1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hợp tác quốc tế trong việc cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan và thực tiễn ở Việt Nam

101 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hải quan Việt Nam đã gia nhập ba công ước của Tổ chức Hải quan thế giới WCO gồm Công ước Kyoto năm 1997, Công ước Kyoto sửa đổi năm 2008 và Công ước HS về Hài hòa mô tả và mã hóa hàng hó

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ ANH TUẤN

hîp t¸c quèc tÕ trong viÖc c¶i c¸ch, hµi hßa hãa thñ tôc h¶i quan vµ thùc tiÔn ë viÖt nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ ANH TUẤN

hîp t¸c quèc tÕ trong viÖc c¶i c¸ch, hµi hßa hãa thñ tôc h¶i quan vµ thùc tiÔn ë viÖt nam

Chuyên ngành: Luật Quốc tế

Mã số: 60 38 01 08

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TIẾN VINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Lê Anh Tuấn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn tới thầy hướng dẫn luận văn của tôi, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Vinh, đã tạo mọi điều kiện, định hướng, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này Trong suốt quá trình nghiên cứu, Thầy đã kiên nhẫn hướng dẫn, trợ giúp và động viên tôi rất nhiều Sự hiểu biết sâu sắc về lĩnh vực luật quốc tế, cũng như kinh nghiệm của Thầy chính là tiền đề giúp tôi đạt được những thành tựu và kinh nghiệm quý báu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích trong thời gian học tập tại trường

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các công chức thuộc Vụ Quan hệ Quốc

tế trực thuộc Tổng cục Hải quan Việt Nam đã cung cấp tài liệu cho tôi để thực hiện luận văn này

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình và bạn bè, những người đã giúp đỡ, động viên tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và làm luận văn

Do thời gian và kiến thức có hạn, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo và các bạn

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Học viên

Lê Anh Tuấn

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các thuật ngữ, chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG VIỆC CẢI CÁCH, HÀI HÒA HÓA THỦ TỤC HẢI QUAN 7

1.1 Khái niệm cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan 7

1.1.1 Thủ tục hải quan 7

1.1.2 Cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan 10

1.2 Ý nghĩa, sự cần thiết của việc cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan 13

1.2.1 Ý nghĩa 13

1.2.2 Sự cần thiết 14

1.3 Hợp tác quốc tế trong việc cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan 15

Chương 2: CÁC CƠ CHẾ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG CẢI CÁCH, HÀI HÒA HÓA THỦ TỤC HẢI QUAN VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM 17

2.1 Hợp tác song phương 17

2.1.1 Hợp tác với Hải quan các nước láng giềng 17

2.1.2 Hợp tác với Hải quan các nước đối tác quan trọng 28

2.2 Hợp tác đa phương 40

2.2.1 Hợp tác hải quan trong khuôn khổ Tổ chức Hải quan thế giới 40

Trang 6

2.2.2 Hợp tác hải quan trong khuôn khổ ASEAN 44

2.2.3 Hợp tác hải quan trong khuôn khổ APEC 45

2.2.4 Hợp tác hải quan trong khuôn khổ ASEM 47

2.2.5 Hợp tác hải quan trong khuôn khổ GMS 48

2.2.6 Hợp tác hải quan trong khuôn khổ WTO 49

2.2.7 Cơ chế một cửa ASEAN và cơ chế một cửa quốc gia 51

2.2.8 Đánh giá chung về hợp tác đa phương 57

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG HỢP TÁC QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG CẢI CÁCH, HÀI HÒA HÓA THỦ TỤC HẢI QUAN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ 59

3.1 Mục tiêu và định hướng hợp tác quốc tế của Việt Nam về cải cách, hài hòa hóa thủ tục Hải quan trong giai đoạn 2015-2020 59

3.1.1 Mục tiêu 59

3.1.2 Định hướng 64

3.2 Một số giải pháp, kiến nghị 70

3.2.1 Tiếp tục triển khai Luật hải quan 2014 70

3.2.2 Tăng cường về hợp tác song phương, đa phương 74

3.2.3 Về tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực 76

3.2.4 Tờ khai hải quan của Việt Nam 76

3.2.5 Hoàn thiện về hạ tầng cơ sở và công nghệ thông tin 79

3.2.6 Tuyên ngôn phục vụ khách hàng 79

3.2.7 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 81

KẾT LUẬN 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 7

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ, CHỮ VIẾT TẮT

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

Clearence System

Hệ thống thông quan tự động của Mianma

Cooperation and Development

Tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế

Singapore

VNACCS/VCIS: Vietnam Automated Cargo

Clearence System/Vietnam Intelligent System

Hệ thống thông quan tự động của Việt Nam

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, hoạt động thương mại quốc tế tăng trưởng mạnh mẽ, điều này là cơ hội và cũng là thách thức với cơ quan quản lý Nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về hải quan, là một trong các ngành được giao quản lý và thực thi các chính sách về hoạt động kinh tế đối ngoại của đất nước Hải quan Việt Nam đã gia nhập ba công ước của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) gồm Công ước Kyoto (năm 1997), Công ước Kyoto sửa đổi (năm 2008) và Công ước HS về Hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa (năm 1998); là đơn vị chủ trì thuộc Bộ Tài chính triển khai cơ chế một cửa quốc gia và Asean; thực hiện mô hình “Một cửa, một lần rừng” tại các cặp cửa khẩu; đồng thời, hải quan Việt Nam đã và đang triển khai dự án thông quan điện tử do Nhật Bản tài trợ (VNACCS/VCIS)… Những yêu cầu thực hiện nghĩa vụ pháp lý trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên đòi hỏi Hải quan Việt Nam phải tiếp tục đổi mới phương thức quản lý theo yêu cầu của quản lý hải quan hiện đại với quy trình thủ tục hải quan thực hiện bằng hình thức điện tử một cách toàn diện trong hầu hết các hoạt động quản lý của hải quan Quán triệt đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua, Hải quan Việt Nam luôn nhận thức rõ vai trò là “người gác cửa của đất nước” về kinh tế Do tính chất đặc thù, hoạt động hải quan luôn gắn liền với hoạt động đối ngoại, an ninh quốc gia, hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư và du lịch quốc tế, Hải quan Việt Nam đã chủ động tiến hành cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan và đã

có những bước tiên phong trong hội nhập Để thực thi các cam kết quốc tế, ngành Hải quan phải tiếp tục cải cách, hiện đại hóa, hài hòa hóa hải quan theo

Trang 9

hướng vừa quản lý chặt chẽ các hoạt động xuất nhập khẩu, thu đúng, đủ tiền thuế cho Nhà nước, vừa tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong điều kiện tự

do hóa thương mại

Công cuộc cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan được bắt đầu từ rất sớm, nhưng rõ nét hơn là bắt đầu từ năm 1990 Để hiện thực hóa mục tiêu trên, ngày 25/3/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 448/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Hải quan đến năm 2020, theo đó “đến năm 2020… thủ tục hải quan chủ yếu được thực hiện bằng phương thức điện tử tại các địa bàn trọng điểm…” Ngày 13 tháng 04 năm

2012, Tổng cục trưởng TCHQ đã ký Quyết định số 821/QĐ-TCHQ thành lập Ban triển khai dự án VNACCS/VCIS; Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định

số 48/2011/QĐ-TTg ngày 31 tháng 08 năm 2011 về việc thí điểm thực hiện cơ chế một cửa quốc gia – đây là nền tảng ban đầu cho việc thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia tại Việt Nam; Ban chỉ đạo quốc gia về cơ chế một cửa ASEAN và

Cơ chế một cửa quốc gia đã ký quyết định số 75/QĐ-BCĐASW ngày 20 tháng

11 năm 2014 về ban hành quy chế quản lý, vận hành, khai thác sử dụng và bảo đảm an toàn thông tin của Cổng thông tin một cửa quốc gia [10, 21] Theo

đó, Việt Nam đã ban hành rất nhiều văn bản mang tính chất pháp quy để triển khai, thực hiện các chương trình nhằm mục tiêu cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan một cách sâu rộng và mang tính định hướng cao

Hiện nay, hệ thống pháp luật về hải quan đã và đang được hoàn thiện theo hướng minh bạch hóa, tạo cơ sở pháp lý cho việc chuyển đổi phương thức quản lý hải quan từ truyền thống sang hiện đại, về cơ bản đã đáp ứng được các yêu cầu của hội nhập quốc tế nói chung Tuy nhiên, để có đủ điều kiện tham gia hội nhập, ngành hải quan có nhiều giải pháp tiếp tục hoàn thiện

hệ thống quản lý, hệ thống pháp luật theo hướng thống nhất, minh bạch, đơn giản, hài hòa và phù hợp các chuẩn mực quốc tế và sớm có được hệ thống quản lý hải quan hiện đại

Trang 10

Chính vì vậy, việc nghiên cứu hợp tác quốc tế trong việc cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn Tuy nhiên, để có đủ điều kiện tham gia hội nhập, ngành hải quan cần có nhiều giải pháp tiếp tục hoàn thiện

hệ thống quản lý, hệ thống pháp luật theo hướng thống nhất, minh bạch, đơn giản, hài hòa và phù hợp các chuẩn mực quốc tế và sớm có được hệ thống

quản lý hải quan hiện đại, tác giả chọn đề tài “Hợp tác quốc tế trong việc cải

cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan và thực tiễn ở Việt Nam” làm luận văn

Thạc sĩ Luật Quốc tế của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Hiện nay, việc cải cách thủ tục hành chính được triển khai ở nhiều nước trên thế giới đặc biệt trong lĩnh vực hải quan bởi đây là một lĩnh vực liên quan trực tiếp đến tạo thuận lợi thương mại, thu hút đầu tư và làm tăng khả năng cạnh tranh của mỗi quốc gia khi tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu

Các nghiên cứu của thế giới liên quan đến cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan hiện nay có thể kể tới các tài liệu như: Cải cách thủ tục xuất nhập khẩu hướng dẫn cho đối tượng thực thi (9/2008) của Ngân hàng thế giới, Sổ tay hiện đại hóa hải quan (2007), [17]

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Hợp tác quốc tế trong việc cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan là vấn

đề cấp bách nhưng mang tính lâu dài và đòi hỏi Việt Nam ta cần có những bước đi đúng đắn Một số công trình đề cập đến vấn đề cải cách, hài hòa hóa

thủ tục hải quan như: “Tiếp tục cải cách, hiện đại hóa Hải quan Việt Nam đáp

ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” (Luận án Tiến sỹ kinh tế của Nguyễn

Ngọc Túc, bảo vệ năm 2007); Báo cáo về Chương trình ''Hiện đại hóa, tự động

hóa'' nhằm tăng cường năng lực Hải quan Việt Nam của TSKH Nguyễn Cát

Trang 11

Hồ, Viện nghiên cứu chiến lược Việt Nam, năm 2002; "Cải cách thủ tục hành

chính trong ngành Hải quan hiện nay" (Luận văn Thạc sỹ ngành Lý luận và

lịch sử nhà nước và pháp luật của Trịnh Phương Thảo, bảo vệ năm 2011)

Những bài viết, công trình nghiên cứu và cả những dự án quốc tế nêu trên, ở góc độ này hay góc độ khác mới chỉ đề cập đến việc cải cách thủ tục hải quan ở một góc độ nhất định mà chưa đánh giá được việc cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan của Việt Nam một cách tổng thể, chưa có những nhận định và quan điểm mang tính tổng quát về vấn đề cải cách, hài hòa hóa của Việt nam trong hợp tác quốc tế Đây là luận văn thạc sỹ luật quốc tế mang tính độc lập, không bị trùng lặp và cần được tiếp tục nghiên cứu

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Bổ sung cơ sở lý luận về các khái niệm cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan trong việc hợp tác quốc tế

- Nghiên cứu, đánh giá, nhận định thực trạng các cơ chế hợp tác quốc

tế trong việc cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan của Việt Nam nhằm đưa ra được những hạn chế, tồn tại nhất định

- Đề xuất quan điểm, định hướng và một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quá trình cai cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan của Việt Nam trong hợp tác quốc tế

Trang 12

4 Tính mới và những đóng góp của đề tài

- Làm rõ thêm về cơ sở khoa học của việc cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan trong hợp tác quốc tế của Việt Nam

- Đánh giá, nhận định, phân tích một cách toàn diện các cơ chế hợp tác quốc tế trong việc cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan của Việt Nam trong thực tiễn

- Nghiên cứu, khái quát một số nội dung các chương trình hợp tác quốc

tế của Việt Nam như: cơ chế một cửa quốc gia và cơ chế một cửa ASEAN; chương trình “Một cửa, một lần rừng” ở các cửa khẩu; cơ chế về Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VICS

- Đưa ra các hạn chế tồn tại trong các cơ chế hợp tác song phương, đa phương từ đó đưa ra một số hạn chế, giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan trong hợp tác quốc tế của Việt Nam

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hợp tác quốc tế trong việc cải cách, hài hòa hóa

thủ tục hải quan và thực tiễn ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ của luận án thạc sỹ, tác giả không có tham vọng phân tích mọi vấn đề liên quan đến việc cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan trong hợp tác quốc tế Tuy nhiên, tác giả sẽ đi sâu phân tích một cách khái quát chung nhất về quá trình cải cách, hài hòa thủ tục hải quan của Việt Nam trong các mối quan hệ song phương, đa phương và thực tiễn ở Việt Nam

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, lý luận chung về nhà nước, chính sách và pháp luật, phương pháp nghiên cứu, tham chiếu và tổng hợp từ các chuẩn mực, khuyến nghị quốc tế

Khi phân tích những nội dung nghiên cứu, luận văn dựa vào các quan

Trang 13

điểm về phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế của Đảng và Nhà nước Ngoài

ra, luận văn kết hợp các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê, luận giải, điều tra xã hội học

Kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có, tranh thủ ý kiến tư vấn của các chuyên gia, các nhà quản lý, các đồng nghiệp hải quan về những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng trang Website để thu thập các thông tin cập nhật về cải cách, hài hòa hoá hải quan của một số nước

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo nội dung của luận văn được kết cấu thành ba chương:

Chương 1: Tổng quan về hợp tác quốc tế trong việc cải cách, hài hòa

hóa thủ tục hải quan

Chương 2: Các cơ chế hợp tác quốc tế trong cải cách, hài hòa hóa thủ

tục hải quan và thực tiễn ở Việt Nam

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện Cơ chế hải quan một cửa

tại Việt Nam

Trang 14

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG VIỆC CẢI CÁCH,

HÀI HÒA HÓA THỦ TỤC HẢI QUAN

1.1 Khái niệm cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan

1.1.1 Thủ tục hải quan

Theo định nghĩa tại Chương 2, Công ước Kyoto: “Thủ tục hải quan là

tất cả các hoạt động tác nghiệp mà bên hữu quan và Hải quan phải thực hiện nhằm đảm bảo sự tuân thủ Luật Hải quan” [7]

Luật Hải quan số 54/2014/QH13 Điều 4, khoản 23 nêu rõ:

Thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của Luật này đối với hàng hóa, phương tiện vận tải” Thủ tục hải quan là một bộ phận nghiệp vụ hải quan nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan Thủ tục hải quan cụ thể hóa, chi tiết hóa những yêu cầu đề ra cho các đối tượng chịu sự quản lý nhà nước về hải quan Các đối tượng đó chỉ được thông quan khi đã hoàn thành thủ tục hải quan Thể lệ thủ tục hải quan được đặt ra vừa có tính chất hướng dẫn, vừa có tính chất bắt buộc phải thi hành đối với các cá nhân, tổ chức tiến hành các hoạt động xuất nhập khẩu [18, Điều 4]

Do thủ tục Hải quan là một bộ phận của hành chính hải quan, chịu sự chi phối của các quy phạm pháp luật hải quan và được thực hiện bởi hệ thống nhân sự hải quan tổ chức theo cơ cấu nhất định do nhà nước đặt ra, nên việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan thông qua thủ tục hải quan phụ thuộc vào ba yếu tố: Hệ thống văn bản pháp luật quy định, điều chỉnh và

có liên quan đến thủ tục hải quan, cơ cấu tổ chức bộ máy hải quan, đội ngũ nhân sự hải quan

Trang 15

Thủ tục Hải quan được xây dựng, thực hiện chủ yếu trên những cơ sở pháp lý sau:

Thứ nhất, do các văn bản pháp luật hải quan quy định, theo đó Tổng cục Hải quan là cơ quan thay mặt Chính phủ, Bộ Tài chính cụ thể hóa các quy định của pháp luật thành các bước thao tác nghiệp vụ để các đơn vị hải quan

cơ sở làm căn cứ tác nghiệp – tạm gọi là “Luật thủ tục”

Thứ hai, Chí phủ, các Bộ, ban ngành là người quy định về các chính sách thuế, chính sách mặt hàng và cơ chế điều hành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu cũng như các rào cản phi thuế quan khác – tạm gọi là “Luật nội dung”

Thứ ba, trên thực tiễn nhiều khi “Luật nội dung” lại quyết định và điều chỉnh “Luật thủ tục”, rõ ràng đây là một bất cập lớn trong tiến trình cải cách thủ tục hành chính về hải quan, cần phải được các cấp, các ngành quan tâm tháo gỡ thỏa đáng và kịp thời [14, 28]

1.1.1.1 Nội dung của thủ tục hải quan

Nội dung của thủ tục hải quan là toàn bộ các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện trong quá trình làm thủ tục hải quan, kể từ khi khai và nộp tờ khai hải quan cho đến khi có quyết định thông quan hàng hóa

Đối với người khai hải quan, khi làm thủ tục hải quan, phải thực hiện tuần tự các công việc:

- Khai và nộp tờ khai hải quan; nộp, xuất trình chứng từ thuộc hồ sơ hải quan; trong trường hợp thực hiện thủ tục hải quan điện tử, người khai hải quan được khai và gửi hồ sơ hải quan thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của Hải quan;

- Đưa hàng hoá, phương tiện vận tải đến địa điểm được quy định cho việc kiểm tra thực tế hàng hoá, phương tiện vận tải;

- Nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật

Trang 16

Đối với công chức hải quan, khi làm thủ tục hải quan phải:

- Tiếp nhận và đăng ký hồ sơ hải quan; trong trường hợp thực hiện thủ tục hải quan điện tử, việc tiếp nhận và đăng ký hồ sơ hải quan được thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của Hải quan;

- Kiểm tra hồ sơ hải quan và kiểm tra thực tế hàng hoá, phương tiện vận tải;

- Thu thuế và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật;

- Quyết định việc thông quan hàng hoá, phương tiện vận tải

1.1.1.2 Tính chất của thủ tục hải quan

Thủ tục hải quan là thủ tục hành chính vì nó thực hiện quyền hành pháp trong lĩnh vực hải quan và do cơ quan quản lý hành chính nhà nước thực hiện,

mà cụ thể ở đây là cơ quan hải quan

Thủ tục hải quan có các tính chất cơ bản sau:

Tính hành chính bắt buộc: Tất cả các hàng hóa, phương tiện vận tải xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh đều phải làm thủ tục hải quan Nếu không làm thủ tục hải quan hoặc làm thủ tục hải quan không đúng, không đầy đủ theo quy định của pháp luật đều không được chấp nhận thông quan, và như vậy, hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa không thể thực hiện được

Tính trình tự và liên tục: Nói đến thủ tục là phải nói đến tính trình tự của nó, tức nói cụ thể đến việc nào, bước nào thực hiện trước, việc nào, bước nào thực hiện sau Kết quả của bước trước là tiền đề, là căn cứ, là cơ sở để thực hiện bước tiếp theo Đồng thời việc làm thủ tục hải quan phải đảm bảo tính liên tục Tính liên tục được thể hiện cụ thể ở các quy định về thời gian làm thủ tục hải quan và ở các quy trình nghiệp vụ cụ thể trong dây chuyền làm thủ tục hải quan Tính chất này quy định bước sau phải là kết quả của bước trước và sự kế tiếp của bước trước để hạn chế những sai sót trong dây chuyền làm thủ tục hải quan

Trang 17

Tính thống nhất: Tính chất này thể hiện ở sự thống nhất trong suốt dây chuyền làm thủ tục hải quan Thống nhất ở tất cả các địa điểm làm thủ tục hải quan trong phạm vi cả nước, không cho phép thủ tục hải quan ở nơi này làm thủ tục hải quan ở nơi khác

Tính công khai hóa và minh bạch hóa: Để đảm bảo tính thống nhất của thủ tục hải quan, tất yếu thủ tục hải quan phải được công khai hóa và minh bạch hóa bởi đây là thủ tục hành chính bắt buộc Tính chất này được thể hiện

ở chỗ thủ tục hải quan được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật và được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng

1.1.2 Cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan

1.1.2.1 Khái niệm cải cách thủ tục hải quan

Cải cách thủ tục hải quan thực chất là làm đơn giản hóa, công khai hóa

và từng bước hiện đại hóa công tác hải quan Quá trình này sẽ tạo ra môi trường thông thoáng cho hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư, du lịch… đáp ứng yêu cầu chính sách mở cửa kinh tế của đất nước; ngăn chặn, hạn chế quan liêu cửa quyền, phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực nội bộ trong các tổ chức thực thi nhiệm vụ hải quan, gắn liền với đấu tranh chống buôn lậu, tham nhũng và xây dựng lực lượng hải quan trong sạch, vững mạnh [35]

Do đó, đối với lĩnh vực Hải quan, thì cải cách thủ tục hành chính, trung tâm là cải cách thủ tục Hải quan bởi lẽ:

- Cải cách thủ tục Hải quan thực chất là làm đơn giản hóa, công khai hóa và từng bước hiện đại hóa công tác Hải quan Quá trình này sẽ tạo ra môi trường thông thoáng cho hoạt đông xuất nhập khẩu, đầu tư, du lịch đáp ứng yêu cầu chính sách mở cửa kinh tế của đất nước; ngăn chặn, hạn chế quan liêu cửa quyền, phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực nôi bô trong các tổ chức thực thi nhiệm vụ Hải quan, gắn liền với đấu tranh chống buôn lậu, tham nhũng và xây dựng lực lượng Hải quan trong sạch, vững mạnh

Trang 18

- Cải cách thủ tục Hải quan là khâu đột phá để thực hiên hoàn thiên đổng bộ công tác quản lý Hải quan từ quản lý Nhà nước đến quản lý nghiệp

vụ Hải quan

- Cải cách thủ tục Hải quan bắt buộc cải cách đổng bộ thể chế hành chính Hải quan bao gổm: tổ chức bộ máy, luật pháp và hệ thống nhân sự Hải quan

- Cải cách thủ tục Hải quan nhằm giảm chi phí xã hội

Công tác quản lý Hải quan có tác động trực tiếp, gián tiếp làm thay đổi chi phí của nền kinh tế đối với lĩnh vực Hải quan Chẳng hạn, một thủ tục Hải quan với thời gian ngắn sẽ làm lợi cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu một lượng chi phí đầu vào đáng kể; hoặc ngược lại, một thủ tục Hải quan phức tạp dẫn đến ùn tắc hàng hóa của doanh nghiệp tại cửa khẩu, sẽ làm gia tăng chi phí và thời gian của doanh nghiệp Tương tự, một kết quả kiểm hóa không chính xác có thể dẫn đến thiệt hại cho doanh nghiệp, cho chính cơ quan Hải quan và gây nhiều thiệt hại khác Đứng ở góc độ doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu, thủ tục Hải quan không làm tăng giá bán sản phẩm xuất khẩu nhưng làm tăng chi phí đầu vào của sản phẩm đó Mức tăng này phụ thuộc cung cách quản lý Hải quan Với giả định đó, doanh nghiệp chấp hành luật Hải quan tốt, thì trình tự thủ tục Hải quan, thái độ xử lý của công chức Hải quan đối với bộ hổ sơ Hải quan lại là “yếu tố” làm tăng hay tiết kiệm chi phí đầu vào, làm tăng hay giảm chi phí cơ hội của doanh nghiệp Đứng ở góc độ toàn nền kinh tế, chỉ trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, thủ tục Hải quan kém hiệu quả sẽ có tác động: Làm tăng chi phí đấu vào sản phẩm xuất khẩu do vậy làm giảm lợi nhuận kinh doanh xuất khẩu; làm tăng giá nhập khẩu mà doanh nghiệp hoặc người tiêu dùng phải gánh chịu, nâng cao chi phí hoạt động của ngành Hải quan, gia tăng chi phí cơ quan quản lý chức năng, thiệt hại của nền kinh tế do việc ùn tắc giao thông, bến bãi; tăng chi phí cơ hội của doanh nghiệp do lỡ cơ hội đầu tư, kinh doanh

Trang 19

Cơ quan Hải quan hiện đại không chỉ đơn thuần là người thực thi pháp luật mà còn phải có mục đích đóng góp cho sự phổn thịnh của nền kinh tế quốc gia Những thay đổi về Hải quan tác động đến các cơ quan khác, đến khu vực tư nhân và toàn thể công chúng ở góc độ tổng thể Chính vì vậy, điều hết sức quan trọng là phải xem xét toàn bộ những nhu cầu và nhìn nhận của những đối tác chịu ảnh hưởng từ các hoạt động của cơ quan Hải quan, những đổi mới về Hải quan sẽ tiếp tục bao quát mối liên lạc với mọi bên có liên quan

để đảm bảo rằng bất kỳ thay đổi nào cũng phản ánh yêu cầu của Chính phủ, của nền kinh tế, của doanh nghiệp, của cộng đổng xã hội và các yêu cầu khác của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Hải quan là một lĩnh vực quan trọng gắn liền với hoạt đông đối ngoại

và kinh tế đối ngoại, nên nhà nước phải có chính sách thích hợp để nó vừa bảo vê tối đa lợi ích và chủ quyền quốc gia, nhưng vừa phải phù hợp với phong tục và thông lê quốc tế Nhất là trong điều kiên Nhà nước thực hiên chủ trương mở cửa kinh tế, nước ta ngày càng gia nhập với nhiều tổ chức kinh

tế, thương mại khu vực và quốc tế Trong tiến trình hội nhập này, chúng ta phải thực hiên đầy đủ, nghiêm túc các cam kết song phương, đa phương Trong đó Hải quan là một lĩnh vực “nhạy cảm”, bắt buộc phải cải cách, hoàn thiên thủ tục sao cho phù hợp với các điều ước, cam kết quốc tế mà mình đã tham gia Nếu cải cách thủ tục Hải quan không quán triêt quan điểm phải phù hợp với thông lê quốc tế và tiến trình hội nhập, thì rõ ràng nước ta rất khó thực hiên chính sách mở cửa, mở rông quan hê quốc tế song phương, đa phương cùng có lợi

1.1.2.2 Khái niệm hài hòa hóa thủ tục hải quan

Chưa có khái niệm chung nào về hài hòa hóa, tuy nhiên hiểu theo góc

độ thông thường thì có thể nói hài hòa hóa là việc làm của các quốc gia sao cho các quy định của quốc gia gần với các quy định của các tổ chức, quốc gia

Trang 20

mà mình tham gia Như vậy, khái niệm hài hòa hóa thủ tục hải quan có thể được hiểu là việc khái quát hóa, cụ thể hóa các công cụ, tiêu chuẩn và các biện pháp khác của một quốc gia làm cho các quy định liên quan đến thủ tục hải quan gần với các quy định của cá tổ chức, quốc gia khác mà mình tham gia hoặc quan hệ hợp tác

1.2 Ý nghĩa, sự cần thiết của việc cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan

Thứ hai, về chính trị, cải cách hành chính trong ngành Hải quan thể

hiện quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng trong từng thời kỳ khác nhau

của lịch sử Nước ta đang bước vào thời kỳ hiện đại hóa, công nghiệp hóa, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, để thực hiện hóa các mục tiêu đó thì cần thiết phải cải cách hành chính

Thứ ba, về an ninh quốc gia, cơ quan hải quan được đặt chủ yếu tại các

biên giới quốc tế không chỉ như biểu tượng của chủ quyền quốc gia mà còn

như bức tường nước trước những mối đe dọa bên ngoài về y tế, an toàn môi trường; bảo hộ nền sản xuất trong nước và đảm trách nhiệm vụ thu thuế cho ngân sách nhà nước

Thứ tư, về hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế là một yêu

cầu không thể thiếu khi phát triển kinh tế Do đó, cải cách, hài hòa hóa thủ tục

hải quan sẽ là chất xúc tác cho quá trình này diễn ra một cách thuận lợi nhất là khi thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan hiện nay được coi là một trong những yếu tố rào cản đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào khi muốn tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu [31]

Trang 21

1.2.2 Sự cần thiết

Như đã nói ở trên, việc thực hiện cam kết quốc tế đặt ra yêu cầu ngành Hải quan Việt Nam phải tiến hành cải cách, hài hòa hoá thủ tục hải quan nhằm đảm bảo sự phù hợp, tương thích với xu thế phát triển chung và hoà nhập với Hải quan thế giới và khu vực Nhìn từ tổng thể, có những yếu tố và

lý giải sự cần thiết của cải cách, hài hóa thủ tục hải quan sau đây:

Thứ nhất, ngành Hải quan phải tiếp tục cải cách, hài hòa hóa thủ tục nhằm hướng đến mục tiêu tương đồng với trình độ quản lý hải quan các nước tiên tiến trong khu vực, trên thế giới và đáp ứng các yêu cầu hội nhập của Việt nam

Thứ hai, cải cách, hài hòa hoá thủ tục Hải quan để nâng cao năng lực quản lý cả về chất lượng và hiệu quả nhằm giải quyết các mâu thuẫn giữa sự tăng nhanh của khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, phương tiện, hành khách xuất nhập cảnh, yêu cầu tạo thuận lợi cho thương mại, đầu tư, du lịch trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế

Thứ ba, cải cách, hài hòa hoá thủ tục Hải quan để tạo thuận lợi, thông thoáng cho hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư, du lịch góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước

Thứ tư, nhằm thực hiện các quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước về ngăn chặn tệ nạn tham nhũng, tiêu cực, đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực hải quan

Vì vậy, cải cách và hài hòa hóa thủ tục hải quan có thể coi là cuộc cách mạng về phương thức quản lý hải quan, là bước thay đổi cơ bản trong mô hình quản lý hải quan Việc đánh giá hồ sơ hải quan ban đầu không còn là công việc của riêng bộ phận đăng ký tờ khai, việc ra quyết định kiểm tra hải quan không phải dựa trên xác định chủ quan của công chức hải quan và lãnh đạo Chi cục cửa khẩu, mà tất cả hệ thống thông tin tập trung sẽ thực hiện theo các tiêu chí quản lý rủi ro Cơ quan hải quan chuyển từ kiểm tra kiểm soát

Trang 22

từng lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu như hiện nay sang quản lý toàn bộ thông tin về quá trình hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp, đồng thời tập trung xử lý các nguồn thông tin khác nhau, do vậy sẽ nâng cao hiệu quả quản lý, tăng cường chống buôn lậu, gian lận thương mại, đảm bảo thu đúng thu đủ thuế [33]

1.3 Hợp tác quốc tế trong việc cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan

Sau năm 2005, các hoạt động quản lý của Hải quan Việt Nam đã được định hướng rõ theo các chuẩn mực hải quan hiện đại ở phạm vi khu vực và thế giới Hải quan Việt Nam đã và đang tích cực chuyển đổi phương pháp quản lý hải quan, giải quyết thách thức về sự gia tăng nhanh chóng của khối lượng công việc so với năng lực thực tiễn của cơ quan hải quan, lấy cải cách, hiện đại hóa làm cơ sở, tập trung tăng cường hiện đại hóa hải quan, hài hòa hóa các quy định của quốc tế và khu vực nhằm đảm bảo sự phát triển chung của toàn ngành Nỗ lực này được thể hiện qua việc Luật Hải quan sửa đổi

2005 đã được thông qua, việc triển khai các Kế hoạch cải cách và phát triển theo Quyết định 810 cho giai đoạn 2005-2007 và quyết định 456 cho giai đoạn 2008-2010 của Bộ Tài chính, mà kết quả là việc triển khai dự án Hiện đại hóa Hải quan (dự án Ngân hàng Thế giới), việc thực hiện hệ thống thông quan điện tử VNACCS/VCIS và triển khai thí điểm cơ chế một cửa quốc gia,

sự tham gia của Việt Nam vào WTO với hàng loạt các cam kết có tính ràng buộc cao cho các thành viên Theo đó, đã có rất nhiều các văn bản được ban hành để triển khai các chương trình này như: Quyết định số 448/QĐ-TTg ngày 25/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020; Tổng cục trưởng TCHQ đã ký Quyết định số 821/QĐ-TCHQ ngày 13 tháng 04 năm 2012 thành lập Ban triển khai dự án VNACCS/VCIS; Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 48/2011/QĐ-TTg ngày 31 tháng 08 năm 2011 về việc thí điểm thực hiện cơ chế một cửa quốc

Trang 23

gia – đây là nền tảng ban đầu cho việc thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia tại Việt Nam; Ban chỉ đạo quốc gia về cơ chế một cửa ASEAN và Cơ chế một cửa quốc gia đã ký quyết định số 75/QĐ-BCĐASW ngày 20 tháng 11 năm

2014 về ban hành quy chế quản lý, vận hành, khai thác sử dụng và bảo đảm

an toàn thông tin của Cổng thông tin một cửa quốc gia [10, 21] Mới đây nhất, tại thủ đô Kuala Lumpur Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đã ký kết Nghị định thư về khung pháp lý thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN vào ngày

19 tháng 03 năm 2015 [13]

Trong bối cảnh đó, công tác hội nhập và hợp tác quốc tế của ngành Hải quan đã có những bước chuyển mạnh mẽ nhằm góp phần thúc đẩy tiến trình cải cách, hài hóa hóa thủ tục hải quan Bên cạnh đó, quá trình này cũng bộc lộ một số hạn chế, và gặp phải những khó khăn nhất định trong bối cảnh tiến trình hội nhập ngày càng sâu rộng Đặc biệt trong giai đoạn này, yêu cầu hội nhập chung và hội nhập kỹ thuật nghiệp vụ, mà cụ thể là về mặt thủ tục hải quan theo hướng hiện đại hóa ngày càng cao, vừa phải đảm bảo tuân thủ vừa phải tạo thuận lợi cho thương mại Đây cũng là giai đoạn hàng loạt các Hiệp định tự do thương mại được đàm phán, ký kết

Trang 24

Chương 2

CÁC CƠ CHẾ HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG CẢI CÁCH, HÀI HÒA HÓA THỦ TỤC HẢI QUAN VÀ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM

2.1 Hợp tác song phương

2.1.1 Hợp tác với Hải quan các nước láng giềng

2.1.1.1 Với Hải quan Lào và Hải quan Campuchia

Hoạt động hợp tác với các nước láng giềng được thiết lập và duy trì trên cơ sở quan hệ truyền thống hỗ trợ giao thương và phát triển thương mại cũng như thực hiện nhiệm vụ đối ngoại và đảm bảo an ninh quốc phòng tại biên giới Các hoạt động hợp tác giữa Việt Nam và các nước láng giềng trong lĩnh vực hải quan luôn được Đảng và Nhà nước chú trọng Tuy mỗi quốc gia láng giềng đều có điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội nhất định nhưng trong suốt quá trình hợp tác, ngành hải quan luôn giữ được mối quan hệ hợp tác gắn

bó và có một số quan hệ hợp tác tương đồng

Trong quan hệ hợp tác với hải quan Lào và Campuchia chúng ta luôn giữ được mối quan hệ hợp tác nồng ấm, thân thiệt, có tính chất đặc biệt nhất trong các mối quan hệ, hợp tác song phương của hải quan Việt Nam Một số các hoạt động nổi bật trong quan hệ hợp tác quốc tế với Hải quan Lào và Hải quan Campuchia chủ yếu bao gồm:

- Hỗ trợ lẫn nhau, trao đổi cung cấp thông tin phục vụ công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại;

- Chia sẻ kinh nghiệm trong các lĩnh vực nghiệp vụ: phân loại hàng hóa, quản lý và thu thuế xuất nhập khẩu; quản lý rủi ro, công tác xác định trị giá, công tác kiểm tra sau thông quan;

- Hợp tác trong việc triển khai mô hình “một cửa, một lần dừng” Đây

là một dự án mang tính chất rất quan trọng trong việc cải cách, hài hòa hóa

Trang 25

thủ tục hải quan trong quá trình hợp tác quốc tế mà cụ thể là đối với quan hệ song phương với quốc gia Lào và Campuchia Để có cái nhìn sâu rộng về chương trình này, tác giả xin dành một phần để nói riêng về quá trình triển khai, nội dung hợp tác và một số khó khăn, hạn chế ở phần tiếp theo

Đối với đường biên giới của Việt Nam với các nước Lào, Campuchia ngành Hải quan cùng với các lực lượng Biên phòng, An ninh, các lực lượng chính quyền xã biên giới thường xuyên tổ chức và tham dự các cuộc họp liên tịch với lực lượng quản lý cửa khẩu nhằm thông báo cho nhau tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới mỗi bên, thông báo về tình hình giải quyết các đối tượng xuất nhập biên trái phép, tình hình quản lý cột mốc, tình hình giải quyết thủ tục xuất nhập cảnh [43]

Trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về điều tra chông buôn lậu và trao đổi

số liệu thống kê Hải quan giữa Hải quan Việt Nam với Hải quan Lào và Hải quan Campuchia được thực hiện từ nhiều năm nay, liên tục và hiệu quả Hải quan hai nước láng giềng đã cung cấp, hỗ trợ Hải quan Việt Nam trong công tác xác minh các vụ việc liên quan tới xuất nhập khẩu gỗ, xăng dầu một cách đầy đủ, nghiêm túc Nhìn chung, hợp tác Hải quan Việt với Hải quan Lào và Hải quan Campuchia có tính ổn định, có chương trình gồm nội dung hoạt động, thời gian thực hiện cụ thể… đáp ứng đư ợc yêu cầu hợp tác , góp phần vào quá trình cải cách hiện đại hoá hải quan của mỗi nước và thúc đẩy

thương ma ̣i song phương , góp phần tăng cường mối quan hệ truyền thống của các nước [43]

Tuy nhiên, trong mối quan hệ hợp tác thì Hải quan Lào và Hải quan Campuchia nhìn chung thường không chủ động trong các hoạt động hợp tác, nhiều hoạt động cần ý kiến (như góp ý vào các dự thảo Thỏa thuận hợp tác), Hải quan Việt Nam đều phải chủ động, thúc giục phía Hải quan hai nước trên nhiều lần, qua nhiều kênh khác nhau Các hoạt động hợp tác hiện nay rời rạc,

Trang 26

mang tính sự vụ, không có kế hoạch và thời điểm hoạt động trước do đặc điểm quan hệ hợp tác giữa các nước nên không có ngân sách dành cho hoạt động hợp tác đặc thù với Hải quan Campuchia và Hải quan Lào Do đó, đặc điểm này gây ảnh hưởng tới tình hình hợp tác chung

2.1.1.2 Hợp tác với Hải quan Trung Quốc

Trung Quốc là một trong ba quốc gia láng giềng có mối quan hệ hợp tác đặc biệt với VN Trong bối cảnh đó, từ những năm trước đây, Hải quan

Việt Nam và Hải quan Trung Quốc đã ký hai thỏa thuận: “Thỏa thuận về hợp

tác và giúp đỡ lẫn nhau giữa Tổng cục Hải quan nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và Tổng cục Hải quan nước CHND Trung Hoa”, và “Thỏa thuận giữa Tổng cục Hải quan nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và Tổng cục Hải quan nước CHND Trung Hoa về hợp tác chống buôn lậu” ký ngày 26/11/1993 tại

Hà Nội, và một số văn bản nghi nhớ cấp ngành nhằm triển khai thực hiện hai Thỏa thuận này, đặt cơ sở cho quan hệ hợp tác giữa hai bên [20]

Hải quan Việt Nam và Hải quan Trung Quốc đã tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực như hợp tác trao đổi kinh nghiệm nghiệp vụ, trao đổi thông tin nhằm tăng cường chống buôn lậu và gian lận thương mại Hoạt động hợp tác được thực hiện ở cả cấp Tổng cục và Hải quan địa phương có biên giới liền kề

Ở cấp Tổng cục, Hội nghị Tổng cục trưởng giữa Hải quan Việt Nam và Hải quan Trung Quốc được tổ chức hàng năm cho tới lần tổ chức gần nhất vào tháng 6/2010, tại Hà Nội Cho tới nay, hai bên đều duy trì mối quan hệ này

Ở cấp địa phương, Hội đàm giữa cụm Hải quan các tỉnh, thành phố Điện Biên, Lào Cai, Hải Phòng, Hà Giang – Việt Nam với Hải quan Côn Minh – Trung Quốc đã tổ chức được 7 lần Hội đàm giữa cụm Hải quan các tỉnh Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng – Việt Nam với Hải quan Nam Ninh – Trung Quốc mới được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2012 theo hình thức “tứ

Trang 27

phương lưỡng quốc” Đây là mô hình học tập theo mô hình của cụm Hải quan các tỉnh, thành phố Điện Biên, Lào Cai, Hải Phòng, Hà Giang – Việt Nam với

Hải quan Côn Minh – Trung Quốc do phía Hải quan Nam Ninh đề xuất [43]

Biên giới Việt Nam – Trung Quốc dài khoảng 1.406km Việt Nam có bảy tỉnh biên giới tiếp giáp với Trung Quốc thuộc địa bàn quản lý của 6 Cục Hải quan tỉnh gồm: Điện Biên, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, có 05 cửa khẩu quốc tế trong đó có 03 cửa khẩu đường bộ; 02 cửa khẩu đường sắt; 04 cửa khẩu chính; 17 cửa khẩu phụ trong đó có 13 cửa khẩu phụ song phương và 04 cửa khẩu phụ đơn phương bên Việt Nam; 10 lối mở; 01 điểm thông quan biên giới; khoảng 59km đường mòn qua lại biên giới Do địa hình Việt Nam và Trung Quốc có đường biên giới tiếp giáp trải dài dọc 6 tỉnh nên tình hình buôn lậu trên biên giới diễn ra rất phức tạp Nhận thức được vấn đề đó, Hải quan địa phương Việt Nam và Hải quan đối diện đã xây dựng các nhóm hợp tác thường xuyên tổ chức Hội đàm luân phiên nhằm đánh giá tình hình thương mại, các diễn biến buôn lậu dọc biên giới hai nước Đồng thời, hai Bên cũng trao đổi kinh nghiệm quản lý hải quan, phối hợp đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, tạo thuận lợi cho hoạt động thông

quan của các doanh nghiệp nhằm khuyến khích thương mại giữa hai nước

Hoạt động hợp tác trao đổi thông tin trong công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại luôn được hai Bên quan tâm Căn cứ Thỏa thuận hợp tác chống buôn lậu giữa Tổng cục hải quan nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tổng cục Hải quan nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ký ngày 26/11/1993 [20], Hải quan Việt Nam và Hải quan Trung Quốc đã có quá trình hợp tác lâu dài trong công tác điều tra chống buôn lậu Hải quan hai nước định kỳ (một lần/năm) tổ chức cuộc họp Hải quan biên giới để thảo luận các hoạt động hợp tác, đặc biệt là hợp tác trao đổi thông tin phục vụ công tác điều tra chống buôn lậu Cuộc họp này nhằm đánh giá hoạt động chống buôn lậu,

Trang 28

đấu tranh chống gian lận thương mại và phối hợp hợp tác chống buôn lậu giữa Hải quan Việt Nam và Hải quan Trung Quốc trên toàn tuyến từ cấp Tổng cục đến cấp địa phương Hội nghị này đã tổ chức được tám lần (Hội nghị lần tám

được tổ chức từ ngày 7 – 10/5/2014 tại Bắc Kinh – Trung Quốc) [20]

Mặc dù hai Bên thường xuyên trao đổi và phối hợp với nhau xác minh các vụ án buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới hai nước, tuy nhiên hợp tác chống buôn lậu giữa hai bên vẫn còn hạn chế so với tình hình buôn lậu phức tạp dọc biên giới Ngoài ra, mặc dù hai bên đã có Thỏa thuận

về hợp tác chống buôn lậu tuy nhiên, việc trao đổi, xác minh thông tin về cơ bản vẫn dựa trên nguyên tắc có đi có lại Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều khó khăn, lợi dụng những chính sách thông thoáng của nhà nước, các đối tượng buôn lậu câu kết thành đường dây, tổ chức buôn bán, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới với nhiều thủ đoạn tinh vi Tuy nhiên với sự

nỗ lực của toàn ngành, Hải quan Việt Nam tiếp tục đạt được những kết quả đáng khích lệ

Mặc dù đạt được kết quả nhất định song hoạt động hợp tác trao đổi thông tin, hỗ trợ điều tra giữa hai Bên trong thời gian qua vẫn còn tồn tại các hạn chế nhất định, tác giả xin nhận định như sau:

- Việc phối hợp trao đổi thông tin của lực lượng điều tra chống buôn lậu giữa Hải quan hai nước mang tính sự vụ Việc liên lạc trao đổi thông tin còn bị gián đoạn, quá trình xử lý và phản hồi kết quả còn chậm do quy định

và quy trình xử lý thông tin của hai bên

- Đối với hải quan cấp tỉnh, hai bên chưa kịp thời thông báo cho nhau những mặt hàng cấm XNK hay hạn chế XNK mà mỗi nước quy định Việc trao đổi, cung cấp thông tin phục vụ công tác đấu tranh chóng buôn lậu, gian lận thương mại chưa thường xuyên

- Tội phạm ma túy trên tuyến biên giới Việt – Trung có những diễn

Trang 29

biến khá phức tạp, đã có dấu hiệu hình thành các đường dây buôn bán, vận chuyển ma túy qua biên giới Cần có cơ chế trao đổi thông tin và hình thức hợp tác cụ thể, nhanh chóng và hữu hiệu hơn

- Nhiều yêu cầu thông tin chưa được sàng lọc dẫn tới có những thông tin yêu cầu vượt quá thẩm quyền của phía được yêu cầu hoặc hồ sơ cung cấp

để hỗ trợ xác minh không đầy đủ dẫn tới hạn chế trong kết quả xác minh (thường có những yêu cầu hỗ trợ trong phạm vi rộng, số lượng lớn do đó bên được yêu cầu khó đáp ứng)

2.1.1.3 Tình hình thực hiện mô hình “Một cửa, một lần rừng” tại các cặp cửa khẩu

Các nỗ lực của Việt Nam nhằm ưu tiên xúc tiến thương mại và các biện pháp đầu tư sẽ được định hướng bởi Khung Chiến lược Hành động về Xúc tiến Thương mại và Đầu tư (SFA – TFI) được thông qua tại Hội nghị Thương đỉnh GMS lần 2 SFA-TFI bao gồm 4 lĩnh vực ưu tiên: i) các thủ tục hải quan; ii) các biện pháp thanh tra và kiểm dịch; iii) cung ứng thương mại; và iv) sự dịch chuyển của doanh nhân Một sáng kiến quan trọng nhất là việc thực thi Hiệp định về tạo thuận lợi vận tải người và hàng hóa qua lại biên giới giữa các nước tiểu vùng Mê Kông mở rộng (CBTA), góp phần thúc đẩy vận chuyển người và hàng hóa xuyên biên giới trong tiểu vùng CBTA có hiệu lực

từ năm 2003 với sự phê chuẩn của tất cả sáu quốc gia thành viên GMS Việc triển khai bước đầu CBTA được thực hiện ở cửa khẩu Đen-sa-vẳn – Lao Bảo

từ tháng 6/2005 [15]

Liên quan đến việc triển khai bước đầu CBTA, các Bên liên quan thống nhất thực hiện Mô hình Một cửa, một lần dừng tại các cặp cửa khẩu Tại Việt Nam, các cặp cửa khẩu được xác định để triển khai mô hình là: Lao Bảo - Đen sa vẳn; Lào Cai – Hà Khẩu; Mộc Bài – Bà Vẹt Tuy nhiên, cho đến nay,

Mô hình mới chỉ triển khai được tại cặp cửa khẩu Lao Bảo – Đen sa vẳn

Trang 30

Chương trình tại cặp cửa khẩu Lào Cai – Hà Khẩu được triển khai và đạt được một số thành công nhất định sau:

Bản ghi nhớ giữa Chính phủ CHND Trung Hoa và Chính phủ CHXHCN Việt Nam về bước đầu thực hiện CBTA tại cặp cửa khẩu Lào Cai – Hà Khẩu (Bản ghi nhớ), ký ngày 20/3/2007, quy định mô hình kiểm tra một lần dừng tại cặp cửa khẩu này được thực hiện như sau:

Giai đoạn 1: Thực hiện các biện pháp chính nhằm tạo thuận lợi cho việc làm thủ tục qua biên giới, bao gồm cả việc thực hiện kiểm tra một cửa Thời gian bắt đầu thực hiện: 30/9/2007

Giai đoạn 2: thực hiện mô hình kiểm tra một lần dừng như được quy định tại Phụ lục 1 của Bản ghi nhớ, sau khi hoàn thành việc chỉnh sửa một số quy định luật pháp liên quan đến việc cho phép công chức của hai nước thực hiện công vụ trên lãnh thổ của phía Bên kia

Trong thực tế đã được thực hiện cụ thể như sau:

Giai đoạn 1: Ngay trong thời gian đàm phán, phía Việt Nam đã thực hiện kiểm tra theo mô hình một cửa như khái niệm của GMS: Hải quan, Kiểm dịch, Xuất nhập cảnh làm việc trong nhà liên hợp tại cửa khẩu Lào Cai Như vậy, trong thực tế Việt Nam đã thực hiện giai đoạn 1 trước thời hạn 30/9/2007

Giai đoạn 2: Chưa được thực hiện vì lý do tại mục A A1 (ii) của MOU ghi nhận: Việc các cơ quan chức năng của hai Bên phối hợp thực hiện một cách đồng thời thủ tục qua biên giới tại khu vực kiểm tra chung sẽ được tiến

hành sau khi có sự sửa đổi luật pháp quốc gia, nếu cần, để đảm bảo cho phép công chức của hai nước được thực hiện công vụ trên lãnh thổ của Bên kia

Kiểm tra một cửa và một lần dừng sẽ được tiến hành theo mô hình được ghi nhận tại Bản đính kèm 1 của MOU Tuy nhiên, hai Bên, với sự chấp thuận của NTFC của hai nước, cũng có thể xem xét việc áp dụng một trong các mô hình kiểm tra được nêu tại điều 4, phụ lục 4 của CBTA Cho tới nay phía

Trang 31

Trung Quốc chưa thông báo về việc luật pháp Trung Quốc đã được sửa đổi phù hợp với việc thực hiện kiểm tra một cửa, một lần dừng theo mô hình đã được ghi nhận tại Bản đính kèm 1 của MOU

Chương trình tại cặp cửa khẩu Mộc Bài – Bà Vẹt được triển khai như sau: Theo bản ghi nhớ giữa Chính phủ Vương quốc Campuchia và Chính phủ CHXHCN Việt Nam về bước đầu thực hiện CBTA tại cặp cửa khẩu Mộc Bài – Ba vet (Bản ghi nhớ), ký ngày 6/3/2006, quy định mô hình kiểm tra một lần dừng tại cặp cửa khẩu này được thực hiện như sau:

Bước 1: Hải quan hai nước phối hợp thực hiện kiểm tra thực tế hàng hóa tại khu vực kiểm tra chung tại mỗi nước Thời hạn thực hiện: 30/9/2006

Bước 2: Hải quan hai nước phối hợp thực hiện đầy đủ thủ tục và công tác kiểm tra hải quan tại khu vực kiểm tra chung Thời hạn thực hiện: 30/9/2007

Bước 3: Hải quan, cơ quan Kiểm dịch, Y tế của hai nước phối hợp thực hiện đầy đủ thủ tục và công tác kiểm tra thuộc chức năng tại khu vực kiểm tra chung Thời hạn thực hiện: 31/3/2008

Bước 4: Hải quan, cơ quan Kiểm dịch, Y tế, Xuất nhập cảnh hai nước phối hợp thực hiện đầy đủ thủ tục qua biên giới tại khu vực kiểm tra chung Thời hạn thực hiện: 30/9/2008

Căn cứ bản ghi nhớ nêu trên, sau một thời gian đàm phán Hải quan Việt Nam và Hải quan Campuchia đã ký kết thỏa thuận về triển khai thực hiện bước đầu kiểm tra một lần dừng tại Mộc Bài và Bà Vẹt (Bản thỏa thuận) vào ngày 02/6/2009 Để triển khai thực hiện thỏa thuận này yêu cầu bắt buộc đối với mỗi bên phải xây dựng địa điểm kiểm tra chung, cũng như

cơ sở hạ tầng khác cho việc thực hiện như trang thiết bị, phương tiện liên lạc giữa hai bên, [15]

Về phía Việt Nam, việc xây dựng địa điểm kiểm tra hải quan chung tại cửa khẩu Mộc Bài đã được Chính phủ đồng ý giao cho UBND tỉnh Tây Ninh

Trang 32

làm chủ đầu tư của dự án Ủy ban Nhân dân tỉnh Tây Ninh có quyết định số 449/QĐ-UBND phê duyệt địa điểm kiểm tra chung tại cặp cửa khẩu quốc tế Mộc Bài- Bà Vẹt với diện tích 81.8000m2 tại vị trí phía sau trụ sở Chi cục Hải quan cửa khẩu Mộc Bài Ngày 25/6/2009, UBND tỉnh Tây Ninh ban hành văn bản số 1604/UBND-KTN chuyển giao nhiệm vụ chủ đầu tư dự án Bãi kiểm hóa chung cho Ban Quản lý khu KTCK Mộc Bài (nay là ban Quản lý các khu kinh tế tỉnh Tây Ninh) Ban Quản lý KTCK Mộc Bài đã tiến hành khảo sát lập

dự án đầu tư với số vốn khoảng 170 tỷ đồng Tuy nhiên, đến nay dự án chưa được thẩm định phê duyệt do chưa có nguồn vốn xây dựng

Trong khi chờ khu vực kiểm tra chung chính thức của phía Việt Nam hoàn thành, ngày 17/7/2009, Cục Hải quan tỉnh Tây Ninh đã tổ chức cuộc họp với Chi cục Hải quan tỉnh Svayriêng (Campuchia) để thảo luận bàn bạc về địa điểm kiểm tra hải quan chung và một số nội dung khác liên quan đến thủ tục hải quan kiểm tra 01 lần dừng Cục Hải quan Tây Ninh đề xuất 2 bên sử dụng Bãi giao nhận hàng tính từ cột mốc biên giới làm địa điểm kiểm tra hải quan chung tạm thời cho cả 2 Bên Địa điểm giao nhận hàng này có diện tích 13.000m2, trong đó diện tích phía Việt Nam là 7.000m2

, diện tích phía Campuchia là 6.000m2

và do hai công ty Việt Nam và Campuchia liên doanh khai thác giao nhận hàng Nếu Hải quan Campuchia chọn ICD Bà Vét - So Nguôn cách cột mốc biên giới 2km làm địa điểm kiểm tra hải quan chung tạm thời sẽ phát sinh khó khăn, cụ thể là:

(1) Khó khăn về phương tiện, cách thức di chuyển của công chức hải quan Việt Nam trong việc di chuyển từ trụ sở Chi cục tại Việt Nam đến địa điểm kiểm tra chung tạm thời nằm sâu trong nội địa Campuhia

(2) Khó khăn trong việc xử lý nghiệp vụ, hồ sơ giấy tờ, phương tiện liên lạc, phối hợp kiểm tra thực tế hàng hóa, xử lý hàng hóa vi phạm khi hàng hóa đã được đưa vào sâu trong nội địa Campuhia

Trang 33

(3) Thiếu cơ sở pháp lý cần thiết (như việc xuất nhập cảnh của công chức, quản lý công chức, ) trong việc thực hiện chức trách nhiệm vụ của công chức hải quan trên địa điểm nằm sâu trong nội địa Campuchia

Chương trình thực hiện ở cặp cửa khẩu Lao Bảo – Đen sa vẳn trong thực tế đã được triển khai và đạt được một số thành công nhất định như sau:

Trên cơ sở Hiệp định CBTA – GMS được ký kết giữa Chính phủ 6 nước thành viên GMS: Trung Quốc, Lào, Việt Nam, Campuchia, Myanma và Thái Lan, ngày 25/3/2005, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào đã ký Biên bản ghi nhớ về triển khai thực hiện ban đầu tại cặp cửa khẩu Đen – sa – vẳn - Lao Bảo (MOU) [15] Bản đính kèm 1, Mục I của MOU quy định Mô hình Kiểm tra một cửa một lần dừng gồm 4 Bước Trong đó phần C.2 quy định khi thực hiện Bước 4, các thủ tục hải quan, kiểm dịch và xuất nhập cảnh sẽ được các lực lượng liên quan của hai nước phối hợp thực hiện đồng thời tại một địa điểm (khu vực kiểm tra chung, CCA) đặt trên lãnh thổ nước nhập

Tuy nhiên, dựa trên tình hình triển khai thực tế, tại cuộc họp triển khai

Mô hình "Một cửa, một lần dừng" do ADB tổ chức vào 04/10/2012, các Bên

đã thống nhất trước mắt sẽ chỉ thực hiện Bước 4 đối với hàng hóa thương mại Nghĩa là chỉ hàng hóa thương mại, phương tiện vận tải chở hàng hóa thương mại, lái xe và chủ hàng của hàng hóa đó được thực hiện các thủ tục hải quan, kiểm dịch và xuất nhập cảnh tại một địa điểm (khu vực kiểm tra chung, CCA) đặt trên lãnh thổ nước nhập Hàng quá cảnh, hành khách và hành lý, phương tiện vận tải phi thương mại, hàng cư dân biên giới vẫn thực hiện các thủ tục hải quan, kiểm dịch, xuất nhập cảnh theo cách thông thường (từng nước làm thủ tục theo quy định của nước mình, không có sự phối hợp của các lực lượng liên quan tại cửa khẩu của hai nước)

Tại Hội nghị Thứ trưởng Ngoại giao về phát triển Hành lang kinh tế Đông – Tây diễn ra vào ngày 16/5/2013 tại Lào, các đại biểu thống nhất quan

Trang 34

điểm triển khai Mô hình theo như đề xuất tại cuộc họp ngày 04/10/2012 nói trên là trước mắt triển khai Bước 4 của Mô hình đối với hàng hóa và bổ sung thêm thới hạn cho việc thực hiện

Được sự chỉ đạo sát sao của hai Chính phủ, các cơ quan liên quan (Hải quan, Biên phòng, Kiểm dịch…) đã ký các Thỏa thuận cấp Bộ về triển khai Bước 4 Mô hình kiểm tra một cửa, một lần dừng tại cặp cửa khẩu Lao Bảo – Đen sa vẳn Ngày 25/1/2015, Mô hình đầy đủ kiểm tra một cửa một lần dừng được chính thức đưa vào thực hiện tại cặp cửa khẩu Lao Bảo – Đen sa vẳn, lần đầu tiên hiện thực hóa cam kết của các nhà Lãnh đạo GMS về tạo thuận lợi cho người và hàng hóa qua biên giới trong khu vực Tiểu vùng

Tuy nhiên, quá trình triển khai gặp một số khó khăn nhất định

- Điểm kiểm tra chung phía Việt Nam có diện tích quá nhỏ, không đáp ứng được việc làm thủ tục cho hàng hóa XNK qua cửa khẩu Lao Bảo đang tăng lên hàng ngày Hiện nay, theo đề xuất của Cục Hải quan Quảng Trị, khu vực cửa khẩu quốc tế Lao Bảo đã được UBND tỉnh cho phép quy hoạch mở rộng với phạm vi khoảng 10 ha, trong đó phía xuất là 7ha, phía nhập là 3ha

Do đó có thể xem xét xây dựng, mở rộng Điểm kiểm tra chung hiện tại với diện tích khoảng 30.000m2

- Điểm kiểm tra chung phía Lào hiện tại có 2 vị trí, diện tích tổng cộng nhỏ hơn phía Việt Nam, và quá xa cửa khẩu nên rất khó khăn cho Hải quan Việt Nam trong việc giám sát phương tiện, hàng hóa từ cửa khẩu Việt Nam sang cửa khẩu Lào

- Máy soi công-ten-nơ được trang bị có công suất nhỏ (2,5 McV) nên hình ảnh soi chiếu rất mờ, thậm chí chỉ là màu đen tuyền không thể phân tích hình ảnh đối với hàng hóa đặc, khó xuyên thấu (như thạch cao, hàng điện tử…) và là máy soi cố định nên không phù hợp với thực tế và đặc điểm phương tiện XNC qua cửa khẩu Lao Bảo Máy soi chỉ soi được các xe chuyên

Trang 35

chở công-ten-nơ (theo đúng thiết kế xe do Nhật bản sản xuất) còn các xe công-ten-nơ, xe chở hàng khác đều không thực hiện được do ảnh chụp lấn sang phía cabin người lái, nguy hại đến sức khỏe lái xe, trong khi đây là phương tiện nhập cảnh chủ yếu tại đây Mặt khác, máy soi được đưa vào sử dụng với thời gian chưa lâu nhưng thường xuyên hư hỏng, hiệu quả soi chiếu rất thấp (Cục Hải quan Quảng trị đã có báo cáo cụ thể cho Vụ Tài vụ - Quản trị hàng tháng) Bên cạnh đó, do Công ty có chuyên môn bảo dưỡng, sữa chữa máy soi ở quá xa nên việc khắc phục sự cố rất khó khăn, mất quá nhiều thời gian chờ đợi (có khi là hàng tháng) Khắc phục các bất cập này, Tổng cục đã điều động máy soi công-ten-nơ từ Cục Hải quan Đà Nẵng để soi chiếu hàng hóa tại cửa khẩu [15]

2.1.1.4 Đánh giá chung về hợp tác song phương với các nước láng giềng

Hoạt động hợp tác với các nước láng giềng đã đáp ứng mục tiêu chính trị và kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong việc tăng cường quan

hệ hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam với các nước, góp phần thúc đẩy quan hệ thương mại song phương, đồng thời thúc đẩy quan hệ hợp tác hải quan trên các mảng nghiệp vụ cụ thể như trao đổi thông tin phục vụ công tác quản lý rủi ro và ngăn chặn hoạt động buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới

Việc ký kết một số thỏa thuận song phương với các nước láng giềng còn mang nặng tính hình thức, cơ chế ràng buộc thấp dẫn đến hiệu quả triển khai còn hạn chế, tính chủ động trong việc khai thác, tận dụng các cơ hội từ các thỏa thuận đã ký kết chưa cao Sự chậm trễ và thiếu chủ động từ phía nước đối tác láng giềng trong một số hoạt động hợp tác dẫn đến việc triển khai một số cam kết bị chậm tiến độ so với kế hoạch ban đầu

2.1.2 Hợp tác với Hải quan các nước đối tác quan trọng

Tiến trình hợp tác và hội nhập quốc tế đã mở cơ hội cho Hải quan Việt

Trang 36

Nam tiếp cận và mở rộng, tăng cường quan hệ hợp tác với các nước phát triển qua đó học hỏi kinh nghiệm quản lý hải quan hiện đại và tận dụng được nguồn hỗ trợ kỹ thuật trong các mảng nghiệp vụ hải quan chủ chốt của ngành

2.1.2.1 Hợp tác với Hải quan Nhật Bản

Trong bối cảnh quan hệ Việt Nam – Nhật Bản trong 40 năm qua ngày càng được củng cố và phát triển, hợp tác Hải quan Việt Nam – Nhật Bản được đánh giá là điểm sáng, mang lại nhiều lợi ích thiết thực và giúp cho Hải quan Việt Nam đẩy nhanh quá trình cải cách, hài hòa hóa thủ tục hải quan Quan hệ hợp tác giữa Hải quan Việt Nam và Nhật Bản bắt đầu khởi động từ đầu những năm 1990 Đến nay mối quan hệ đó đã có bề dày trên 20 năm phát triển và ngày càng đi vào thực chất, có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu

và nguyện vọng của mỗi bên

Hải quan Nhật Bản luôn chú trọng hỗ trợ và hợp tác với Hải quan Việt Nam trong công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Công tác đào tạo thông qua hình thức cử các chuyên gia ngắn và dài hạn sang hỗ trợ Hải quan Việt Nam, đồng thời tiếp nhận các cán bộ Hải quan Việt Nam sang tham dự các khóa đào tạo tổ chức tại Nhật Bản Đến nay đã có trên 4000 lượt cán bộ công chức Hải quan Việt Nam được đào tạo ngắn hạn hoặc dài hạn tại Việt Nam và Nhật Bản trong đó có nhiều công chức ở trình độ thạc sỹ Quá trình này đã tạo dựng cho Hải quan Việt Nam có được đội ngũ cán bộ có trình độ

kỹ thuật nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực

và trên thế giới Đặc biệt, Nhật Bản cũng đã đào tạo được 33 chuyên gia chuyên sâu về các lĩnh vực xác định trị giá hải quan, phân loại hàng hóa và kiểm tra sau thông quan Các dự án hợp tác kỹ thuật về nâng cao năng lực quản lý rủi ro, tăng cường năng lực cho cán bộ công chức tại chi cục, các bộ giáo trình tài liệu đã được xây dựng chuyển giao cho Việt Nam với chất lượng

và hiệu quả ứng dụng cao vào thực tiễn hoạt động [43]

Trang 37

Trong năm 2013, ngoài các hoạt động đào tạo, hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý, vận hành hệ thống VNACCS/VCIS cho các cán bộ hải quan Việt Nam, Hải quan Nhật Bản vẫn luôn dành các suất học bổng, các chương trình đào tạo nghiệp vụ nâng cao năng lực, công tác quản lý cho cán bộ, công chức Hải quan Việt Nam [4]

Về viện trợ các trang thiết bị kỹ thuật, Nhật Bản là nhà tài trợ lớn nhất

và hiệu quả nhất cho Hải quan Việt Nam, đó là các hệ thống máy soi container cỡ lớn bằng tia X lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam đã được xây dựng, chuyển giao và đưa vào vận hành tại các cảng biển, cửa khẩu trọng điểm của Việt Nam tại cảng Cát Lái (Thành phố Hồ Chí Minh), tại Cảng Hải Phòng và đang phát huy hiệu quả trong việc phát hiện các loại hàng cấm, ngăn chặn buôn lậu Bên cạnh đó, Nhật Bản cũng đã viện trợ các trang thiết bị hiện đại cho các phòng thí nghiệm phân tích phân loại của Hải quan Việt Nam Những thiết bị tài trợ của Nhật Bản hiện đang được Hải quan Việt Nam

sử dụng khai thác góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý hải quan Trong đó, nổi bật nhất là tổ chức JICA Nhật Bản đã dành cho Hải quan Việt Nam những dự án hỗ trợ lớn như:

- Dự án đào tạo giảng viên chủ chốt (2004 – 2007)

+ Đào tạo được 31 giảng viên chủ chốt (về HS, Trị giá, Kiểm tra sau thông quan)

+ Cung cấp trang thiết bị phục vụ công tác giảng dạy Các thiết bị được cung cấp đã góp phần tích cực vào hoạt động chung của ngành và đáp ứng nhiệm vụ của từng đơn vị tiếp nhận

- Dự án Quản lý rủi ro do JICA và Hải quan Nhật Bản tài trợ về Quản

lý rủi ro khu vực sông Mê Kông (2007 – 2010) Dự án này nhằm giúp các nước Campuchia, Việt Nam và Thái Lan có khả năng phát triển quản lý rủi ro

Trang 38

một cách hiệu quả, hướng tới các chuẩn mực quốc tế, tạo thuận lợi thương mại quốc tế và bảo vệ xã hội khỏi những chuyến hàng nguy hiểm [43]

Trong các đầu mối của Hải quan hai nước, cơ chế trao đổi thông tin luôn được thực hiện hiệu quả và tích cực Với những vướng mắc, khó khăn liên quan tới nghiệp vụ cũng như học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau phục vụ công tác cải cách, hiện đại hóa ngành Hải quan, hai bên luôn dành ưu tiên, hỗ trợ lẫn nhau để trao đổi hiệu quả và cung cấp những thông tin hữu ích, thiết thực nhất

Các thông tin về nghiệp vụ, quy trình, thủ tục, các văn bản pháp lý, hướng dẫn về Hải quan và giải đáp vướng mắc luôn được cập nhật trên website của hải quan Việt Nam để tiện cho quá trình tham khảo của Hải quan Nhật Bản nói riêng cũng như các cơ quan, tổ chức khác nói chung Hai bên thường xuyên, tiếp tục trao đổi và hỗ trợ lẫn nhau trên các diễn đàn Hải quan

đa phương và khu vực

Dự án VNACCS/VCIS được triển khai trong thời gian từ 3/2014 nhằm xây dựng hệ thống thông quan điện tử VNACCS/VCIS theo công nghệ của NACCS/CIS Nhật Bản Sau hơn 2 năm triển khai thực hiện, ngày 1/4/2014 hệ thống đã chính thức được đưa vào vận hành hoạt động Đến nay, nhờ nỗ lực và cố gắng to lớn, việc triển khai Hệ thống VNACCS/VCIS tại 34 Cục Hải quan tỉnh, thành phố đã được ổn định, không gây xáo trộn lớn cho hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp, đảm bảo yêu cầu quản lý nhà nước về hải quan Từ thời điểm ban đầu xây dựng hệ thống tới lúc đưa vào hoạt động, Hải quan Việt Nam luôn nhận được sự hỗ trợ và quan tâm sát sao của Hải quan Nhật Bản để hệ thống được đưa vào vận hành chính thức đúng tiến độ Hải quan Nhật Bản cử các chuyên gia ngắn và dài hạn sang làm việc cùng các chuyên gia và cán bộ của Hải quan Việt Nam, hướng dẫn đào tạo nghiệp vụ, bổ sung kinh nghiệm thao tác trên hệ thống và xử lý kịp thời các sự cố phát sinh trong quá trình vận hành Ngày 17/04/2015, Tổng cục Hải

Trang 39

3/2012-quan Việt Nam và Cơ 3/2012-quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã tiến hành ký bản đánh giá cuối kỳ “Dự án JICA Hợp tác kỹ thuật thực hiện hải quan điện

tử” tại trụ sở Tổng cục Hải quan [24]

Kết quả đánh giá cuối kỳ tại Biên bản cho thấy Dự án đã đạt được 5 mục tiêu cơ bản khi xây dựng và 2 mục tiêu thêm vào trong quá trình thực hiện dự án, đó là: (i) Luật và quy định pháp lý cần thiết khác để áp dụng VNACCS/VCIS được xây dựng; (ii) các công chức của TCHQ tiếp nhận được các kiến thức và kỹ năng cần thiết để sử dụng tốt VNACCS/VCIS; (iii)

cơ chế vận hành, bảo trì và quản lý tốt VNACCS/VCIS được thiết lập và nguồn nhân lực cần thiết được phát triển; (iv) người sử dụng trong lĩnh vực tư nhân tiếp thu các kiến thức và kỹ năng sử dụng tốt VNACCS/VCIS; (v) cơ chế và chính sách bảo mật thông tin tốt được thiết lập; (vi) công chức hải quan tiếp nhận được các kiến thức và kỹ năng cần thiết để sử dụng Hệ thống VCIS cho mục đích kiểm tra sau thông quan; (vii) cơ chế ban hành các phán quyết trước kịp thời và phù hợp được thiết lập [16]

Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản được khởi xướng từ tháng 4 năm 2003, là sự hợp tác đặc biệt của hai Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản, qua đó, tạo ra diễn đàn đối thoại về chính sách giữa các nhà đầu tư Nhật Bản với các Bộ, ngành liên quan của Việt Nam với mục tiêu nhằm tạo dựng một môi trường đầu tư và kinh doanh thông thoáng, minh bạch tại Việt Nam cũng như góp phần đưa ra những khuyến nghị chính sách mang tính xây dựng, làm thông tin tham khảo trong quá trình hoàn thiện luật pháp, chính sách của các

cơ quan chức năng của Việt Nam

Trên cơ sở thành công của Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản 4 giai đoạn trước, tại cuộc họp cấp cao Đánh giá cuối kỳ Sáng kiến chung Việt Nam

- Nhật Bản giai đoạn IV vào tháng 12 năm 2012, hai Bên đã thống nhất tiếp tục triển khai giai đoạn V Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản Thời gian

Trang 40

triển khai thực hiện Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn V trong vòng 18 tháng (từ tháng 7 năm 2013 đến tháng 12 năm 2014) Theo đó, sẽ có hai cuộc họp đánh giá giữa kỳ (vào tháng 12/2013 và tháng 6/2014) và một cuộc họp cấp cao để đánh để giá kết quả thực hiện Sáng kiến chung giai đoạn

V vào tháng 12/2014 [44]

Trong khuôn khổ chương trình Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn 5, Tổng cục Hải quan được giao chủ trì thực hiện các nhóm vấn đề

về Hải quan: (1): Thúc đẩy sử dụng cơ chế xác định trước hiện hành, (2): Cải

thiện cách xử lý khi gặp sự cố hệ thống hải quan điện tử và (3): Chế tài ngay tại cửa khẩu nhập khẩu đã được 2 bên thống nhất đưa vào Kế hoạch hành

động và đang nỗ lực triển khai thực hiện

Nhiều hoạt động của Kế hoạch đã và đang được triển khai thực hiện đáp ứng được yêu cầu mục đích đề ra Trong giai đoạn 5 Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản thực triển khai thực hiện cam kết trong Kế hoạch hành động giữa Hải quan Việt Nam và Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản, ngày 16/12/2013 Tổng cục Hải quan đã tổ chức buổi đối thoại với phía Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản để giới thiệu về Cơ chế xác định trước và Quyền được hướng dẫn thủ tục Hải quan của người khai Hải quan cũng như giải đáp các vướng mắc phía Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản đã nêu Tại buổi đối thoại, Lãnh đạo Bộ Tài chính và Lãnh đạo TCHQ đã chủ trì giới thiệu các quy định mới về Cơ chế xác định trước và giải đáp trực tiếp các vướng mắc của đại diện các doanh nghiệp Nhật Bản tham dự Đối thoại

Nhìn chung trong quan hệ hợp tác quốc tế của ngành Hải quan hai bên đều đánh giá cao nỗ lực và các kết quả đã đạt được đối với nhóm vấn đề về Hải quan trong thời gian qua và cam kết sẽ tiếp tục thực hiện những nội dung

đã cam kết trong Kế hoạch hành động trong thời gian tới Phía Hải quan Nhật Bản đánh giá cáo sự nỗ lực của Hải quan Việt Nam trong các quan hệ hợp tác, duy trì triển khai và theo dõi trong thời gian tiếp theo [32, 43]

Ngày đăng: 26/09/2020, 01:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w