1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Dạy học các đoạn trích Truyện Kiều ở trung học phổ thông (chương trình Ngữ văn lớp 10) theo hướng đối thoại : Luận văn ThS. Giáo dục học: 60 14 10

112 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy mới chỉ là những nét phác thảo đề cập đến những vấn đề chung qua tiêu đề Giờ học đối thoại- con đường giải quyết một nghịch lý trong giảng văn, các tác giả đã đánh giá cao mặt tích

Trang 1

THEO HƯỚNG ĐỐI THOẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Viết Chữ

HÀ NỘI – 2012

Trang 2

5

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục viết tắt ii

Danh mục các bảng iii

Mục lục iv

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8

1.1 Cơ sở lý luận 8

1.1.1 Đối thoại và dạy học tác phẩm văn chương theo hướng đối thoại 8 1.1.2 Những đặc điểm về tâm lý học lứa tuổi và tâm lý tiếp nhận văn chương của học sinh THPT 21

1.2 Cơ sở thực tiễn 30

1.2.1 Nguyễn Du, Truyện Kiều và việc dạy học tác gia, tác phẩm 30

1.2.2 Những thuận lợi và khó khăn khi dạy học Truyện Kiều ở phổ thông hiện nay 33

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP DẠY HỌC CÁC ĐOẠN TRÍCH TRUYỆN KIỀU Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG ĐỐI THOẠI 37

2.1 Khảo sát thực trạng dạy học các đoạn trích Truyện Kiều ở trường phổ thông hiện nay 37

2.1.1 Mục đích khảo sát 37

2.1.2 Địa bàn và đối tượng khảo sát 37

2.1.3 Phương pháp khảo sát 37

2.1.4 Nội dung khảo sát 37

2.1.5 Thời gian khảo sát 38

2.1.6 Kết quả khảo sát 38

2.1.7 Kết luận về việc dạy học các đoạn trích Truyện Kiều lớp 10 THPT 42

2.2 Biện pháp 44

2.2.1 Những yêu cầu có tính nguyên tắc 44

2.2.2 Các biện pháp dạy học theo hướng đối thoại 48

Chương 3: THỰC NGHIỆM 36

3.1 Mục đích thực nghiệm 36

Trang 3

6

3.2 Yêu cầu thực nghiệm 36

3.3 Địa bàn, đôi tượng và bài thực nghiệm 36

3.4 Thời gian và quá trình tiến hành thực nghiệm 57

3.4.1 Thời gian và quy trình thực nghiệm 57

3.4.2 Quá trình tiến hành thực nghiệm 58

3.5 Giáo án thực nghiệm 58

3.5.1 Yêu cầu chuẩn bị 58

3.5.2 Giáo án 60

3.5.3 Đánh giá thực nghiệm dạy học đoạn “Trao duyên”, trích Truyện Kiều của Nguyễn Du theo một số biện pháp luận văn đề ra 76

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

PHỤ LỤC 85

Trang 4

3

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TN THPT

Tr

Đối chứng Giáo viên Học sinh Nhật kí văn học Nhà xuất bản Sách giáo khoa Thực nghiệm Trung học phổ thông Trang

Trang 5

4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 2.1 Thống kê số câu hỏi đối thoại trong phân tìm hiểu bài

các đoạn trích Truyện Kiều sách giáo khoa Ngữ văn 10 chương

trình cơ bản 38 Bảng 2.2 Thống kê số câu hỏi đối thoại trong phân tìm hiểu bài

các đoạn trích Truyện Kiều sách giáo khoa Ngữ văn 10 chương

trình nâng cao 39 Bảng 2.3 Thống kê kết quả khảo sát giáo án 40 Bảng 2.4 Thống kê kết quả phiếu khảo sát phương pháp dạy học

của giáo viên 41 Bảng 3.1 Thống kê kết quả thực nghiệm đánh giá kết quả học tập

của học sinh trong sự so sánh đối chứng 74 Bảng 3.2 Tổng hợp và so sánh kết quả kiểm tra bài dạy thực

nghiệm và đối chứng 75

Trang 6

7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, các dân tộc trên thế giới đang đi vào thời kì hội nhập khu vực

và quốc tế Sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã tạo cơ hội cho mỗi quốc gia có thể học tập, tiếp thu những giá trị tinh hoa của nhau để làm phong phú cho nền văn hóa của chính mình Xu hướng vận động của thế giới hiện đại là đối thoại hợp tác, lắng nghe ý kiến, cùng nhau tranh luận tìm ra giải pháp hữu hiệu nhất để giải quyết mọi vấn đề chung vì một xã hội tốt đẹp Đối thoại cũng được xem là một tiêu chí, một hình thức quyết định sự tồn vong của hệ thống giáo dục các quốc gia

Ở nước ta, công cuộc đổi mới phương pháp dạy học đã và đang được tiến hành một cách đồng bộ, không nằm ngoài sự vận động của xã hội nói chung, dạy học cũng được tổ chức theo hình thức đối thoại nhiều chiều Trong luật giáo dục của nước ta thong qua ngày 5/5/2005 có nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” Gần đây, trong “Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010”, Đảng ta cũng xác định : “Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục, chuyển từ việc tiếp nhận tri thức thụ động, thầy giảng trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển được năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh” Như vậy, những yêu cầu về nội dung, nhiệm vụ và phương pháp giáo dục được Đảng và Nhà nước xác định rõ Tuy nhiên, trong thực tế, để đạt được nhiệm vụ và mục đích trên vẫn còn là thách thức đối với ngành giáo dục

Một trong những luận điểm cơ bản của quá trình đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường là " Học sinh là bạn đọc sáng tạo" Với quan điểm

Trang 7

8

trên, quá trình dạy học giờ đây đòi hỏi phải thay đổi rất nhiều Sẽ không còn

là những giờ thuyết giảng một chiều thầy nói, trò nghe mà sẽ là những cuộc đối thoại bình đẳng, dân chủ, phong phú giữa những người học, trong một không khí học tập cởi mở, có định hướng Tổ chức giờ học đối thoại sẽ phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh, khơi gợi hứng thú học tập, hình thành động cơ học tập đúng đắn, trang bị cả tri thức và hình thành nền tảng đạo đức vững chắc cho học sinh

Dạy học văn là một khâu then chốt trong việc phát triển nhân cách, giáo dục, giáo dưỡng đối với học sinh Tuy nhiên dạy học văn trong nhà trường hiện nay gặp rất nhiều khó khăn cả về chủ quan lẫn khách quan trong việc tổ chức cho học sinh tiếp nhận văn bản Ngữ văn là một bộ môn khó chiếm lĩnh Các em dù rất thích môn văn, nhưng không phải em nào cũng có khả năng tiếp thu dễ dàng Mỗi tác phẩm văn chương là sáng tạo nghệ thuật của tác giả Bản chất của tác phẩm văn chương là một hệ thống mở mà ở đó mỗi người lại có những cảm nhận khác nhau Vấn đề đặt ra cho mỗi giáo viên

là phải lựa chọn được phương pháp dạy học hiệu quả để khi học văn các em được sống trong tác phẩm với những cảm nhận của riêng mình, chứ không phải sống trong cái “khuôn vàng thước ngọc” có sẵn với những cảm nhận áp

đặt của người khác Giải quyết những khó khăn đó cũng chính là mấu chốt

của việc đổi mới phương pháp dạy học môn văn hiện nay

Trong chương trình Ngữ văn THPT, số lượng các tác phẩm văn học trung đại chiếm một lượng không nhỏ Và có lẽ khi nói đến văn học trung đại

nước nhà, tác phẩm đầu tiên mọi người phải nghĩ tới ngay là Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du Không ai có thể phủ nhận trong toàn bộ văn học Việt Nam, Truyện Kiều - Nguyễn Du là một thành công vẻ vang nhất, là áng văn

chương tiêu biểu hơn hết Trong mấy thế hệ nhà văn, khoảng hơn một trăm ba

mươi năm nay, người đọc, người phê bình Truyện Kiều không bao giờ cạn lời khen ngợi Có những người không hề đi học, chỉ nhờ thuộc lòng Truyện

Trang 8

9

Kiều đã mò mẫm tự học để đọc được các bản sách chữ Nôm Người dân bất

kỳ tầng lớp nào, không ai không thích nghe kể Truyện Kiều, ngâm Kiều, lẩy Kiều Người ta nhớ từng câu, từng đoạn và dẫn dụng vào câu chuyện hằng ngày, khi nói đến “nhân tình thế thái” Trong xã hội, Truyện Kiều được xem như một bản “linh kinh” báo cho người ta những bước rủi may trên đường

đời Trong văn học thế giới, trừ mấy tập kinh thánh, chỉ có hai thi sĩ chinh phục được lòng tin của độc giả đến trình độ đó, đó là Virgil, thi sĩ La Mã và Nguyễn Du- thi sĩ của Việt Nam

Thế mà việc dạy Truyện Kiều cho đến nay vẫn là một thách thức đối với giáo viên đứng lớp Đă có nhiều phương pháp khác nhau được đề xuất và vận

dụng trong dạy học các đoạn trích Truyện Kiều chẳng hạn như vận dụng phương

pháp giảng bình, phân tích theo đặc trưng thể loại, vận dụng đọc hiểu Tuy nhiên để phát huy được tính chủ thể, để học sinh nói được tiếng nói chân thực của mình trong việc tiếp nhận tác phẩm thì có lẽ dạy học theo hướng đối thoại đem lại hiệu quả hơn cả Chính vì vậy chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài

nghiên cứu : "Dạy học các đoạn trích Truyện Kiều ở Trung học phổ thông ( chương trình Ngữ Văn lớp 10) theo hướng đối thoại", mong góp phần làm

sáng tỏ hơn những cơ sở lý luận và thực tiễn của kiểu giờ học đối thoại và cụ thể hóa cơ chế vận hành của nó trong những bài dạy văn cụ thể

2 Lịch sử vấn đề

Từ trước đến nay, Truyện Kiều được quan tâm nghiên cứu chủ yếu ở hai

phương diện: giá trị nội dung nghệ thuật và phương pháp dạy học tác phẩm Việc tổ chức, hướng dẫn học sinh khai thác vẻ đẹp của tác phẩm là vấn đề luôn luôn được đặt ra được các nhà sư phạm dày công nghiên cứu Đă có nhiều phương pháp khác nhau được đề xuất và vận dụng trong dạy học các

đoạn trích Truyện Kiều như: vận dụng phương pháp giảng b́ình, phân tích theo

đặc trưng thể loại, quan tâm đến khoảng cách tiếp nhận Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi lưu tâm đến những ý kiến thuộc hướng nghiên cứu về phương pháp dạy học Truyện Kiều trong nhà trường phổ thông

Trang 9

10

Trong cuốn “ Giảng văn Truyện Kiều”, nhà xuất bản Giáo dục, H.2006 (Tái bản lần thứ 7), Giáo sư Đặng Thanh Lê đă đưa ra cách phân tích Truyện

Kiều theo phương hướng tiếp cận thi pháp học và ngôn ngữ học Trong đó, tác

giả đă nêu ra những cách thức để tiến hành như xác lập hệ thống cấu trúc đoạn trích theo đặc điểm thể loại, vấn đề giới thiệu vị trí đoạn trích Mặt khác cũng xác định tính chất của h́ình tượng nhân vật theo thể loại, từ đó đi đến phân tích nhân vật theo đặc trưng thi pháp cổ điển, tập trung vào phân tích ngôn ngữ của tác phẩm

Giáo sư Trần Đ́nh S ử trong cuốn “ Đọc văn, học văn”, Nxb Giáo dục,

H 2003, cũng đă đưa ra quan điểm đọc văn: “ Chúng tôi chú trọng mặt ngôn

từ, bởi hình tượng văn học mọc lên từ đó từ âm thanh, nhạc điệu, ý nghĩa của

từ ngữ, ý nghĩa các biểu trưng đă hình thành trong truyền thống văn hóa, cấu trúc của văn bản, giọng điệu, lời văn của ai, quan hệ đối thoại trong ngữ cảnh đều là những yếu tố cần được t́ìm hiểu để hiểu bài văn” Trong công trình này, tác giả cũng tiến hành phân tích các tác phẩm văn học trung đại đến

hiện đại, trong đó có các đoạn trích trong Truyện Kiều

Bên cạnh các công trình nghiên cứu còn có các bài báo, luận án tiến sĩ, các luận văn sau đại học quan tâm tìm hiểu việc dạy học các đoạn trích trong

Truyện Kiều Trong luận án tiến sĩ khoa học: “ Biện pháp hạn chế khoảng cách tiếp nhận của học sinh trung học miền núi trong giờ học giảng văn Truyện Kiều của Nguyễn Du” của tác giả Nguyễn Thanh Sơn đă chỉ ra những

khó khăn cho học sinh miền núi khi tiếp nhận Truyện Kiều chính là “rào cản ngôn ngữ: ngôn ngữ Tiếng Việt- Ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ trong Truyện

Kiều”( 31, tr.52) Một khó khăn khác nữa là sự hạn chế về vốn sống, vốn hiểu

biết của các em Ở luận án náy, tác giả cũng đă đưa ra các giải pháp để khắc phục những khó khăn Trong số các giải pháp đưa ra, chúng tôi đặc biệt lưu ý đến giải pháp tổ chức cho các em sinh hoạt ngoại khóa và hoạt động ngoài giờ

để nâng cao khả năng cảm thụ văn chương

Trang 10

11

Luận văn “Lịch sử tiếp nhận và cách thức hướng dẫn dạy học Truyện

Kiều ở THPT” của Nguyễn Thị Ngọc Oanh (năm 2002) đă nghiên cứu lịch sử

tiếp nhận Truyện Kiều trên phương diện văn hóa, thẩm mĩ trong nước và trên

thế giới Luận văn cũng đă đưa ra một số cách thức hướng dẫn học sinh nhưng không tập trung vào đoạn trích nào cụ thể Một luận văn khác là

“Hướng dẫn đọc hiểu đoạn trích “ Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều cho học sinh

THPT” của Nguyễn Thúy Hằng (năm 2003) có đi vào những biện pháp cụ thể

để hướng dẫn học sinh đọc hiểu, nhưng chủ yếu là vận dụng các thao tác và các dạng đọc

Nhìn chung, các tác giả nghiên cứu đă đưa ra một số phương pháp khác

nhau để hướng dẫn học sinh tìm hiểu Truyện Kiều Tuy nhiên, hướng dạy học các đoạn trích Truyện Kiều theo hướng đối thoại chưa được quan tâm đến

Ở Việt Nam, khái niệm “giờ học đối thoại” có lẽ xuất hiện lần đầu tiên

trong giáo trình Phương pháp dạy học văn, tập I của hai tác giả Phan Trọng

Luận và Trương Dĩnh Tuy mới chỉ là những nét phác thảo đề cập đến những

vấn đề chung qua tiêu đề Giờ học đối thoại- con đường giải quyết một nghịch

lý trong giảng văn, các tác giả đã đánh giá cao mặt tích cực của những giờ

học đối thoại, chỉ ra sự cần thiết phải tạo tình huống để học sinh trao đổi, bộc

lộ cảm nhận của mình về một hiện tượng văn học dựa trên nhiều quan hệ đối thoại, “không chỉ giữa học sinh với nhau mà giữa học sinh với giáo viên và đặc biệt là giữa học sinh với bản thân nhà văn thông qua bài văn” (25, tr.305)

Trong chuyên đề Đối thoại và định hướng cảm thụ văn chương trong

dạy học tác phẩm văn học của tác giả Nguyễn Viết Chữ cũng phân tích rất sâu

sắc bản chất, vai trò của đối thoại trong dạy học tác phẩm văn chương Tác giả cũng đã chỉ ra sự cần thiết của việc tạo ra những “cuộc giao tiếp, cuộc đối thoại” Theo tác giả, “tiếp nhận theo kiểu đối thoại sẽ có điều kiện đi sâu vào bản chất của tri thức”, mà ở đó học sinh được theo dõi, được chứng kiến,

Trang 11

sĩ Đỗ Huy Quang Giờ học đối thoại- con đường giải quyết một nghịch lý

trong giảng văn; Giáo sư Nguyễn Thị Hai với bài Thầy và trò đối thoại để cùng xây dựng bài giảng; Tiến sĩ Trần Thanh Bình có bài Dạy học đối thoại- điều kiện để phát huy chủ thể học sinh Tuy vậy, cho đến nay, chúng ta vẫn

thiếu những công trình chuyên sâu nghiên cứu về dạy học đối thoại nói chung

và trong dạy học trích đoạn Kiều nói riêng

Trên đây là những tài liệu đã đặt nền móng cho đề tài nghiên cứu của chúng tôi Tuy nhiên, các tài liệu trên mới chỉ là những gợi dẫn, đưa ra những hướng tiếp cận văn bản Truyện Kiều từ nhiều góc độ khác nhau mà chưa đề cập đến dạy học Truyện Kiều theo hướng đối thoại Trân trọng, kế thừa các tư tưởng đi trước, vận dụng linh hoạt phương pháp, biện pháp dạy học, chúng tôi tiến hành thực hiện luận văn này mong muốn tìm ra biện pháp hữu hiệu góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn trong nhà trường phổ thông hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý thuyết có liên quan làm cơ sở cho những nghiên cứu về việc dạy học các đoạn trích Truyện Kiều theo hướng đối thoại

- Đánh giá được thực tế giảng dạy tác phẩm văn học trong nhà trường hiện nay nói chung và trích đoạn Kiều nói riêng

- Vận dụng những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học môn Ngữ văn theo hướng đối thoại để đưa ra những biện pháp dạy học các đoạn trích Truyện Kiều trong chương trình THPT hiện nay

- Thiết kế giáo án theo định hướng của đề tài và dạy học thể nghiệm ở một số trường THPT tại Quảng Ninh để kiểm chứng, đánh giá, khẳng định tính khả thi của những đề xuất khoa học đã nêu

Trang 12

13

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Với tính chất bước đầu, luận văn giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu như sau:

- Đề tài đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc dạy học theo hướng đối thoại

- Các đoạn trích Truyện Kiều- Nguyễn Du trong chương trình Ngữ văn 10 THPT

- Giáo án của giáo viên, sgk, sgv, bài làm văn của học sinh

5 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu vấn đề mà luận văn đặt ra, chúng tôi đã vận dụng linh hoạt các phương pháp sau:

- Phương pháp điều tra, khảo sát: Được sử dụng để thu thập những tài liệu thực tế về tình hình dạy học văn đang diễn ra ở THPT Hoàng Văn Thụ, THPT Uông Bí và một số trường THPT khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được sử dụng để tìm ra hướng dạy học thích hợp với đối tượng học sinh THPT thông qua việc tìm hiểu các tư liệu, giáo trình, các bài nghiên cứu thuộc tâm lý học lứa tuổi; Xã hội học, Lí luận văn học, Lí luận và phương pháp dạy học văn

- Phương pháp thực nghiệm: Nghiên cứu, soạn giảng thể hiện một tác phẩm nhằm kiểm chứng những định hướng đã trình bày; từ đó rút ra kết luận sư phạm cho đề tài

- Phương pháp thống kê: Được sử dụng để xử lý các số liệu thu thập trong quá trình khảo sát nhằm đạt tới những kết luận chính xác, khách quan

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Thực trạng và biện pháp dạy học các đoạn trích Truyện Kiều ở THPT theo hướng đối thoại

Chương 3: Thực nghiệm

Trang 13

14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Đối thoại và dạy học tác phẩm văn chương theo hướng đối thoại

1.1.1.1 Những quan niệm khác nhau về đối thoại

Theo Từ điển Tiếng Việt- Hoàng Phê chủ biên, Hà Nội, 1998 ( Tr327)

đã giải thích về đối thoại như sau:

- Đối thoại là nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau

Ví dụ cuộc đối thoại, người đối thoại, đoạn đối thoại trong vở kịch

- Đối thoại là để bàn bạc, thương lượng trực tiếp với nhau giữa hai hay nhiều bên để giải quyết các vấn đề về tranh chấp Ví dụ: chủ trương không đối đầu mà đối thoại

Theo khái niệm trên, đối thoại diễn ra do nhu cầu con người cần trao đổi thông tin với nhau để bàn bạc về một vấn đề gì đó nhằm mục đích hai bên hiểu nhau hơn và từ đó dẫn đến thực hiện hành động theo mong muốn của một trong hai bên Muốn có đối thoại thì phải thỏa mãn hai điều kiện : Thứ nhất là nhân tố tham gia đối thoại phải có hai người trở lên, thứ hai, đối thoại phải là nhiều chiều (có lượt lời, hỏi đáp, luân phiên tạo nên cặp thoại) Trong đó ngữ cảnh đóng vai trò quy định nội dung đối thoại

Nhìn từ thuật ngữ văn học, đối thoại ngoài nghĩa giao tiếp bằng lời nói giữa hai người (hoặc hơn) thì đối thoại còn là đơn vị văn bản, đoạn tái tạo sự giao tiếp bằng lời nói của các nhân vật Hơn nữa, đối thoại còn là một thể loại văn học ở Châu Âu, có hình thức đối thoại mà nội dung là diễn đạt một vấn đề tư tưởng, triết học, triết lý, phê bình văn học

Theo Bakhtin : Đối thoại là một yếu tố có liên quan đến ngôn ngữ, đối thoại là lẽ sống còn của ngôn ngữ Ông cho rằng: " Ngôn ngữ chỉ sống trong

sự giao tiếp, đối thoại giữa những người sử dụng ngôn ngữ giao tiếp đối thoại chính là lĩnh vực đích thực của cuộc sống, của ngôn ngữ Toàn bộ cuộc

Trang 14

Như vậy, việc giao tiếp đối thoại không chỉ đơn thuần nhằm mục đích thông tin mà còn là quá trình tác động đến người nhận về quan điểm, tình cảm và hành động Và chính mục đích tác động này đòi hỏi sự tư duy của các chủ thể tham gia vào cuộc đối thoại Nói cách khác, đối thoại là sự trao đổi kết quả tư duy của người này đối với người khác, đối với hiện thực Không có kết quả của tư duy thì không có đối thoại, không có giao tiếp Từ đó, Bakhtin xác định đối thoại là bản chất của ý thức, tư tưởng con người “Tư tưởng không sống trong ý thức của cá nhân đã bị tách biệt của con người (…) Tư tưởng bắt đầu sống tức là được hình thành, được phát triển, nó tìm ra và đổi mới cách biểu hiện bằng lời, sản sinh ra những

tư tưởng mới bằng cách tham gia vào các quan hệ đối thoại quan trọng với các tư tưởng khác của người khác Ý nghĩ của con người chỉ trở thành ý nghĩ đích thực, tức là trở thành tư tưởng trong điều kiện tiếp xúc sinh động với ý nghĩ người khác, được thể hiện thành tiếng nói khác, tức là với một ý thức khác được diễn đạt thành ngôn từ”

Socrate (469-399), nhà triết học lừng danh của Hi Lạp cổ đại cũng thường xuyên sử dụng phương pháp dạy học truyền miệng bằng cách hỏi – đáp giữa hai người, đặt ra nhiều câu hỏi khác nhau để đưa người học vào tình huống có vấn đề, dùng trò chuyện tay đôi, hai người tranh luận với nhau mà tìm ra chân lí Trong khi tranh luận, Socrate không bao giờ tự đi đến kết luận; ông thường chuẩn bị trước một số câu hỏi được lựa chọn theo

Trang 15

16

một cách thức nhất định (tuỳ theo vấn đề và tùy theo đối tượng hội thoại) giúp người đối thoại phát hiện ra cái mình chưa biết, sau đó đi đến những hiểu biết nhất định, để cuối cùng có được một quan niệm về cuộc sống Cùng với những câu hỏi, Socrat còn đưa ra các sự kiện để dẫn dắt người đối thoại tới một khái niệm nào đó Cuối cùng, ông giúp người đó chia các khái niệm ra thành loại, nhóm… Phương pháp này đương thời rất giá trị, được người đời gọi là “phương pháp Socrate” hay “phương pháp đỡ

đẻ của Socrate” vì nó liên tưởng đến hình ảnh người mẹ sinh con nhờ sự giúp đỡ của bà mụ; và người thầy cũng với tính cách ấy giúp người học sinh tìm ra tri thức, chân lí Phương pháp Socrate bắt đầu bằng luận đề

“Tôi biết rằng tôi không biết gì cả” Câu nói ấy ngụ ý rằng trong cuộc sống cũng như trong học tập cần biết khiêm tốn, luôn tự nhủ rằng mình chưa biết

để từ điểm “không” ấy đi từng bước thận trọng đến với chân lí, niềm tin Từ việc nghiên cứu các quan điểm đối thoại từ nhiều khía cạnh khác nhau, chúng tôi khái quát những phạm vi nội dung chứa trong các khái niệm nêu trên, để đưa ra quan điểm về đối thoại trong phương pháp giảng dạy nói chung và tính đối thoại trong tác phẩm văn chương nói riêng

Thứ nhất: Đối thoại là một hoạt động giao tiếp bằng lời Đó là lời nói chuyện giữa hai hay nhiều người với nhiều mục đích khác nhau, trong những ngữ cảnh khác nhau Trong bất cứ cuộc đối thoại nào cũng gồm ba vận động chủ yếu: Sự trao lời, sự trao đáp và sự tương tác giữa các nhân vật đối thoại Với cách hiểu như vậy, trong dạy học, những giờ dạy chỉ có tiếng nói của thầy giáo giảng bài, truyền đạt thông tin, thuyết giảng và học sinh chỉ có nhiệm vụ lắng nghe và ghi chép gọi là giờ độc thoại của người thầy Ngược lại, trong giờ học có sự đan xen lời nói của thầy giáo và học trò thì đó là dạy học đối thoại Thầy giáo sử dụng các phương pháp gợi mở, nêu vấn đề, đặt câu hỏi tổ chức cho học sinh tích cực tham gia phát biểu ý kiến, trả lời câu hỏi, trực tiếp trình bày những quan điểm, những hiểu biết của mình về nội

Trang 16

Đối thoại trong cái “tôi” là cách nhận thức có chiều sâu, nhận thức đa chiều, nhận thức luôn đặt thêm câu hỏi “tự vấn”, câu hỏi khẳng định, câu hỏi phủ định, câu hỏi nghi ngờ, câu hỏi phát hiện thêm Đó là cách tạo đối thoại ngầm trong tư duy của người tiếp nhận, để việc tiếp nhận, lĩnh hội không bằng phẳng, đơn giản

Như vậy, với quan điểm mở rộng, đối thoại không chỉ dừng lại ở tiêu chí về hình thức trong giao tiếp bằng lời giữa hai hay nhiều người mà ngay khi bạn đọc tiếp nhận tác phẩm đã xuất hiện sự đối thoại giữa bạn đọc với bạn đọc, giữa bạn đọc và tác giả, tác phẩm Thậm chí có những tác phẩm sống cách đây hàng thế kỉ, có những tác phẩm ra đời hàng trăm năm vẫn lên tiếng đối thoại cũng nhận thức tư duy bạn đọc Các tác phẩm văn học của các quốc gia khác nhau, sống trong các thời kì lịch sử khác nhau có thể gặp nhau, đối thoại với nhau

Thứ ba: Đối thoại mang bản chất khoa học nhân văn dân chủ Cuộc sống là một cuộc đối thoại lớn, tồn tại ở đó sự giao thoa của nhiều tiếng nói, nhiều giọng điệu, không có tiếng nói nào bị lấn át Con người luôn phát đi tiếng nói của mình, luôn có nhu cầu muốn trao đổi thông tin, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng Đối thoại giúp cho từ cái đã biết rồi làm cho nhau biết thêm những cái chưa biết, những sự vật mới, những tình cảm mới Chính trong đối thoại con người trưởng thành thêm, phát triển thêm

Trang 17

18

1.1.1.2 Đối thoại trong sáng tác và tiếp nhận tác phẩm văn chương

Tác phẩm văn chương là một hệ thống mở, một hệ thống động Vòng đời của tác phẩm văn chương đan kết nhiều quá trình và nhiều mối quan hệ: cuộc sống - nhà văn – tác phẩm văn chương – bạn đọc – cuộc sống, từ đó tạo ra nhiều tiếng nói khác nhau trong các mối quan hệ đó Đến với tác phẩm văn chương cần nhận diện rõ các mối quan hệ trong vòng đời của một tác phẩm để lắng nghe được nhiều tiếng nói, để hoà nhập vào môi trường đối thoại của các “chủ thể văn học”

Trong sáng tác, để tạo ra tác phẩm, nhà văn phải đi vào khám phá, tìm hiểu cuộc sống Đó chính là quá trình nhà văn tham dự vào một cuộc đối thoại lớn, ở đó vang lên nhiều tiếng nói, nhiều giọng điệu Đồng thời trong quá trình sáng tác, để tạo nên những cái riêng, cái khác, cái độc đáo của mình, các nhà văn phải tự đối thoại với chính bản thân để thanh lọc, lựa chọn, tìm tòi, tạo ra giá trị của tác phẩm Khi tác phẩm ra đời, nó lại tiếp tục cuộc đối thoại trong quá trình tiếp nhận của độc giả Nhà văn sẽ đối thoại với bạn đọc thông qua tác phẩm

Cuộc sống khi đi vào tác phẩm không còn là cuộc sống vốn có mà nó

đã được nhà văn hư cấu thêm để thể hiện tư tưởng, tâm trạng, quan niệm của mình Tiếng nói của cuộc sống trong tác phẩm bao giờ cũng có thêm tiếng nói của nhà văn Với ý nghĩa ấy, hiện thực được miêu tả trong văn học là hiện thực đã được ý thức, là hiện thực thông qua lăng kính thế giới chủ quan của con người Thế giới chủ quan của nhà văn là một thế giới phức tạp bao gồm thế giới quan, tài năng, cá tính, tình cảm, lí tưởng, khát vọng… Đối với hoạt động sáng tạo của nhà văn, sáng tác không chỉ là sự bộc lộ, tự biểu hiện và tìm kiếm những phương tiện nghệ thuật khác nhau để diễn đạt những cảm xúc, suy nghĩ của tác giả mà còn là lời kêu gọi, nhắn nhủ, là hành động đi tìm sự sẻ chia, thông cảm, tìm tri kỉ, tri âm, là hình thức lôi cuốn, tác động đến người đọc, đối thoại với người đọc…Vì vậy mỗi

Trang 18

19

chi tiết trong tác phẩm vừa phản ánh hiện thực khách quan, vừa là tiếng nói nhận thức của nhà văn về hiện thực Chính sự phát hiện và lí giải hiện thực của nhà văn làm nên tầm tư tưởng của tác phẩm, tạo nên giá trị tinh thần cho cuộc đời

Bản chất giao tiếp của văn học bắt nguồn từ quan hệ giữa tác giả – tác phẩm và người đọc Tác phẩm là một thứ thông điệp, tác giả là người phát tin, và người đọc là người nhận tin Nhà văn sáng tác trước hết không phải chỉ đơn giản là người gửi đi một thông điệp mà công việc sáng tạo tác phẩm văn chương còn là “một quá trình tư duy ngôn ngữ thầm lặng”, nó là cả một quá trình lao động gian khổ, lựa chọn từng câu, từng chữ để thể hiện ý tưởng, tư tưởng nghệ thuật của mình Trên con đường đi tới ý đồ tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm, tác giả đã tốn bao nhiêu tâm huyết để tạo thành nội dung biểu hiện thầm kín ở tầng sâu ý nghĩa tác phẩm thông qua những tìm tòi sáng tạo về hình thức nghệ thuật Khi nhà văn viết cho mình thì đồng thời cũng là viết cho ai đó, cụ thể hoặc không cụ thể Bởi vậy, tác phẩm thường được tiếp nhận như một sự gửi gắm, chia sẻ, một sự đi tìm tri

kỉ, tri âm, người đọc đang đến bên nhà văn để nghe nhà văn tâm sự Có thể nói, sáng tác văn học là một hành vi xã hội hướng tới đối tượng giao tiếp, gửi gắm ý đồ tư tưởng, tâm sự của người viết đến bạn đọc Bản thân quá trình sáng tạo đó có ý nghĩa quyết định không nhỏ đối với chất lượng, hiệu quả cuộc giao tiếp sẽ diễn ra trong tương lai Nhà văn đối thoại với cuộc sống, góp tiếng nói vào tiếng nói của cuộc sống và tìm thấy từ cuộc sống những tiếng nói có thể phát ngôn cho tư tưởng của mình

Có sáng tác văn học thì có tiếp nhận văn học “Chính ở khâu cảm thụ công chúng, chính ở trong bể rộng mênh mông của tư tưởng tình cảm, nhận thức của công chúng, giá trị của tác phẩm mới thật sự được bộc lộ và thể nghiệm một cách cụ thể sinh động” Như trên đã nêu, nhà văn tìm đến bạn đọc để giãi bày tâm sự, tư tưởng, quan điểm, lí tưởng thẩm mĩ, thái

Trang 19

20

độ của mình để vừa sẻ chia, vừa thuyết phục bạn đọc, mong ở bạn đọc sự đồng tình, sự cộng hưởng cảm xúc Đối với bạn đọc cũng vậy, họ muốn tìm đến tác phẩm để gởi gắm tấm lòng, để tìm sự đồng cảm, để khám phá thế giới

Tác phẩm văn chương là một “đề án tiếp nhận”, “một nền tảng để tiếp nhận”, “một cấu trúc mời gọi”, nhưng đề án ấy chỉ được mở, được thực hiện trong thước đo của người đọc với sự sáng tạo của họ Đến với tác phẩm văn chương, người đọc như được tham gia vào một cuộc đối thoại lớn Trong quá trình ấy người đọc phải dùng năng lực tưởng tượng, liên tưởng, lập luận, phân tích khái quát, khả năng giải mã thông tin ngôn ngữ… để cụ thể hoá mọi điều trong tác phẩm, để cắt nghĩa và hiểu tác phẩm

M Bakhtin cho rằng: trong một tác phẩm văn chương mang tính “đa thanh” hay “đa thoại” thì tác giả không có quyền phán quyết, đánh giá và quy định số phận của nhân vật mà bản thân nó phải là một sự tự ý thức, một dòng tư tưởng, một giọng điệu đưa nhân vật đến sự tự bộc lộ về sự thật của mình, về dấu ấn riêng của nó Tác giả chỉ là người “đưa” độc giả

đi vào từng trang sách và “chỉ” cho họ những diễn biến, tình huống để học gặp gỡ nhân vật trong tác phẩm, tạo cho họ cơ hội bộc lộ quan điểm của mình Nói cách khác là tạo nên những cuộc giao thoa giữa các luồng ý thức, nói lên tiếng nói của mình, tạo nên cuộc đối thoại

Tác phẩm văn chương viết ra là để đọc, để thưởng thức Khi nội dung của tác phẩm được lí giải bởi từng cá nhân người đọc cụ thể thì nó không còn là nội dung đóng kín nữa mà được biểu hiện thành nghĩa của tác phẩm

“Cái mà người đọc có thể rút ra từ tác phẩm ấy là ý nghĩa Ý nghĩa là nội dung tác phẩm do người đọc phát hiện chiếm lĩnh, là nội dung đang mở ra trong không gian và thời gian” “Tiếp nhận tác phẩm là sự cụ thể hoá, hiện thực hoá tác phẩm trong trí tưởng tượng, là đối thoại liên tục với tác giả

Trang 20

21

trên mọi lĩnh vực, là quá trình chờ đợi, thắc mắc, giải đáp”

Các chi tiết, ngôn từ trong tác phẩm đều là những tín hiệu có thể đem đến cho người tiếp nhận những thông tin phong phú Mỗi thông tin tương đương với một phát ngôn, nó cũng có chủ thể của nó, cũng ghi dấu ấn chủ thể Vì vậy, trước mỗi đối tượng nhận thức con người có thể nghe thấy vô cùng nhiều tiếng nói khác nhau về nó, với nó, cho nó Đây là tính đối thoại trong tiếp nhận thông tin Có khả năng nghe được nhiều thông tin từ đối tượng nhận thức thì nhận thức mới có thể đạt đến chiều sâu cần thiết

“Tiếp nhận tác phẩm phải hình dung tưởng tượng, phải phân tích, khái quát và phải nghe được tiếng nói phong phú trong tác phẩm Bạn đọc phân tích cắt nghĩa tác phẩm tức là nghe được những thông tin chứa trong mỗi chi tiết, mỗi hình ảnh, mỗi ngôn từ, thế giới nghệ thuật trong tác phẩm đang vang lên những tiếng nói tự giới thiệu về mình và chờ đợi bạn đọc giao lưu, đối thoại”

1.1.1.3 Đối thoại trong dạy học tác phẩm văn chương

Trong dạy học tác phẩm văn chương, dấu hiệu của sự chuyển hoá thế giới hình tượng nghệ thuật của tác phẩm vào tâm hồn học sinh là sự tự bộc lộ những rung động, cảm xúc, tình cảm trước hình tượng, nhân vật, nội dung tác phẩm “Chỉ khi nào học sinh thực sự tham gia vào quá trình tiếp nhận tác phẩm, thực sự sống với tác phẩm, cùng trăn trở suy ngẫm về những vấn đề đã được định hướng trong tác phẩm, cùng hồi hộp, mong chờ các diễn biến, sự kiện trong tác phẩm, cùng tác giả nếm trải những đoạn đời, những cảnh ngộ, những trăn trở, suy tư, lúc đó quá trình “đồng sáng tạo” mới xuất hiện và vòng đời của tác phẩm: tác giả – tác phẩm – bạn đọc mới được hoàn thiện”

Như vậy, từ một góc độ cụ thể, dạy học sinh tiếp nhận tác phẩm là hướng dẫn học sinh có một sự vận động cảm xúc nội tâm và giúp cho học sinh bộc lộ những rung động, những cảm xúc đó trước thế giới nghệ thuật

Trang 21

Biết nhìn nhận đánh giá theo quan điểm riêng là một biểu hiện của tính tích cực, của sự hình thành cá tính sáng tạo trong lĩnh vực tiếp nhận văn học cũng như trong đời sống học sinh, đồng thời cũng là dấu hiệu của

sự trưởng thành về mặt nhận thức, tư duy, nhân cách ở các em Tuy nhiên, xem xét lại việc giảng dạy tác phẩm văn chương trong nhà trường hiện nay, chúng ta thấy nhu cầu, khát vọng và đặc điểm tâm lí nhận thức riêng của bạn đọc – học sinh chưa được quan tâm Dạy văn chủ yếu mới chỉ quan tâm đến văn bản văn chương, mới chỉ tác động đến nhận thức lí trí mà không rung động được tâm hồn học sinh Trong giờ văn, học sinh lạnh lùng, thờ

ơ với số phận của các nhân vật, xa lạ với nỗi niềm của nhà văn trước số phận con người Đặc biệt, tiếng nói cảm nhận của học sinh, do không

được khuyến khích, động viên, nên hết sức mờ nhạt Đọc Tắt đèn của Ngô

Tất Tố, học sinh chỉ được cảm thụ một chiều: đau đớn với cảnh chị Dậu phải đứt ruột bán đi đứa con gái thân yêu của mình, còn thắc mắc: tại sao chị

Trang 22

23

Dậu không bán mình như Thuý Kiều đã bán mình chuộc cha thì không

được thể hiện; học Đôi mắt của Nam Cao, học sinh chỉ biết phê phán

nhân vật Hoàng theo định kiến, còn những phẩm chất văn hoá rất cao của nhân vật này thì lại bị bỏ qua…

Đối với tiếp nhận văn học, thông qua đối thoại (đối thoại với tác giả, với nhân vật, đối thoại giữa những người đọc…), ý nghĩa tác phẩm nảy sinh và được bộc lộ một cách đích thực, phong phú, sinh động, giàu có; tầm đón nhận ở mỗi người đọc mới có thể thực sự được bổ sung và ngày càng được

mở rộng, phát triển hơn lên Học sinh là người đọc, do vậy khi tiếp nhận văn học, học sinh cũng có những kiến giải, cảm nhận, đánh giá cá nhân và một trong những yêu cầu sư phạm đặc trưng của việc dạy học văn chính là phải quan tâm đúng mức đến những kiến giải, cảm nhận, đánh giá cá nhân đó, tạo điều kiện để chúng được bộc lộ, được lắng nghe, được va chạm với những kiến giải, cảm nhận, đánh giá cá nhân khác, hình thành những cuộc đối thoại giữa những nhận thức, tư tưởng, thái độ, tình cảm, điểm nhìn khác nhau về một vấn đề, từ đó mà có những thao tác lựa chọn, đánh giá, điều chỉnh để tìm ra hướng đi đúng đắn nhất, từng bước phát triển kĩ năng đọc văn, học văn của học sinh đúng với tư cách là người đọc – học sinh

Tổ chức cho học sinh đối thoại trong giờ phân tích tác phẩm văn học chính là quá trình dịch chuyển từ đối thoại trong “cái tôi” sang đối thoại “tôi với người khác”; và xét từ góc độ phương pháp dạy học, đây thực chất là việc tổ chức những văn cảnh để qua đó, tiếng nói, cảm nhận cá nhân của học sinh về tác phẩm được bộc lộ, va chạm với nhau

Tổ chức cho học sinh đối thoại trên lớp không chỉ tạo điều kiện phát triển năng lực cá nhân mỗi học sinh mà còn phát huy vai trò hỗ trợ của tập thể trong học tập khiến cho những vấn đề đưa ra đối thoại được nhìn nhận

đa dạng, phong phú, toàn diện hơn Khi học sinh được tự do phát biểu một

Trang 23

24

cách độc lập, sáng tạo theo cảm nhận cá nhân, giáo viên sẽ có cơ sở và điều kiện để phát huy vai trò chủ thể học sinh trong giờ học, lớp học trở nên sinh động, và việc tiếp thu kiến thức của học sinh trở nên tự nhiên, sâu sắc hơn

Trong quá trình dạy học, đối thoại có thể tiến hành dựa trên ba phương thức cơ bản:

– Đối thoại giữa các quan điểm, các cách hiểu khác nhau của các tầng lớp

xã hội, các thế hệ người đọc, các thời kì lịch sử và các truyền thống văn hoá khác nhau

– Đối thoại giữa các quan điểm, ý thức, giọng điệu, sự lí giải của tác giả, nhân vật và cá nhân người đọc (giáo viên và học sinh);

– Đối thoại bên trong (tự đối thoại) của học sinh

Tất nhiên, để có được những cuộc đối thoại đạt hiệu quả, giáo viên phải xác định được những vấn đề trọng tâm, mở ra những khả năng trả lời

đa dạng, nhiều cách giải thích khác nhau, kích thích khả năng tư duy sáng tạo, thúc đẩy học sinh bộc lộ, phát biểu quan điểm và đối thoại Những tình huống giáo viên nêu ra để học sinh tham gia đối thoại vừa không thoát

li tác phẩm, vừa phù hợp với trình độ tiếp nhận của các em, đồng thời đảm bảo cuộc tranh luận không mất trật tự, và không mất quá nhiều thời gian cho phép Cần tránh những hình thức câu hỏi mà khi trả lời, học sinh chỉ dựa vào những quan niệm và kinh nghiệm đã có hay chỉ trình bày một chiều các luận cứ để khẳng định một kiến giải nào đó Ngoài ra, giáo viên cũng nên dự đoán những tình huống có thể xảy ra trong sự tiếp nhận của học sinh để dẫn dắt, điều khiển cuộc đối thoại sao không cho rơi vào bế tắc

mà luôn đạt tới kết quả theo những con đường hợp lí nhất

Để thoả mãn tất cả những yêu cầu trên, chúng tôi cho rằng điểm then chốt để hình thành những nội dung đối thoại cơ bản trong quá trình đọc hiểu tác phẩm văn chương trên lớp là giáo viên phải giúp học sinh tìm ra và thảo

Trang 24

bài Bánh trôi nước thì điểm chưa xác định là: Bài thơ chỉ viết về bánh trôi

nước hay còn nói còn nói về điều gì sâu sắc hơn nữa, làm sao biết được điều

đó? Đọc bài Mời trầu thì điểm chưa xác định là tại sao mời trầu lại dùng

những lời lẽ như thế, hầu như không giống với lời mời, mời như thế thì ai nhận lời?” ; hoặc tại sao Nguyễn Tuân lại viết hoa chữ “Sông” trong

nhan đề tuỳ bút Người lái đò Sông Đà (phải chăng trong cái nhìn của nhà

văn, sông Đà không chỉ là một con sông bình thường mà còn là một “nhân vật” đặc biệt có cá tính, phẩm chất riêng); tại sao Kim Lân lại đặt tên cho

truyện ngắn của mình là Vợ nhặt chứ không phải Nhặt vợ (phải chăng ở đây

tác giả ngụ ý muốn nói: vợ nhặt cũng là một loại vợ đàng hoàng như bất kì những loại vợ có cưới hỏi khác); có phải ngẫu nhiên không khi trong truyện

ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu lại đặt cho các nhân vật của mình những cái tên như Phùng, Đẩu, Phác (phải chăng Phùng có

nghĩa là gặp gỡ, kết quả của sự tìm kiếm chân lí nghệ thuật, chân lí cuộc sống; Đẩu (cái đấu đong gạo) thể hiện vai trò “cầm cân nảy mực” của một người chánh án; còn Phác là bản tính mộc mạc, chất phác của những người dân quê) Chính giờ dạy học tác phẩm phải tập trung vào những điểm chưa xác định này vì đây sẽ là những chỗ tuy rất hấp dẫn nhưng cũng chính ở đây, học sinh lại thường có những suy nghĩ, suy diễn tầm thường, đơn giản hoặc sai lệch Cũng vì phải tập trung vào những điểm chưa xác định này mà vai trò dẫn dắt, chỉ đạo của giáo viên mới trở nên thực sự quan trọng

Khai thác điểm chưa xác định của văn bản là tiền đề chuyển biến giờ dạy học văn thành giờ đối thoại giữa giáo viên và học sinh, giữa giáo viên

Trang 25

26

với tác phẩm, giữa học sinh với tác phẩm, giữa học sinh với học sinh Quá trình đối thoại này đòi hỏi cả giáo viên và học sinh, cả tác giả và tác phẩm đều trở thành những chủ thể, cùng giao lưu, hợp tác, cùng sáng tạo Không khí giờ học khi đó thực sự là một giờ học dân chủ Mỗi học sinh thực sự là một chủ thể năng động và sáng tạo qua giờ học học sinh không những phát triển cả về năng lực văn học mà còn được phát triển về nhiều mặt như sự bộc lộ nhân cách, sự trau dồi khả năng giao tiếp, mạnh dạn trực tiếp phát biểu ý kiến, tham gia tranh luận, thảo luận vấn đề, được tự do biểu thị thái độ riêng của mình, có tiếng nói riêng của mình trước những vấn đề

do nhà văn – tác phẩm đặt ra, biết lắng nghe và trân trọng trước những ý kiến khác… Với những đặc trưng đó, giờ học đối thoại (và nói rộng hơn: phương pháp đối thoại) là hình thức thích hợp để vận dụng không chỉ đối với riêng việc dạy học môn văn mà còn đối với tất cả các môn học khác, không phải chỉ trong hoạt động dạy học mà còn bao trùm mọi lĩnh vực, quan hệ khác của nhà trường Tuy đều là hoạt động tiếp nhận văn học nhưng tiếp nhận văn học của học sinh trong quá trình dạy học văn ở nhà trường không hoàn toàn đồng nhất với tiếp nhận văn học của đông đảo bạn đọc ngoài xã hội Nếu tiếp nhận văn học ngoài xã hội thể hiện rất rõ tính tự do, độc lập, cá nhân, thậm chí tuỳ hứng thì do văn là một môn học, tiếp nhận văn học trong nhà trường lại mang tính quy định, tính tập thể và luôn diễn ra dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Chính sự khác biệt tinh tế này lâu nay vốn vẫn

là một nghịch lí của hoạt động dạy học văn và do chưa được giải quyết một cách thoả đáng, hữu hiệu nghịch lí đó nên cho đến nay vẫn là một trở ngại làm hạn chế đáng kể chất lượng dạy học văn Với cấu trúc có đủ các yếu tố

cá nhân và tập thể, tự do và có định hướng, cụ thể và khái quát, phát biểu

và lắng nghe… hi vọng rằng việc tổ chức và vận dụng hiệu quả d ạ y h ọ c đối thoại trong giờ văn sẽ góp phần khắc phục những nghịch lí vừa nói vừa đem lại một hình thức mới, một sức sống mới cho một môn học mà

Trang 26

27

tính hấp dẫn vốn có của nó hiện vẫn chưa được khai thác đầy đủ

1.1.2 Những đặc điểm về tâm lý học lứa tuổi và tâm lý tiếp nhận văn chương của học sinh THPT

1.1.2.1 Tâm lý học sinh Trung học phổ thông

Tâm lý học lứa tuổi, người ta xác định lứa tuổi học sinh THPT là tuổi đang bước vào giai đoạn dậy thì, cần phải được nghiên cứu một cách phức hợp, phải kết hợp quan điểm tâm lí học xã hội với việc tính đến những quy luật bên trong của sự phát triển Hoạt động của học sinh trong độ tuổi thanh niên này ngày càng phong phú và phức tạp, nên vai trò xã hội và hứng thú xã hội của thanh niên không chỉ mở rộng về số lượng và phạm vi, mà còn biến đổi cả về chất lượng Hoạt động học tập đòi hỏi tính năng động và tính độc lập ở mức độ cao hơn nhiều, đồng thời cũng đòi hỏi, muốn nắm được chương trình một cách sâu sắc thì cần phát triển tư duy lí luận

Tâm lý học sinh ngày nay dữ dội, mãnh liệt và quyết liệt hơn thế hệ đi trước Do điều kiện sống thay đổi, do được tiếp xúc với rất nhiều kênh thông tin, các em linh hoạt hơn, thực tế hơn, có vốn hiểu biết khá phong phú Các

em đang có sự phát triển tâm lí khá mạnh, cho nên, theo một số nhà tâm lí học thì dạy học phải coi trọng vấn đề phát triển tiềm năng trí tuệ thuộc về chức năng của bán cầu não (bán cầu có chức năng tạo cảm xúc, trực giác, sáng tạo của con người) Theo họ, nếu phát triển thái quá các chức năng của bán cầu não trái như suy luận, phân tích, tính toán mà nền giáo dục hiện đại đang chiếm ưu thế thì sẽ có nguy cơ làm tê liệt tiềm năng sáng tạo của học trò, làm cho các em trở nên thụ động, ít chịu động não để tìm ra giải pháp mới cho vấn

đề bài học đặt ra Họ yêu cầu phải thiết lập lại sự quân bình trong giáo dục bằng cách chú trọng vấn đề phát triển đồng thời cả hai bán cầu não và chú ý thích đáng năng khiếu của từng cá nhân học sinh Một thực tế là: hoạt động học tập của học sinh phổ thông trung học khác biệt rất lớn so với học sinh phổ thông cơ sở Các em đã bắt đầu xác định được động cơ học tập, xác định được

Trang 27

28

cho mình hứng thú tương đối ổn định đối với mỗi môn học, vì thế các em có thái độ học tập tích cực hơn Đây là cơ sở quan trọng thúc đẩy hoạt động sáng tạo của học sinh ở các môn học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng

Thực tế cho thấy, học sinh càng trưởng thành, kinh nghiệm sống ngày càng phong phú, các em càng ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời Do vậy, thái độ có ý thức của các em đối với học tập ngày càng phát triển, đối với các môn học trở nên có sự lựa chọn hơn Ở các em đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp Thực tế này ảnh hưởng nhiều đến tâm lí tiếp nhận văn chương Như chúng ta biết, trong thời đại ngày nay, thời đại công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, mọi ngành nghề đều đòi hỏi con người có kỹ năng, sáng tạo, nhạy bén trong tư duy Kéo theo thực trạng những bộ môn thuộc lĩnh vực Khoa học tự nhiên được “ưa chuộng” và “coi trọng”, những bộ môn Khoa học xã hội bị

“coi nhẹ”, “xem thường”, một trong số đó là bộ môn Ngữ văn Tâm lý xem thường tạo ra lối học “cử tử”, chống đối, học một cách vô cảm, trong khi bộ môn Ngữ văn là bộ môn có nhiệm vụ bồi dưỡng tình cảm

Tuổi học sinh phổ thông trung học cũng là lứa tuổi trí tuệ phát triển mạnh Các em đã ý thức được những việc mà mình làm cũng như xác định được mục đích trong hành động của mình Hoạt động trí tuệ ở lứa tuổi này tăng lên một cách rõ rệt Các em có khả năng ghi nhớ kiến thức và phân hóa những kiến thức đã ghi nhớ rất nhanh Đặc biệt từ những kiến thức ghi nhớ có phần tản mạn các em bắt đầu có khả năng khái quát hóa tổng hợp hóa vấn đề

và có khả năng tư duy trừu tượng “Các em có khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo trong những đối tượng quen biết đã được học hoặc chưa được học ở trường Tư duy của các em chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn Đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triển” Cho nên, không phải bao giờ học sinh trung học phổ thông cũng ngoan ngoãn công nhận những kiến thức mà thầy cô truyền giảng Các em thường

Trang 28

họ Học sinh cảm nhận thực tế xã hội từ kinh nghiệm sống thực từ xóm làng, gia đình, bà con và của chính bản thân với thái độ quan tâm đến thế giới xung quanh mình, với niềm đam mê khám phá kiến thức Các em có khả năng hình thành thế giới quan cho bản thân mình để giúp các em cảm nhận vấn đề trong cuộc sống cũng như trong văn học không phải bằng linh cảm, cảm giác mà bằng quan điểm, chính kiến có hệ thống rõ ràng Chính vì vậy, chúng ta không thể áp dụng lối dạy cũ theo kiểu một chiều “thầy đọc – trò chép” Cách dạy này sẽ dễ khiến học sinh rơi vào tâm lý chán nản, nặng nề đối với bộ môn Ngữ văn Bởi, ở các em đã hình thành những quan điểm riêng trong mọi lĩnh vực, trong quá trình học tập các môn học nói chung, trong lĩnh vực tiếp nhận văn chương và sáng tạo văn bản nói riêng

Ở mỗi con người luôn tiềm ẩn những khả năng sáng tạo vô tận, mỗi con người như một máy tính khổng lồ và khả năng ấy tiềm ẩn ở lứa tuổi thanh niên lại càng lớn Các em học sinh trung học phổ thông bước vào giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên nên hệ thần kinh của các em có sự thay đổi quan trọng Tất cả những thay đổi ấy tạo điều kiện cho sự phát triển của trí thông minh, sáng tạo, cho khả năng phát triển hoạt động phân tích tổng hợp của các

em trong quá trình học tập cũng như trong sự nhận thức về cuộc sống và xã hội L.I.Bojovich viết: “Khác với các em nhỏ tuổi hoàn toàn bị cuốn vào thế giới bên ngoài, học sinh các em lớp lớn trong nhà trường lại cố gắng tìm hiểu

Trang 29

Để có một phương pháp dạy học thích hợp không thể nào không nắm vững tâm lý tiếp nhận văn chương của học sinh, những phản ứng chung và riêng của học sinh với tác phẩm nghệ thuật ở các mức độ của sự phát triển tâm lý lứa tuổi

1.1.2.2 Tâm lý tiếp nhận văn chương của học sinh THPT

Lý thuyết tiếp nhận rất coi trọng vai trò của bạn đọc và mối quan hệ giữa sáng tác và tiếp nhận Bạn đọc vừa là “quan tòa”, vừa là người truyền bá các tác phẩm văn chương có giá trị theo quy luật chọn lựa và phê phán Qua

đó, những tác phẩm thực sự có chất lượng, thực sự ưu tú sẽ còn lại với thời gian

Lý thuyết tiếp nhận chia bạn đọc làm ba loại: bạn đọc thực tế, bạn đọc giả định và người tiếp nhận Học sinh được coi là bạn đọc thực tế và là bạn đọc đặc biệt bởi có cùng trình độ, cùng lứa tuổi, cùng đặc điểm tâm sinh lý Tuy

Trang 30

31

nhiên, chỉ số EQ và IQ của mỗi học sinh là khác nhau dẫn tới khả năng và trình độ học khác nhau Do vậy, tìm ra một phương pháp dạy học hợp lí nhằm nâng cao trình độ tiếp nhận, năng lực văn chương ở học sinh là một điều quan trọng

Tiếp nhận văn chương là một hoạt động của tư duy mang sắc thái cá nhân Quá trình này đòi hỏi người đọc phải tập trung huy động mọi giác quan như tri giác, cảm giác, tưởng tượng, liên tưởng, suy luận, trực giác; đồng thời phải bộc lộ cá tính, thể hiện lập trường xã hội của bản thân Quá trình tiếp nhận thường diễn ra như sau:

- Trước hết người đọc phải biết phá vỡ ngôn ngữ, kết cấu, thể loại… để tri giác, tiếp xúc với thế giới tính thần của tác giả, cảm thụ tác phẩm thông qua các tình tiết, cốt truyện Từ đó hiểu được giá trị của hình tượng trong sự toàn vẹn của nó, cũng như chủ đề tư tưởng và ý đồ sáng tác của tác giả

Đây là giai đoạn quan trọng nhất, đòi hỏi người tiếp nhận phải có một sự rung động, một năng lực cảm thụ nhất định, cũng như phải có những kinh nghiệm, những hiểu biết về văn học nghệ thuật Chính ở giai đoạn này, học sinh dễ hình thành những cảm thụ tản mạn, có khi lệch lạc, có khi các em không khái quát được giá trị tác phẩm mà lại sa vào những chi tiết, tình tiết vụn vặt theo chủ quan đánh giá tác phẩm của mỗi em

- Trong quá trình tiếp nhận, người đọc phát hiện, bổ sung, hoàn chỉnh tác phẩm; làm nổi lên những nét mờ, khắc phục những chỗ bỏ lửng, nhận ra mối liên hệ giữa các phần xa nhau; ý thức được sự chi phối, vận động của chỉnh thể, từ đó có thể tìm ra chiều sâu ý nghĩa của tác phẩm

- Người đọc đưa hình tượng vào đời sống, kinh nghiệm sống của mình để thể nghiệm, nếm trải hoặc đồng cảm

- Tiếp nhận mang khuynh hướng xã hội gắn liền với đời sống thực tế Chính khuynh hướng xã hội làm cho sự tiếp nhận trở nên đầy đủ và sâu sắc hơn

Trang 31

32

Như vậy, có thể thấy quá trình tiếp nhận là một quá trình tâm lí phức tạp vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan Tính chủ quan trong tiếp nhận là một thuộc tính bởi vì quá trình tiếp nhận là quá trình diễn ra trong

tư duy, tình cảm, tâm lý, sinh lý của bạn đọc Nó hoàn toàn phụ thuộc vào thị hiếu của bạn đọc Vì thế có thể cùng một tác phẩm ở mỗi thời điểm khác nhau, một bạn đọc lĩnh hội cũng khác nhau Mặt khác sự tiếp nhận tác phẩm ở mỗi bạn đọc nông sâu cũng khác Điều đó phụ thuộc vào tư chất cá nhân của mỗi người vào trình độ, năng lực tiếp nhận, vào vốn hiểu biết về văn học nghệ thuật, vào nghề nghiệp của họ cũng như vào thời đại xã hội mà

họ đang sống

Tính khách quan trong tiếp nhận thể hiện ở chỗ tác phẩm văn chương

là sản phẩm tinh thần của nhà văn, tồn tại khách quan dưới dạng văn bản, nó mang trong mình lớp nghĩa hiển ngôn và hàm ngôn Tác phẩm văn chương hoàn toàn độc lập với bạn đọc Mặt khác, tính khách quan của tác phẩm còn được quy định bởi nội dung khách quan của tác phẩm văn chương, của hình tượng nghệ thuật Muốn hay không muốn khi sáng tác tác phẩm, nhà văn phải

có sự liên hệ hữu cơ với một trào lưu tư tưởng nhất định và phản ánh vào trong tác phẩm của mình những vấn đề xã hội nhất định

Tuy nhiên, giữa tác giả, tác phẩm và bạn đọc – học sinh bao giờ cũng có những khoảng cách, khoảng cách giữa sự hiểu biết và sự lý giải văn bản ở bạn đọc Khoảng cách đó được các nhà nghiên cứu gọi là khoảng cách thẩm mỹ Các tác phẩm càng lớn thì khoảng cách thẩm mỹ cũng càng lớn Khoảng cách

đó tạo nên sự gián đoạn trong nhận thức

Khoảng cách thẩm mỹ là sự chênh lệch, sự xa cách giữa ý định tác động của tác giả (chủ thể thẩm mỹ) gửi vào văn bản (bản thể thẩm mỹ) với sự tiếp nhận những tác động thực tế của văn bản ở người đọc (chủ thể tiếp nhận) Khoảng cách thẩm mỹ được tạo nên bởi những điều không đoán trước có trong văn bản Chẳng hạn như những câu hỏi bất ngờ mà tác giả đặt ra trong

Trang 32

33

văn bản, hay như những cái mới, cái độc đáo trong tìm kiếm, trong sáng tạo của tác giả cũng như những dự báo tài tình của họ Khoảng cách thẩm mỹ đôi khi xuất hiện khi người đọc bị ngăn trở bởi hàng rào ngôn ngữ, bởi cấu trúc ngữ pháp, bởi kết cấu tác phẩm và đặc trưng thể loại, gây khó khăn hoặc ngăn trở người đọc khi tiếp xúc với văn bản, nhưng không phải đến mức bí hiểm, kinh khủng, không ai hiểu được Muốn khắc phục khoảng cách thẩm mỹ để tiếp nhận được văn bản đó, đòi hỏi người đọc phải trăn trở, vật lộn, tìm kiếm bằng nhiều con đường, nhiều năm, nhiều thế hệ

Trong nhà trường, khoảng cách thẩm mỹ được đo bằng thái độ phản ứng, sự đánh giá của học sinh khi đọc tác phẩm: thích hoặc chán, khen hay chê, đồng tình hoặc phản đối Chính tính mở của tác phẩm tạo thành khoảng cách thẩm mỹ, nhưng khi khoảng cách thẩm mỹ đó được khắc phục thì tầm nhận thức của độc giả sẽ được mở rộng, nâng cao Vì vậy rất cần thiết tìm ra phương pháp dạy học để giờ dạy học văn diễn ra hiệu quả nhất

Trong nhà trường phổ thông, học sinh là bạn đọc đặc biệt Ở mỗi lớp học, cấp học, họ đều có cùng đặc điểm tâm sinh lí, cùng trình độ, họ cũng mang những đặc điểm của quá trình tiếp nhận và họ có những tầm đón nhận riêng do trình độ văn hóa ở mỗi lớp học quy định (tất nhiên cũng có em giỏi hơn và có em kém hơn, nhưng về cơ bản, họ tương đối đồng đều)

Nếu như nhà văn là người sáng tạo nên văn bản văn chương thì người đọc đóng vai trò là người chuyển hóa văn bản đó thành tác phẩm Họ góp phần tạo dựng nội dung ý nghĩa cho tác phẩm văn chương L Tônxtôi đã từng nói: “Mỗi quyển sách đều có số phận riêng của mình trong đầu bạn đọc” “Số phận” của tác phẩm ở mỗi thời đại là khác nhau, bởi nó bị chi phối bởi các điều kiện kinh tế, xã hội, những quan điểm đạo đức, tư tưởng nhân sinh khác nhau Những điều kiện ấy tác động đến nhận thức, thị hiếu thẩm mỹ của mỗi người Mặt khác, tính chủ quan trong tiếp nhận của các thế hệ độc giả sẽ đem lại những cách lí giải khác nhau, cách cảm nhận khác nhau về một hiện tượng

Trang 33

Vì sao có hiện tượng không đồng nhất trong tiếp nhận ở bạn đọc?

Lý do trước tiên là do kinh nghiệm thẩm mĩ, trình độ hiểu biết của học sinh, bởi tác phẩm văn chương là đối tượng nhận thức đặc thù Trong tác phẩm, hiện thực khách quan rộng lớn cùng với những quan niệm của nhà văn được thể hiện qua hệ thống ngôn từ mang tính đa nghĩa, tính phức điệu, qua

hệ thống hình tượng; mà nhiều khi ý nghĩa của hình tượng nghệ thuật lớn hơn

tư tưởng nghệ thuật của tác giả, khiến cho tác phẩm trở nên đa trị Mặt khác,

do ngôn ngữ nghệ thuật có nhiều đặc điểm riêng cho nên mỗi từ ngữ trong tác phẩm thường ẩn tàng nhiều ý nghĩa, gợi sự liên tưởng của người đọc và kích thích trí tưởng tượng đồng sáng tạo nơi họ Vì vậy, để hiểu được một tác phẩm, đòi hỏi người đọc phải phát huy vốn sống và kinh nghiệm thẩm mĩ của

cá nhân mình để có thể rung cảm, đồng cảm với người nghệ sĩ Cho nên, chỉ cần vốn sống, kinh nghiệm sống, kinh nghiệm thẩm mĩ, điều kiện thẩm mĩ, điều kiện sống của học sinh khác nhau là đã dẫn tới sự cảm thụ và tiếp nhận văn bản khác nhau

Trang 34

35

Song, không phải chỉ có kinh nghiệm sống phong phú là đã có đầy đủ điều kiện để hiểu tác phẩm Mỗi học sinh cần có sự kết hợp đồng thời các hoạt động nhận thức, hoạt động tâm lí liên tưởng, tưởng tượng, hồi ức… để

có thể chuyển hóa quá trình tiếp nhận từ hoạt động bên ngoài thành hoạt động bên trong một cách tự giác, để từ đó phát triển trí tuệ, niềm tin, hứng thú, khát vọng… Những hoạt động tâm lí, nhận thức càng mạnh bao nhiêu thì

độ sâu trong cảm nhận về tác phẩm càng sâu sắc bấy nhiêu Song, trên thực

tế vẫn còn hiện tượng học sinh coi những gì tác giả viết trong tác phẩm là chính cuộc đời thật, nên cách đánh giá còn lệch lạc, méo mó Ý thức tiếp nhận của mỗi học sinh không phải lúc nào cũng tích cực như nhau Điều đó tạo nên sự chênh lệch trong tiếp nhận của học sinh, khiến các em có những thái độ khác nhau trong quá trình tiếp nhận cũng như sáng tạo văn bản nói và viết của mình

Nhu cầu đọc, nhu cầu tiếp nhận ở học sinh THPT đã mạnh mẽ, đã rõ tư cách chủ thể khi đối diện với tác phẩm Các em chuyển từ cơ chế đọc còn thụ động ở THCS sang cơ chế đọc chủ động ở THPT song song với quá trình phân tích tổng hợp diễn ra trong lao động đọc Qua đọc, với kỹ năng được thầy hướng dẫn, phần lớn học sinh thâm nhập được vào cấp độ nội dung hình tượng Sức tổng hợp khái quát của các em có khi chưa đạt độ sâu cần thiết Nhưng cũng từ đây, đôi khi xuất hiện những cách cảm thụ bất ngờ sáng tạo Biểu hiện bề mặt, sức tiếp nhận của học sinh THPT kiểm nghiệm được bằng những chỉ số qua các kỳ thi hoặc kiểm tra Phần kiểm nghiệm này được thiên

về vốn văn hoá và nó liên tục được bồi đắp qua từng học trình

Các em có khả năng tiếp thu nhanh, dễ đồng cảm, dễ điều chỉnh tầm đón nhận nhưng cũng thiếu hụt một độ sâu, độ ghi nhớ cần thiết và nhất

là thiếu kinh nghiệm thẩm mỹ - một dữ liệu cho khả năng sáng tạo Nguyên nhân có thể do sự khác nhau của học sinh về mặt xã hội như nguồn gốc xuất thân, học vấn, trình độ thẩm mỹ, hiểu biết chung về văn học nghệ thuật,

Trang 35

36

nguồn tài liệu được tiếp xúc Nó còn do tính cá thể, cụ thể của từng em như cá tính, thiên hướng, đời sống tâm lí và đặc biệt là thị hiếu, nhu cầu thẩm mỹ, lí tưởng thẩm mỹ

Học sinh THPT tuy có điểm xuất phát ban đầu tương đối đều nhau nhưng dần dần bị phân lập thành các nhóm bộ môn hoặc chuyên ban khoa học

tự nhiên, khoa học xã hội Chúng ta chấp nhận khoảng cách đó trong dạy văn với một lưu ý rằng: Cần kích thích, khuyến khích sự sáng tạo trong mỗi cá nhân ; đi đôi với ngăn ngừa, hạn chế những liên tưởng tản mạn (đôi khi cười

ra nước mắt) ngoài tác phẩm Vì thế, giáo viên cần phải có những phương pháp dạy học thích hợp để hoạt động học của học sinh đạt được hiệu quả cao, vừa đảm bảo tính khoa học khách quan, vừa phát huy được tính chủ quan sáng tạo của học trò

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Nguyễn Du, Truyện Kiều và việc dạy học tác gia, tác phẩm

Nguyễn Du là một trong những tác gia lớn trong giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của văn học cổ điển nước ta Với kiệt tácTruyện Kiều, Nguyễn

Du đã đưa thơ ca dân tộc lên một đỉnh cao mới Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều dựa trên cốt truyện từ Thanh Tâm Tài Nhân của Trung Quốc Dựa theo tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân không phải vì Nguyễn Du bí đề tài hay

không đủ trình độ mà đó là một hình thức “tập cổ” – một cách thể hiện tài

năng Kim Vân Kiều truyện là một cuốn tiểu thuyết chương hồi nhưng Truyện Kiều của Nguyễn Du là một tác phẩm truyện thơ trong đó các nhân vật, tình tiết, ngôn ngữ mang đậm đặc điểm, sắc màu Việt Tuy hệ thống nhân vật trong Truyện Kiều vẫn được giữ nguyên như trong Kim Vân Kiều truyện nhưng với sự nhạy bén và tinh tế của Nguyễn Du các nhân vật hiện lên thật sinh động và có chiều sâu tâm lí được thể hiện độc đáo, đa dạng: Thúy Kiều, Hoạn Thư…; từ đó tạo điều kiện để các nhân vật bộc lộ tâm trạng Mượn hệ thống nhân vật từ một tác phẩm rồi từ đó xây dựng một hệ thống nhân vật

Trang 36

37

chân thật mang đậm quan điểm nhân văn là một bước thành công mới so với cách xây dựng nhân vật của các tác giả đương thời: Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu…

Truyện Kiều từ cốt truyện, tình tiết, phong tục, phong cảnh đều là của Trung Quốc nhưng không phải Trung Quốc Nguyễn Du sáng tác truyện Kiều dưới sự nhìn nhận bằng chính cái nhìn của người Việt Nam, cảm nhận nó bằng tâm thức của người Việt (cô Kiều của Nguyễn Du sống nội tâm, cách nhìn và giải quyết vấn đề nhân văn hơn cô Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân) Đồng thời ông cũng thừa nhận, sử dụng cái chung cái chuẩn phổ biến của nhân loại để đánh giá vấn đề, ông không đối lập dân tộc với nhân loại các quan niệm về chữ hiếu, cái đẹp, cái ác, nhân nghĩa… chính vì thế mà ông đã phát hiện và thể hiện thành công cái bản chất Việt Nam từ trong truyện của Thanh Tâm Tài Nhân

Truyện Kiều đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hoá Việt Nam Nhiều nhân vật trong Truyện Kiều trở thành điển hình cho những mẫu người trong xã hội, mang những tính cách tiêu biểu như Sở Khanh, Hoạn Thư, Từ Hải Khả năng khái quát của nhiều cảnh tình, ngôn ngữ, trong tác phẩm khiến cho quần chúng tìm đến Truyện Kiều, như tìm một điều dự báo Bói Kiều rất phổ biến trong nhân dân Ca nhạc dân gian có dạng Lẩy Kiều Sân khấu dân gian có trò Kiều Hội họa có nhiều tranh Kiều Thơ vịnh Kiều nhiều không kể xiết Giai thoại xung quanh cũng rất phong phú Tuồng Kiều, cải lương Kiều, phim Kiều cũng ra đời Nhiều câu, nhiều ngữ trong Truyện Kiều đã lẫn vào kho tàng ca dao, tục ngữ Từ xưa đến nay, Truyện Kiều đã

là đầu đề cho nhiều công trình nghiên cứu, bình luận và những cuộc bút chiến Ngay khi Truyện Kiều được công bố (đầu thế kỷ XIX) ở nhiều trường học của các nho sĩ, nhiều văn đàn, thi xã đã có trao đổi về nội dung

và nghệ thuật của tác phẩm Đầu thế kỷ XX, cuộc tranh luận về Truyện Kiều càng sôi nổi, quan trọng nhất là cuộc phê phán của các nhà chí sĩ Ngô

Trang 37

Trải qua bao lần thay đổi, cải cách chương trình phổ thông, Nguyễn Du

và Truyện Kiều vẫn được học với tư cách là một tác gia lớn, một tác phẩm bất hủ Trong các tác gia trung đại, Nguyễn Du bao giờ cũng có một sự ưu ái đặc biệt.Từ bậc tiểu học các em học sinh đã được tiếp cận các câu Kiều, bậc THCS được tiếp xúc nhiều hơn với các đoạn trích, sang đến bậc THPT, một lần

nữa các em lại được học tác giả Nguyễn Du cùng bốn đoạn trích : Trao duyên;

Nỗi thương mình; Thề nguyền; Chí khí anh hùng Điều đó cho thấy được tầm

quan trọng và sức hấp dẫn lan tỏa của Truyện Kiều trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam

Với những đóng góp vĩ đại của mình, năm 1965, Nguyễn Du chính thức được Nhà nước làm lễ kỷ niệm tôn vinh, tưởng nhớ; Hội đồng hoà bình thế giới ghi tên ông trong danh sách những nhà văn hoá thế giới Nhà lưu niệm Nguyễn Du được xây dựng ở làng quê ông xã Tiên Điền Trường viết văn đào tạo những cây bút mới được mang tên ông

Trang 38

39

1.2.2 Những thuận lợi và khó khăn khi dạy học Truyện Kiều ở phổ thông hiện nay

1.2.2.1 Thuận lợi

Về phía tác phẩm : Ngay từ khi ra đời, Truyện Kiều đã trở thành món

ăn tinh thần của mỗi người dân Việt Nam Nói như vậy cũng có nghĩa chúng

ta đang đề cập đến tính phổ biến của Truyện Kiều đối với mọi tầng lớp nhân dân Truyện Kiều được sáng tác bằng chữ Nôm, một loại chữ đã trở thành công cụ không thể thiếu được trong việc diễn đạt tư tưởng, trí tuệ cũng như tình cảm của ông cha ta các thời đại trước Giữa chữ Nôm và chữ quốc ngữ mặc dù có khoảng cách về văn tự nhưng lại rất gần gũi nhau về ngữ âm Nếu như trước đây chúng ta dùng chữ Nôm để ghi lại Truyện Kiều thì ngày nay chúng ta cũng dùng chữ quốc ngữ để ghi lại Truyện Kiều mà âm điệu, giọng điệu vẫn giữ nguyên, không có gì thay đổi Điều đó làm cho độc giả dễ dàng nắm bắt được tư tưởng, nội dung, ý nghiaz nghệ thuật của tác phẩm

Truyện Kiều được sáng tác bằng thể thơ lục bát Một thể thơ dễ đọc, dễ nhớ Đã là người Việt Nam thì ít nhất ai cũng thuộc vài ba câu Kiều Thậm chí có những người không biết chữ, nhưng vẫn thuộc hết cả Truyện Kiều, còn

kể lại cho người khác nghe Là một câu chuyện nhưng Truyện kiều lại được viết theo thể trữ tình (hàm súc, cô đọng) cho nên đối với học sinh, khi tiếp cận với Truyện Kiều dù chỉ là các đoạn trích nhỏ nhưng các em vẫn dễ dàng nắm bắt được nội dung của tác phẩm

Một điểm nữa, không thể không nhắc đến đó là tư tưởng mới của Nguyễn Du được đề cập trong Truyện Kiều rất phù hợp với tư tưởng của người công dân trong thời đại mới Với quan niệm của các nhà Nho xưa, phụ

nữ chịu ràng buộc bời “tam tòng, tứ đức”, nhưng Nguyễn Du đã phá đổ quan niệm ấy, ông giới thiệu về nàng Kiều, một người đẹp giỏi “cầm, kỳ, thi, họa” kiêm thạo cả “tửu” Nhà thơ lỗi lạc ấy đã muốn giải phóng phụ nữ, giới thiệu phụ nữ đi vào nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.Ông đưa ra những quan điểm về tự do, bình đẳng Đó là những điều mà xã hội hiện đại đã, đang và

Trang 39

40

luôn hướng tới Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở đó qua nhân vật Kiều, Nguyễn Du còn khẳng định con người phải sống đúng giá trị làm người Nguyễn Du đã để Kiều phấn đấu với 15 năm đoạn trường Triết lý ở đây là con người sống để xây dựng các giá trị, chứ không phải vì các giá trị mà hy sinh con người

Xây dựng nhân vật Từ Hải, Nguyễn Du muốn đem đến cho người đọc một triết lý về sự công bằng trong xã hội Sự xuất hiện của nhân vật anh hùng

Từ Hải như là sự xuất hiện của một tòa án nhân dân xử các tội phạm phong kiến và các tội phạm do chế độ phong kiến bệ rạc đẻ ra Ông đã nói lên khát vọng thống thiết về một xã hội nhân bản, hợp lý dựng xây trên công bằng, nhân ái, trên nền tảng giá trị con người vì hạnh phúc cao cả của mọi người

Thứ hai là về phía nhà trường: Nhìn chung, cơ sở vật chất trong các nhà trường phổ thông hiện nay đã được quan tâm và nâng cấp Hệ thống mạng internet, máy chiếu được trang bị ở hầu hết các phòng học, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên và học sinh có thể trao đổi bàn bạc những vấn đề đặt ra trong tác phẩm một cách dễ dàng, chính xác và khách quan hơn

Tiếp nữa là chúng ta có những đội ngũ giáo viên yêu nghề, tâm huyết với nghề, say mê học hỏi, tìm tòi những kiến thức Các câu lạc bộ văn thơ

do tổ chuyên môn được xây dựng trong trường nhằm thúc đẩy, khám phá những tài năng Đồng thời cũng là cơ hội cho các em học sinh bộc lộ những suy nghĩ của bản thân, điều nay sẽ phát huy được sức sáng tạo tiềm ần trong tâm hồn mỗi cá nhân

1.2.2.2 Khó khăn

Khó khăn đầu tiên đó là mối tương quan văn hóa giữa hai thời kì Bối cảnh văn hóa trong Truyện Kiều rộng lớn bao gồm mọi phương diện nhân sinh quan Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, nhân sinh quan dân gian…Tư tưởng trong Truyện Kiều ít nhiều cũng chịu ảnh hưởng của đạo Nho, đạo Phật…Chẳng hạn như tư tưởng thiên mệnh, ý thức bảo tồn gia đình, đến tư

Trang 40

41

tưởng nhân ái, coi trọng lòng trắc ẩn, lương tâm, coi nhân loại là nhất thể, coi trọng sự sống…Cho đến nay, trải qua gần hai thế kỉ, xã hội cũng có nhiều thay đổi, con người trong xã hội mới được tiếp cận với những giá trị mới Thế

kỉ XXI là thế kỉ của sự bùng nổ công nghệ thông tin, của nền kinh tế thị trường Chính vì vậy, những ngành thuộc về xã hội, về tâm lý học…ít được quan tâm Điều này tác động phần nào đến tâm sinh lý của các em học sinh, các em nhạy cảm trước những vấn đề kinh tế, thời sự…nhưng lại ít quan tâm đến việc gìn giữ, bảo tồn những giá trị văn hóa, giá trị đạo đức Khoảng cách văn hóa giữa hai thời đại đã gây trở ngại ít nhiều đến tâm lý tiếp nhận của học sinh ngày nay

Như đã biết, Truyện Kiều tiếp thu hệ thống nhân vật của Kim Vân Kiểu truyện Trong tác phẩm , các điển tích Trung Quốc chiếm số lượng lớn Để giải nghĩa, hiểu được tất cả các điển tích ấy không phải dễ dàng với đối tượng học sinh lớp 10 Bối cảnh không gian được xây dựng trong tác phẩm cũng là không gian Trung Quốc, nhưng nhân vật lại mang tâm lý, tâm trạng, cảm xúc của người Việt Nam Điều này gây khó khăn không nhỏ trong việc dạy học Truyện Kiều ở phổ thông hiện nay

Nếu chỉ dừng lại ở việc đọc hiểu nội dung Truyện Kiều một cách đơn thuần thì đó chưa phải là giá trị đích thực của một kiệt tác Điều cần nói ở đây

là trong các đoạn trích Truyện Kiều, người giáo viên phải làm thế nào để định hướng cho học sinh của mình khai thác đúng nội dung trọng tâm, nắm bắt được tư tưởng tác phẩm Độ tuổi học sinh lớp 10 có nhiều thay đổi vê tâm sinh lý Các em mới đang bắt đầu bước vào lứa tuổi trưởng thành, độ mềm dẻo trong tiếp nhận còn nhiều hạn chế Vì thế, vai trò định hướng khơi gợi cảm xúc của người giáo viên là vô cùng cần thiết Làm thế nào để nắm bắt được tâm lý các em? Làm thế nào để các em có thể bộc lộ những suy nghĩ của mình? Dạy học đối thoại sẽ giúp người giáo viên trả lời được những thắc trên

Ngày đăng: 26/09/2020, 00:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w