1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực thi pháp luật của Hải quan Việt Nam về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu : Luận văn ThS. Luật: 60 38 01 07

116 33 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ĐỖ THỊ ANH Thực thi pháp luật của Hải quan Việt Nam về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu Chuyờn ngành: Luật Kinh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐỖ THỊ ANH

Thực thi pháp luật của Hải quan Việt Nam

về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu

Chuyờn ngành: Luật Kinh tế

Mó số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: TS PHAN THỊ THANH THỦY

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đỗ Thị Anh

Trang 3

QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM 7 1.1 Khái quát về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu

và nhãn hiệu hàng hóa 7 1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu và nhãn hiệu hàng hóa 7 1.1.2 Quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa 11 1.1.3 Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất

nhập khẩu 13 1.2 Chức năng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu

hàng hóa xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam 20 1.2.1 Địa vị pháp lý và phạm vi hoạt động của cơ quan Hải quan 20 1.2.2 Hoạt động của Hải quan về kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu

và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu 24 1.3 Cơ sở pháp lý của việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với

nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam 25 1.3.1 Điều ước quốc tế 25 1.3.2 Pháp luật quốc gia 27

Trang 4

1.4 Kinh nghiệm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu

hàng hóa xuất nhập khẩu của Hải quan ở một số nước trên

thế giới 28

1.4.1 Pháp luật Hoa Kỳ 28

1.4.2 Pháp luật Trung Quốc 31

1.4.3 Pháp luật Nhật Bản 33

1.4.4 Kinh nghiệm cho Việt Nam 35

Chương 2:THỰC TRẠNG XÂM PHẠM VÀ HOẠT ĐỘNG THỰC THI PHÁP LUẬT CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM ĐỂ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU 38

2.1 Pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động của Hải quan Việt Nam trong công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu 38

2.1.1 Các quy định của pháp luật trong nước 38

2.1.2 Các Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia 40

2.2 Hoạt động thực thi của Hải quan Việt Nam về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu 46

2.2.1 Quy trình và tác nghiệp tiếp nhận, xử lý đơn yêu cầu kiểm tra, giám sát và đơn yêu cầu tạm dừng làm thủ tục Hải quan 47

2.2.2 Quy trình và tác nghiệp nghiệp vụ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của cơ quan Hải quan 52

2.3 Sự phối hợp của Hải quan với các cơ quan chức năng và chủ thể quyền để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu 63

2.3.1 Sự phối hợp của Hải quan với các cơ quan chức năng 63

2.3.2 Sự hợp tác của Hải quan với chủ thể quyền 67

Trang 5

2.3.3 Hợp tác quốc tế của cơ quan Hải quan về bảo vệ quyền sở hữu

trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu 69 2.4 Thực trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn

hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu và thực tiễn đấu tranh của cơ quan Hải quan 71 2.5 Dự báo tình hình xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với

nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu 77 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ

THỰC THI PHÁP LUẬT CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU 82 3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật 82 3.2 Các giải pháp cụ thể 84 3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật trong quy trình nghiệp

vụ Hải quan về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu 84 3.2.2 Nâng cao năng lực thực thi của Hải quan Việt Nam 89 3.2.3 Tăng cường phối hợp giữa Hải quan với các cơ quan chức năng

của Nhà nước 96 3.2.4 Nâng cao ý thức tự bảo vệ của chủ thể quyền về bảo vệ quyền

sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu 98 3.2.5 Tăng cường hợp tác quốc tế của Hải quan Việt Nam về bảo vệ

quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu 99 3.2.6 Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nhận thức cộng đồng về bảo vệ

quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu 101 KẾT LUẬN 103 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

SHTT: Sở hữu trí tuệWTO: Tổ chức Thương mại thế giới XNK: Xuất nhập khẩu

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ và thương mại, các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) ngày càng phát triển mạnh mẽ Trong các đối tượng SHTT, tuy mỗi đối tượng đều có vai trò nhất định nhưng xét trong tính chất quan hệ thương mại hàng hóa quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, nhãn hiệu trở nên nổi bật hơn cả Nó gắn chặt với quá trình lưu thông hàng hóa và là một trong những tài sản có giá trị, thậm chí là một trong những nguồn vốn chủ yếu của doanh nghiệp trong cuộc cạnh tranh khốc liệt, gay gắt với các đối thủ của mình Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, với

sự cạnh tranh khốc liệt giữa các loại hàng hóa và dịch vụ cũng như trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hiện nay, vai trò của nhãn hiệu - một trong những đối tượng truyền thống và chủ yếu của sở hữu công nghiệp (SHCN) - ngày càng trở nên quan trọng Với chức năng ban đầu là giúp người tiêu dùng phân biệt hàng hóa cùng loại của các nhà sản xuất khác nhau, qua quá trình sử dụng và phát triển, nhãn hiệu đã trở thành một công cụ hữu hiệu cho một doanh nghiệp (dù lớn hay nhỏ) tiếp cận, phát triển và bảo vệ thị phần hàng hóa và dịch vụ của mình

Trong bối cảnh nước ta đang tiến đến mục tiêu hội nhập vào nền kinh tế thế giới mà cụ thể của quá trình đó là việc gia nhập vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Việt Nam sẽ trở thành một thị trường thực sự hấp dẫn đối với các doanh nghiệp nước ngoài Hiện nay, đã có rất nhiều nhãn hiệu và dịch vụ nổi tiếng thế giới xuất hiện trên thị trường Việt Nam Do đó cần bảo đảm tốt công tác thực thi pháp luật bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu đặc biệt là đối với những địa bàn thuộc hoạt động của Hải quan như khu vực cửa khẩu đường bộ, đường hàng không…

Trang 8

Trong hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) hàng hoá, cơ quan Hải quan đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa Với chức năng là cơ quan “gác cửa nền kinh tế đất nước”, thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kiểm soát về Hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh Việt Nam Trên phương diện khách quan và chủ quan, Hải quan Việt Nam là cơ quan có đủ năng lực và điều kiện nhất để thực thi có hiệu quả công tác bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa Tuy nhiên thực tế hiện nay, cơ quan Hải quan các cấp còn gặp nhiều vướng mắc cần làm rõ cả về lý luận và thực tiễn

Việc xâm phạm các đối tượng quyền SHTT diễn ra phổ biến và nhiều nhất là nhãn hiệu ở tất các các khâu trong dây chuyền cung ứng thương mại

Do vậy, việc bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu đang là một vấn đề cấp bách được cộng đồng các doanh nghiệp cũng như các cơ quan thực thi pháp luật đặc biệt quan tâm Đặc biệt là khi lưu lượng hàng hoá XNK ngày càng gia tăng, đòi hỏi cơ quan Hải quan phải nỗ lực thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm

Cơ quan Hải quan là cơ quan chủ quản được giao nhiệm vụ thực thi quyền SHTT trong hoạt động kiểm soát hàng hóa XNK đã đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên, kết quả đạt được còn hạn chế, thực tiễn áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này còn nhiều vướng mắc chưa đáp ứng được yêu cầu đặt

ra Do vậy, cần phải nghiên cứu, đánh giá một cách tổng thể thực trạng bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu trong hoạt động XNK hàng hóa để có giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả công tác công tác này trên thực tế

Xuất phát từ những vướng mắc, bất cập cả về mặt lý luận và thực tiễn

nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Thực thi pháp luật của Hải quan Việt Nam

về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu” làm đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sĩ của mình

Trang 9

(NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2010) do PGS.TS Nguyễn Bá Diến làm chủ

biên; đề tài nghiên cứu khoa học cấp ĐHQG năm 2002: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ trên thế giới và phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ” của TS Nguyễn Thị Quế Anh

Ngoài ra có thể kể đến một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ về đề tài nghiên cứu nhãn hiệu như Luận án tiến sĩ: “Những vấn đề pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam” của tác giả Lê Mai Thanh (2006); các luận văn thạc sĩ: “Cơ sở pháp lý cho việc

bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam” của tác giả Đỗ Thị Hằng (2004),

“Bảo hộ nhãn hiệu trong pháp luật Việt Nam và Liên minh Châu Âu” của tác giả Hồ Vinh Thịnh (2006), “Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định của pháp luật Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Vân (2010)…

Đặc biệt vấn đề liên quan đến bảo hộ và thực thi quyền SHCN trong lĩnh vực Hải quan như đề tài “Hoàn thiện các giải pháp thực thi Sở hữu công nghiệp đối với hàng hoá xuất nhập khẩu ở Việt Nam” của Vũ Ngọc Anh (2001), đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành Hải quan năm 2001; luận văn thạc sĩ “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới của cơ quan Hải quan Việt Nam” Trần Thị Thu Vân (2011) và các bài báo, tạp chí như: “Thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của Hải quan Việt Nam đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu” Nguyễn Thị Thương Huyền,Tạp chí Nhà nước và pháp luật (Số

Trang 10

5/2008), “Thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại cơ quan Hải quan theo quy định của pháp luật Việt Nam” Nguyễn Hồng Bắc, tạp chí Luật học, số 3/2010… Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề thực thi pháp luật của Hải quan Việt Nam về bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa XNK Do đó đây là vấn đề độc lập không trùng lặp với các đề tài trên Mặc dù vậy, tác giả luôn có ý thức kế thừa, học hỏi những kết quả mà các công trình khoa học, luận án, luận văn, các bài viết đã đạt được cũng như các kinh nghiệm thực tiễn có liên quan đến đề tài

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích, luận giải và đánh giá quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa trong hoạt động kiểm soát hàng hóa XNK của Hải quan Từ đó, đề xuất một số quan điểm, phương hướng, biện pháp phù hợp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu và tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi

Bên cạnh đó, thông qua việc tìm hiểu pháp luật về bảo vệ quyền SHTT đối với NHHH của Hải quan một số nước để rút ra những kinh nghiệm cho Hải quan Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là vấn đề bảo vệ quyền SHTT đối với NHHH gắn với hoạt động thực tiễn của Hải quan Việt Nam để

có đánh giá một cách tổng thể, toàn diện về vấn đề này

Ngoài ra, việc phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia về xây dựng

hệ thống bảo hộ quyền SHTT cũng là đối tượng nghiên cứu của luận văn

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh trực tiếp vấn đề thực thi quyền SHTT đối với nhãn hiệu trong hoạt động kiểm soát hàng hóa XNK của Hải quan

Trang 11

Ngoài ra, tác giả còn kết hợp với việc nghiên cứu các điều ước quốc tế

mà Việt Nam tham gia điều chỉnh trực tiếp như các tài liệu nghiệp vụ của WTO,WCO và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước

ta về phát triển kinh tế, cải cách hành chính và hiện đại hóa ngành Hải quan Tác giả đã sử dụng các phương pháp chủ yếu là phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp phương pháp phân tích tổng hợp, các phương pháp đối chiếu so sánh, thống kê, quy nạp để rút ra bản chất của các sự vật, hiện tượng thuộc đối tượng nghiên cứu

5 Những đóng góp của luận văn

Về khoa học, luận văn sẽ đi sâu phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến công tác bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu trong hoạt động kiểm soát hàng hóa XNK của Hải quan; tình hình của Việt Nam về công tác này nhằm làm rõ cơ sở khoa học, thực tiễn của việc hoàn thiện các quy định pháp lý và nâng cao năng lực của Hải quan Việt Nam

về bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa XNK Từ đó có một cái nhìn khách quan về thực trạng hiện nay tại Việt Nam

Về thực tiễn, luận văn nghiên cứu một cách toàn diện về các khía cạnh pháp lý của công tác bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa XNK của cơ quan Hải quan Từ đó, luận văn đã chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật và thực tế thực thi pháp luật của Việt Nam, đề xuất các phương hướng, giải pháp khắc phục nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, nâng cao hiệu quả công tác này của Hải quan Việt Nam trên thực tế

6 Tổng quan tài liệu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phân tích các quy định của pháp

Trang 12

luật Việt Nam về bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu gắn với hoạt động của Hải quan Việt Nam Cùng với việc sưu tầm và sử dụng các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau tại kho dữ liệu của Tổng cục Hải quan, Cục Điều tra chống buôn lậu - Tổng cục Hải quan, Cục Sở hữu trí tuệ, các tài liệu thu thập qua mạng Internet và các bài báo, tạp chí liên quan

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam

Chương 2 Thực trạng xâm phạm và hoạt động thực thi pháp luật của

Hải quan Việt Nam để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu

Chương 3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp

luật của Hải quan Việt Nam về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu xuất nhập khẩu

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU

CỦA HẢI QUAN VIỆT NAM

1.1 Khái quát về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu và nhãn hiệu hàng hóa

1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu và nhãn hiệu hàng hóa

1.1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu

Nhãn hiệu đã có từ thời cổ đại, thậm chí từ lúc con người còn tự cung cấp những gì họ cần cho bản thân nhiều hơn là mua chúng từ những người thợ thủ công Thời đó, có những thương gia sáng tạo đã biết bán hàng hoá ra bên ngoài vùng sinh sống của họ và thậm chí có khi tới những vùng rất xa xôi Cách đây 3000 năm, những người thợ thủ công Ấn Độ đã từng chạm khắc chữ ký của mình trên các tác phẩm nghệ thuật trước khi gửi hàng tới Iran Các nhà sản xuất Trung Quốc đã bán hàng hoá mang nhãn hiệu của mình tại Địa Trung Hải từ 2000 năm trước và cùng thời gian đó hàng ngàn nhãn hiệu đồ gốm La Mã khác nhau đã được sử dụng Nhờ việc kinh doanh phát đạt thời Trung cổ mà việc sử dụng các dấu hiệu để phân biệt hàng hoá của các thương gia và các nhà sản xuất đã khá phát triển Tuy vậy, tầm quan trọng về mặt kinh tế của chúng vẫn còn hạn chế [4, tr.65]

Sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa kéo theo sự phát triển của hoạt động thương mại và buôn bán hàng hóa đã khiến cho nhãn hiệu ngày càng đóng vai trò quan trọng trong giao lưu kinh tế Từ đó, nhãn hiệu trở thành một yếu tố đặc trưng gắn liền giữa thị trường thương mại và lĩnh vực SHCN Các nhà sản xuất cũng như các thương nhân sử dụng nhãn hiệu để xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa hay dịch vụ của họ và phân biệt những hàng hóa,

Trang 14

dịch vụ đó với các hàng hóa, dịch vụ được sản xuất hay bán bởi các chủ thể khác Chức năng phân biệt nguồn gốc của hàng hóa hay dịch vụ của nhãn hiệu luôn được xem là yếu tố quan trọng Vì vậy, nó luôn đóng vai trò trung tâm và được đề cập đến rất nhiều trong pháp luật về nhãn hiệu của hầu hết các quốc gia trên thế giới

Hiệp định TRIPs đã có quy định về khái niệm nhãn hiệu như sau:

Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa [36, Điều 15, Khoản 1]

Khái niệm nhãn hiệu theo Hiệp định TRIPS đã được quy định rất khái quát và mang tính quy chuẩn cao Điều này thể hiện nhận thức đúng đắn của các nhà làm luật về tính phong phú, đa dạng của sự phát triển tư duy con người trong phát triển kinh tế nói chung và trong việc xây dựng nhãn hiệu nói riêng

1.1.1.2 Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa

Cho đến nay, đã có nhiều khái niệm khác nhau về nhãn hiệu hàng hóa Luật Nhãn hiệu hàng hóa Hoa Kỳ, phần định nghĩa quy định:

Thuật ngữ nhãn hiệu hàng hóa bao gồm bất kỳ từ, tên gọi, biểu tượng hay hình vẽ hoặc sự kết hợp giữa chúng mà:

(1) được sử dụng bởi một người, hoặc (2) được một người có ý định chân thành là sử dụng nó trong thương mại và xin đăng ký theo quy định tại luật này để xác định và phân biệt hàng hoá của người đó, bao gồm cả các hàng hóa đặc chủng, với hàng hoá được sản xuất hoặc được bán bởi những người

Trang 15

khác và chỉ ra nguồn gốc của hàng hoá thậm chí cả khi không xác định được nguồn gốc đó [45]

Việt Nam là một thành viên của nhiều điều ước quốc tế về nhãn hiệu hàng hóa bao gồm Công ước Pari về SHCN năm 1883 và Hệ thống đăng ký nhãn hiệu quốc tế (Thoả ước Madrid và Nghị định thư Madrid), Hiệp định TRIPs Trước khi có Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (Luật SHTT 2005), quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Bộ luật Dân sự năm 1995, các Nghị định, Thông

tư hướng dẫn, thậm chí bởi rất nhiều các quyết định của Cục SHTT

Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 quy định:

Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc

sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc [16, Điều 785]

Sau này khi Luật SHTT 2005 được ban hành đã định nghĩa: "Nhãn hiệu

là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau" [18, Điều 4, Khoản 16]

Ở Việt Nam, khái niệm nhãn hiệu hàng hóa tại Điều 785 Bộ luật dân sự năm 1995 cũng thể hiện tính mở vì ngay trong ngôn ngữ của điều luật bao gồm cụm từ "có thể là", tức là ngoài từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu

tố đó thì nhãn hiệu hàng hóa còn có thể là những yếu tố khác Tuy nhiên, cách quy định như vậy chưa thể hiện tính khái quát cao, nhất là trong bối cảnh công việc giải thích pháp luật ở Việt Nam nhìn chung chưa được thực hiện tốt, Toà án không có thẩm quyền giải thích pháp luật thì tính mở của khái niệm nhãn hiệu đã bị giới hạn đáng kể Thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam cho thấy nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ chỉ bao gồm các dấu hiệu

Trang 16

truyền thống là hình ảnh, từ ngữ và sự kết hợp giữa chúng Các loại dấu hiệu khác dù thoả mãn điều kiện có tính phân biệt các hàng hóa/dịch vụ cùng loại như âm thanh, mùi, dấu hiệu được nhận biết qua xúc giác hoặc sự kết hợp giữa các dấu hiệu đó, thậm chí cả màu sắc cũng chưa được thừa nhận và bảo

hộ tại Việt Nam

Khắc phục những hạn chế của Điều 785 Bộ luật dân sự năm 1995, Luật SHTT 2005 đã đưa ra khái niệm nhãn hiệu mang tính khái quát, bao trùm hơn Theo đó, nhãn hiệu là các dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau không chỉ là hàng hóa, dịch vụ cùng loại theo quy định trong Luật Dân sự Rõ ràng, có thể nói cách tiếp cận trong việc đưa ra khái niệm nhãn hiệu của pháp luật Việt Nam nhìn chung đã tiếp thu những kinh nghiệm của các nước

Đặc điểm của nhãn hiệu hàng hóa:

Tuy nhiên, không phải bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt cũng

có thể trở thành nhãn hiệu hàng hóa vì điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ được quy định tại Luật SHTT 2005 như sau:

Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: 1- Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình

vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;

2- Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác [18, Điều 72] Như vậy, nhãn hiệu nói chung và nhãn hiệu hàng hóa nói riêng có thể được bảo hộ nếu đáp ứng được hai điều kiện Thứ nhất, dấu hiệu phải “nhìn thấy được” Quy định này hẹp hơn quy định của TRIPs “bất kỳ dấu hiệu nào” Điều này có nghĩa rằng, các dấu hiệu như âm thanh, mùi vị… không thể được đăng ký là nhãn hiệu theo quy định của pháp luật SHTT Việt Nam Thứ hai,

Trang 17

“khả năng phân biệt” là điều kiện bắt buộc của nhãn hiệu Đây cũng là chức năng chính của nhãn hiệu Đặc điểm này là đặc điểm chung của nhãn hiệu và

do đó, nó giống với các điều ước quốc tế cũng như luật về nhãn hiệu của các nước trên thế giới

Nói tóm lại, “khả năng phân biệt” luôn luôn là đặc điểm cơ bản của nhãn hiệu nói chung và nhãn hiệu hàng hóa nói riêng Cả luật Việt Nam, luật Châu Âu và luật Hoa Kỳ đều không có điều khoản định nghĩa nhãn hiệu Khái niệm nhãn hiệu được hiểu qua các điều khoản khác, chẳng hạn như quy định

ở phần giải thích thuật ngữ (Việt Nam, Hoa Kỳ), hay trong điều khoản quy định về “Các dấu hiệu là nhãn hiệu” (Châu Âu) Các điều khoản này thường liệt kê các dấu hiệu thông thường có khả năng đăng ký nhãn hiệu Mặc dù các quy định còn có những điểm khác nhau, song chúng đều giống nhau ở cách tiếp cận khái niệm theo chức năng phân biệt

1.1.2 Quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa

Quyền SHTT nhìn chung là tập hợp các quy phạm pháp luật được ban hành nhằm xác lập, ghi nhận, củng cố và bảo vệ các quan hệ SHTT trong xã hội Theo từ điển tiếng Việt năm 2008, khái niệm quyền SHTT được hiểu là

“quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ”

Hiện nay, pháp luật nhiều nước không định nghĩa thế nào là quyền SHTT

mà chỉ liệt kê các đối tượng của quyền SHTT.Ví dụ như pháp luật của Hoa Kỳ cũng không có quy định khái niệm của quyền SHTT mà chỉ quy định cụ thể về từng đối tượng của quyền SHTT Bộ luật Hoa Kỳ năm 1996 (United States Code 1996) dành hẳn quyển 7, chương 58 để đưa ra những quy định về bảo hộ giống cây trồng; quyển 15, chương 22 về nhãn hiệu hàng hoá; toàn bộ quyển 17 về quyền tác giả; quyển 35 về bằng phát minh, kiểu dáng công nghiệp

Hiệp định TRIPS dành toàn bộ phần II để nêu ra các đối tượng của quyền SHTT, gồm quyền tác giả, quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn

Trang 18

địa lý, kiểu dáng công nghiệp, patent (bằng phát minh), giống cây trồng, thiết

kế bố trí mạch tích hợp, bảo hộ thông tin bí mật và khống chế các hoạt động chống cạnh tranh trong các hợp đồng li- xăng

Sở dĩ các nước không đưa ra định nghĩa về quyền SHTT bởi các đối tượng của quyền SHTT luôn luôn thay đổi Trong môi trường kinh doanh toàn cầu hóa và thị trường ngày càng đông đúc, con người bằng sức sáng tạo của mình đã tạo ra nhiều sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu sống ngày càng hiện đại Thêm vào đó là sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ như việc phát minh sáng chế trong công nghiệp và sinh học… nếu đưa ra định nghĩa về quyền SHTT thì định nghĩa đó sẽ nhanh chóng lỗi thời Do đó, có thể thấy pháp luật về quyền SHTT của nhiều nước không chú trọng tới việc nêu khái niệm về quyền SHTT mà thường liệt kê các đối tượng của tài sản trí tuệ

Quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa

Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đều không đưa ra được khái niệm quyền SHTT do đó khái niệm quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa cũng không được quy định cụ thể Tuy nhiên, các nước đều đưa ra các cách giải thích về đối tượng của quyền chính là nhãn hiệu hàng hóa đã được quy định tại Mục 1.1.1 của Luận văn

Luật SHTT 2005 của Việt Nam quy định: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền SHCN và quyền đối với giống cây trồng” [18, Điều 4]

Quyền SHCN là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không làm mạnh Như vậy, nhãn hiệu hàng hóa là một trong những đối tượng của quyền SHTT nói chung và là đối tượng

Trang 19

của quyền SHCN nói riêng và có thể định nghĩa: “Quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa là quyền của tổ chức, cá nhân đối với nhãn hiệu do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”

Theo quy định chung, nội dung của quyền SHTT bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản đối với các đối tượng quyền SHTT Tuy nhiên, đối với nhãn hiệu Luật SHTT không có quy định về quyền nhân thân đối với tác giả tạo ra nhãn hiệu mà không phải là chủ sở hữu nhãn hiệu, bởi người tạo ra nhãn hiệu trong trường hợp này là người được chủ sở hữu nhãn hiệu thuê để thiết kế, pháp luật không quy định cho họ có quyền nhân thân nào đối với nhãn hiệu do mình tạo ra, họ chỉ được hưởng quyền tài sản là nhận tiền thù lao thiết kế từ người chủ sở hữu nhãn hiệu

Về căn cứ phát sinh, xác lập quyền SHTT đối với nhãn hiệu, quyền SHTT đối với nhãn hiệu được xác lập dựa trên hai nguyên tắc đó là (i) xác lập quyền theo nguyên tắc đăng ký bảo hộ tại cơ quan có thẩm quyền và (ii) xác lập quyền theo nguyên tắc tự động khi đáp ứng các điều kiện nhất định Tuy nhiên, với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền SHTT được xác lập khi nhãn hiệu đó thỏa mãn các tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng được quy định trong luật, không cần thực hiện thủ tục đăng ký Thông thường việc công nhận nhãn hiệu nổi tiếng chỉ được đặt ra khi có hiện tượng xâm phạm quyền và cơ quan nhà nước có thẩm quyền được yêu cầu xác định xem có thực sự hay không việc xâm phạm quyền của một nhãn hiệu nổi tiếng

1.1.3 Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu

1.1.3.1 Khái niệm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu

Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh, trong đó các bên tham gia đáp ứng được những điều kiện do nhà nước quy định, có những quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luật

Trang 20

Quan hệ pháp luật được các quy phạm pháp luật điều chỉnh Do đó, bảo

vệ quan hệ pháp luật sẽ được ghi nhận của pháp luật cụ thể là các văn bản bảo đảm điều kiện cho việc thực thi quyền của các bên chủ thể và quy định các hình thức chế tài khi quyền đó bị xâm hại

Quyền SHTT là tập hợp các quy phạm pháp luật được ban hành nhằm xác lập, ghi nhận, củng cố và bảo vệ các quan hệ SHTT trong xã hội Vì vậy,

để bảo vệ các quan hệ SHTT cần bảo vệ quyền SHTT cũng cần được bảo vệ Trong phạm vi luận văn, tác giả sẽ đi sâu vào vấn đề bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu

Bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu được hiểu là Nhà nước và chủ thể quyền SHTT của nhãn hiệu sử dụng các phương pháp pháp lý để bảo vệ quyền sở hữu nhãn hiệu của mình, chống lại mọi sự xâm phạm để giữ nguyên vẹn quyền sở hữu đối với nhãn hiệu đang được nhà nước bảo hộ

Đối tượng của hoạt động bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu là toàn

bộ hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đang được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam không phân biệt nguồn gốc là hàng hóa sản xuất trong nước hay hàng hóa được nhập khẩu từ nước ngoài Luật SHTT 2005 quy định hàng hóa muốn được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam phải đáp ứng đủ các điều kiện về chủ thể đăng ký nhãn hiệu và điều kiện để nhãn hiệu được bảo hộ theo quy định tại Điều 72 Luật SHTT 2005 như đã phân tích tại Mục 1.1.1 của luận văn

Theo đó, điều kiện về mặt chủ thể đăng ký bảo hộ nhãn hiệu Luật SHTT 2005 quy định tổ chức, cá nhân đáp ứng các điều kiện sau có quyền đăng ký nhãn hiệu:

- Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hóa do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp

- Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường nhưng do người

Trang 21

khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó cho sản phẩm và không phản đối việc đăng ký đó

- Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể; đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, tổ chức

có quyền đăng ký là tổ chức tập thể của các tổ chức,cá nhân tiến hành sản xuất, kinh doanh tại địa phương đó

- Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ có quyền đăng

ký nhãn hiệu chứng nhận với điều kiện không tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó

Như vây, nhãn hiệu hàng hóa khi đáp ứng đủ các điều kiện sẽ được Cục SHTT thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ cấp Văn bằng bảo hộ Cơ quan Hải quan chỉ tiến hành hoạt động kiểm soát Hải quan đối với nhãn hiệu hàng hóa XNK đã được văn bằng bảo hộ quyền SHCN

1.1.3.2 Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu

Trong hoạt động của cơ quan Hải quan, bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hoá XNK được hiểu là hoạt động của cơ quan Hải quan và chủ thể quyền SHTT của nhãn hiệu hàng hóa, sử dụng các biện pháp hành chính để bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp nhãn hiệu, chống lại mọi sự xâm phạm để giữ nguyên vẹn quyền sở hữu đối với nhãn hiệu đang được nhà nước bảo hộ trong phạm vi địa bàn hoạt động Hải quan

Bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa là hoạt động của nhiều

cơ quan thực thi pháp luật như: cơ quan Công an, Hải quan, Quản lý thị trường, Thanh tra chuyên ngành, Tòa án, Ủy ban nhân dân các cấp và chủ thể quyền SHTT của nhãn hiệu Khác với hoạt động bảo vệ quyền SHTT đối với

Trang 22

nhãn hiệu nói chung, bảo vệ quyền SHTT của cơ quan Hải quan đối với nhãn hiệu XNK có những đặc điểm riêng mang tính đặc thù Cụ thể là:

Thứ nhất, về mặt chủ thể, bảo vệ quyền SHTT do cơ quan Hải quan và chủ thể quyền SHTT có hàng hóa mang nhãn hiệu đã đăng ký kiểm tra, giám sát tại cơ quan Hải quan được xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới quốc gia thực hiện Cơ quan Hải quan các cấp là cơ quan duy nhất có thẩm quyền áp dụng các biện pháp kiểm soát biên giới đối với hàng hóa XNK liên quan đến SHTT theo quy định của Luật SHTT 2005 và Luật Hải quan 2014

Các chủ thể quyền SHTT muốn bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu gắn trên hàng hóa XNK thuộc sở hữu của mình phải đăng ký kiểm soát biên giới tại cơ quan Hải quan, có quyền yêu cầu cầu cơ quan Hải quan tạm dừng làm thủ tục Hải quan đối với hàng hóa có nghi nghờ xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

Thứ hai, hoạt động bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa XNK do cơ quan Hải quan thực hiện bằng biện pháp duy nhất là biện pháp hành chính Theo quy định của pháp luật, cơ quan Hải quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp nghiệp vụ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về Hải quan như các biện pháp: kiểm tra, giám sát và kiểm soát Hải quan, tạm dừng làm thủ tục Hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có nghi ngờ xâm phạm quyền SHTT Khi phát hiện vi phạm, cơ quan Hải quan có quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn và xử phạt vi phạm hành chính theo các trình tự, thủ tục quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính

Tuy nhiên, khác với Việt Nam phần lớn các nước trên thế giới (như

Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản ) quy định cho phép cơ quan Hải quan tiến hành các hoạt động điều tra hình sự nếu có dấu hiệu tội phạm, có quyền khởi tố vụ

án và khởi tố bị can, điều tra xác minh vụ việc Sau đó, cơ quan Hải quan mới chuyển hồ sơ cho Tòa án để xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự Như vậy, đa

Trang 23

số các nước đều quy định cho cơ quan Hải quan được áp dụng biện pháp hành chính và biện pháp hình sự để thực hiện bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa XNK

Thứ ba, đối tượng kiểm soát để bảo vệ quyền SHTT của cơ quan Hải quan đối với nhãn hiệu chủ yếu là hàng hóa XNK mang nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam, đã được đăng ký kiểm soát biên giới tại cơ quan Hải quan Như vậy, đối tượng kiểm soát ở đây không bao gồm toàn bộ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà được giới hạn trong phạm vi những hàng hóa XNK mang nhãn hiệu đã được đăng ký với cơ quan Hải quan

Thứ tư, bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa XNK được thực hiện trong phạm vi địa bàn hoạt động Hải quan Trong phạm vi này, cơ quan Hải quan chủ động và chủ trì tổ chức thực hiện các biện pháp đấu tranh, bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng khác tổ chức thực hiện các hoạt động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn, bắt giữ và xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHTT đối với nhãn hiệu và chịu trách nhiệm chính về công tác này Ngoài phạm vi địa bàn hoạt động Hải quan, cơ quan Hải quan có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan thực hiện Nếu phát hiện vụ việc vi phạm ngoài địa bàn, cơ quan Hải quan sẽ chuyển giao cho cơ quan chức năng khác có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật

Với các đặc điểm cơ bản trên cho thấy, bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa XNK đóng một vai trong quan trọng đối với hoạt động thương mại toàn cầu, lợi ích kinh tế của các quốc gia trong quá trình các nước hội nhập vào nền kinh tế thế giới mà còn làm tăng khả năng cạnh tranh quốc

tế của các doanh nghiệp Đồng thời, nó góp phần đảm bảo an ninh, an toàn sức khỏe cộng cộng và bảo vệ môi trường

Trang 24

1.1.3.3 Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa

Để bảo vệ quyền SHTT, Luật SHTT 2005 có quy định: “Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền SHTT của tổ chức, cá nhân khác thì tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm, có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự” [18, Điều 199] Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình,

các cơ quan Tòa án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT

a Biện pháp dân sự

Luật SHTT 2005 quy định rõ việc áp dụng biện pháp dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án Chủ sở hữu của nhãn hiệu bị xâm phạm có quyền khởi kiện ra Toà án (quyền tư tố) để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình Theo quy định để xử lý tổ chức cá nhân có hành vi xâm phạm quyền SHTT nói chung, Toà án có quyền áp dụng các biện pháp dân sự bao gồm: buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, buộc xin lỗi cải chính công khai, buộc thực hiện nghĩa

vụ dân sự, buộc bồi thường thiệt hại, buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền SHTT với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền SHTT [18, Điều 22]

b Biện pháp hình sự

Tòa án có thẩm quyền áp dụng biện pháp hình sự Điều 212 Luật SHTT

2005 quy định cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền SHTT có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự Các tội xâm phạm về quyền SHTT được quy định trong chương XVI Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi năm 2009, cá nhân phạm tội liên quan đến quyền SHCN đối với nhãn hiệu sẽ bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng

Trang 25

đến năm trăm triệu đồng hoặc cải tại không giam giữ đến hai năm Trong trường hợp phạm tội có tổ chức hoặc phạm tội nhiều lần sẽ bị phạt tiền từ bốn trăm triệu đồng đến một tỷ đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm Ngoài

ra người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

c Biện pháp hành chính- kinh tế

Luật SHTT 2005 quy định việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Ủy ban nhân dân các cấp [18, Điều 200, Khoản 3] Biện pháp hành chính được áp dụng để xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực SHTT bao gồm các hình thức xử lý hành vi vi phạm như phạt hành chính bằng tiền và các biện pháp xử lý hàng hóa xâm phạm, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính Bản chất biện pháp hành chính là sử dụng sức mạnh quyền lực của các

cơ quan hành chính thông qua các quyết định hành chính và tổ chức thực hiện các quyết định hành chính đó để xử lý các vi phạm hành chính Vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, có lỗi, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước, nhưng mức độ nguy hiểm thấp hơn tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính Hiện nay so với hai biện pháp dân sự và hình

sự thì biện pháp hành chính chiếm ưu thế hơn Để bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu bằng biện pháp dân sự, hình sự phải thông qua tòa án với thủ tục tố tụng bao gồm nhiều giai đoạn được quy định trong Luật tố tụng dân sự năm 2004 và Luật tố tụng hình sự năm 2003 Trong khi đó giải quyết bằng biện pháp hành chính đơn giản với hình thức xử phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền đánh vào kinh tế của bên vi phạm

Trong bối cảnh toàn cầu hóa với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa thực sự có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế, thúc đẩy một xã

Trang 26

hội phát triển lành mạnh, thiết lập một môi trường đầu tư hấp dẫn, thúc đẩy thương mại quốc tế và tăng khả năng hội nhập quốc tế cho các nền kinh tế

Do đó, cơ quan nhà nước trong đó có cơ quan Hải quan đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa XNK tại địa bàn hoạt động Hải quan

1.2 Chức năng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam

1.2.1 Địa vị pháp lý và phạm vi hoạt động của cơ quan Hải quan 1.2.1.1 Địa vị pháp lý của cơ quan Hải quan

Hải quan là cơ quan nhà nước, trực thuộc Bộ Tài Chính được giao nhiệm vụ quản lý hoạt động XNK hàng hóa Luật Hải quan 2014 quy định:

Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng há qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu [21, Điều 12]

Theo quy định của pháp luật, Hải quan là cơ quan chuyên trách được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến quyền SHTT đối với nhãn hiệu trong địa bàn hoạt động Hải quan Vai trò, nhiệm vụ của cơ quan Hải quan trong công tác bảo vệ quyền SHTT đối với hàng hóa XNK luôn được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật Cụ thể tại Luật SHTT 2005 quy định về kiểm soát hàng hóa XNK liên quan đến SHTT trong đó đề cập đến thẩm quyền của cơ quan Hải quan trong việc thực hiện các nghiệp vụ kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến quyền

Trang 27

SHTT bao gồm tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền SHTT và kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hoá có dấu hiệu xâm phạm quyền SHTT

Đặc thù hoạt động của cơ quan Hải quan là thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; phương tiện và hành khách xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh Các hoạt động nghiệp vụ của cơ quan Hải quan được thực hiện giới hạn trong một không gian địa lý nhất định trên lãnh thổ quốc gia gọi là phạm vi địa bàn hoạt động Hải quan Do vậy, công tác bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa XNK cũng bị chi phối bởi các giới hạn vì nó xác định gianh giới các hoạt động kiểm tra, giám sát và kiểm soát đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu cũng như trách nhiệm của cơ quan Hải quan về vấn đề này

1.2.1.2 Phạm vi hoạt động của cơ quan Hải quan

Phạm vi hoạt động của cơ quan Hải quan được giới hạn bởi địa bàn hoạt động theo chức năng của Hải quan bao gồm các khu vực cửa khẩu đường

bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế; cảng biển, cảng thủy nội địa có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; khu vực đang lưu giữ hàng hóa chịu sự giám sát hải quan, khu chế xuất, khu vực ưu đãi hải quan; các địa điểm làm thủ tục hải quan, kho ngoại quan, kho bảo thuế, bưu điện quốc tế, trụ sở người khai hải quan khi kiểm tra sau thông quan; các địa điểm kiểm tra hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong lãnh thổ hải quan; Khu vực, địa điểm khác đáp ứng yêu cầu quản

lý nhà nước, được phép xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ [21, Điều 7]

Phạm vi cụ thể địa bàn hoạt động Hải quan là khu vực có ranh giới xác định tại những nơi có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh cần

có hoạt động kiểm tra, giám sát, kiểm soát của cơ quan Hải quan Trong đó:

Trang 28

- Tại khu vực cửa khẩu đường bộ là các khu vực có ranh giới xác định tại một cửa khẩu đường bộ trên tuyến biên giới được quy định tại Phụ lục kèm theo Nghị định 107/2002/NĐ-CP ban hành ngày 23 tháng 12 năm 2002 của Chính phủ quy định phạm vi địa bàn hoạt động Hải quan (Nghị định 107/2002/NĐ-CP) Trong trường hợp cần thiết phải điều chỉnh phạm vi cụ thể địa bàn hoạt động Hải quan tại từng khu vực cửa khẩu đường bộ, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc Phòng và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố sở tại xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định [5, Điều 4]

- Tại cửa khẩu ga đường sắt liên vận quốc tế gồm: Khu vực nhà ga sử dụng cho các chuyến tầu liên vận quốc tế đi, đến; nơi hành khách xuất cảnh, nhập cảnh; sân ga, khu vực cho hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; bến bãi và các khu vực sử dụng cho các chuyến tầu hoả liên vận quốc tế đi, đến và thực hiện các dịch vụ vận chuyển hàng hoá được xuất khẩu, nhập khẩu; những khu vực có các chuyến tàu hoả liên vận quốc tế chưa làm thủ tục Hải quan, đang chịu sự giám sát, kiểm soát của cơ quan Hải quan mà di chuyển đến một địa điểm khác [5, Điều 5]

- Tại cửa khẩu cảng hàng không dân dụng quốc tế bao gồm: Khu cách ly của hành khách xuất nhập cảnh; khu vực sân ga, nhà ga hàng không, nơi đi, đến của hành khách xuất cảnh, nhập cảnh có mang theo hàng hoá, hành lý được xuất khẩu, nhập khẩu phải làm thủ tục Hải quan; khu vực cửa hàng kinh doanh hàng miễn thuế; khu vực xếp, dỡ, chuyển tải, khu vực kho bãi chứa hàng hóa được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh qua đường vận tải hàng không [5, Điều 6]

- Tại cửa khẩu cảng biển, cảng sông quốc tế bao gồm: Khu vực ngăn cách tính từ đường ranh giới phía ngoài của vùng nước cảng có hàng hoá ra vào cảng chịu sự giám sát Hải quan đến ranh giới các cổng cảng, cụ thể gồm khu bãi cầu cảng, vùng neo đậu, chuyển tải, vùng tránh bão, vùng nước của nhiều cảng gần kề nhau và luồng quá cảnh; khu vực đón trả hoa tiêu vào đến

Trang 29

cảng và nơi quy định cho tàu, thuyền xuất nhập cảnh, quá cảnh neo đậu để chờ vào cảng biển, cảng sông quốc tế, neo đậu để chuyển tải và các luồng lạch từ các khu vực nói trên vào cảng biển, cảng sông quốc tế; những khu vực khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính [5, Điều 7]

- Tại bưu điện quốc tế bao gồm: Khu vực thuộc bưu điện quốc tế; khu vực thuộc bưu điện và bưu cục kiểm quan nơi nhận chuyển thư tín, bưu kiện, bưu phẩm, các dịch vụ chuyển phát nhanh với nước ngoài theo Công ước của Liên minh bưu chính quốc tế và các quy định về bưu chính của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam [5, Điều 8]

- Tại các khu vực ngoài cửa khẩu có thực hiện quản lý Hải quan là những khu vực có ranh giới xác định mà ở đó được làm thủ tục Hải quan, giám sát Hải quan, kiểm tra thực tế hàng hoá, cụ thể gồm: Các khu công nghiệp, khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, khu kinh tế cửa khẩu, khu thương mại tự do, khu vực ưu đãi Hải quan; khu vực cảng nội địa (ICD), cảng chuyên dùng, kho ngoại quan, kho bảo thuế, kho bãi chuyên dùng chứa hàng hoá XNK, quá cảnh của các tổ chức vận tải kinh doanh và giao nhận hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; cửa hàng kinh doanh hàng miễn thuế trong nội địa để bán hàng miễn thuế cho hành khách xuất cảnh, nhập cảnh; khu vực địa điểm kiểm tra hàng hoá XNK, hoặc địa điểm trưng bày, giới thiệu hàng hoá tạm nhập khẩu [5, Điều 9]

- Phạm vi cụ thể địa bàn hoạt động Hải quan khác là các khu vực trên biển, trên sông, trên bộ khi có phương tiện vận tải neo, đậu, di chuyển để vận chuyển hàng hoá được xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; hàng hoá, phương tiện vận tải chuyển tải, chuyển cửa khẩu, quá cảnh đang trong quá trình làm thủ tục Hải quan và chịu sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát của cơ quan Hải quan [5, Điều 10]

Trang 30

Luật Hải quan quy định:

Trong địa bàn hoạt động Hải quan, cơ quan Hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hóa, phương tiện vận tải và xử lý vi phạm pháp luật về hải quan phù hợp với pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên [21, Điều 7]

Như vậy, cơ quan Hải quan sử dụng các biện pháp hành chính để bảo

vệ quyền sở hữu hợp pháp nhãn hiệu hàng hóa XNK của chủ thể quyền SHTT đối với nhãn hiệu đó, chống lại mọi sự xâm phạm để giữ nguyên vẹn quyền

sở hữu đối với nhãn hiệu đang được nhà nước bảo hộ

1.2.2 Hoạt động của Hải quan về kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu

và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu

Cơ quan Hải quan với chức năng, nhiệm vụ của mình thực hiện các hoạt động nghiệp vụ kiểm soát Hải quan nhằm bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa bằng biện pháp hành chính nhà nước thông qua các hoạt động mang tính chức năng nhiệm vụ rất đặc thù Luật Hải quan 2014 quy

định: “Kiểm soát hải quan là biện pháp tuần tra, điều tra, xác minh hoặc biện pháp nghiệp vụ khác do cơ quan hải quan áo dụng để phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan”[21, Điều 4, Khoản 11]

Các biện pháp kiểm soát để bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa XNK bao gồm biện pháp tạm dừng làm thủ tục Hải quan đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền SHTT đối với nhãn hiệu và biện pháp kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hoá có dấu hiệu xâm phạm quyền SHTT [18, Điều 216] Trong đó:

Tạm dừng làm thủ tục Hải quan đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm quyền SHTT đối với nhãn hiệu là biện pháp được tiến

Trang 31

hành theo yêu cầu của chủ thể quyền SHTT nhằm thu thập thông tin, chứng cứ về lô hàng để chủ thể quyền SHTT thực hiện quyền yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền và yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo

xử phạt hành chính

Kiểm tra, giám sát là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan Hải quan thực hiện để phát hiện hàng hoá có dấu hiệu xâm phạm quyền SHTT, biện pháp này được tiến hành theo đề nghị của chủ thể quyền SHTT nhằm thu thập thông tin để thực hiện quyền yêu cầu

áp dụng biện pháp tạm dừng làm thủ tục Hải quan [18, Điều 216] Hai biện pháp này có mối quan hệ chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau Việc kiểm tra, giám sát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu là biện pháp tiền đề để cơ quan Hải quan thực hiện tạm dừng làm thủ tục Hải quan và xử lý vi phạm hành chính các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện các biện pháp trên Điều 200 Luật SHTT 2005, Điều 19 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ban hành ngày 29 tháng 8 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN (Nghị định 99/2013/NĐ-CP) còn quy định cơ quan Hải quan nếu phát hiện hàng hoá giả mạo nhãn hiệu thì có quyền và có trách nhiệm áp dụng biện pháp hành chính để xử phạt các hành vi xâm phạm quyền SHTT đối với nhãn hiệu (được quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo xử phạt vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả) theo thẩm quyền quy định

1.3 Cơ sở pháp lý của việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của Hải quan Việt Nam

1.3.1 Điều ước quốc tế

Công ước quốc tế đầu tiên điều chỉnh trực tiếp vấn đề bảo vệ quyền

Trang 32

SHTT đối với nhãn hiệu tại biên giới là Công ước Paris Với quy định về vấn

đề kiểm soát biên giới đối với nhãn hiệu hàng hóa XNK đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để các quốc gia thành viên triển khai thực hiện hoạt động này với

tư cách thực hiện nghĩa vụ thành viên của Công ước

Điều ước quốc tế quan trọng nhất điều chỉnh vấn đề thực thi quyền SHTT của Hải quan chính là Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPs) Trong 20 Điều luật điều chỉnh các vấn đề liên quan đến thực thi quyền SHTT, Hiệp định đã đã dành 10 Điều luật (từ Điều 51 đến Điều 60 thuộc Mục 4 phần III) để quy định về các yêu cầu đặc biệt liên quan đến các biện pháp kiểm soát biên giới Trong đó lấy nhãn hiệu quy định điển hình cho các đối tượng quyền SHTT còn lại

Luật mẫu về bảo vệ quyền SHTT của WCO 2003 đã hướng dẫn cụ thể các quy định của Hiệp định TRIPs về các biện pháp kiểm soát biên giới đối với SHTT Bằng việc quy định cụ thể các nội dung liên quan đến việc thực thi quyền SHTT tại biên giới tại Phụ lục 3, cơ quan Hải quan các nước có cơ

sở triển khai thực hiện có hiệu quả công tác này và thực hiện nghĩa vụ thành viên của WCO

Bên cạnh đó, trong khuôn khổ ASEAN có các hiệp định quy định vấn

đề này, bao gồm: Hiệp định khung ASEAN về bảo vệ quyền SHTT được ký kết vào ngày 15/12/1995 tại Bangkok, Thái Lan bao gồm các điều khoản mang tính nguyên tắc về vấn đề hợp tác thực thi quyền SHTT giữa các quốc gia trong Cộng đồng ASEAN; kế hoạch cộng đồng kinh tế ASEAN được ký kết giữa các quốc gia thành viên vào ngày 20/11/2007 tại Singapore Trong

đó, ASEAN đã đưa Chiến lược hành động về phát triển kinh tế trong khu vực giai đoạn 2008 – 2015, bao gồm các nội dung chiến lược về thực thi quyền SHTT trong các hành động ưu tiên về hợp tác phát triển kinh tế; hiệp định đối tác kinh tế ASEAN – Nhật Bản được ký kết giữa các quốc gia thành viên

Trang 33

ASEAN và Nhật Bản vào năm 2008 tại Tokyo – Nhật Bản, Phụ lục 5 Hiệp định đã quy định về vấn đề hợp tác về thực thi quyền SHTT trong chương trình hoạt động hợp tác kinh tế giữa ASEAN và Nhật Bản; hiệp định thương mại tự do ASEAN – Úc – New zealand (AANZFTA) được ký kết ngày 27/2/2009 tại Thái Lan, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2010 Tại Chương 13 Hiệp định đã quy định các nội dung liên quan đến thực thi quyền SHTT, trong

đó có vấn đề bảo vệ nhãn hiệu hàng hóa

Ngoài ra còn có các điều ước quốc tế song phương giữa Việt Nam và các nước về SHTT, bao gồm: Hiệp định thương mại Việt – Mỹ (BTA); Hiệp định Việt Nam – Thụy Sỹ; Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản…

1.3.2 Pháp luật quốc gia

Việt Nam cũng như các nước trên thế giới đã có nhiều nỗ lực xây dựng

hệ thống pháp luật tham gia điều chỉnh các vấn đề liên quan đến lĩnh vực SHTT cho phù hợp với quy định các điều ước quốc tế Hiện nay, trong hệ thống pháp luật Việt Nam có:

- Hiến pháp năm 2013

- Bộ Luật hình sự Việt Nam 1999

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 2009

- Luật Hải quan năm 2014

- Luật SHTT năm 2005

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009

- Nghị định số 154/2005/NĐ- CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục Hải quan, kiểm tra, giám sát Hải quan

- Nghị định số 105/2006/ ngày 22/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ

Trang 34

- Nghị định số 119/2010/NĐ- CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 105/2006/ ngày 22/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT về bảo vệ quyền SHTT và quản lý nhà nước về SHTT

- Nghị định số 99/2013/NĐ- CP của Chính phủ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp

- Quyết định số 65/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế trách nhiệm và quan hệ phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý nhàn nước trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại

- Thông tư số 44/2011/TT- BTC ngày 01/04/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn công tác chống hàng giả và bảo vệ quyền SHTT trong lĩnh vực Hải quan

- Thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT- TANDTC- VKSNDTC- BCA- BTP ngày 29/02/2008 của liên Bộ Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền SHTT

1.4 Kinh nghiệm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hóa xuất nhập khẩu của Hải quan ở một số nước trên thế giới

Trong xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới hiện nay, vấn đề bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu đã và đang là mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia bao gồm cả các nước phát triển và đang phát triển Chính vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả xin đề cập một số nội dung về quy định pháp luật cũng như kinh nghiệm thực tế bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu của Hải quan một số nước bao gồm: Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc

1.4.1 Pháp luật Hoa Kỳ

Cơ quan Hải quan và bảo vệ biên giới Hoa Kỳ là cơ quan trực thuộc Bộ

An ninh Nội địa chịu trách nhiệm kiểm soát, quản lý, bảo vệ biên giới và kiểm soát hàng hóa đi vào và ra giữa các cửa khẩu trên lãnh thổ Hoa Kỳ

Trang 35

Về thủ tục đăng ký để được bảo vệ, nhãn hiệu có thể được chủ thể

quyền đăng ký bảo vệ với cơ quan Hải quan thông qua hệ thống đăng ký trực tuyến Internet (IPRR) Website: https://apps.cbp.gov/e-recordations/ – một công cụ hữu hiệu cho cả cơ quan Hải quan và các chủ sở hữu quyền Hệ thống này cho phép các chủ thể quyền đưa các thông tin và hình ảnh liên quan đến nhãn hiệu có yêu cầu bảo vệ vào cơ sở dữ liệu chung về SHTT của cơ quan Hải quan, không phải mất thời gian điền vào mẫu đơn yêu cầu kiểm tra, giám sát hay khai báo các thông tin cá nhân Chi phí đăng ký cho một nhãn hiệu là

190 USD, tuy nhiên nếu nhãn hiệu được đăng ký cho hơn một nhóm hàng hóa thì phí đăng ký cho mỗi nhóm hàng hóa đó là 190 USD Ví dụ: muốn đăng ký giám sát một nhãn hiệu cho hai nhóm hàng hóa, sẽ phải nộp 380 USD cho cơ quan Hải quan Thời hạn có hiệu lực của đăng ký giám sát Hải quan về SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa là 20 năm và được gia hạn một lần là 20 năm theo thông báo chấp nhận của cơ quan Hải quan [40]

Xử lý khi có dấu hiệu vi phạm

Trường hợp công chức Hải quan chưa có căn cứ để khẳng định hàng hóa có vi phạm hay không thì có thể tạm giữ hàng hóa đó trong thời hạn 05 ngày để xác minh các dấu hiệu vi phạm, nếu cơ quan Hải quan xác định hàng hóa có dấu hiệu vi phạm, sẽ ra quyết định tạm giữ chính thức (30 ngày làm việc) đối với hàng hóa trước khi hết thời hạn 05 ngày nói trên, đồng thời thông báo cho người nhập khẩu biết về việc tạm giữ hàng hóa [40] Trong thời hạn tạm giữ hàng hóa, cơ quan Hải quan có thể cung cấp mẫu hàng hóa

bị nghi ngờ vi phạm cho chủ thể quyền kiểm tra, thẩm định hoặc xác định bồi thường trách nhiệm dân sự với điều kiện chủ sở hữu quyền phải nộp một khoản tiền bảo đảm tương đương 120% trị giá hàng mẫu bao gồm giá CIF cộng với thuế, phí và lệ phí khác (nhưng không được thấp hơn 100 USD) Trường hợp trị giá hàng mẫu thấp hơn 100 USD, tiền đặt cọc do cơ quan Hải

Trang 36

quan quyết định, cơ quan Hải quan có quyền yêu cầu trả lại mẫu ở bất kỳ thời điểm nào Chủ sở hữu quyền phải trả lại mẫu sau khi thử nghiệm Nếu mẫu không được trả lại, cơ quan Hải quan sẽ tịch thu số tiền bảo đảm đã nộp cho việc lấy mẫu nêu trên [40]

Về mức xử phạt đối với việc nhập khẩu hàng hóa xâm phạm nhãn hiệu, nếu hàng hóa xâm phạm nhãn hiệu sẽ bị xử phạt tiền từ 01 lần đến 02 lần trị giá hàng hóa thật mang nhãn hiệu tương ứng [40]

Cơ quan Hải quan không xử lý vi phạm đối với hàng hóa mang nhãn hiệu giả mạo hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo vệ mang theo người của cá nhân nhập cảnh nếu chứng minh được hàng hóa đó là của

du khách du lịch, được sử dụng phục vụ nhu cầu của cá nhân không vì mục đích thương mại và người sử dụng hàng hóa đó đã được cấp giấy phép cho cùng loại hàng hóa trong thời hạn 30 ngày trước khi đến Định mức cho phép mỗi người được mang theo với số lượng mỗi loại vật phẩm không quá một cái, ví dụ: một người nhập cảnh mang theo người 03 chiếc áo, mỗi chiếc áo mang một nhãn hiệu bị xâm phạm khác nhau hoặc cả 03 chiếc áo này đều mang một nhãn hiệu bị xâm phạm nhãn hiệu đang được bảo vệ thì người này chỉ được phép mang theo người 01 chiếc khi nhập cảnh Đồng thời, đối với hàng hóa nhập khẩu qua đường bưu chính, Hải quan sẽ không xử lý vi phạm đối với hàng hóa có giá trị từ 250 USD trở xuống [40]

Như vậy, Hoa Kỳ là quốc gia đặc biệt coi trọng vấn đề bảo vệ quyền SHTT, đồng thời đây cũng là quốc gia điển hình khi có hệ thống pháp luật cũng như thực thi pháp luật về bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa XNK có hiệu quả Trong thời gian qua, Hải quan Hoa Kỳ đã có nhiều chương trình, dự án phối hợp với Hải quan Việt Nam để đào tạo nâng cao năng lực thực thi của cơ quan Hải quan, hợp tác khu vực và quốc tế về thực thi quyền SHTT trong các khuôn khổ WCO, WIPO về SHTT

Trang 37

1.4.2 Pháp luật Trung Quốc

Trung Quốc là quốc gia có nhiều đặc điểm về kinh tế - xã hội và văn hóa khá tương đồng với nước ta và được xác định là một trong những nước sản xuất nhiều hàng hóa giả mạo nhãn hiệu nhất trên thế giới.Trung Quốc là nước tiếp giáp với Việt Nam, hàng năm phần lớn hàng giả được chuyển từ Trung Quốc qua biên giới vào Việt Nam tiêu thụ Do đó, Hải quan Việt Nam

và Hải quan Trung Quốc đã có nhiều hoạt động phối hợp trong công tác này nhằm đấu tranh có hiệu quả nạn sản xuất và buôn bán hàng giả tại biên giới giữa hai nước

Về thủ tục đăng ký để được bảo vệ, các chủ thể quyền SHTT muốn yêu

cầu cơ quan Hải quan bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu của mình phải nộp đơn yêu cầu giám sát tại cơ quan Hải quan Hồ sơ đăng ký, giám sát Hải quan về quyền SHTT nộp tại Hải quan Trung Quốc bao gồm các tài liệu liên quan đến nhãn hiệu đang được bảo hộ muốn đăng ký, trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ các tài liệu theo yêu cầu, cơ quan Hải quan sẽ ra quyết định bằng văn bản trả lời [44]

Thời hạn giám sát Hải quan đối với mỗi nhãn hiệu được đăng ký là 10 năm kể từ ngày cơ quan Hải quan chấp nhận, chủ thể quyền SHTT có thể xin gia hạn thời hạn giám sát Hải quan đối với nhãn hiệu đã đăng ký trước khi hết thời hạn giám sát 6 tháng, thời hạn gia hạn giám sát Hải quan không quá 10 năm Trường hợp hết thời hạn đăng ký giám sát mà chủ thể quyền SHTT không xin gia hạn hoặc hết thời hạn bảo hộ thì đăng ký giám sát đó đương nhiên hết hiệu lực [44]

Xử lý khi có dấu hiệu vi phạm

Tại địa bàn hoạt động Hải quan, việc phát hiện hàng hóa nghi ngờ xâm phạm có thể do cơ quan Hải quan phát hiện hoặc do chủ thể quyền SHTT cung cấp Trường hợp chủ sở hữu quyền SHTT phát hiện hàng hóa xuất khẩu,

Trang 38

nhập khẩu có nghi ngờ xâm phạm quyền SHTT thì có quyền yêu cầu cơ quan Hải quan tạm giữ hàng hóa đó Trước khi yêu cầu cơ quan Hải quan tạm giữ hàng hóa nghi ngờ xâm phạm, chủ sở hữu quyền SHTT phải nộp một khoản tiền bảo đảm không vượt quá hoặc tương đương với giá trị của hàng hóa đảm bảo bồi thường cho các tổn thất do việc yêu cầu tạm giữ không đúng gây ra

Trường hợp cơ quan Hải quan trong quá trình giám sát và kiểm soát hàng hóa XNK phát hiện hàng hóa có nghi ngờ xâm phạm sẽ lập tức thông báo ngay cho chủ sở hữu quyền SHTT Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của cơ quan Hải quan chủ sở hữu quyền không nộp đơn yêu cầu tạm dừng làm thủ tục Hải quan kèm theo khoản tiền bảo đảm theo quy định, cơ quan Hải quan sẽ tiếp tục làm thủ tục thông quan cho lô hàng

Bất kỳ hàng hoá XNK nào được xác định là vi phạm quyền SHTT được bảo vệ theo quy định của pháp luật Trung Quốc, vi phạm các quy định của Luật Hải quan, thì hàng hoá đó sẽ bị cơ quan Hải quan tịch thu và xử phạt, mức phạt không quá 30% trị giá hàng hoá vi phạm Trường hợp hành vi vi phạm có dấu hiệu hình sự sẽ bị điều tra theo thủ tục tố tụng hình sự [41, Điều 25]

Hàng hóa vi phạm bị tịch thu có thể sẽ được đưa vào phân phối không nhằm mục đích thương mại thông qua việc cung cấp cho các tổ chức từ thiện, nhân đạo Trường hợp hàng hóa có thể loại bỏ được yếu tố vi phạm, thì tiến hành loại bỏ và được đem bán đấu giá, số tiền thu được từ việc bán đấu giá sẽ được nộp vào ngân sách nhà nước

Nếu hàng hóa không đưa vào sử dụng vì mục đích phi thương mại hoặc không loại bỏ được yếu tố vi phạm để bán đấu giá thì tiến hành tiêu hủy Chủ

sở hữu quyền có trách nhiệm hỗ trợ cơ quan Hải quan trong việc tiêu hủy hàng hóa vi phạm Chủ sở hữu quyền chịu trách nhiệm chi trả các chi phí thuê kho bãi, bảo quản, chi phí tiêu hủy và các chi phí khác liên quan đến hàng hóa

vi phạm trong suốt thời gian cơ quan Hải quan giải quyết vụ việc

Như vậy, pháp luật Trung Quốc đã tuân thủ đầy đủ các quy định của

Trang 39

Hiệp định TRIPs về bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu hàng hóa, hầu hết các quy định này về cơ bản cũng có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam như: trình tự thủ tục đăng ký giám sát Hải quan về SHTT, nhưng thời hạn có hiệu lực của yêu cầu giám sát dài hơn; thủ tục tạm dừng làm thủ tục Hải quan

về cơ bản cũng giống quy định của pháp luật Việt Nam nhưng pháp luật của Trung Quốc lại không quy định rõ ràng thời hạn tạm dừng làm thủ tục Hải quan và thời hạn tạm giữ hàng hóa vi phạm Đồng thời, Luật Hải quan Trung Quốc cũng xác định rõ ràng hơn trách nhiệm của chủ sở hữu quyền khi phối hợp với cơ quan Hải quan thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả như hỗ trợ cơ quan Hải quan trong việc tiêu hủy, thanh toán các chi phí liên quan đến việc xử lý hàng hóa vi phạm

1.4.3 Pháp luật Nhật Bản

Trong quá trình triển khai công tác thực thi quyền SHTT, Hải quan Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ tích cực và có hiệu quả của Hải quan Nhật Bản nhằm nâng cao năng lực, hoàn thiện khung pháp lý, từng bước cải cách, hiện đại hóa nghiệp vụ Hải quan cũng như cơ sở hạ tầng và kỹ thuật

Về thủ tục đăng ký để được bảo vệ quyền SHTT đối với nhãn hiệu, chủ

thể quyền SHTT phải nộp hồ sơ đăng ký với cơ quan Hải quan Hồ sơ đăng

ký, giám sát được nộp tại bất cứ trụ sở Hải quan khu vực nào tương ứng với địa bàn yêu cầu giám sát Hải quan Chủ sở hữu quyền có thể ủy quyền cho luật sư nộp đơn tại cơ quan Hải quan thông qua giấy ủy quyền Cơ quan Hải quan xem xét, ra quyết định Nếu chấp nhận việc đăng ký giám sát sẽ có hiệu lực không quá 02 năm và được gia hạn không quá thời hạn đã có hiệu lực ban đầu [42, Điều 17]

Xử lý khi có dấu hiệu vi phạm

Khi nhận được thông báo của cơ quan Hải quan, chủ thể quyền trong

03 ngày làm việc có quyền nộp đơn yêu cầu đình chỉ thông quan tại trụ sở

Trang 40

Hải quan khu vực nơi có hàng hóa nghi ngờ xâm phạm Tuy nhiên, nếu Cục trưởng Cục Hải quan được đề nghị xét thấy không có đủ chứng cứ chứng minh cho việc xâm phạm theo đề nghị thì có quyền từ chối không thụ lý đề nghị đó

Thời hạn tạm dừng làm thủ tục Hải quan là 10 ngày làm việc [42] như theo như tinh thần của Hiệp định TRIPs Trước ngày kết thúc thời hạn này, nếu

cơ quan Hải quan xét thấy việc tiến hành thẩm định cần có thêm thời gian thì có thể kéo dài nhưng không được quá 20 ngày làm việc kể từ ngày thông báo

Người nộp đơn yêu cầu tạm dừng làm thủ tục Hải quan có thể đề nghị cơ quan Hải quan cho kiểm tra thực tế hàng hóa, lấy mẫu Người đề nghị lấy mẫu hàng hoá để kiểm tra phải chịu chi phí vận chuyển, bảo quản hoặc kiểm tra, chi phí cần thiết khác về hàng mẫu này [42] Như vậy, theo Luật Hải quan Nhật Bản thì tất cả các chi phí liên quan đến mẫu hàng hoá được lấy từ lô hàng bị nghi ngờ xâm phạm bao gồm cả chi phí giám định để xác định tình trạng pháp

lý của hàng hoá đều do người đề nghị được lấy mẫu để kiểm tra chi trả

Trong thời hạn 01 tháng, cơ quan Hải quan sẽ xem xét, đánh giá các chứng cứ do các bên cung cấp và ý kiến chuyên môn (nếu có) để xác định hàng hóa có xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hay không? Trường hợp cơ quan Hải quan xác định, hàng hóa không xâm phạm quyền, đồng thời người nhập khẩu không có khiếu nại gì bằng văn bản với cơ quan Hải quan thì hàng hóa tiếp tục được làm thủ thông quan theo quy định Nếu cơ quan Hải quan xác định hàng hóa có xâm phạm quyền và người vi phạm không đưa ra bất cứ biện pháp tiêu hủy tự nguyện nào trong thời hạn 02 tháng, cơ quan Hải quan

sẽ ra quyết định tịch thu và tiêu hủy hàng hóa vi phạm Cơ quan Hải quan có quyền tịch thu, tiêu hủy những hàng hóa định xuất khẩu; có thể tịch thu và tiêu hủy hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa xâm phạm quyền hoặc yêu cầu người nhập khẩu hàng hóa đó chuyển trả lại [42]

Ngày đăng: 26/09/2020, 01:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm