1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Những quy định chủ yếu của pháp luật về thẻ tín dụng và xu hướng hoàn thiện

93 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, thẻ tín dụng nói riêng và thẻ thanh toán nói chung vẫn còn khá mới mẻ nhưng pháp luật hiện hành cũng đã có quy định về lĩnh vực này, đó là: Quy chế phát hành, thanh toán, sử

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS LÊ HỒNG HẠNH

HÀ NỘI - NĂM 2007

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Mục lục 4

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt 7

Danh mục các hình vẽ, đồ thị 8

MỞ ĐẦU 9

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ THẺ TÍN DỤNG 11

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THẺ TÍN DỤNG 11

1.1.1 Thẻ tín dụng và lịch sử phát triển 11

1.1.1.1 Sự ra đời của Thẻ tín dụng trên thế giới 11

1.1.1.2 Sự ra đời của Thẻ tín dụng tại Việt Nam 13

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của thẻ tín dụng tại Việt Nam 15

1.1.2.1 Khái niệm thẻ tín dụng 15

1.1.2.2 Đặc điểm của thẻ tín dụng 18

1.2 QUAN HỆ PHÁP LUẬT VỀ THẺ TÍN DỤNG 22

1.2.1 Các chủ thể liên quan đến việc sử dụng Thẻ tín dụng ở Việt Nam 22

1.2.2 Các quan hệ xã hội liên quan đến Thẻ tín dụng ở Việt Nam 25

1.2.2.1 Nhóm các quan hệ liên quan trực tiếp đến giao dịch thẻ tín dụng 25

1.2.2.2 Nhóm các quan hệ liên quan gián tiếp đến hoạt động kinh doanh thẻ 30

1.2.3 Sự cần thiết phải có pháp luật điều chỉnh các quan hệ liên quan đến thẻ tín dụng 33

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THẺ TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 36

2.1 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÁC QUAN HỆ XÃ HỘI TRONG PHÁT HÀNH, THANH TOÁN VÀ SỬ DỤNG THẺ TÍN DỤNG 36

2.1.1 Quan hệ giữa Chủ thẻ tín dụng và TCPHT 36

2.1.1.1 Điều kiện với chủ thẻ tín dụng 36

2.1.1.2 Điều kiện với TCPHT 40

2.1.1.3 Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng 41

Trang 3

2.1.3 Quan hệ giữa ĐVCNT và TCTTT 48

2.1.3.1 Điều kiện đối với ĐVCNT: 48

2.1.3.2 Điều kiện đối với TCTTT: 49

2.1.3.3 Hợp đồng thanh toán thẻ giữa ĐVCNT và TCTTT: 50

2.1.4 Quan hệ giữa Tổ chức thanh toán trung gian với các TCPHT, TCTTT 51

2.1.5 Quan hệ giữa Tổ chức thẻ quốc tế với các TCPHT, TCTTT Việt Nam 52

2.2 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ TÍN DỤNG 54

2.2.1 Các quy định về cho vay và bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay 54

2.2.2 Các quy định về quản lý hoạt động thanh toán 57

2.2.3 Các quy định về quản lý ngoại hối 60

2.2.4 Các quy định về cạnh tranh 63

2.2.5 Các quy định về phòng ngừa gian lận và tội phạm thẻ 65

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THẺ TÍN

3.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THẺ TÍN DỤNG 68 3.2 CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CHI PHỐI VIỆC HOÀN THIỆN

3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THẺ

3.3.1 Thống nhất hóa các quy định về phát hành, sử dụng, thanh toán thẻ tín

3.3.2 Về vấn đề xây dựng và chia sẻ thông tin tín dụng 75 3.3.3 Về việc phát huy năng lực hoạt động của các hiệp hội ngành nghề 76 3.3.4 Vấn đề phân định trách nhiệm gánh chịu rủi ro 76

3.3.6 Xây dựng các quy tắc và tiêu chuẩn an toàn cho các tổ chức kinh

3.3.7 Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thẻ tín dụng 79

Trang 4

KẾT LUẬN 84

PHỤ LỤC I Khái quát tình hình kinh doanh Thẻ tín dụng quốc tế 88 PHỤ LỤC II Tình hình sử dụng thẻ tín dụng quốc tế tại Việt Nam 89 PHỤ LỤC III Quy trình phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng tại Việt Nam 91 PHỤ LỤC IV Các loại Thẻ tín dụng tại Việt Nam 93

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

ATM Máy rút tiền tự động (Automatic Teller Machine) BIDV Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

EDC Máy thanh toán thẻ (máy cà thẻ) điện tử

EIB Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu

Việt Nam Mastercard Tổ chức thẻ quốc tế Mastercard

Quy chế 20 Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung

cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN của NHNN ngày 15-05-2007

Quy chế 371 Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân

hàng ban hành kèm theo Quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN của NHNN ngày 19-10-1999

Trang 6

Hình 3.4 Quy trình giao dịch với việc rút tiền mặt

Trang 7

MỞ ĐẦU

I Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài

Dịch vụ thẻ tín dụng là một loại hình dịch vụ tương đối đặc biệt, chủ yếu do các Ngân hàng thương mại cung cấp Tính chất đặc biệt này thể hiện ở việc các tổ chức tín dụng đã kết hợp hai nghiệp vụ cơ bản của mình là hoạt động thanh toán và hoạt động cấp tín dụng vào một loại hình dịch vụ Tương ứng với sự kết hợp này, chế định pháp luật về thẻ tín dụng cũng phải được chắt lọc từ những quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động thanh toán và những quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động tín dụng của ngân hàng

Trong hệ thống pháp luật của một quốc gia, mặc dù các ngành luật có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng, nhưng giữa chúng luôn tồn tại những mối liên hệ tất yếu Pháp luật về thẻ tín dụng - một bộ phận của ngành luật ngân hàng – cũng không phải là một ngoại lệ, đặc biệt là trong mối liên hệ với pháp luật dân sự, pháp luật thương mại, pháp luật quản lý hành chính nhà nước, tư pháp quốc tế, pháp luật hình sự

Không chỉ liên quan đến các ngành luật của hệ thống pháp luật trong nước, pháp luật về thẻ tín dụng còn liên quan mật thiết đến các điều ước quốc tế; liên quan đến những thông lệ, tập quán trong giao dịch quốc tế về thẻ tín dụng và liên quan đến những quy tắc, quy định của các tổ chức thẻ quốc tế Phần lớn những quy phạm này

đã được thừa nhận trên phạm vi toàn cầu và trong điều kiện hội nhập khu vực và thế giới, sự ảnh hưởng của chúng đối với Việt Nam là không thể tránh khỏi

Như vậy, pháp luật về thẻ tín dụng đòi hỏi một sự kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố kể trên, tạo thành một khung pháp lý hoàn chỉnh và đầy đủ

Về mặt thực tế, thẻ tín dụng đã trở thành một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt hữu hiệu nhất của các nền kinh tế khu vực và thế giới Việt Nam cũng không tránh khỏi quy luật đó Tuy nhiên, để đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của thị trường thẻ tín dụng thì cần phải xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý, bảo đảm khả năng thích ứng với sự biến động của hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng Trong khi đó ở Việt Nam hầu như chưa có một công trình luật học nào nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống về pháp luật liên quan đến thẻ tín dụng

Trang 8

Vì vậy, việc nghiên cứu để hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh các vấn đề về thẻ tín dụng đang là một nhu cầu cấp bách và cần thiết trong giai đoạn hiện nay

II Tình hình nghiên cứu đề tài

Trên thế giới, việc nghiên cứu về thẻ tín dụng không còn là điều xa lạ Các tổ chức thẻ quốc tế như Visa, MasterCard, American Express, JCB, Diner Club…đã tổ chức nhiều chương trình nghiên cứu, nhiều diễn đàn, chương trình đào tạo… về thẻ tín dụng

Ở Việt Nam, thẻ tín dụng nói riêng và thẻ thanh toán nói chung vẫn còn khá mới mẻ nhưng pháp luật hiện hành cũng đã có quy định về lĩnh vực này, đó là: Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng được ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN của NHNN ngày 15-05-2007

Bên cạnh đó, các cuộc hội thảo về thẻ thanh toán (bao gồm cả thẻ tín dụng) cũng

thường xuyên được tổ chức như: Hội thảo “Công nghệ thông tin với mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam” do Cục Công nghệ Tin học Ngân hàng (Ngân

hàng Nhà nước Việt Nam) và Tập đoàn dữ liệu Quốc tế (IDJ) phối hợp tổ chức tại Hà

Nội trong hai ngày 15 và 16-6-2004, Hội thảo: “Quản lý rủi ro và giả mạo thẻ” do Hội

thẻ Ngân hàng Việt Nam phối hợp với Tổ chức thẻ quốc tế MasterCard tổ chức vào

ngày 14-12-2005, Hội thảo “Thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực Chính phủ: Giải pháp thẻ thương mại” do Ngân hàng Nhà nước tổ chức vào ngày 24-3-2006, Hội thảo “Các biện pháp phòng ngừa gian lận thẻ” do Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam tổ

chức vào ngày 07-4-2006…

Một số học giả cũng đã đi sâu nghiên cứu về thẻ thanh toán như:

- Tác giả Nguyễn Danh Lương với Luận án Tiến sĩ kinh tế: “Những giải pháp nhằm phát triển thanh toán thẻ ở Việt Nam”

- Tác giả Trần Hoàng Anh với Luận văn Thạc sĩ: “Khảo sát thị trường thẻ tín dụng tại Tp.Hồ Chí Minh”

- PGS.TS Lê Văn Tề, Thạc sĩ Trương Thị Hồng với đề tài “Thẻ thanh toán quốc tế và việc ứng dụng thẻ thanh toán tại Việt Nam”

Trang 9

- Tác giả Phạm Danh Chương với Luận văn Thạc sĩ luật học: “Một số khía cạnh pháp lý về thẻ thanh toán và thực tiễn điều chỉnh pháp luật về thẻ thanh toán ở Việt Nam hiện nay”

Một số khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp của các sinh viên Học viện Ngân hàng cũng đề cập tới vấn đề này

Ngoài ra, cũng có một số bài viết về thẻ thanh toán trên tạp chí, báo chuyên ngành như Tạp chí Ngân hàng, Thời báo Ngân hàng, các Báo điện tử trên mạng Internet

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đã nêu phần lớn chỉ xem xét thẻ từ góc

độ kinh tế, cụ thể là quan hệ thanh toán, tín dụng… chưa đi sâu nghiên cứu và đưa

ra các giải pháp cụ thể về mặt pháp lý Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu này cũng chỉ tìm hiểu chung về thẻ thanh toán mà chưa đi sâu nghiên cứu thẻ tín dụng

III Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu là làm rõ vai trò của thẻ tín dụng trong các giao dịch thanh toán phi tiền mặt, những khía cạnh pháp lý nảy sinh giữa các chủ thể liên quan để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm tạo hành lang pháp lý an toàn cho sự phát triển của thẻ tín dụng trong nền kinh tế ở nước ta

Để thực hiện mục đích trên, Luận văn đề ra các mục tiêu sau:

- Khảo sát và phân tích quy trình giao dịch phát hành, thanh toán và sử dụng thẻ tín dụng;

- Tập hợp, phân loại và phân tích bản chất pháp lý của các mối quan hệ pháp luật về thẻ tín dụng;

- Xem xét bản chất mối quan hệ giữa khách hàng, các chủ thể phát hành thẻ, các chủ thể thanh toán thẻ và Nhà nước từ các góc độ khác nhau như: từ góc độ pháp luật thương mại, pháp luật dân sự, pháp luật hành chính, pháp luật ngân hàng và tư pháp quốc tế;

- Phân tích những cơ sở pháp lý của mối quan hệ liên quan đến thẻ tín dụng

ở Việt Nam, chỉ ra được những khoảng trống và những bất cập trong các văn bản pháp luật hiện hành về vấn đề này;

Trang 10

- Luận văn sẽ đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện những quy định cơ bản về thẻ tín dụng

IV Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trong khuôn khổ một bản Luận văn Thạc sĩ với một đề tài mới, với khả năng nghiên cứu và nguồn tài liệu tham khảo còn hạn chế, công trình nghiên cứu này chưa thể bao quát hết được các vấn đề pháp lý về thẻ tín dụng mà chỉ dừng lại ở những tiếp cận ban đầu và các giải pháp mang tính gợi mở

Luận văn không nhằm cung cấp tất cả các vấn đề pháp lý liên quan tới thẻ tín dụng mà chỉ nhằm giới thiệu về thẻ tín dụng và nghiên cứu một số vấn đề pháp lý

cơ bản cần đặt ra đối với thẻ tín dụng

Luận văn cũng đưa ra một cách tổng quát về sự phát triển của thẻ tín dụng

và thực trạng điều chỉnh pháp luật về thẻ tín dụng ở Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở đó Luận văn cũng đưa ra một số gợi ý và đề xuất một vài vấn đề chủ yếu để hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh về thẻ tín dụng và bảo đảm cho khung pháp luật đó được khả thi trên thực tế

V Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu trên đây, dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, chứng minh, so sánh đối chiếu; phương pháp khảo sát thực tiễn, đánh giá, khái quát hoá, hệ thống hóa vấn đề và một số phương pháp nghiên cứu khác

VI Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần nội dung chính của Luận văn gồm 3 chương như sau:

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ THẺ TÍN DỤNG

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THẺ TÍN DỤNG

1.1.1 Thẻ tín dụng và lịch sử phát triển

1.1.1.1 Sự ra đời của Thẻ tín dụng trên thế giới

Sự ra đời của tiền tệ đã đánh dấu một bước phát triển đột phá của sản xuất và lưu thông hàng hóa Qua nhiều giai đoạn phát triển, ngày nay tiền tệ đã đạt đến hình thái biểu hiện cao với chức năng thanh toán không dùng tiền mặt, đó là Tiền điện tử Thẻ tín dụng chính là một dạng của loại tiền điện tử không dùng tiền mặt đó Vào những năm giữa thế kỷ 20, kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ kéo theo nhu cầu tiêu dùng cá nhân không ngừng tăng lên Thêm vào đó, những thành quả của sự phát triển vượt bậc trong khoa học kỹ thuật và công nghệ tin học được ứng dụng vào ngành tài chính – ngân hàng đã làm thay đổi hình thức thanh toán tiêu dùng truyền thống của dân chúng, đồng thời đưa dịch vụ thanh toán điện tử trở thành mũi nhọn kinh doanh của các ngân hàng Nằm trong dịch vụ thanh toán điện tử này, kết hợp với việc kinh doanh tín dụng truyền thống, thẻ tín dụng ra đời không những làm thay đổi thói quen kinh doanh của ngân hàng mà còn làm thay đổi thói quen tiêu dùng của người dân tại nhiều quốc gia

Năm 1914, một số nhà hàng, khách sạn, Hiệp hội tại Hoa Kỳ đã sản xuất và cấp cho các Khách hàng quen của mình những tấm thẻ ưu đãi để sử dụng cho những dịch vụ đặc biệt Tấm thẻ ưu đãi lúc này chỉ là một sự chứng nhận cho nhân thân của Chủ thẻ chứ không thay thế cho việc thanh toán các dịch vụ mà Chủ thẻ đó sử dụng

Năm 1946, một người tên là John Biggins sáng lập ra hệ thống mua bán chịu Charge-it để người tiêu dùng thực hiện những giao dịch mua bán lẻ tại địa phương Các Đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ bán chịu cho khách hàng và nộp biên lai bán hàng cho ngân hàng của Biggins Ngân hàng này sẽ trả tiền cho họ và thu lại tiền từ các khách hàng sử dụng dịch vụ Charge-it

Năm 1949, sau sự kiện bị từ chối thanh toán bằng séc khi không mang tiền mặt tại một quán ăn ở New York, ông Frank McNamara đã có sáng kiến phát hành

ra chiếc thẻ Diner Club phát hành cho các hội viên để các hội viên sử dụng mua

Trang 12

hàng hóa, dịch vụ mà không cần thanh toán ngay bằng tiền mặt Diner Club sẽ trả cho các chủ hiệu tiền hàng hóa dịch vụ của tất cả các hội viên vào cuối tháng, sau khi trừ đi chi phí dịch vụ thẻ, đồng thời phát hành bảng kê cho các hội viên và yêu cầu hội viên thanh toán lại ngay cho Diner Club

Năm 1951, Franklin National Bank- Long Insland- New York (nay là European American Bank) là ngân hàng đầu tiên phát hành thẻ tín dụng Để có được thẻ, các khách hàng phải có uy tín và năng lực tài chính Thẻ này dùng cho các thương vụ bán lẻ hàng hóa dịch vụ Khi nhận được thẻ để thanh toán, các Đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch vụ lưu lại các thông tin về khách hàng trên thẻ vào hóa đơn bán hàng Các Đơn vị này sẽ được Franklin National Bank thanh toán lại trên cơ sở

có chiết khấu một tỷ lệ nhất định như là một khoản bù đắp chi phí

Năm 1959, để tăng sức cạnh tranh, nhiều tổ chức phát hành thẻ đưa ra loại hình dịch vụ mới: tín dụng tuần hoàn Với dịch vụ này, các Chủ thẻ có thể duy trì số

dư có trên tài khoản vay bằng một hạn mức tín dụng nếu họ hoàn thành trách nhiệm thanh toán hàng tháng Khi đó, số tiền thanh toán hàng tháng của chủ thể sẽ được cộng thêm một khoản chi phí tính từ khoản vay của Chủ thẻ

Đến những năm 60 của thế kỷ 20, thẻ tín dụng đã dần dần xuất hiện trong cuộc sống của các nước Châu Âu và trở thành một trong những phương tiện thanh toán thông dụng trên thế giới

Ở giai đoạn đầu phát triển, Chủ thẻ tín dụng thường là những người có năng lực tài chính, có vị thế trong xã hội Nhưng các ngân hàng sớm nhận ra đông đảo dân chúng trong xã hội mới là đối tượng sử dụng thẻ tiềm năng và một cuộc đua tranh giữa các ngân hàng tạo ra sự bùng nổ việc sử dụng thẻ tín dụng

Năm 1960, ngân hàng Bank of America cho ra đời sản phẩm thẻ đầu tiên của mình là Bank Americard Ban đầu, chỉ một nhóm nhỏ các Chủ thẻ và đại lý tham gia, sau đó Bank of America phát triển mạng lưới bằng cách mở rộng phạm vi hoạt động thông qua việc cấp phép cho các tổ chức tài chính khác trong việc phát hành thẻ và ký kết hợp đồng với các đại lý Việc phát triển mạng lưới đại lý và Chủ thẻ ngày càng mở rộng trên toàn nước Mỹ

Thấy được thành công trong việc kinh doanh thẻ của Bank of America, nhiều

tổ chức phát hành thẻ khác bắt đầu liên kết để cạnh tranh với các tổ chức của Bank

Trang 13

(Interbank Card Association - ICA), một tổ chức mới có khả năng trao đổi thông tin

về các giao dịch thẻ tín dụng

Mặc dù có những rắc rối phát sinh, các tổ chức phát hành thẻ vẫn liên tiếp ra đời Năm 1967, 4 ngân hàng ở California đổi tên từ California Bank Card Association thành Western State Bank Card Association (WSBA) WSBA mở rộng mạng lưới thành viên với các tổ chức tài chính khác ở phía Tây nước Mỹ Sản phẩm thẻ của WSBA là MasterCharge WSBA cũng cấp phép cho tổ chức Interbank sử dụng tên và thương hiệu của MasterCharge Vào cuối thập niên 60, nhiều tổ chức tài chính đã trở thành thành viên của MasterCharge và đủ sức cạnh tranh với Bank Americard

Năm 1968, Interbank mở rộng thành viên ra khỏi phạm vi nước Mỹ, liên kết với các tổ chức tài chính Châu Âu và hình thành thẻ EuroCard và năm này cũng là năm mà thành viên đầu tiên của Nhật tham gia vào tổ chức Interbank

Năm 1977, tổ chức thẻ Bank Americard đổi tên thành Visa USA và sau đó là

Tổ chức thẻ quốc tế Visa – Visa International

Năm 1979, tổ chức Master Charge đổi tên thành MasterCard

Đến thời điểm hiện nay, đã có rất nhiều các tổ chức thẻ quốc tế được thành lập bởi các định chế tài chính khác nhau, làm cho thị trường thẻ ngày càng đa dạng như: American Express (Amex), Diners Club, JCB, EuroCard Nhưng phát triển mạnh nhất và chiếm lĩnh thị trường nhiều nhất vẫn là VisaCard và Mastercard với hơn 25 triệu Đơn vị chấp nhận thẻ và hơn 1 triệu điểm rút tiền mặt thuộc 230 quốc gia và vùng lãnh thổ trong đó có Việt Nam

1.1.1.2 Sự ra đời của Thẻ tín dụng tại Việt Nam

Từ trước những năm 90 của thế kỷ 20, mặc dù đã được phổ biến tại nhiều quốc gia, thẻ tín dụng vẫn chưa có chỗ đứng tại Việt Nam Tuy nhiên, chỉ sau đó ít lâu, nhờ vào định hướng phát triển kinh tế thị trường và chính sách mở cửa, thẻ tín dụng đã được các nhà đầu tư và khách du lịch nước ngoài mang theo khi nhập cảnh vào Việt Nam Trong khi việc thanh toán không dùng tiền mặt thông qua thẻ tín dụng đã trở thành thói quen của người nước ngoài, thì tại Việt Nam, họ vẫn phải dùng ngoại tệ mặt hoặc đến ngân hàng tại Việt Nam đổi lấy tiền đồng Việt Nam để chi trả cho hàng hóa, dịch vụ mà họ sử dụng Với sự chuyển biến tích cực của nền

Trang 14

kinh tế, cộng với sự hội nhập sâu rộng của kinh tế xã hội Việt Nam vào khu vực và thế giới, lượng khách nước ngoài đến Việt Nam ngày càng gia tăng dẫn đến áp lực phải chấp nhận phương thức thanh toán phổ biến này của người nước ngoài

Đánh dấu điểm khởi đầu cho sự gia nhập chính thức của thẻ tín dụng vào thị trường Việt Nam là sự kiện Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB) ký kết hợp đồng đại lý thanh toán thẻ với ngân hàng BFCE Singapore vào ngày 27-6-1990 Nội dung của Hợp đồng này là thỏa thuận để các điểm giao dịch và đại lý của VCB có thể chấp nhận thanh toán được thẻ Visa Ngay sau đó, tháng 7-1990 Ngân hàng Sài Gòn Công Thương liên doanh với một công ty con của Tyndall Group của Anh thành lập Trung tâm thanh toán Visa tại thành phố Hồ Chí Minh Ngày 24-7-1991, VCB ký hợp đồng đại lý thanh toán thẻ tín dụng quốc tế Mastercard với công ty thẻ MBF Malaysia Ngày 18-9-1991, VCB tiếp tục ký hợp đồng đại lý thanh toán thẻ JCB card với công ty JCB International Co.Ltd của Nhật Bản

Đến năm 1994, một số ngân hàng khác cũng tham gia thị trường thanh toán thẻ như Ngân hàng Công Thương Việt Nam với thẻ Visa, Eximbank với thẻ Visa và Mastercard … Cho đến nay ở Việt Nam đã có 19 ngân hàng thương mại tham gia thanh toán thẻ tín dụng quốc tế với các thương hiệu như Visacard, Mastercard, JCB, Amex, Diners Club, Eurocard…

Đó mới chỉ là sự tham gia của các ngân hàng Việt Nam vào hoạt động thanh toán bằng thẻ tín dụng

Việc các ngân hàng Việt Nam phát hành thẻ tín dụng thì triển khai chậm hơn Hiện tại có 8 ngân hàng thương mạiViệt Nam tham gia phát hành thẻ tín dụng quốc tế cho các thương hiệu nổi tiếng như: Visa, Mastercard, JCB, Amex, Diners Club…

Về lĩnh vực liên kết thẻ, hiện tại mới có 3 liên minh thẻ là liên minh giữa Ngân hàng Ngoại thương Việt nam với 17 ngân hàng thương mại cổ phần, công ty

cổ phần chuyển Mạch tài chính Quốc gia – BankNet (có 14 ngân hàng thương mại tham gia với VDC), hệ thống VNBC (có 4 ngân hàng thương mại tham gia)

Việc sử dụng thẻ ngân hàng nói chung và thẻ tín dụng nói riêng ở Việt Nam bắt đầu được triển khai vào những năm 1990 với việc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 74/QĐ-NH về “Thể lệ tạm thời về phát hành và sử dụng thẻ

Trang 15

thanh toán” và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho phép áp dụng thí điểm tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Từ những năm 1993 đến 1995, một số ngân hàng trong nước cũng bắt đầu thực hiện vai trò làm ngân hàng đại lý thanh toán thẻ quốc tế cho các ngân hàng nước ngoài là thành viên các TCTQT Khi đó các chủ thẻ thanh toán chủ yếu là người nước ngoài sinh sống, hoạt động kinh doanh hoặc du lịch tại Việt Nam

Đến năm 1996, một số ngân hàng trong nước đã xây dựng các Thể lệ tạm thời

về phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ trên cơ sở chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Trước nhu cầu đòi hỏi của sự phát triển thanh toán thẻ và nhận định về sự cần thiết phải có hành lang pháp lý ổn định cho các ngân hàng thương mại thực hiện nghiệp vụ thẻ, Ngân hàng Nhà nước đã lần lượt ban hành các văn bản pháp lý để điều chỉnh hoạt động của nghiệp vụ này như: Quyết định số 22/QĐ-NH1 ngày 21-02-1994 về Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt, Thông tư số 08/TT-NH2 ngày 02-6-1994 hướng dẫn Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt

Đến năm 1999, NHNN ban hành Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng kèm theo Quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN1 ngày 19-10-1999

(sau đây gọi tắt là “Quy chế 371”), đặt ra một khung pháp lý để các ngân hàng phát

triển nghiệp vụ thẻ của mình

Đặc biệt, gần đây nhất, ngày 15-05-2007, Thống đốc NHNN đã ký ban hành

Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN kèm theo Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung ứng dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng (sau đây gọi tắt là “Quy

chế 20”)

Về đối tượng, phạm vi điều chỉnh, Quy chế 20 có đối tượng, phạm vi điều chỉnh được mở rộng hơn so với các quy định trước đó Nếu ở Quy chế 371, các loại thẻ ngân hàng được áp dụng phải là thẻ do ngân hàng phát hành, thì đến Quy chế

20, thẻ ngân hàng là thẻ do Tổ chức phát hành thẻ phát hành Khái niệm Tổ chức phát hành thẻ thì được hiểu rất rộng: Là ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng,

tổ chức tín dụng hợp tác, tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng được phép phát hành thẻ theo quy định tại Điều 9, Quy chế 20 (khoản 12 Điều 2)

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của thẻ tín dụng tại Việt Nam

1.1.2.1 Khái niệm thẻ tín dụng

Trang 16

Mặc dù người dân Việt Nam đang dần trở nên quen thuộc với cụm từ “thẻ tín dụng”, kể từ khi tần suất xuất hiện cụm từ này trên các phương tiện thông tin đại chúng ngày một nhiều hơn, thế nhưng các nhà nghiên cứu vẫn chưa đưa ra được khái niệm thống nhất về thẻ tín dụng Theo cách hiểu thông thường thì thẻ là một vật nhỏ gọn và chứa đựng thông tin của chủ sở hữu chiếc thẻ đó nhằm sử dụng vào một hoặc nhiều mục đích nhất định Định nghĩa về từ “thẻ” trong Từ điển Tiếng Việt cũng cho thấy như vậy: “Thẻ là giấy chứng nhận một tư cách nào đó, thường

có dạng nhỏ gọn” [9, tr 930] Với khái niệm này, thẻ luôn gắn liền với chủ thể nhất định và được chủ thể đó sử dụng như là một bằng chứng chứng tỏ tư cách chủ thể khi tham gia giao dịch mà không phải xuất trình nhiều giấy tờ liên quan Tính năng này đặc biệt hữu ích khi các chủ thể tham gia các giao dịch liên quan đến ngân hàng, những giao dịch đòi hỏi nhiều trình tự, thủ tục xác nhận nhân thân, xác nhận căn cước để tránh rủi ro nhầm lẫn, thất thoát tiền Do đó, cụm từ “thẻ ngân hàng” hoặc “thẻ thanh toán” hoặc “thẻ tín dụng” được đề cập đến thường xuyên trong đời sống xã hội, không chỉ trên thế giới mà cả ở Việt Nam hiện nay

Hoạt động tín dụng là chức năng đặc trưng của các ngân hàng nên thẻ tín dụng thường do các ngân hàng phát hành Chính vì vậy phần lớn thẻ tín dụng cũng là thẻ ngân hàng Bên cạnh đó, mục đích sử dụng của thẻ tín dụng là thanh toán hàng hóa dịch vụ nên thẻ tín dụng cũng là một trong những loại thẻ thanh toán Với những đặc tính chung đó, thẻ tín dụng sẽ mang những tính chất, đặc điểm của cả thẻ ngân hàng và thẻ thanh toán

Theo các quan điểm kinh tế học, thẻ thanh toán có thể được hiểu là “chìa khóa

đa năng để Chủ thẻ kết nối với các chủ thể khác tham gia hệ thống thanh toán thẻ phục vụ quá trình lưu chuyển hàng hóa, tiền tệ được thỏa thuận trước nhằm thực hiện các dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của mình” [23, tr 9] Thẻ thanh toán “là công cụ thanh toán do TCPHT cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá dịch

vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư của mình ở tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được cấp theo hợp đồng ký kết giữa TCPHT và Chủ thẻ” [25, tr 6] Xét từ góc độ luật học, khái niệm thẻ thanh toán đã xuất hiện trong văn bản pháp luật Việt Nam từ năm 1994 mặc dù chưa được định nghĩa chính thức Tại Điều

24 của Thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt, được ban hành kèm theo Quyết định

số 22/QĐ-NH1 ngày 21-02-1994 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, thẻ thanh

Trang 17

toán mới chỉ được giải thích là “do Ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng hoá, dịch vụ, các khoản thanh toán khác và rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý thanh toán hay các quầy trả tiền mặt tự động.” Cũng tại Điều

24 Thể lệ này, thẻ thanh toán được phân loại gồm thẻ ghi nợ, thẻ ký quỹ thanh toán

và thẻ tín dụng Thẻ tín dụng, mặc dù chưa được định nghĩa trong văn bản này,

nhưng cũng đã được mô tả như sau: “Thẻ tín dụng áp dụng đối với khách hàng có

đủ điều kiện được Ngân hàng đồng ý cho vay tiền Khách hàng chỉ được thanh toán

số tiền trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được Ngân hàng chấp thuận bằng văn bản.”

Đến năm 1999, các khái niệm về thẻ đã được pháp quy hóa trong Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng (được ban hành kèm theo Quyết

định số 371/1999/QĐ-NHNN ngày 19-10-1999 của Thống đốc Ngân hàng Nhà

nước) Quy chế này đưa ra khái niệm thẻ ngân hàng như sau: Thẻ ngân hàng “là công cụ thanh toán do TCPHT cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa TCPHT và Chủ thẻ” Sau đó, tại Điều 3 của Quy chế này, thẻ ngân hàng được

phân loại thành thẻ thanh toán và thẻ tín dụng Thẻ thanh toán là thẻ ngân hàng

“được Chủ thẻ sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, rút tiền mặt trong phạm vi số dư trên tài khoản tiền gửi của mình tại TCPHT” và thẻ tín dụng “là loại thẻ cho phép Chủ thẻ thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, rút tiền mặt trong hạn mức tín dụng được TCPHT chấp thuận theo hợp đồng”

Mới đây nhất, năm 2007, khái niệm về các loại thẻ đã được sửa đổi lại trong

Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng, được ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15-5-

2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Theo đó, không sử dụng khái niệm thẻ thanh toán mà sử dụng khái niệm thẻ ngân hàng và thẻ ngân hàng được hiểu là

“phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận” Thẻ ngân hàng sẽ bao gồm

thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng và thẻ trả trước Khoản 5 Điều 2 Quy chế này có định nghĩa

“Thẻ tín dụng (credit card): Là thẻ cho phép Chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ” Trong đó, khái niệm “giao dịch thẻ” được hiểu là “việc sử dụng thẻ để gửi, nạp, rút tiền mặt, thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, sử dụng các dịch vụ khác do tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ cung ứng”

Trang 18

Mặc dù thẻ tín dụng đã được định danh trong các văn bản quy phạm pháp luật, song các nhà nghiên cứu luật học vẫn đưa ra các quan điểm khác nhau về khái niệm

“thẻ thanh toán” “thẻ tín dụng” Theo Thạc sỹ Phạm Danh Chương, Thẻ thanh toán

là “một công cụ thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng, các tổ chức tài chính hoặc các công ty phát hành được người sở hữu thẻ sử dụng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của mình, kể cả rút tiền mặt, thực hiện các dịch vụ tự động do ngân hàng hoặc các tổ chức khác cung cấp thông qua hệ thống thanh toán điện tử.” [24,

tr 11][24] Cách tiếp cận của mỗi tác giả nêu trên đều có những hạt nhân cơ bản thể hiện bản chất của thẻ tín dụng Tuy nhiên theo chúng tôi, thẻ tín dụng cần được định nghĩa sát với bản chất pháp lý của thẻ hơn nữa Vì lý do đó, chúng tôi đưa ra định

nghĩa sau về thẻ tín dụng “Thẻ tín dụng là phương tiện thanh toán do ngân

hàng hoặc tổ chức phi ngân hàng phát hành theo thỏa thuận với Chủ thẻ để đáp ứng các nhu cầu tín dụng, thanh toán trong một hạn mức tiền nhất định thông qua việc xác lập quan hệ thanh toán giữa Chủ thẻ với Đơn vị chấp nhận thẻ, đồng thời cũng xác lập quan hệ vay nợ giữa Chủ thẻ với tổ chức đã phát hành thẻ”.

1.1.2.2 Đặc điểm của thẻ tín dụng

Từ định nghĩa như đã nêu trên, Thẻ tín dụng mang những đặc trưng pháp lý như sau:

Thứ nhất, thẻ tín dụng luôn gắn liền với một chủ thể nhất định Chủ thể này

chính là chủ sở hữu của thẻ tín dụng Tên, hình ảnh của Chủ thẻ được in ngay trên thẻ và Chủ thẻ cũng phải ký tên lên mặt sau của thẻ ngay khi nhận thẻ trước sự chứng kiến của nhân viên Tổ chức phát hành thẻ (TCPHT) Việc ký tên trên thẻ là rất cần thiết vì mỗi khi thanh toán tại Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT), Chủ thẻ phải

ký vào các hóa đơn bán hàng để ĐVCNT đối chiếu chữ ký trên hóa đơn và chữ ký trên thẻ Ngoài ra, ĐVCNT còn đối chiếu ảnh của Chủ thẻ được in trên thẻ với người đang sử dụng thẻ Nếu có yếu tố không trùng khớp thì ĐVCNT có thể từ chối nhận thanh toán bằng thẻ vì không đủ yếu tố xác định chính xác người cầm thẻ là Chủ thẻ Chính vì vậy, có thể coi thẻ tín dụng là giấy chứng nhận tư cách của Chủ thẻ đúng như định nghĩa về “thẻ” trong Từ điển Tiếng Việt mà chúng tôi đã dẫn ở trên Đây cũng chính là bằng chứng chứng tỏ khả năng tài chính của Chủ thẻ, bằng chứng chứng tỏ khả năng thực hiện được nghĩa vụ thanh toán của Chủ thẻ sau khi

Trang 19

mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ tại Đơn vị chấp nhận thẻ Bên cạnh khả năng tài chính, đương nhiên Chủ thẻ cũng phải có năng lực chủ thể để tự mình xác lập các giao dịch từ giao dịch thương mại, dân sự với ĐVCNT đến các giao dịch thanh toán, tín dụng liên quan tới ngân hàng Do đó, phải có tổ chức trung gian thẩm định

và xác nhận cho tư cách của Chủ thẻ, tổ chức này không ai khác ngoài TCPHT

Thứ hai, thẻ tín dụng được phát hành từ một thỏa thuận giữa Chủ thẻ với

TCPHT Thỏa thuận này có hình thức pháp lý là Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng Để

đi đến ký kết được Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, Chủ thẻ phải chứng minh được năng lực chủ thể, khả năng tài chính, khả năng trả nợ của mình Là một đơn vị kinh doanh chuyên nghiệp về trung gian thanh toán và tín dụng, TCPHT sẽ đặt ra các điều kiện để thẩm định các khả năng này của Chủ thẻ Ví dụ như: đủ độ tuổi, có địa chỉ rõ ràng, có nguồn thu nhập ổn định, có tài sản bảo đảm, có uy tín trong quan hệ tín dụng Tất cả các yếu tố đó tạo nên khả năng tài chính của Chủ thẻ và bằng việc phát hành thẻ, TCPHT đã xác nhận cho Chủ thẻ khả năng này Việc xác nhận khả năng tài chính cho Chủ thẻ thông qua thẻ tín dụng cũng đồng nghĩa với việc TCPHT phải cam kết thanh toán hộ cho Chủ thẻ mỗi khi phát sinh giao dịch Do đó, ngoài các nội dung thỏa thuận về các yếu tố tạo lập khả năng tài chính của Chủ thẻ, Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng còn đề cập đến điều kiện, trình tự, thủ tục để thực hiện thanh toán qua trung gian như: mở tài khoản thẻ, cam kết thanh toán Thời điểm thanh toán hộ cho Chủ thẻ cũng chính là thời điểm Chủ thẻ nhận nợ với TCPHT, cũng là thời điểm phát sinh quan hệ tín dụng giữa hai bên Vì thế, một nội dung quan trọng nữa trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng là các điều khoản về xác nhận nợ, tài sản bảo đảm, nguồn trả nợ, hạn mức tín dụng, …

Thứ ba, thẻ tín dụng luôn gắn liền với một tài khoản ngân hàng nhất định Đó

là tài khoản của chính Chủ thẻ mở tại TCPHT - nếu TCPHT cũng là ngân hàng - hoặc tại một ngân hàng mà TCPHT ủy quyền - nếu TCPHT không phải là ngân hàng Khi sử dụng thẻ tín dụng, người mua - Chủ thẻ - không chi trả bằng tiền mặt

và bên bán hàng – Đơn vị chấp nhận thẻ - cũng không thu tiền mặt Giá trị các hàng hóa dịch vụ mua và sử dụng được tính bằng “tiền điện tử” Giao dịch bằng tiền điện

tử phải gắn với hệ thống thanh toán điện tử do các tổ chức trung gian thanh toán, thường là các ngân hàng, tham gia và cung cấp dịch vụ Dịch vụ thanh toán không

sử dụng tiền mặt được thực hiện trên các tài khoản của các bên giao dịch mà biểu hiện là việc tăng số dư tiền trên tài khoản của chủ thể này và giảm số dư tiền trên tài

Trang 20

khoản của chủ thể kia Khi sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản của Chủ thẻ sẽ được báo

“nợ” và tài khoản của ĐVCNT sẽ được báo “có” Đây cũng là một đặc điểm chung của tất cả các loại thẻ ngân hàng, trong đó có thẻ tín dụng

Thứ tư, Thẻ tín dụng làm phát sinh quan hệ cam kết thanh toán “liên hoàn”

Cam kết thanh toán “liên hoàn” là các cam kết thanh toán của các Tổ chức trung gian cho ĐVCNT Ngay tại thời điểm dùng thẻ tín dụng để thanh toán giá trị hàng hóa dịch vụ vừa sử dụng, tài khoản của Chủ thẻ tín dụng đã bị ghi nợ nhưng Chủ thẻ không phải thanh toán ngay cho TCPHT Tài khoản của ĐVCNT cũng chưa được báo “có” ngay lúc đó ĐVCNT mới chỉ nhận được các cam kết sẽ thanh toán của các đơn vị trong hệ thống thanh toán thẻ (là TCPHT, các TCTTT, tổ chức thẻ quốc tế…) Trước tiên, đó là cam kết của Tổ chức thanh toán thẻ, là đơn vị trực tiếp quan hệ với ĐVCNT, là đơn vị quản lý tài khoản của ĐVCNT và cung cấp dịch vụ thanh toán cho ĐVCNT Đây cũng là đơn vị sẽ có trách nhiệm ghi tăng cho số dư trong tài khoản của ĐVCNT Sau đó là cam kết của TCPHT, là đơn vị trực tiếp quan hệ với Chủ thẻ, là đơn vị quản lý tài khoản của Chủ thẻ và cung cấp dịch vụ thanh toán cho Chủ thẻ TCPHT căn cứ vào số dư nợ trong tài khoản của Chủ thẻ để biết đã có phát sinh giao dịch và cam kết sẽ thanh toán cho TCTTT Trường hợp TCPHT và TCTTT không có mối liên hệ trực tiếp thì các cam kết thanh toán này còn phát sinh thêm tại các đơn vị trung gian khác nữa như: Ngân hàng đầu mối (Ví dụ: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – VCB…), Tổ chức thẻ quốc tế (Ví dụ như: Mastercard International, Visacard International…) Trường hợp đơn giản nhất là trường hợp TCPHT cho Chủ thẻ cũng chính là TCTTT cho ĐVCNT Khi đó chỉ có

ba chủ thể tham gia hệ thống thanh toán thẻ này, đó là Chủ thẻ, Ngân hàng và ĐVCNT và chỉ có một cam kết thanh toán được đưa ra bởi một ngân hàng duy nhất,

là ngân hàng của cả Chủ thẻ và ĐVCNT Tuy nhiên trường hợp này là không phổ biến bởi vì một tổ chức chỉ có khả năng giới hạn trong việc phát triển số lượng thẻ

và số lượng ĐVCNT, trong khi các Chủ thẻ tín dụng thì lại có nhu cầu thanh toán thẻ tín dụng tại bất cứ cửa hàng, khách sạn … nào, tức là bao gồm cả ĐVCNT của các tổ chức khác nữa

Như vậy, TCPHT có thể không có liên hệ với ĐVCNT nhưng thông qua hệ thống trung gian thanh toán thẻ, TCPHT sẽ cam kết thanh toán cho các đơn vị trung gian thanh toán Các đơn vị trung gian thanh toán thì cam kết thanh toán cho

Trang 21

dụng mang một đặc điểm khá nổi bật là việc làm phát sinh quan hệ cam kết thanh toán “liên hoàn”

Thứ năm, Thẻ tín dụng làm phát sinh quan hệ vay nợ giữa Chủ thẻ với

TCPHT Cùng với việc hình thành các cam kết thanh toán “liên hoàn” giữa ĐVCNT với các đơn vị trong hệ thống thanh toán thẻ, thì quan hệ vay nợ cũng được phát sinh giữa TCPHT và Chủ thẻ tín dụng Khi đó, tài khoản của Chủ thẻ sẽ bị báo

“nợ”, tức là số dư âm trên tài khoản và Chủ thẻ có trách nhiệm nộp trả TCPHT vào một thời điểm mà TCPHT ấn định Chính vì có phát sinh quan hệ vay nợ mà từ “tín dụng” được dùng để đặt tên cho loại thẻ này

Trong quan hệ vay nợ vừa phát sinh, để bảo đảm an toàn cho hoạt động kinh doanh của TCPHT, Chủ thẻ sẽ chỉ được chi tiêu, thanh toán đến một giới hạn nhất định gọi là hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng này có tính chất tuần hoàn, tức là

dư nợ phát sinh tối đa bằng giá trị của hạn mức tín dụng và nếu Chủ thẻ thanh toán toàn bộ hoặc một phần dư nợ phát sinh thì hạn mức tín dụng lại được khôi phục và chủ thể lại có thể dùng thẻ tín dụng để phát sinh tiếp dư nợ mới Thông thường thì thời gian để Chủ thẻ trả nợ là khoảng 1 tháng đến 2 tháng, tức là khoản vay này có thể được coi là khoản vay ngắn hạn Còn hạn mức tín dụng thông thường thì dao động trong một phạm vị rộng, tùy từng TCPHT và năng lực tài chính của Chủ thẻ,

có thể từ năm triệu đồng đến hơn một trăm triệu đồng

Để tránh rủi ro cho hoạt động kinh doanh tín dụng nói chung và kinh doanh thẻ tín dụng nói riêng, các TCPHT thường yêu cầu khách hàng phải có tài sản bảo đảm Việc ấn định hạn mức tín dụng cho Chủ thẻ còn liên quan đến tài sản bảo đảm của Chủ thẻ nữa Tuy nhiên, do mục đích sử dụng thẻ tín dụng thường là tiêu dùng

cá nhân nên dư nợ phát sinh không lớn, mặt khác yêu cầu về tài sản bảo đảm cũng làm hạn chế đến số lượng thẻ tín dụng được phát hành nên trong thực tế hiện nay nhiều thẻ tín dụng được phát hành trên cơ sở không có tài sản bảo đảm với hạn mức tín dụng thấp (ví dụ không quá ba tháng lương của Chủ thẻ) Như vậy là vẫn có thể góp phần giảm thiểu được rủi ro tín dụng khi kinh doanh loại hình thẻ này

Chính vì các yếu tố trên nên việc làm phát sinh quan hệ vay nợ - quan hệ tín dụng - trở thành một đặc điểm riêng của thẻ tín dụng mà các loại thẻ thanh toán khác không có Ví dụ như với các loại thẻ ghi nợ hoặc thẻ trả trước, tài khoản của Chủ thẻ bắt buộc phải có đủ số dư để thực hiện việc chi trả cho hàng hóa, dịch vụ

Trang 22

mà chủ thể đó sử dụng Số dư trên tài khoản thẻ bị trừ ngay khi Chủ thẻ dùng thẻ để thanh toán tại Đơn vị chấp nhận thẻ TCPHT chỉ cung cấp dịch vụ thanh toán thông thường mà không phải ứng trước tiền cho Chủ thẻ Cả nghiệp vụ thanh toán và nghiệp vụ tín dụng đều thuộc lĩnh vực truyền thống, đặc thù của các ngân hàng nên các TCPHT chủ yếu là các ngân hàng cũng là điều dễ hiểu

1.2 QUAN HỆ PHÁP LUẬT VỀ THẺ TÍN DỤNG

1.2.1 Các chủ thể liên quan đến việc sử dụng Thẻ tín dụng ở Việt Nam

Qua khảo sát quá trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ tín dụng [Phụ lục III], các chủ thể tham gia là rất đa dạng, tuy nhiên các chủ thể trực tiếp và chủ yếu thì bao gồm: Chủ thẻ, Tổ chức phát hành thẻ, Tổ chức thanh toán thẻ, Đơn vị chấp nhận thẻ, Tổ chức thanh toán trung gian, Tổ chức thẻ quốc tế

Chủ thẻ là cá nhân hoặc tổ chức được Tổ chức phát hành thẻ cấp thẻ để sử

dụng Trong trường hợp Tổ chức phát hành thẻ cấp thẻ cho một cá nhân thì cá nhân này vừa là chủ tài khoản thẻ vừa là người trực tiếp sử dụng thẻ Một tài khoản thẻ cũng có thể được mở cho nhiều thẻ cùng sử dụng trong đó có một thẻ chính và một hoặc nhiều thẻ phụ Chủ thẻ chính là người đứng tên đề nghị TCPHT cấp thẻ đồng thời là chủ tài khoản thẻ Do đó Chủ thẻ chính phải chịu hoàn toàn trách nhiệm thanh toán, xử lý các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thẻ chính và thẻ phụ của mình Chủ thẻ phụ là người được cấp thẻ theo đề nghị của Chủ thẻ chính, được sử dụng thẻ trong hạn mức tín dụng của Chủ thẻ chính

Trong trường hợp Tổ chức phát hành thẻ cấp thẻ cho một tổ chức thì tổ chức này là chủ tài khoản thẻ nhưng phải ủy quyền cho một hoặc nhiều cá nhân trực tiếp

sử dụng thẻ

Tổ chức phát hành thẻ (TCPHT) là đơn vị cấp thẻ tín dụng cho các Chủ thẻ sử

dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán, tín dụng liên quan đến thẻ đó Tổ chức này phải được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép thực hiện các nghiệp vụ trên Trong trường hợp phát hành thẻ tín dụng quốc tế, tổ chức này còn phải được

sự cho phép của các tổ chức thẻ quốc tế Trên thế giới, đa số các Tổ chức phát hành thẻ là các ngân hàng Thực tế ở Việt Nam hiện nay, các Tổ chức phát hành thẻ đều

là các ngân hàng mặc dù pháp luật Việt Nam không hạn chế điều đó

Trang 23

Tổ chức thanh toán thẻ (TCTTT) là đơn vị cung ứng dịch vụ thanh toán cho

Khách hàng của mình là những Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT) Thông qua hệ thống thanh toán điện tử, TCTTT sẽ đảm nhận chức năng trung gian thanh toán giữa TCPHT và ĐVCNT Để thực hiện được việc thanh toán này, TCTTT phải có mối liên hệ với TCPHT theo các cấp độ sau:

- TCTTT chính là TCPHT: Đây là trường hợp đơn giản nhất, việc thanh toán chỉ là việc bù trừ giữa các tài khoản trong cùng một tổ chức

- TCTTT đã có thỏa thuận thanh toán với TCPHT: Việc thanh toán được bù trừ giữa các tài khoản do hai tổ chức này quản lý

- TCTTT không có thỏa thuận trực tiếp với TCPHT nhưng phải cùng ký kết với một tổ chức trung gian hoặc cùng thuộc một liên minh thẻ: đây là trường hợp phổ biến nhất Ví dụ như ở Việt Nam, một số ngân hàng cùng ký kết và tham gia liên minh thẻ do VCB làm đấu mối Hoặc đối với thẻ tín dụng quốc

tế, các TCPHT và TCTTT phải có thỏa thuận trước với cùng một tổ chức thẻ quốc tế (Visacard, Mastercard…) tức là phải là thành viên chính thức hoặc thành viên liên kết của một Tổ chức thẻ quốc tế và phải thực hiện dịch vụ thanh toán theo các Hợp đồng đã ký kết với Tổ chức thẻ quốc tế đó

Về phía TCTTT, TCTTT phải trực tiếp ký hợp đồng với các ĐVCNT để tiếp nhận và xử lý các giao dịch tại ĐVCNT, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, hướng dẫn cho các ĐVCNT nghiệp vụ xử lý cũng như chuyển tải các thông tin cần thiết trong quá trình giao dịch

Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT) là tổ chức hoặc cá nhân cung ứng hàng hóa

dịch vụ cho người tiêu dùng và có khả năng chấp nhận cho người tiêu dùng thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ bằng thẻ tín dụng Để có khả năng này, ĐVCNT phải ký kết Hợp đồng đơn vị chấp nhận thẻ với TCTTT và được TCTTT trang bị máy móc kỹ thuật như máy EDC hoặc máy cà thẻ để kiểm tra tài khoản của Chủ thẻ

và thực hiện thanh toán qua tài khoản đó ĐVCNT có thể là nhà hàng, khách sạn, sân bay, cửa hàng, siêu thị… ngoài ra có thể là các đơn vị nhận ứng tiền mặt, ngân hàng đại lý được TCPHT ủy quyền ứng tiền mặt cho Chủ thẻ…

Tổ chức thanh toán trung gian là đơn vị cung cấp dịch vụ thanh toán qua thẻ tín

dụng bao gồm việc trao đổi dữ liệu bằng điện tử hoặc bằng chứng từ và bù trừ các nghĩa vụ tài chính phát sinh từ các giao dịch thẻ cho các TCPHT, TCTTT và ĐVCNT

Trang 24

theo thoả thuận bằng văn bản giữa các bên liên quan Ở Việt Nam, nổi bật nhất trong vai trò trung gian đầu mối là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam… Các tổ chức thanh toán trung gian này thường là TCPHT hoặc TCTTT có sản phẩm thẻ riêng, có

uy tín, có thương hiệu, có thị phần lớn về kinh doanh thẻ… do đó có lợi thế để đứng

ra ký kết Hợp đồng đại lý dịch vụ với từng TCTTT, TCPHT và trở thành tổ chức đầu mối thanh toán trung gian cho cả một mạng lưới nhiều TCPHT, TCTTT trên thị trường

Tổ chức thẻ quốc tế (TCTQT) là một tổ chức hoạt động theo mô hình công ty

hoặc Hiệp hội, gồm một hoặc một số các ngân hàng, định chế tài chính hoặc tổ chức phi tài chính gắn với một thương hiệu độc quyền sản phẩm thẻ (như Visa International, Mastercard International, American Express, Diner Club, JCB…)

Trên cơ sở thương hiệu đó, các Tổ chức thẻ quốc tế có thể ủy quyền cho các ngân hàng, tổ chức khác phát hành thẻ dưới thương hiệu của mình TCTQT có điều lệ và quy chế hoạt động riêng, chịu trách nhiệm tổ chức và hướng dẫn các thành viên của mình thực hiện theo đúng quy chế, quy định đề ra cũng như có trách nhiệm phân xử, hòa giải những tranh chấp trong quá trình vận hành [23, tr 20] [23] TCTQT sẽ cấp

phép thành viên cho các TCPHT và TCTTT Khác với các tổ chức thành viên, TCTQT không có quan hệ trực tiếp với Chủ thẻ hay ĐVCNT mà chức năng chủ yếu của TCTQT là: cung cấp một mạng lưới viễn thông toàn cầu phục vụ cho quy trình thanh toán, cấp phép giao dịch của các tổ chức thành viên; đưa ra các quy định đặc thù về thẻ tín dụng mang thương hiệu của mình; là trung gian giải quyết các tranh chấp khiếu nại giữa các thành viên; xây dựng các chương trình khuyếch trương mở rộng thương hiệu của mình; phát triển các sản phẩm mới Mỗi TCTQT đều có tên sản phẩm thẻ của mình dù TCPHT có thể khác nhau

+ Ngoài các chủ thể chủ yếu nêu trên, còn có các chủ thể liên quan đến quá trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ tín dụng như: Đại lý phát hành thẻ, Người bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của Chủ thẻ, Hội thẻ ngân hàng Việt Nam

Đại lý phát hành thẻ là đơn vị thay mặt cho TCPHT phát hành thẻ cho Chủ

thẻ Đại lý phát hành thẻ có thể là một ngân hàng, một doanh nghiệp hoặc tổ chức khác miễn là có ký kết hợp đồng đại lý phát hành thẻ với TCPHT

Trang 25

Người bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của Chủ thẻ là cá nhân, tổ chức cầm cố,

thế chấp tài sản của mình hoặc bảo lãnh cho Chủ thẻ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của Chủ thẻ đối với TCPHT

Hội thẻ ngân hàng Việt Nam là một tổ chức do các ngân hàng kinh doanh thẻ thanh toán thành lập để hoạch định chiến lược và định hướng phát triển dịch vụ thẻ trên thị trường Việt Nam, là diễn đàn trao đổi kinh nghiệm, tạo sự hợp tác tương trợ giữa các ngân hàng thành viên [18], cùng phối hợp với các thành viên tìm ra giải

pháp, thỏa thuận những vấn đề liên quan trong hoạt động cạnh tranh, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh công bằng giữa các ngân hàng, trên cơ sở các bên cùng có lợi + Liên quan đến việc phát hành, sử dụng thanh toán thẻ tín dụng còn một chủ

thể đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước do các hoạt động của chủ thể này gắn liền với

quyền lực nhà nước Với chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ ngân hàng, khi tham gia vào các quan hệ phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ tín dụng, Ngân hàng Nhà nước có nhiệm vụ cấp thu hồi các giấy phép liên quan; kiểm tra, thanh tra hoạt động ngân hàng về thẻ tín dụng; kiểm soát tín dụng; quản lý ngoại hối, xử lý các

vi phạm…

1.2.2 Các quan hệ xã hội liên quan đến Thẻ tín dụng ở Việt Nam

Với việc tham gia của nhiều loại hình chủ thể như đã đề cập ở trên thì các mối quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể này liên quan đến thẻ tín dụng là rất phức tạp Trong phạm vi công trình nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tìm hiểu các mối quan

hệ cơ bản và chủ yếu, bao gồm:

1.2.2.1 Nhóm các quan hệ liên quan trực tiếp đến giao dịch thẻ tín dụng

* Quan hệ giữa TCPHT và Chủ thẻ:

Quan hệ giữa Chủ thẻ với TCPHT là một trong những quan hệ cơ bản liên quan đến thẻ tín dụng Khi phát sinh nhu cầu sử dụng thẻ tín dụng, khách hàng sẽ lựa chọn một TCPHT và đề nghị tổ chức này phát hành thẻ tín dụng cho mình Trên

cơ sở thẩm định các thông tin mà khách hàng cung cấp, nếu đủ điều kiện, TCPHT

và khách hàng tiến hành ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, đánh dấu sự hình thành của mối quan hệ giữa TCPHT và khách hàng Tính chất cơ bản của mối quan

hệ này thể hiện ở các yếu tố:

Trang 26

Thứ nhất, quan hệ này là cơ sở cho việc phát hành thẻ tín dụng ra thị trường

Một thẻ tín dụng chỉ được phát hành và sử dụng trên thị trường nếu Khách hàng và TCPHT giao kết thành công Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng Theo đó, TCPHT đồng

ý cung cấp thẻ tín dụng, dịch vụ về thẻ tín dụng và khách hàng đồng ý sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ thẻ tín dụng của TCPHT Do đó mà thời điểm có hiệu lực của Hợp đồng này cũng là thời điểm hình thành nên tư cách Chủ thẻ tín dụng Bắt đầu từ lúc này, Chủ thẻ tín dụng có đủ năng lực để giao kết với các chủ thể khác trong toàn bộ các quá trình, giai đoạn phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ tín dụng

Thứ hai, quan hệ này bảo đảm năng lực của Chủ thẻ tín dụng Chủ thẻ tín

dụng là người có năng lực tài chính (có tài sản bảo đảm, có uy tín, có thu nhập rõ ràng ổn định…) Trước khi đi đến ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ, TCPHT đã phải thẩm định năng lực chủ thể, năng lực tài chính và các điều kiện khác của khách hàng Mặc dù mỗi TCPHT có thể đặt ra các điều kiện phát hành thẻ khác nhau, nhưng các quy định chung của pháp luật về năng lực pháp luật, năng lực hành vi của chủ thể quan hệ pháp luật và các quy định riêng của pháp luật về Chủ thẻ tín dụng, về điều kiện phát hành thẻ tín dụng là những quy định bắt buộc mà tất cả các TCPHT phải tuân theo, nên khi một chủ thể được phát hành thẻ tín dụng thì về cơ bản Chủ thẻ tín dụng đó đã đáp ứng các điều kiện tối thiểu Vì vậy mà Thẻ tín dụng chỉ được phát hành cho những khách hàng có đủ năng lực và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng là bằng chứng chứng minh cho sự đáp ứng các điều kiện đó

Thứ ba, quan hệ này, với hình thức pháp lý là Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng,

chứa đựng các nội dung cơ bản để thực hiện giao dịch thẻ tín dụng như thanh toán, rút tiền măt, ứng tiền măt, trả nợ … Các nội dung đó gồm có: số thẻ, số tài khoản, hạn mức tín dụng, lãi suất chậm trả, tài sản bảo đảm, thời hạn sử dụng thẻ… Khi sử dụng thẻ tín dụng, Chủ thẻ phải xuất trình thẻ để được kiểm tra các thông tin trên thẻ phù hợp với các thông tin mà Chủ thẻ đã cung cấp cho TCPHT và được lưu trữ trên cơ sở dữ liệu của hệ thống thanh toán thẻ (TCPHT, TCTTT, TCTQT, tổ chức thanh toán trung gian…) Một giao dịch chỉ thực hiện thành công nếu các thông tin này phù hợp với nhau Do vậy, những thông tin này là những thông tin tối thiểu cần

có để các giao dịch liên quan đến thẻ tín dụng có thể thực hiện được

Thứ tư, quan hệ này liên quan đến hai nghiệp vụ cơ bản của hoạt động ngân

hàng là hoạt động thanh toán và hoạt động tín dụng TCPHT (thông thường là các

Trang 27

ngân hàng) vừa thực hiện thanh toán số tiền thuộc nghĩa vụ của Chủ thẻ cho các chủ thể liên quan, vừa thực hiện việc cấp tín dụng cho Khách hàng vay là Chủ thẻ tín dụng Thời điểm mà TCPHT thanh toán cho chủ thể khác chính là thời điểm TCPHT cấp tín dụng cho Chủ thẻ tín dụng và cũng là thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả nợ của chủ thẻ cho TCPHT Chính vì yếu tố này mà thẻ tín dụng có tính chất và đặc điểm khác biệt nhiều so với các loại thẻ thanh toán, thẻ ngân hàng khác

* Quan hệ giữa Chủ thẻ với ĐVCNT:

Quan hệ giữa Chủ thẻ và ĐVCNT phát sinh khi Chủ thẻ mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ mà ĐVCNT cung cấp Thay vì thanh toán bằng tiền mặt, séc… Chủ thẻ xuất trình thẻ tín dụng cho ĐVCNT ĐVCNT kiểm tra thẻ, nếu thẻ đủ điều kiện thanh toán thì lập hoá đơn và thanh toán thông qua thiết bị đọc thẻ Chủ thẻ ký vào hóa đơn để ĐVCNT kiểm tra chữ ký, sau đó ĐVCNT trả lại thẻ và bàn giao một liên của hoá đơn cho khách hàng Không giống như các quan hệ khác, quan hệ giữa Chủ thẻ và ĐVCNT chỉ phát sinh một lần do liên quan đến một nghĩa vụ thanh toán

cụ thể của Chủ thẻ với ĐVCNT Quan hệ này được coi là chấm dứt nếu Chủ thẻ tín dụng đã bị ghi “nợ” vào tài khoản của Chủ thẻ (phát sinh quan hệ vay nợ giữa Chủ thẻ và TCPHT) và ĐVCNT đã thực sự nhận được tiền thanh toán thông qua tài khoản (đã ghi “có” vào tài khoản của ĐVCNT) Thông thường, hai thời điểm ghi

“nợ” và ghi “có” này không phát sinh đồng thời do việc xử lý giao dịch phải thông qua nhiều chủ thể trung gian (TCPHT, Tổ chức thanh toán trung gian, TCTQT, TCTTT…) Do vậy mà thời điểm được coi là chấm dứt quan hệ này là thời điểm hoàn tất việc ghi “nợ”, ghi “có” vào tài khoản của cả Chủ thẻ và ĐVCNT Bất kỳ một lý do nào dẫn đến không hoàn tất được việc ghi “nợ”, ghi “có” này đều không làm chấm dứt nghĩa vụ thanh toán của Chủ thẻ với ĐVCNT, do đó không làm chấm dứt mối quan hệ giữa hai chủ thể này

* Quan hệ giữa ĐVCNT với TCTTT:

Các tổ chức, cá nhân cung ứng hàng hóa dịch vụ cho người tiêu dùng đều có thể trở thành ĐVCNT nếu có ký kết Hợp đồng đơn vị chấp nhận thẻ với TCTTT

Do vậy, mối quan hệ giữa ĐVCNT với TCTTT được xác lập, thay đổi và chấm dứt theo các điều kiện có hiệu lực của Hợp đồng này Theo nội dung Hợp đồng đơn vị chấp nhận thẻ, ĐVCNT và TCTTT hợp tác để thực hiện việc thanh toán bằng thẻ tín dụng của người tiêu dùng khi mua sắm hàng hóa, sử dụng dịch vụ của ĐVCNT

Trang 28

ĐVCNT mở tài khoản tại TCTTT để nhận tiền do chính TCTTT thanh toán thay cho người tiêu dùng ĐVCNT cũng được TCTTT trang bị các máy móc hiện đại để

hỗ trợ việc thanh toán bằng thẻ tín dụng như máy cà thẻ, máy EDC; được TCTTT cung cấp các thông tin hướng dẫn sử dụng, tra soát… Đổi lại, TCTTT được hưởng phí từ mỗi giao dịch thanh toán đó Việc thanh toán bằng thẻ tín dụng là khá phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro nên một trong những nội dung quan trọng của Hợp đồng đơn vị chấp nhận thẻ là quy trình chấp nhận thanh toán thẻ Quy trình này đặt

ra các quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với từng thao tác Ngoài ra, Hợp đồng này còn đề cập đến các loại thẻ mà ĐVCNT có thể thanh toán được Trước tiên là các loại thẻ do chính TCTTT phát hành, khi đó TCTTT cũng chính là TCPHT, ĐVCNT và Chủ thẻ đều là khách hàng của TCTTT Tuy nhiên, các giao dịch dạng này không phổ biến vì TCTTT chỉ có thể phát hành một số lượng giới hạn thẻ tín dụng cũng như chỉ có thể ký kết được với một số lượng giới hạn các ĐVCNT Chính vì vậy, dạng giao dịch phổ biến hơn là giao dịch có thẻ tín dụng của TCPHT khác mà TCTTT đã có mối liên hệ được xác định từ trước Tất cả các loại thẻ tín dụng mà TCTTT hỗ trợ để ĐVCNT có thể thanh toán được sẽ được ghi trong Hợp đồng đơn vị chấp nhận thẻ hoặc sẽ được TCTTT thông báo nếu phát sinh sau khi Hợp đồng này đã ký kết

* Quan hệ giữa TCPHT và TCTTT:

TCPHT và TCTTT đều là các tổ chức kinh doanh dịch vụ thẻ và thông thường đều phát hành thẻ của riêng mình cũng như có riêng mạng lưới các ĐVCNT Tuy nhiên, trong quan hệ thanh toán thẻ tín dụng, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của TCPHT và TCTTT là riêng biệt TCPHT có nghĩa vụ ứng trước, thanh toán trước cho ĐVCNT, sau đó chuyển hồ sơ, dữ liệu giao dịch cho TCPHT TCPHT kiểm tra

hồ sơ, nếu đầy đủ và hợp lệ thì tiến hành thanh toán, trả tiền lại cho TCTTT Nếu không đầy đủ và hợp lệ thì yêu cầu TCTTT bổ sung hoặc đề nghị hủy giao dịch Để thực hiện quy trình đó, TCTTT và TCPHT phải ký Hợp đồng hợp tác với nhau trong lĩnh vực kinh doanh thẻ tín dụng Theo đó, hai bên chấp nhận thanh toán thẻ của nhau bằng việc hỗ trợ công nghệ, chia sẻ dữ liệu để các ĐVCNT của mỗi bên

có thể nhận thanh toán thẻ tín dụng của bên kia; thanh toán lại cho nhau các khoản tiền mà ĐVCNT của bên kia đã được thanh toán… Do đó, mối quan hệ này được xác lập trên cơ sở Hợp đồng và chỉ chấm dứt theo các điều kiện đã đặt ra trong Hợp

Trang 29

* Quan hệ giữa Tổ chức thanh toán trung gian với TCPHT và TCTTT:

Trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, có rất nhiều các tổ chức cùng kinh doanh dịch vụ thẻ tín dụng và không phải tất cả các tổ chức này đều ký kết hợp đồng hợp tác thanh toán thẻ tín dụng với nhau Để việc thanh toán thẻ được tiện dụng, phổ biến và tương thích với thẻ tín dụng quốc tế, trên thị trường xuất hiện các

tổ chức trung gian làm đầu mối liên hệ các tổ chức kinh doanh dịch vụ thẻ tín dụng lại thành một mạng lưới Tất cả các loại thẻ tín dụng của tất cả các thành viên trong mạng lưới này có thể được chấp nhận thanh toán tại tất cả các ĐVCNT của mỗi thành viên Tuy nhiên, nòng cốt vẫn là thẻ tín dụng của chính Tổ chức thanh toán trung gian vì thẻ tín dụng này đã có uy tín, có thương hiệu Khi đó, một tổ chức kinh doanh thẻ có thể đóng vai trò TCPHT trong giao dịch này, nhưng lại có thể đóng vai trò là TCTTT trong giao dịch khác Để thực hiện được việc thanh toán trong mạng lưới này, Hợp đồng ký kết giữa Tổ chức thanh toán trung gian với từng

Tổ chức kinh doanh thẻ phải ghi rõ quyền và trách nhiệm khi đóng vai trò TCTTT, ghi rõ quyền và trách nhiệm khi đóng vai trò TCPHT và ghi rõ quyền và trách nhiệm của Tổ chức trung gian thanh toán khi thực hiện giao dịch thanh toán giữa hai bên TCPHT và TCTTT

* Quan hệ giữa TCPHT, TCTTT nội địa với TCTQT:

TCTQT về bản chất cũng là một Tổ chức thanh toán trung gian Một TCTQT thông thường là một TCPHT nước ngoài, có uy tín trong việc phát hành, sử dụng và thanh toán một loại thẻ tín dụng như Visacard, MasterCard, DinerClub, Amex, JCB… Chính vì có uy tín nên thẻ tín dụng do TCTQT phát hành rất phổ biến và có thương hiệu được biết đến ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên, với vai trò là TCPHT thì TCTQT cũng không thể có đủ nguồn lực để phát hành thẻ với số lượng lớn Với vai trò là TCTTT thì TCTQT cũng không thể ký kết trực tiếp Hợp đồng đơn vị chấp nhận thẻ với quá nhiều ĐVCNT Vấn đề này càng thấy rõ khi việc sử dụng thẻ của TCTQT vượt ra ngoài phạm vi một quốc gia Chính vì thế, TCTQT ký kết Hợp đồng đại lý phát hành và thanh toán thẻ quốc tế với các TCPHT, TCTTT để các tổ chức này tự phát triển việc kinh doanh thẻ tín dụng với thương hiệu của TCTQT tại những địa bàn kinh doanh của mình Qua Hợp đồng này, số lượng thẻ tín dụng mang thương hiệu của TCTQT ngày càng tăng nhanh, đem lại càng nhiều lợi nhuận cho TCTQT Ngược lại, các TCPHT, TCTTT cũng mong muốn được phát

Trang 30

hành, được ủy quyền chấp nhận thanh toán những thương hiệu thẻ tín dụng nổi tiếng này vì số lượng Chủ thẻ tín dụng là rất đông đảo Khi một tổ chức ký kết Hợp đồng này với TCTQT thì tổ chức đó đồng thời đảm nhận vai trò của TCPHT và TCTTT cho chính loại thẻ tín dụng mang thương hiệu của TCTQT đó Khi đó, các TCPHT, TCTTT được gọi là thành viên của TCTQT

Mặc dù quan hệ giữa TCPHT với TCTQT là quan hệ hợp đồng nhưng trên thực tế TCTQT sẽ là chủ thể đưa ra yêu cầu, điều kiện để được làm thành viên của TCTQT đó TCTQT sẽ thẩm định về mặt công nghệ, về năng lực kinh doanh, về khả năng đáp ứng các điều kiện khác của tổ chức xin làm thành viên, nếu tổ chức đó

đủ điều kiện thì TCTQT mới chấp nhận, cho phép sử dụng thương hiệu thẻ và ký kết Hợp đồng đại lý phát hành thẻ quốc tế với tổ chức đó Khi được chấp thuận làm thành viên của TCTQT thì TCPHT phải tuân thủ quy định của TCTQT về phát hành, thanh toán thẻ và phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với các giao dịch thẻ

đó

1.2.2.2 Nhóm các quan hệ liên quan gián tiếp đến hoạt động kinh doanh thẻ

* Quan hệ giữa Đại lý phát hành thẻ với TCPHT:

Quan hệ này phát sinh trên cơ sở hợp đồng đại lý phát hành thẻ Nhằm phát triển hơn nữa dịch vụ thẻ của mình trong khi mạng lưới Chi nhánh không đáp ứng được yêu cầu mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ, các TCPHT có thể lựa chọn một

số cá nhân, tổ chức theo tiêu chuẩn của mình để ủy quyền thực hiện một số công đoạn của nghiệp vụ phát hành như marketing, tiếp nhận thông tin khách hàng, nhận

và trả thẻ cho khách hàng…

Ngoài ra, một số TCPHT còn có thể cho phép các Đại lý phát hành thẻ của mình thực hiện nghiệp vụ in thẻ trên cơ sở tuân thủ quy định của TCPHT Trong quan hệ này thì Đại lý phát hành thẻ phải tuân thủ các quy định, hướng dẫn của TCPHT về việc thực hiện các nghiệp vụ đại lý phát hành thẻ TCPHT sẽ tạo điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật cho Đại lý phát hành thẻ thực hiện công việc của mình theo thỏa thuận của các bên

* Quan hệ giữa Chủ thẻ với Đại lý phát hành thẻ:

Quan hệ này phát sinh trên cơ sở khách hàng đến thực hiện thủ tục phát hành thẻ tại Đại lý phát hành thẻ Trong quan hệ này thì khách hàng có trách nhiệm cung

Trang 31

cấp thông tin để Đại lý phát hành thẻ thẩm tra điều kiện phát hành và điền đầy đủ thông tin vào hồ sơ yêu cầu phát hành theo hướng dẫn của Đại lý phát hành thẻ Đại

lý phát hành thẻ có trách nhiệm tiếp nhận thông tin và căn cứ vào quy định của TCPHT để thẩm tra điều kiện khách hàng, nếu khách hàng có đủ điều kiện thì Đại

lý phát hành thẻ sẽ thông báo chấp nhận và hướng dẫn khách hàng khai báo hồ sơ yêu cầu Sau đó, Đại lý phát hành thẻ có trách nhiệm chuyển toàn bộ hồ sơ yêu cầu cho TCPHT để cấp thẻ cho khách hàng Ngoài ra, Đại lý phát hành thẻ còn có trách nhiệm nhận thẻ từ TCPHT để trả cho khách hàng

* Quan hệ về bảo đảm tiền vay:

Đây là mối quan hệ giữa Người bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của Chủ thẻ với TCPHT Người bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của Chủ thẻ ở đây có thể là chính Chủ thẻ khi chủ thẻ dùng tài sản của chính mình để cầm cố, thế chấp, ký quỹ… bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ đã phát sinh từ việc sử dụng thẻ tín dụng Người bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của Chủ thẻ cũng có thể là người thứ ba bảo lãnh cho chủ thẻ hoặc cầm cố, thế chấp, ký quỹ… tài sản của chính mình để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của chủ thẻ đối với TCPHT Mối quan hệ này được hình thành trên cơ sở Hợp đồng bảo đảm tiền vay (Hợp đồng cầm cố, Hợp đồng thế chấp…) hoặc Cam kết bảo lãnh của người thứ ba Hợp đồng bảo đảm tiền vay có tính chất là một hợp đồng phụ và hiệu lực của nó phụ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng chính (Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng) Điều đó có nghĩa là, nếu hợp đồng chính - Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

mà vô hiệu thì đương nhiên dẫn tới sự vô hiệu theo của Hợp đồng bảo đảm tiền vay Ngược lại, nếu Hợp đồng bảo đảm tiền vay bị vô hiệu thì không ảnh hưởng gì đến hiệu lực của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng và khi đó, nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng trở thành khoản vay không có bảo đảm bằng tài sản

* Quan hệ giữa Hội thẻ ngân hàng Việt Nam với các thành viên:

Tại Việt Nam hiện nay, tất cả các TCPHT và TCTTT đều là các ngân hàng thương mại.Chính vì vậy mà các loại thẻ thanh toán, trong đó có thẻ tín dụng đều được phát hành bởi các ngân hàng nên đều được gọi là thẻ ngân hàng Xuất phát từ nhu cầu xây dựng và phát triển lành mạnh thị trường thẻ Việt Nam, vào tháng 8/1996, Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam, trực thuộc Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam ra đời, do 4 TCPHT đầu tiên tại Việt Nam lúc đó sáng lập nên Tính đến nay Hội thẻ

đã có 20 thành viên, bao gồm 4 ngân hàng thương mại nhà nước, 13 ngân hàng

Trang 32

thương mại cổ phần, 1 ngân hàng liên doanh và 1 ngân hàng nước ngoài Năm

2007, khi Việt Nam gia nhập WTO, nhiều ngân hàng nước ngoài sẽ mở chi nhánh tại Việt Nam, vì vậy, chắc chắn, số ngân hàng thành viên tham gia Hội thẻ sẽ tăng lên nhanh chóng

Để bảo đảm khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của Hội, đồng thời phù hợp với nhu cầu phát triển ngày một lớn mạnh của Hội, ngày 25-7-2005, Chủ tịch Hội đồng Hiệp hội ngân hàng Việt Nam đã ký Quyết định số 236/2005/QĐ - HHNH về việc đổi tên “Hội các ngân hàng thanh toán thẻ Việt Nam” thành “Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam”, đồng thời có Quyết định số 237/2005/QĐ-HHNH của Tổng Thư ký Hiệp hội ngân hàng Việt Nam ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội thẻ NHVN Mối quan hệ giữa Hội và các thành viên được điều chỉnh bởi pháp luật và Quy chế này

Với tư cách là một hội nghề nghiệp, Hội thẻ ngân hàng Việt Nam cùng các thành viên của mình đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của thị trường thẻ thanh toán nói chung và thị trường thẻ tín dụng nói riêng

Hội thẻ ngân hàng Việt Nam đã trở thành đầu mối liên kết thúc đẩy việc phát triển thị trường thẻ thanh toán trong cả nước nhưng vẫn bảo đảm tính cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật Bên cạnh việc hỗ trợ các thành viên phát triển nghiệp vụ thẻ như tổ chức nhiều cuộc hội thảo để các Tổ chức thẻ quốc tế giới thiệu sản phẩm công nghệ mới hoặc để các hội viên chia sẻ kinh nghiệm; tổ chức các chương trình marketing, giới thiệu tiện ích của thẻ đến công chúng; thỏa thuận các mức phí Hội thẻ đã giữ vai trò quan trọng trong việc xúc tiến quan hệ hợp tác liên kết giữa các thành viên với nhau và giữa các thành viên với các Tổ chức thẻ Quốc tế để phát triển hoạt động thẻ

* Quan hệ giữa Ngân hàng Nhà nước với các chủ thể trên:

“Chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng: là chức năng cơ bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” [11, tr 58] Cũng như đối với

hoạt động ngân hàng nói chung, để quản lý, điều tiết, kiểm soát hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng, ngoài việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, NHNN còn trực tiếp can thiệp vào hoạt động của các chủ thể liên quan như: thẩm tra điều kiện, trình tự, thủ tục, cấp và thu hồi giấy phép của các chủ thể phát hành, thanh toán thẻ tín dụng; kiểm tra, thanh tra hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng; kiểm soát

Trang 33

tín dụng; xử lý các vi phạm; hỗ trợ các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt; chỉ đạo điều hành các hoạt động nhằm thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của thị trường thẻ tín dụng, hạn chế rủi ro tín dụng trong kinh doanh thẻ tín dụng…

Quản lý hành chính nhà nước về thẻ tín dụng của NHNN mang tính chấp hành

- điều hành theo phương pháp mệnh lệnh - phục tùng Tính chất chấp hành - điều hành thể hiện ở chỗ, dựa vào quyền lực nhà nước, NHNN thực hiện các biện pháp

để bảo đảm pháp luật được thực thi, áp dụng các biện pháp tổ chức và tác động trực tiếp vào hoạt động của các đối tượng chịu sự quản lý của nhà nước bao gồm tất cả các chủ thể đã đề cập ở trên

1.2.3 Sự cần thiết phải có pháp luật điều chỉnh các quan hệ liên quan đến thẻ

tín dụng

“Sự vận động và phát triển của ngân hàng và hoạt động ngân hàng trong điều kiện kinh tế thị trường rất cần thiết và không thể thiếu vắng sự can thiệp, quản lý, điều tiết và kiểm soát từ phía nhà nước” [11, tr 22][11] Thực tế tại Việt Nam, chủ

thể thực hiện hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng phần lớn lại là các ngân hàng do liên quan chủ yếu đến các hoạt động ngân hàng như: cấp tín dụng, thanh toán, bảo lãnh, ngoại hối… Chính vì vậy, để tạo lập hệ thống các tổ chức phát hành thẻ tín dụng, tổ chức thanh toán thẻ tín dụng… hoạt động an toàn, phát huy vai trò tích cực đối với nền kinh tế và đời sống xã hội đòi hỏi nhà nước phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó có biện pháp sử dụng pháp luật

Pháp luật được nhà nước sử dụng làm công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực liên quan đến thẻ tín dụng, tạo lập những chuẩn mực cho việc phát hành, sử dụng, thanh toán thẻ tín dụng Điều đó thể hiện ở các khía cạnh chủ yếu sau:

- Nhà nước sử dụng pháp luật để quản lý hành chính đối với các hoạt động liên quan đến thẻ tín dụng bao gồm: Quản lý, điều tiết và kiểm soát đối với hoạt động của các chủ thể liên quan đến thẻ tín dụng; Quy định nhiệm vụ quyền hạn quản lý nhà nước của Ngân hàng nhà nước Việt Nam đối với hoạt động kinh doanh, lưu hành, sử dụng thẻ tín dụng; Quy định các điều kiện, trình tự, thủ tục, phát hành,

sử dụng, thanh toán thẻ tín dụng; Chấp thuận hoạt động nghiệp vụ thanh toán và phát hành thẻ tín dụng quốc tế…;

Trang 34

- Nhà nước sử dụng pháp luật để làm công cụ xây dựng hệ thống thanh toán thẻ tín dụng phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Thực tiễn ở nhiều nước đã chỉ ra rằng, bằng công cụ pháp luật nhà nước đã định hình mô hình tổ chức cho hệ thống thanh toán điện tử, tạo lập những tiền đề, cơ sở pháp lý phù hợp

và tăng tính hiệu quả của chính sách tiền tệ quốc gia liên quan đến phương tiện thanh toán, thanh toán bằng tiền mặt và thể thức thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng “nền kinh tế tiền mặt” như ở Việt Nam hiện nay

- Nhà nước sử dụng pháp luật làm công cụ bảo đảm an toàn cho các hoạt động kinh doanh ngân hàng liên quan đến thẻ tín dụng Do sự tiềm ẩn nguy cơ rủi ro về tín dụng, khả năng thanh khoản, “tiền mặt hóa” hoặc “đô la hóa” nền kinh tế mà nhà nước phải sử dụng pháp luật làm công cụ kích thích những tác động tích cực, ngăn ngừa và hạn chế những tác động tiêu cực cho lĩnh vực kinh doanh này Để làm được điều đó, nhà nước sử dụng pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực này theo phương thức riêng Đó là những quy định hạn chế, giới hạn an toàn cần thiết cũng như các biện pháp kiểm soát chặt chẽ cần thiết đối với các hoạt động kinh doanh của ngân hàng có liên quan đến thẻ tín dụng nhằm bảo đảm an toàn hoạt động cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán, thực thi hiệu quả chính sách quản lý ngoại hối…

- Nhà nước sử dụng pháp luật làm công cụ ngăn ngừa, giải quyết các tranh chấp phát sinh khi vận hành hệ thống thanh toán, sử dụng thẻ tín dụng Trong quá trình lưu hành, sử dụng thẻ tín dụng, có thể sẽ có các tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể liên quan với nhau, với khách hàng hoặc với các cơ quan nhà nước Các quy định của pháp luật, nếu được xây dựng phù hợp, sẽ có tác dụng giảm thiểu tranh chấp phát sinh và khi có phát sinh thì quy định pháp luật cũng sẽ là căn cứ để giải quyết hiệu quả các tranh chấp đó Trên nguyên tắc bình đẳng, các quy định của pháp luật sẽ tạo lập hành lang pháp lý cho các chủ thể này giao dịch kinh doanh, sử dụng thẻ tín dụng, bảo đảm được yếu tố cạnh tranh lành mạnh trong khuôn khổ pháp luật, góp phần duy trì trật tự cho hệ thống thanh toán thẻ tín dụng phát triển ổn định trong nền kinh tế

- Nhà nước sử dụng pháp luật làm công cụ tạo lập sự phù hợp với hoạt động phát hành, sử dụng, thanh toán thẻ tín dụng trên thế giới Cùng với chính sách hội

Trang 35

nhập và mở cửa kinh tế, thẻ tín dụng được sử dụng rộng rãi vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ một quốc gia Việc công dân nước ngoài sử dụng thẻ tín dụng tại Việt Nam

và công dân Việt Nam sử dụng thẻ tín dụng ở nước ngoài ngày càng trở nên phổ biến Sự hợp tác giữa các TCPHT, TCTTT của Việt Nam với các ngân hàng nước ngoài, TCTQT cũng ngày càng trở nên sâu rộng Điều đó tất yếu dẫn đến sự du nhập của các chuẩn mực quốc tế, các quy định của pháp luật nước ngoài, quy định nội bộ của chính TCTQT vào quy định của pháp luật Việt Nam Điều đó góp phần tháo gỡ các rào cản hội nhập, tạo nên sự phù hợp tương đồng với khu vực và thế giới của không chỉ phương tiện thanh toán điện tử, hệ thống thanh toán điện tử nói riêng mà còn của cả các hoạt động ngân hàng Việt Nam và nền kinh tế Việt Nam nói chung

TIỂU KẾT Chương I của khóa luận đã đi sâu tìm hiểu những vấn đề cơ bản về thẻ tín dụng Trước hết là những vấn đề về sự hình thành và du nhập thẻ tín dụng vào thị trường Việt Nam, là tình hình phát triển kinh doanh của thị trường thẻ tín dụng Việt Nam hiện nay, là sự cần thiết phải có pháp luật điều chỉnh các quan hệ liên quan đến thẻ tín dụng Một phần quan trọng trong nội dung của Chương I là việc khảo sát các mối quan hệ giữa các chủ thể trong các quy trình giao dịch liên quan đến thẻ tín dụng từ khâu phát hành thẻ, thanh toán thẻ đến khâu sử dụng thẻ tín dụng Phần khảo sát này sẽ giúp nhận diện được các loại hình chủ thể và các giao dịch liên quan đến thẻ tín dụng Từ đó, khóa luận đã định hình được các quan hệ xã hội liên quan đến thẻ tín dụng, phân loại được các ngành luật điều chỉnh các mối quan hệ đó Chính kết quả này sẽ làm tiền đề quan trọng để Chương II của khóa luận đi sâu nghiên cứu các nguyên tắc, quy định pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật vào thị trường thẻ tín dụng Việt Nam

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ

THẺ TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÁC QUAN HỆ XÃ HỘI TRONG PHÁT

HÀNH, THANH TOÁN VÀ SỬ DỤNG THẺ TÍN DỤNG

Các chủ thể tham gia vào các quá trình phát hành, thanh toán và sử dụng thẻ tín dụng là rất đa dạng, tạo thành nhiều loại quan hệ xã hội khác nhau Mặt khác, khách thể, đối tượng, tính chất, đặc điểm cùa các quan hệ xã hội này cũng khác nhau dẫn đến, các quan hệ xã hội này trở thành đối tượng điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau Do vậy, việc xem xét các mối quan hệ giữa các chủ thể trong

sự điều chỉnh của pháp luật cần dựa vào tổng hòa các ngành luật liên quan để có kết luận chính xác

2.1.1 Quan hệ giữa Chủ thẻ tín dụng và TCPHT

2.1.1.1 Điều kiện với chủ thẻ tín dụng

Chủ thẻ tín dụng là các cá nhân, tổ chức được cấp phát thẻ tín dụng Tuy nhiên, không phải bất cứ cá nhân, tổ chức nào cũng được cấp thẻ để sử dụng

2.1.1.1.1 Trường hợp chủ thẻ là cá nhân

Trong trường hợp cá nhân là chủ thẻ chính, cá nhân này sẽ là người trực tiếp tham gia mối quan hệ với TCPHT, nên điều kiện quan trọng đầu tiên đối với chủ thẻ chính là phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự Điều kiện này trở thành nguyên tắc đối với chủ thẻ cá nhân bởi quan hệ giữa chủ thẻ với các chủ thể khác luôn xoay quanh một khối tài sản Khối tài sản đó có thể là số tiền mà chủ thẻ phải thanh toán cho ĐVCNT, là số tiền mà chủ thẻ phải nhận nợ với TCPHT, là số tiền mà chủ thẻ

phải thanh toán lại cho Người bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của Chủ thẻ nếu chủ thẻ

đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với TCPHT… Để bảo đảm cho các quan hệ tài sản này được xác lập và phát triển ổn định, chủ thẻ phải có đủ khả năng tự mình, bằng hành

vi của mình, xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự phát sinh từ các quan hệ tài sản trên Chính vì vậy mà điều kiện “có năng lực hành vi dân sự đầy đủ”

là điều kiện đầu tiên đặt ra đối với các chủ thẻ là cá nhân Điều kiện này cũng được ghi nhận trong tất cả các thời kỳ phát triển của pháp luật về thẻ tín dụng

Trang 37

Trong trường hợp cá nhân là chủ thẻ phụ, năng lực hành vi dân sự của cá nhân này có thể không đầy đủ Qua khảo sát việc sử dụng thẻ tín dụng cho thấy, đối tượng có nhu cầu mua sắm hàng hóa, sử dụng dịch vụ cho mục đích tiêu dùng cá nhân không thể chỉ bó hẹp trong số các cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự Người chưa thành niên cũng có nhu cầu này và pháp luật không nên ràng buộc họ không được sử dụng thẻ tín dụng để thanh toán Một giải pháp mà các nước trên thế giới đã áp dụng là chấp nhận cho người chưa thành niên được làm chủ thẻ phụ trên

cơ sở bảo lãnh của chủ thẻ chính Ở Việt Nam hiện nay, người có năng lực hành vi dân sự và từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi có thể được làm chủ thẻ phụ của thẻ tín dụng nếu được người đại diện theo pháp luật của người đó chấp thuận và phải được chủ thẻ chính cam kết thực hiện toàn bộ các nghĩa vụ phát sinh liên quan đến việc sử dụng thẻ

Đối với trường hợp chủ thẻ tín dụng là cá nhân, còn một thực tế rất hay gặp trong điều kiện kinh tế hội nhập hiện nay là cá nhân mang quốc tịch nước ngoài có

đề nghị TCPHT Việt Nam phát hành thẻ tín dụng Khi đó, việc xác định “năng lực hành vi dân sự” của chủ thẻ là cá nhân cũng được áp dụng tương tự như đối với công dân Việt Nam bởi cá nhân này xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam (Điều 762, 763 BLDS năm 2005) Tuy nhiên, người nước ngoài có thể rất đa dạng gồm: khách du lịch vãng lai, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam ngắn hạn, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam dài hạn … Rõ ràng là với từng đối tượng người nước ngoài khác nhau, khả năng xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật tại Việt Nam là khác nhau, nhưng pháp luật hiện hành không có thêm bất kỳ điều kiện gì khác đối với đối tượng này Nhằm tạo cơ chế thực hiện cũng như tránh rủi ro phát sinh trong trường hợp cá nhân người nước ngoài có đề nghị phát hành thẻ tín dụng, các TCPHT cũng đã tự đặt ra các điều kiện riêng Ví

dụ, tại Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam, một trong những điều kiện phát hành thẻ cho người nước ngoài là “phải có thời hạn cư trú và làm việc còn lại ở Việt Nam lớn hơn thời hạn hiệu lực thẻ ít nhất 90 ngày” [26] Ngân hàng TMCP Á Châu lại qui định điều kiện chỉ cần là “Công dân nước ngoài cư trú tại Việt Nam, có việc làm

và thu nhập ổn định tại Việt Nam” [27]

Như vậy là ngoài điều kiện về năng lực hành vi dân sự, các TCPHT được tự chủ trong việc đặt ra các quy định khác để phát hành thẻ tín dụng đối với cá nhân Cũng với ví dụ tại Ngân hàng TMCP Á Châu, điều kiện phát hành thẻ được chia

Trang 38

thành hai loại theo tính chất của tài sản bảo đảm Cụ thể là:

“+ Điều kiện cấp thẻ tín dụng cá nhân có ký quỹ :

o Công dân Việt Nam ( từ 18 tuổi trở lên) cư trú tại Việt Nam

o Công dân nước ngoài cư trú tại Việt Nam, có việc làm và thu nhập ổn định tại Việt Nam

+ Điều kiện cấp thẻ tín dụng cá nhân không ký quỹ (tín chấp) :

o Nhân viên đang công tác ta ̣i các Công ty quốc doanh, Công ty liên doanh, Công ty nướ c ngoài, văn phòng đa ̣i diê ̣n công ty nước ngoài, công ty cổ phần (có vốn điều lệ tối thiểu 30 tỷ đồng)

o Có hộ khẩu thường trú hoặc KT3 tại TPHCM

o Mức thu nhâ ̣p hàng tháng trên 3 triê ̣u đồng

o Tuổi từ 22-50

o Có điện thoại nhà

o Thời gian công tác ta ̣i công ty tối thiểu 12 tháng.” [27]

Trên đây là quy định của Ngân hàng TMCP Á Châu Còn quy định của Ngân hàng TMCP Quốc Tế thì mở rộng hơn nhiều, theo đó, ngoài yếu tố về độ tuổi và năng lực hành vi, chủ thể chỉ cần có “thu nhập ổn định và có uy tín” [26]

Mặc dù các TCPHT đều quy định thêm các điều kiện để phát hành thẻ nhưng không phải các chủ thể đáp ứng đủ các điều kiện đó là đương nhiên được phát hành thẻ Do việc sử dụng thẻ tín dụng làm phát sinh yếu tố vay nợ nên các TCPHT chỉ phát hành thẻ tín dụng sau khi đã thẩm định khách hàng đó như thẩm định một khách hàng vay Chính vì vậy, việc một TCPHT có quy định chi tiết, rõ ràng hơn một TCPHT khác về điều kiện này cũng chỉ liên quan đến tính công khai của chính sách tín dụng chứ không phải là hạn chế việc phát hành thẻ cho các chủ thẻ Tuy vậy, các điều kiện để phát hành thẻ mà mỗi TCPHT đặt ra cũng được pháp luật ủng hộ và bảo vệ thông qua quy định tại khoản 1 Điều 11 Quy chế 20 về điều kiện sử dụng thẻ: “chủ thẻ phải đáp ứng các điều kiện do TCPHT quy định” Việc pháp luật giao quyền tự chủ cho các TCPHT là một quy định thông thoáng ghi nhận quyền tự do kinh doanh và tự chịu trách nhiệm của các TCPHT, góp phần tạo

ra sự đa dạng của môi trường kinh doanh thẻ đồng thời góp phần thúc đẩy các TCPHT tạo ra những đặc trưng riêng phù hợp với điều kiện của mỗi TCPHT

Trang 39

2.1.1.1.2 Trường hợp chủ thẻ là tổ chức

Quy định về chủ thẻ là tổ chức là một quy định mới trong Quy chế 20, tức là trước thời điểm có hiệu lực của Quy chế 20, pháp luật không cho phép TCPHT phát hành thẻ tín dụng cho tổ chức Việc quy định loại hình chủ thẻ là tổ chức xuất phát

từ nhu cầu thực tế sử dụng thẻ tín dụng, các TCPHT nhận được rất nhiều yêu cầu từ các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đề nghị được cấp thẻ tín dụng, nhưng khi chưa

có hành lang pháp lý thì việc phát hành thẻ cho tổ chức có thể coi là vi phạm pháp luật

Theo khảo sát tại một số ngân hàng thì số lượng chủ thẻ tín dụng là tổ chức đang ngày một tăng lên Điều kiện mà Quy chế 20 đặt ra là các tổ chức này phải là pháp nhân, tức là phải thỏa mãn bốn điều kiện tại Điều 84 BLDS hiện hành Rất dễ hiểu khi pháp luật đặt ra điều kiện này đối với các tổ chức Khi tham gia các quan

hệ liên quan đến thẻ tín dụng, các tổ chức phải có tài sản độc lập và có khả năng tự chịu trách nhiệm bằng chính khối tài sản độc lập đó của mình Có như vậy, các chủ thể khác như TCPHT, ĐVCNT… cùng tham gia quan hệ với tổ chức này mới tránh được rủi ro khi phát sinh tranh chấp về tài sản Tuy nhiên trong thực tế có rất nhiều

tổ chức không phải là pháp nhân cũng có nhu cầu sử dụng thẻ tín dụng Đó có thể là các Doanh nghiệp tư nhân; Văn phòng luật sư; Tổ hợp tác; Văn phòng đại diện hoặc Chi nhánh công ty nước ngoài; nhà thầu nước ngoài có hiện diện thương mại tại Việt Nam; cơ quan nhà nước; đơn vị vũ trang; đơn vị trực thuộc các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức chính trị- xã hội-nghề nghiệp… Với quy định

về điều kiện pháp nhân thì các tổ chức trên không được làm chủ thẻ tín dụng, như vậy là hạn chế một số lượng khá lớn nhu cầu sử dụng thẻ tín dụng trên thị trường Ngoài điều kiện về pháp nhân, các tổ chức muốn được phát hành thẻ còn phải tuân theo các điều kiện khác do TCPHT quy định (điểm b khoản 1 Điều 11 Quy chế 20) Ví dụ, theo quy định của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam, tổ chức muốn được phát hành thẻ tín dụng phải có tình hình tài chính lành mạnh, không có vay nợ quá hạn và còn phải mở tài khoản tiền gửi tại chính Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam

Các quy định của pháp luật với chủ thẻ là tổ chức là quy định mới nên còn chưa đầy đủ Chủ thẻ là tổ chức không thể tự mình thực hiện hành vi mua hàng hóa

và sử dụng dịch vụ, cũng không thể tự mình sử dụng thẻ tín dụng để thanh toán vì

Trang 40

khi sử dụng thẻ tại ĐVCNT cần ít nhất 2 yếu tố xác thực người dùng được in trên thẻ là ảnh và chữ ký Chính vì vậy mà việc sử dụng thẻ tín dụng của pháp nhân phải thông qua một cá nhân, là người đại diện hợp pháp của pháp nhân đó Tuy nhiên pháp luật không quy định rõ việc sử dụng thẻ thông qua người đại diện được thực hiện theo cơ chế nào, tên chủ sử dụng thẻ in trên thẻ là tên pháp nhân hay tên người đại diện; các vấn đề khác như bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin, trách nhiệm gánh chịu rủi ro cũng chưa được quy định rõ Chính vì sự thiếu hụt quy định của pháp luật nên mỗi TCPHT quy định một khác Tại Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (VIB), việc sử dụng thẻ của pháp nhân được thực hiện như sau:

“VIB phát hành thẻ tín dụng Quốc Tế MasterCard cho các đối tượng:

Khách hàng tổ chức: là các tổ chức có tư cách pháp nhân (doanh nghiệp, cơ quan…) ủy quyền việc sử dụng thẻ cho một hoặc nhiều cá nhân và chịu trách nhiệm thanh toán các khoản chi tiêu bằng thẻ tín dụng Quốc Tế MasterCard của các cá nhân đó…” [26]

Thực hiện nội dung này, Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam sẽ phát hành thẻ cho các cá nhân được ủy quyền của công ty Các cá nhân này được in nổi tên trên thẻ, được in ảnh lên thẻ và có trách nhiệm ký chữ ký mẫu trên thẻ Một công ty

sẽ có thể được phát hành một thẻ chính và nhiều thẻ phụ cho các cá nhân của công

ty Điều quan trọng là tất cả những người có tên trên thẻ chính và thẻ phụ của công

ty đều phải được ủy quyền hợp pháp từ công ty đó

2.1.1.2 Điều kiện với TCPHT

Theo quy định tại khoản 12 Điều 2 của Quy chế 20 thì TCPHT được hiểu là

“ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tín dụng hợp tác, tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng được phép phát hành thẻ” Như chúng tôi đã trình

bày ở trên, Quy chế 20 đã mở rộng phạm vi các chủ thể được phát hành thẻ Nếu như trước đây, chỉ các ngân hàng mới được phát hành thẻ, thì nay tổ chức được phát hành thẻ đã bao gồm nhiều loại chủ thể miễn là các chủ thể phải thỏa mãn thêm các điều kiện tại Điều 9 Quy chế 20 Nếu phát hành thẻ tín dụng quốc tế, TCPHT còn phải đáp ứng đủ điều kiện hoạt động ngoại hối do NHNN quy định

Tuy nhiên, các quy định này trong Quy chế 20 không điều chỉnh riêng cho TCPHT phát hành thẻ tín dụng mà là quy định chung đối với các TCPHT phát hành

Ngày đăng: 26/09/2020, 01:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w