Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm hiểu những quy định của pháp l uật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN QUỲNH HOA
PHÁP LUẬT VỀ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA
Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Am Hiểu
Hà nội - 2005
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam được xây dựng trong thời gian qua
đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, tạo lập được các cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên cần nhận thấy rằng so với các yêu cầu, đòi hỏi và thách thức về phương diện lập pháp trong bối cảnh quốc tế hiện nay với các không gian pháp lý mới đang được xác lập thì hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ nước ta trong đó có các quy định pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá hiện tại vẫn còn khá bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế Vì vậy, việc nghiên cứu để tìm ra những điểm chưa phù hợp trong các quy định pháp luật hiện hành về nhãn hiệu hàng hoá của Việt Nam để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp là một yêu cầu cấp thiết để Việt Nam có thể sớm đáp ứng các yêu cầu ra nhập WTO
Bên cạnh đó, thời gian qua, tình trạng vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đặc biệt là đối với Nhãn hiệu hàng hoá (NHHH) diễn ra ngày càng phức tạp, đã và đang trở thành một vấn đề mang tính thời sự Việt Nam đang trên đà hội nhập vào hệ thống thương mại đa phương, khi Việt Nam trở thành thành viên của AFTA và tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm 2006 Cạnh tranh sẽ trở nên sống còn trên tất cả các thị trường, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu đối với NHHH và nguy cơ bị mất các NHHH có uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế sẽ ngày càng lớn
Nhận thức được tầm quan trọng của NHHH đối với sự phát triển và hội nhập kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai Là một học viên lớp cao học, với mong muốn nghiên cứu một cách có hệ thống pháp luật về NHHH của
Việt Nam, tôi đã chọn đề tài: " Pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam trong
thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ luật học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Sở hữu trí tuệ nói chung và NHHH nói riêng là một lĩnh vực phức tạp và mới
mẻ ở Việt Nam, mặc dù đã tham gia Công ước quốc tế trong lĩnh vực này từ rất sớm
Trang 3nhưng mãi đến đầu những năm 80 chúng ta mới thực sự xây dựng những văn bản pháp
lý đầu tiên quy định về quyền SHCN Khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các văn bản pháp quy về về lĩnh vực SHCN lần lượt ra đời: đầu tiên là pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và sau đó được thay thế bằng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn là Bộ luật Dân sự năm 1995 Từ khi có BLDS vấn đề bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đã thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều cơ quan, ban nghành, các nhà khoa học cũng như các cơ sở đào tạo Luật Đã có nhiều hội thảo liên quan đến Quyền sở hữu trí tuệ được tổ chức như Hội thảo về Hiệp định TRIPs (tháng 8/1998), Hội thảo về thực thi quyền SHTT trong Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa
Kỳ (11/2001), Hội thảo sở hữu trí tuệ Châu á và định hướng cho tương lai (tháng 5/2002), hội thảo “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng luật sở hữu trí tuệ ở Việt nam hiện nay” (tháng 11/2004); Hội thảo "sở hữu trí tuệ với doanh nghiệp cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế" của Hội sở hữu công nghiệp Việt Nam (tháng 12/2004) Công trình nghiên cứu khoa cấp Bộ của Viện nghiên cứu khoa học
pháp lý về “Sở hữu trí tuệ thực trạng và xu hướng phát triển trong những năm đầu của
thế kỷ XXI”; “Bình luận khoa học các quy định của Bộ luật dân sự” của Viện nghiên
cứu khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp; tập bài giảng “Sở hữu trí tuệ” của khoa luật dân sự, trường Đại học Luật Hà nội Đồng thời có nhiều bài viết của các tác giả trong nước về
sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu khoa học này chỉ đề cập tới các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ nói chung chứ không đi sâu nghiên cứu riêng về vấn
văn của tác giả Vũ Thị Hải Yến "Một số vấn đề về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đối với NHHH tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật Dân sự" thực hiện năm 2001-
Đây là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên về NHHH, song những nghiên cứu của công trình này chủ yếu tập trung vào vấn đề bảo hộ NHHH theo quy định của pháp
luật Việt Nam Công trình thứ hai là luận văn của tác giả Vũ Thị Phương Lan "So sánh
pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá của Việt Nam với các điều ước quốc tế và pháp luật của một số nước phát triển" thực hiện năm 2002- Đây là công trình đầu tiên
nghiên cứu về vấn đề so sánh pháp luật bảo hộ NHHH, nhưng phạm vi so sánh rộng
Trang 4nên chỉ đi vào các vấn đề chung có tính chất khái quát Vì vậy, việc chọn và n ghiên
cứu đề tài "Pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế
quốc tế" là một đề tài độc lập, không có sự lặp lại Tuy nhiên, để hoàn thành đề tài này, người viết phải tham khảo, sưu tầm, học hỏi các kiến thức cũng như kinh nghiệm trong các công trình khoa học có liên quan đến vấn đề sở hữu trí tuệ đã được công bố và các tạp chí nghiên cứu khoa học khác
3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm hiểu những quy định của pháp l uật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, phân tích và chỉ ra những bất cập, đồng thời nêu một số kiến nghị với hy vọng các quy định pháp luật Việt Nam về nhãn hiệu hàng hoá sẽ ngày càng hoàn thiện hơn, đặc biệt sẽ được hoàn thiện trong Luật sở hữu trí tuệ (dự kiến thông qua tại kỳ họp Quốc Hội tháng 11/2005), tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước trong thời kỳ hội nhập
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khổ giới hạn của một luận án Thạc sỹ luật học, người viết không có tham vọng nghiên cứu toàn bộ các quy định của pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá mà
- Phân tích khái niệm NHHH theo quy định hiện hành, các tiêu chí để một NHHH được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam và vai trò của NHHH trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật về NHHH và việc bảo hộ quyền này trên thực
tế của Việt Nam
- Quan điểm của tác giả về một số vấn đề cần sửa đổi, bổ sung qua việc nghiên cứu pháp luật về NHHH ở Việt Nam trong sự so sánh với các điều ước quốc tế và pháp luật về NHHH của một số nước công nghiệp phát triển
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Cơ sở lý luận và phương pháp luận của đề tài dựa trên phé p duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin để tìm ra mối liên hệ giữa các hiện tượng nhằm đánh giá các vấn đề nghiên cứu một cách khoa học
Trang 5Bên cạnh đó, tác giả cũng vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như: phân tích chứng minh, phân tích tổng hợp, so sánh, diễn giải, suy diễn lôgích để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
6 Những điểm mới và ý nghĩa của đề tài
Về mặt khoa học, đề tài cần có sự đánh giá của các nhà nghiên cứu quan tâm tới vấn đề này Tuy nhiên, tác giả cũng mạnh dạn đánh giá đây sẽ là công trình nghiên cứu, phân tích một cách có hệ thống những vấn đề lý luận chung về nhãn hiệu hàng hoá, đồng thời phân tích thực trạng pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá hiện nay ở Việt Nam trên cơ sở so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật quốc tế tìm ra những điểm chưa tương thích trong bối cảnh hội nhập từ đó đưa ra kiến nghị đối với việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam hiện nay
Đề tài đã đưa ra một số kiến nghị ban đầu cho việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn có bố cục như sau: Lời mở đầu, ba chương, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ
1.1 Khái niệm nhãn hiệu hàng hoá
1.1.1 Khái niệm về NHHH trong Hiệp định TRIPs và pháp luật Việt Nam
* Khái niệm về NHHH trong Hiệp định TRIPs
Hiện nay, pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế đều rất quan tâm đến bảo hộ NHHH Trên thế giới đã có rất nhiều Điều ước quốc tế đa phương và song phương điều chỉnh các lĩnh vực liên quan đến nhãn hiệu hàng hoá như Công ước Paris (1883), Thoả ước Madrid (1891), Hiệp định về các khía cạnh liên quan liên quan đến thương mại của SHTT (TRIPs), Hiệp định về luật NHHH ký giữa các nước thành viên trong khuôn khổ WIPO…trong đó điển hình hơn cả là Hiệp định TRIPs đã đưa khái niệm nhãn hiệu hàng hoá như sau:
“Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác nhau đều có thể làm NHHH Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và
tổ hợp các sắc màu cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký là NHHH”.(Điều 15 – Hiệp định TRIPs)
Có thể thấy khái niệm NHHH trong Hiệp định TRIPs được quy định rất khái quát, và do đó mang tính quy chuẩn Việc xác định một đối tượng bất kỳ có phải là NHHH hay không sẽ căn cứ vào tính phân biệt của hàng hoá dịch vụ Điều này thể hiện
rõ nhất trong các quy định tương ứng của TRIPs là bất kỳ một dấu hiệu nào, cho dù là hình ảnh, màu sắc, âm thanh hay mùi vị có khả năng phân biệt được hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác đều được coi là NHHH Đây cũng là cách tiếp cận chung của các nước khi định nghĩa NHHH trong pháp luật của mình Tuy nhiên, các nước cũng có những quan điểm khác nhau liên quan đến những yếu tố có thể phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các doanh nghiệp Sự khác biệt này đôi khi bắt nguồn từ sự phát triển kinh tế hay mức độ đa dạng của nền kinh tế Vì thế, có trường hợp chúng ta thấy ở một số nước phát triển thì các
Trang 7dấu hiệu được coi là NHHH có thể bao gồm cả hình ảnh ba chiều, âm thanh hay mùi, trong khi đó ở một số nước khác thì chỉ các yếu tố cấu thành truyền thống như tên gọi, hình ảnh, màu sắc là được công nhận
* Khái niệm về NHHH theo pháp luật Việt Nam
Tại Việt Nam, Điều 785, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 quy định “NHHH
là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau NHHH có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu
tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc”
Trên cơ sở Khoản 1 Điều 785 chúng ta nhận thấy rằng quy định về nhãn hiệu hàng hoá trong BLDS Việt Nam là phù hợp với quy định của TRIPs khi đưa ra tiêu chuẩn “có khả năng phân biệt” là cơ sở để một dấu hiệu có thể được dùng làm NHHH hay không Tuy nhiên, so với quy định tại Điều 15 Hiệp định TRIPs thì quy định này hạn chế hơn, không thể hiện sự “mạnh mẽ” như quy phạm tương ứng của Hiệp định
TRIPs là: bất kỳ dấu hiệu, tổ hợp dấu hiệu có khả năng phân biệt đều có thể làm
NHHH BLDS Việt Nam quy định có phần cụ thể hơn khi liệt kê các dấu hiệu này, theo đó các dấu hiệu có thể làm nhãn hiệu hàng hoá bao gồm từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp giữa từ ngữ và hình ảnh được thể hiện bằng một hay nhiều mầu sắc Quy định này đã giới hạn các dấu hiệu có thể lựa chọn làm nhãn hiệu trong ba loại dấu hiệu Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp có ít sự lựa chọn hơn khi xây dựng nhãn hiệu hàng hoá, họ không thể chọn các dấu hiệu nằm ngoài các dấu hiệu đã được liệt kê tại điều 785 BLDS Trong tình hình hiện nay của Việt Nam thì 3 loại dấu hiệu này có lẽ là phù hợp, tuy nhiên, trong tương lai với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, khi mà các loại hàng hoá, dịch vụ ngày càng phong phú đa dạng, các nhà sản xuất luôn mong muốn tìm kiếm những nhãn hiệu mới lạ, độc đáo, hấp dẫn cho các sản phẩm của mình
để thu hút công chúng và cùng với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế thì Việt Nam sẽ chưa thể bắt nhịp được với thế giới nếu như chúng ta bỏ qua những dấu hiệu đã được các nước trên thế giới công nhận như âm thanh, mùi vị…
Quy định liên quan đến bảo hộ NHHH tại khoản 1 Điều 6 Hiệp định thương m ại Việt Nam - Hoa Kỳ đã thể hiện một khái niệm bao quát và gần với chuẩn mực quốc tế
Trang 8hơn: “NHHH được cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu
hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người với hàng hóa hoặc dịch vụ của người khác, bao gồm từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp mầu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của hàng hóa hoặc hình dạng của bao bì hàng hóa Nhãn hiệu hàng hóa bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận” Như vậy, theo nội dung của HĐTM Việt Nam – Hoa Kỳ thì
các dấu hiệu có thể cấu tạo nên NHHH được mở rộng hơn, không chỉ là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp giữa các từ ngữ, hình ảnh như quy định của BLDS Việt Nam mà còn có thể là từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc…ngoài ra Hiệp định còn phân loại NHHH thành nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận Tuy nhiên, các nhãn hiệu như âm thanh, mùi vị vẫn chưa được đề cập đến trong nội dung Hiệp định này
Xuất phát từ nhu cầu cần thiết là phải hoàn thiện pháp luật để hội nhập, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Dân sự sửa đổi, trong đó phần Sở hữu trí tuệ trong
Bộ luật chỉ còn lại những quy định mang tính chất nguyên tắc, các quy định cụ thể về
sở hữu trí tuệ nói chung và nhãn hiệu hàng hóa nói riêng được quy định trong Luật sở hữu trí tuệ dự kiến được thông qua vào cuối năm 2005 và đương nhiên, khái niệm nhãn hiệu hàng hoá cũng không còn quy định trong BLDS mà sẽ được quy định trong luật SHTT Dự thảo 4 của Luật SHTT định nghĩa nhãn hiệu như sau:
1 Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các cá nhân,
tổ chức kinh doanh khác nhau
2 NHTT là …
3 NHCN là …
4 Nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được, có thể là chữ cái, từ, ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ảnh 3 chiều hoặc sự kết hợp giữa các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mà sắc [30]
Như vậy, khái niệm tại Dự thảo Luật SHTT được định nghĩa theo tiêu chí chức năng của nhãn hiệu Chức năng của nhãn hiệu là dùng để (cho người tiêu dùng và nhà
Trang 9sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ) phân biệt hàng hoá, dịch vụ, vì vậy dấu hiệu sử dụng làm nhãn hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được Định nghĩa này thực ra cũng tương tự như định nghĩa tại Điều 785 Bộ luật Dân sự 1995 Tuy nhiên, so với pháp luật hiện hành, điều này đã làm rõ nghĩa một loại dấu hiệu có khả năng được bảo hộ dưới danh nghĩa là nhãn hiệu, đó là hình ảnh ba chiều Dấu hiệu này được pháp luật các nước trên thế giới thừa nhận bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu và thực tế Việt Nam đã đăng
ký bảo hộ Ví dụ như hình dáng của chai Coca cola Bên cạnh đó, điểm mới tiếp theo của định nghĩa này so với pháp luật hiện hành là bổ sung điều kiện "nhìn thấy được" đối với nhãn hiệu
Tóm lại, trên cơ sở những phân tích ở trên, để phù hợp với sự phát triển vừa tạo được một sự linh hoạt cần thiết trong quá trình áp dụng, có thể đưa ra khái niệm về nhãn hiệu hàng hoá như sau:
Tất cả những dấu hiệu, đặc biệt là từ ngữ, tên người, chữ cái, chữ số, chữ viết tắt, các yếu tố hình, tổ hợp màu sắc hoặc các yếu tố khác đều có thể được bảo hộ là nhãn hiệu hàng hoá nếu chúng có khả năng dùng để phân biệt được hàng hoặc dịch vụ của cơ sở sản xuất kinh doanh này với cơ sở sản xuất kinh doanh khác
1.1.2 Các dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu hàng hoá
Theo xu hướng quốc tế hiện nay thì các dấu hiệu có thể được đăng ký làm NHHH rất phong phú, nó có thể cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc là sự kết hợp bất
kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của cơ sở sản xuất kinh doanh này với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của cơ sở sản xuất kinh doanh khác Trên tinh thần của các Điều ước quốc tế thì có thể phân loại một số dấu hiệu hiện nay được
sử dụng làm NHHH như sau:
* Dấu hiệu từ ngữ
Từ ngữ là dấu hiệu được dùng phổ biến nhất, có thể là một từ hoặc một tập hợp
từ Dấu hiệu “từ ngữ” được hiểu là các dấu hiệu chữ bao gồm các chữ cái hoặc chữ số Một hay nhiều chữ cái, một hay nhiều số hoặc sự kết hợp giữa chúng là loại NHHH phổ biến Ví dụ như :7 up, Trung nguyên, NIKE
Trang 10Thông thường các chuyên gia thường áp dụng 04 cách đặt tên nhãn hiệu: 1) sử dụng từ tự tạo- đó là từ được tổ hợp từ những ký tự, tạo thành một từ mới phát âm được và không có trong từ điển, ví dụ như Elead, Yahoo…2) sử dụng từ thông dụng- là những từ hiện dùng và thực sự có ý nghĩa trong một ngôn ngữ nào đó, ví dụ như: Rạng Đông, Trung Thành…3) Sử dụng từ ghép- là sự kết hợp các từ hiện dùng và các âm tiết
dễ nhận biết, ví dụ như: Vinamilk, Thinkpad…4) sử dụng các từ viết tắt- là những từ thông thường được tạo thành từ những chữ cái đầu tiên của tên công ty, từ viết tắt cũng
có thể phát âm được và mang một thông điệp nào đó như: AIA, IBM, LG, FPT
Theo quy định tại điều 6.2a Nghị định 63/CP thì không phải bất kỳ chữ cái và chữ số nào cũng đều được đăng ký làm NHHH, nhất là đối với chữ cái đứng đơn lẻ, không được cách điệu thì sẽ được xem là không có tính phân biệt nên không có khả năng đăng ký NHHH, các chữ cái, chữ số, các chữ không có khả năng phát âm như một
số từ ngữ, chữ nước ngoài thuộc các ngôn ngữ không thông dụng trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và được thừa nhận một cách rộng rãi Ngoài ra, nếu chỉ bao gồm một từ chữ cái hoặc một chữ số thì sẽ bị xem là quá đơn giản, ngược lại nếu
có quá nhiều chữ cái hoặc có quá nhiều chữ số, dài quá thì cũng có thể không được bảo
hộ, nhưng nếu có thể đọc được và viết theo một ký tự riêng lại có thể được bảo hộ
Tuy nhiên, tính chất "khả năng tự phân biệt" không mang một ý nghĩa tuyệt đối Tính chất này có thể thay đổi, tuỳ thuộc vào việc sử dụng thực tế của nhãn hiệu trên thị trường Chẳng hạn như một nhãn hiệu là dấu hiệu đơn giản (chữ cái, tập hợp các chữ cái, hình học đơn giản…) sau một thời gian dài được sử dụng liên tục với số lượng lớn
và rộng rãi, có thể trở thành dấu hiệu có khả năng tự phân biệt do người tiêu dùng vì qua việc sử dụng rộng rãi này, nhãn hiệu đã trở nên nhận biết được, phân biệt được cho người tiêu dùng Ví dụ: "333" là một dấu hiệu đã trở thành một nhãn hiệu thông dụng
"PN" là một nhãn hiệu được sử dụng rộng rãi cho các sản phẩm mỹ phẩm của Shiseido
Về vấn đề này, pháp luật Nhật Bản cũng không quy định việc kết hợp các chữ cái hoặc chữ số phải theo một thứ tự có thể phát âm được Nếu NHHH chỉ bao gồm có một chữ cái hoặc chữ số thì sẽ bị coi là quá đơn giản và không được bảo hộ, ít nhất phải từ hai chữ cái trở lên Tuy nhiên, nếu sự kết hợp đó lại tạo thành một thứ tự mà
Trang 11chính bản thân hàng hoá hoặc dịch vụ mang nhãn nhãn hiệu đó lại lấy đó làm dấu hiệu hay mã hàng theo quy định của Nhật Bản thì sự kết hợp đó lại được xem như là quá đơn giản và không được đăng ký Ngoài ra, có một quy định khá đặc biệt là nếu hai chữ cái anphabet được nối với nhau bằng dấu “&” thì lại được coi là có tính phân biệt
và có khả năng đăng ký [41; tr 8]
- Tên địa danh cũng là một dấu hiệu thường được đăng ký làm NHHH ở Việt Nam, tuy nhiên nó có nguy cơ trở nên khó phân biệt với việc bảo vệ tên gọi xuất xứ hàng hoá hay chỉ dẫn địa lý vì nó ám chỉ đến những khu vực địa lý mà người tiêu dùng thường nghĩ rằng đó là nơi xuất xứ gốc của sản phẩm như nước mắm Phú Quốc, chè Mộc Châu, kẹo dừa Bến Tre, Vang Đà Lạt…
- Tên người, xét về bản chất, chính là sự chứa đựng các chữ cái được ghép lại với nhau tạo thành một nghĩa hoàn chỉnh Nhưng tên người ở đây được sử dụng làm nhãn hiệu hàng hoá khi nó có tính phân biệt giữa tên người này với tên người khác gắn trên sản phẩm, dịch vụ Bộ luật Dân sự Việt Nam chưa quy định tên người được làm nhãn hiệu hàng hoá vì trên thực tế “Tên người” làm nhãn hiệu hàng hoá rất dễ gây nhầm lẫn cho khách hàng, bởi có rất nhiều người tên giống nhau, vì vậy không phải chủ hàng hoá, dịch vụ nào sử dụng tên người để đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, dịch vụ cũng được chấp nhận Tuy nhiên BTA đã thể hiện sự tiến bộ của mình khi quy định về dấu hiệu này
Ở một số nước phát triển trên thế giới, tên họ là một dấu hiệu thường được đăng
ký làm NHHH, họ gia đình thường được dùng rất phổ biến làm tên công ty hay nhãn hiệu gắn lên hàng hoá dịch vụ như: mỹ phẩm Estee Lauder, xe hơi FORD và HONDA nhưng, đa số các nước, kể cả Mỹ và Châu Âu thường không cho phép đăng
ký các họ gia đình phổ thông làm NHHH vì nó thiếu tính phân biệt, đồng thời như trên
đã phân tích nó rất dễ gây nhầm lẫn cho khách hàng
* Dấu hiệu hình ảnh
Dấu hiệu hình ảnh bao gồm cả hình ảnh hai chiều và hình ảnh 3 chiều Dấu hiệu hình ảnh có tác dụng thu hút sự chú ý của người tiêu dùng thông qua thị giác, bao gồm các hình vẽ, các nét vẽ, biểu tượng hai chiều bằng một màu hay nhiều màu của hàng
Trang 12hoá hay bao bì Hiện nay, dấu hiệu hình ảnh, đặc biệt là dấu hiệu hình ảnh ba chiều dành được rất nhiều sự quan tâm từ phía doanh nghiệp vì dấu hiệu này được xem là có khả năng tạo nên ấn tượng mạnh mẽ, sức lôi cuốn và dễ in sâu vào trong tâm lý người tiêu dùng, do đó có khả năng phân biệt rất cao Ví dụ: hình con ngựa bay đúc nguyên khối của xe Rolls-Royce, hai chữ C đan vào nhau của Chanel, chữ M cách điệu Motorola, con mắt của CBS, 3 hình elíp lồng vào nhau của Toyota và thật ấn tượng với hình ảnh của chiếc vô lăng được cách điệu thành ngôi sao ba cánh nằm trong vòng tròn của xe Mercedes Có thể nói, hình ảnh này đã thể hiện việc sử dụng ngôn ngữ tạo hình hết sức khái quát, tiếp cận khách hàng một cách nhanh, mạnh, sâu nhất, làm cho khách hàng liên tưởng đến những gì tích cực nhất của sản phẩm và sự uy tín của doanh nghiệp
Pháp luật Việt Nam, tại điều 785 BLDS 1995 có đề cập đến dấu hiệu hình ảnh nhưng không quy định cụ thể là dấu hiệu hình ảnh ba chiều Tuy nhiên, nếu chúng ta hiểu rộng ra thì thuật ngữ “hình ảnh” mà điều này đã đề cập đến bao gồm cả hình ảnh hai chiều, hình ảnh ba chiều và trên thực tế Việt Nam đã thừa nhận và bảo hộ các dấu hiệu thuộc loại này
* Dấu hiệu tổ hợp màu sắc
Dấu hiệu này bao gồm các từ ngữ, hình ảnh và bất kỳ sự kết hợp nào giữa chúng
có màu sắc hoặc sự kết hợp màu sắc với các yếu tố khác hoặc chỉ riêng màu sắc Việc
sử dụng các chữ cái, hình hoạ với màu sắc hoặc kết hợp màu sắc nói chung thường làm tăng thêm tính phân biệt của chúng và thường dễ dàng được chấp nhận đăng ký hơn
Theo quy định của TRIPs, không những các dấu hiệu thông thường có thể được đăng ký làm NHHH mà ngay chính bản thân sự kết hợp các màu sắc với nhau cũng có thể được đăng ký như một NHHH Pháp luật Mỹ và EU cũng không phản đối điều này Luật mẫu về NHHH của tổ chức SHTT thế giới (WIPO) cũng dành hẳn phần 1 (2) quy định về những sự kết hợp màu sắc nào có thể được đăng ký làm NHHH
Hiện nay BLDS Việt Nam 1995 chưa quy định rõ về dấu hiệu này mà nó mới chỉ được quy định trong Hiệp định Thương mại Việt Nam Hoa Kỳ, vì vậy trong thời
Trang 13gian tới pháp luật Việt Nam cần có sự bổ sung, sửa đổi hoàn thiện hơn đối với việc cho phép tổ hợp màu sắc được đăng ký bảo hộ làm nhãn hiệu hàng hoá
Thực tế, nước ta cũng như tại các nước trên thế giới cho thấy ba loại dấu hiệu trên đây được sử dụng rộng rãi nhất trong các NHHH Tuy nhiên, hiện nay tại nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia phát triển, những dấu hiệu mà con người có khả năng “tri giác” được đều có thể sử dụng như là một NHHH Vì vậy, bên cạnh những dấu hiệu nhìn thấy được như từ ngữ, hình ảnh, màu sắc, sự kết hợp của các yếu tố này, thì những dấu hiệu nghe thấy được như âm thanh, mùi vị cũng đã được một số quốc gia bảo hộ như là NHHH
Hiện nay, các nhà sản xuất luôn luôn tìm kiếm những nhãn hiệu mới lạ, độc đáo
và hấp dẫn cho sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của mình để tạo ấn tượng đến công chúng
và quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra thì việc công nhận, bảo hộ NHHH tại các quốc gia khác là một xu thế tất yếu của thời đại Do đó, chúng ta cũng nên bảo hộ cho những nhãn hiệu hàng hoá đặc biệt này nếu như việc bảo hộ đó không trái với quy định của pháp luật và ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác
1.1.3 Các điều kiện để bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá
Nhãn hiệu hàng hoá có ý nghĩa quan trọng, nhất là trong giai đoạn hội nhập kinh
tế quốc tế hiện nay Việc lựa chọn sản phẩm thích hợp của người tiêu dùng chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi uy tín của NHHH đồng thời là uy tín của doanh nghiệp đó Do vậy, hầu hết tất cả các doanh nghiệp đều có nhu cầu sử dụng nhãn hiệu để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch vụ của người khác Đây là quyền lợi và cũng
là trách nhiệm của các doanh nghiệp Tuy nhiên, không phải mọi dấu hiệu mà nhà sản xuất, kinh doanh đưa ra để đăng ký nhãn hiệu hàng hoá đều được Cục sở hữu SHTT -
cơ quan có thẩm quyền xét và cấp văn bằng bảo hộ đối với nhãn hiệu hàng hoá Nghị định 63/CP quy định để đăng ký và bảo hộ như một NHHH thì dấu hiệu đó phải đáp ứng một số điều kiện sau:
Trang 141.1.3.1 Điều kiện về tính phân biệt
Tính phân biệt là một chức năng quan trọng và cũng là yêu cầu trước tiên cần phải có nếu một NHHH muốn được đăng ký bảo hộ Điều 15.1 TRIPs quy định bất kỳ một dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác đều có thể làm NHHH
Trên thực tế, việc đánh giá tính phân biệt của một NHHH là một vấn đề phức tạp, nhất là trong việc pháp điển hoá bằng pháp luật Trong các quy định thành văn của TRIPs, pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước như Nhật, Mỹ đều không định nghĩa thế nào là tính phân biệt của NHHH mà chỉ quy định các dấu hiệu không có khả năng phân biệt Tuy vậy, khái niệm về tính phân biệt lại được hiểu một cách nhất quán trong giới luật gia các nước Có thể hiểu một cách chung nhất về tính phân biệt của NHHH là khả năng của NHHH giúp cho người tiêu dùng xác định được nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn Để thực hiện được chức năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác thì bản thân NHHH phải có khả năng tự phân biệt, cụ thể là nhãn hiệu đó phải có đủ khả năng tác động vào nhận thức của người tiêu dùng, để người tiêu dùng có thể nhận biết, ghi nhớ
và so sánh nhằm xác định mục đích xác định, lựa chọn hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp
Điều 6.1 Nghị định 63/CP quy định một dấu hiệu dùng làm NHHH được công nhận là có tính phân biệt khi nó đáp ứng đầy đủ 8 điều kiện được liệt kê trong đó Tuy nhiên, trong thực tế thì các điều kiện này cũng được đề cập một cách đầy đủ trong pháp luật của Mỹ hay EU, Nhật Bản Chúng được coi là những trường hợp rõ ràng cần phải
từ chối đơn đăng ký chứ không được dùng để xây dựng định nghĩa về tính phân biệt
Do vậy mà về mặt bản chất thì cách hiểu của Việt Nam về tính phân biệt của NHHH là không có gì khác so với cách hiểu chung của pháp luật quốc tế và các nước nói trên
Tính phân biệt cần phải được đánh giá trong mối liên hệ với những hàng hoá
mà nhãn hiệu đó được áp dụng Dấu hiệu không có tính phân biệt thì không thể giúp
người tiêu dùng xác định đúng được hàng hoá mà họ mong muốn lựa chọn Ví dụ như
từ apple, nghĩa là quả táo, về mặt văn học nó không liên quan gì đến máy tính cá nhân,
Trang 15vì thế khi được chọn làm nhãn hiệu cho máy tính thì ngay lập tức nó có tính phân biệt cao mà người tiêu dùng khi nhìn thấy nhãn hiệu đó gắn trên máy tính đã biết máy tính
đó do hãng nào sản xuất và chất lượng có thoả mãn nhu cầu của mình hay không
Một vấn đề nữa cần lưu ý là tính phân biệt của NHHH cần phải được đánh giá
trong sự so sánh, đối chiếu với các hàng hoá, dịch vụ cạnh tranh cùng loại, không phải
là với tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ có trên thị trường Vì mục đích của các nhà s ản
xuất cũng chỉ nhằm cho người tiêu dùng lựa chọn và phân biệt hàng hoá, dịch vụ của mình với các hàng hoá và dịch vụ của các doanh nghiệp khác
Tuy nhiên, chúng ta c ần phải xác định về mức độ phân biệt của NHHH, có nghĩa là sự phân biệt được thể hiện ở mức độ nào thì NHHH đó sẽ được bảo hộ Liên quan tới vấn đề này cần phải có sự phân biệt hai loại nhãn hiệu hàng hoá tiêu biểu - các NHHH tự đặt, tự nghĩ ra mà không hàm chứa một ý nghĩa nào c ả và NHHH được đ ặt trên cơ sở những dấu hiệu sẵn trong tự nhiên và thường nó đều mang một ý nghĩa nào
đó
Với loại thứ nhất, một số ví dụ chúng ta có thể biết đến, Đó là KODAK dành cho phim chụp ảnh, nhãn hiệu ô tô nổi tiếng BMW hay nhãn hiệu CAMEL dùng cho thuốc lá và nhãn hiệu APPLE đã đề cập trên đây (bao gồm cả phần từ ngữ và hình ảnh) dành cho máy tính Nhãn hiệu này được các doanh nghiệp ưa chuộng vì ngoài những tiêu chí đơn giản, dễ đọc, thân thiện và có ý nghĩa, NHHH cần phải ấn tượng và khác biệt Đây là một yếu tố quan trọng nhằm tăng sự nhận biết về nhãn hiệu Sự khác biệt của một NHHH là yêu cầu để nhà nước bảo hộ song nó còn được xem như là một lợi thế đối với các NHHH c ạnh tranh Để có được một cái tên khác biệt và nổi trội như những NHHH trên, các công ty đã lựa chọn các chữ cái và kết hợp tạo thành một cái tên chưa từng được biết đến, kể cả trong từ điển và chúng cũng chẳng có liên quan gì đến sản phẩm mang nhãn Ví dụ như nhãn hiệu nổi tiếng KODAK Hay như logo c ủa BMW được thiết kế là biểu tượng của phần dẹt cánh quạt máy bay màu trắng, tương phản với bầu trời màu xanh Nó phản ánh nguồn gốc của BMW là một nhà sản xuất động cơ máy bay quân sự trong thế chiến thứ nhất Đây là một ví dụ điển hình cho một công ty có nhãn hiệu hàng đầu vẫn còn giữ lại, thể hiện được những gì tiêu biểu nhất
Trang 16trong truyền thống của mình qua hình thức bên ngoài logo c ủa công ty mà không kém phần đơn giản, xúc tích và có ý nghĩa, mặc dù theo cách hiểu trên thì nó cùng chẳng có
gì liên quan đến ô tô Tuy nhiên, vì thường là nhãn hiệu độc đáo, có tính chất như là một vật đặc định và mang tính phân biệt rõ nét, nên những nhãn hiệu hàng hoá này khi
đã đi vào lòng công chúng thì người tiêu dùng sẽ dễ dàng nhận ra hàng hoá, dịch vụ mang nhãn lập tức khi nhìn thấy chúng và những nhãn hiệu mang những dấu hiệu này cũng thường được sự bảo hộ rất mạnh mẽ của pháp luật và khả năng được chấp nhận
và đăng ký rất cao
Loại thứ hai thường được các nhà doanh nghiệp ưa sử dụng hơn vì thường là
những thuật ngữ ít nhiều mang tính mô tả (descriptive), nghĩa là nó chứa đựng những thông tin làm cho người tiêu dùng liên tưởng tới các đặc điểm hay chất lượng của sản phẩm mang nhãn Nhìn chung pháp luật của các nước thường công nhận một nguyên tắc là các thuật ngữ mô tả có thuộc tính phân biệt đối với hàng hoá liên quan nếu nó mang một ý nghĩa thứ cấp (secondary meaning), nghĩa l à nếu những người tiêu dùng khi nhìn thấy nó có thể nhận biết được hàng hoá từ một nguồn thương mại xác định Đáp ứng được điều kiện này thì NHHH sẽ được đăng ký Có thể thấy rất nhiều ví dụ trong thực tiễn về loại NHHH này "Điện quang" được dùng làm NHHH cho một loại bóng đèn do công ty Điện quang sản xuất và nó cũng mang nghĩa là thắp sáng bằng điện và làm cho người dùng ngay cả khi chưa dùng bóng Điện quang cũng có thể liên tưởng tới bóng đèn Hay nhãn hiệu BP với logo hình hoa hướng dương với 18 cánh vừa tượng trưng cho sự may mắn, vừa là hình ảnh của mặt trời, một nguồn năng lượng sạch
và gần như vô tận Phát triển nguồn năng lượng sạch như năng lượng mặt trời, năng lượng gió là hướng đi mới của BP và logo này do vậy cũng biểu trưng cho chiến lược phát triển bền vững và thân thiện với môi trường Ho ặc như Walkman là nhãn hiệu head phone c ủa Sonny Chữ Walkman ít nhiều giúp ta liên tưởng đến loại máy nhỏ bỏ túi mà "người đi bộ" có thể cầm nghe theo Những NHHH ít nhiều nói lên chất lượng sản phẩm như Angel (thiên thần) hay Dream (giấc mơ) là những cái tên mà các hãng xe máy muốn nói lên phần nào chất lượng, giá trị sản phẩm của công ty
Có thể thấy giá trị của một NHHH chính là tính phân biệt của nó Các doanh nghiệp bao giờ cũng nỗ lực hết sức nâng cao c hất lượng và quảng bá s ản phẩm nhằm
Trang 17làm cho NHHH của mình có tính phân biệt cao trong tâm trí người tiêu dùng Trên phương diện quản lý nhà nước cũng thường căn cứ trên sự xác định tính phân biệt của một nhãn hiệu để cho phép hay không cho phép đăng ký NHHH Để xác định tính phân biệt của một nhãn hiệu được dễ dàng, pháp luật của Việt Nam cũng như pháp luật của một số nước trên thế giới đều quy định một số trường hợp các dấu hiệu tạo thành nhãn hiệu không có tính phân biệt, có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và do đó sẽ bị
từ chối đăng ký NHHH
1.1.3.2 Các trường hợp không được bảo hộ do thiếu tính phân biệt
Pháp luật Việt Nam và pháp luật của các nước đều quy định nếu dấu hiệu tạo thành nhãn hiệu không có tính phân biệt sẽ bị từ chối vì không thể thực hiện chức năng phân biệt của một NHHH Về những trường hợp không được đăng ký do thiếu tính phân biệt, pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước đều có sự giống nhau trong việc chia những trường hợp không được đăng ký do thiếu tính phân biệt thành 3 loại sau:
Trang 18* Loại thứ nhất: thiếu tính phân biệt do trùng hay tương tự gây nhầm lẫn với
một nhãn hiệu khác
Dấu hiệu xin đăng ký phải không được trùng hoặc tương tự ở mức có thể gây nhầm lẫn với một NHHH nào đó đã tồn tại trước đó (nhãn hiệu đối chứng) Điều kiện này nhằm bảo vệ quyền lợi của nhãn hiệu đối chứng, đồng thời tránh cho người tiêu dùng có thể hiểu nhầm là những sản phẩm mang dấu hiệu xin đăng ký là s ản phẩm mang nhãn hiệu đối chứng hoặc ngược lại Tuy nhiên, trên thực tế có thể thấy các trường hợp trùng hoặc tương tự dẫn tới gây nhầm lẫn được quy định trong pháp luật Việt Nam và các nước đều là những trường hợp mà cơ sở để ra quyết định từ chối cho đăng ký là hết sức tương đối Chủ yếu nó phụ thuộc vào sự cân nhắc, xem xét của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, các trường hợp quy định tại điểm b, c,
d, e, khoản 1, Điều 6 Nghị định 63/CP là những trường hợp có thể bị coi là thiếu tính phân biệt do trùng hay tương t ự tới mức gây nhầm lẫn dẫn đến thiếu tính phân biệt
Hiện nay, Việt Nam chưa có các quy định cụ thể về các tiêu chí làm thế nào có thể xác định được sự tương tự đến mức gây nhầm lẫn giữa 2 nhãn hiệu Việc quyết định một nhãn xin đăng ký có tương tự tới mức gây nhầm lẫn đối với một nhãn đối chứng hay không hoàn toàn tuỳ thuộc vào sự xem xét chủ quan của Cục SHTT, tuy nhiên Cục SHTT cũng chưa có văn bản hướng dẫn chính thức về phương pháp xác định mức độ có thể gây nhầm lẫn Pháp luật Mỹ, EU và Nhật Bản cũng không có quy định chính thức thành văn bản đối với cách thức xác định vấn đề này, tuy nhiên các cơ quan có thẩm quyền đăng ký tại các nước đó thường có các tài liệu hướng dẫn chi tiết
về đăng ký NHHH và trong đó đưa ra một số nguyên tắc xác định mức độ tương tự có thể gây nhầm lẫn Ngoài ra, ở những nước có truyền thống án lệ như Mỹ, các bản án của Toà án, đặc biệt là Toà án tối cao Mỹ là những nguồn luật quan trọng của pháp luật
và trong đó phân tích chi tiết về vấn đề pháp lý liên quan đến NHHH Cục SHTT Việt Nam, trong thực tế thẩm định tương tự có thể gây nhầm lẫn, cũng áp dụng một số nguyên tắc sau:
Trang 19- Dấu hiệu có tương tự về mặt cấu trúc, ý nghĩa và hình thức thể hiện với nhãn hiệu đối chứng không?
- Bản chất của hàng hoá, dịch vụ mang dấu hiệu có tương tự với hàng hoá, dịch
vụ mang nhãn hiệu đối chứng không?
- Phương thức lưu thông hàng hoá trên thị trường (kênh thương mại) của hàng hoá mang dấu hiệu và hàng hoá mang nhãn hiệu đối chứng có tương tự không?
- Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu đối chứng;
- Thời gian và điều kiện mà trong đó dấu hiệu và nhãn hiệu đối chứng đã cùng được sử dụng song song mà không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng
- Tất cả các yếu tố có liên quan khác
Một dấu hiệu bị coi là tương tự về cấu trúc so với nhãn hiệu đối chứng nếu cấu trúc của dấu hiệu đó được tạo thành thêm những thành phần mới thứ yếu vào nhãn hiệu đối chứng, hoặc bằng cách loại bỏ hay thay đổi phần thứ yếu của nhãn hiệu đối chứng Trường hợp này thường xảy ra đối với những nhãn hiệu dạng chữ Trong tiếng Việt, có những NHHH dạng chữ tuy khác nhau về dấu nhưng vẫn có thể bị coi là tương tự nhau
về mặt cấu trúc Ví dụ: các nhãn hiệu PHOTONICA, PHOTOKINA Phần đầu của hai dấu hiệu này trùng lặp, phần sau của các dấu hiệu được tạo thành từ các ký tự giống nhau (C/K+I+N+A) Điểm khác biệt duy nhất là các ký tự trong mỗi dấu hiệu được sắp xếp theo trật tự khác nhau Như vậy, nếu hàng hoá, dịch vụ mang các dấu hiệu trên được mô tả hay đặt hàng bằng miệng thì khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng là rất lớn
Một dấu hiệu bị coi là tương tự về mặt ý nghĩa so với nhãn hiệu đối chứng nếu dấu hiệu và nhãn hiệu đối chứng, hoặc phần chủ yếu của chúng có cùng một nội dung diễn đạt cùng một đối tượng (sự vật, hiện vật hay khái niệm ), hoặc hai đối tượng tương tự nhau Ví dụ: nhãn hiệu SUNSET và SUNRISE, cả hai dấu hiệu này đều có mối liên quan đến "mặt trời" cho dù là chúng chỉ các trạng thái khác nhau của mặt trời:
"mặt trời mọc" và "mặt trời lặn" Hình ảnh lưu giữ trong trí nhớ người tiêu dùng sẽ là hình ảnh "một nửa mặt trời"
Trang 20Một dấu hiệu bị coi là tương tự về mặt hình thức thể hiện so với nhãn hiệu đối chứng nếu toàn bộ hoặc phần chủ yếu của dấu hiệu và nhãn hiệu đối chứng được trình bày theo một phong cách, trong đó màu sắc của nhãn hiệu được coi là một yếu tố của phong cách trình bày
Tính tương tự của hàng hoá được đánh giá trên cơ sở xem xét về bản chất (cấu tạo, thành phần, hình dáng ), chức năng (công dụng hay mục đích sử dụng) và phương thức thực hiện chức năng Nếu hai hàng hoá có cùng bản chất, có cùng chức năng và cùng phương thức thực hiện chức năng đó thì chúng được coi là hai hàng hoá cùng loại
Như vậy, để kết luận một dấu hiệu có tương tự gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác hay không (nhãn hiệu đối chứng), thì phải xem xét một cách tổng thể đến mọi yếu
tố liên quan
* Loại thứ hai: thiếu tính phân biệt do sử dụng các thuật ngữ chung hoặc thông
dụng (generic terms) hoặc sử dụng các dấu hiệu mang tính mô tả đơn thuần (Descriptive signs)
Pháp luật về NHHH Việt Nam đã liệt kê khá cụ thể các dấu hiệu chỉ rõ tính thông dụng, chỉ rõ sự cần thiết, tính chất của sản phẩm hoặc dịch vụ là những dấu hiệu thiếu tính phân biệt Pháp luật NHHH c ủa Việt Nam xác định đó là những dấu hiệu được sử dụng chung trong thương mại và được định nghĩa là những dấu hiệu mà một người không thể dùng nó để làm cho hàng hoá, dịch vụ của mình phân biệt với hàng hoá, dịch vụ của người khác được bởi vì chúng quá chung chung và chỉ được sử dụng
để chỉ ra chủng loại của hàng hoá, dịch vụ Do đó không cho phép những nhãn hiệu này thuộc quyền sử dụng riêng của một chủ thể Ví dụ như "Tin tức" dùng để chỉ các loại báo, tạp chí, "Xà phòng" dùng để chỉ các loại sản phẩm tẩy rửa, "Đồ gia dụng” dùng để chỉ các sản phẩm gia dụng, bàn, ghế nói chung, “đồ uống”, “cà phê”, và “cà phê hoà tan” (instant coffee) vv…
Điều 6.2.b Nghị định 63/CP của Việt Nam quy định các dấu hiệu thuộc loại thuật ngữ chung và không được bảo hộ với danh nghĩa NHHH bao gồm: "Dấu hiệu,
Trang 21biểu tượng quy ước, hình vẽ ho ặc tên gọi thông thường của hàng hoá thuộc bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên được nhiều người biết đến"
Những dấu hiệu, biểu tượng, quy ước, hình vẽ của hàng hoá, tên gọi thông thường của hàng hoá thuộc bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên nhiều người biết đến sẽ không được sử dụng làm NHHH Hiện nay có nhiều dấu hiệu, biểu tượng, quy ước đã được thừa nhận chính thức như các ký hiệu giao thông, năm vòng tròn lồng vào nhau là biểu tượng cho các thế vận hội thể thao, hình chữ thập
đỏ biểu tượng ngành y tế vv… Các biểu tượng quy ước này không thể được bảo hộ với danh nghĩa NHHH
Các dấu hiệu mang tính mô tả được quy định tại điểm c khoản 2 điều 6
NĐ63/CP là những dấu hiệu sử dụng trong thương mại để đơn thuần chỉ ra những chủng loại, chất lượng, mục đích sử dụng, giá trị, xuất xứ, thời gian sản xuất hoặc bất
kỳ đặc tính nào khác của hàng hoá Ví dụ: sử dụng các chữ "Super Tonic" cho dược phẩm; "Durable" cho s ản phẩm là vật liệu xây dựng Có nghĩa là nó có thể dùng cho mọi hàng hoá, dịch vụ và không một loại hàng hoá, dịch vụ nào được phép độc quyền
sử dụng để tránh nhầm lẫn cho người tiêu dùng
1.1.3.3 Các dấu hiệu không được bảo hộ vì lý do khác
Ngoài những dấu hiệu bị từ chối do thiếu hoặc không có tính phân biệt có những dấu hiệu có tính phân biệt hoặc có thể hình thành tính phân biệt qua quá trình sử dụng nhưng vẫn bị từ chối đăng ký bảo hộ NHHH
* Các dấu hiệu có tính chất lừa dối
Những dấu hiệu có xu hướng làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn về bản chất, chất lượng, nguồn gốc địa lý c ủa sản phẩm hoặc dịch vụ mà bản thân nó không có thì
sẽ không được đăng ký làm NHHH
Pháp luật Việt Nam quy định các dấu hiệu chứa đựng các thông tin có chủ ý gây nhầm lẫn sẽ không được bảo hộ Điểm d khoản 2 Điều 6 Nghị định 63/CP của Việt Nam quy định các dấu hiệu làm người tiêu dùng hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có
Trang 22tính chất lừa đ ảo người tiêu dùng về xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị của hàng hoá, dịch vụ thì không được bảo hộ với danh nghĩa NHHH
Trường hợp nhãn hiệu bị coi là có khả năng gây nên sự nhầm lẫn hoặc hiểu sai lệch về bản chất, giá trị của hàng hoá/dịch vụ mang nhãn hiệu là nhãn hiệu từ ngữ hoặc/và hình ảnh gây nên ấn tượng sai lạc về tính năng, công dụng của hàng hoá/dịch
vụ Ví dụ: nhãn hiệu trùng lặp hoặc tương tự với nhãn hiệu ho ặc với một nhãn hiệu khác được sử dụng rộng rãi đến mức được coi là gắn liền với một chức năng, công dụng của một loại sản phẩm/dịch vụ nhất định khiến cho người tiêu dùng lầm tưởng rằng hàng hoá/dịch vụ mang nhãn hiệu cũng có tính năng/công dụng đó Nhãn hiệu từ ngữ, hình ảnh gây ấn tượng sai lạc về thành phần, cấu tạo của sản phẩm/dịch vụ: hình ảnh, từ ngữ mô tả sản phẩm/dịch vụ mang nhãn hiệu gây nên ấn tượng sai lạc rằng sản phẩm/dịch vụ mang nhãn hiệu được tạo thành ho ặc có bản chất như s ản phẩm/dịch vụ được mô tả
Điều 7.1g Quy định số 40/94 của Hội đồng Châu Âu quy định những NHHH thuộc loại gây ra tác dụng lừa dối đối với công chúng, ví dụ về bản chất, chất lượng hay nguồn gốc địa lý của hàng hoá đó thì sẽ không được bảo hộ
Pháp luật Nhật Bản cũng quy định tương tự, song chỉ đề cập đến việc NHHH có tính đánh lừa người tiêu dùng về chất lượng của hàng hoá, dịch vụ thì sẽ bị cấm [41; tr 17]
* Các dấu hiệu được bảo hộ theo thông lệ quốc tế
Công ước Paris quy định các nước thành viên công ước phải từ chối đăng ký hoặc cấm sử dụng các nhãn hiệu chứa các biểu tượng quốc gia và các dấu hiệu chính thức mà không được phép, quy định tương tự cũng áp dụng cho huy hiệu, cờ các biểu tượng khác, các chữ viết tắt và tên của các tổ chức quốc tế Trong quan hệ quốc tế, các dấu hiệu mà các thiết chế này sử dụng mang tính độc quyền Điều 6.2 Nghị định 63/CP quy định những dấu hiệu, biểu trưng thể hiện sự hiện diện của các Nhà nước hay các tổ chức quốc tế không được chấp nhận là nhãn hiệu hoặc yếu tố tạo thành nhãn hiệu bao gồm:
- Dấu hiệu giống ho ặc tương tự với dấu chất lượng, dấu kiểm tra, dấu bảo hành… của Việt Nam , nước ngoài cũng như các tổ chức quốc tế;
Trang 23- Dấu hiệu, tên gọi (bao gồm cả ảnh, tên, biệt hiệu, bút danh), hình vẽ, biểu tượng giống hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy, lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân, địa danh, các tổ chức của quốc gia cũng như của nước ngoài nếu không được các cơ quan có thẩm quyền cho phép
* Các dấu hiệu xâm phạm các quyền được xác lập trước
Pháp luật Việt Nam quy định rất chi tiết về các dấu hiệu không được đăng ký bảo hộ NHHH nếu xâm phạm các quyền đã được xác lập trước tại Điều 6 Nghị định 63/CP , đặc biệt là trong các trường hợp:
- Xâm phạm nhãn hiệu được đăng ký trước hoặc NHNT theo quy định tại điều 6bis công ước Paris về bảo hộ SHCN;
- Xâm phạm tên thương mại được bảo hộ;
- Xâm phạm tên gọi xuất xứ hàng hoá đã được bảo hộ;
- Xâm phạm quyền tác giả;
- Xâm phạm quyền phát sinh từ kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ;
Đối với các dấu hiệu đi ngược lại giá trị đạo đức hoặc chính sách công cộng,
pháp luật các nước như Mỹ, Nhật Bản hay EU về cơ bản là giống nhau khi quy định việc từ chối đăng ký với các nhãn hiệu đi ngược lại các giá trị đạo đức hay chính sách công cộng, mặc dù mức độ đề cập cụ thể của từng nước có sự khác nhau Mỹ và Nhật Bản chú trọng cấm các nhãn hiệu tạo ra ấn tượng khiêu dâm, phân biệt chủng tộc hay xúc phạm đến danh dự nhân phẩm của mọi người, các dấu hiệu vi phạm đạo đức và lợi ích công cộng, các nhãn hiệu nhằm lăng nhục con người hoặc quốc gia nào đó [41; tr 12], trong khi pháp luật EU chú trọng nhiều hơn tới các nhãn hiệu đi ngược lại với chính sách công cộng hay các nguyên tắc đã được công nhận về đạo đức (Điều 1.f Quy định 40/1994 của Hội đồng Châu Âu)
Khác với các hệ thống pháp luật trên, pháp luật hiện hành của Việt Nam không
có các quy định cụ thể về trường hợp không được bảo hộ thuộc loại này Tuy nhiên, để khắc phục hạn chế trên, Dự thảo Luật SHTT đã quy định không bảo hộ những dấu hiệu
Trang 241.2 Các loại nhãn hiệu hàng hoá
Trong thực tiễn bảo hộ NHHH c ủa các nước trên thế giới, NHHH thường được chia thành các loại khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất của từng loại, tuy nhiên không có bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể về các tiêu chí để phân loại NHHH Căn cứ vào phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp luật, có thể chia thành 2 loại NHHH cơ bản (1.2.1) và NHHH đặc thù (1.2.2) NHHH cơ bản là những loại nhãn hiệu tồn tại trên thị trường nhiều nhất, phổ biến nhất và làm cơ sở cho những cái khác; NHHH đặc thù là những loại nhãn hiệu có những đặc điểm khác biệt về tính chất sở hữu, phương thức sử dụng… đòi hỏi phải có
sự điều chỉnh thích hợp trong hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế
1.2.1 Nhãn hiệu hàng hoá cơ bản
Căn cứ vào đối tượng mà NHHH chỉ dẫn đến có hai loại NHHH cơ bản đó là NHHH và NHDV
Nhãn hiệu hàng hoá là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau Hàng hoá được hiểu là những vật phẩm có nguồn gốc tự nhiên hay được sản xuất, chế tạo để bán, nó có hai thuộc tính là giá trị trao đổi và giá trị sử dụng, khi hàng hoá được gắn với một nhãn hiệu cụ thể thì sẽ giúp cho người tiêu dùng nhận biết được nguồn gốc, chất lượng, công dụng của hàng hoá
Khái niệm nhãn hiệu hàng hoá ở đây để chỉ những hàng hoá là những tài sản hữu hình mà bằng các giác quan thông thường, chúng ta có thể nhận biết được nó NHHH có thể gắn ngay trên hàng hoá ho ặc thể hiện trên bao bì của hàng hoá đó giúp cho người tiêu dùng có thể dễ dàng nhận biết để phân biệt hàng hoá này với hàng hóa khác c ủa các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau Vì vậy, "nhãn hiệu hàng hoá thực chất không phải là một ho ạt động sáng tạo trí tuệ Nó chỉ là biểu tượng được cá nhân hoặc pháp nhân đánh dấu hàng hoá hoặc dịch vụ riêng của mình" [35; tr 274]
Nhãn hiệu dịch vụ là những dấu hiệu dùng để phân biệt dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau Sản phẩm của nhãn hiệu dịch vụ là những sản phẩm vô hình do một người hay một tổ chức doanh nghiệp đứng ra thực hiện nhằm
Trang 25phục vụ nhu cầu của mọi người trong xã hội Bởi dịch vụ là một dạng hàng hóa đ ặc biệt mà khi người có nhu cầu sử dụng dịch vụ trả tiền thì người đó sẽ được hưởng một lợi ích nhất định tương ứng với số tiền bỏ ra Nhãn hiệu dịch vụ thông thường được gắn trên bảng hiệu của các dịch vụ để người có nhu cầu hưởng dịch vụ đó có thể nhận thấy một cách dễ dàng (Ví dụ: Vietnam- Airlines, Vietnamtourism ) Khái niệm dịch
vụ ở đây phải được hiểu là những dịch vụ độc lập Các ho ạt động cụ thể nhằm thực hiện một công việc nào đó c ủa người làm dịch vụ nhiều khi không được coi là một dịch
vụ độc lập mà nó chỉ đựơc xem là một lần hoạt động góp phần hình thành nên dịch vụ
đó Ví dụ hoạt động của một cửa hàng bán quà sinh nhật là một dịch vụ, nhưng việc gói quà cho khách hàng trong trường hợp này không phải là một dịch vụ độc lập, nó chỉ là một phần hoạt động tạo nên dịch vụ của cửa hàng Hay hoạt động kinh doanh đồ điện
tử là hoạt động dịch vụ độc lập nhưng ho ạt động bảo hành đối với đồ điện tử nay lại là một hoạt động phụ thuộc không thể tách rời
Các văn bản pháp luật Việt Nam cùng với TRIPs, Công ước Paris và Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ khi đề cập tới NHHH đều có sự phân biệt nhất định giữa NHHH và NHDV Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai loại nhãn hiệu này chỉ ở chỗ NHHH là những dấu hiệu phân biệt được gắn lên các sản phẩm hữu hình còn các NHDV là những dấu hiệu phân biệt dành cho các sản phẩm vô hình Nhưng về mặt bản chất hai loại nhãn hiệu này cơ bản giống nhau Vì NHDV cũng mang đầy đủ chức năng biểu hiện nguồ n gốc và phân biệt đối với dịch vụ khác giống như các chức năng tương
tự của NHHH đối với hàng hoá Đồ ng thời, trong hầu hết các hệ thống pháp luật NHHH quốc gia hay quốc tế, NHDV được đăng ký, gia hạn và huỷ bỏ theo cùng một cách như NHHH và được chuyển giao hoặc cấp phép sử dụng theo cùng những điều kiện như NHHH Vì thế, các quy định điều chỉnh NHHH ở các nước cũng được áp dụng, về nguyên tắc, giống hệt cho NHDV
1.2.2 Các nhãn hiệu hàng hoá đặc thù
1.2.2.1 Nhãn hiệu tập thể (NHTT)
NHTT là một khái niệm mới trong pháp luật của Việt Nam Bộ luật Dân sự
không quy định về loại nhãn hiệu này Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ chỉ
Trang 26nhắc đến NHTT như một loại hình của NHHH trong Khoản 1 Điều 6 Chương II Các quy định về NHTT được quy định trong Nghị định 63/CP và Thông tư 3055/NHTT-SHCN cụ thể hoá Nghị định này Theo Nghị định 63/CP thì NHTT là NHHH được tập thể các cá nhân, pháp nhân ho ặc các chủ thể khác cùng sử dụng một cách độc lập theo quy chế do tập thể đó quy định NHTT được áp dụng đối với cả hàng hoá và dịch vụ Mỗi thành viên của tập thể được sử dụng nhãn hiệu đó cho hàng hoá, dịch vụ của riêng mình nhưng đều phải tuân thủ quy chế do tập thể đưa ra Đối với NHTT, quyền nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ thuộc về cá nhân, pháp nhân đại diện cho tập thể các
cá nhân, pháp nhân ho ặc chủ thể khác cùng tuân theo quy chế sử dụng NHHH tương ứng Theo quy định tại điểm 8.1 Thông tư số 3055/TT-SHCN thì khi xin đăng ký NHTT người nộp đơn cũng phải nộp một bản quy chế sử dụng NHHH tương ứng
Trên cơ sở các quy định trên, có thể nhận định NHTT của Việt Nam cũng có
một số đặc điểm đáng chú ý Thứ nhất, pháp luật Việt Nam công nhận khả năng sử
dụng NHTT bởi nhiều cá nhân hay pháp nhân trong một tập thể ho ặc của chính bản thân các tổ chức tập thể, tuy nhiên lại chưa có các quy định cụ thể hơn để phân định rõ
có sự khác biệt nào không giữa hai cách thức sử dụng này Thứ hai, quyền sở hữu NHTT có thể được trao cho một cá nhân hoặc pháp nhân đ ại diện cho tập thể Thứ ba,
pháp luật Việt Nam cũng yêu cầu người nộp đơn xin đăng ký NHTT phải nộ p một bản
dự thảo quy chế sử dụng nhãn hiệu để điều chỉnh quá trình sử dụng nhãn của các thành viên của tập thể
Về nhãn hiệu này, các ĐƯQT về NHHH chỉ quy định những vấn đề liên quan đến thủ tục hay thiết lập các vùng bảo vệ trên phạm vi toàn quốc về NHHH mà không
đi sâu quy định về khía cạnh nội dung của NHHH Trong số các ĐƯQT ở đây, TRIPs không có quy định về khái niệm hay việc bảo hộ NHTT cũng như NHCN Công ước Pari là ĐƯQT duy nhất dành riêng một điều khoản để quy định về NHTT- Điều 7bis
Tuy vậy, điều khoản này cũng chỉ quy định về nghĩa vụ của các nước thành viên trong việc bảo hộ NHTT mà không trực tiếp quy định về khái niệm hay nội dung bảo hộ nhãn hiệu này Theo đó, các nước thành viên Công ước phải có trách nhiệm cho đăng
ký NHTT với chủ sở hữu là các tập thể tồn tại hợp pháp theo pháp luật của các nước sở tại, cho dù các tập thể đó có trực tiếp sở hữu các cơ sở công nghiệp hay thương mại –
Trang 27tức là các cơ sở kinh doanh- hay không Điều đáng lưu ý là có thể tổ chức tập thể không thành lập ở nước sở tại thì nước sở tại vẫn có trách nhiệm cho đăng ký và bảo hộ miễn là sự tồn tại của tổ chức tập thể đó không trái với pháp luật của nước sở tại Đương nhiên, các nước thành viên cũng có quyền từ chối bảo hộ nếu NHTT đó trái với lợi ích công cộng Nội dung và điều kiện bảo hộ sẽ được thực hiện theo pháp luật nước
Để phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Dự thảo Luật SHTT đã định nghĩa NHTT theo tiêu chí về chức năng với danh nghĩa là một NHHH đặc biệt, dùng
để phân biệt hàng hoá/dịch vụ của các cá nhân, tổ chức thuộc tổ chức tập thể là chủ sở hữu NHHH với hàng hoá/dịch vụ của các cơ sở kinh doanh khác Nhãn hiệu nói chung thực hiện chức năng chỉ dẫn về nguồn gốc riêng rẽ của người sản xuất hàng hoá ho ặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu đó Trái lại, NHTT không thực hiện chức năng chỉ dẫn nguồn gốc riêng rẽ đó mà chỉ dẫn tư cách thành viên của người sử dụng nhãn hiệu thuộc về tổ chức là chủ sở hữu NHTT đó
Mặc dù được xuất phát từ hai cách tiếp cận khác nhau song khái niệm tại Dự thảo và NĐ 63/CP, về mặt bản chất không có gì khác nhau NĐ 63/CP định nghĩa khái niệm theo tiêu chí cách thức sử dụng (cùng nhau sử dụng theo Quy chế), trong khi Dự thảo đưa ra định nghĩa theo chức năng c ủa NHTT
1.2.2.2 Nhãn hiệu chứng nhận
NHCN là một loại NHHH đặc thù mới xuất hiện gần đây trong thực tiễn thương mại ở các nước có nền kinh tế phát triển, tuy nhiên loại nhãn hiệu này chưa được đề cập đến trong các ĐƯQT về NHHH, kể cả TRIPs, pháp luật Việt Nam, pháp luật EU
và pháp luật Nhật Bản Tuy nhiên, người Mỹ lại rất quen thuộc với loại hình NHHH
Trang 28này Luật NHHH năm 1946 của Mỹ qua nhiều lần sửa đổi, cùng với tài liệu hướng dẫn chính thức đăng ký NHHH của Cục Sáng chế và NHHH Mỹ đề cập khá chi tiết về NHCN và những đặc điểm của nó Chính vì vậy mà Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ đã đề cập tới nhãn hiệu hàng hoá này nhưng mới chỉ quy định NHCN là một trong những loại của NHHH mà chưa có bất kỳ quy định nào về mặt khái niệm cũng như cơ chế bảo hộ đối với NHCN
Xét về bản chất, NHCN có những điểm tương đồng với NHTT nhưng nó thường được tách riêng bởi những đặc điểm riêng như có thể thuộc sở hữu của một hiệp hội tập thể hoặc cũng có thể sở hữu bởi một pháp nhân duy nhất Khác với NHHH, NHDV
chức năng phân biệt nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn của NHCN không phải là chức năng chính Mục đích của NHCN là đảm bảo chất lượng của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn phải đúng với yêu cầu của NHCN đã được chỉ rõ
trong đơn đăng ký Người chủ NHCN chỉ đơn thuần là người đứng ra đăng ký nhãn hiệu này và chỉ rõ nó nhằm xác nhận một tiêu chuẩn nhất định, thường là tiêu chuẩn về chất lượng, nếu không là đặc điểm về quy trình sản xuất hay sử dụng nhân công lao động Chủ NHCN phải có trách nhiệm kiểm tra chất lượng các sản phẩm gắn NHCN của mình và chủ NHCN có thể được hưởng phí thông qua việc cho phép các nhà sản xuất khác sử dụng NHCN Phạm vi sử dụng NHCN rất rộng, bao gồm nhiều doanh nghiệp trong cùng một hiệp hội thậm chí không cùng một hiệp hội nhưng tho ả mãn đ ầy
đủ các điều kiện sử dụng nhãn do chủ sở hữu nhãn đặt ra và được chủ nhãn đồng ý Do đặc điểm này mà chủ NHCN thường là các hiệp hội doanh nghiệp, các liên minh doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước hay chính bản thân nhà nước
Pháp luật hiện hành về SHTT của Việt Nam hoàn toàn chưa có các quy định về loại nhãn hiệu này dù trên thực tế có rất nhiều các doanh nghiệp của Việt Nam sử dụng Ví dụ điển hình của trường hợp này là các nhãn hiệu thuộc dòng ISO-International Standard Organization (ISO 9001, ISO 9002, ISO 14000), Hàng Vi ệt Nam chất lượng cao, sản phẩm được Hội y dược học Việt Nam khuyên dùng vv… để hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời để bảo vệ lợi ích cho các doanh nghiệp, chúng ta nên sớm bổ sung các quy định cụ thể về NHCN
Trang 291.2.2.3 Nhãn hiệu liên kết (NHLK)
Đây là một khái niệm mới được đưa vào pháp luật về NHHH của Việt Nam Các ĐƯQT cũng như các quy định về NHHH trong Hiệp định Thương mại Việt Mỹ không có điều khoản nào đề cập đến loại hình NHHH này
Điều 2 NĐ số 06/2001/NĐ-CP ngày 01/2/2001 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/CP định nghĩa NHLK là các NHHH tương tự với nhau do cùng một chủ thể đăng ký để dùng cho các sản phẩm, dịch vụ cùng loại, tương
tự với nhau hoặc có liên quan tới nhau, và các NHHH trùng nhau do cùng một chủ thể đăng ký để dùng cho các sản phẩm, dịch vụ tương tự với nhau hoặc có liên quan tới nhau
Qua khái niệm này, có thể thấy NHLK theo quy định của pháp luật Việt Nam có các đặc điểm sau:
- Các NHLK do cùng một chủ thể đăng ký bảo hộ
- NHLK bao gồm nhiều NHHH tương tự nhau hoặc trùng nhau (Thông thường các NHLK giống nhau phần chủ yếu của nhãn hiệu - phần có tính phân biệt cao nhất của NHHH)
- Các nhãn hiệu này dùng cho các sản phẩm, dịch vụ cùng loại, tương tự với nhau hoặc có liên quan tới nhau
NHLK mang lại cho người chủ sở hữu nhãn hiệu nhiều lợi thế: được độc quyền
sử dụng dấu hiệu có khả năng phân biệt cho nhiều loại hàng hóa, dịch vụ không cùng nhóm của mình nếu hàng hóa, dịch vụ đó liên quan với nhau Tạo cho người tiêu dùng một sự liên tưởng là các hàng hóa, dịch vụ này có cùng một nguồn gốc xuất xứ Khi một trong các NHLK đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ thì thủ tục đăng ký bảo hộ đối với NHLK khác cũng được chấp nhận dễ dàng và thuận lợi Có hai loại NHLK, loại thứ nhất là NHLK bao gồm một loạt các NHHH tương tự nhau được một chủ sở hữu đăng ký dùng cho các hàng hoá, dịch vụ cùng loại hay tương tự nhau (Ví dụ công ty bột giặt Daso- Daco đăng ký nhãn hiệu hàng hoá hoặc Daso ho ặc Daco cho tất cả các sản phẩm của họ như bột giặt, kem đánh răng, bàn chải
Trang 30đánh răng…hay NHHH LIOA của Công ty Nhật Linh đựơc coi là nhãn hiệu chính và
để bảo vệ nhãn hiệu đó công ty đã đăng ký bảo hộ cho nhãn hiệu tương tự như LÊOA, LIWA, LYWA, LYOA) Loại thứ hai là NHLK bao gồm các NHHH giống hệt nhau nhưng đăng ký cho nhiều sản phẩm, dịch vụ tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau Đối với NHHH nổi tiếng, lợi thế được độc quyền sử dụng một loại nhãn hiệu mà không
sợ người khác sao chép hay bắt chước rất có ý nghĩa bởi người thứ ba có thể lợi dụng
sự quá quen thuộc và tin tưởng của người tiêu dùng đối với nhãn hiệu để gắn các nhãn hiệu tương tự hoặc gần giố ng cho các sản phẩm, dịch vụ không cùng loại vì chỉ cần sự sao chép gần giống với những NHHH nổi tiếng cũng có thể gây ra sự nhầm lẫn trong người tiêu dùng và làm ảnh hưởng lớn tới giá trị của nó
1.2.2.4 Nhãn hiệu nổi tiếng
NHNT là một loại nhãn hiệu hàng hoá được nhiều người tiêu dùng trên thế giới biết đến, nó chiếm lĩnh c ả một thị trường rộng lớn, vượt ra khỏi phạm vi của một quốc gia sản xuất ra loại hàng hoá sản phẩm đó Tính phân biệt được thể hiện khá rõ nét trong nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng Đối với người tiêu dùng ngoài việc quan tâm đến nguồn gốc xuất xứ của hàng hoá, thì s ản phẩm đó còn phải mang nhãn hiệu [37; tr 49] Giá trị của loại nhãn hiệu hàng hoá này là rất lớn, có khi lên tới hàng trăm tỷ USD Trong danh sách 100 NHHH được xếp hàng đầu thế giới về mặt giá trị của nhãn hiệu
mà tuần báo Business Week phối hợp với công ty tư vấn nhãn hiệu Interbrand bầu chọn thì trong số 10 nhãn hiệu mạnh nhất trong năm 2003, nhãn hiệu Coca-cola được đánh giá là có giá trị cao nhất là 70.45 tỷ USD, đứng thứ hai là nhãn hiệu Microsoft được định giá là 65.17 tỷ USD và IBM là 51.77 tỷ USD Tất cả các nhãn hiệu này đều rất nổi tiếng trên toàn thế giới, được mọi người công nhận do hàng hoá và dịch vụ
mang các nhãn hiệu này có mặt khắp nơi trên thế giới
Phần lớn các nhãn hiệu này được biết đến vượt qua ngoài ranh giới của một quốc gia và được công nhận trở thành những NHHH nổi tiếng mang tính quốc tế với thị trường là cả thế giới Các nhãn hiệu này cung cấp cho đông đảo người tiêu dùng những hàng hoá và dịch vụ với chất lượng cao trong nhiều năm và vẫn tiếp tục duy trì
Trang 31được sự tín nhiệm, trở thành nhãn hiệu nổi tiếng hoặc rất nổi tiếng trong một phạm vi địa lý nhất định
Tuy nhiên, cho dù một NHHH đã tiến được đến vị trí nổi tiếng hoặc rất nổi tiếng trên toàn cầu theo nghĩa được mô tả ở trên, thì cũng không thể nói rằng hàng hoá hoặc dịch vụ của chúng thực sự được cung cấp trên thị trường của tất cả các quốc gia và được đăng ký ở tất cả các quốc gia trên toàn thế giới Vì thế tình trạng sao chép và vi phạm NHNT diễn ra khắp nơi trên thế giới và đặt ra nhu cầu bảo hộ loại nhãn hiệu này theo một cách thức đặc biệt hơn NHHH thông thường Hầu hết các hệ thống pháp luật
đề cập ở đây đều có quy định về NHNT dù là ở các mức độ khác nhau
Ngay từ Công ước Paris, vấn đề bảo hộ NHNT đã được đặt ra một cách khá chi
tiết Điều này có được phần lớn là do nỗ lực của các nước có nền kinh tế tư bản phát triển lúc bấy giờ muốn bảo vệ những NHNT mà phần lớn có xuất xứ từ những nước đó Điều
6bis Công ước này đã quy định về hầu hết những khía cạnh cơ bản nhất trong bảo hộ NHNT
Các quy định về bảo hộ NHNT trong hiệp định TRIPs về cơ bản lấy các quy định
tương ứng của Điều 6bis
Công ước Paris làm nền tảng, tuy nhiên có sửa đổi bổ sung Điều 16.2 TRIPs quy định: "Để xác định một NHHH có nổi tiếng hay không các thành viên phải xem xét sự nhận biết NHHH đó trong bộ phận công chúng có liên quan, bao gồm sự nhận biết danh tiếng đạt được tại nước thành viên tương ứng nhờ quảng cáo NHHH đó" TRIPs đã đưa ra tiêu chí cơ bản để xác định NHHH nổi tiếng, Điều 6bis
Công ước Paris chỉ
đề cập NHHH nổi tiếng nhưng TRIPs mở rộng việc bảo hộ đối với cả NHDV nổi tiếng Việc xác định NHHH nổi tiếng tuỳ thuộc vào hệ thống đánh giá (nếu có) của từng quốc gia Việc chủ NHHH cho rằng nhãn hiệu của mình là nổi tiếng và muốn kiện người khác
vi phạm nhãn hiệu của mình thì phải căn cứ vào pháp luật của nước mà nhãn hiệu bị vi phạm để xem xét NHHH đó có nổi tiếng hay không
Như vậy, các quy định bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng trong các văn bản pháp luật quốc tế chỉ mang tính chất quy định khung Để giải quyết một tranh chấp phát sinh, các quốc gia cần cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật quốc gia và hiệp định song phương hay đa phương cho phù hợp
Trang 32Pháp luật hiện hành của Việt Nam không có quy định nào quy định về các điều kiện để công nhận NHNT Để khắc phục hạn chế này, Dự thảo Luật SHTT đã đưa ra một
số tiêu chí để làm cơ sở cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét đơn công nhận NHNT như lượng người tiêu dùng biết đến sản phẩm, phạm vi lãnh thổ mà sản phẩm hoặc dịch vụ mang nhãn được lưu hành, doanh số từ việc bán sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ, thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu, uy tín rộng rãi của sản phẩm hoặc dịch vụ mang nhãn, số lượng quốc gia bảo hộ và công nhận nhãn hiệu, giá trị của nhãn hiệu dưới hình thức chuyển nhượng và các tiêu chí khác theo quy định pháp luật Tuy nhiên, trên thực tế, không phải tất cả các tiêu chí này đều được tính đến khi xem xét một nhãn hiệu nổi tiếng hay không mà tuỳ vào từng trường hợp, các tiêu chí phù hợp sẽ lần lượt được xem xét cho đến khi đủ cơ sở để xác định nhãn hiệu liên quan là nổi tiếng
1.3 Hội nhập kinh tế quốc tế và vai trò của nhãn hiệu hàng hoá trong bối cảnh hội nhập
1.3.1 Bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và yêu cầu đ ối với việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam
Hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế là xu hướng tất yếu phát triển của nền kinh
tế thế giới đã và đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng trong những năm cuối của thế kỷ
20 và sôi động, quyết liệt hơn trong những năm đầu của thế kỷ này Hội nhập kinh tế quốc tế được xem là một quá trình tham dự vào sự phân công lao động quốc tế, hợp tác kinh tế và cạnh tranh mở rộng thị trường từ nội địa sang khu vực toàn cầu Trong quá trình này, các quốc gia tác động qua lại với nhau, đồng thời phụ thuộc nhau về lợi ích
Vì lẽ đó mà quan hệ quốc tế và hội nhập quốc tế đã trở thành một yêu cầu bức xúc và không cho phép một quốc gia nào có thể đứng ngoài vòng chơi Những cơ hội, những thách thức của quá trình toàn cầu hoá đang đặt ra trước các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển với những bài toán phức tạp của sự phát triển Trong quá trình như vậy thì vấn đề hội nhập quốc tế không còn là sự lựa chọn cho các quốc gia mà trở thành một yêu cầu bắt buộc khách quan Tuy nhiên, các quốc gia tuỳ thuộc vào tính chất và trình độ phát triển của mình mà lựa chọn cách thức, đường đi riêng cho mình sao cho tranh thủ đến mức tối đa thời cơ, vận hội Sự thành bại của mỗi quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế không chỉ phụ thuộc vào các giải pháp kinh tế mà đòi hỏi
Trang 33phải có giải pháp đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và trong đó
có cả vấn đề hoàn thiện pháp luật đáp ứng các yêu cầu của thời đại Đó cũng chính là đòi hỏi sự phụ thuộc lẫn nhau trong bối cảnh quốc tế hoá và toàn cầu hoá
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với tất cả các nền kinh tế và doanh nghiệp, đặc biệt là các quốc gia đang và chậm phát triển Để có thể tham gia thành công, hiệu quả vào quá trình hội nhập, các quốc gia nói chung và đặc biệt là từng doanh nghiệp nói riêng phải thường xuyên coi trọng việc nâng cao năng lực cạnh tranh của mình ở cả thị trường trong và ngoài nước Một trong những yếu tố góp phần tạo nên sự cạnh tranh hiệu quả trên thương trường là tài sản trí tuệ Các tổ chức, cá nhân và chính phủ nước ngoài rất quan tâm tới vấn đề này
Vì vậy từ lâu họ đã quan tâm hoàn thiện cơ chế, chính sách và pháp luật để bảo hộ có hiệu quả tài sản trí tuệ cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân của họ Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, các tài sản trí tuệ ngày càng nhiều, giá trị ngày càng lớn, hàm lượng chất xám trong các loại hàng hoá, dịch vụ này ngày càng cao, và làm cho sức cạnh tranh của hàng hoá, dịch ngày càng lớn Trong bối cảnh này, các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là các nhà kinh doanh cũng như các chính phủ nước ngoài lại càng quan tâm hơn đến việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân của họ, đặc biệt khi giao lưu kinh tế thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ theo hướng toàn cầu hoá nền kinh tế, tự do hóa thương mại
Để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân của mình, các nước không chỉ hoàn thiện các cơ chế, chính sách và pháp luật quốc gia của mình
mà còn ký kết với nhau nhiều điều ước quốc tế song phương cũng như đa phương Trong số các điều ước quốc tế đa phương, điển hình là Công ước quốc tế Paris năm
1883 về sở hữu công nghiệp, Công ước Berne năm 1971 về quyền tác giả, Hiệp định của WTO về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs)…
Sự quan tâm của các nước còn thể hiện ở chỗ khi đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại song phương với Việt Nam, tất cả các nước, đặc biệt là các nước phát triển,
Trang 34đều yêu cầu đưa nội dung bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ vào hiệp định Điển hình là Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ, trong đó chương lớn nhất là chương về sở hữu trí tuệ
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và đặc biệt là việc gia nhập WTO của Việt Nam, đòi hỏi Việt Nam phải chấp nhận một số điều kiện liên quan đến việc xây dựng
và phát triển hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ Các điều kiện như vậy thường là các quy tắc chung mà các quốc gia khi là đối tác của nhau đều phải tuân thủ mà không có sự phân biệt về chế độ chính trị- xã hội Thời hạn bắt đầu tuân thủ các quy tắc đó có thể khác nhau cho các nước và có ảnh hưởng quan trọng đến thời gian các nước thực sự được các đối tác quốc tế chấp nhận cho hội nhập Do đó, việc hoàn thiện pháp luật về
sở hữu trí tuệ nói chung, về sở hữu công nghiệp nói riêng để tương thích với các điều ước quốc tế sẽ góp phần sớm đưa Việt Nam trở thành thành viên của WTO
Như vậy, để bảo hộ một cách có hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ của các tổ chức,
cá nhân trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam cần có một hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ thống nhất, đầy đủ, đồng bộ, cụ thể, minh bạch và có hiệu lực pháp lý thực sự Hệ thống pháp luật này phải tương thích với các luật chơi chung trên thị trường quốc tế Chính sự tương thích này sẽ bảo đảm cho chúng ta thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế về sở hữu trí tuệ
Cho đến thời điểm hiện nay, các yêu cầu chủ yếu về bảo hộ sở hữu trí tuệ quy định trong các điều ước quốc tế đang và sẽ trực tiếp ràng buộc đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập đều được thể hiện trong Hiệp định TRIPs mà Việt Nam sẽ phải tham gia khi gia nhập WTO Hiệp định TRIPs quy định rằng các quốc gia thành viên của WTO phải xây dựng cho mình hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ đáp ứng các chuẩn mực tối thiểu thống nhất Các chuẩn mực tối thiểu được quy định trong Hiệp định TRIPs là để đảm bảo cho mỗi quốc gia thành viên có một hệ thống sở hữu trí tuệ đầy đủ và có hiệu quả Các chuẩn mực được quy định trong Hiệp định TRIPs sẽ được coi là những đòi hỏi cơ bản nhất của cộng đồng quốc tế trong các lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Theo quy định của Hiệp định TRIPs, các nước thành viên của WTO có nghĩa vụ dành cho tổ chức, cá nhân của nước thành viên khác sự bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ một cách đầy đủ và có hiệu quả trên cơ sở chế độ đãi ngộ quốc dân và chế độ đãi ngộ
Trang 35tối huệ quốc Quy định này áp dụng đối với tất cả các vấn đề liên quan đến khả năng đạt được, xác lập, phạm vi, việc duy trì, thực thi và sử dụng quyền sở hữu trí tuệ
Mỗi loại quyền sở hữu trí tuệ phải được bảo hộ theo các chuẩn mực tối thiểu về đối tượng được bảo hộ, nội dung, phạm vi quyền và thời hạn bảo hộ Đồng thời phải có
cơ chế dân sự, hành chính, hình sự bảo đảm thực thi các quyền đó theo các chuẩn mực tối thiểu về các biện pháp, phương thức, trình tự xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Yêu cầu chung đối với các cơ chế đó là minh bạch, công bằng và thoả đáng
Việt Nam đã ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và Hiệp định Việt Nam – Thuỵ Sỹ về sở hữu trí tuệ Hiệp định TRIPs được lấy làm cơ sở xây dựng hai điều ước quốc tế song phương này Phần lớn các cam kết trong về quyền sở hữu trí tuệ của BTA và Hiệp định Việt Nam – Thuỵ Sỹ về sở hữu trí tuệ không quy định các chuẩn mực cụ thể cho việc bảo hộ mà yêu cầu các bên phải bảo hộ ít nhất phải đạt các chuẩn mực của Hiệp định TRIPs Nói cách khác, hệ thống các quy định pháp luật của Việt Nam về sở hữu trí tuệ phải được hoàn thiện theo hướng tương thích với các chuẩn mực của hiệp định TRIPs và bảo đảm thực hiện đầy đủ các cam kết về sở hữu trí tuệ quy định trong các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, bao gồm
cả các điều ước quốc tế song phương về sở hữu trí tuệ
Như vậy, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu và hội nhập, vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ đã trở nên đặc biệt quan trọng và là một trong các mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trong các quan hệ kinh tế quốc tế Chưa bao giờ vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ lại được đặt ra gay gắt và cấp bách như hiện nay khi nền kinh tế thế giới đang chuyển sang thời kỳ mới với trình độ phát triển thay đổi về chất- nền kinh tế tri thức- với hàm lượng trí tuệ ngày càng cao và trở thành yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Sự phát triển của nền kinh tế tri thức phụ thuộc trước tiên vào hiệu quả bảo hộ các sản phẩm trí tuệ Điều đó cũng có nghĩa, rằng mục tiêu của nền kinh tế mà Việt Nam đang hội nhập và hướng tới chí có thể trở thành hiện thực khi có được một cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ hữu hiệu
Trang 36Đối với Việt Nam, việc xây dựng và duy trì một hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ hữu hiệu là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Các hiệp định song phương mà chúng ta đã ký kết trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ và đặc biệt là Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs)-WTO buộc chúng ta phải đạt được hai chuẩn mực lớn về nội dung bảo hộ (tính đầy đủ) và về hiệu lực thực thi pháp luật (tính hiệu quả) của hệ thống sở hữu trí tuệ hiện hành và pháp luật
về nhãn hiệu hàng hoá đương nhiên cũng không thể nằm ngoài những yêu cầu này
Hệ thống sở hữu trí tuệ Việt Nam đã từng bước phát triển Các quy phạm pháp luật về SHTT nói chung và nhãn hiệu hàng hóa nói riêng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện Cơ chế bảo đảm thực thi quyền SHTT cũng được xây dựng Tuy nhiên, so với yêu cầu của thực tiễn, hệ thống pháp luật về SHTT còn phải giải quyết nhiều vấn
đề tồn tại để đáp ứng được các yêu cầu của TRIPs
1.3.2 Vai trò của nhãn hiệu hàng hoá trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
1.3.2.1 Vai trò của nhãn hiệu hàng hoá đối với doanh nghiệp
Đối với bất kỳ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào hoạt động trong nền kinh
tế thị trường, NHHH luôn thể hiện một số vai trò to lớn sau:
Thứ nhất, NHHH là tài sản vô hình và rất có giá của doanh nghiệp Một nhãn hiệu
hàng hoá mạnh có thể đảm bảo mức độ "an toàn" lâu dài, tốc độ phát triển lớn với tỷ suất lợi nhuận cao, ổn định và sẽ làm tăng giá trị cho các tài sản hiện có của doanh nghiệp Một nhãn hiệu hàng hoá có uy tín có thể đạt được các giá trị: Sự khác biệt trong cạnh tranh; những mức giá mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng mong muốn; sản lượng bán rất cao; giảm các chi phí sản xuất và dễ dàng đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô; thu hút đầu tư
và gia tăng các quan hệ bạn hàng; đảm bảo cho cầu ổn định và tăng trưởng
Vì những lý do nêu trên mà việc tạo lập và phát triển những nhãn hiệu hàng hoá mạnh, nổi tiếng trên thị trường sẽ là phương tiện, là con đường mà các doanh nghiệp sử dụng để tiến vào thị trường Thị trường đang trả những khoản tiền không nhỏ cho nhãn hiệu hàng hoá khi liên doanh, liên kết hoặc mua lại nhãn hiệu hàng hoá đó
Trang 37Thứ hai, tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp: khi đăng ký
nhãn hiệu hàng hoá, doanh nghiệp đã đặt mình vào vị trí được bảo vệ trước pháp luật
và có toàn quyền thực hiện các hoạt động bảo vệ và phát triển danh tiếng của mình trên thị trường Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá không chỉ thực hiện tại nước xuất xứ, mà chủ nhãn hiệu hàng hoá cần thiết phải mở rộng sự bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá đến những vùng lãnh thổ mà mình sẽ xuất khẩu hàng hoá tới bằng các thủ tục xác lập quyền của mình kịp thời tại các vùng lãnh thổ đó
Thứ ba, các nhãn hiệu hàng hoá thành công tạo điều kiện tiếp cận khách hàng và
mở rộng thị trường: nhãn hiệu giúp khách hàng nhận biết và có thái độ tin cậy đối với sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp, nhờ đó mà thị trường ngày càng mở rộng hơn Như Ta Ta, một quan chức điều hành cao cấp của tập đoàn Ấn Độ đã diễn giải vấn đề này: "Khi nền kinh tế phát triển và người tiêu dùng có sức mua lớn hơn, dân chúng không mua sản phẩm Họ mua một lời hứa Một nhãn hiệu chỉ là sự diễn đạt một lời hứa" [43; tr 153] Xây dựng và duy trì được những nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng là một phương thức phòng vệ hữu hiệu nhất của doanh nghiệp Một nhãn hiệu thành công
sẽ ngăn cản các đối thủ cạnh tranh cũng như các nhãn hiệu hàng hoá khác xâm nhập vào thị trường hiện tại của doanh nghiệp
Thứ tư, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và giá trị của doanh nghiệp: nhãn
hiệu hàng hoá tạo ra giá trị cho sản phẩm, khách hàng sẽ rất sẵn lòng trả giá cao hơn để được sử dụng sản phẩm/dịch vụ mang nhãn hiệu yêu thích của họ Đồng thời, họ cũng sẵn sàng sử dụng sản phẩm/dịch vụ đó thường xuyên hơn, vì vậy, giá trị mang lại cho doanh nghiệp sẽ cao hơn
Trong điều kiện hội nhập kinh tế, nhãn hiệu hàng hoá càng có ý nghĩa và giá trị
do khách hàng ngày càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng sản phẩm và trách nhiệm của doanh nghiệp Mặt khác, với quá trình hội nhập, khách hàng có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn, vì vậy nhãn hiệu đáng tin cậy sẽ là sự lựa chọn của họ, vì khi mua hàng hoá/dịch
vụ mang nhãn hiệu, khách hàng có thể khẳng định nguồn gốc, xuất xứ của sản phẩm, tạo tâm lý yên tâm, tin cậy, có thể đòi hỏi trách nhiệm của người cung cấp, giảm chi phí do tránh được việc sử dụng sản phẩm chất lượng kém
Trang 38Sự cần thiết tạo lập và xây dựng nhãn hiệu hàng hoá đã chứng minh qua nhiều trường hợp trong thực tế: hai chiếc sơ mi cùng do một doanh nghiệp (công ty An Phước) sản xuất và không có sự khác biệt đáng kể về chất liệu, nhưng nếu mang nhãn hiệu An Phước thì có giá 218 nghìn đồng/chiếc, còn nếu mang nhãn hiệu Pierre Cardin thì có giá 526 nghìn đồng/chiếc Gạo 5% tấm của Việt Nam có giá 185 USD/tấn, trong khi gạo cùng loại của Thái Lan là 187 USD Gạo 15% tấm của Việt Nam có giá 165 USD/tấn, còn Thái Lan là 173 USD/tấn [38; tr 12]
Thứ năm, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc xây dựng và
bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vươn
ra chiếm lĩnh thị trường nước ngoài, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế đất nước Như vậy, việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá sẽ góp phần làm cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể xuất hiện với tư cách là những người tham gia bình đẳng trong hệ thống thương mại toàn cầu Nếu một sản phẩm xuất khẩu không đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại hay chỉ dẫn địa lý tại nước nhập khẩu thì dễ bị bắt chước, sao chép, nhất là khi đã xây dựng được uy tín đối với khách hàng Điều đó không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp tới cơ sở sản xuất mà còn có thể ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế
do tác động dây chuyền
1.3.2.2 Vai trò của nhãn hiệu hàng hoá đối với người tiêu dùng
Ngoài việc tạo ra cho doanh nghiệp những ưu thế cạnh tranh trên thương trường, nhãn hiệu còn có vai trò rất quan trọng liên quan đến lợi ích của người tiêu dùng
Thứ nhất, nhãn hiệu với chức năng quan trọng là giúp cho người tiêu dùng nhận
biết về nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn vì vậy, đối với người tiêu dùng, nhãn hiệu ngày càng có vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định mua của họ Như một cẩm nang, nhãn hiệu hàng hoá đưa ra những chỉ dẫn giúp khách hàng tiềm năng biết được sản phẩm có phù hợp với nhu cầu và mong muốn của họ hay không Ý tưởng về sản phẩm sẽ đi liền với nhãn hiệu mà khách hàng mong muốn mua
và sử dụng
Nhãn hiệu hàng hoá có thể làm giảm rủi ro khi khách hàng quyết định mua một sản phẩm Có nhiều kiểu rủi ro khách hàng có thể gặp phải:
Trang 39- Rủi ro chức năng: sản phẩm không đạt như mong muốn;
- Rủi ro vật chất: sản phẩm đe doạ sức khoẻ hoặc thể lực của người sử dụng hoặc những người khác;
- Rủi ro về tài chính: sản phẩm không tương xứng với giá đã trả;
- Rủi ro về xã hội: sản phẩm không phù hợp với văn hoá, tín ngưỡng hoặc chuẩn mực đạo đức xã hội;
- Rủi ro tâm lý: sản phẩm ảnh hưởng đến sức khoẻ tinh thần của người sử dụng;
- Rủi ro về thời gian: sản phẩm không như mong muốn dẫn đến mất chi phí cơ hội để tìm sản phẩm khác
Mặc dù khách hàng có những cách khác nhau để xử lý những rủi ro này, nhưng chắc chắn có một cách mà họ sẽ lựa chọn, đó là chỉ mua những nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng, nhất là những nhãn hiệu hàng hoá mà họ đã có kinh nghiệm tốt trong quá khứ Vì vậy, nhãn hiệu hàng hoá có thể là một công cụ xử lý rủi ro rất quan trọng [28; tr 27]
Thứ hai, nhãn hiệu hàng hoá góp phần tạo ra một giá trị cá nhân cho người tiêu
dùng, một cảm giác sang trọng và được tôn vinh Thực tế, một nhãn hiệu nổi tiếng sẽ mang đến cho khách hàng một giá trị cá nhân nào đó trong cộng đồng, nó làm cho người tiêu dùng có cảm giác được sang trọng hơn, nổi bật hơn, có đẳng cấp hơn và được tôn vinh khi tiêu dùng khi tiêu dùng hàng hoá mang nhãn hiệu hàng hoá đó Trong xã hội của các nước công nghiệp phát triển, tầng lớp những người tiêu dùng có thu nhập cao, họ không chỉ sẵn sàng trả tiền cho giá trị sản phẩm mà họ còn trả tiền cho
sự hài lòng của mình khi mua được những sản phẩm có nhãn hiệu nổi tiếng Việc mua những sản phẩm mang các nhãn hiệu nhất định là một hình thức tự khẳng định hình ảnh của người sử dụng
Thứ ba, nhãn hiệu được gắn lên hàng hóa, dịch vụ sẽ góp phần bảo vệ lợi ích
chính đáng của người tiêu dùng Sự bảo hộ của Nhà nước đối với các nhãn hiệu đã đăng ký sẽ ngăn ngừa được tình trạng sản phẩm bị làm nhái, làm giả, kém chất lượng nhằm lừa gạt người tiêu dùng
Trang 401.3.2.3 Vai trò của NHHH đối với nền kinh tế trong xu thế hội nhập
Thứ nhất, trong nền kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập, nhãn hiệu, nhất là
các nhãn hiệu mạnh và nổi tiếng thực sự là biểu tượng cho sức mạnh và niềm tự hào của quốc gia Một quốc gia có nhiều sản phẩm với những nhãn hiệu nổi tiếng, lâu đời
là biểu hiện của sự trường tồn và phát triển đi lên, đặc biệt là với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam
Thứ hai, trong bối cảnh toàn cầu hoá và khi Việt Nam đang chủ động hội nhập
kinh tế khu vực và thế giới, việc xây dựng các nhãn hiệu mạnh sẽ là rào cản chống lại
sự xâm nhập của các hàng hóa kém phẩm chất, giá rẻ từ bên ngoài, bảo vệ thị trường nội địa
Thứ ba, nếu như nhãn hiệu của các hàng hóa, dịch vụ Việt Nam được ghi vào bộ
nhớ của người tiêu dùng tại các thị trường nước ngoài, sẽ củng cố uy tín sản phẩm và
vị thế của Việt Nam cũng sẽ ngày càng tăng trên thị trường quốc tế Và chính điều này cũng sẽ góp phần tích cực trong việc thu hút FDI vào Việt Nam, tạo tiền đề đưa đất nước tiến nhanh, tiến vững chắc và từng bước rút ngắn khoảng cách so với các nước về kinh tế
Với những lợi ích mà nhãn hiệu đã mang lại như đã phân tích trên đây cho doanh nghiệp, người tiêu dùng và nền kinh tế, có thể thấy rằng, bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa thực sự mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế, thúc đẩy một xã hội bình đẳng, thiết lập một môi trường đầu tư hấp dẫn, thúc đẩy thương mại quốc tế và tăng khả năng hội nhập với khu vực và thế giới