Theo các tác giả trong cuốn “Đề án giảng dạy, học tập ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam giai đoạn 2007 - 2015”, thì “ngoài việc nắm bắt các kiến thức mới thì việc học
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
***********
NGUYỄN THẾ
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
CƠ SỞ Ở HUYỆN TAM DƯƠNG -VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI- 2009
Trang 2Môc lôc
Ch-¬ng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY
HỌC NGOẠI NGỮ TẠI CÁC TRƯỜNG THCS TRONG GIAI
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.2.1 Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 9
1.3 Dạy học Ngoại ngữ nói chung và dạy học Tiếng Anh ở THCS 24
1.3.2 Những đặc điểm của hoạt động dạy học Ngoại ngữ 27 1.4 Quản lý dạy học môn Tiếng Anh ở trường THCS trong giai đoạn
Trang 3Tiểu kết chương 1 42
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
TIẾNG ANH TẠI CÁC TRƯỜNG THCS Ở TAM DƯƠNG -
2.1 Vài nét về tình hình kinh tế xã hội ở huyện Tam Dương -
2.1.1 Khái quát về kinh tế - xã hội của huyện Tam dương - Vĩnh Phúc 43
2.1.2 Thực trạng giáo dục THCS ở huyện Tam Dương- Vĩnh - Phúc 44 2.2 Thực trạng dạy và học Tiếng Anh ở các trường THCS ở Tam
2.2.1 Thực trạng giảng dạy Tiếng Anh của các GV 47 2.2.2 Thực trạng học tập môn Tiếng Anh của HS 55 2.2.3 Thực trạng quản lý công tác tổ chức thi, kiểm tra và đánh giá
2.2.4 Thực trạng quản lý thiết bị dạy học, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ
hoạt động dạy học bộ môn Tiếng Anh trong các nhà trường THCS ở Tam
2.3 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn
Tiếng Anh tại các trường THCS ở Tam Dương - Vĩnh Phúc 65
Chương 3 : CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY
HỌC BỘ MÔN TIẾNG ANH TẠI CÁC TRƯỜNG THCS Ở
HUYỆN TAM DƯƠNG - VĨNH PHÚC
69
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 70
3.2 Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn
Tiếng Anh tại các trường THCS ở Tam Dương- Vĩnh Phúc
71 3.2.1.Biện pháp 1: Đổi mới quan điểm nhận thức về dạy học và quản lý
Trang 4dạy học môn Tiếng Anh 71 3.2.2 Biện pháp 2 : Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Anh 75 3.2.3 Biện pháp 3: Bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ cho đội ngũ GV Tiếng Anh
79 3.2.4 Biện pháp 4: Chỉ đạo hoạt động tổ chuyên môn (Tiếng Anh) 81 3.2.5 Biện pháp 5: Bồi dưỡng phương pháp học cho HS 83 3.2.6 Biện pháp 6: Huy động và sử dụng hợp lý phương tiện kỹ thuật
phục vụ cho việc dạy học môn Tiếng Anh nói riêng
85 3.2.7 Biện pháp 7: Đổi mới công tác QL kiểm tra, thi và đánh giá kết
quả học tập của HS ở mônTiếng Anh
86
3.4 Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 89
Trang 5DANH TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
QLGD Quản lý giáo dục QTDH Quá trình dạy học THCS Trung học cơ sở
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hơn bao giờ hết thế giới ngày nay đang chứng kiến sự biến đổi vô cùng
to lớn của xã hội loài người với đặc trưng là : Toàn cầu hoá, công nghệ thông tin,
xã hội học tập Có thể nói, sự toàn cầu hoá, sự đổi mới công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và nhu cầu học tập suốt đời đã thôi thúc và giúp chúng ta tổ chức lại một cách cơ bản đời sống xã hội, đưa loài người đến một nền kinh tế trí thức, bước vào nền văn minh trí tuệ Sự biến đổi này đang có những tác động không nhỏ đến sự phát triển giáo dục Trong bối cảnh này, giáo dục phải vừa đảm bảo nhiệm vụ đào tạo những công dân tốt cho đất nước, vừa đảm bảo đào tạo con người trở thành những thành viên tốt của cộng đồng nhân loại
1.1 Thế kỷ XXI - Thế kỷ của nền kinh tế tri thức Các quốc gia trên thế giới đều
xác định được rằng giáo dục là quốc sách hàng đầu Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển của đất nước mình
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định để đi tắt đón đầu từ một đất nước kém phát triển thì vai trò giáo dục, khoa học và công nghệ lại càng có tính quyết định Giáo dục phải đi trước một bước, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển
dân trí xã hội cho đất nước
Nhận thức rõ được bối cảnh và xu thế phát triển của thời đại ngày nay, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta đã xác định mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001-2010) là: “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường, thể chế kinh tế thị trường
Trang 72
định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản, vị thế của nước ta trên
trường quốc tế được nâng cao…”[3, tr 71]
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc dạy học Ngoại ngữ trong các nhà trường Tiếng Anh là một trong những Ngoại ngữ bắt buộc được đưa vào dạy học ở nhiều bậc học khác nhau trong hệ thống Giáo dục quốc dân
Theo các tác giả trong cuốn “Đề án giảng dạy, học tập ngoại ngữ trong
hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam giai đoạn 2007 - 2015”, thì “ngoài việc
nắm bắt các kiến thức mới thì việc học NN có vai trò quan trọng, là công cụ cần thiết để có thể giao lưu với thế giới bên ngoài.” và “thực tế cho thấy càng biết nhiều Ngoại ngữ càng mở rộng tầm hiểu biết về văn hoá và tìm hiểu những tri thức mới của các nước tiên tiến.” ngoài ra các tác giả còn cho rằng:
“bên cạnh việc học NN, phải tạo điều kiện để sử dụng NN, vì nếu không có môi trường sử dụng thì NN cũng nhanh chóng bị mai một ” v v [ 2, tr 226 ]
Ngoại ngữ nói chung và Tiếng Anh nói riêng được coi là điều kiện tiên quyết, là một công cụ, phương tiện đắc lực và hữu hiệu trong quá trình hội nhập
và phát triển Vấn đề Ngoại ngữ đã trở nên cấp thiết hơn và quyết liệt hơn trong những năm gần đây
Trong báo cáo của Chính phủ về tình hình giáo dục của nước ta đã nêu một cách khái quát các nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp nhằm phát triển giáo dục vững chắc và mạnh mẽ hơn trong thời gian tới Một trong những nhiệm vụ, giải pháp đó
là đổi mới việc dạy và học Ngoại ngữ trong hệ thống Giáo dục quốc dân, cụ thể: Đổi mới việc dạy và học Ngoại ngữ trong hệ thống Giáo dục quốc dân theo hướng cung cấp cho thế hệ trẻ một phương tiện giao tiếp, học tập và làm việc hữu hiệu trong môi trường đa ngôn ngữ của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã có
Đề án giảng dạy, học tập Ngoại ngữ trong hệ thống Giáo dục quốc dân Việt Nam
giai đoạn 2004 - 2015 (Dự thảo 9/2004)
Trang 83
Trong xu thế chung đó, nước ta đặt trên vai ngành Giáo dục - Đào tạo, cụ thể là các Trường THCS trong cả nước, có nhiệm vụ phải đào tạo thế hệ trẻ vừa có đạo đức tốt, có kiến thức giỏi, vừa thạo Ngoại ngữ Chính vì vậy việc học Ngoại ngữ nói chung, dạy học Tiếng Anh nói riêng vừa là xu hướng tất yếu, vừa là một nhiệm vụ của các nhà trường THCS hiện nay
1.2 Thực tế cho thấy việc dạy học Tiếng Anh ngày nay ở nước ta đang phát triển với
nhiều thuận lợi Số lượng người có nhu cầu học ngày càng tăng; Hệ thống tài liệu dạy học phong phú; Các trang thiết bị hỗ trợ dạy học đa dạng, hiện đại vv Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những khó khăn, bất cập trong thực tế dạy học bộ môn này Người dạy, người học còn lúng túng trong việc lựa chọn những tài liệu, phương pháp, phương tiện dạy học hữu hiệu nhất
Các nhà quản lý giáo dục chưa tìm được hình thức và phương pháp quản lý hiệu quả tốt nhất đối với quá trình dạy học bộ môn Tiếng Anh, việc quản lý dạy học bộ môn này ở các trường THCS ở huyện Tam Dương- Vĩnh Phúc trong thời gian qua đã đạt được những thành quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế như nhận thức về tầm quan trọng, ý thức trách nhiệm, động cơ học tập trong dạy
và học Tiếng Anh ở các nhà trường chưa cao; Thời gian đầu tư cho dạy học và nghiên cứu tài liệu chưa hợp lý; Trang thiết bị cho dạy học chưa được chú tâm nhiều, việc bảo quản và sử dụng chúng cũng không được khoa học, hiệu quả; Việc quản lý các khâu trong quá trình dạy học bộ môn còn lỏng lẻo
1.3 Là một giáo viên giảng dạy môn Tiếng Anh tại địa phương huyện Tam
Dương - Vĩnh Phúc, bản thân tôi nhận thấy việc nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại các trường THCS ở huyện Tam Dương-Vĩnh Phúc nhằm tìm ra các biện pháp có hiệu quả và khả thi để khắc phục những hạn chế, khó khăn trong công tác quản lý hoạt động dạy học bộ môn, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của các nhà trường THCS trên địa bàn này là rất cần thiết Song để đảm bảo và nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Anh, tôi nghĩ cần phải đánh giá đúng thực trạng, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch
Trang 94
dạy học và các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh khả thi, tạo nên sự đổi mới trong việc dạy học Ngoại ngữ nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và phát triển đất nước
Vì thế tôi chọn đề tài “BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN TAM DƯƠNG -VĨNH PHÚC ” với hy vọng xây dựng một hướng đi đúng để đưa bộ môn Tiếng Anh của các Trường THCS trong huyện Tam Dương-Vĩnh Phúc lên một vị thế mới đáp ứng được các nhu cầu phát triển chung của sự nghiệp giáo dục nước nhà
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy
học môn Tiếng Anh tại các trường THCS ở huyện Tam Dương-Vĩnh Phúc
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động dạy học bộ môn Tiếng Anh tại các trường THCS ở huyện Tam Dương-Vĩnh Phúc
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý việc dạy học bộ môn Tiếng Anh tại các trường THCS ở huyện Tam Dương-Vĩnh Phúc
4 Giả thuyết khoa học
Chất lượng dạy học môn Tiếng Anh tại các trường THCS ở huyện Tam Dương - Vĩnh Phúc còn nhiều hạn chế Nếu xây dựng và áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo và đồng bộ các biện pháp quản lý mang tính hệ thống có khả thi
và hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn học này
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động dạy học môn
Tiếng Anh
5.2 Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý và hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại các trường THCS ở huyện Tam Dương-Vĩnh Phúc
Trang 105
5.3 Nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn
Tiếng Anh tại các trường THCS ở huyện Tam Dương-Vĩnh Phúc
6 Phạm vi nghiên cứu
* Do những hạn chế về điều kiện công tác và thời gian thực hiện luận
văn, nên đề tài chỉ thực hiện các nội dung sau :
Nghiên cứu một số vấn đề về lý luận và thực trạng các biện pháp quản lý́ hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại các trường THCS ở Tam Dương - Vĩnh Phúc
Đề xuất một số biện pháp quản lý phù hợp đối với hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại các trường THCS ở Tam Dương - Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý ̣ bộ môn
Khảo sát thực trạng trên đối tư ợng là giáo viên (GV) giảng dạy b ộ môn, cán bộ (CB) quản lý của các trư ờng THCS , cán bộ Phòng Giáo dục ở Tam Dương - Vĩnh Phúc và học sinh (HS) thuộc các đối tượng trên ; đồng thời tiếp
nhận những ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm về bô ̣ môn
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu văn kiện, văn bản và tài liệu có liên quan để xây dựng cơ sở
lý luận chủ yếu của đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm (tổng kết, đánh giá thực trạng dạy học và QL việc dạy học môn Tiếng Anh tại các trường THCS ở Tam Dương -Vĩnh Phúc )
- Quan sát, trò chuyện, phỏng vấn lấy ý kiến các chuyên gia, GV và HS
- Điều tra bằng phiếu hỏi (gồm CBQL, GV và HS);
- Nghiên cứu trường hợp, sản phẩm (các bài thi, kiểm tra v v );
- Phân tích và tổng kết
Trang 116
7.3 Phương pháp thống kê toán học
8 Đóng góp của đề tài :
Đề tài “BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN
TIẾNG ANH TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN TAM
DƯƠNG -VĨNH PHÚC ” đề xuất một số biện pháp khả thi nhằm góp phần
quản lý tốt hơn hoạt động dạy học Tiếng Anh tại các trường THCS huyện Tam Dương-Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay qua đó nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn Tiếng Anh của các nhà trường nói riêng và công tác giáo dục và đào tạo của nhà trường nói chung
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục , nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học Ngoại ngữ tại các
trường THCS
Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động dạy học Tiếng Anh tại các
trường THCS ở Tam Dương - Vĩnh Phúc
Chương 3: Các biện pháp quản lí dạy học bộ môn Tiếng Anh tại các trường THCS ở Tam Dương - Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay
Trang 127
Chương 1
CƠ S Ở L Ý L UẬ N V Ề Q UẢ N L Ý H OẠT Đ ỘN G DẠ Y H Ọ C
NGOẠI NGỮ TẠI CÁC TRƯỜNG THCS 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Thực tế đã chứng minh rằng qua bao thế kỷ của lịch sử nhân loại con người đã thấy được ích lợi của quản lý (QL) Nhờ có QL mà xã hội loài người đã tồn tại và phát triển với biết bao thành tựu đáng ghi nhớ Cùng với sự phát triển
đó, các tư tưởng QL cũng xuất hiện, hình thành và phát triển theo: Trên thế giới, trong nước; cả trong lĩnh vực kinh tế, chính trị và đặc biệt là giáo dục Ngày nay được sự quan tâm đầu tư nghiên cứu vấn đề QL nói chung, QL giáo dục nói riêng
mà đặc biệt là QL giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành công bước đầu rất đáng tự hào Nhiều công trình nghiên cứu về QL giáo dục của các tác giả ở nước
ta đã và đang được những thế hệ sau phổ biến, kế thừa và phát triển Trong đó phải kể đến những tác giả nổi tiếng như: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Cảnh Toàn, Đặng Bá Lãm, Vũ Ngọc Hải, v v
Ngày nay, thế giới đang tồn tại và phát triển trong muôn vàn mối quan hệ chằng chéo giữa các nước khác nhau trong tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, khoa học, kĩ thuật, văn hoá, giáo dục v.v
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và xu thế hội nhập quốc tế, sự hiểu biết thông qua tiếng nói của nhau đã trở thành một điều kiện không thể thiếu được để phát triển các mặt hoạt động kể trên của mỗi đất nước Do đó việc dạy học Ngoại ngữ nói chung và việc đưa tiếng nước ngoài vào chương trình giáo dục phổ thông nói riêng đang là một nhu cầu cấp bách của mỗi quốc gia
Nhận thức được tầm quan trọng của Ngoại ngữ, từ cuối những năm 60, đầu những năm 70, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến dạy học Ngoại ngữ trong các nhà trường và đã có nhiều chỉ thị đẩy mạnh việc dạy, học Ngoại ngữ trong hệ thống Giáo dục quốc dân nước ta nhằm đáp ứng được nhu cầu của xã hội
Trang 13về vai trò của giáo dục, định hướng phát triển giáo dục, vai trò của QL và QLGD… làm nền tảng cho nền lý luận giáo dục Cách mạng Việt nam
Dạy và học là một trong những hoạt động trọng tâm của nhà trường Do tính chất quyết định của nó đối với sự thành bại của nhà trường nên việc QL hoạt động dạy học đóng vai trò rất quan trọng trong công tác QL của nhà trường Đối với môn Ngoại ngữ, các trường phổ thông của Việt nam vào học môn Tiếng Anh, Tiếng Pháp, Tiếng Trung,…trong đó Tiếng Anh chiếm hơn 90% số lượng học sinh theo học Đây là môn học có nhiều tiết học trong tuần (3 đến 4 tiết/tuần), Ngành giáo dục cũng đã đầu tư rất lớn về cơ sở vật chất , thiết bị dạy học ngoại ngữ điều đó chứng tỏ Nhà nước ta rất quan tâm, chú trọng đến bộ môn Ngoại ngữ Đối với học sinh, sinh viên Việt nam, Ngoại ngữ có một ý nghĩa đặc biệt vì nước
ta đang trong bối cảnh hợp tác, quan hệ, hội nhập quốc tế ngày càng mở rộng Biết ngoại ngữ không những để vượt qua các kỳ thi bắt buộc, để đáp ứng yêu cầu tất yếu của lao động có kỹ thuật cao với các quy trình công nghệ thường xuyên được đổi mới, mà còn là một năng lực cần thiết đối với người Việt nam hiện đại Gần đây có một số đề tài nghiên cứu công tác QL hoạt động dạy học Tiếng Anh nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học của bộ môn này trong nhà trường, có thể nêu ra một số tác giả và đề tài sau:
Một số biên pháp quản lý hoạt động dạy học Ngoại ngữ của chủ nhiệm bộ môn trường Cao đẳng sư phạm TW của tác giả Bùi Phi Yến, trường Đại học sư phạm Hà nội (năm 2006)
Trang 149
Biện pháp quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở quận Hoàn kiếm - Hà nội của tác giả Nguyễn Thị Mai Anh, Trường Đại học sư phạm Hà nội (năm 2007)
Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngoại ngữ cho sinh viên hệ chính quy tại Học viện hành chính Quốc gia của tác giả Trương Thị Thu Thuỷ, Khoa sư phạm trường Đại học Quốc gia - Hà nội (năm 2008)
Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh ở các trường Trung học phổ thông quận lê chân - Thành phố Hải phòng của tác giả Nguyễn Thị Bình, Khoa sư phạm trường Đại học Quốc gia - Hà nội (năm 2008)
Các công trình nghiên cứu trên đã góp phần nêu bật được những tồn tại, khó khăn
và bất cập về nội dung chương trình, phương pháp dạy học môn Tiếng Anh và cả
QL dạy học Tiếng Anh hiện nay Các công trình trên cũng đã đề xuất được nhiều biện pháp QL dạy học Tiếng Anh hiệu quả và thiết thực.Tuy nhiên do nội dung chương trình Tiếng Anh THCS chỉ mới được thực hiện, chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào QL hoạt động dạy học môn Tiếng Anh hiện nay Chính
vì vậy, việc nghiên cứu công tác QL hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở các trường THCS ngày càng trở nên cấp thiết
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là sự tác động có định hướng, mang tính hệ thống, được thực hiện có ý thức, có tổ chức của chủ thể QL lên đối tượng QL, bằng cách vạch
ra mục tiêu của tổ chức đồng thời kiếm tìm các biện pháp, cách thức tác động vào tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra
Theo C.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản suất khác với sự vận động của
Trang 15* Quan niệm về quản lý của các tác giả Việt nam
- Theo PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS Nguyễn Quốc Chí định nghĩa về quản lý như sau: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một
tổ chức- nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích tổ chức” Hiện nay, khái niệm này được định nghĩa một cách rõ hơn: "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng)
kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra." [11, tr.1]
Theo GS Nguyễn Văn Lê định nghĩa quản lý như sau: "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu
đã dự kiến." [24, tr.34]
Khái niệm về quản lý được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau song
có thể hiểu quản lý là hoạt động có mục đích của con người và quản lý chính
là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn
Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Quản lý mang tính khoa học vì các hoạt động của quản lý có tổ chức, có định hướng đều dựa trên những quy luật, những nguyên tắc và những phương pháp hoạt động cụ thể, đồng thời quản lý mang tính nghệ thuật vì nó vận dụng một cách linh hoạt và
Trang 1611
sáng tạo vào những điều kiện cụ thể trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong đời sống xã hội
* Quan niệm về quản lý của các tác giả nước ngoài:
Theo Harold koontz thì QL là một “hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà QL là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [37, tr 32]
C Mác và Angel cho rằng “QL là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định”; “QL là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể những người lao động nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”, họ đã nghiên cứu quá trình lao động và cho rằng: "Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất"
Theo tác giả người Mỹ, Harold Koontz và những người khác cho nhau:
“Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm, có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định” [37, tr.19]
1.2.1.2 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một loại hình của quản lý xã hội bởi lẽ giáo dục là một hiện tượng xã hội, một chức năng của xã hội loài người được thực hiện một cách tự giác Cũng giống như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, giáo dục cũng cần được quản lý Quản lý giáo dục có thể được hiểu là quản lý quá trình GD-ĐT trong đó bao gồm quá trình dạy học diễn ra ở các cơ sở giáo dục khác nhau hay là quản lý một hệ thống các cơ sở giáo dục đóng trên địa bàn dân cư Có nhiều định nghĩa về quản lý giáo dục như sau:
Trang 1712
Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII có nói về nhà nước và QL nhà nước trong tư tưởng của Chủ Tịch Hồ Chí Minh ta có thể thấy người thể hiện một quan điểm khoa học, rõ ràng, minh bạch người nói: một nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh là nhà nước được cai trị bằng pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế.” và “trong một nhà nước dân chủ, dân chủ và pháp luật phải luôn luôn đi đôi với nhau, nương tựa vào nhau đồng thời xây dựng một nền pháp chế XHCN đảm bảo được việc thực hiện quyền lực của nhân dân là mối quan tâm suốt đời của Chủ Tịch
Hồ Chí Minh [3]
Tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó [12]
Theo tác giả Đặng Bá Lãm, “Quản lý giáo dục là hệ thống có mục đích, có
kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng thể hiện được tính chất của nhà trường XHCN Việt nam
mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học-giáo dục thế hệ trẻ; đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất" [23, tr.35]
QLGD nói chung (và QL trường học nói riêng) là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL (hệ GD) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt nam, mà tiêu điểm hội tụ
là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu
dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [5]
Tóm lại, quản lý giáo dục có thể được hiểu một cách đơn giản là quá
trình vận dụng những nguyên lý, phương pháp, khái niệm…, của khoa học
Trang 18Đối tượng/Khách thể quản lý giáo dục:
Điều kiện cơ sở vật chất, nguồn lực cho giáo dục
Quá trình giáo dục
Con người tham gia hoạt động giáo dục
Cơ chế quản lý giáo dục, gồm các cơ chế chính thức và không chính thức:
Cơ chế chính thức là những quy định đã thành văn bản mang tính pháp
lý, được thực hiện nhằm duy trì quan hệ giữa chủ thể và khách thể do Nhà nước, Bộ Giáo dục - Đào tạo và các cơ quan chức năng có thẩm quyền được
Bộ uỷ quyền ban hành
Cơ chế không chính thức là những quy định không thành văn bản nhưng được sử dụng nhằm duy trì quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý được mọi thành viên trong hệ thống quản lý thừa nhận và tôn trọng
Mục tiêu của quản lý giáo dục là: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ nhân lực có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội”
Quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển xã hội và sự phát triển của ngành giáo dục
1.2.1.3 Quản lý nhà trường
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng nhà trường là một tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác đào tạo, thực hiện việc giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ Thành tích tập trung nhất của nhà trường là chất lượng và hiệu quả giáo dục, được thể hiện ở sự tiến bộ của HS, ở việc đạt mục tiêu giáo dục của nhà trường
Trang 1914
Nhà trường là vầng trán của cộng đồng và đến lượt mình cộng đồng là trái tim của nhà trường Từ nhà trường, hai quá trình “xã hội hoá giáo dục” và giáo dục hoá xã hội quyện chặt với nhau để hình thành xã hội học tập, tạo nên
sự đồng thuận xã hội, tăng trưởng kinh tế cho mỗi quốc gia với mục tiêu phát triển nhân văn đưa giáo dục cho mỗi người và huy động tiềm năng, nguồn lực của xã hội cho giáo dục
Một số nhà nghiên cứu cho rằng: Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có hướng đích của hiệu trưởng (the principal) đến con người (giáo viên, cán bộ nhân viên và học sinh), đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin, v.v ) hợp quy luật (quy luật quản lý, quy luật giáo dục, quy luật tâm lý, quy luật kinh tế, quy luật xã hội, v.v ) nhằm đạt mục tiêu giáo dục [8]
Quản lí xã hội lấy tiêu điểm là quản lí giáo dục thì giáo dục phải coi nhà trường là nút bấm và quản lí nhà trường phải lấy quản lí việc dạy học là khâu cơ bản, việc dạy học phải xuất phát và hướng vào người học QLNT và những đổi mới trong QLNT đang được chính phủ rất quan tâm và tạo điều kiện phát triển Thực chất của quá trình QLNT là quá trình tổ chức, chỉ đạo, điều hành, kiểm tra hoạt động giảng dạy của thầy và hoạt động học tập của trò, đồng thời quản lý những điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật và tinh thần cho quá trình dạy- học nhằm đạt được mục đích của Giáo dục - Đào tạo
Quá trình giảng dạy, học tập trong nhà trường cần được vận hành đồng bộ
trong sự kết hợp chặt chẽ các thành tố chủ yếu của nhà trường với nhau trong
môi trường nhà trường và môi trường xã hội Do vậy, cho dù chỉ quản lý việc thực hiện phương pháp giảng dạy trong trường, nhà quản lý vẫn cần phải quan tâm đến các thành tố khác trong hệ thống nhà trường
Dưới đây là mô hình khái quát các thành tố trong một nhà trường, dựa trên tập bài giảng Phát triển nhà trường: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
của PGS.TS Đặng Quốc Bảo
Trang 2015
Sơ đồ 1.1 Các thành tố trong quản lý nhà trường
(M: Mục tiêu, N: Nội dung, P: Phương pháp, Th: Thầy, Tr: Trò)
Môi trường quốc tế Môi trường: Kt, Vh, Xh, Gia đình, SX, Kinh doanh
Hình thức
tổ chức M Điều kiện
Tóm lại, “Quản lý nhà trường là một quá trình tác động có ý thức (Tác
động thông qua các chức năng quản lý, theo các nguyên tắc định hướng vào mục tiêu giáo dục, bằng các biện pháp quản lý hợp với các đối tượng quản lý ) của bộ máy quản lý nhà trường lên khách thể quản lý (Mọi người tham gia quá trình giáo dục và đào tạo của nhà trường, các nguồn lực, điều kiện cho hoạt động giáo dục đào tạo của nhà trường)” làm cho các thành tố trong một nhà trường vận hành, liên kết chặt chẽ với nhau nhằm đưa những kết quả quản lý đạt
được mục đích và chất lượng, hiệu quả mong muốn
1.2.2 Hoạt động dạy học
Dạy học là một quá trình sư phạm, với nội dung khoa học, được thực hiện theo một phương pháp sư phạm đặc biệt do nhà trường tổ
Trang 21Hoạt động dạy học là một hệ thống toàn vẹn bao gồm các thành tố
cơ bản: Mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức, người dạy, người học Các thành tố này tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau để thực hiện nhiệm vụ dạy học nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả dạy học
Hoạt động dạy học gắn liền với hoạt động giáo dục Cả hai hoạt động này đều hướng tới một mục tiêu chung là phát triển toàn diện nhân cách người học
Bản chất của hoạt động dạy học thể hiện tính thống nhất của hoạt động dạy và hoạt động học, sự thống nhất biện chứng giữa các thành tố của hoạt động học trong quá trình triển khai hoạt động học
Trang 2217
Tóm lại, hoạt động dạy học là một quá trình mà trong đó dưới sự
tổ chức, điều khiển, lãnh đạo của người GV làm cho người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức-học tập
của mình nhằm thực hiện nhiệm vụ dạy học
1.2.3 Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý hoạt động dạy học là sự tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục tiêu đề ra Quản lý hoạt động dạy học chính là quản
lý nội dung chương trình theo mục tiêu của nhà trường trên nguyên tắc quản
lý và phương pháp quản lý
Nội dung của QL hoạt động dạy học trong nhà trường thường bao gồm: QL hoạt động dạy của GV, QL hoạt động học của HS, QL các điều kiện phục vụ hoạt động dạy học: CSVC, TBDH và QL các nguồn phục vụ yêu cầu dạy học như: Tài chính, đội ngũ cán bộ giáo viên, các mối quan hệ trong và ngoài nhà trường
Hoạt động dạy học là một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm đặc thù Nó tồn tại như một hệ thống toàn vẹn bao gồm hoạt động dạy và hoạt động học Hai hoạt động này luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau Sự tương tác giữa dạy và học mang tính chất cộng tác (cộng đồng và hợp tác) trong đó hoạt động dạy giữ vai trò chủ đạo.[22]
Quá trình dạy học là một hệ thống toàn vẹn gồm ba thành tố cơ bản: khái niệm khoa học, học và dạy
Khái niệm khoa học là nội dung của bài học và là đối tượng của sự lĩnh hội bởi học sinh; nó là một trong hai yếu tố khách quan, quyết định lôgíc của bản thân quá trình dạy học về mặt khoa học
Hoạt động học là yếu tố khách quan thứ hai quy định lôgíc của quá trình dạy học về mặt lý luận dạy học; nghĩa là trình độ trí dục và quy luật lĩnh hội của học sinh (quy ước gọi là tâm lý học lĩnh hội) có ảnh hưởng quyết định
Trang 23Để quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường, người hiệu trưởng (HT) cần tập trung vào 2 việc: một là nâng cao nhận thức về bản chất của hoạt động dạy học, và hai là quản lý đổi mới hoạt động dạy học Nhiệm vụ của người HT là phải làm cho bản thân và tập thể sư phạm trong nhà trường hiểu
rõ bản chất của hoạt động dạy học Thực chất là người HT và tập thể GV phải đổi mới quan niệm về dạy học [8]
* Cấu trúc của quá trình dạy học có thể diễn tả trực quan bằng sơ đồ dư:
Sơ đồ 1.2: Cấu trúc chức năng của hoạt động dạy học
Trang 24Biện pháp tâm lý - giáo dục
Biện pháp thuyết phục: Là cách tác động của chủ thể QL vào đối tượng
QL bằng lý lẽ làm cho họ nhận thức đúng đắn và tự nguyện thừa nhận các yêu cầu của nhà quản lý, từ đó có thái độ và hành vi phù hợp với các yêu cầu này Đây là biện pháp cơ bản để giáo dục con người Biện pháp thuyết phục gắn với tất cả các biện pháp quản lý khác và phải được người quản lý sử dụng trước tiên vì nhận thức là bước đầu tiên trong hoạt động của con người
Biện pháp hành chính - tổ chức: Là cách tác động của chủ thể QL vào
đối tượng QL trên cơ sở quan hệ quyền lực tổ chức, quyền hạn hành chính
Cơ sở của biện pháp này là dựa vào quy luật tổ chức, bởi lẽ bất cứ một hệ thống nào cũng có quan hệ tổ chức Trong đó người ta sử dụng quyền uy và sự phục tùng trong bộ máy này Khi sử dụng biện pháp hành chính-tổ chức, chủ thể QL phải nắm chắc các văn bản pháp lý, biết rõ giới hạn, quyền hạn trách nhiệm Các quy định phải bảo đảm tính khoa học và thực tiễn, phải kiểm tra và nắm được thông tin phản hồi
Biện pháp kinh tế: là cách tác động của chủ thể QL vào đối tượng QL
thông qua lợi ích kinh tế Cơ sở của biện pháp này là dựa vào quy luật kinh tế, thông qua quy luật này để tác động tới tâm lý của đối tượng Nội dung của biện pháp này là nhà quản lý đưa ra các nhiệm vụ, kế hoạch tương ứng với các mức lợi ích kinh tế Đối tượng bị QL có thể lựa chọn phương án thích hợp
Trang 2520
để vừa đạt được mục tiêu của tập thể vừa đạt được lợi ích kinh tế của cá nhân Khi sử dụng biện pháp này cần tránh dẫn đến chủ nghĩa thực dụng hay sự mất đoàn kết nếu thiếu công bằng
Biện pháp tâm lý - giáo dục: Là cách tác động vào đối tượng QL thông qua
tâm lý, tình cảm, tư tưởng con người Cơ sở của biện pháp này dựa vào quy luật tâm
lý con người và chức năng tâm lý của con người Nội dung của biện pháp này là kích thích tinh thần tự giác, sự say mê của con người
Muốn quản lý thành công thì người QL cần phải hiểu rõ tâm lý của bản thân mình và của đối tượng quản lý [24]
Tóm lại, quản lý vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật
Các nhà quản lý cần phải biết vận dụng các biện pháp quản lý một cách linh hoạt, sáng tạo và mềm dẻo để xử lý các tình huống cụ thể trong một môi trường luôn biến đổi Điều này đòi hỏi sự khôn ngoan, tinh tế của các nhà QL để đạt được mục đích Ngày nay, trước yêu cầu đổi mới của nền kinh tế - xã hội nói chung, càng đòi hỏi các nhà quản lý phải đưa ra được các biện pháp quản lý sự thay đổi một cách tài tình, khéo léo
1.2.4.3 Các chức năng của quản lý
Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý nhằm thực hiện mục tiêu Quản lý phải thực hiện nhiều chức năng khác nhau, từng chức năng có tính độc lập tương đối nhưng chúng được liên kết hữu cơ trong một hệ thống nhất quán
Mặc dù có quan điểm khác nhau, song hoạt động quản lý có 4 chức năng cơ bản: Kế hoạch hoá; Tổ chức; Chỉ đạo và Kiểm tra
Kế hoạch hoá là chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng quản
lý, nhằm xây dựng quyết định về mục tiêu, chương trình hành động và bước
đi cụ thể trong một thời gian nhất định
Trang 2621
Mục đích của kế hoạch hoá là hướng mọi hoạt động của hệ thống vào các mục tiêu để tạo khả năng đạt mục tiêu một cách hiệu quả và cho phép người quản lý có thể kiểm soát được quá trình tiến hành nhiệm vụ
Chức năng kế hoạch hoá có 3 nội dung cơ bản sau:
Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức
Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này
Quyết định xem hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó
Tổ chức là quá trình hình thành cấu trúc các quan hệ giữa các thành
viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ việc
tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý trong việc sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả
* Ernest Dale mô tả chức năng tổ chức như một quá trình gồm 5 bước như sau:
Lập danh sách các công việc cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu của tổ chức
Phân chia toàn bộ công việc thành những nhiệm vụ để các thành viên hay các bộ phận (nhóm) trong tổ chức thực hiện một cách thuận lợi và hợp lôgíc Đây gọi là bước phân công lao động
Kết hợp các nhiệm vụ một cách lôgíc và hiệu quả Đây là bước phân chia bộ phận
Thiết lập một cơ chế điều phối Sự liên kết hoạt động của các cá nhân, các nhóm, các bộ phận một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện giúp đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách dễ dàng và hiệu quả hơn
Trang 2722
Theo dõi đánh giá tính hiệu nghiệm của cấu trúc tổ chức và tiến hành những điều chỉnh cần thiết
Chỉ đạo còn có tên gọi khác là quá trình chỉ đạo hay tác động Dù
dưới tên gọi nào thì chỉ đạo bao gồm việc liên kết, liên hệ với người khác
và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được các mục tiêu của tổ chức, hay nói cách khác, chỉ đạo là khả năng gây ảnh hưởng, động viên và chỉ dẫn/chỉ thị người khác nhằm đạt đến mục tiêu mong muốn Tất nhiên, việc chỉ đạo không chỉ bắt đầu khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó thấm sâu, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia
Chỉ đạo tập trung vào các ưu tiên sau:
Nhận thức, lĩnh hội quan điểm, xây dựng tầm nhìn, lý tưởng, sứ mệnh của hệ thống
Làm sáng tỏ được thực trạng vận động của hệ thống (gồm phân tích các mâu thuẫn quá trình phát triển), phát hiện ra nhân tố mới
Tổng kết được quy luật, tính quy luật xu thế phát triển của hệ thống
Đề xuất các phương án chiến lược phát triển hệ thống
Kiểm tra là chức năng cuối cùng trong 4 chức năng cơ bản của quản
lý Kiểm tra đề cập đến các phương pháp và cơ chế được sử dụng để đảm bảo rằng các hành vi/hoạt động và thành tựu phải tuân thủ phù hợp với mục tiêu, kế hoạch và chuẩn mực của tổ chức
Kiểm tra trong hoạt động quản lý là một nỗ lực có hệ thống nhằm xác định những chuẩn mực (tiêu chuẩn) thành tựu khi đối chiếu với các mục tiêu đã được kế hoạch hoá; Thiết kế một hệ thống thông tin phản hồi; So sánh thành tựu hiện thực với các chuẩn mực đã định; Xác định những lệch lạc và có đo lường mức
độ của chúng; Tiến hành những hành động cần thiết để đảm bảo rằng những nguồn lực của tổ chức được sử dụng một cách hiệu quả để đạt được mục tiêu của tổ chức
Trang 2823
Robert J Mockler chia kiểm tra thành 4 bước:
Xác định tiêu chuẩn (chuẩn mực) và phương pháp đo lường thành tựu: Các tiêu chuẩn thành tựu phải đủ tường minh để các thành viên liên quan lĩnh hội được một cách dễ dàng, thống nhất Phương pháp đo lường chuẩn mực phải đảm bảo so sánh chính xác và công bằng giữa thành tựu với chuẩn mực đặt ra
Đo lường thành tựu là một quá trình lặp đi lặp lại và diễn biến liên tục với tần suất thực hiện phụ thuộc vào các dạng hoạt động và cấp độ quản lý khác nhau
Xác định mức độ đáp ứng/phù hợp của thành tựu so với tiêu chuẩn/chuẩn mực
Tiến hành những hoạt động uốn nắn, sửa chữa Khi phát hiện thấy những sai lệch của thành tựu so với tiêu chuẩn/chuẩn mực đề ra, các nhà quản
lý có thể điều chỉnh các sai lệch bằng cách thay đổi các hoạt động của các cá nhân thành viên hay các nhiệm vụ hoạt động của một bộ phận trong tổ chức, hoặc
là sửa đổi các chuẩn mực thành tựu nếu thấy chúng không thể thực hiện được
Bốn chức năng quản lý trên có quan hệ hữu cơ/biện chứng với nhau, đều được triển khai khi tiến hành hoạt động quản lý Bất cứ người quản lý nào cũng phải làm công việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
1.2.4.3 Quản lý quá trình dạy học
Quản lý QTDH là quản lý một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm
đặc thù, nó tồn tại như là một hệ thống bao gồm nhiều thành tố cấu trúc
Quản lý quá trình dạy học là hệ thống những tác động có mục đích,
có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho quá trình dạy học vận hành theo đường lối của Đảng, Nhà nước, thực hiện được những yêu cầu của nền giáo dục xã hội trong việc đào tạo con người theo tiêu chuẩn của thời đại, tập trung vào hoạt động dạy học và giáo dục đưa
hệ vận động từ trạng thái ban đầu đến mục tiêu [22]
Trang 2924
- Mục tiêu quản lý quá trình dạy học
Mục tiêu quản lý quá trình dạy học là chất lượng dạy học toàn diện cho
HS với các tiêu chuẩn về chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hoá, khoa học kỹ thuật, thể chất được quy định trong mục tiêu giáo dục Một cách chung nhất, mục tiêu quản lý quá trình dạy học là:
Bảo đảm thực hiện các mục tiêu, kế hoạch đào tạo, nội dung chương trình giảng dạy theo đúng tiến độ, thời gian quy định
Bảo đảm quá trình dạy học đạt chất lượng, hiệu quả cao
Như vậy, quản lý việc thực hiện phương pháp giảng dạy cũng là một nội dung quản lý quan trọng trước yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay Để đưa ra được các biện pháp quản lý hiệu quả cho hoạt động này việc tìm hiểu và nắm vững các cơ sở lý luận về QLGD, quản lý
nhà trường, quản lý quá trình dạy học là thực sự cần thiết
1.3 Dạy học Ngoại ngữ nói chung và dạy học Tiếng Anh ở trường THCS nói riêng
1.3.1 Hoạt động dạy học ở trường THCS
Trường THCS là nơi giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ,
thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN….Xây dựng tư cách và trách nhiệm của công dân, và
có thêm yêu cầu được phát triển năng khiếu về các môn học để chuẩn bị cho các em tiếp tục học lên THPT Như vậy có thể nói hoạt động dạy học ở trường THCS là vừa rèn luyện, hoàn thiện nhân cách cho mỗi học sinh đồng thời cung cấp khối lượng kiến thức cơ bản, toàn diện giúp các em tiếp tục học lên bậc cao hơn hoặc trở thành những người lao động có ích cho đất nước
Con người muốn tồn tại thì phải hoạt động Hoạt động là phương thức tồn tại của con người bằng cách tác động vào đối tượng để tạo ra một sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu của bản thân và của xã hội
Trang 3025
Khái niệm về hoạt động dạy học: Dạy học bao gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng; hoạt động dạy học của giáo viên và hoạt động học của học sinh Trong đó dưới sự điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện những hoạt động dạy học Trong hoạt động dạy học, hoạt động học của học sinh có vai trò tự giác, chủ động tích cực Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh có liên hệ tác động lẫn nhau Nếu thiếu một trong hai hoạt động đó, việc dạy học sẽ không diễn ra Quản
lý hoạt động dạy học là quản lý hai hoạt động dạy và học trong mối quan
hệ biện chứng thống nhất của chúng
Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường Đó là con đường trực tiếp và thuận lợi nhất để giúp cho học sinh lĩnh hội tri thức của xã hội loài người
Hoạt động dạy học làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một cách có hệ thống, cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập, lao động và cuộc sống Hoạt động này làm phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của học sinh, hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội Ở trẻ em đó chính là động cơ học tập trong nhà trường và định hướng hoạt động của học sinh sau này Vì vậy có thể nói hoạt động dạy học trong nhà trường đã tô đậm chức năng xã hội của nhà trường, đặc trưng cho nhiệm vụ của nhà trường và là hoạt động giáo dục trung tâm, là
cơ sở khoa học của các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường
+ Hoạt động dạy
Dạy học là hoạt động của người giáo viên, không chỉ là hoạt động truyền thụ cho người học những nội dung đáp ứng các mục tiêu đề ra, hơn thế nữa đó cũng là hoạt động giúp đỡ, chỉ đạo và hướng dẫn người học trong quá trình lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo Để hoạt động học đạt kết quả như mong muốn, người giáo viên cần nắm bắt những điều
Trang 31+ Hoạt động học
Theo nghĩa rộng nhất thì học là quá trình cơ bản của sự phát triển nhân cách trong hoạt động của con người Đó là sự lĩnh hội tri thức, kỹ năng kỹ xảo, những giá trị và phương thức hành động Hoạt động học là hoạt động nhận thức độc đáo của con người, thông qua học con người thay đổi chính bản thân mình và ngày càng có năng lực hơn trong hoạt động tích cực nhận thức và cải biến hiện thực khách quan Hoạt động học của mỗi người học là nhằm tiếp thu, lĩnh hội và sử dụng tri thức, hình thành và phát triển nhân cách Người học vừa là chủ thể vừa là sản phẩm của quá trình dạy học
Ngày nay, thời đại “học tập suốt đời” là xu hướng tất yếu thì yêu cầu nâng cao năng lực học tập của mỗi người là yêu cầu bức thiết nhất và chúng ta cần phải hiểu được rằng quá trình học tập của mỗi người là quá trình biến đổi bản thân con người ấy và đó cũng là quá trình học tự tạo ra
+ Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và học
Hoạt động dạy và học mang tính chất hai chiều, gồm hoạt động dạy
và hoạt động học, đó là hai mặt của một quá trình luôn tác động qua lại và
bổ sung cho nhau, phối hợp chặt chẽ, thống nhất với nhau giữa người dạy
và người học Hoạt động dạy học diễn ra trong những điều kiện xác định, trong đó hoạt động dạy đóng vai trò chủ đạo, điều khiển , hướng dẫn Hoạt động học đóng vai trò chủ động tích cực, tự giác và sáng tạo, nhằm đạt hiệu quả theo mục tiêu giáo dục đã xác định
Trang 3227
Bản chất của quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của dạy và học, được thể hiện trong và bằng sự tương tác có tính chất cộng đồng và hợp tác giữa dạy và học tuân theo logic khách quan của nội dung dạy học Chỉ trong sự tác động qua lại giữa thầy và trò thì mới xuất hiện bản thân quá trình dạy học, sự phá vỡ mối liên hệ tác động qua lại giữa dạy và học sẽ làm mất đi sự toàn vẹn đó
+ Trường Trung học cơ sở
Trường Trung học cơ sở gồm 4 khối, tiếp nhận học sinh độ tuổi từ
11 đến 15 tuổi vào học Nhiệm vụ của các nhà trường là cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức khoa học phổ thông cấp THCS vững chắc, toàn diện về tất cả các lĩnh vực khoa học tự nhiên, xã hội, kỹ thuật và những
kỹ năng cơ bản, biết ứng xử trong cuộc sống để các em tiếp tục học lên THPT, học nghề hoặc bước vào cuộc sống lao động Đồng thời những kiến thức mà các em tiếp thu được ở cấp học này sẽ là nền tảng để tiếp tục học lên cao hơn để hoàn thiện kiến thức của mình
1.3.2 Những đặc điểm của hoạt động dạy học Ngoại ngữ nói chung và môn Tiếng Anh ở trường THCS
Dạy học NN là góp phần hình thành những phẩm chất đạo đức cho người học, góp phần nâng cao trình độ văn hoá cho người học Ngoài ra,
nó trang bị cho người học một công cụ giao tiếp mới, mà công cụ giao tiếp là bản chất của bất kỳ một ngôn ngữ nào Trong dạy học NN, kinh nghiệm ngôn ngữ (tiếng mẹ đẻ) thường được dùng một cách tự giác hoặc không tự giác vào việc học tiếng nước ngoài Nó được thể hiện ở cả khả năng thực hành và tri thức ngôn ngữ, có tác dụng hỗ trợ, thúc đẩy việc nắm bắt, hiểu và sử dụng NN nhanh hơn, tốt hơn Bên cạnh đó môi trường ngôn ngữ (bản xứ) cũng là điều kiện để nắm bắt kiến thức NN hiệu quả nhất Trong hoạt động dạy học NN nói chung và Tiếng Anh nói riêng người học cần phải tái tạo lại một ngôn ngữ cụ thể ở đây là Tiếng
Trang 3328
Anh và mục tiêu của dạy và học Tiếng Anh là người học có thể phát triển khả năng hiểu và sử dụng được Tiếng Anh qua đó hiểu thêm nhiều những nền văn hoá của nhiều dân tộc trên thế giới
+ Bản chất của quá trình dạy học Ngoại ngữ:
V.I Lê-nin định nghĩa về ngôn ngữ như sau: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người ” ở đây V.I.Lê-nin chỉ ra chức năng giao tiếp là thuộc tính quan trọng nhất, là bản chất của ngôn ngữ Với quan điểm này giúp ta lý giải đúng đối tượng của môn học Ngoại ngữ (dạy học Ngoại ngữ nhằm mục đích nắm vững và sử dụng được công
cụ giao tiếp ấy), nội dung cơ bản của môn học (dạy học Ngoại ngữ là dạy học hoạt động giao tiếp bằng tiếng nước ngoài ở bốn dạng cơ bản của giao tiếp: (nghe, nói, đọc, viết), phương pháp dạy học Ngoại ngữ (đó là phương pháp thực hành giao tiếp, nghĩa là phải thông qua rèn luyện thực hành các
kỹ xảo và kỹ năng giao tiếp mà chiếm lĩnh công cụ giao tiếp)
+ Mục đích của quá trình dạy học Ngoại ngữ:
Ngoại ngữ được đưa vào chương trình giáo dục nhằm đạt ba mục đích: Thực hành giao tiếp, nâng cao trình độ văn hoá và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức Việc dạy học Ngoại ngữ cũng nhằm nắm được Ngoại ngữ được học như một công cụ giao tiếp
1.4 Quản lý dạy học môn Tiếng Anh ở trường THCS trong giai đoạn hiện nay
1.4.1 Nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở trường THCS
1.4.1.1 Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị thiết yếu cho việc dạy học
Cơ sở vật chất luôn là một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện tốt mục tiêu môn học Cơ sở vật chất cũng được coi như là phương tiện
để phục vụ việc đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Anh theo xu hướng giao
Trang 3429
tiếp, nâng cao hiệu quả quá trình dạy học Tiếng Anh và tạo cơ hội cho HS
“đắm mình” vào môi trường Tiếng Anh đang học Quản lí cơ sở vật chất có
nghĩa là quản lí:
Thực trạng trang thiết bị dạy học Ngoại ngữ hiện có
Xây dựng danh mục thiết bị và xây dựng phòng học Ngoại ngữ với các thiết bị đạt tiêu chuẩn
Biên soạn tài liệu hướng dẫn và tổ chức huấn luyện về sử dụng thiết bị
và phòng học tiếng
Xây dựng các phần mềm chuyên dụng phục vụ dạy học tiếng
Phối hợp, phát huy tác dụng các phương tiện truyền thông đại chúng trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học Tiếng Anh
1.4.1.2 Quản lý hoạt động dạy của giáo viên
* Quản lý các loại hồ sơ của giáo viên
Hồ sơ giáo viên gồm: kế hoạch giảng dạy bộ môn, giáo án, tài lệu giảng dạy, tài liệu tham khảo, sổ điểm bộ môn, sổ dự giờ, sổ báo giảng, sổ chủ nhiệm, kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng… hội thảo chuyên môn
* Quản lý việc phân công giảng dạy
Nắm vững được chất lượng đội ngũ: biết được mặt mạnh, mặt yếu, hoàn cảnh gia đình, sức khoẻ… thì không những sử dụng đúng người, đúng việc mà còn làm cho họ tự tin trong nghề nghiệp, có tinh thần trách nhiệm Họ sẽ phấn khởi và cố gắng hết sức mình để hoàn thành công việc được giao
Phân công giáo viên đúng khả năng sẽ đem lại kết quả tốt
Phân công giảng dạy: Cần quan tâm tới khối lượng công việc của mỗi người, đặc điểm từng lớp, chất lượng của HS để đảm bảo hài hòa trong dạy học
* Quản lý việc thực hiện chương trình
Thực hiện chương trình dạy học là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo kế hoạch theo đúng tiến độ mục tiêu, nó là pháp lệnh của Nhà nước do Bộ Giáo
Trang 3530
dục và Đào tạo ban hành Vì vậy yêu cầu giáo viên lập kế hoạch giảng dạy bộ môn, thường xuyên theo dõi việc thực hiện chương trình hàng tuần, hàng tháng thông qua hệ thống sổ đầu bài, sổ báo giảng và các hệ thống quản lý khác (thời khoá biểu, kiểm tra tiến độ thực hiện chương trình qua dự giờ…)
* Quản lý việc chuẩn bị lên lớp của giáo viên
(Soạn giáo án, các đồ dùng thiết bị dạy học, các điều kiện khác…) Kết quả của quá trình dạy học nói chung, các môn học, từng tiết học nói riêng phụ thuộc nhiều ở khâu chuẩn bị cho giờ lên lớp của giáo viên
Quá trình chuẩn bị thể hiện ở một số công việc cơ bản: Soạn bài, chuẩn
bị đồ dùng dạy học (nếu có), suy ngẫm lựa chọn phương pháp giảng dạy cho phù hợp từng bài dạy…
Bài soạn phải đảm bảo theo đúng phân phối chương trình môn học Bài soạn phải đảm bảo truyền thụ đủ kiến thức, khoa học, chính xác, thể hiện rõ công việc của thầy và trò, phát huy tính tích cực của HS
Thông qua việc dự giờ để đánh giá kết quả của việc chuẩn bị lên lớp của giáo viên Giáo viên phải coi việc chuẩn bị lên lớp chu đáo là bước hữu hiệu cho thành công của giờ lên lớp
* Quản lý việc lên lớp của giáo viên
Xây dựng thời khoá biểu khoa học và sử dụng thời khoá biểu để quản
lý giờ lên lớp của GV và có thể duy trì biện pháp quản lý lao động của giáo viên, tạo sự phối hợp nhịp nhàng của tổ chuyên môn
Tổ chức tốt hoạt động dự giờ, rút kinh nghiệm bài dự giờ
Kiểm tra giờ dạy của GV thông qua GV chủ nhiệm, phụ huynh HS, phỏng vấn HS, kiểm tra vở ghi để tìm hiểu việc thực hiện chương trình môn học ở lớp mà GV đã dạy
* Quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên
Trang 3631
Công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên có ý nghĩa quan trọng góp phân nâng cao chất lượng dạy học Vì vậy, trong quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên cần làm các công việc cụ thể sau:
Điều tra, đánh giá toàn diện giáo viên Tiếng Anh
Xây dựng chuẩn GV Tiếng Anh theo hướng kết hợp yêu cầu của mục tiêu đào tạo trong nước và chuẩn trình độ Quốc tế
Xây dựng chương trình, kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo lại số giáo viên hiện có
Tổ chức bồi dưỡng thường xuyên nhằm nâng cao trình độ theo chuẩn cho đội ngũ GV với các hình thức phù hợp điều kiện phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta
Nội dung bồi dưỡng phải tập trung vào những kiến thức, kĩ năng sử dụng Tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai và các kiến thức, kĩ năng phụ trợ khác như: Kĩ năng sử dụng thiết bị đa phương tiện, khả năng khai thác Internet và các phần mềm chuyên dụng, phương pháp giảng dạy của bộ môn Tiếng Anh
* Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Kiểm tra đánh giá là một bọ phận hợp thành , không thể thiếu được trong quá trình giáo dục ở tất cả các môn học Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh được tồn tại đồng thời với quy trình dạy học, đó là quy trình thu nhận
và xử lý thông tin về trình độ và khả năng thực hiện nhiệm vụ học tập của HS Trên cơ sở đó đề ra những biện pháp phù hợp giúp HS học tập tiến bộ
Qua việc QL hoạt động kiểm tra đánh giá HS của GV, người quản
lý sẽ nắm được chất lượng dạy và học của từng GV một Nó là cơ sở để đánh giá quá trình và hiệu quả của người dạy lẫn người học Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi tình trạng dạy thêm học thêm đang tràn lan, khi trình độ của một số bộ phận GV còn hạn chế thì việc QL hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS là điều quan trọng Việc kiểm tra- đánh giá kết quả học tập của HS là việc làm hết sức cần thiết của người
QL nhằm tác động trực tiếp đến GV thực hiện đầy đủ và chính xác quá
Trang 37đó rút ra được những vấn đề cần phải điều chỉnh, uốn nắn và bổ sung giúp người
QL chỉ đạo hoạt động này một cách đầy đủ, chặt chẽ hơn
Phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các văn bản hướng dẫn đánh giá xếp loại HS theo quy định
Đánh giá, xếp loại HS một cách công bằng, chính xác,tránh những biểu hiện không đúng trong việc đánh giá kết quả học tập của HS Trong quá trình kiểm tra-đánh giá người QL phân công nhiệm vụ cụ thể tới từng thành viên: Hiệu phó phụ trách chuyên môn, tổ trưởng, GV, các thành viên phải lập được kế hoạch kiểm tra đánh giá một cách đầy đủ theo yêu cầu của chương trình, người
QL thường xuyên kiểm tra xem xét việc thực hiện nhiệm vụ của các thành viên
để đảm bảo hiệu quả công việc đã đề ra, từng bước nâng cao được hiệu quả của
công tác kiểm tra-đánh giá kết quả học tập của HS
Tóm lại, nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh là quản
lý một quá trình với một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố như : mục đích, nhiệm vụ, nội dung, chương trình, các hoạt động dạy của thầy với hoạt động học của trò, kiểm tra đánh giá kết quả dạy học, Hai quá trình này đã ghi nhận được mục tiêu, kế hoạch hoạt động giáo dục của mỗi cấp học
Nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh cũng phải thực hiện 4 chức năng cơ bản của quản lý nói chung Quản lý quá trình dạy học do nhà trường hướng dẫn, tổ chức và chỉ đạo nhưng có quan hệ tương tác, liên thông với các tổ chức giáo dục khác, hoặc các cơ quan, tổ chức văn hóa, khoa học, thể dục thể thao, các tổ chức đoàn thể quần chúng ngoài xã hội, nơi học sinh tham gia học tập, vui chơi giải trí có tổ chức
Trang 3833
Xuất phát từ mục đích, yêu cầu và dựa trên cơ sở lí luận dạy học, bộ môn Tiếng Anh trong chương trình giáo dục nói chung qui định những nội dung thiết yếu nhất trên các mặt: Giáo dục tư tưởng đạo đức, bồi dưỡng tri thức văn hoá và rèn luyện kỹ năng giao tiếp bằng Tiếng Anh Các nội dung này liên quan chặt chẽ với nhau, hợp thành một thể thống nhất với hạt nhân trung tâm là
kỹ năng giao tiếp để thông qua hoạt động dạy học tạo nên ở mỗi người học khả
năng giao tiếp bằng Tiếng Anh được tốt hơn
1.4.2 Yêu cầu đặt ra cho dạy học và quản lý dạy học môn Tiếng Anh tại các trường THCS trong giai đoạn hiện nay
1.4.2.1 Đặc điểm xã hội hiện nay và một số văn bản của nhà nước về dạy học Tiếng Anh trong nhà trường
Trong xu hướng toàn cầu hoá kinh tế, Việt Nam đã và đang bước vào hội nhập với khu vực và quốc tế Trong những điều kiện cần thiết để hội nhập
và phát triển thì ngoại ngữ là điều kiện tiên quyết, là một công cụ, phương tiện đắc lực và hữu hiệu Biết ngoại ngữ có thể giúp được chúng ta học hỏi kinh nghiệm hay của các nước đi trước, rút ngắn quãng đường phải mầy mò, tránh lặp lại những bước đi không cần thiết trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mặt khác cũng tạo ra cơ hội cho từng người dân có thể lựa chọn, tìm kiếm việc làm trong nước và nước ngoài, giúp con người phát triển những giá trị nhân văn , đặc biệt là tạo cơ hội cho thế hệ trẻ của nước ta
có thể theo học , nghiên cứu mở mang kiến thức ở bất cứ nơi đâu hứa hẹn một tương lai tốt đẹp cho cá nhân họ và những cống hiến thực sự cho đất nước Để hoà nhập vào sự phát triển chung của xã hội, tìm cho mình một chỗ đứng thực
sự trong thế giới ngày nay Chúng ta phải đặc biệt quan tâm đến việc dạy và học ngoại ngữ trong nhà trường
Trang 3934
Xuất phát từ những yêu cầu cấp bách của thực tiễn, Đảng và Chính phủ
đã có nhiều chỉ thị đẩy mạnh việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân nước ta nhằm phục vụ tích cực hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Ngoại ngữ được quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế Ở trường THCS thì ngoại ngữ bộ môn bắt buộc Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà trường phải đảm bảo để người học được liên tục và có hiệu quả, hoạt động dạy và học ngoại ngữ là một hoạt động phức tạp, người học phải tái tạo lại một ngôn ngữ cụ thể
Đại hội toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Con người và nguồn
nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo” Giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu để thực hiện mục tiêu đó, nhiệm vụ của các nhà trường trung học là đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nguồn nhân lực này chính là những người có khả năng thường xuyên cập nhật được kiến thức của mình, chiếm lĩnh được những trình độ chuyên môn mới, và không những có khả năng tìm được việc làm mà còn có khả năng tạo ra được việc làm trong một thị trường sức lao động đầy biến động
Trong xu hướng toàn cầu hoá kinh tế, Việt Nam đã và đang bước vào hội nhập với khu vực và quốc tế Trong những điều kiện cần thiết để hội nhập và phát triển thì Ngoại ngữ là điều kiện tiên quyết, là một công
cụ, phương tiện đắc lực và hữu hiệu Biết Ngoại ngữ có thể giúp được chúng ta học hỏi kinh nghiệm hay của các nước đi trước, rút ngắn quãng đường phải mày mò, tìm kiếm, tránh lặp lại những bước đi không cần thiết trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mặt khác
Trang 4035
cũng tạo ra cơ hội cho từng người dân có thể lựa chọn, tìm kiếm việc làm trong nước và nước ngoài, giúp con người phát triển những giá trị nhân văn , đặc biệt là tạo cơ hội cho thế hệ trẻ của nước ta có thể theo học, nghiên cứu mở mang kiến thức ở bất cứ nơi đâu hứa hẹn một tương lai tốt đẹp cho cá nhân họ và những cống hiến thực sự cho đất nước Để hoà nhập vào sự phát triển chung của xã hội, tìm cho mình một chỗ đứng thực
sự trong thế giới ngày nay Chúng ta phải đặc biệt quan tâm đến việc dạy
và học Ngoại ngữ trong các nhà trường
Xuất phát từ những yêu cầu cấp bách của thực tiễn, Đảng và Chính phủ đã có nhiều chỉ thị đẩy mạnh việc dạy và học Ngoại ngữ trong hệ thống Giáo dục quốc dân nước ta nhằm phục vụ tích cực hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Ngày 11 tháng 4 năm 1968, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị số 43/TTg về phương hướng và nhiệm vụ dạy và học Ngoại ngữ ở các Trường Đại học, Trung học chuyên nghiệp và các Trường phổ thông
Ngày 7 tháng 9 năm 1972, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 251-TTg về việc cải tiến và tăng cường công tác dạy học Ngoại ngữ trong các Trường phổ thông
Ngày 11/5/2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Thông tư số 3668/VP về Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội khoá 10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông”, và giao cho Viện Khoa học giáo dục (nay là viện Chiến lược và Chương trình giáo dục) chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ dự thảo đề án “Giảng dạy học tập Ngoại ngữ trong trường phổ thông.[6]
Tháng 9/2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Dự thảo “Đề án Giảng dạy, học tập Ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam giai đoạn 2004 – 2015”