ý thức tự giác, cho nên có thể và cần phải đạt đến đỉnh cao Ngay các nhà
mỹ học xưa kia cũng đã phát hiện ra chân lý này Hêghen cho rằng ở những tác phẩm nghệ thuật đích thực, sự phối hợp giữa hình thức với nội dung hài hòa đến nỗi “nội dung chẳng phải là cái gì khác, mà là hình thức chuyển hóa
ra thành nội dung và hình thức chẳng phải là cái gì khác, mà là nội dung chuyển hóa ra thành hình thức”
Từ triết học và lý luận văn học chuyển hóa sang phương pháp luận nghiên cứu văn học trên vấn đề này, tất yếu sẽ dẫn đến nguyên tắc phân tích tác phẩm văn học là phải thông qua hình thức để nói nội dung Nhưng từ đây thường cũng có sự ngộ nhận cho rằng hình thức hay thì nội dung hay, và ngược lại Thật ra không phải như vậy Hình thức, tự nó không thể là hay hoặc dở Chỉ có sự phối hợp hay hoặc dở của hình thức đối với nội dung mà thôi Cùng một dạng hình thức nào đó có thể gây hiệu quả thẩm mỹ đối lập qua những nội dung khác nhau
Như thế, qua hình thức để nói nội dung không phải là phân tích bất cứ hình thức nào, mà chỉ tập trung phân tích những hình thức mang tính nội dung Việc nghiên cứu triệt để những hình thức mang tính nội dung này là nhiệm vụ trung tâm của thi pháp học, một bộ môn phái sinh từ lý luận văn học
có nhiệm vụ tiếp nối nó trên phương diện này Nhưng trong phạm vi lí luận văn học cũng có thể sơ bộ nêu ra một tiêu chí cơ bản của nó Những hình thức nghệ thuật mang tính nội dung cho dù có độc đáo đến đâu, nhưng không phải
là đột ngột ngẫu nhiên, mà có tính bền vững, lặp đi lặp lại một cách đổi mới
Trang 17Có nghĩa nó không phải là dấu hiệu riêng lẻ, mà có mối liên hệ hệ thống trong toàn chỉnh thể tác phẩm, tất nhiên là với nhiều sắc thái đa dạng Ví dụ có thể qua lối xưng hô gia đình: bác cháu, mẹ con, anh em v.v… để nói lên lòng nhân ái Việt Nam đầy tính chất ruột thịt, yêu thương đùm bọc trong thơ Tố Hữu Muốn thế chúng ta phải khảo sát một cách hệ thống lối xưng hô ấy trong nhiều cảnh huống với những sắc thái khác nhau Một sáng tháng năm, nhà thơ chúng ta về Việt Bắc thăm Bác Hồ Giờ phút gặp gỡ ấy đã đến Người đọc hồi hộp Hai câu thơ ấm áp vang lên: “Bàn tay con nắm bàn tay cha Bàn tay Bác
ấm vào da vào lòng” Rồi những câu thơ sau đó là: “Ôi người Cha, đôi mắt
mẹ hiền sao!”, “Người là Cha, là Bác, là Anh”, v.v… Nhân tưởng niệm người
mẹ đã khuất, Tố Hữu viết: “ anh Lưu, anh Diểu dạy con đi Mẹ không còn nữa, con còn Đảng” Đặc biệt mối quan hệ giữa dân và Đảng cũng được diễn đạt thành mối quan hệ giữa mẹ và con: “Ơn người như mẹ như cha Lòng dân yêu Đảng như là yêu con” Và không phải ngẫu nhiên khi đại tướng Nguyễn Chí Thanh, một nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, qua đời, thi sĩ viết: “ Nước non đau xót như lòng mẹ Mất một người con: Nguyễn Chí Thanh” Nhân dịp lại về Hanh Cát, Hanh Cù, nơi hoạt động ngày xưa, lòng bùi ngùi nhớ đến mẹ Tơm, thi sĩ bây giờ với cương vị là một nhà lãnh đạo, đã viết: “Con đã về đây,
ơi mẹ Tơm Hỡi người mẹ khổ đã dành cơm Cho con, cho Đảng ngày xưa ấy…” và khi tưởng nhớ đến miền nam, tác giả muốn trở ngay về bên dòng sông Hương để “Cùng các mẹ, các o, các chú Giành lại từng mảnh đất thành đô” Đúng là thi sĩ vẫn giữ được tâm niệm… Từ ấy: nguyện “là con của một nhà” Cái lối xưng hô gia đình này lại được mở rộng ra khi thi sĩ viết về lãnh
tụ và nhân dân nước bạn Chính vì thấy được ở Hồ Chủ tịch, hình ảnh người cha, người bác, người anh, cho nên với Lênin, nhà thơ còn như muốn nhìn thêm cái khía cạnh người mẹ ở bậc thầy cách mạng thế giới này:
Mẹ ơi, đẻ con ra trong khổ cực
Mẹ chưa hay từ đó có Liên Xô
Có Lênin hằng che chở con thơ
Trang 18Và nếu đã hiểu một tấm lòng của “con” mẹ Suốt, mẹ Tơm, “chú” của Lượm, và đặc biệt là “anh” của chị Lí thì sẽ thấy lối xưng hô bạn bè như ruột thịt trong Em ơi… Ba Lan, Từ Cu Ba là tất yếu vậy: “Anh đã đến quê em Cracốp Như quê anh, lộng lẫy cung đền”, “chào em cô gái, nữ dân quân… Trông em mà tưởng ở quê nhà” v.v…
Phải khảo sát những dấu hiệu của hình thức một cách có hệ thống như vậy, thì mới rút ra kết luận chính xác về mặt nội dung được Nhưng nếu trong chỉnh thể tác phẩm, nội dung được triển khai theo nhiều bộ phận, nhiều bình diện, nhiều cấp độ, thì hình thức mang tính nội cũng như vậy Có nghĩa là sự thống nhất biện chứng giữa hình thức đối với nội dung, ngoài cung bậc của toàn chỉnh thể tác phẩm, còn được thể hiện ở từng bộ phận, từng bình diện, và từng cấp độ như vậy Chẳng hạn, những dấu hiệu hình thức mang tính nội dung được xem xét một cách hệ thống như trên, thể hiện ở việc khắc họa ngay một nhân vật Mái tóc dài mượt xuất hiện mười mấy lần trong tiểu thuyết Hòn Đất của Anh Đức là biểu tượng về chị Sứ Quả vậy mái tóc này không những gắn liền với cuộc đời chị Sứ, mà còn tượng trưng cho tính cách của chị Mái tóc ấy gợi lại những giây phút yêu đương ban đầu của chị với anh San, và rồi cái đêm anh San sắp lên đường đi tập kết, khi mái tóc của người vợ ấp vào lồng ngực, một câu nói xa xôi buông ra, những gói gém vào đây biết bao nhiêu là trìu mến, và lại như một lời hứa chung thủy vang lên thầm kín Và cái đêm trước khi sa vào lưới quân thù, chị lại xõa mái tóc vuốt ve âu yếm:
“Đối với chị, hình như nó có tiếng nói, và mỗi lần nâng niu nó trên tay, chị liền có cái cảm tưởng trò chuyện rất đỗi yêu thương Làn tóc gợi chị nhớ lại bàn tay anh San, bàn tay mẹ” Bằng hình ảnh mái tóc, chị gửi gắm lại lòng chung thủy và hiếu đễ với chồng và mẹ Cảm động nhất là lúc má Sáu bới lại tóc cho cô con gái đầu lòng trước khi vĩnh biệt Thế là mái tóc từ chỗ bén chân trong lòng mẹ, qua đôi mắt, bàn tay và làn môi của người yêu, bây giờ trở về trong lòng tay của người mẹ trước khi vĩnh biệt thế giới này Xiết bao yêu thương, dịu dàng và hiếu đễ trong ấy Nhưng mái tóc cũng biết căm thù,
Trang 19và lúc cần cũng biết chiến đấu Bạn đọc không khỏi ngạc nhiên trước mũi dao
“cúp-cúp” Mĩ sáng loáng nẩy bật trở lại cánh tay tuy bị thương nhưng vẫn giữ nguyên sự man rợ của tên biệt kích Xăm khi nó chém chị Sứ Chính nó cũng phải ngờ vực: “Nhưng đây nào phải lưỡi dao Mĩ không bén! Đây chính bởi
vì lưỡi dao chạm phải một suối tóc tốt tươi nhất, suối tóc của hai mươi bảy tuổi đời con gái, vừa mượt, vừa dày, gồm muôn ngàn sợi bền chặt rủ từ đỉnh đầu bất khuất, rủ chấm xuống sát gót chân bất khuất đó” Thật không phải ngẫu nhiên mà Anh Đức lại điêu khắc tinh vi, cố công trau chuốt mái tóc của người con gái xứ Hòn, qua đó đã đem lại cái nội dung tình cảm, cái phẩm chất thẩm mĩ của những từ vốn cũng đã đẹp như “ đội quân tóc dài” “đội quân búi tóc”, đội quân của các mẹ, các chị miền Nam
Sự phát triển của khoa học gần đây như kí hiệu học, lí thuyết thông tin, v.v… đã có nhiều gợi ý bổ ích cho việc phân tích tác phẩm văn học.Nhưng có người từ đó cho rằng cách phân tích nội dung qua hình thức đã lỗi thời rồi Thật ra, chỉ có quan niệm cũ, nói đúng hơn là quan niệm sai hoặc sót về nội dung và hình thức mới quá thời mà thôi Còn mối liên hệ biện chứng đích thực giữa nội dung và hình thức vẫn là một mối tương quan cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, mặc dù nó không hề là duy nhất
* Nghiên cứu tác phẩm trong các mối liên hệ biện chứng nội tại khác
Trong sự tổ chức tác phẩm, thật ra có nhiều tương quan chằng chịt có liên đới nhưng không hẳn là thuộc phạm trù nội dung và hình thức, song vẫn rất cần trong việc phân tích, nghiên cứu như sau:
+ Chỉnh thể và yếu tố
Nghiên cứu tác phẩm văn học tất nhiên là phải xuất phát từ toàn bộ chỉnh thể, tránh phiến diện hơn nữa khi cần xem xét từng bộ phận cũng cần đặt nó trong chỉnh thể, phải thấy nó được xác định trong khuynh hướng chung của chỉnh thể Nhưng lại phải chú ý tính năng động của bộ phận đối với chỉnh thể, nhất là trong tác phẩm nghệ thuật có hiện tượng không rải đều các dấu hiệu thẩm mĩ mà có khi tập trung vào một số điểm nào đó, cần được sự chú ý
Trang 20khai thác của nhà nghiên cứu Kinh nghiệm nghệ thuật phương đông nói về
“nhãn tự” (từ con mắt), “thần cú” (câu thần) không phải là không có ý nghĩa trong việc phân tích thơ, một thể loại có quy mô nhỏ, tất nhiên không thể lạm dụng điều này trong các thể tự sự Trong bài Nguyên tiêu, Hồ Chủ Tịch viết:
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên Yên ba thâm sứ đàm quân sự
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền
Cả bài thơ Bác đã “tập cổ” rất nhiều ở thơ Đường, nhất là đối với thơ của Trương Kế, Vương Bột: “Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc “, “ Yên ba thâm xứ hữu ngư chu”, “Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền” v.v… Cho nên toàn bộ bài Nguyên tiêu nhuốm một màu sắc cổ kính có phong vị Đường thi với những bức tranh thủy mặc chấm phá Thế nhưng phải tập trung khai thác ba chữ “đàm quân sự” – ra giữa nơi khói súng không phải để thưởng ngoạn, mà là để bàn bạc việc quân Ba chữ đó đã xoay chuyển lại cả khung cảnh Đường thi của toàn bài, nói đúng về con người của Bác với tư cách là lãnh tụ cách mạng
+ Lựa chọn và kết hợp
Phân tích tác phẩm văn học còn phải chú ý đến mối tương quan biện chứng giữa lựa chọn và kết hợp, lựa chọn đối với từng yếu tố, và kết hợp giữa các yếu tố với nhau Chúng ta không tán thành việc coi nhẹ sự chọn lựa, vì những viên gạch có tốt thì tòa nhà mới vững được Cũng như trong kiến trúc lựa chọn từng chất liệu là quan trọng, nhưng sự sắp xếp cũng không ít phần quan trọng hơn Nghệ thuật cũng như trong cuộc đời, một chỉnh thể tốt không
hề là dấu cộng của mọi yếu tố tốt
Việc chú ý đến chọn lựa và kết hợp, thật ra là một biểu hiện ở phương diện khác của việc vừa chú ý cả chỉnh thể và yếu tố nói trên Đây là hai mặt của một trang giấy
Trang 21+ Bổ sung và đối lập
`Thường muốn khai thác một ý nhấn mạnh trong bài văn, người ta muốn tìm đến những phép “bổ sung” của tác giả là điều dễ hiểu Nhưng đó mới chỉ là trình độ “số học” trong nghiên cứu văn học, bởi vì nó mới chỉ thấy cộng với cộng mới thành cộng phải vươn lên trình độ đại số, bởi vì bằng lôgic toán nó đã chứng minh trừ với trừ nó cũng thành cộng Trong nghiên cứu văn học cũng vậy, cần phải khám phá những nét đối lập của nhà văn, mà cứu cánh không gì khác hơn là nhằm nhấn mạnh một ý nào đó trong bài văn Phải vừa chú ý bổ sung vừa chú ý đối lập, thực chất là cụ thể hóa thêm một bước vấn đề kết hợp nói trên Về phép bổ sung có những dạng chính sau:
Song hành: Khi có hai yếu tố song hành trong tác phẩm, thì không
những phẩm chất của mỗi yếu tố vốn đã tự xác định, mà còn được xác định thêm trong mối quan hệ với yếu tố kia
Trùng điệp: Dây là dạng bổ sung tuy có những yếu tố mới, nhưng
vừa lặp lại những yếu tố cũ Gặp những trường hợp như vậy- tất nhiên là trong những tác phẩm ưu tú - người nghiên cứu phải khám phá những nghĩa lý sâu xa của nó
Hô ứng: Là sự trùng điệp của hai yếu tố ở đầu và cuối tác phẩm, tất
nhiên cũng bộc lộ dụng ý của tác giả Khi nghe Chi Phèo đâm bà Kiến và tự đâm mình chết luôn, Thi Nở nhìn xuống bụng của mình và trước mắt thi hiện
ra cái lò gạch – như đã xuất hiện ở đầu tác phẩm Nam Cao muốn nói kiếp người Chí Phèo vẫn cứ tiếp diễn
Phát hiện những yếu tố bổ sung trong tác phẩm văn học đã bổ ích, phát hiện những yếu tố đối lập lại càng lý thú Phép đối lập không phải lúc nào cũng hiển hiện, mà phải phát hiện Đọc bài “Giữa đường, đáp thuyền đi huyện Ung Ninh” của Bác:
Đáp thuyền thẳng xuống huyện Ung Ninh Lủng lẳng chân treo tựa giảo hình
Làng xóm ven sông đông đúc thế Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh
Trang 22Cái môtip đi thuyền trên sông nhìn cảnh hai bên bờ này làm chúng ta
dễ liên tưởng đến bài: Tảo phát Bạch Đế thành của Lý Bạch Lý Bạch là nhà thơ lãng mạn, làm bài này lúc còn trẻ, lại lần đầu tiên đi viễn du ra khỏi tỉnh nhà, cho nên hơi thơ rất khí thế và không có gì lạ Nhưng thật ra bài thơ của Bác càng khí thế, càng có chất thép hơn nhiều, nếu chúng ta biết pháp hiện ra
sự đối lập giữa “điểm nhìn” và “diện nhìn” Cảnh thì bằng lặng êm ả thật, nhưng được nhìn từ con người chân tay bi trói chặt Bác coi những trói buộc
ấy như không, vẫn bình thản thưởng ngoạn những cảnh êm đẹp hai bên bờ như những con người hoàn toàn tự do
1.1.4 Hướng dẫn học sinh đọc - hiểu tác phẩm văn chương từ góc độ lý thuyết cấu trúc
Tác phẩm văn chương mang trong nó một cấu trúc mà cấu trúc đó ẩn chứa một “trường hoạt động” vừa có tính trí tuệ, vừa có tính đặc trưng nghệ thuật Chỉ có thể dựng lại được cấu trúc cũng như sự vận động của nó thì mới
có thể tiếp nhận được tác phẩm Nếu như đi chệch khỏi cấu trúc, không nắm được, không phân tích được cấu trúc hình tượng nghệ thuật tác phẩm văn chương thì coi như chưa lĩnh hội được, hoặc hiểu sai tác phẩm Chỉ có thể dựa vào sự vận động của cấu trúc tác phẩm, đi theo đúng hướng mà nó vận động thì
ta mới có thể dựng nên được bộ mặt “tinh thần” và “vật chất” của tác phẩm, mới nắm bắt được điều mà nhà văn gửi gắm trong những trang viết của mình
Câu trúc tác phẩm là căn cứ xác định giá trị của tác phẩm, đã từ lâu trong dạy học văn chúng ta phê phán cách dạy học một chiều Sự cảm thụ, đánh giá của học sinh về tác phẩm dựa vào sự cảm thụ, đánh giá của người thầy, thầy khen chê ra sao thì trò nhất nhất nghe theo và viết trong bài làm văn của mình một cách “say sưa” Thời gian gần đây, phương pháp khoa học dạy học văn và các giáo viên văn đã có những đổi mới trong dạy học văn cũng như dạy học tác phẩm văn chương Trong phân tích bình giá tác phẩm đã có những phương pháp mới, chú ý tới tác phẩm và sự sáng tạo chủ động của học sinh Nhưng căn cứ vào đâu để bình giá tác phẩm, hay vẫn có thói quen là căn
Trang 23cứ vào nội dung, hình thức Thực ra tiêu chí đánh giá thì có nhiều nhưng dựa vào cấu trúc tác phẩm thì đó là một vấn đề mới Đây là điều mới và khó, nhưng không thể vì thế mà ta cứ làm theo thói quen, lảng tránh điều khó để đến với lối mòn được
Cấu trúc nội tại tác phẩm có vai trò chủ đạo trong dạy học tác phẩm văn chương để có cách “tiếp cận mới” Khi đọc tác phẩm người tiếp cận không chỉ đọc lướt - đọc kỹ… không chỉ tìm ra bố cục, nhận ra kết cấu … không thể chỉ chăm chú tìm ra cái tình tiết, hay hình ảnh “thần”, không chỉ là
“cái tứ” trong thơ hay truyện như dạy học theo quan niệm truyền thống Với quan điểm dạy học theo cấu trúc nội tại tác phẩm thì người tiếp nhận phải đặt mình trong sự vận động chung của cấu trúc để nhìn nhận tác phẩm như một chỉnh thể toàn vẹn, hệ thống nhiều tầng bậc
Tiếp cận tác phẩm là từng bước tiếp cận sự vận động của cấu trúc và
đó cũng chính là sự vận động của thế giới nghệ thuật Như vậy tiếp cận không chỉ đơn thuần là tiếp cận nội dung hay hình thức hoặc các bộ phận đơn lẻ của tác phẩm mà phải bằng cả “con người mình” để đến với tác phẩm, để từng bước tiếp cận cấu trúc thế giới nghệ thuật của tác phẩm đó Phân tích và cắt nghĩa trong tác phẩm văn chương đã được giáo sư Nguyễn Thanh Hùng nêu rõ: “ Cắt nghĩa một thuật ngữ mới trong phân tích tác phẩm văn học” Vấn đề là vận dụng quan điểm cấu trúc thế giới nghệ thuật để phân tích và cắt nghĩa như thế nào? Chúng ta luôn nhận thức rằng: “Phân tích là cách thức nghiên cứu, tìm hiểu chi tiết, các mặt riêng biệt, những mặt riêng lẻ của tác phẩm văn học nhằm mục đích phát hiện, khám phá tương quan giữa chúng để từ những riêng lẻ cụ thể đạt tới sự nhận thức chung, sâu sắc hơn” Nhưng khi phân tích chúng ta luôn ý thức về quan điểm cấu trúc thế giới nghệ thuật để nhìn nhận các phần riêng lẻ trong chỉnh thể nghệ thuật
và sự vận động của cấu trúc Còn thuật ngữ cắt nghĩa “cắt nghĩa” được hiểu như là sự truyền đạt một cách có ý thức mối quan hệ biện chứng giữa nôi dung và hình thức tác phẩm Đặc trưng bản chất của thuật ngữ này là sự
Trang 24khảo sát và đề cập đến những khả năng và ý nghĩa của tác phẩm văn học theo quan điểm tổng hợp “Cắt nghĩa văn học là một quá trình phân tích tổng hợp” Điều cơ bản là các thao tác phân tích, cắt nghĩa phải dựa vào quan điểm cấu trúc thế giới nghệ thuật để tiến hành sao cho phù hợp, có tác dụng làm cho sự vận động của cấu trúc nội tại tác phẩm Thế giới hình tượng nghệ thuật được miêu tả, liên kết trong văn bản được học sinh tái – sáng tạo nhờ mối liên hệ với vốn tri thức, kinh nghiệm sống và sự liên tưởng về hiện thực đời sống Từ tiếp cận văn bản người đọc được vận động cùng cấu trúc cấu trúc nội tại của tác phẩm từ đó có nhu cầu phân tích cắt nghĩa Cấu trúc của quá trình cắt nghĩa được hình thành trên cơ sở cấu trúc của thế giới hình tượng nghệ thuật Từ tiếp cận đến phân tích cắt nghĩa để hiểu văn bản là quá trình vận động “hiểu văn bản là nắm vững cấu trúc nghệ thuật nổi bật được xây dựng bởi hư cấu chủ tâm và mang ý nghĩa nhiều mặt luôn mở ra những khả năng để người đọc tiếp nhận trọn vẹn được nội dung phong phú của tác phẩm” Hoạt động cắt nghĩa chính là thể hiện những năng lực và ý chí của người tiếp nhận, đó là sự chiếm lĩnh toàn diện và sâu sắc tác phẩm trên cơ sở nắm vững cấu trúc nội tại của tác phẩm văn chương Từ hành động bộ phận đến nối kết các hành động vào hoạt động tổng thể diễn ra trong quá trình cắt nghĩa không đi ra ngoài sự vận động của cấu trúc Bởi vậy sự dẫn dắt có phương pháp của giáo viên, học sinh sẽ từng bước tự mình “vận động” cùng cấu trúc thế giới nghệ thuật để phân tích và cắt nghĩa theo định hướng mà cấu trúc gợi mở Như vậy để hoạt động phân tích, cắt nghĩa có kết quả không thể tách rời sự vận động của cấu trúc thế giới hình tượng nghệ thuật
Tiếp theo của quá trình phân tích cắt nghĩa, giai đoạn cao hơn của quá trình lĩnh hội tác phẩm đó là bình giá tác phẩm văn chương Đây là bước thể hiện năng lực văn học của chủ thể học sinh Đó là sự diễn đạt và bày tỏ hiểu biết vai trò, giá trị của hình tượng văn học Để bình giá tác phẩm, chủ thể học sinh đã nắm vững cấu trúc thế giới hình tượng, nếu không sẽ không thể có sự bình giá đúng đắn Giai đoạn này thể hiện tổng hợp các bước trên Như vậy
Trang 25cấu trúc nội tại tác phẩm văn chương có vai trò quyết định chi phối quá trình tiếp cận, phân tích, cắt nghĩa, bình giá Chỉ có thể dựa vào cấu trúc thế giới hình tượng nghệ thuật tác phẩm mới tạo nên kết quả của các quá trình trên như sự mong muốn của chúng ta trong dạy học tác phẩm văn chương
Như vậy, chúng ta đã thấy được vai trò của cấu trúc trong dạy học tác phẩm văn chương Rõ ràng không thể dạy học tác phẩm văn chương theo kiểu kinh nghiệm chủ nghĩa, hoặc chỉ là những sự thay thế đơn thuần của các phương pháp đơn lẻ hay sự cải tiến cục bộ “mặt này”, “mặt kia” mang tính thay đổi hình thức, mà chẳng tạo nên một diện mới “về chất” Có lẽ chúng ta không thể bằng lòng với những bước đi còn nhiều hạn chế trong dạy học văn Tất nhiên chúng ta cũng không bao giờ phủ nhận thành tựu và nỗ lực của chuyên ngành phương pháp dạy học văn học cũng như của giáo viên văn học Nhưng phải chăng điều mà chúng ta còn nhiều trăn trở đó là sự đổi mới phương pháp cần mang tính toàn diện, tạo sự vận động trí tuệ mới ở cả người dạy và người học để đẩy chất lượng dạy và học văn đi lên Chúng tôi tin tưởng rằng dạy học văn thông qua cấu trúc sẽ là sự khởi đầu cho những nghiên cứu lý luận và thực hành tiếp theo để dạy học văn đi đúng hướng hơn,
có phương pháp khoa học hơn Dạy học văn cần phải lấy tiền đề, phải dựa vào chính cấu trúc nội tại – cấu trúc thế giới hình tượng nghệ thuật tác phẩm văn chương làm gốc là sự định hướng cho mọi hoạt động
1.2 Cơ sở thực tiễn (Thực trạng của việc dạy học bài thơ “Tràng giang”
Trang 261.2.1.2 Nội dung khảo sát
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát việc dạy và học cụ thể trong tiết dạy học bài thơ Tràng giang của giáo viên và học sinh lớp 11 trường trung học phổ thông Nam Duyên Hà
1.2.1.3 Đối tượng khảo sát
Để tìm hiểu tình hình dạy học bài thơ Tràng giang trong nhà trường phổ thông hiện nay, chúng tôi đã tiến hành khảo sát ba đối tượng cơ bản tham gia vào quá trình dạy và học trong nhà trường: Đó là giáo viên, học sinh và người soạn sách giáo khoa, bên cạnh đó còn có tài liệu tham khảo, trang thiết
bị phục vụ dạy học bài thơ Tràng giang
Đối với giáo viên: Là chủ thể dạy, chủ thể tác động và định hướng quá trình tiếp nhận cho học sinh, vì thế việc tìm hiểu, đánh giá, điều tra hướng khai thác tác phẩm, phân tích các bài soạn giảng bài thơ Tràng giang, cũng như dự tiết giảng của giáo viên, chúng tôi có thể rút ra những mặt tích cực cũng như hạn chế về thực tiễn dạy học Tràng giang
Đối với học sinh: Trong cơ chế dạy học văn mới, vai trò của học sinh được đề cao, học sinh chính là chủ thể của quá trình dạy học, cho nên chất lượng của quá trình dạy học đạt hiệu quả, khi có sự tìm hiểu, phân tích thấu đáo đối tượng học sinh Khảo sát đối tượng này sẽ sẽ giúp chúng ta đánh giá được hứng thú học tập, mức độ tiếp nhận tác phẩm, cũng như khả năng vận dụng, thực hành các kỹ năng hành văn của học sinh
Đối với người soạn sách giáo khoa: Hiện nay trong nhà trường phổ thông, đang sử dụng hai bộ sách giáo khoa: Chương trình chuẩn và chương trình nâng cao Khi khảo sát hai bộ sách này, chúng tôi có thể tiếp cận được những hướng khai thác khác nhau về bài thơ Tràng giang cho học sinh
Tài liệu tham khảo và các thiết bị dạy học cũng là những nhân tố quan trọng không thể bỏ qua khi khảo sát thực trạng dạy học bài thơ Tràng giang
1.2.1.4 Tư liệu khảo sát
Chúng tôi tiến hành dùng phiếu điều tra đối với giáo viên, học sinh, giáo án của giáo viên, vở ghi, bài làm văn của học sinh
Trang 27-Tổ văn trường THPT Nam Duyên Hà, 12 giáo viên
-Học sinh lớp 11A1, 11A2, 11A5, 11A9 trường THPT Nam Duyên Hà
* Hình thức khảo sát
+ Đối với giáo viên: Khảo sát một số giáo viên đã và đang dạy bài thơ
Tràng giang ở trường THPT Nam Duyên Hà, hầu hết cuộc trao đổi đó đều xoay quanh việc “giáo viên cảm thụ và dạy học bài thơ Tràng giang như thế nào” Chúng tôi nhận được các câu trả lời đa dạng, phong phú, phần nào phản ánh đúng thực tế dạy học Tràng giang ở Trường THPT hiện nay
Chúng tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra bằng cách ghi sẵn câu hỏi,
để có được kết luận tương đối xác thực về phương pháp dạy học Tràng giang Các câu hỏi được đưa ra như sau:
Câu 1: Khi dạy Tràng giang, thầy (cô) dựa vào những yếu tố nào: Văn bản, tác phẩm, câu hỏi trong sách giáo khoa; hướng dẫn trong sách giáo khoa; kết hợp các tài liệu khác có liên quan tới văn bản, tác phẩm
Câu 2: Khi dạy Tràng giang, thầy cô yêu cầu học sinh làm những việc gì: Đọc văn bản và trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa; tìm hiểu trước về tác phẩm và nêu cảm nghĩ của mình
Câu 3: Các biện pháp chủ yếu khi dạy học bài thơ tràng giang là gì: Giáo viên thuyết giảng, học sinh nghe và tiếp nhận?; Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản qua hệ thống câu hỏi gợi mở; giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm để tìm hiểu văn bản;
Câu 4: Trong dạy học Tràng giang, thầy cô chú ý vào những mối quan hệ nào: Quan hệ giữa giáo viên và học sinh; quan hệ giữa giáo viên và
Trang 28sách giáo khoa; quan hệ giữa học sinh và học sinh; quan hệ giữa học sinh
và sách giáo khoa
Tôi cũng tham gia các buổi thảo luận nhóm, sinh hoạt chuyên môn của
tổ về cách giảng dạy Tràng giang
Phần đa giáo viên nhất trí với hướng triển khai trong sách giáo khoa – chương trình chuẩn Bên cạnh đó một bộ phận không nhỏ các giáo viên đã mạnh dạn đề xuất những cách dạy học mới đối với Tràng giang Nhưng hầu hết các giáo viên chỉ đi khai thác bài hoặc theo nội dung hoặc theo hình thức
+ Đối với học sinh: Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn các em trước
và sau khi học bài Tràng giang, để nắm được sự chuẩn bị bài, cũng như đánh giá mức độ tiếp cận tác phẩm của các em Thực tế cho thấy nhiều học sinh chưa có hứng thú với môn học, học một cách chống đối, hiểu một cách chưa sâu Khi xem vở ghi của học sinh, phần đa các em tuân thủ theo giáo viên đã dạy, song một số em ghi bài một cách tùy tiện, sơ sài
Khảo sát qua các bài làm văn của các em, gồm các bài thu hoạch sau tiết học, các bài kiểm tra 15 phút, bài viết 2 tiết cũng đã thu nhận được kết quả nhất định Một số học sinh đã cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm, biết vận dụng kiến thức vào làm các bài làm văn Nhưng cũng không
ít học sinh chưa đáp ứng được yêu cầu mà đề bài đề ra, chưa biết phân tích
và cắt nghĩa vấn đề một cách thấu đáo dẫn đến hậu quả của vấn đề dạy và học còn thấp
Bên cạnh đó chúng tôi còn phát phiếu điều tra các em để tìm hiểu kỹ hơn thực trạng học bài thơ Tràng giang:
Câu 1: Trước mỗi giờ học văn, các em thường chuẩn bị bài như thế nào khi lên lớp: Đọc và tìm hiểu trước tác phẩm và những tài liệu liên quan; chuẩn
bị theo câu hỏi trong sách giáo khoa; không chuẩn bị gì?
Câu 2: Trong khi học bài Tràng giang, các em chú ý đến những yếu tố nào?: nội dung hay hình thức của tác phẩm?
Câu 3: Khi học Tràng giang các em thấy có khó khăn gì: khó nắm bắt
Trang 29các hình tượng trong bài; chưa thấy được giá trị thẩm mỹ của bài; thời lượng học trên lớp còn ít ?
Câu 4: Trong giờ học bài thơ Tràng giang, em có cách học như thế nào: nghe giáo viên giảng kết hợp với ghi chép; ghi chép theo những phần chốt của giáo viên; thảo luận nhóm để khám phá tác phẩm
Câu 5: Khi học xong bài thơ Tràng giang, các em nắm bắt được những vấn đề cơ bản nào: vấn đề nội dung, hình thức của tác phẩm; các hình tượng nghệ thuật?
+ Đối với những tài liệu cơ bản và trang thiết bị dạy học bài thơ Tràng giang:
Về sách giáo khoa: Bao gồm hai bộ sách giáo khoa Sách giáo khoa- chương trình chuẩn, và sách giáo khoa- chương trình nâng cao: Phần thứ nhất
là tên tác phẩm, tác giả, kết quả cần đạt, những định hướng cho cả người dạy
và người học trong quá trình đối thoại với tác phẩm văn chương
Phần thứ 2, là tiểu dẫn, ở phần này( sgk- bộ chuẩn) trình bày ngắn gọn về tác giả, tác phẩm, có liên quan đến dạy học bài thơ Tràng giang, về tác giả có tên, năm sinh, năm mất, quê quán, hoàn cảnh xuất thân, những tác phẩm tiêu biểu
Dung lượng không nhiều nhưng theo khảo sát thì 90% cả giáo viên và học sinh đều thấy như thế là vừa đủ
Phần thứ 3: là văn bản: Đây là một văn bản thơ, bài thơ không dài thuận lợi cho học sinh tiếp nhận văn bản
Phần 4: Là phần hướng dẫn học bài: Đây là phần có các câu hỏi để người dạy và người học khai thác tác phẩm
Phần tiếp theo là phần ghi nhớ: Bao gồm những hình thức cơ bản, người học cần nắm vững sau khi học xong văn bản này Nó vừa định hướng người học, vừa có chức năng gợi ý, kiểm tra lại kết quả cho người dạy, Ở sgk nâng cao không có phần này
Phần cuối cùng là luyện tập_củng cố,( sách giáo khoa –bộ chuẩn), khắc sâu thêm nội dung bài học, yêu cầu người học trình bày những suy nghĩ của mình khi học xong bài thơ Tràng giang
Trang 30Bên cạnh sách giáo khoa, thì Sách giáo viên cũng là tư liệu quan trọng của người giáo viên trong dạy học Bài thơ này sách giáo viên là sách gợi ý giảng dạy cho người giáo viên, trên nhiều phương diện về cả nội dung và nghệ thuật
Tài liệu tham khảo dành cho học sinh cũng khá phong phú và đa dạng vừa có tài liệu cơ bản (sgk), vừa có nhiều tài liệu tham khảo khác.v.v…
Trang thiết bị dạy học chính trong giờ dạy học tác phẩm Tràng giang: Bao gồm tranh ảnh liên quan đến tác giả, tác phẩm, băng hình, thiết bị điện tử, mánh vi tính, máy chiếu… Những trang thiết bị này nó hỗ trợ rất lớn cho học sinh trong quá trình dạy học, nếu chúng ta sử dụng một cách linh hoạt
1.2.2 Kết luận về thực trạng
* Kết quả khảo sát
- Về phía giáo viên:
Các giáo viên ở trường THPT Nam Duyên Hà khi được phỏng vấn đã tâm sự: Bài thơ Tràng giang là một bài thơ hay, nhưng để chuyển tải cái hay
đó đến học sinh là điều không đơn giản vì dạy bài thơ Tràng giang nói riêng
và bài thơ trữ tình nói chung là rất khó, nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Ngoài ra học sinh vẫn còn lười học, chưa đọc kỹ văn bản, chưa thuộc thơ, soạn bài chống đối, chưa phát huy được vai trò chủ thể của các em trong quá trình lĩnh hội kiến thức bài học
- Về phía học sinh
Khi được phỏng vấn học sinh trường THPT Nam Duyên Hà cho biết: các em học bài thơ này chủ yếu dựa vào câu hỏi trong sách giáo khoa, việc đọc tác phẩm và tìm hiểu các vấn đề liên quan đến tác phẩm là không nhiều thậm chí là rất ít, đọc chỉ mang tính chất bắt buộc, học sinh chưa thuộc thơ, thảo luận bài học cũng chỉ mang tính chất hình thức, hiệu quả chưa cao, khó nắm bắt được cái tôi trữ tình trong bài thơ, cũng như giá trị thẩm mỹ của bài
* Phân tích kết quả khảo sát
- Đối với giáo viên
Trang 31+ Qua phỏng vấn, tham khảo giáo án cá nhân, dự thảo luận nhóm và sinh hoạt chuyên môn cho thấy: các giáo viên đều nhận định: bài thơ Tràng giang là một bài thơ hay, nhưng không dễ dạy, có những thuận lợi và khó khăn khi tiếp cận tác phẩm
Thuận lợi: Huy Cận là một bài thơ khá quen thuộc, tiêu biểu cho phong
trào thơ mới, các em đã được làm quen và được học tác phẩm của ông trong chương trình THCS, vì vậy các em cũng khá hào hứng và hăng hái hơn trong việc tìm kiếm và tiếp nhận tác phẩm,là tác phẩm thơ dễ đọc, có mạch cấu trúc
rõ ràng: Là bức tranh tràng giang và tâm trạng của nhà thơ Cho nên giáo viên
và học sinh đều dễ hiểu, dễ nắm bắt
Khó khăn: Khi dạy học bài thơ Tràng giang, giáo viên gặp không ít khó
khăn: Đây là tác phẩm thơ trữ tình, việc hướng dẫn các em đọc để nắm bắt giọng điệu và âm hưởng bao trùm bài thơ là một việc khó, hơn nữa việc hướng dẫn các em cắt nghĩa tác phẩm qua những hình ảnh thơ thì không phải học sinh nào cũng nắm bắt được
Khảo sát cho thấy số lượng các em học sinh có sự đam mê, thích học môn văn không nhiều, ngoài việc học tập môn học này các em òn phải thực hiện yêu cầu của các môn học khác Trong quá trình dạy học nếu chỉ nỗ lực từ một phía giáo viên mà học sinh không tích cực, thì quá trình này mang lại hiệu quả không cao
Hầu hết các giáo viên khi dạy đều khai thác tác phẩm theo hướng bình giảng từng câu thơ, hoặc đi phân tích theo hai nội dung: Bức tranh thiên nhiên
và bức tranh tâm trạng, mà chưa phân tích trọn vẹn đầy đủ các yếu tố trong bài
Từ thực tế dạy học như trên chúng tôi nhận thấy: Với bài thơ Tràng giang có một số cách khai thác khác nhau như trên cũng là bình thường, bởi
vì tác phẩm văn chương nó có phẩm chất nghệ thuật cao, thường mang tính
đa nghĩa nên tạo ra khả năng khơi gợi nhiều hướng tiếp cận ở bạn đọc Điều quan trọng đặt ra là cần tìm tòi hướng khai thác nào để đảm bảo tính tối ưu nhất, khai thác có trọng tâm, nhưng phải đảm bảo tính chỉnh thể, phù hợp với năng lực học sinh của lớp mình
Trang 32Hình thức khai thác nói chung là vẫn đi theo hướng tách rời nội dung và hình thức, cách này đã tồn tại từ khá lâu theo thói quen, phần lớn là do giáo viên ngộ nhận là đảm bảo tính mạch lạc Mặt khác do một số lớp trình độ chưa cao., còn một số giáo viên ngại đi tìm tòi, ngại đổi mới phương pháp dạy học
+ Qua khảo sát các phiếu điều tra đối với giáo viên, kết quả thu được như sau:
Số lượng giáo viên đi theo hướng khai thác trong tài liệu hướng dẫn sách giáo khoa và sách giáo viên, chiếm tỉ lệ khá cao(70%) Điều này xuất phát từ chỗ sách giáo khoa và sách giáo viên là tài liệu chuẩn, đáng tin cậy trong nhà trường Phổ thông Bên cạnh đó, khi soạn sách giáo khoa và sách giáo viên nhóm biên soạn thường dựa trên mặt bằng chung là trình độ học sinh, nhiều giáo viên còn quan niệm dạy theo sách giáo khoa và sách giáo viên là đạt yêu cầu Nhưng chúng ta cần phải kết hợp giữa sách giáo khoa và sách giáo viên với những tìm tòi, sáng tạo của người dạy để tiết dạy được hấp dẫn qua những phần gợi mở thêm kiến thức có liên quan, làm học sinh hứng thú với môn học hơn
Khi giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị bài trước khi đến lớp, đa phần người giáo viên chỉ dừng lại ở việc yêu cấu các em đọc tác phẩm, trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa, chứ chưa đề cao việc tìm hiểu thêm các kiến thức khác có liên quan đến tác phẩm Hơn nữa việc phát huy vai trò chủ thể của học sinh chưa cao khi học tác phẩm, học sinh thường rơi vào trạng thái tiếp nhận thụ động, một chiều Mọi kiến thức về tác phẩm đơn thuần chỉ là những kiến thức cơ bản mà người dạy cung cấp cho các em
Biện pháp chủ yếu mà người giáo viên sử dụng khi dạy học bài thơ tràng giang đó là thuyết giảng, cho nên vai trò của học sinh càng mất đi trong giờ học, học sinh trở nên thụ động, không phát huy được khả năng thu sáng tạo, bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ về tác phẩm của các em Một số giáo viên khác cũng sử dụng phương pháp giảng dạy mới như cho các em đối thoại, thảo luận theo nhóm nhưng không có kết quả cao do người dạy chưa thực sự chủ
Trang 33động trong dạy học Trong cơ chế dạy học văn hiện nay, qua khảo sát chúng tôi thấy, giáo viên chú ý đến mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh là nhiều, tác phẩm chỉ là cái cớ để người giáo viên thiết lập mối quan hệ này Đây là một quan niệm chưa coi trọng tác phẩm, dù người dạy có hay thế nào đi chăng nữa cũng không phát huy được tính chủ động của học sinh
Các giáo viên đều chưa kết hợp được các phương pháp dạy học Dạy bài thơ Tràng giang chỉ dừng lại ở một số nội dung nhất định, chưa khám phá được chi tiết các khía cạnh, chưa làm nổi bật được giá trị thẩm mỹ của tác phẩm, chưa linh hoạt trong việc sử dụng các phương pháp, chưa gắn với từng đối tượng học sinh cụ thể
Có trường hợp, giáo viên đưa ra mô hình thiết kế bài học có thể làm cho học sinh mất phương hướng khi tiếp nhận bài thơ Đó là việc hướng dẫn cát nghĩa nội dung thẩm mỹ của bài thơ bằng những yếu tố lịch sử, xã hội, chính trị… một cách thô thiển, chắp vá, gán ghép – những yếu tố nằm ngoài cấu trúc văn bản tác phẩm Chẳng hạn như những nhận xét dưới đây:
“Đây không phải là nỗi buồn vô cớ, bấy nhiêu con người và cảnh vật như đang ngập chìm trong một nỗi buồn chung của đất nước, một đất nước chẳng có niềm vui độc lập, tự do Bài thơ cũng như hòa vào nỗi đau buồn chung của con người Việt Nam ý thức được nỗi đau chung của dân tộc đang sống dưới ách nô lệ của thực dân”
“Đây là thời các nghệ sỹ bày tỏ lòng yêu nước một cách xa xôi bóng gió ( Gánh nước đêm của Trần Tuấn Khải, Thề non nước của Tản Đà, Những người tử tù của Nguyễn Tuân…) Huy Cận từng viết về nỗi buồn sông núi – nỗi buồn của người dân thuộc địa trước giang sơn bị mất chủ quyền Ở bài thơ này nỗi buồn sầu ấy đã hòa vào nỗi bơ vơ trước tạo vật thiên nhiên hoang vắng và niềm thiết tha với thiên nhiên tạo vật ở đây cũng là niềm thiết tha với quê hương đất nước”
Những liên hệ gán ghép trên đây là những nhận định mang tính xã hội học chung chung được áp đặt từ bên ngoài vào, chẳng “ăn nhập” gì vào cấu trúc văn bản bài thơ Tràng giang
Trang 34- Đối với học sinh
Qua khảo sát, chúng tôi nhận được mức độ tiếp nhận bài thơ Tràng giang ở các em học sinh hiện nay như sau:
Nhìn chung các em đã nắm bắt được những yếu tố bên ngoài tác phẩm( Cấu trúc ngoài tác phẩm), như về tác giả ( năm sinh, quê quán, hoàn cảnh xuất thân, quá trình hoạt động văn học, các tác phẩm chính…v.v), vì những kiến thức này đều có sẵn trong phần tiểu dẫn
Về cấu trúc bên trong tác phẩm thì phần lớn các em có những cảm nhận bước đầu về tác phẩm: bức tranh sông nước tràng giang, và tâm sự của nhà thơ v.v, những kiến thức học sinh nhận thức được như trên mới chỉ là những tri thức ở dạng tối thiểu, mới dừng lại ở dạng ghi nhớ Chưa thể hiện được những khám phá riêng mang tính chiều sâu của tác phẩm này, chưa thấy được cấu trúc bề sâu của tác phẩm
Qua khảo sát một số bài kiểm tra của các em lớp 11 trường THPT Nam Duyên Hà- Hưng Hà- Thái Bình, chúng tôi thấy có hiên tượng nổi bật: Các em làm bài chủ yếu là diễn xuôi các câu thơ, chưa thấy được các mối liên kết của các yếu tố trong bài, hơn nữa kiến thức trong bài làm của các em còn hời hợt chưa sâu
Qua khảo sát chúng tôi thấy những thuận lợi và khó khăn của học sinh khi học bài thơ Tràng giang:
Thuận lợi: Phần lớn học sinh đều rất thích học tác phẩm, do đây là bài
thơ hay, tiêu biểu của Huy cận
Khó khăn: Việc cảm thụ tác phẩm còn mơ hồ, chưa biết cách khám phá
cái hay, giá trị thẩm mĩ của tác phẩm
Những ý kiến của học sinh được tổng hợp trên đây bao gồm ý kiến đúng
và không ít ý kiến chưa thật chuẩn xác, nhưng phần nào nó cũng thể hiện những suy nghĩ thật được nảy sinh trong quá trình học và cảm thụ tác phẩm
Từ kết quả khảo sát trên chúng tôi thấy: Hầu hết trước mỗi giờ học văn, học sinh chỉ chuẩn bị theo những câu hỏi trong sách giáo khoa, chứ ít chú ý
Trang 35đến những tài liệu liên quan đến tác phẩm, các em soạn bài một cách chống đối, thiếu suy nghĩ, phần lớn chỉ dựa vào sách “Để học tốt Ngữ văn 11” Ngoài ra còn có một số học sinh không chuẩn bị bài trước khi lên lớp cho nên khi giáo viên giảng bài thì còn rất mơ hồ về tác phẩm
Khi học bài Tràng giang, học sinh chỉ chú ý đến văn bản in trong sách giáo khoa, còn những yếu tố khác học sinh rất ít quan tâm Trên lớp, phần lớn cách học của học sinh vẫn chỉ chăm chú nghe giảng, ghi chép lại kiến thức của giáo viên, còn rút rè, ít tham gia vào đối thoại Vì thế các em khó nắm bắt được ý nghĩa của tác phẩm
Như vậy, trước thực trạng dạy và học bài thơ Tràng giang của Huy Cận
ở trường phổ thông còn nhiều khó khăn, nên chúng tôi mạo muội đưa ra một phương pháp dạy học cho bài thơ đó là dạy học bài thơ này theo cấu trúc văn bản, với mong muốn đưa ra một hướng tiếp cận tác phẩm mới cho người dạy
và người học, đồng thời giúp cho việc dạy và học tác phẩm Tràng giang trong nhà trường Phổ thông đạt kết quả cao hơn
Trang 36CHƯƠNG 2 CẤU TRÚC VĂN BẢN TRÀNG GIANG VÀ VIỆC HƯỚNG DẪN
HỌC SINH ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN TRÀNG GIANG
2.1 Bài thơ “Tràng giang” trong chương trình Ngữ văn lớp 11 Trung học phổ thông
2.1.1 Tràng giang – Bài thơ tiêu biểu của phong trào thơ lãng mạn Việt Nam
Huy Cận là một trong những trụ cột của phong trào Thơ mới ( 1932- 1945) Một nhà thơ lớn của Văn học Hiện đại Việt Nam, như nhà nghiên cứu Hoài Thanh đã nói: “Huy Cận cùng với Xuân Diệu làm thành xóm thơ Huy Xuân trong làng thơ mới” Nếu Xuân diệu là nhà thơ cảm thức về thời gian thì Huy Cận là nhà thơ của cảm thức về không gian, chính vì vậy Huy Cận thường hướng ngòi bút của mình đến vũ trụ bao la, tới dòng sông, biển rộng.v.v…để thể hiện cảm xúc của mình
Khi Huy xuất hiện lần đầu với tập thơ Lửa thiêng thì người đọc cảm thấy như một tài năng đã chín Thơ Huy cận hồi ấy thường đi vào cái buồn, cảnh chiều tà, những bãi bờ sông nước bát ngát mà hoang vắng, đìu hiu, đi đến cái chia lìa và cái chết Hồn thơ Huy Cận cũng thích mở ra với vũ trụ, với không gian cao rộng và có tính chất vĩnh cửu Niềm ám ảnh thường trực trong thơ Huy Cận là sự hữu hạn của kiếp người trước cõi vô biên của vũ trụ Mỗi khi đối diện với không gian rộng lớn, mênh mang nỗi ám ảnh trên thường thăng hoa thành niềm cô đơn, sầu muộn khó hóa giải.Thơ Huy Cận thiên về lý giải triết lý hơn là giãi bày bộc lộ, cùng thế hệ với Huy Cận, nhiều người hăng hái vận dụng cái mới trong thơ Tây phương nhằm cách tân về thi pháp, riêng tác giả thi phẩm Lửa thiêng thì thường lẳng lặng kết hợp và dung hòa chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Pháp với cái hàm súc, sâu lắng của thơ Đường để tạo cho thơ mình một vẻ đẹp riêng: vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại
Bài thơ Tràng giang là một bài thơ đặc sắc của Huy Cận, là bài thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới Bài thơ được in trong tập Lửa thiêng xuất bản
Trang 37năm 1940 là một trong những bài thơ hay nhất và cũng tiêu biểu cho thơ Huy Cận trước cách mạng tháng Tám Bài thơ đã làm say mê người học yêu thơ qua bao thế hệ, là một trong số không nhiều thi phẩm tuyệt tác của phong trào thơ mới Trong tư cách là một bài thơ mới, Tràng giang có nhiều cách tân, tìm tòi mới mẻ Chẳng hạn, một phong thái diễn đạt cảm xúc mới, một điệu hồn cảm sâu lắng, rợn ngợp cô đơn của cái Tôi hiện đại, những cách tân trong nhịp thơ để tăng chất nhạc và những lựa chọn táo bạo về hình ảnh, ngôn ngữ gây ấn tượng sâu sắc
Bài thơ nói về cảnh chiều tà trên một vùng sông nước vắng vẻ, đẹp nhưng rất buồn, những cảnh buồn cứ trở đi trở lại trong bài thơ: Cảnh bát ngát mênh mông mà hoang vắng, có một cái gì tàn tạ, lụi tắt và cô đơn
Tuy nhiên, Tràng giang còn là một thi phẩm được viết trên tinh thần không khước từ với truyền thống Trái lại tác giả vận dụng được nhiều nét tinh hoa của văn chương trung đại và tạo cho bài thơ một vẻ đẹp hài hòa giữa màu sắc cổ điển và màu sắc hiện đại phù hợp với phong cách thơ giàu suy tưởng của chính mình
2.1.2 Bài thơ Tràng giang giữ một vị trí quan trọng trong chương trình Ngữ văn Trung học Phổ thông
Tràng giang, là một trong những bài thơ thành công đặc sắc, “rất Huy Cận”, trong thi phẩm Lửa thiêng, với nét bút thơ chấm phá thần tình về tạo vật, và với đôi lời tâm sự nhẹ nhàng, đã có khả năng đối thoại thấm thía với người đọc về mấy lẽ nhân sinh mang tính lương và chất thiện
Tràng giang là một bài thơ hay của Huy cận, là một trong những bài thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới Bài thơ tràng giang in trong tập Lửa thiêng, xuất bản năm 1940 của Huy Cận Bài thơ đã được đưa vào chương trình Ngữ văn Trung học Phổ thông, đây là một bài thơ hay có ý nghĩa rất quan trọng trong chương trình sách giáo khoa Trung học Phổ thông Nhiều năm bài thơ được đưa vào nội dung thi học kỳ, thi tốt nghiệp, và thi Cao đẳng, Đại học
Trang 38Ngoài ra, đã có rất nhiều nhà phương pháp, nhà giáo đã tìm tòi, phát hiện
để tìm ra cách dạy hiệu quả nhất cho bài thơ Tràng giang trong nhà trường Phổ thông Chúng ta có thể kể đến: “ Thẩm bình văn chương trong nhà trường” Tập
3 NXB Đại học Quốc gia Hà Nội – 2001 do Lê Huy Bắc chủ biên “ Ba đỉnh cao thơ mới” của Chu Văn Sơn NXB Giáo dục – 2003 Cuốn “ Hiểu văn- dạy văn” Giáo sư Nguyễn Thanh Hùng NXB Giáo dục 2000 Cuốn “ Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường Phổ thông” Tập 1 của Giáo sư Phan Trọng Luận NXB Giáo dục 1998 Cuốn “ Phân tích tác phẩm ngữ văn 11” của Trần Nho Thìn chủ biên NXB Giáo dục 2009 Cuốn “thiết kế dạy học Ngữ văn
11 phần văn học” của Hoàng Hữu Bội NXB Giáo dục 2007 Đó là những tài liệu quan trọng giúp cho việc dạy và học văn tốt hơn, đồng thời khẳng định vị trí của bài thơ Tràng giang trong nhà trường Phổ thông
2.2 Cấu trúc văn bản của bài thơ “Tràng giang”
2.2.1 Cấu trúc bề nổi của bài thơ Tràng giang
2.2.1.1 Nhan đề bài thơ: Tràng giang
Nhan đề của các tác phẩm văn học nhiều khi bao quát được những nội dung tư tưởng chủ đạo, những hình tượng nổi bật trong thơ Huy cận cũng đã chọn cho thi phẩm của mình một nhan đề rất thích đáng: Tràng giang
Trong dạng phác thảo ban đầu, Tràng giang là một bài lục bát có tên
gọi là Chiều trên sông Vì sao có sự đổi tên đó? Câu hỏi này tưởng chừng chỉ
liên quan đến một bài thơ, thực ra lại động đến cả tập Lửa thiêng, mặc dù trường hợp thay đổi nhan đề như trên có thể là hạn hữu Chưa đi vào các chi tiết của bài thơ, chỉ dừng lại với nhan đề đã cho thấy: từ Chiều trên sông đến Tràng giang, đó là cả một bước nhảy từ thực sang ảo, từ cụ thể, xác định sang phiếm định, từ truyền cảm trực tiếp sang gợi cảm, gợi ý Bước nhảy hay nói cách khác, sự thoát xác, hóa thân này của các tài liệu thực tế là hiện tượng rất đặc trưng của Lửa thiêng Nó khẳng định một nội giới phong phú của Huy Cận có đủ sức mạnh chế ngự thế giới hữu hình để kiến tạo một thế giới của những “vô hình bao la”
Trang 39Bài thơ hấp dẫn người đọc ngay từ nhan đề Có những người suốt đời lặn lội với văn chương nhưng cũng chẳng để lại cho đời một áng văn hay, một bài thơ đẹp Vì vậy, khi người nghệ sĩ sáng tác ra được một thi phẩm nghệ thuật, họ thường trăn trở băn khoăn cho cách đặt nhan đề Nhan đề của một tác phẩm thường chứa đựng nội dung của nó Viết về một xã hội tăm tối trước cách mạng, Ngô Tất Tố có tiểu thuyết “Tắt Đèn” Để ca ngợi cái tâm của người nghệ sĩ, những nho sĩ cuối mùa nay vẫn còn vang bóng, Nguyễn Tuân
có tác phẩm “Chữ người tử tù”,… Nhan đề của bài thơ là “Tràng Giang” cũng
là một trong những dụng ý nghệ thuật của nhà thơ Huy Cận “Tràng Giang” vốn là hai từ Hán Việt để chỉ dòng sông dài Đó là dòng sông Hồng-dòng sông đã gợi ý gợi tứ để nhà thơ Huy Cận viết thành công bài thơ này Nhưng dòng sông ấy khi đi vào bài Tràng giang thì nó trở thành một dòng sông lớn nói chung (mang tính khía quát), cũng không phải là một dòng sông dài cụ thể, mà cho ta cảm nhận đây là một dòng sông mà dường như chảy từ một thủa xa xưa của lịch sử, một dòng sông chảy qua bao nền văn hóa, và đã đi qua bao áng cổ thi Dòng sông ấy vĩnh viễn thuộc về đất nước Việt Nam, nó
có từ thuở khai thiên lập địa Nó không chỉ dài về không gian địa lý mà còn dài về khoảng thời gian lịch sử Với nhan đề này thì từ dòng sông cụ thể trở thành một dòng sông mang ý nghĩa khái quát, trìu tượng mà hai từ việt “sông dài” không diễn tả được
Trong Tiếng Việt hiện hành có hai từ nhằm miêu tả chiều dài đó là từ
“Tràng” và từ “Trường” Ở đây nhà thơ Huy Cận không viết là “Trường Giang” mà lại viết là “Tràng Giang” Như vậy đủ thấy sự tinh tế của Huy Cận khi sử dụng Tiếng Việt Bởi chữ “Trường” chỉ đơn thuần là miêu tả chiều dài Còn chữ “Tràng” với âm “ang” vốn là âm mở, đồng thời lại là âm tiết có độ vang, như vậy điệp âm “ang” trong hai chữ tràng và giang thì nó không chỉ miêu tả chiều dài của dòng sông mà còn gợi lên chiều rộng của con sông, dòng sống ấy như càng mênh mang hơn, càng vĩnh hằng hơn, càng âm hưởng hơn trong tâm trí người đọc Âm “ang” đã mang đến hiệu quả nghệ thuật của nhan
Trang 40đề tràng giang Đó là một con sông được vẽ lên với không gian ba chiều: sâu chót vót; rộng mênh mông; dài dằng dặc Dòng sông càng mênh mông, càng vô biên, vô cùng bao nhiêu thì tâm hồn thi nhân càng cô liêu, cô sầu bấy nhiêu Như vậy, bài thơ với nhan đề “Tràng Giang”đã phần nào bộc lộ được sở trường
và phong cách thơ Huy Cận-một nhà thơ của cảm thức về không gian
2.2.1.2 Lời đề từ
Bài thơ “Tràng Giang” có lời đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”
Trong một số thi phẩm nghệ thuật, ta bắt gặp một số lời đề từ Lời đề từ không phải là “một thứ đồ trang sức làm đẹp da” cho thi phẩm nghệ thuật Trái lại lời đề từ là một xuất phát điểm, là một dụng ý nghệ thuật, là chủ đề của tác phẩm Nó cung cấp cho người yêu thơ chiếc chìa khóa nghệ thuật để khám phá nội dung của thi phẩm Có lời đề từ là những câu văn xuôi mà tác giả mượn lời của người khác Ta nhớ tới lời đề từ của Nam Cao trong tác phẩm “Nước mắt” khi ông mượn lời của nhà văn Pháp Francois Coppée, ông viết:
“Người ta chỉ xấu xa hư hỏng trước đôi mắt ráo hoảnh của phường ích
kỷ Nước mắt là miếng kính biến hình vũ trụ”
Có lời đề từ là những câu văn vần của chính tác giả mà ta có thể kể đến lời đề từ của Chế Lan Viên trong bài thơ “Tiếng Hát Con Tàu”( Tây bắc ư có riêng gì Tây Bắc Khi hồn ta đã hóa những con tàu….)
Lời đề từ còn cung cấp những thi liệu chính mà tác giả xây dựng trong bài thơ Lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” đã gợi lên trước mắt
người đọc hai thi liệu chính: đó là trời rộng và sông dài Điều này được kết
tinh trong hai câu thơ được xem là trung tâm của bài thơ “Tràng Giang”: Nắng xuống trời lên sâu chót vót / Sông dài trời rộng bến cô liêu
Bạn đọc có thể cảm nhận nó theo hai nghĩa:
Nghĩa một: Chủ thể của Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài là con
người, và với nghĩa đó thì chúng ta hiểu là: Con người bâng khuâng, nhớ nhung trước trời rộng sông dài Nhưng cũng trong chủ thể con người, cũng có cách hiểu khác là Con người do bâng khuâng trước trời rộng mà nhớ sông dài