1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Xây dựng và sử dụng bài tập định tính phần “Cơ học” vật lí lớp 8 theo hướng gắn với thực tế nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh : Luận văn ThS. Giáo dục học : 60 14 10

103 33 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năng lực sư phạm của giáo viên sẽ được nâng cao, đáp ứng với các quy định về chuẩn nghề nghiệp nếu được sự trợ giúp, tác động của một hệ thống các biện pháp quản lý khoa học, hợp lý của

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM VĂN TRUNG

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NĂNG LỰC SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẤT BẠT

HUYỆN BA VÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM VĂN TRUNG

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NĂNG LỰC SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẤT BẠT

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

- Các thầy giáo, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn giúp đỡ lớp

5 cao học K11chuyên ngành quản lý giáo dục

- Đặc biệt với sự giúp đỡ quý báu của PGS.TS Phó Đức Hòa - Thầy giáo trực tiếp hướng dẫn, đã tận tình chỉ bảo và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu

- Ban Giám hiệu, các phòng ban, tổ bộ môn, cán bộ, giáo viên, công nhân viên trường THPT Bất Bạt đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tham gia khóa học và đóng góp ý kiến, cung cấp số liệu cho tôi hoàn thành luận văn này

Dù đã cố gắng rất nhiều, song chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp giúp đỡ, đưa ra những chỉ dẫn quý báu dành cho tôi

Hà Nội, tháng 10 năm 2013

Tác giả

Phạm Văn Trung

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục viết tắt iv

Mục lục iii

Danh mục các bảng v

Danh mục các sơ đồ vi

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NĂNG LỰC SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề của đề tài 6

1.1.1 Thế giới 6

1.1.2 Việt Nam 7

1.2 Một số khái niệm cơ bản 8

1.2.1 Biện pháp 8

1.2.2 Khái niệm quản lý và chức năng của quản lý 9

1.2.3 Quản lý giáo dục 14

1.2.4 Quản lý trường học 17

1.2.5 Khái niệm năng lực và năng lực sư phạm 17

1.2.6 Quản lý năng lực sư phạm 20

1.3 Các yêu cầu về năng lực nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên trường THPT 21

1.3.1 Yêu cầu về năng lực dạy học 21

1.3.2 Yêu cầu về năng lực giáo dục 24

1.3.3 Yêu cầu về năng lực phát triển nghề nghiệp 28

Kết luận chương 1 29

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NĂNG LỰC SƯ PHẠM CỦA GIÁOVIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẤT BẠT HUYỆN BA VÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI 31

2.1 Khái quát chung về trường THPT Bất Bạt - Sơn Đà - Ba Vì - Hà Nội 31

2.1.1 Vài nét về vị trí địa lí 31

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trường THPT Bất Bạt 31

2.2 Thực trạng về trường THPT Bất Bạt và năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên nhà trường 32

2.2.1 Thực trạng về trường THPT Bất Bạt 32

2.2.2 Thực trạng về năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên trường THPT Bất Bạt so với chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT (thông qua khảo sát mức độ đạt được các tiêu chí liên quan đến năng lực sư phạm) 40

Trang 6

2.2.3 Thực trạng về công tác quản lý năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên

trường THPT Bất Bạt 51

2.3 Đánh giá chung về thực trạng năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên và công tác quản lý năng lực sư phạm tại trường THPT Bất Bạt 55

2.3.1 Những điểm mạnh 55

2.3.2 Điểm yếu 55

2.3.3 Nguyên nhân 56

Kết luận chương 2 56

Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NĂNG LỰC SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẤT BẠT HUYỆN BA VÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI 58

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 58

3.1.1 Nguyễn tắc đảm bảo tính hệ thống và tính kế thừa 58

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 59

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 59

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 60

3.2 Các biện pháp quản lý năng lực sư phạm cho giáo viên trường THPT Bất Bạt huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội 60

3.2.1 Biện pháp 1 Nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của giáo viên 60

3.2.2 Biện pháp 2 Lập kế hoạch bồi dưỡng cho giáo viên theo mức độ năng lực của đối tượng 62

3.2.3 Biện pháp 3 Tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị trường học 63

3.2.4 Biện pháp 4 Tạo môi trường thuận lợi và tạo động lực thúc đẩy giáo viên phát huy năng lực sư phạm của mình 64

3.2.5 Biện pháp 5 Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá giáo viên theo từng tiêu chuẩn, tiêu chí 66

3.4 Tổ chức khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 70

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 71

3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 71

3.4.3 Phương pháp khảo nghiệm 71

3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 71

Kết luận chương 3 75

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC 82

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Cơ sở vật chất về phòng học, phòng phục vụ, phòng hành chính

chia theo chức năng năm học 2013 - 2014 32

Bảng 2.2: Cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy năm học 2013 - 2014 34

Bảng 2.3: Chất lượng hai mặt giáo dục của nhà trường năm học 2012 - 2013 35

Bảng 2.4: Tổng số giáo viên biên chế và hợp đồng chia theo chuẩn đào tạo, trình độ đào tạo, theo môn học và theo độ tuổi năm học 2013 - 2014 36

Bảng 2.5: Tổng số học sinh chia theo giới tính, diện chính sách và chia theo vùng miền năm học 2013 - 2014 38

Bảng 2.6: Tổng hợp tự đánh giá các yêu cầu về năng lực dạy học của giáo viên 40

Bảng 2.7: Tổng hợp tự đánh giá các yêu cầu về năng lực giáo của dục giáo viên 43

Bảng 2.8: Tổng hợp tự đánh giá các yêu cầu về năng lực phát triển nghề nghiệp của giáo viên 46

Bảng 2.9: Tổng hợp kết quả tự đánh giá của giáo viên 47

Bảng 2.10: Tổ trưởng đánh giá giáo viên 49

Bảng 2.11: Hiệu trưởng đánh giá giáo viên 50

Bảng 2.12: Thực trạng việc điều tra năng lực sư phạm của giáo viên tại trường THPT Bất Bạt 51

Bảng 2.13: Thực trạng về công tác bồi dưỡng năng lực sư phạm 52

Bảng 2.14: Tổng hợp thực trạng việc quản lý tạo môi trường và động lực để phát huy năng lực sư phạm của giáo viên 53

Bảng 2.15: Thực trạng về công tác kiểm tra đánh giá 54

Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của 5 biện pháp đề xuất 71

Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của 5 biện pháp đề xuất 72

Bảng 3.3: Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 74

Trang 8

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1: Mô hình quản lý 12

Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ của các chức năng quản lý 13

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ về mối quan hệ giữa các biện pháp 70

Biểu đồ 3.1 Khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp đề xuất 72

Biểu đồ 3.2 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất 73

Biểu đồ 3.3 So sánh tính cần thiết và tính khả thi của các biện được đề xuất (Tính theo tỷ lệ %) 74

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, để phát triển bền vững các quốc gia, dân tộc đều phải chú trọng đến công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực bền vững cho đất nước

Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân, trong những năm qua, chất lượng giáo dục ở nước ta có một số tiến bộ, đã xuất hiện một số nhân tố mới, song nhìn chung vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập

Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục năng lực còn hạn chế, cơ sở vật chất, trang thiết bị được đầu tư nhưng năng lực của giáo viên cũng còn chưa theo kịp với sự đa dạng và phức tạp của các hoạt động giáo dục

Trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh về giáo dục, Người đánh giá rất cao vai trò của người thầy giáo: "Trách nhiệm nặng nề và vẻ vang của người thầy giáo là chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành những công dân tốt, người lao động tốt, người cán bộ tốt của nước nhà" Việc xây dựng đội ngũ những người thầy giáo trong nhà trường có ý nghĩa rất quan trọng - thầy giáo là người trực tiếp thực hiện quan điểm giáo dục của Đảng; người quyết định phương thức của việc giảng dạy; lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp đào tạo cán bộ Vì vậy, rèn luyện nhân cách nói chung và năng lực sư phạm nói riêng cho người thầy giáo trong các nhà trường là một yêu cầu, nhiệm vụ cấp thiết của sự nghiệp giáo dục, đào tạo

Trường THPT Bất Bạt là một ngôi trường được xây dựng tại xã Sơn Đà

- huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội Trải qua 48 năm xây dựng và phát triển, đến nay đội ngũ giáo viên nhà trường có tới hơn 80% là giáo viên trẻ, có độ tuổi dưới 40 Đội ngũ trẻ, nhiệt tình trong công việc nhưng năng lực sư phạm còn chưa đáp ứng được các yêu cầu Vì vậy, chất lượng giáo dục của nhà trường trong những năm gần đây còn hạn chế

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây, tôi lựa chọn đề tài: “Biện pháp

quản lý năng lực sư phạm của giáo viên trường trung học phổ thông Bất Bạt huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội” để tiến hành nghiên cứu

Trang 10

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng công tác quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý tại trường THPT Bất Bạt thuộc huyện Ba Vì thành phố Hà Nội, đề xuất các biện pháp quản lý để nâng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ

giáo viên của trường THPT Bất Bạt thuộc huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội

3 Khách thể và Đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên trường THPT Bất Bạt

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Các biện pháp quản lý năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên của trường THPT Bất Bạt

4 Giả thuyết khoa học

Ngày 22 tháng 10 năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 30/2009/TT-BGD&ĐT, quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên

trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông Năng lực sư phạm của giáo viên sẽ được nâng cao, đáp ứng với các quy định về chuẩn nghề nghiệp nếu được sự trợ giúp, tác động của một hệ thống các biện pháp quản lý khoa học, hợp lý của cán bộ quản lý trong trường THPT Bất Bạt huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội

5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

5.1 Nghiên cứu vấn đề lý luận về biện pháp quản lý của cán bộ quản lý trường THPT nhằm nâng cao năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên 5.2 Khảo sát, phân tích thực trạng các biện pháp quản lý năng lực sư phạm của cán bộ quản lý tại trường THPT Bất Bạt thuộc huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội

5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý nâng cao năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên tại trường THPT Bất Bạt

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài

6.1 Giới hạn đề tài nghiên cứu

Trang 11

Biện pháp quản lý năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên của trường THPT Bất Bạt

6.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu

Trường THPT Bất Bạt xã Sơn Đà huyện Ba Vì thành phố Hà Nội

6.3 Giới hạn khách thể khảo sát

Đề tài tập trung nghiên cứu với 65 giáo viên, 5 tổ trưởng chuyên môn

và 3 cán bộ quản lý của trường THPT Bất Bạt - Ba Vì - Hà Nội

Chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT có nhiều tiêu chuẩn khác nhau: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống;

Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục;

Năng lực dạy học;

Năng lực giáo dục;

Năng lực hoạt động chính trị, xã hội;

Năng lực phát triển nghề nghiệp

Trong đề tài này tôi đề xuất các biện pháp quản lý năng lực sư phạm

của giáo viên

Trong điều tra thu thập số liệu, tôi tập trung vào các biện pháp quản lý năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên trường THPT Bất Bạt huyện Ba Vì thành phố Hà Nội trong hai năm học 2010 - 2011, 2012 - 2013 và đầu năm học 2013 - 2014; đồng thời tôi chọn các khách thể khác nhau để điều tra thực trạng về biện pháp quản lý năng lực sư phạm, cụ thể là:

Ban giám hiệu, các tổ trưởng chuyên môn, các giáo viên đang trực tiếp giảng dạy tại trường THPT Bất Bạt

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Bằng việc nghiên cứu đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục nói chung và các xu hướng quản lý giáo dục nói riêng trong giai đoạn hiện nay; các tại liệu và công trình khoa học về giáo dục, quản

lý giáo dục, quản lý trường học Phương pháp này được sử dụng với mục đích

Trang 12

xác định cơ sở lý luận về hoạt động quản lý năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên tại các Trường THPT

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tế

7.2.1 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

Bằng phương pháp xin ý kiến chuyên gia, trao đổi, thu nhập các số liệu thực tiễn Phương pháp này được sử dụng với mục đích đánh giá thực trạng quản lý năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên trường THPT Bất Bạt - Ba Vì

- Hà Nội, đồng thời xem xét mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp mà tôi sẽ đề xuất trong luận văn

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát

Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát là một phương pháp rất hiệu quả nhằm nắm rõ những nhìn nhận về việc quản lý năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên trường THPT Bất Bạt - Ba Vì - Hà Nội, đề từ đó có những điều chỉnh sát thực, kịp thời trong luận văn

7.2.3 Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp này được sử dụng để thu thập thêm thông tin về thực trạng việc Ban Giám hiệu và các tổ trưởng chuyên môn quản lý năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên trường THPT Bất Bạt - Ba Vì - Hà Nội

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Bằng việc sử dụng phương pháp thống kê toán học, một số phần mềm tin học; các phương pháp này nhằm xử lý các số liệu đã điều tra và ý kiến chuyên gia trong luận văn

8 Đóng góp mới của đề tài

Đưa ra các biện pháp quản lý năng lực sư phạm cho giáo viên trường THPT Bất Bạt - Ba Vì - Hà Nội

Trang 13

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý năng lực sư phạm của giáo viên

trường trung học phổ thông

Chương 2: Thực trạng quản lý năng lực sư phạm của giáo viên trường

trung học phổ thông Bất Bạt huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội

Chương 3: Các biện pháp quản lý năng lực sư phạm của giáo viên

trường trung học phổ thông Bất Bạt huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội

Trang 14

Xôcrat (469-415 TCN) nêu lên quan điểm giáo dục là phải giúp con người tìm thấy, tự khẳng định chính bản thân mình Để nâng cao chất lượng giảng dạy thì cần phải có phương pháp phù hợp giúp thế hệ trẻ từng bước khẳng định, tự phát hiện tri thức phù hợp với chân lý

Khổng Tử (551 - 475 TCN) - nhà tư tưởng, nhà giáo dục lớn của Trung Hoa cổ đại đã nêu lên quan điểm về phương pháp dạy là dùng cách gợi mở, đi

từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp đòi hỏi người thầy phải có một năng lực sư phạm nhất định để thực hiện được điều đó, đồng thời đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ, phải luyện tập, phải hình thành nền nếp, thói quen trong học tập, học không biết chán, dạy không biết mỏi Trong giảng dạy, ông

đề cao việc tự học, tự tu dưỡng, phát huy tính tích cực sáng tạo, phát huy năng lực nội sinh, các thầy giáo, cô giáo phải luôn học tập để nâng cao năng lực của bản thân nhất là năng lực sư phạm và năng lực chuyên môn, từ đó sẽ giảng dạy sát đối tượng, cá biệt hóa đối tượng, kết hợp học với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn, phát triển động cơ, hứng thú, ý chí của người học Đến nay phương pháp giáo dục của Khổng Tử vẫn là những bài học lớn cho cán

bộ quản lý và giáo viên

Cuối thế kỷ XIV, chủ nghĩa Tư bản bắt đầu xuất hiện, vấn đề lý luận giảng dạy và quản lý giảng dạy đã được nhiều nhà giáo dục quan tâm và lý luận quản lý đã hình thành có hệ thống hơn Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

Trang 15

XX, khoa học giáo dục đã thực sự có những biến đổi mới về lượng và chất Những vấn đề chủ yếu trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã thực sự định hướng cho hoạt động giáo dục, đó là các quy luật về

“sự hình thành cá nhân con người”, về “ tính quy luật về kinh tế - xã hội đối với giáo dục” Các quy luật đó đã đặt ra những yêu cầu đối với quản lý giáo dục và tính ưu việt của xã hội đối với việc tạo ra các phương tiện và điều kiện cần thiết cho giáo dục Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhiều nhà khoa học Liên Xô cũ đã có được những thành tựu khoa học đáng trân trọng về quản lý giáo dục

1.1.2 Việt Nam

Ở Việt Nam, các tư tưởng về quản lý và giáo dục cũng đã được đề cập đến trong các tác phẩm của các nhà giáo dục thời phong kiến như: Nguyễn Trãi, Chu Văn An Trong thời kỳ cách mạng, trước hết phải nói đến tư tưởng, quan điểm giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh Kế thừa tinh hoa của các tư tưởng giáo dục tiên tiến và vận dụng sáng tạo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã để lại cho chúng ta nền tảng lý luận về: Vai trò của giáo dục đối với phát triển xã hội, phát triển con người; định hướng phát triển giáo dục, mục đích của giáo dục, các nguyên lý, phương thức giáo dục, vai trò của quản lý và cán bộ quản lý Hệ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

có giá trị rất cao trong quá trình phát triển lý luận giảng dạy, lý luận giáo dục của nền giáo dục cách mạng Việt Nam

Trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng các tư tưởng giáo dục tiến bộ trên thế giới vào thực tiễn Việt Nam, gần đây nhiều nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận giáo dục, quản lý giáo dục Cùng với các lĩnh vực quản lý khác, quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng luôn là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm Có nhiều công trình nghiên cứu đã góp nhiều giá trị trong lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục

Tác giả Hồ Văn Vĩnh trong Giáo trình “Khoa học quản lý” [22, tr 27]

Trang 16

và tác giả Trần Quốc Thành trong giáo trình “Khoa học quản lý đại cương” [20, tr 2] đã đề cập đến lịch sử tư tưởng quản lý và chức năng quản lý

Về quản lý giáo dục, các tác giả Phạm Khắc Chương trong Giáo trình

“Lý luận quản lý giáo dục đại cương” [6, tr 42] và tác giả Trần Kiểm trong Giáo trình “Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục” [13, tr 35]

đã nghiên cứu về quản lý giáo dục, các chức năng quản lý giáo dục, một số vấn đề về quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trường

Tác giả Trần Kiểm trong giáo trình “Quản lý giáo dục quản lý nhà trường”

đã nghiên cứu về nhà trường và quản lý, lãnh đạo nhà trường [13, tr 11]

Bên cạnh những công trình nghiên cứu mang tính phổ quát đó, một số luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục cũng đề cập đến vấn đề quản

lý giáo dục, Tác giả Nguyễn Năng Tuấn nghiên cứu về - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Ban quản lý trung tâm Hải Dương thuộc trường Đại học Sư Phạm Hưng Yên [21], tác giả Nguyễn Tân An nghiên cứu về - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của phòng đào tạo trường Cao đẳng Dược Trung Ương - Hải Dương [1] và tác giả Lưu Thị Kim Phượng nghiên cứu về - Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non thành phố Thái Nguyên [17] Ngoài ra còn rất nhiều luận

văn đề cập nghiên cứu nhiều khía cạnh của quá trình quản lý hoặc quản lý giáo dục Hầu hết các tác giả đã đánh giá một cách cụ thể và sâu sắc thực trạng công tác quản lý giáo dục tại một số trường, đồng thời đề ra một số biện

pháp quản lý hợp lý nhằm giải quyết vướng mắc ở từng cở sở giáo dục cụ thể 1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Biện pháp

Theo định nghĩa triết học thì “biện pháp” là cách thức, là con đường để chuyển tải nội dung Theo ý nghĩa này, thì chính nội dung quy định lựa chọn,

sử dụng biện pháp Theo nghĩa khái quát, biện pháp là cách thức, con đường

để giải quyết vấn đề cụ thể nào đó nhằm đạt được mục đích nhất định

Khái niệm biện pháp có quan hệ với khái niệm giải pháp Giải pháp là

Trang 17

khái niệm rộng hơn khái niệm biện pháp, mang cả tính chất lý luận và có ý nghĩa định hướng cho nhiều biện pháp nhằm giải quyết vấn đề theo mục đích nhất định Như vậy giải pháp là tổng hợp nhiều biện pháp nhằm giải quyết một vấn đề cụ thể

1.2.2 Khái niệm quản lý và chức năng của quản lý

Do tính chất phong phú, đa dạng và phức tạp trong hoạt động của con người nên có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý tùy theo cách tiếp cận của các tác giả

W.Taylor, người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ

Trang 18

phận của nó, nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suất lao động, cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”

Theo tác giả H Koontz - người Mỹ thì cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của các cá nhân để đạt được mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường trong đó có con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và bất mãn cá nhân ít nhất”.[11, tr 33]

Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin đã lý giải một cách đầy đủ hơn và phản ánh chính xác những nét đặc trưng cơ bản của hoạt động quản lý Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, quản lý xã hội một cách khoa học là “sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội, trên cơ sở vận dụng đúng đắn những quy luật và xu hướng khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đề ra”

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có

kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [18, tr 17]

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều hành, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [13, tr 15]

Theo tác giả Bùi Văn Quân: “Quản lý là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức, các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động và phù hợp với qui luật khách quan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trường luôn biến động” [19, tr 8]

Trang 19

Phân tích các định nghĩa trên cho ta thấy nội hàm khái niệm Quản lý gồm các nội dung sau đây:

- Quản lý là hoạt động thiết yếu của một tổ chức, một nhóm xã hội

- Quản lý là những tác động có hướng đích, có mục tiêu cụ thể và phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản

Như vậy từ các định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu Quản lý là các tác động có mục đích, có kế hoạch, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác tối ưu các nguồn lực và phối hợp mọi nỗ lực của các nhân để đưa tổ chức tiến đến mục tiêu đã xây dựng

Theo cách hiểu như vậy thì quản lý là một hệ thống gồm 3 thành tố cơ bản:

- Chủ thể quản lý: là nơi đưa ra những tác động có mục đích, phù hợp với quy luật chung đến đối tượng quản lý nhằm phối hợp những nỗ lực các cá nhân đưa tổ chức tiến đến mục tiêu Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hoặc tập thể

- Đối tượng quản lý: là nơi chịu tác động và thay đổi dưới những tác động có mục đích của chủ thể quản lý Đối tượng quản lý bao gồm con người trong tổ chức và các nguồn lực khác trong và ngoài tổ chức

- Mục tiêu: là hình ảnh mong muốn của tổ chức trong tương lai, trong một giai đoạn và hoàn cảnh cụ thể, mục tiêu là trạng thái cần có của

tổ chức để ổn định và phát triển

Trang 20

- Các thành tố của quản lý có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, mối quan hệ tương tác ấy thể hiện qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: Mô hình quản lý

Ngày nay quản lý đã trở thành một nhân tố của sự phát triển xã hội Yếu tố quản lý tham gia vào mọi lĩnh vực trên nhiều cấp độ và liên quan đến mọi người

Với ý nghĩa đó, ta có thể hiểu quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất định tiềm năng các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đạt ra trong điều kiện biến động của môi trường

* Chức năng tổ chức thực hiện: Đây chính là giai đoạn hiện thực các quyết định, chủ trương bằng cách xây dựng cấu trúc tổ chức của đối tượng quản lý, tạo dựng mạng lưới quan hệ tổ chức, lựa chọn sắp xếp cán bộ

Chủ thể quản lý

Đối tƣợng quản lý

Mục tiêu quản lý

Trang 21

* Chức năng chỉ đạo: Chỉ dẫn động viên điều chỉnh và phối hợp các lực lượng giáo dục trong nhà trường, tích cực hăng hái chủ động theo sự phân công đã định

* Chức năng kiểm tra, đánh giá: Là chức năng liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh giá kết quả hoạt động của hệ thống Nó thực hiện xem xét tình hình thực hiện công việc so với yêu cầu, từ đó đánh giá đúng đắn Là công việc thu thập thông tin ngược để kiểm tra rà soát hoạt động của bộ máy nhằm điều chỉnh kịp thời những sai sót, lệch lạc đưa tổ chức tiến đến mục tiêu

Trong quản lý, chủ thể quản lý phải thực hiện một dãy các chức năng quản lý kế tiếp nhau, từ việc xây dựng kế hoạch, xác định mục tiêu phát triển cho đến kiểm tra các kết quả thực hiện và tổng kết quá trình quản lý Kết quả

có thể đạt hoặc chưa đạt các mục tiêu mong muốn Trên cơ sở các thông tin thu được, nhà quản lý xây dựng mục tiêu phát triển mới cho tổ chức và một chu trình quản lý mới lại tiếp tục Tuy nhiên các chức năng quản lý trên thực tiễn không chỉ được thực hiện một cách tuần tự mà nhiều khi đan xen lẫn nhau Thông tin là huyết mạch của quản lý, không có thông tin thì nhà quản lý không thể đưa ra những quyết định kịp thời và đúng đắn Chỉ có thông tin chính xác

về đối tượng, nhà quản lý mới thực hiện tốt 4 chức năng và vai trò thông tin trong quản lý, chúng ta có thể biểu diễn một chu trình quản lý như sau:

Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ của các chức năng quản lý

THÔNG TIN

KẾ HOẠCH

KIỂM TRA

TỔ CHỨC CHỈ ĐẠO

Trang 22

1.2.3 Quản lý giáo dục

1.2.3.1 Quản lý là một động từ chứ không phải là một danh từ

Một trong những rào cản đáng kể nhất của việc đồng hóa có hiệu nghiệm các khái niệm và hành vi quản lý vào các tổ chức giáo dục là quan niệm tồn tại dai dẳng bấy lâu nay cho rằng quản lý chỉ liên quan đến một nhóm cán bộ “quyền cao chức trọng” (công việc của nhóm người) trong tổ chức mà thôi Điều đó có liên quan đến vị thế và quyền lực Cần có một chuyển biến quan trọng trong nhận thức về quản lý Phải xem quản lý là một hoạt động lôi cuốn tất cả các thành viên trong nhà trường cùng tham gia, từ cán bộ có địa vị cao, cho đến tập thể đội ngũ giáo viên, công nhân viên trong nhà trường, thậm chí cả học sinh, sinh viên nữa Quản lý có nghĩa là tiến hành một công việc, là làm cho một sự kiện nảy sinh, là quá trình lôi cuốn tất cả mọi người vào hoạt động của họ trong tổ chức Quản lý là hoạt động chung của toàn bộ tổ chức

Quá trình quản lý diễn ra trong mọi tình huống khi con người ta tụ tập lại cùng nhau để hoạt động vì mục đích chung, để đạt được kết quả đã cùng nhau thỏa thuận Có thể có những cách hiểu về quản lý khác nhau trong những tố chức khác nhau, nhưng điều đó chỉ phản ánh sự khác biệt giữa các

tổ chức về khía cạnh quy mô, công nghệ, đội ngũ và kết quả hoạt động mà thôi Sự khác biệt dù có sâu xa về giá trị và mục đích hoạt động của các tổ chức khác nhau không làm lu mờ quan niệm về quản lý như đã trình bày

1.2.3.2 Quản lý là một khái niệm có tính tình huống cụ thể

Luận chứng mà chúng ta đưa ra là không tồn tại “một cách tốt nhất” để quản lý Quản lý không hề có nghĩa tuyệt đối, phổ quát khi chúng ta áp dụng cách thức quản lý vào bối cảnh cụ thể Quản lý chỉ có ý nghĩa nếu nó được biến thái trong mỗi tình huống cụ thể và khái niệm quản lý chỉ có giá trị nếu

nó được quan niệm theo mỗi tình huống cụ thể mà thôi

1.2.3.3 Quản lý là một quá trình đòi hỏi sự chấp nhận, tích hợp và đồng hóa

“Cẩm nang” hay quy tắc chung nhất của quản lý chỉ tồn tại dưới dạng

Trang 23

tất yếu hay trừu tượng như là kết quả của việc trình bày thực tiễn hiệu nghiệm hay việc ứng dụng các mô hình lý thuyết Còn quá trình quản lý một cách hiệu nghiệm là kết quả của việc học hỏi lý luận và thực tiễn đã được mô tả và

áp dụng chúng vào tình huống cụ thể khiến chúng phù hợp với mỗi bối cảnh riêng Quá trình đó chính là sự chấp nhận, tức là chiếm lĩnh thực tiễn; còn sự tích hợp được hiểu theo nghĩa của sự tổng hợp, kết hợp các mô hình và thủ tục Trình tự tích hợp từ các tổ chức khác để ứng dụng vào tổ chức của mình

và sự đồng hóa được hiểu là biến đổi, điều chỉnh, làm cho phù hợp với các hoạt động thực tiễn khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của bối cảnh cụ thể

1.2.3.4 Mục đích và giá trị của nhà quản lý

Để trở thành nhà quản lý cần học cách tham gia vào các cuộc tranh luận

về mục đích và giá trị Quản lý luôn có tính mục đích, nghĩa là hoạt động này luôn hướng tới việc đạt được kết quả Sự tồn tại của kết quả liên quan tới một tập hợp các giá trị cả về bản chất của kết quả và ý nghĩa của kết quả (nhờ có ý nghĩa đó mà tổ chức mới cố gắng đạt được kết quả như vậy) Để trở thành một người quản lý hiệu nghiệm, cần phải hình thành, phát triển năng lực hiểu biết bản chất của kết quả và liên hệ chúng với hệ thống các giá trị thích hợp Quản lý không và không thể là “trung tính” về giá trị và kết quả

1.2.3.5 Học quản lý là một quá trình tìm tòi, gợi mở

Người ta học để trở thành người quản lý hiệu nghiệm chỉ bằng cách thực hiện, trải nghiệm hoạt động quản lý Sự tương tác giữa lý luận và thực tiễn là yếu tố quyết định cho phép con người thông báo và mở rộng ảnh hưởng đến người khác Tuy vậy, quản lý hiệu nghiệm cũng là vấn đề về các mối quan hệ trong một tổ chức, nơi có những sai lầm được chấp nhận như là

cơ hội để tăng cường và phát triển Những tổ chức nào coi sai lầm là thất bại

sẽ là những tổ chức không thể tăng trưởng và phát triển được

1.2.3.6 Quản lý được thể hiện trong hành vi của người quản lý

Nếu quản lý là hành động thì tiêu chuẩn tối hậu đối với tính hiệu nghiệm là phạm vi mà các kết quả đạt được vươn tới và các dự tính được

Trang 24

chuyển đổi thành những biến đổi quan sát được Trong những tổ chức phức tạp, một số lượng lớn chiếm đa số các kết quả quản lý sẽ được biểu hiện dưới dạng những mối quan hệ và tác động của những quan hệ đó phải được chấp nhận như là “trọng tài” duy nhất, quan trọng nhất của tính hiệu nghiệm Người quản lý hiệu nghiệm phải có khả năng tiếp cận và xử lý hàng loạt những tình huống và vấn đề phức tạp Quản lý sự căng thẳng, đối đầu giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa giá trị và thủ đoạn và tính phức tạp cao độ của các quan hệ xã hội là nền tảng đối với quá trình quản lý Điều đó đòi hỏi kỹ năng phân tích, kỹ năng xác định ưu tiên và kỹ năng giao tiếp

1.2.3.7 Quản lý lôi cuốn sự biến đổi

John Henry Newman cho rằng “để trở thành hoàn hảo thì phải thường xuyên biến đổi” Sự quản lý hiệu nghiệm đòi hỏi một quá trình của sự đáp ứng được duy trì đối với những yêu cầu, đòi hỏi của cá nhân và của môi trường Những căng thẳng hay đối đầu thường xảy ra trong các thiết chế giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi, đổi mới phát sinh từ sự áp đặt những biến đổi

và do sự thất bại của việc chấp nhận nhu cầu có khả năng biến đổi, thay vì người ta phải cố gắng quản lý sự biến đổi

Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan “Là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”

Ngày nay với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người, tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành

hệ thống giáo dục quốc dân

Ta có thể hiểu: Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có

kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối giáo dục và nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng

Trang 25

thái mới về chất

1.2.4 Quản lý trường học

Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước – xã hội,

là nơi trực tiếp làm công tác giáo dục thế hệ trẻ Theo Phạm Minh Hạc: Quản

lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục đào tạo, đối với thế hệ trẻ và học sinh

1.2.5 Khái niệm năng lực và năng lực sư phạm

1.2.5.1 Năng lực

Đối với đội ngũ giáo viên, năng lực được hiểu trên cơ sở hệ thống những tri thức mà người giáo viên được trang bị, họ phải hình thành và nắm vững hệ thống các kỹ năng để tiến hành hoạt động sư phạm có hiệu quả Kỹ năng của người giáo viên được hiểu là khả năng vận dụng kiến thức thu được vào hoạt động sư phạm biến nó thành kỹ năng, kỹ xảo (kỹ xảo là kỹ năng đạt tới mức thành thạo, thuần thục)

Nói đến năng lực con người trước hết chúng ta cần phải hiểu được; năng lực của con người là có đủ khả năng làm một cái gì đó Nói một cách

khoa học: “Năng lực là tổng thể những thuộc tính độc đáo của một cá nhân phù hợp với một hoạt động nhất định và làm cho hoạt động đó đạt hiệu quả”

Trong tâm lí học, khái niệm năng lực được hiểu như là một tổ hợp các phẩm chất sinh lí – tâm lí phù hợp với yêu cầu của một hoạt động hoặc một lĩnh vực hoạt động nào đó, nó là cơ sở đảm bảo cho hoạt động của con người đạt hiệu quả cao

1.2.5.2 Năng lực sư phạm

Dạy học nói chung và dạy học ở trường THPT nói riêng là một nghề

mà bất cứ ai muốn hành nghề đều cần được đào tạo một cách chuyên biệt trong các trường sư phạm

Trang 26

- Năng lực sư phạm nói chung: Năng lực sư phạm là tổ hợp những đặc điểm tâm lý cá nhân của nhân cách đáp ứng yêu cầu của hoạt động sư phạm

và quyết định sự thành công trong việc nắm vững và thực hiện hoạt động ấy”

- Năng lực sư phạm: là khả năng của người giáo viên có thể thực hiện những hoạt động sư phạm Giáo viên có năng lực sư phạm là người đã tích lũy được vốn tri thức, hiểu biết và kĩ năng nhất định để làm tốt hoạt động giảng dạy và giáo dục

Mối quan hệ giữa năng lực và kĩ năng: Năng lực và kĩ năng có mối quan hệ chặt chẽ, năng lực sư phạm là thuộc tính là đặc điểm của nhân cách, còn kĩ năng sư phạm là những thao tác riêng của hoạt động sư phạm trong các dạng hoạt động cụ thể Khi một giáo viên có năng lực sư phạm tốt thì thông qua các giờ giảng bài của họ mọi người sẽ thấy được những thao tác, những cách thức tổ chức linh hoạt, hợp lí với mọi đối tượng học sinh

- Năng lực giảng dạy là một thành tố cấu thành năng lực sư phạm, nó giúp cho giáo viên thực hiện hoạt động giảng dạy có hiệu quả và có chất lượng Năng lực này bao gồm số kĩ năng tương ứng như; kĩ năng lựa chọn và vận dụng nội dung dạy học, các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thuộc môn học; kĩ năng soạn bài, tổ chức các hoạt động học tập cũng như hoạt động độc lập; kĩ năng kèm cặp và giúp đỡ học sinh kém, bồi dưỡng học sinh giỏi; kĩ năng sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học; kĩ năng phân tích, đánh giá, rút kinh nghiệm các hoạt động dạy học, kiểm tra đánh giá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh nắm được thông qua các hoạt động dạy học, giáo dục

- Cùng với năng lực giảng dạy, người giáo viên ở bất kì cấp học nào cũng cần có năng lực giáo dục (theo nghĩa hẹp) Năng lực giáo dục cũng là một thành tố quan trọng của năng lực sư phạm, bao gồm trong nó những kĩ năng chuyên biệt về giáo dục như; kĩ năng sử dụng các phương pháp, hình thức giáo dục trẻ; kĩ năng tổ chức, phối hợp các lực lượng giáo dục; kĩ năng

tổ chức các hoạt động giáo dục nội khóa; v.v

- Có nhiều nghiên cứu phân chia các năng lực sư phạm thành 3 nhóm

Trang 27

đó là:

+ Năng lực thuộc về nhân cách: Lòng yêu thương là phẩm chất cơ bản trong cấu trúc nhân cách sư phạm Năng lực tự kiềm chế và tự chủ là một phẩm chất quan trọng đối với giáo viên, đòi hỏi giáo viên trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh đều làm chủ được bản thân mình, điều khiển được tình cảm tâm trạng của mình; năng lực điều khiển được các trạng thái tâm lí, tâm trạng của mình để sao cho giáo viên luôn tỉnh táo giải quyết mọi chuyện xảy

ra trên lớp Đây là một năng lực đặc biệt đối với mỗi giáo viên, không phải ai cũng giống ai, không thể đào tạo hay bồi dưỡng để họ có năng lực này giống nhau Mỗi con người khi sinh ra và lớn lên trong các điều kiện khác nhau về nguồn gốc ghen, môi trường sống, môi trường học tập từ đó hình thành trong

họ năng lực về nhân cách có sự khác nhau Năng lực về nhân cách chính là cơ

sở quan trọng nhất để nói về sự tâm huyết của mỗi giáo viên với nghề Khi người giáo viên có năng lực về nhân cách tốt thì họ sẽ quan tâm đến việc chất lượng giờ dạy của mình có giúp gì cho học sinh không, họ sẽ tìm hiểu kỹ về điều kiện của từng học sinh để từ đó có thể giúp các em có một hứng thú trong giờ học, từ đó các em thích học và kết quả học tập sẽ tốt hơn

+ Năng lực dạy học: Bao gồm năng lực chuẩn bị, năng lực thực hiện, năng lực sử dụng ngôn ngữ của giáo viên, năng lực sử dụng các thiết bị và phương tiện dạy học, năng lực hoạt động trong và ngoài trường, năng lực kiểm tra đánh giá Năng lực dạy học là một năng lực rất quan trọng của người giáo viên, có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả của bài dạy Để có một bài dạy tốt, giáo viên phải có khả năng thiết kế, chế biến tài liệu học tập đảm bảo tính logic, đặc điểm nhận thức của học sinh Trước mỗi bài dạy người giáo viên cần có sự chuẩn bị về các bước lên lớp, các nội dung cơ bản của bài dạy, các phương pháp, phương tiện phù hợp với nội dung bài dạy

+ Năng lực tổ chức, giao tiếp: Năng lực tổ chức thể hiện ở hai mặt Tổ chức tập thể học sinh và tổ chức công việc của chính mình Năng lực này được thể hiện qua tính cẩn thận và chính xác khi lập kế hoạch hoạt động và

Trang 28

kiểm tra hoạt động; năng lực giao tiếp là năng lực thiết lập các mối quan hệ qua lại đúng đắn giữa con người với con người, giữa cá nhân với tập thể, có tính đến đặc điểm cá nhân và lứa tuổi Ngày nay, việc tạo được mối quan hệ tốt giữa thầy và trò trong quá trình dạy học là một việc không đơn giản đối với mỗi giáo viên Do hệ thống mạng Internet phát triển mạnh, nhiều học sinh

có thể nghiên cứu trước nội dung bài học trên Internet, nguồn kiến thức trên Internet có thể nói rất đa dạng nếu người thầy không có cách thức tổ chức hợp

lý thì giờ học sẽ khiến học sinh chán nản, không muốn nghe Khi học sinh không có hứng thú với việc tổ chức giảng dạy của giáo viên thì các em sẽ có những hoạt động riêng, đây là một trong những nguyên nhân tạo nên ức chế trong giao tiếp giữa thầy và trò khiến cho quan hệ giữa thầy và trò dần có một khoảng cách

Khi đội ngũ giáo viên có đầy đủ các năng lực điển hình trong các năng lực sư phạm: Năng lực hiểu học sinh; năng lực tự học, tự bồi dưỡng; năng lực thiết kế bài giảng; năng lực dạy học; năng lực ngôn ngữ; năng lực lời nói; năng lực giao tiếp; năng lực kéo léo ứng xử sư phạm; năng lực tổ chức thì việc giảng dạy và giáo dục học sinh sẽ là một quá trình kết hợp khéo léo giữa thầy và trò để học sinh đạt kết quả cao trong việc chiếm lĩnh tri thức và hình thành nhân cách của bản thân

Đối chiếu với chuẩn đánh giá giáo viên trung học phổ thông (theo thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT. Khi giáo viên có đủ năng lực sư phạm thì việc thực hiện theo chuẩn, đánh giá theo chuẩn luôn luôn được đảm bảo

1.2.6 Quản lý năng lực sư phạm

Từ khái niệm quản lý và khái niệm năng lực sư phạm ta có thể hiểu việc quản lý năng lực sư phạm của giáo viên tại một trường THPT là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của Ban giám hiệu, các tổ trưởng chuyên môn phù hợp với các tiêu chuẩn về nghề nghiệp giáo viên phổ thông và tiêu chuẩn

về năng lực sư phạm của giáo viên THPT đến các giáo viên nhằm giúp cho kỹ năng giảng dạy và kỹ năng giáo dục của mỗi giáo viên được nâng lên từ đó

Trang 29

đáp ứng được các mục tiêu đề ra của nhà trường

Vậy: Quản lý năng lực sư phạm là các tác động có mục đích, có kế hoạch, phù hợp với các tiêu chuẩn về nghề nghiệp và các yêu cầu về năng lực

sư phạm và các quy luật khách quan của chủ thể quản lý (Đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường) đến đối tượng quản lý (giáo viên) nhằm nâng cao kỹ năng giảng dạy và kỹ năng giáo dục của giáo viên để đưa nhà trường tiến đến

mục tiêu đã xây dựng

1.3 Các yêu cầu về năng lực nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên trường THPT

1.3.1 Yêu cầu về năng lực dạy học

1.3.1.1.Yêu cầu về năng lực chuẩn bị lập kế hoạch dạy học môn học

Để lập được một kế hoạch dạy học cho môn học thì người giáo viên trước hết phải có sự chuẩn bị trước khi bắt tay vào việc lập kế hoạch, sự chuẩn bị càng kỹ bao nhiêu thì kế hoạch càng khả thi bấy nhiêu Đối với một giáo viên thì việc chuẩn bị lập kế hoạch dạy môn học cần:

Sử dụng được các phương pháp và kỹ thuật tìm hiểu học sinh để xác định được trình độ học lực, hứng thú học tập và phong cách học tập của HS;

Phân tích được chương trình môn học và phân phối chương trình, chuẩn kiến thức kỹ năng môn học đối với từng lớp và toàn cấp;

Xác định được các điều kiện cơ sở vật chất - thiết bị dạy học của trường phục vụ cho dạy học môn học;

Xác định được các yếu tố kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên của địa phương nhằm hỗ trợ cho việc dạy học gắn với thực tiễn

1.3.1.2 Yêu cầu về năng lực lập kế hoạch dạy học môn học

Thiết kế được cấu trúc kế hoạch môn học đảm bảo mối quan hệ biện chứng giữa mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức dạy học, phương pháp, phương tiện dạy học và hình thức kiểm tra, đánh giá;

Xác định mục tiêu dạy học môn học, từng chương đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học và phù hợp với đối tượng học sinh, với điều kiện cơ sở vật chất – thiết bị dạy học của nhà trường và đặc điểm địa phương;

Trang 30

Xác định thời lượng cho các chủ đề nội dung phù hợp với logic, trọng

số các nội dung, với đặc điểm học sinh, điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường và đặc điểm địa phương;

Xác định được các hình thức tổ chức, phương pháp dạy học phù hợp với nội dung từng chủ đề, với đặc điểm học sinh, điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường và đặc điểm địa phương;

Xác định được nội dung, hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh phù hợp với mục tiêu, chuẩn kết quả học tập mỗi chương, mỗi phần của chương trình

1.3.1.3 Yêu cầu về năng lực lập kế hoạch bài học

Nghiên cứu các tài liệu có liên quan, chuẩn bị các phương tiện, đồ dụng dạy học, xác định được kiến thức đã có của học sinh liên quan đến bài học mới, dự kiến các tình huống nảy sinh, hệ thống các bài tập, câu hỏi theo các mục đích khác nhau;

Xác định được mục tiêu bài học theo hướng hình thành năng lực, thể hiện tính tích hợp và phân hóa theo các bậc nhận thức, phù hợp với các loại đối tượng học sinh trong lớp và biểu đạt mục tiêu thành các dấu hiệu có thể quan sát, đo lường được;

Xác định được hình thức tổ chức tự học của học sinh ở nhà với các phương pháp giúp học sinh tự học và kiểm tra, đánh giá kết quả tự học;

Thiết kế được các hoạt động học tập phù hợp với mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo ở học sinh và phù hợp với từng loại đối tượng học sinh;

Lựa chọn hợp lí các thiết bị dạy học và xác định được thời điểm, phương pháp sử dụng;

Phân phối thời gian hợp lí cho các hoạt động trên lớp;

Dự kiến được các tình huống có thể nảy sinh và cách xử lí

1.3.1.4 Yêu cầu về năng lực tổ chức dạy học trên lớp

Khi các khâu chuẩn bị đã đảm bảo tốt thì người giáo viên lê lớp còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tổ chức dạy học trên lớp Nếu năng lực này không

Trang 31

đảm bảo thì khó có được một giờ dạy hiệu quả Để đảm bảo tốt về năng lực này thì mỗi giáo viên cần phải hội tụ đủ các yêu cầu sau:

Quản lí được lớp học, lôi cuốn được toàn thể học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động học tập trên lớp;

Sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học đảm bảo được các yêu cầu về kĩ thuật và nguyên tắc sư phạm;

Trình bày bảng hợp lí, lời nói rõ ràng, mạch lạc, thu hút sự chú ý của học sinh;

Sử dụng được các phương pháp, kĩ thuật thu thông tin phản hồi để kịp điều chỉnh hoạt động dạy học cho phù hợp; xử lí hợp lí các tình huống nảy sinh; Giao tiếp thân thiện, tôn trọng, khích lệ học sinh, tạo được môi trường học tập tương tác;

Tự đánh giá được mức độ đạt được mục tiêu bài học

1.3.1.5 Yêu cầu về năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

Đây là một năng lực mà nếu giáo viên làm tốt thì là niềm động viên khích lệ đối với mỗi học sinh, ngược lại nó sẽ gây ảnh hưởng không tốt, đôi khi còn khiến học sinh chán học Vì vậy để năng lực này đảm bảo đối với mỗi giáo viên thì cần có các yêu cầu:

Xây dựng được kế hoạch kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn học cho cả năm, từng học kì và từng tuần;

Lựa chọn được các hình thức kiểm tra, đánh giá phù hợp với mục đích của kiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kì, tổng kết theo hướng xác định mức độ năng lực học sinh;

Sử dụng được các kĩ thuật để thiết kế đề kiểm tra, đánh giá đảm bảo độ tin cậy, độ giá trị của đề kiểm tra;

Chỉ ra được những ưu điểm, sai sót của học sinh trong chấm bài và tổ chức trả bài để giúp học sinh tự điều chỉnh hoạt động học của mình;

Tổ chức được hoạt động tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và tự điều chỉnh hoạt động học tập của học sinh;

Trang 32

Sử dụng được thông tin phản hồi từ kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh hoạt động dạy học;

Sử dụng được một số phần mềm thông dụng trong kiểm tra, đánh giá

1.3.1.6 Yêu cầu về năng lực quản lý hồ sơ dạy học

Công việc này tưởng như đơn giản đối với mỗi giáo viên, nhưng thực tế thì không hẳn như vậy Khi một giáo viên biết quản lý hồ sơ dạy học thì người đó luôn có được một cái nhìn tổng thể đối với mỗi công việc cần làm,

từ đó có định hướng và cách giải quyết vấn đề hợp lý hơn Năng lực này được đảm bảo khi mỗi giáo viên có đủ các yêu cầu sau:

Lập được hồ sơ dạy học với từng tệp riêng chứa đựng các thông tin hỗ trợ cho việc lập kế hoạch dạy học, theo dõi sự tiến bộ của học sinh, bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh kém;

Sử dụng được công nghệ thông tin trong việc lập, bảo quản và sử dụng

hồ sơ dạy học

1.3.2 Yêu cầu về năng lực giáo dục

1.3.2.1 Yêu cầu về năng lực giáo dục qua dạy học

Thông qua mỗi bài dạy luôn có những tình huống, những vấn đề cụ thể đòi hỏi mỗi giáo viên phải có cách giải quyết hợp lý, từ đó giáo dục học sinh

về đạo lý, về kỹ năng xử lý một vấn đề trong thực tế Điều này sẽ được thực hiện tốt khi mỗi giáo viên có đủ các yêu cầu sau:

Khai thác được tiềm năng giáo dục của nội dung, các hình thức tổ chức, phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực;

Khai thác được tiềm năng giáo dục qua việc xử lí các tình huống nảy sinh trong giờ học

1.3.2.2 Yêu cầu về năng lực xử lý tình huống giáo dục

Tình huống sư phạm luôn luôn hiện hữu trong mỗi giờ giảng của giáo viên Để giúp giáo viên xử lý tốt các tình huống giáo dục thì mỗi giáo viên cần có các yêu cầu sau:

Phát hiện và nhận dạng được tính chất của tình huống xảy ra;

Trang 33

Thu thập và xử lý được thông tin cần thiết để giải quyết tình huống; Lựa chọn và thực hiện được phương án giải quyết tình huống phù hợp nhất;

Lôi cuốn được học sinh tham gia vào toàn bộ quá trình xử lí tình huống giáo dục;

Đánh giá được cách giải quyết tình huống và rút kinh nghiệm

1.3.2.3 Yêu cầu về năng lực tư vấn cho học sinh

Đây là một trong những năng lực giúp cho mỗi giáo viên khẳng định vai trò của mình đối với học sinh Tư vấn về tâm lý, về học tập, về nghề nghiệp… Việc này đòi hỏi mỗi giáo viên phải hội tụ đủ các yêu cầu sau:

Xây dựng được quan hệ thân thiện, tôn trọng, tin cậy với học sinh; Khơi gợi học sinh giãi bày vấn đề đang gặp phải;

Tư vấn cho học sinh lựa chọn quyết định và giải quyết vấn đề một cách

tích cực, mang tính xây dựng

1.3.2.4 Yêu cầu về năng lực phối hợp với gia đình học sinh và các lực lượng giáo dục khác

Làm công tác giáo dục trong thời kỳ đất nước đang trên đà phát triển, cha

mẹ học sinh thì quan tâm nhiều hơn đến phát triển kinh tế, không còn thời gian

để ý đến việc học tập và lớn lên của con em mình Học sinh THPT là một đối tượng mà về tâm sinh lý đang có những thay đổi rõ rệt và đặc biệt là các em đã

có khả năng tự lập, tự làm nhưng lại thiếu định hướng tốt, xã hội thì lại có rất nhiều điều lôi kéo Vì vậy rất cần năng lực này của mỗi giáo viên để lớp lớp học sinh có được sự quan tâm chia sẻ giữa gia đình, giáo viên, xã hội Mỗi giáo viên cần có các yêu cầu sau để đảm bảo năng lực này:

Xác định được lực lượng cần phối hợp để tác động đến học sinh hoặc để

tổ chức hoạt động ngoại khóa, hoạt động giáo dục khác dựa trên khả năng và ưu

thế của họ;

Lập được kế hoạch phối hợp và tổ chức thực hiện kế hoạch phù hợp với

khả năng và ưu thế của từng lực lượng;

Trang 34

Đánh giá và rút được kinh nghiệm sau khi phối hợp

1.3.2.5 Yêu cầu về năng lực xây dựng kế hoạch chủ nhiệm lớp

Việc xây dựng kế hoạch chủ nhiệm lớp giúp cho mỗi giáo viên làm

công tác chủ nhiệm có được sự chuẩn bị chu đáo, có được cái nhìn khách quan đối với lớp học sinh chủ nhiệm, từ đó có cách giáo dục với mỗi học sinh Năng lực này yêu cầu mỗi giáo viên cần:

Sử dụng được các phương pháp, kĩ thuật để xác định đặc điểm của cá

nhân, tập thể học sinh và môi trường giáo dục;

Xây dựng được kế hoạch công tác chủ nhiệm đảm bảo mối quan hệ biện chứng giữa mục tiêu, nội dung, biện pháp, thời điểm, nguồn lực, kết quả

mong đợi;

1.3.2.6 Yêu cầu về năng lực tổ chức hoạt động giáo dục

Đây là một năng lực giúp cho mỗi giáo viên tổ chức cho nhóm học sinh, lớp học sinh tham gia các hoạt động, từ đó hình thành ở mỗi học sinh tinh thần đoàn kết, tinh thần tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau Để năng lực này được tốt thì mỗi giáo viên cần có đủ các yêu cầu sau:

Cố vấn cho học sinh thiết kế kịch bản tổ chức các dạng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đảm bảo mục tiêu giáo dục toàn diện;

Lôi cuốn sự tham gia của học sinh vào việc tổ chức và thực hiện các hoạt động giáo dục;

Tổ chức cho học sinh tự đánh giá kết quả hoạt động và rút kinh nghiệm

1.3.2.7 Yêu cầu về năng lực tổ chức giờ sinh hoạt lớp

Giờ sinh hoạt lớp là một việc làm hàng tuần với mỗi giáo viên làm công tác chủ nhiệm, tổ chức được một giờ sinh hoạt tốt để từ đó giáo dục đạo đức cho mỗi học sinh là một việc làm không hề đơn giản Năng lực tổ chức giờ sinh hoạt lớp đòi hỏi mỗi giáo viên cần làm tốt vai trò:

Cố vấn cho học sinh thiết kế nội dung chương trình sinh hoạt lớp;

Lôi cuốn sự tham gia của học sinh vào tổ chức và thực hiện giờ sinh hoạt lớp;

Trang 35

Tổ chức cho học sinh tự đánh giá và rút kinh nghiệm

1.3.2.8 Yêu cầu về năng lực giáo dục học sinh có hành vi không mong đợi

Trong quá trình giảng dạy cũng như làm công tác chủ nhiệm mỗi giáo viên không thể tránh khỏi việc bắt gặp một học sinh có hành vi không mong đợi Nếu giải quyết tốt đối với tình huống này thì mỗi giáo viên sẽ cảm thấy yêu nghề hơn, ngược lại sẽ làm cho giáo viên cảm thấy chán nản đồng thời khi ta xử lý tốt tình huống thì học sinh có hành vi không mong đợi sẽ có những thay đổi theo chiều hướng tích cực Đây là một năng lực mang tính tâm

lý giáo dục đòi hỏi mỗi giáo viên phải có các yêu cầu:

Xây dựng được kế hoạch giáo dục học sinh “cá biệt” trên cơ sở tìm hiểu, xác định được nguyên nhân, năng lực, sở trường, nhu cầu;

Phối hợp được với gia đình, giáo viên môn học, tập thể lớp và các tổ chức xã hội trong và ngoài trường để giáo dục học sinh “cá biệt” có kết quả;

Ứng xử phù hợp với những dạng hành vi không mong đợi của học sinh; Khơi dậy được lòng tự trọng để học sinh tự hoàn thiện bản thân

1.3.2.9 Yêu cầu về năng lực xây dựng, quản lý và sử dụng hồ sơ giáo dục

Hồ sơ chủ nhiệm là một tài liệu làm căn cứ khi cần thiết trong việc giáo dục học sinh vì vậy mỗi giáo viên cần có đủ các yêu cầu đối với năng lực này:

Xây dựng và cập nhật được hồ sơ chủ nhiệm;

Khai thác được hồ sơ chủ nhiệm để phục vụ cho việc đánh giá, ra các

quyết định giáo dục và làm các loại báo cáo;

Bảo quản được hồ sơ về học sinh an toàn và bí mật

1.3.2.10 Yêu cầu về năng lực kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục

Nghề giáo viên thì mỗi người luôn phải thực hiện song song giữa giảng dạy và giáo dục Ta luôn kiểm tra đánh giá quá trình giảng dạy mà ít người quan tâm đến việc đánh giá kết quả giáo dục Việc đánh giá kết quả giáo dục lại rất cần thiết để từ đó ta có thể giúp cho mỗi học sinh hình thành ý thức đạo đức tốt Năng lực này yêu cầu mỗi giáo viên cần:

Xác định được mục đích và nội dung đánh giá với các tiêu chí phù hợp;

Trang 36

Xác định hình thức, phương pháp, kĩ thuật thiết kế công cụ đánh giá đảm bảo độ tin cậy và độ giá trị;

Sử dụng công cụ để thu thập thông tin đa chiều từ nhiều nguồn khác nhau;

Xử lí, phân tích thông tin để đưa ra kết luận đánh giá khách quan, khích lệ;

Tổ chức được hoạt động tự đánh giá và điều chỉnh kết quả giáo dục của học sinh;

Sử dụng kết quả đánh giá để hướng dẫn học sinh tự giáo dục; để giáo viên điều chỉnh nội dung, phương pháp giáo dục, phối hợp với cha mẹ học sinh, các lực lượng giáo dục khác và để xây dựng kế hoạch cho giai đoạn sau

1.3.3 Yêu cầu về năng lực phát triển nghề nghiệp

1.3.3.1 Yêu cầu về năng lực tự đánh giá và phát triển trình độ nghề nghiệp

Mỗi giáo viên luôn phải biết rõ mặt mạnh, mặt yếu của chính mình để

từ đó có kế hoạch tự điều chỉnh cho bản thân, giúp cho mình hoàn thiện hơn

và luôn đảm bảo được các yêu cầu về nghề nghiệp trong cuộc sống Năng lực này đòi hỏi mỗi giáo viên phải có các yêu cầu sau:

Đối chiếu, so sánh năng lực của bản thân với chuẩn NVSP để nhận ra những mặt mạnh và hạn chế;

Xây dựng được kế hoạch phát huy điểm mạnh, khắc phục hạn chế để nâng cao trình độ nghề nghiệp của bản thân;

Huy động và sử dụng các nguồn lực khách quan và chủ quan để thực hiện được kế hoạch đặt ra;

Tự đánh giá việc thực hiện kế hoạch dựa trên các minh chứng về sự tiến bộ nghề nghiệp

1.3.3.2 Yêu cầu về năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục

Khi có năng lực nghiên cứu khoa học sẽ giúp cho mỗi giáo viên có được một lượng thông tin từ khoa học, từ xã hội để làm công cụ hỗ trợ cho mình trong mỗi giờ dạy hay tư vấn cho học sinh Yêu cầu đối với mỗi giáo viên là:

Xác định được vấn đề, đối tượng, mục đích, nhiệm vụ cần nghiên cứu; Lựa chọn được các phương pháp nghiên cứu phù hợp;

Trang 37

Triển khai các hoạt động nghiên cứu;

Tổng kết, viết và trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu

Kết luận chương 1

Qua nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, các yêu cầu về năng lực sư phạm của đội ngũ nhà giáo THPT và việc quản lý năng lực sư phạm của đội ngũ nhà giáo được trình bày ở trên, tác giả rút ra một số kết luận sau:

Quản lý là một hiện tượng xã hội Trong một tổ chức thì hoạt động quản lý là tất yếu Bản chất của hoạt động quản lý là tổ chức, điều khiển của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý Quản lý một tổ chức với tư cách là một

hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng những phương pháp thích hợp nhằm đạt được mục tiêu đề ra

Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong lĩnh vực giáo dục nhằm đạt mục tiêu giáo dục đề ra hợp với quy luật phát triển của xã hội Nhà trường là tổ chức giáo dục chuyên nghiệp, là đơn vị cơ sở của hệ thống giáo dục Quản lý nhà trường chính là thực hiện các chức năng quản lý giáo dục trong phạm vi nhà trường Nội dung cơ bản nhất của quản lý nhà trường là quản lý hoạt động giảng dạy, trong đó muốn công tác giảng dạy có chất lượng thì đòi hỏi người thầy phải

có năng lực sư phạm tốt Như vậy để đảm bảo chất lượng giáo dục ở mỗi nhà trường thì việc quản lý năng lực sư phạm là hết sức cần thiết

Đối với trường THPT Bất Bạt - Ba Vì - Hà Nội, quản lý năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên nhằm năng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ nhà giáo từ đó tạo nên các giờ dạy hiệu quả, thực hiện được mục tiêu, kế hoạch đào tạo, đảm bảo nội dung, phương pháp giảng dạy để đạt kết quả về tri thức chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, định hướng giá trị, ý thức thái độ của học sinh thông qua hoạt động giảng dạy Để làm được việc trên, cán bộ quản lý trường THPT Bất Bạt phải có các biện pháp quản lý thích hợp

Trang 38

Biện pháp quản lý năng lực sư phạm là hệ thống các kế hoạch của cán bộ quản lý tác động lên đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao năng lực sư phạm của đội ngũ nhà giáo, không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy của nhà trường

Các khái niệm cơ bản về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, năng lực, năng lực sư phạm, quản lý năng lực sư phạm và các yêu cầu về năng lực sư phạm của giáo viên trong trường THPT ở trên là cơ sở lý luận giúp cho việc nghiên cứu thực trạng quản lý năng lực sư phạm của trường THPT Bất Bạt - Ba Vì - Hà Nội được trình bày ở chương 2

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NĂNG LỰC SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BẤT BẠT HUYỆN BA VÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Khái quát chung về trường THPT Bất Bạt - Sơn Đà - Ba Vì - Hà Nội

2.1.1 Vài nét về vị trí địa lí

Trường THPT Bất Bạt đóng trên địa bàn xã Sơn Đà, huyện Ba Vì Tổng diện tích khuôn viên là 15.894 m2, cách trung tâm thành phố Hà Nội về phía Tây 70km Được sự đồng ý của Bộ Giáo dục, ngày 04/11/1965 Ủy ban hành chính tỉnh Hà Tây đã Quyết định thành lập trường cấp III Bất Bạt - Ngôi trường cấp III đầu tiên của huyện Bất Bạt, tỉnh Hà Tây Xã Sơn Đà là xã thuộc vùng đồi gò bán sơn địa, ở phía Tây Nam huyện Ba Vì, tổng diện tích

tự nhiên là 1.209,42 ha, dân cư được phân bổ thành 5 thôn (03 thôn ở vùng đồi, 02 thôn ở vùng bãi) với 2.029 hộ và 8.827 nhân khẩu Nhân dân sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và buôn bán nhỏ lẻ

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trường THPT Bất Bạt

Trường THPT Bất Bạt năm học 2013 - 2014 có gần 90 cán bộ, giáo viên và nhân viên được chia thành 05 tổ chuyên môn:

Việc chia tổ chuyên môn như vậy khá phù hợp với đặc thù của bộ môn

và nhóm chuyên môn, từ đó tạo điều kiện tốt để các tổ nhóm chuyên môn tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo kế hoạch

Trang 40

2.2 Thực trạng về trường THPT Bất Bạt và năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên nhà trường

2.2.1 Thực trạng về trường THPT Bất Bạt

2.2.1.1 Quy mô trường lớp và điều kiện cơ sở vật chất

+ Về quy mô trường lớp:

Trường THPT Bất Bạt năm học 2013 - 2014 có tổng số 28 lớp, trong

đó khối 10 có 10 lớp, khối 11 có 9 lớp, khối 12 có 9 lớp với tổng số học sinh

là gần 1100 học sinh

+ Về điều kiện cơ sở vật chất:

Bảng 2.1: Cơ sở vật chất về phòng học, phòng phục vụ, phòng hành

chính chia theo chức năng năm học 2013 - 2014

A Khối phòng học Số lượng Tổng Làm mới Cải tạo

Ngày đăng: 26/09/2020, 01:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w