Lí do chọn đề tài Luật Giáo dục 2005 Điều 28 mục 2 đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THÙY DƯƠNG
TUYỂN CHỌN VÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC 12 PHẦN KIM LOẠI NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC TẬP CỦA
HỌC SINH YẾU KÉM
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM HÓA HỌC
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THÙY DƯƠNG
TUYỂN CHỌN VÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC 12 PHẦN KIM LOẠI NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC TẬP CỦA
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Trung Ninh
HÀ NỘI – 2015
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là một công trình nghiên cứu khoa học rất quan trọng đối với bản thân tôi Bởi trong quá trình thực hiện, tôi có điều kiện tổng hợp, củng cố kiến thức và đúc kết lại các kinh nghiệm mà tôi và các đồng nghiệp của mình đã tích lũy được trong quá trình công tác
Để hoàn thành luận văn, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp, các HS và người thân Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
- PGS TS Trần Trung Ninh đã cho tôi những góp ý chuyên môn vô cùng quý báu, cũng như luôn quan tâm và động viên tôi trước những khó khăn khi thực hiện đề tài
- Tất cả các thầy cô đã giảng dạy tôi trong quá trình học tập, đã cung cấp kiến thức và tư liệu để tôi có thể hoàn thành luận văn
- Các đồng nghiệp đã hỗ trợ tôi về chuyên môn trong quá trình giảng dạy
- Ban Giám hiệu và tập thể tổ hóa trường THPT Hoàng Diệu, nơi tôi đang công tác, đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi học cao học và hoàn thành luận văn
- Giáo viên và học sinh các trường thực nghiệm đã hợp tác và hỗ trợ cho tôi
- Cuối cùng là gia đình tôi, những người luôn tạo điều kiện tốt nhất về tinh thần, vật chất… luôn bên cạnh tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn Một lần nữa, tôi xin gửi đến tất cả mọi người lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất
Hà Nội, năm 2014
Nguyễn Thùy Dương
Trang 4ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bảng tuần hoàn Dung dịch Điện phân nóng chảy Điện phân dung dịch Đối chứng
Giáo viên Học sinh Kim loại kiềm Kim loại kiềm thổ phenolphtalein Phản ứng hóa học Phương pháp dạy học Phương trình phản ứng Sách giáo khoa
Sách bài tập Thực nghiệm sư phạm Thực nghiệm Tính chất vật lí
Tính chất hóa học Trung học phổ thông
BTH
dd Đpn
c Đpd
d ĐC
GV
HS KLK KLKT p.p PƯH
H PPDH PTPƯ SGK SBT TNSP
TN TCVL TCH
Trang 5iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Danh sách lớp TN và ĐC 119
Bảng 3.2: Kết quả học tập HKI môn hóa của lớp TN và ĐC 120
Bảng 3.3: Phân phối kết quả bài kiểm tra 15’ 123
Bảng 3.4: Phân phối tần số lũy tích bài kiểm tra 15’ 124
Bảng 3.5: Kết quả bài kiểm tra 15’ phân loại yếu-kém, trung bình, khá, giỏi 124
Bảng 3.6: Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra 15’ 125
Bảng 3.7: Phân phối kết quả bài kiểm tra 1 tiết 129
Bảng 3.8: Phân phối tần số lũy tích kết quả bài kiểm tra 1 tiết 130
Bảng 3.9: Kết quả bài kiểm tra 1 tiết phân loại yếu-kém, trung bình, khá, giỏi 130
Bảng 3.10: Tổng hợp các tham số đặc trưng bài kiểm tra 1 tiết 131
Trang 6iv
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Hình 3.1: Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra 15’ lớp TN1-ĐC1 125
Hình 3.2: Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra 15’ lớp TN2-ĐC2 126
Hình 3.3: Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra 15’ lớp TN3-ĐC3 126
Hình 3.4: Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra 15’ lớp TN4-ĐC4 127
Hình 3.5: Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra 15’ lớp TN5-ĐC5 127
Hình 3.6: Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra 15’ lớp TN6-ĐC6 128
Hình 3.7: Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra 15’ các lớp TN-ĐC 128
Hình 3.8: Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra 1 tiết lớp TN1-ĐC1 131
Hình 3.9: Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra 1 tiết lớp TN2-ĐC2 132
Hình 3.10: Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra 1 tiết lớp TN3-ĐC3 132
Hình 3.11: Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra 1 tiết lớp TN4-ĐC4 133
Hình 3.12: Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra 1 tiết lớp TN5-ĐC5 133
Hình 3.13: Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra 1 tiết lớp TN6-ĐC6 134
Hình 3.14: Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra 1 tiết các lớp TN-ĐC 134
Trang 7v
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ iV MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 8
1.2 Cơ sở lý thuyết trong bộ môn hóa học 9
1.2.1 Tầm quan trọng của lý thuyết đối với việc học bộ môn hóa học 9
1.2.2 Các học thuyết cơ bản 9
1.2.3 Các định luật hóa học cơ bản 11
1.2.4 Các khái niệm cơ bản 12
1.3 Bài tập hóa học 13
1.3.1 Khái niệm bài tập hóa học 13
1.3.2 Tác dụng của bài tập hóa học 13
1.3.3 Phân loại bài tập hóa học 14
1.3.4 Điều kiện giúp học sinh giải tốt bài tập hóa học 15
1.3.5 Một số dạng bài tập phần hóa vô cơ lớp 12 15
1.4 Một vài vấn đề về học sinh trung bình - yếu môn hóa 17
1.4.1 Nhận diện học sinh trung bình - yếu 17
1.4.2 Nguyên nhân học sinh học yếu 18
1.4.3 Những khó khăn khi dạy học sinh trung bình - yếu 20
1.5 Thực trạng dạy và học hóa học đối với học sinh trung bình - yếu ở một số trường THPT tại TP.HN 21
1.5.1 Mục đích điều tra 21
1.5.2 Đối tượng điều tra 21
1.5.3 Phương pháp điều tra 21
1.5.4 Tiến trình điều tra 21
1.5.5 Kết quả điều tra 21
Tóm tắt chương 1 30
Trang 8vi
Chương 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG LÝ THUYẾT VÀ BÀI TẬP CHƯƠNG
“KIM LOẠI KIỀM - KIM LOẠI KIỀM THỔ - NHÔM” LỚP 12 CƠ BẢN
DÙNG CHO HỌC SINH TRUNG BÌNH - YẾU 31
2.1 Nội dung chương “Kim loại kiềm - Kim loại kiềm thổ - Nhôm” 31
2.2 Phương pháp dạy học chương “Kim loại kiềm - Kim loại kiềm thổ - Nhôm” .31
2.2.1 Những định hướng khi dạy học 31
2.2.2 Các phương pháp dạy học được sử dụng chủ yếu trong chương 32
2.3 Một số chú ý để nâng cao chất lượng dạy học cho từng dạng bài 34
2.3.1 Dạng bài truyền thụ kiến thức mới 34
2.3.2 Dạng bài ôn tập, luyện tập nhằm củng cố và hoàn thiện kiến thức 35
2.3.3 Dạng bài thực hành hóa học 35
2.3.4 Dạng bài kiểm tra đánh giá kiến thức 36
2.4 Xây dựng hệ thống lý thuyết chương “Kim loại kiềm Kim loại kiềm thổ -Nhôm” dùng cho học sinh trung bình - yếu 38
2.4.1 Nguyên tắc xây dựng 38
2.4.2 Quy trình xây dựng hệ thống lý thuyết 39
2.4.1 Giới thiệu tổng quan về hệ thống lý thuyết chương “Kim loại kiềm - Kim loại kiềm thổ - Nhôm” 40
2.4.3 Hệ thống lý thuyết chương “Kim loại kiềm - Kim loại kiềm thổ - Nhôm” .41
2.5 Xây dựng hệ thống bài tập chương “Kim loại kiềm – Kim loại kiềm thổ - Nhôm" dùng cho HS trung bình - yếu 47
2.5.1 Nguyên tắc xây dựng 47
2.5.2 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập 48
2.5.3 Giới thiệu tổng quan về hệ thống bài tập chương “Kim loại kiềm - Kim loại kiềm thổ - Nhôm” 49
2.5.4 Bài tập dùng cho bài “Kim loại kiềm và hợp chất quan trọng của kim loại kiềm” 50
2.5.5 Bài tập dùng cho bài “Kim loại kiềm thổ và hợp chất quan trọng của kim loại kiềm thổ” 58
Trang 9vii
2.5.6 Bài tập dùng cho bài “Nhôm và hợp chất của nhôm” 70
2.5.7 Bài tập dùng cho bài “Luyện tập tính chất của kim loại kiềm và kim loại kiềm thổ và hợp chất của chúng” 78
2.5.8 Bài tập dùng cho bài “Luyện tập nhôm” ……… 93
2.6 Thiết kế các bài lên lớp có sử dụng hệ thống lý thuyết và bài tập đã xây dựng vào dạy học 106
2.6.1 Bài “Kim loại kiềm và hợp chất quan trọng của kim loại kiềm” 106
2.6.2 Bài “Kim loại kiềm thổ và hợp chất quan trọng của kim loại kiềm thổ” 117
2.6.3 Bài “Nhôm và hợp chất của nhôm” 130
2.6.4 Bài “Luyện tập tính chất của kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ và hợp chất của chúng” 139
2.6.5 Bài “Luyện tập nhôm và hợp chất của nhôm” 139
2.6.6 Bài “Thực hành tính chất của natri, magie, nhôm và hợp chất của chúng” .139
Tóm tắt chương 2 139
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 141
3.1 Mục đích thực nghiệm 141
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 141
3.3 Đối tượng và thời gian thực nghiệm 141
3.4 Tiến hành thực nghiệm 142
3.5 Kết quả thực nghiệm 146
3.6 Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 157
Tóm tắt chương 3 158
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 160
TÀI LIỆU THAM KHẢO 163 PHỤ LỤC
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Luật Giáo dục 2005 Điều 28 mục 2 đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, từng môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho từng học sinh"
Trước những yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học, người giáo viên luôn phải sáng tạo trong cách triển khai và xây dựng hoạt động học tập của học sinh, vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp dạy học sao cho phù hợp với từng kiểu bài, từng đối tượng học sinh
Thực tế giáo dục trong nhiều năm cho thấy Hóa học cũng như các môn học khác đang góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng toàn diện của trường phổ thông Tuy nhiên, thực tế chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh vẫn chưa cao.Hiệu quả dạy và học chưa đáp ứng được yêu cầu của giáo dục.Đặc biệt việc phát huy tính tích cực,tự lực của HS,việc rèn luyện và bồi dưỡng năng lực nhận thức,năng lực giải quyết vấn đề,năng lực tư duy và khả năng tự học của HS chưa được chú ý đúng mức.Do đó tình trạng HS yếu- kém vẫn còn tồn tại trong từng lớp học,cấp học.Làm thế nào để khắc phục được tình trạng HS yếu kém.Đó luôn là vấn đề quan tâm của toàn nghành GD,là điều trăn trở của mỗi GV,đặc biệt
là trong giai đoạn đổi mới GD hiện nay nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
Để có một hệ thống bài tập phù hợp với đối tượng HS yếu-kém,giúp GV tham khảo nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy thiết nghĩ là việc cần thiết.Chính những lí do đó mà tôi đã lựa chọn để nghiên cứu đề tài: “TUYỂN CHỌN VÀ XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC 12 PHẦN KIM LOẠI NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH YẾU KÉM”
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng hệ thống bài tập phần kim loại kiềm – kim loại kiềm thổ- nhôm hỗ trợ việc dạy và học cho đối tượng HS yếu-kém,giúp HS nắm vững kiến thức căn bản về lý thuyết và có kỹ năng giải các bài tập cơ bản,kích thích hứng thú học tập cho HS, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học bộ môn hóa học
Trang 112
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT Việt Nam
- Đối tượng nghiên cứu: Dạy và học hoá học đối với đối tượng học sinh yếu kém môn hoá học ở các trường trung học phổ thông
4 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung bài tập hóa học được giới hạn trong chương “ Kim loại kiềm-Kim loại kiềm thổ-Nhôm” lớp 12 cơ bản- THPT
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất một số biện pháp giúp đỡ đối tượng HS yếu kém môn HH ở trường THPT
- Lựa chọn, xây dựng và sử dụng bài tập HH phần kim loại lớp 12 nhằm nâng cao hiệu quả học tập cho HS yếu kém môn HH
- TNSP để đánh giá chất lượng, hiệu quả và tính khả thi của các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả học tập cho HS yếu kém môn HH
6 Giả thuyết khoa học
GV xác định đúng nguyên nhân HS yếu-kém,đề xuất và sử dụng các biện pháp tích cực,phù hợp sẽ kích thích hoạt động học tập của HS.HS sẽ tích cực,chủ động trong học tập,việc dạy và hoc sẽ thực sự mang lại hiệu quả,góp phần nâng cao chất lượng dạy học
7 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phối hợp các PP:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập tài liệu,phân tích đánh giá từng
nội dung nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Điều tra- khảo sát thực trạng HS yếu kém hiện nay ở các trường THPT + Dự giờ,phỏng vấn,trò chuyện,trao đổi kinh nghiệm vơi GV môn hóa ở các trường THPT
+ TNSP
- Phương pháp thống kê toán học, ứng dụng khoa học sư phạm
8 Dự kiến đóng góp mới của đề tài
Trang 123
- Khảo sát thực trạng,tìm ra nguyên nhân HS học yếu môn hóa ở trường THPT,đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học hóa học ở trường THPT
- Xây dựng, lựa chọn hệ thống bài tập HH vô cơ bám sát chuẩn chương trình tài liệu giáo khoa môn HH lớp 12, tăng cường tính thực tiễn nhằm nâng cao hứng thú học tập cho HS yếu kém
- Hướng dẫn sử dụng hệ thống bài tập để góp phần làm giảm tỷ lệ HS yếu kém trong học tập môn HH ở các THPT
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập hóa học 12 phần kim loại nhằm nâng cao hiệu quả học tập của HS yếu-kém
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13nó để lại nếu không được giải quyết kịp thời
Một số đề tài nghiên cứu về PPDH trong những năm gần đây đã đạt được những thành công nhất định trong việc hướng đến đối tượng HS yếu - kém, góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong thời đại mới:
- Phương pháp bồi dưỡng HS học yếu môn hóa học lấy lại căn bản, khóa luận
tốt nghiệp (1996) của sinh viên Trần Thị Hoài Phương (ĐHSP HN)
- Phụ đạo HS yếu môn hóa lấy lại căn bản, khóa luận tốt nghiệp (2002) của
sinh viên Trần Đức Hạ Uyên (ĐHSP TP.HCM)
- Những biện pháp giúp đỡ HS yếu-kém đạt được yêu cầu và có kết quả cao hơn trong học tập môn hóa học ở các trường THPT các tỉnh miền núi phía Bắc- Tác giả Trịnh Văn Thịnh (2005)
- Sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan và tự luận trong kiểm tra,đánh giá kiến thức hóa học của HS lớp 12 THPT.Luận văn thạc sĩ (2003)-Phạm Thị Tuyết Mai (ĐHSP HN)
- Biên soạn hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan phần các “nguyên tố kim loại”-lớp 12 THPT-Luận văn thạc sĩ 2009- Nguyễn Văn Linh (ĐHSP HN)
Qua đó, có thể khẳng định rằng việc dạy học cho HS trung bình - yếu hiện nay đang được nhiều trường học và giáo viên quan tâm, nhưng số đề tài nghiên cứu về vấn đề này còn hạn chế
1.2 Bản chất của dạy học
1.2.1 Khái niệm dạy học
DH là một quá trình phức tạp, rộng lớn và bao gồm nhiều thành tố có quan hệ chặt chẽ với nhau Các nhà lí luận DH đã đưa ra định nghĩa về DH như sau:
“DH là một hệ thống cân bằng động gồm ba thành tố cơ bản: tri thức, việc dạy và việc học tương tác qua lại với nhau,thâm nhập vào nhau, qui định lẫn nhau
Trang 141.2.2 DH là một quá trình
1.2.2.1 Tính quá trình của DH
DH được xem xét như là một quá trình bởi DH diễn biến theo thời gian với sự xác định rõ ràng điểm bắt đầu,diễn biến và kết thúc của hiện tượng Mặt khác, DH bao gồm một loạt các hành động liên tiếp của thầy và trò thâm nhập vào nhau Chính vì vậy xét về mặt logic vận động, có thể thấy quá trình DH vận động theo nhiều chu trình và một chu trình hoàn chỉnh bao gồm các giai đoạn ( khâu ) sau:
- Đề xuất và hình thành nhu cầu, tâm thế hoạt động học tập, tạo ý thức về nhiệm vụ học tập, kích thích động cơ học tập ở người học
- Tổ chức, hướng dẫn người học tự khám phá, tự phát hiện, tự lĩnh hội tri thức mới
- Tổ chức, hướng dẫn người học luyện tập, hình thành kỹ năng, kỹ xảo
- Tổ chức, điều khiển người học vận dụng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đã có để giải quyết các tình huống nhận thức và thực tiễn thông qua hệ thống bài tập với độ khó và phức tạp tăng dần
- Tổ chức, hướng dẫn người học củng cố và hoàn thiện kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, hệ thống hóa và khái quát hóa tri thức
- Tổ chức, hướng dẫn việc kiểm tra, đánh giá và tự kiểm tra Bước đầu đánh giá mức độ nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo ở người học
Trên thực tế khi tổ chức DH, các khâu trên không phải được tiến hành một cách tuần tự mà tùy thuộc vào điều kiện của từng giờ học, tùy thuộc tính chất và mục tiêu DH ma GV có thể tiến hành sắp xếp trật tự các khâu khác nhau
1.2.2.2 Cấu trúc của quá trình DH
Trang 156
Mô hình cấu trúc của quá trình dạy học
Đầu vào là trình độ GV, HS trước giờ học, nhiệm vụ, các điều kiện DH
Đầu ra là kết quả dạy-học
Chu trình DH là các bước vận động và phát triển hoàn chỉnh của một quá trình DH, ở đó DH có sự tích đủ về lượng, dẫn đến sự thay đổi về chất ở người học Quá trình DH bao gồm hai mặt, hai hoạt động thống nhất biện chứng với nhau,
đó là hoạt động dạy và hoạt dộng học.Nếu thiếu một trong hai hoạt động thì không thể có QTDH Ngược lại, nếu hai hoạt động này không có sự gắn bó chặt chẽ, thống nhất thì QTDH không thể phát triển được
Tính thống nhất hai mặt còn thể hiện ở sự tương tác hai chiều và sự cộng tác
đa chiều giữa các chủ thể trong QTDH Ngoài ra, còn thể hiện trong mối quan hệ giữa một số nhân tố chủ yếu trong QTDH như GV- HS- môi trường DH ; GV-HS- nội dung DH
Mỗi bước của QTDH một mặt hoàn thành mục đích DH chung, mặt khác còn
có chức năng riêng biệt Hai mặt chung và riêng phải được kết hợp chặt chẽ với nhau trong mỗi bước của QTDH
1.2.3 DH với tư cách là hoạt động giáo dục
đỡ đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
Hoạt động học có chức năng tái tạo các giá trị của xã hội loài người trong mỗi
cá nhân Nó thực hiện chức năng di sản ở người Trong khi hoạt động, người học tiếp thu những kinh nghiệm xã hội- lịch sử của loài người, tạo ra năng lực hoạt động có thể tiếp tục duy trì sự tồn tại và phát triển
QTDH phải coi hoạt động là bản chất của mình có nghĩa là DH chính là quá
Trang 167
trình tổ chức các hoạt động khác nhau để người học được hoạt động và lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo QTDH vừa tạo ra sự phát triển tâm lý và vừa tạo điều kiện cho sự phát triển các hoạt động khác
1.2.3.2 Cấu trúc của hoạt động DH
QTDH được nghiên cứu là một hoạt động và có cấu trúc của một hoạt động Cấu trúc của hoạt động DH được thể hiên qua các mặt sau:
Thứ nhất, chủ thể của hoạt động DH là chủ thể kép gồm chủ thể dạy và chủ thể học Sự phối hợp nhịp nhàng của hai chủ thể này tạo nên chủ thể hoàn chỉnh của QTDH Cả hai đều hướng về cùng một mục đích là hình thành toàn diện nhân cách của chính người học, trang bị kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo và thái độ cho người học
Thứ hai, mục đích của hoạt động DH là giúp người học lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, lĩnh hội những kinh nghiệm của lịch sử xã hội loài người, làm cho người học trở thành một nhân cách sáng tạo, tự chủ và là công dân lao động có ích cho xã hội
Thứ ba, một thành tố hết sức quan trọng của QTDH là nội dung DH Nội dung DH sẽ quyết định nội dung hoạt động của cả thầy và trò Đồng thời, nội dung
DH là mục tiêu để HS phải nắm vững và chuyển hóa thành vốn hiểu biết và kinh nghiệm của chính mình
Nhân tố cuối cùng là PPDH Về bản chất , PPDH là phương pháp tổ chức quá trình nhận thức, quá trình kiến tạo kiến thức ở người học là phương pháp kích thích tạo động lực và phương pháp điều chỉnh hành vi ở người học
DH phải thông qua hoạt động và bằng chính các hoạt động Hoạt động được xem là quy luật chung nhất cho tâm lý con người Do đó, tâm lý cũng như ý thức của HS được nảy sinh, hình thành và phát triển thông qua hoạt động Chính vì thế
DH là quá trình tổ chức và điều khiển hoạt động của người học nhằm chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng và hình thành nhân cách cho người học
1.3 Xu hướng đổi mới PPDH
1.3.1 Đổi mới phương pháp dạy học
Trang 178
PP là cách thức, con đường mà chủ thể tác động tới đối tượng nhằm đạt được mục đích Đổi mới PPDH đã, đang là vấn đề thời sự “nóng” không chỉ đối với nhà trường, thầy cô, học trò,…với tất cả những ai có tư duy về DH, về tự học…
Đổi mới PPDH thực chất là một quá trình nâng cao hiệu quả của việc dạy học, làm cho việc DH gắn bó, phục vụ tốt hơn, ngày càng nâng cao hơn cho việc hình thành và phát triển các phẩm chất nhân cách của người Việt Nam hiện tại và tương lai như trong định hướng mà các Đại hội của Đảng đã chỉ ra
1.3.2 Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học
1.3.2.1 Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống
Các PPDH truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập… luôn là những PP quan trọng trong DH Đổi mới PPDH không có nghĩa là loại bỏ các PPDH truyền thống quen thuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng Để nâng cao hiệu quả của các PPDH này người GV trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dung thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp Tuy nhiên, các PPDH truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các PPDH truyền thống cần kết hợp các PPDH mới, đặc biệt là những PP và kỹ thuật DH phát huy tính tích cực và sáng tạo của HS
1.3.2.2 Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học
Không có một PPDH toàn năng phù hợp với mọi mục tiêu và nội dung DH Mỗi PP và hình thức DH có những ưu, nhựơc điểm và giới hạn sử dụng riêng Vì vậy việc phối hợp đa dạng các PP và hình thức DH trong toàn bộ quá trình DH là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng DH
1.3.2.3 Tăng cường sử dụng phương tiện và công nghệ thông tin trong dạy học
- Phương tiện DH có vai trò quan trọng trong việc đổi mới PPDH, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong DH Việc sử dụng các phương tiện DH cần phù hợp với mối quan hệ giữa phương tiện DH và PPDH Tuy nhiên các phương tiện DH tự tạo của GV luôn có ý nghĩa quan trọng, cần được phát huy
- Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung DH vừa là phương tiện DH trong DH hiện đại Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các phần mềm DH
Trang 189
1.3.2.4 Sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo
Các kỹ thuật DH là những đơn vị nhỏ nhất của PPDH Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các kỹ thuật DH phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như “động não”, “tia chớp”, “bể cá”, XYZ, “3 lần 3”, bản đồ tư duy (Mind Map)… Trong đó bản đồ tư duy là PP dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não của chúng ta rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh Bằng cách dùng bản đồ tư duy, tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình vẽ, trong đó các đối tượng liên hệ với nhau bằng các đường nối Với cách biểu diễn như vậy, các dữ liệu được ghi nhớ và hấp thụ dễ dàng và nhanh chóng hơn
1.3.2.5 Tăng cường các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn
PPDH có mối quan hệ biện chứng với nội dung DH Vì vậy bên cạnh những
PP chung có thể sử dụng cho nhiều bộ môn khác nhau thì việc sử dụng các PPDH đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn Các phương pháp DH đặc thù
bộ môn được xây dựng trên cơ sở lý luận DH bộ môn Ví dụ thí nghiệm là PPDH đặc thù của các môn khoa học tự nhiên
1.3.2.6 Bồi dưỡng phương pháp học tập cho HS
PP học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc TC hoá, phát huy tính sáng tạo của HS Có những PP nhận thức chung như PP thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, tổ chức làm việc, làm việc nhóm, có những PP học tập chuyên biệt của từng bộ môn Bằng nhiều hình thức khác nhau, cần luyện tập cho HS các
PP học tập chung và các PP học tập trong bộ môn
1.3.2.7 Cải tiến việc kiểm tra đánh giá
- Đổi mới PPDH cần gắn liền với đổi mới về đánh giá quá trình DH cũng như đổi mới việc kiểm tra và đánh giá thành tích học tập của HS Cần bồi dưỡng cho HS những kỹ thuật thông tin phản hồi nhằm tạo điều kiện cho HS tham gia đánh giá và cải tiến quá trình DH
- Trong đánh giá thành tích học tập của HS không chỉ đánh giá kết quả mà chú
ý cả quá trình học tập Cần sử dụng phối hợp các hình thức, PP KTĐG khác nhau
Trang 1910
Kết hợp giữa kiểm tra miệng, kiểm tra viết và bài tập thực hành Kết hợp giữa trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
1.3.3 Một số PPDH tích cực trong DH hóa học ở trường THPT
1.3.3.1 Dạy học tích cực là một quan điểm sư phạm
DH TC là một thuật ngữ rút gọn để chỉ những PP giáo dục, DH theo hướng phát huy tính TC, chủ động, sáng tạo của người học PPDH TC hướng tới việc hoạt động hóa, TC hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính TC của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính TC của người dạy
1 Lên kế hoạch hoạt động nhóm:
- Đề ra mục tiêu hoạt động nhóm, lựa chọn nội dung cho hoạt động nhóm
- Quy định thời gian và cách thức tổ chức cho cho hoạt động nhóm
2 Tổ chức các nhóm học sinh:
Có nhiều cách tổ chức hoạt động nhóm như kỹ thuật khăn trải bàn, kỹ thuật ghép tranh, …
Giám sát hoạt động nhóm:
- GV quan sát thái độ ứng xử của HS
- GV di chuyển quanh lớp học để có thể quan sát được tất cả các nhóm và lắng nghe các nhóm trao đổi xem họ đi đúng theo chủ đề hay không GV có thể đặt một
số câu hỏi để làm rõ nội dung được đưa ra
Kết thúc hoạt động nhóm:
Các nhóm báo cáo hoạt động của nhóm mình Có nhiều cách báo cáo: các nhóm trưởng báo cáo về kết quả hoạt động bằng miệng, GV ghi lại thông tin trên bảng, các nhóm trưởng trình lên một bảng tóm tắt viết trên giấy; các nhóm ghi lại
Trang 20- Mọi HS đều được làm việc, không khí học tập thân thiện trong lớp
- HS không chỉ học tập kĩ năng mà còn thu nhận được kết quả về cách làm việc hợp tác cùng nhau, nâng cao quan hệ thân ái, tin cậy và giúp đỡ nhau
- Tạo cơ hội vận dụng các PP, nguyên tắc và ngôn từ đã học được
- Tạo cơ hội thực hành các kỹ năng như sáng tạo, tổng hợp, phân tích
- Được thể hiện khả năng làm việc và thực hành kỹ năng giao tiếp
- Thực hiện công việc mà một HS không thể thực hiện được
- GV cũng có cơ hội tận dụng quan điểm và kinh nghiệm của HS
+/ Nhược điểm:
- Hiệu quả học tập phụ thuộc hoạt động của các thành viên, nếu có HS trong nhóm bất hợp tác thì hiệu quả thấp Nhóm có thể đi chệch hướng hoặc có thể bị một
HS quyết đoán
- Khả năng bao quát lớp của GV là khó khăn hơn
- Sẽ trở nên không hiệu quả nếu lạm dụng quá nhiều và quá lâu
* Phương pháp dạy học nêu vấn đề
+/ Khái niệm:
Là PPDH đưa HS vào chính sự tìm tòi có hiệu quả của các nhà khoa học, tức
là chuyển hoá sự tìm tòi thành phẩm chất của cá thể học sinh theo con đường tựa như con đường mà loài người đã theo để khám phá, kiếm tìm và đã vật chất hoá các phát minh, phát kiến Đặc trưng của DH nêu vấn đề thể hiện ở hai yếu tố thành phần: tình huống có vấn đề và giả thuyết để giải quyết vấn đề
+/ Cách tổ chức:
- GV chuẩn bị kỹ kế hoạch bài giảng
Trang 21- Cho phép các HS phát triển các phương thức tiếp cận của chính họ
- Khuyến khích óc sáng tạo, say mê khoa học của HS
- Thông qua việc chứng minh hay bác bỏ giả thuyết, GV làm cho HS hiểu rằng
đó chính là con đường tất yếu của sự tìm tòi khám phá
+/ Nhược điểm:
- Khó đánh giá sự tham gia của từng cá nhân
- Thiếu kiến thức hay kỹ năng có thể cản trở công việc của cả lớp
* Dạy học phân hóa
a Khái niệm dạy học phân hóa
DH phân hóa không đơn thuần là phân loại người học theo năng lực nhận thức
mà ở đây là PPDH phù hợp với từng đối tượng người học trên cơ sở am hiểu từng
cá thể, GV tiếp cận người học ở tâm lí, năng khiếu…
DH phân hóa xuất phát từ nhu cầu đảm bảo thực hiện tốt mục đích dạy học, đồng thời khuyến khích phát triển tối đa và tối ưu những khả năng của từng cá nhân, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trong một lớp học luôn có sự chênh lệch về trình độ nhận thức của mỗi thành viên
b Quy trình dạy học phân hóa
* Phân hóa nhóm đối tượng học sinh
- Đối với học sinh yếu kém: GV cần tìm ra nguyên nhân học kém: có em học
kém vì năng lực yếu, có em học yếu vì nguyên nhân khác (gia đình khó khăn, không
có điều kiện thời gian học tập, có vướng mắc về tư tưởng nên chưa tập trung ) Từ
đó có biện pháp GD, giúp đỡ như: xây dựng lòng tự tin bản thân, thường xuyên theo dõi, động viên kịp thời, tranh thủ sự quan tâm của gia đình và xã hội Không nên đồng nhất các em học kém với nhau mà cần phân kiểu học của từng HS kém để có
PP giúp đỡ
Trang 2213
- Đối với học sinh khá giỏi: các em thường có xu hướng thích giải nhiều bài,
thích giải các bài khó, các bài toán đòi hỏi tư duy sáng tạo, nhưng lại coi nhẹ việc học lý thuyết, coi nhẹ các bài thông thường Do đó các em không nắm chắc kiến thức cơ bản hoặc không thành tạo các kỹ năng Vì vậy, điều quan trọng nhất là hình thành ở các em lòng ham thích, hứng thú, say mê học, thường xuyên GD đức tính kiên trì, tỉ mỉ, cẩn thận, khiêm tốn, sẵn sàng giúp đỡ bạn cùng lớp tiến bộ … Trong giờ học, GV cần suy nghĩ tìm tòi để đề ra cho HS những câu hỏi đào sâu lý thuyết
- Đối với học sinh trung bình: cần nắm thật chắc kiến thức cơ bản SGK làm
đầy đủ và đạt yêu cầu các bài tập SGK với sự gợi ý ở mức độ hạn chế của GV, có thể tiếp thu phần nào kiến thức nâng cao của HS khá giỏi
GV thường xuyên theo dõi điều chỉnh lại nhân sự nhóm, chuyển lên nhóm trên hoặc xuống nhóm dưới nếu có thành viên nào trong nhóm tỏ ra tiến bộ hay thụt lùi
* Thiết kế bài học
+ Nghiên cứu nắm vững nội dung và yêu cầu của bài học:
Đây là vấn đề trước tiên và đặc biệt quan trọng của người GV trong việc thiết
kế bài học có chất lượng Có nắm vững nội dung kiến thức bài học thì GV mới có thể hình thành các PPDH để vận dụng vào từng tình huống cụ thể cho hiệu quả, đạt được mục đích DH của mình
+ Nên sử dụng kết hợp phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy học phân hóa với các câu hỏi phân hóa:
Khi đưa các yếu tố phát hiện và giải quyết vấn đề kết hợp cùng hệ thống câu hỏi phân hóa vào bài học các tri thức khái niệm, các định lý … sẽ góp phần phát triển tư duy, tăng cường tính tự giác, chủ động, sáng tạo cho các đối tượng HS Những tri thức mới được kiến tạo nhờ quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề, HS được khám phá, phân tích vấn đề, để đề xuất và thực hiện được PP giải quyết
* Ra bài tập phân hóa
Phải dựa vào đặc điểm và sự phân loại HS trong lớp để GV lựa chọn bài tập thích hợp Có thể phân hóa về yêu cầu bằng cách cho sử dụng mạch bài tập phân bậc, giao cho HS giỏi những bài tập có hoạt động ở bậc cao hơn so với các đối tượng HS khác Đối với HS yếu kém, có thể giao cho các bài tập phân bậc vừa sức
Trang 2314
Cụ thể là khoảng cách giữa hai bậc liên tiếp không quá cao, quá xa Hoặc ngay trong một bài tập người GV cũng có thể tiến hành dạy phân hóa nếu như bài tập đó đảm bảo yêu cầu cho cả ba nhóm đối tượng học sinh: bồi dưỡng lấp lỗ hổng cho HS yếu kém, trang bị kiến thức chuẩn bị cho HS trung bình và nâng cao cho HS khá, giỏi
* Xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình học tập
- Đó là: môi trường, phương tiện, điều kiện DH … GV cần chú ý đến điều kiện môi trường xung quanh, điều kiện thời tiết … các yếu tố đó có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, tâm lý, tinh thần học tập của HS Vì vậy GV cần đề ra phương án để đảm bảo chất lượng giờ học
- Phương tiện DH: mô hình, hình vẽ, SGK, phiếu học tập, máy chiếu, máy vi tính … góp phần chứa đựng và truyền tải thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho việc
tổ chức hoạt động học trong đổi mới PPDH theo xu hướng tích cực hóa hoạt động người học Mỗi giờ học cần sử dụng các phương tiện DH khác nhau tùy thuộc vào các chức năng của từng loại phương tiện như: kiến tạo tri thức, rèn luyện kỹ năng, kích thích hứng thú học tập, tổ chức điều khiển quá trình học tập …
c Ưu, nhược điểm về dạy học phân hóa trong trường phổ thông
* Ưu điểm
- DH phân hóa phát huy tốt khả năng cá thể hóa hoạt động của người học, đưa người học trở thành chủ thể của quá trình nhận thức, tiếp thu kiến thức một cách chủ động, sáng tạo phù hợp với năng lực nhận thức của bản thân Bên cạnh đó người GV có cơ hội hiểu và nắm được mức độ nhận thức của từng cá thể người học
để đề ra những biện pháp tác động, uốn nắn kịp thời và có đánh giá một cách chính xác, khách quan
- DH phân hóa gây được hứng thú học tập cho mọi đối tượng HS, xóa bỏ mặc cảm tự ti của đối tượng HS có nhịp độ nhận thức thấp cùng tham gia tìm hiểu nội dung, yêu cầu của bài Kích thích, gây hứng thú học tập cho các đối tượng HS khá giỏi phát huy hết khả năng, trí tuệ của mình
-DH phân hóa xóa bỏ khoảng cách giữa HS yếu kém với HS khá giỏi, đưa các
em sát lại gần nhau hơn Các em có cơ hội giúp đỡ nhau cùng phát triển, tiếp thu một cách nhanh chóng tri thức của nhân loại
Trang 2415
* Nhược điểm
Nhược điểm cơ bản là người GV trước khi lên lớp phải chuẩn bị bài soạn, hệ thống bài tập phân hóa được chọn lọc cẩn thận, đầu tư nhiều thời gian công sức Tổ chức lớp học hiện nay hầu hết đều có số HS đông, chênh lệch nhiều về trình độ có thể gây khó khăn cho các GV
1.4 Một số vấn đề lí luận về bài tập trong DH hóa học ở trường THPT
1.4.1 Khái niệm bài tập hóa học
Thuật ngữ “bài tập” chủ yếu được sử dụng theo quan niệm: bài tập bao gồm cả những câu hỏi và bài toán mà khi giải quyết chúng HS phải nhờ những suy luận logic, những phép toán và những thí nghiệm trên cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và phương pháp hóa học Khi hoàn thành bài tập, HS hoàn thiện được một tri thức hay một kĩ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng, trả lời viết hoặc kèm theo thí nghiệm
1.4.2 Tác dụng của bài tập hóa học
- Bài tập hóa học là một trong những phương tiện hiệu quả nhất để dạy HS tập vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học, biến những kiến thức đã tiếp thu được qua bài giảng thành kiến thức của chính mình Vì chỉ có vận dụng kiến thức vào giải bài tập, HS mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc
- Bài tập hóa học là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức một cách tốt nhất, đồng thời giúp HS đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú bài tập hóa học còn làm chính xác hóa các khái niệm, định luật đã học
- Bài tập hóa học giúp phát triển tư duy, rèn luyện trí thông minh cho HS: một số vấn đề lý thuyết cần phải đào sâu mới hiểu được trọn vẹn, một số bài toán
có tính chất đặc biệt, ngoài cách giải thông thường còn có cách giải độc đáo nếu
HS có tầm nhìn sắc bén Khi GV yêu cầu HS giải bằng nhiều cách và tìm ra cách giải ngắn nhất, đó là một phương pháp rèn luyện trí thông minh cho HS
- Bài tập hóa học phát huy tính tích cực, tự lực của HS và hình thành phương pháp học tập hợp lý
- Bài tập hóa học còn được sử dụng như một phương tiện để nghiên cứu tài
Trang 25Trên đây là một số tác dụng của bài tập hóa học, nhưng cần phải khẳng
định rằng: Bản thân bài tập hóa học chưa có tác dụng gì cả Không phải một bài
tập hóa học hay thì luôn có tác dụng tích cực! Vấn đề phụ thuộc chủ yếu là người sử dụng, phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cách khai thác triệt để mọi khía cạnh có thể có của bài toán, để HS tự tìm ra lời giải Lúc đó bài tập hóa học mới thực sự có ý nghĩa, không phải chỉ dạy học để giải bài toán, mà là dạy học bằng giải bài toán
1.4.3 Phân loại bài tập hóa học
Hiện nay có nhiều cách phân loại khác nhau dựa trên các cơ sở khác nhau:
- Dựa vào nội dung toán học của bàitập:
+ Bài tập định tính (không có tính toán)
+ Bài tập định lượng (có tính toán)
- Dựa vào hoạt động của HS khi giải bài tập:
+ Bài tập lý thuyết (không có tiến hành thí nghiệm)
+ Bài tập thực nghiệm (có tiến hành thí nghiệm)
- Dựa vào nội dung hóa học của bài tập:
+ Bài tập hóa đại cương: bài tập về chất khí, bài tập về dd, bài tập điện phân,…
+ Bài tập hóa vô cơ: bài tập về kim loại, bài tập về các phi kim, bài tập
về các loại hợp chất oxit, axit, bazơ, muối,…
+ Bài tập hóa hữu cơ: bài tập hiđrocacbon, bài tập về ancol - phenol - amin, bài tập về anđêhit - axit cacboxylic - este,…
- Dựa vào nhiệm vụ đặt ra yêu cầu của bài tập:
+ Bài tập cân bằng PTPƯ
Trang 26+ Bài tập lập công thức phân tử
+ Bài tập tìm nguyên tố chưa biết
- Dựa vào lượng kiến thức, mức độ đơn giản hay phức tạp của bài tập: + Bài tập dạng cơ bản
+ Bài tập tổng hợp
- Dựa vào cách thức tiến hành kiểm tra:
+ Bài tập trắc nghiệm
+ Bài tập tự luận
- Dựa vào phương pháp giải bài tập:
+ Bài tập tính theo công thức và phương trình
+ Bài tập biện luận
+ Bài tập dùng giá trị trung bình…
- Dựa vào mục đích sử dụng bài tập:
+ Bài tập dùng kiểm tra đầu giờ
+ Bài tập dùng củng cố kiến thức
+ Bài tập dùng ôn luyện tổng kết
+ Bài tập dùng bồi dưỡng HS giỏi
+ Bài tập phụ đạo HS yếu…
- Theo Lý luận dạy học hóa học, tập 1 (1994) của tác giả Nguyễn Ngọc
Quang, bài tập được chia thành 4 loại:
Trang 2718
trình hóa học, TCHH của các chất…
- Các dạng bài tập cơ bản: xác định được dạng bài tập và phương pháp giải cho từng dạng bài
- Có kiến thức và kĩ năng toán học: giải phương trình, hệ phương trình, một
số phương pháp giải nhanh bài toán trắc nghiệm khách quan
1.4.5 Một số dạng bài tập phần hóa vô cơ lớp 12
1.4.5.1 Lý thuyết cơ bản
Đây là dạng bài tập đại cương, đòi hỏi ở mức độ nhận thức “BIẾT” là chính Yêu cầu HS phải nắm chắc các khái niệm cơ bản, các định nghĩa cũng như hệ thống lý thuyết Tuy nhiên, HS cần lưu ý là do phạm vi bài tập dạng này khá rộng nên cần bao quát kiến thức
1.4.5.2 Tính chất của kim loại
Đây là dạng bài tập phong phú, đa dạng và chiếm một lượng lớn trong chương trình Để làm tốt phần này, HS cần nắm vững cấu tạo nguyên tử, BTH
Từ cấu tạo nguyên tử suy ra tính chất, ứng dụng và phương pháp điều chế
1.4.5.3 Xác định tên nguyên tố kim loại
Đây là dạng bài tập khá phổ biến, đòi hỏi HS có nền tảng kiến thức nhất định
về cấu tạo nguyên tử, cấu tạo BTH, TCHH, phương pháp điều chế Bên cạnh đó,
để làm nhanh và chính xác bài trắc nghiệm, HS cần có kĩ năng phân tích, so sánh, suy luận, loại trừ
1.4.5.4 Điều chế, sản xuất
Với dạng BT này, HS cần nắm vững quy trình điều chế, sản xuất chất hóa học Ở mức độ cao hơn, HS phải biết cách hệ thống và liên hệ đến các kiến thức liên quan, vận dụng tạo thành sơ đồ điều chế - sản xuất Bên cạnh đó, việc tính toán liên quan đến hiệu suất và vận dụng định luật bảo toàn nguyên tố ở dạng bài tập này rất thích hợp
Trang 281.4.5 6 Giải thích hiện tượng
Dạng bài này rèn luyện kĩ năng quan sát, nhận xét và hệ thống hóa kiến thức HS theo dõi hiện tượng xảy ra, viết PTPƯ cụ thể từng quá trình thí nghiệm, sau đó xác định kết quả theo yêu cầu của đề
1.4.5.7 Bài tập thực hành
Các thao tác, kĩ năng làm thí nghiệm là nội dung chính của dạng bài tập này Mục đích của bài là định hướng cho HS hoàn thiện cả lý thuyết và thực hành Hiện nay dạng bài tập này tương đối ít nhưng đang và sẽ được chú trọng hơn nữa trong tương lai
1.4.5.8 Ứng dụng của kim loại và hợp chất của chúng
HS cần phải liên hệ thực tế trong quá trình học tập, đáp ứng yêu cầu đổi mới
là gắn liền hóa học với thực tiễn cuộc sống HS phải quan tâm hơn đến phần ứng dụng của các chất cụ thể trong chương trình
1.4.5.9 Bài tập toán tổng hợp
Đây là dạng bài tập đòi hỏi nhiều kĩ năng tổng hợp, tính toán, suy luận, phân tích, so sánh, hệ thống… ở các mức độ nhận thức khác nhau Bên cạnh đó HS còn phải vận dụng linh hoạt với từng dạng toán cụ thể, có thể là một phương pháp hoặc phối hợp nhiều phương pháp
1.4.6 Cách sử dụng bài tập hóa học trong dạy học
1.4.6.1 Sử dụng trong giảng dạy bài mới
GV có thể linh hoạt nhiều PP khác nhau để kết hợp các kiến thức vào bài giảng, thuận lợi nhất là hai PP tích hợp và lồng ghép
-Tích hợp: là kết hợp một cách có hệ thống các kiến thức HH làm cho chúng
hòa quyện vào nhau thành một thể thống nhất
Trang 2920
-Lồng ghép: là thể hiện sự lắp ghép nội dung bài học về mặt cấu trúc để có
thể đưa vào bài học một đoạn, một mục, một số câu hỏi có nội dung liên quan đến các kiến thức HH
1.4.6.2 Sử dụng trong giờ bài tập và kiểm tra đánh giá
- Trong các giờ bài tập, GV có thể đưa vào các bài tập HH mà HS có thể vận dụng được những kiến thức trong nội dung luyện tập để giải quyết hoặc thông qua một bài tập có nội dung lý thuyết, sau khi giải quyết xong GV thông tin thêm những kiến thức HH có liên quan
- Một số câu hỏi hoặc bài tập với nội dung trả lời ngắn gọn và chỉ vận dụng thuần túy các kiến thức lý thuyết trong các chương, bài mà HS đã được cung cấp có thể đưa vào các đề kiểm tra 15 phút, 1 tiết, kiểm tra học kỳ… Việc kiểm tra bài cũ thì có thể linh hoạt, phong phú hơn với bất kì nội dung nào có liên quan đến kiến thức bài học
1.4.6.3 Sử dụng thông qua tổ chức các hoạt động ngoại khóa
- GV nên tổ chức cho HS các câu lạc bộ HH, các buổi ngoại khóa về HH, các cuộc thi hóa học vui… nhằm tạo điều kiện cho HS vận dụng những kiến thức HH vào cuộc sống, tạo niềm hứng thú và say mê HH, đồng thời kích thích HS lòng ham hiểu biết, hình thành cho HS thói quen luôn thắc mắc, đặt vấn đề đối với những hiện tượng trong cuộc sống và phải tìm cách giải quyết cho được các vấn đề đó
- Bài tập HH có thể được sử dụng linh hoạt, GV có thể đưa vào theo kiểu hỏi đáp, trong phiếu học tập…và cũng có thể biến đổi bài tập này thành một tư liệu, một câu chuyện để kể, giảng giải cho học sinh….kết hợp một cách hợp lí vào bài giảng 1.5 Một vài vấn đề về HS yếu-kém môn hóa
Trang 30- Chưa nắm vững lý thuyết đã vội làm bài tập
- Chưa có sự liên kết các kiến thức đã học thành một thể thống nhất
- Sự chú ý, óc quan sát, trí tưởng tượng còn yếu; khả năng phân tích, tổng hợp hạn chế
1.5.1.4 Biểu hiện bên ngoài
- Thái độ thờ ơ với việc học, chán nản: trong lớp hay nói chuyện riêng, làm việc riêng, không làm bài tập về nhà, không học lý thuyết, tập vở ghi chép cẩu thả
- Khả năng tiếp thu bài chậm so với HS bình thường
- Đi học không chuyên cần: nghỉ học không phép, cúp tiết
- Làm bài không cẩn thận, sai nhiều lỗi
- Có hành vi vô lễ với thầy cô
1.5.1.5 Điểm số:
- Kết quả các bài kiểm tra thường không cao
- Điểm trung bình các môn tự nhiên liên quan như toán, lý không cao
- Kết quả môn hóa ở các năm học trước thấp
1.5.2 Nguyên nhân học sinh học yếu- kém
1.5.2.1 Giáo viên và nhà trường
Giáo viên:
- Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do một số GV còn yếu kém về năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, việc đổi mới PPDH còn mờ nhạt, chất lượng bài lên lớp chưa tốt
- Có những GV chưa nắm chắc những yêu cầu kiến thức của từng bài Dạy học còn dàn trải, nâng cao kiến thức một cách tùy tiện
- Một số GV chưa quan tâm đúng mức đến đối tượng HS yếu - kém; chưa theo dõi sát sao và xử lý kịp thời các biểu hiện sa sút của HS
Trang 31có phương pháp để đánh giá một cách khách quan
- Đặc trưng của môn hóa là vừa lý thuyết vừa thực nghiệm, việc nghiên cứu
về cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa học, các PƯHH… còn trừu tượng, cần sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học Nhưng điều kiện cơ sở vật chất nhiều trường THPT hiện nay còn hạn chế
- Đa số các lớp học đều có số lượng HS từ 40 đến 60, với trình độ khác nhau: giỏi - khá
- trung bình - yếu - kém GV thật sự khó khăn trong việc tìm ra PPDH chung cho cả lớp
- Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình còn thiếu chặt chẽ, chưa đồng bộ Kênh thông tin cung cấp dữ liệu từ nhà trường đến phụ huynh HS và ngược lại còn hạn chế
1.5.2.2 Gia đình
- Trong hoàn cảnh hiện nay, nhiều phụ huynh bận rộn với cuộc sống mưu sinh, chưa quan tâm đúng mực đến việc học tập cũng như sự phát triển về thể chất và tinh thần của con em mình HS chưa ý thức được trách nhiệm và tầm quan trọng của việc học, thiếu thốn tình cảm, dễ bị cám dỗ bởi các tệ nạn xã hội, xao lãng việc học hành HS không học bài, không chuẩn bị bài trước khi đến lớp
Trang 32- Một số phụ huynh rất quan tâm đến việc giúp đỡ con cái học tập nhưng lại lúng túng trong việc đưa ra phương pháp phù hợp
1.5 2.3 Xã hội
- Tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế, ảnh hưởng của một bộ phận thanh thiếu niên bỏ học, tác động của game online, những tác động xấu của internet do không được định hướng đúng đắn
- HS mất dần khả năng tư duy tự học, tự sáng tạo, tự đào sâu kiến thức Vì điều kiện học tập ngày nay khá đầy đủ: ngoài SGK, HS còn được trang bị nhiều loại sách tham khảo, sách học tốt, sách nâng cao, Ngoài thời gian học ở trường,
HS còn có điều kiện và thời gian học thêm, học kèm ở các thầy cô giáo Thực tế cho thấy, nhiều HS không hề biết cách tự học và chưa bao giờ tự học được
1.5 2.4 Bạn bè
Bước vào tuổi vị thành niên, bạn bè có một vai trò quan trọng HS dễ bị tác động từ bạn bè, từ cái tốt (cố gắng học tập, chơi thể thao, hoạt động Đoàn…), đến cái xấu (sự đua đòi, hút thuốc, đua xe, bỏ học, trò chơi điện tử, bạo lực học đường ) HS rất sợ bị bạn bè tẩy chay hay loại ra khỏi nhóm nếu không hòa nhập theo
Trang 3324
học tập môn hóa
- Năng lực trí tuệ của một số HS hạn chế nên tiếp thu bài còn chậm, khuyết tật (khiếm thính, sức khỏe yếu…)
1.5.3 Những khó khăn khi dạy học sinh yếu- kém
Việc dạy cho HS yếu- kém trong nhà trường là việc làm đòi hỏi nhiều công sức, sự yêu thương, tận tụy và cố gắng của GV Công tác này thường gặp một số khó khăn như sau:
- Về phía chương trình: không có một chương trình nào dành riêng đối tượng này Đặc biệt đối với HS lớp 12, GV phải bù đắp thật đầy đủ không chỉ về kiến thức hổng mà còn phương pháp, các dạng toán cơ bản… để chuẩn bị cho các
kỳ thi quan trọng
- Về phía lãnh đạo nhà trường: rất khó khăn để phối hợp với cha mẹ HS, phần lớn phụ huynh HS yếu - kém ít quan tâm đến việc học của con cái, phó mặc cho giáo viên và nhà trường
- Về phía GV: hầu hết GV đều khá e ngại khi dạy lớp có tỉ lệ HS yếu - kém cao Công việc này đòi hỏi GV phải mất rất nhiều công sức, tâm huyết, thời gian, rất khó khăn để tìm ra phương pháp thích hợp cho từng đối tượng HS, thậm chí có thể ảnh hưởng lớn đến kết quả thi đua cuối học kì, cuối năm
- Về phía HS: chậm hiểu, dễ nản lòng, không hợp tác, khó tập trung…
1.5.4 Một số biện pháp giúp đỡ học sinh yếu - kém đạt được yêu cầu và có kết quả cao hơn trong học tập hoá học ở trường trung học phổ thông
1.5.4.1 Tạo động cơ, gây lòng tin, hứng thú say mê, yêu thích học tập bộ môn cho học sinh
- Tạo hứng thú, sự yêu thích bộ môn qua việc cho HS thấy được vai trò, tầm quan trọng của môn HH trong chương trình phổ thông và cấp học trên; vai trò và tầm quan trọng của HH trong đời sống, trong thực tiễn phát triển khoa học kỹ thuật…
- Tạo cho HS hứng thú bằng sự thay đổi PP, hình thức DH: linh hoạt, đa dạng trong mỗi giờ, mỗi phần, chú ý hoạt động đặc trưng bộ môn (thí nghiệm HH biểu diễn, thí nghiệm thực hành), sử dụng phương tiện kỹ thuật trong DH
Trang 34- Tránh sự nóng vội hay ngược lại là sự buông trôi, phó mặc
- Yêu cầu HS tự nhận thấy nhược điểm trong việc học của riêng mình và tự đưa ra nguyên nhân và hướng giải quyết
- Lắng nghe HS trình bày vấn đề với thái độ chăm chú nhất, tôn trọng và động viên các em GV có thể kích thích tinh thần trách nhiệm bằng cách trao cho HS một
- Bên cạnh việc giúp đỡ các em trong giờ chính khoá, cần phân loại để tổ chức giúp đỡ riêng ngoài giờ theo nhóm HS Những lớp có những HS tích cực, có PP học
Trang 3526
- Trong những tiết học đồng loạt, việc luyện tập được thực hiện theo trình độ chung, nhiều khi không phù hợp với khả năng HS yếu kém Vì vậy khi làm việc riêng với nhóm HS yếu kém, cần dành thời gian để các em tăng cường luyện tập vừa sức mình Và lưu ý những điều sau đây:
+/ Đảm bảo HS hiểu đề làm bài tập: GV giúp các em hiểu rõ đề bài, nắm được
cái gì đã cho, cái gì cần tìm, cần chứng minh
+/ Gia tăng số lượng bài tập cùng thể loại và mức độ: HS yếu kém cần những
bài tập cùng thể loại và mức độ với số lượng nhiều hơn so với các em khá giỏi và trung bình Phần gia tăng này được thực hiện trong những tiết làm việc riêng với nhóm HS yếu kém Những nấc thang đầu dù có thấp nhưng khi HS thành công sẽ tạo nên một yếu tố tâm lý rất quan trọng: các em sẽ tin vào bản thân từ đó có đủ nghị lực và quyết tâm vượt qua tình trạng yếu kém
1.5.4.5 Đổi mới phương pháp dạy học
- Đổi mới PPDH, phải đổi mới từ khâu soạn giảng, quá trình lên lớp, đến kiểm tra đánh giá Bài soạn phải thực sự là bản thiết kế để giáo viên thực hiện trong giờ, kèm theo bản thiết kế là sự chuẩn bị chu đáo các điều kiện cần thiết cho giờ dạy (kiến thức của cả thầy và trò, trang thiết bị, dụng cụ, hoá chất ), trong giờ HS phải được làm việc, tham gia tìm hiểu chiếm lĩnh kiến thức mới
- Để thực hiện tốt vấn đề này GV cần quan tâm tới tất cả các đối tượng học sinh, đặc biệt với HS yếu kém Lồng ghép dạy kiến thức mới với sự bù lấp kiến thức hổng cho HS và dùng kiến thức mới để soi sáng, củng cố kiến thức mà HS đã học trước đó
- GV phải tạo cho các em tìm đến kiến thức này nhiều lần, hướng dẫn các em tìm lại, nhớ lại theo quy luật Sử dụng các hoạt động trên lớp để củng cố kiến thức mới học Sau khi dạy HS những khái niệm cơ bản, GV nên cho HS làm bài tập ngay dựa vào những kiến thức mới
- Giúp HS tạo đường dẫn giữa kiến thức mới với kiến thức đã học Nếu HS có thể liên hệ những kiến thức cũ thì việc học kiến thức mới sẽ diễn ra dễ dàng và thuận lợi hơn
1.5.4.6 Dạy học sinh cách học trong đó có tự học
Trang 361.5.4.7 Thường xuyên kiểm tra, đánh giá học sinh
- Theo dõi sát sao việc thực hiện kế hoạch mà các em đã vạch ra và chắc chắn rằng các em đang làm đúng theo kế hoạch đó
- Kiểm tra thường xuyên với nhiều dạng bài, nhiều hình thức khác nhau : Bài tập trắc nghiệm khách quan, tự luận ; kiểm tra vấn đáp, kiểm tra viết, kiểm tra việc ghi chép, kiểm tra sự chuẩn bị ở nhà ; kiểm tra trong giờ dạy lý thuyết, kiểm tra trong trong giờ thực hành….Đổi mới hình thức và nội dung kiểm tra: kiểm tra theo hướng đòi hỏi người học phải hiểu bài, vận dụng kiến thức, hạn chế lối học vẹt, ghi nhớ máy móc
- Kiểm tra để đánh giá mức độ tiến bộ của từng HS, lấy sự chuyển biến của
HS để động viên khích lệ HS nỗ lực phấn đấu vươn lên trong học tập Bày cho HS cách xây dựng bài tập trong quá trình tự học, tự kiểm tra
1.6 Thực trạng dạy và học hóa học đối với học sinh yếu - kém ở một số trường THPT tại TP HN
1.6.1 Mục đích điều tra
- Tìm hiểu thực trạng việc dạy và học hóa học đối với HS yếu kém tại một
số trường THPT
- Tìm hiểu nguyên nhân việc HS không yêu thích và học yếu môn hóa
- Tìm hiểu những PPDH được GV sử dụng cho các lớp học có tỉ lệ HS yếu kém cao
1.6.2 Đối tượng điều tra
- GV phát 74 phiếu cho 74 GV (trong đó có 53 GV hiện đang theo học lớp cao học chuyên ngành “Lý luận và phương pháp dạy học hóa học” và 21 GV tại
3 trường tôi dự kiến TN)
- 443 HS học chương trình hóa học 12, ban cơ bản, ở các trường THPT tại
Trang 37- Sử dụng phiếu điều tra
1.6.4 Tiến trình điều tra
- Trong buổi học thường kì của lớp cao học ngành Lý luận và phương pháp
dạy học hóa học, tôi đã gửi phiếu điều tra cho các học viên tham gia khóa học
- Trong quá trình tiến hành thực hiện đề tài, chúng tôi đã gửi phiếu điều tra cho GV giảng dạy và HS ở các trường dự kiến TN
1.6.5 Kết quả điều tra
1.6.5.1 Kết quả điều tra tham khảo ý kiến GV
Câu 1: Tâm trạng của thầy/cô khi được phân công dạy lớp 12 có tỉ lệ HS trungbình - yếu cao?
Bảng 1.1: Tâm trạng của GV khi dạy lớp 12 có tỉ lệ HS trung bình - yếu cao
Kết quả cho thấy:
- Hầu hết GV không nhiệt tình, hào hứng khi dạy ở lớp có tỉ lệ HS yếu kém cao Song, không có GV nào cương quyết không nhận
- Có nhiều khó khăn GV phải giải quyết khi nhận lớp học yếu
Câu 2 Ý kiến thầy/cô về bài tập dành cho HS yếu kém trong SGK và SBT hiện nay ?
Trang 38Kết quả cho thấy:
- Có 43,3% GV đồng ý rằng số lượng bài tập trong SGK và SBT dành cho
HS yếu kém ít Như vậy, với lớp có tỉ lệ HS yếu kém cao, GV cần phải soạn thêm bài tập có nội dung thích hợp cho đối tượng HS này
- Có 36,5% GV cho rằng bài tập trong SGK và SBT đối với HS yếu kém là khó Nên GV cần giảng giải từng bước, hình thành phương pháp giải đối với mỗi dạng, có bài tập cho HS áp dụng
- Có 40,5% GV đồng ý kiến thức của bài tập trong SGK và SBT đối với HS yếu kém là khá đầy đủ Đây là một ưu thế của SGK mới hiện hành
Câu 3: Cơ sở nào giúp thầy/cô đánh giá được năng lực học tập của HS lớp mình dạy?
Bảng 1.3: Ý kiến của GV về cơ sở đánh giá được năng lực học hóa của HS
Kết quả cho thấy:
Tất cả GV tham gia khảo sát đều đồng ý dựa vào kết quả các bài kiểm tra trong chương trình để đánh giá lực học của HS Một số cơ sở khác: mức độ tích cực của HS trong giờ học hay kết quả năm học trước cũng được nhiều GV chú ý
Trang 3930
Câu 4: Theo thầy/cô, nguyên nhân nào khiến HS học yếu môn hóa?
Bảng 1.4: Ý kiến của GV về nguyên nhân HS học yếu môn hóa
Kết quả cho thấy:
- Có 74 GV (100%) cho rằng ý thức học tập của HS chưa tốt là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến HS học yếu môn hóa
- Có 70 GV (94,6%) đồng ý việc HS mất kiến thức căn bản là trở ngại lớn cho việc tiếp thu bài
- Các nguyên nhân khác như: gia đình chưa quan tâm đúng mực, thói quen ỷ lại… cũng tác động khá nhiều đến kết quả học tập của HS
Câu 5: Những khó khăn thầy/cô thường gặp khi dạy bài truyền thụ kiến thức mới?
Bảng 1.5: Ý kiến của GV về những khó khăn khi dạy bài truyền thụ kiến thức
mới (%GVđồng ý)
Trang 4031
Kết quả cho thấy:
- Khó khăn lớn nhất GV gặp phải khi dạy bài truyền thụ kiến thức mới là
có nhiều nội dung khó đối với HS (77,0%), tiếp đó là chưa xây dựng được hệ thống bài tập từ dễ đến khó (74,3%) và thiếu hóa chất và dụng cụ thí nghiệm (72,9%)
- Nhiều GV đã khắc phục được khó khăn về thời gian chuẩn bị bài và tài liệu tham khảo
- Việc thiếu hóa chất, dụng cụ thí nghiệm, thiết bị nghe nhìn… là các yếu tố khách quan, phụ thuộc vào cơ sở vật chất của nhà trường; còn việc xây dựng hệ thống bài tập theo mức độ từ dễ đến khó, GV có thể cải thiện sớm, nhằm tăng hiệu quả dạy học GV cần tìm phương pháp thích hợp để việc truyền thụ các kiến thức mới dễ dàng hơn
Câu 6: Những khó khăn thầy/cô thường gặp khi dạy lớp có tỉ lệ HS yếu kém
cao?
Bảng 1.6: Ý kiến của GV về những khó khăn khi dạy học cho lớp có tỉ lệ HS
trung bình - yếu cao
STT
Khó khăn (Mức độ 1 là ít khó khăn, 4 là rất
5 - Khả năng ghi nhớ của HS hạn chế 2,8 20,3 28,3 43,2 5,4
6 - Thiếu kĩ năng tổ chức, quản lý HS 14,9 24,3 20,3 33,8 6,7