Để đạt được mục tiêu trên, nội dung của Luận văn sẽ đề cập và giải quyết những vốn đề sau: - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của sự ra đời công ty trách nhiộm hữu hạn cũng như nhữn
Trang 1Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60105
L U Ậ N VĂN T H Ạ C s ĩ K H O A H Ọ C L U Ậ T K IN H T Ể< ■ đ m
Người h ư ớ n g d ẫ n : T.S TRẦN ĐÌNH HẢO
HÀ NỘI - 2000
Trang 2MỤC LỤC* •
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 Khái luận chung về công ty trách nhiệm hữu hạn và quá trình Lhành lập công ty trách nhiệm hữu hạn 6
1.1 Khái luận chung vé công ty và công ty trách nhiệm hữu hạn 6
1.2 Quá trình thành lập mộl công ty trách nhiệm hữu h ạ n 10
1.2.1 Những nhân tố kinh tế - xã hội và pháp lý cũng như cơ sở của quá trinh thành lạp công ly trách nhiệm hữu hạn 10
1.2.2 Quá trình thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn 13
a) Các điều kiện để thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn 13
b) Thú tục thành lập công ty Irách nhiộm hữu hạn 28
CHƯƠNG 2 Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty trách nhiệm hữu h ạ n 38
2.1 Quyền, nghĩa vụ của công ty trách nhiệm hữu hạn và tlíànii viên công ty trách nhiệm liữu hạn 38
2.1.1 Quyền và nghĩa vụ của công ty trách nhiệm hữu h ạ n 42
2 1.2 Quyền và nghĩa vụ cùa thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn 48
2.2 Tổ chức và hoại động của bộ máy quản lý trong công ty trách nhiệm hữu h ạ n 47
2.3 Vấn đề tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn trong quá trình hoạt động 59
CHƯƠNG 3 Tổ chức lại, giải thể, phá sản CTTNHH 68
3.1 Tổ chức lại CTTNHH 68
3.2 Giải thể và phá sản CTTNHH 76
3.2.1 Giải thể CTTNHH 76
3.2.2 Phá sản CTTNHH 79
KẾT LUẬN 86 Tài liệu tham khảo
Trang 3Mhữug lĩ ti: điền: I'háp lý cùa c tn g ty T N H H
LỜI NÓI ĐẦU
1 T ính càp thiết của để tài
Trong thời kỳ tổn tại cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nhà nước
la dã chủ trương xây dựng nền kinh tế quốc dân của thời kỳ quá độ đi lên CNXH chỉ gồm thành phần kinh tế quốc doanh và thành phần kinh tế tập thổ dựa trên hình thức
sở hữu toàn dan và sờ hữu tập thể Các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh, cá nhăn nhóm kinh doanh đần dần tiến tới bị xoá bỏ Chính quan niệm sai lẩm này đã dẫn tới việc đất nước ta bị rơi vào tình trạng khủng khoảng kinh tế trầm trọng trong một thời gian khá dài
Sau đó với Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 vào năm 1986, nước ta bắt đầu thực hiện dường lối đổi mới, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phẩn nhằm khai thác mọi nguổn lực Irong và ngoài nước để nhanh chóng tạo ra một tốc độ phát triển cao và bền vững Trong đó nhà nước đặc biệt quan tâm dốn việc khuyến khích thành phần kinh tế tư bàn tư nhân phát triển, đẩu tư sản xuất và yên tâm làm ăn iâu đài, góp phán xây dựng đất nước Để đáp ứng kịp thời nhu cầu khách quan của đời sống xã hội, ngày 21/12/1990 Quốc hội khóa víu, kỹ họp thứ 8 đã thông qua Luạt cộng ty trong đó điều chỉnh sự hoạt đông của 2 ỉoại hình công ty: công ty trách nhiệm hữu hạn và cồng ty cổ phần Đây là một văn bản pháp luật có ý nghĩa vô cùng quan Irọng đã lạo những tiền để pháp lý vững chắc cho sự phát triển cùa các công ty nói chung, công ty trách nhiệm hữu hạn nói riêng Qua hơn 8 năm Ihi hành Luật công ty, trên cả nước dã có khoảng 10.000 công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập và đi vào hoạt dộng Thực tiễn ở nước ta cho thấy công ty trách nhiệm hữu hạn
đã và dang trở thành hình thức doanh nghiệp phổ biến và ngày càng dược ưa chuông trên thương trường, giải quyết công ăn viộc làm cho nhiều người lao dộng
Tuy nhiên trong tinh hình hiện nay khi trình độ phát triển kinh tế- xã hội ở Việt Nam đã đạt mức cao hơn so với 8 năm về trước, nhiều vấn đề mới xoay quanh loại hình cổng ty trách nhiệm hữu hạn nảy sinh mà chưa dược Luật công ty diồu chỉnh Hơn nữa qua một thời gian áp dụng, Luật công ty đà bộc lộ nhiều khiếm khuyết, gây khó khăn cho công lác thi hành Môi trong những nguyên nhan cùa việc
Trang 4Những dậc diêm pháp tý cùa công ty TN H H
này là do các nhà soạn thảo trong những năm đầu của thời kỳ đỏi mới còn chưa có nhiều kinh nghiệm về kính tế thị trường Yêu cổu khách quan đó đã Ihúc dẩy sự ra dời của Luật doanh nghiệp vào ngày 12/6/1999 tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa X trên cơ sở hợp nhất Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân Đây là một mốc lịch
SỪ quan trọng đánh dấu sự phát triển vượt bậc của pháp luật về cóng ty nói chung, công ly uách nhiệm hữu hạn nói riêng Do có sự kế thừa những ưu điểm của Luật công ty đồng thời học tập kinh nghiệm của luật pháp nước ngoài nỗn Luật doanh nghiệp dã có những quy định khá hoàn chỉnh và rất tiến bộ về loại hình công ty trách nhiêm hữu hạn ở nước ta Tuy nhiên dể tiếp tục hoàn thiện pháp luật về công
ty trách nhiệm hữu hạn cũng như để hướng dẫn các nhà đầu tư tiến hành hoạt dộng kinh doanh dưới hình thức cồng ty này thì một vấn đề cần thiết đặt ra là phải nghiên cứu một cách nghiêm túc, có hệ thống và toàn diện về những đặc điểm pháp ỉý của công ty trách nhiệm hĩru hạn Với một thực tế đáng chú ý d Việt Nam là trong những năm gần đây, công ty trách nhiệm hữu hạn đang trở thành một loại hình doanh nghiệp khá phổ biến và chiếm ưu thế, cho nên việc làm rõ các đậc điểm pháp
lý của công ty trách nhiệm hữu hạn luôn là một vấn đề bức súc và thu hút sự quan lùm không những của các cá nhân, tổ chức có nhu cầu thành lâp mà còn đối với cả những người thi hành pháp luật, những nhà lập pháp Hơn nữa những công trình nghiên cứu về vấn đề này còn rất lẻ tẻ và chưa thực sự có hệ thống, nhất là sau khi LuẠt doanh nghiệp ra đời Vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn vấn đề “Những đặc điểm pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn” làm để tài Luận vãn cao học của mình để (láp ứng kịp thời với nhu cầu cấp thiết cùa xã hội
2 Tình hình nghiên cứu đề tài và cái mới của đề tài:
Thời gian qua, các nhà luật học, các tổ chức, cá nhân cũng đã có một số công trình nghiên cứu về công ty và pháp luật công ty như sau:
Nguyễn Thị Thu Vân: “Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật hiện hành về công ly” (Luận văn Ihạc sĩ năm 1996)
Trần Văn Thông: "Thực hiện Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty ở Thành phố Hà Nội" (Tạp chí Nghiên cứu kinh tế Số 3/1993)
Trang 5Nhứng dặc âiềm phúị' lý rứa c/ing íy T N H H
nghiệp, đăng ký kinh doanh ở Việt Nam, ihực trạng và một vài kiến nghị" (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4/1994)
Đây là những công trình có vai trò rất lớn trong việc hoạch định chính sách kinh tế và xây dựng pháp luật về công ty Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nói trên do những mục đích yêu cấu nghiên cứu khác nhau, nên chỉ dừng lại ờ những khía cạnh nhất định, mà chưa có m ột công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hộ thống về vấn đề những đặc điểm pháp lý của công ty trách nhiêm hữu hạn qua các quy định của pháp luật công ty, đặc biệt là các quy định trong Luật doanh nghiệp - một văn bàn pháp luật hoàn toàn mới mẻ ở Việt Nam
Cái mới của để tài này là ở chỗ phân tích và hệ thống hóa một cách khoa học các quy định của pháp luật về những đặc điổm pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn kể từ khi thành lập đến khi chấm dứt sự hoạt động, đặc biột là các quy định trong Luật doanh nghiệp - m ột văn bản luật mới được thi hành ở nước la Đồng thời
đề tài cũng đưa ra những cơ sở lý luận và Ihực tiễn để làm sáng tỏ chúng
Đề xuất những kiến nghị bước đầu theo hướng tiếp tục hoàn thiện Luật doanh nghiệp nói riêng cũng như pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn nói chung
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của ỉuân vân
Khi chọn để tài ” Những đặc điểm pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn”, lác giả có mong muốn xây dựng nó thành m ột công trình nghiên cứu, đưa ra những dóng góp ban đầu (mặc dù còn hạn chế) và tạo được sự quan tâm đối với các nhà kinh tế học, các nhà luật học trong việc nghiên cứu vể công ty trách nhiệm hữu hạn Đồng thời tác giả cũng hy vọng các nghiên cứu của mình sẽ phần nào giúp cho những nhà làm luật trong khi soạn thảo các văn bản hướng dẫn thi hành Luật doanh nghiệp
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài này cũng góp phần cung cấp những thông tin pháp luật cán thiết về công ty trách nhiệm hữu hạn m ột cách toàn diện và
có hệ thống cho các cá nhân, tổ chức muôn tìm hiểu loại hình công ty này để từ đó ihực hiện và chấp hành đúng các quy định của pháp luật
Trang 6NUững dặc điểm ¡'¡láp lý cùa câng ly TN H H
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu c ủ a đề tài:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm làm sáng tỏ các đặc điểm pháp lý cùa công ty trách nhiệm hữu hạn ờ Việt Nam từ lúc thành lạp đến khi chấm dứt sự hoạt động Từ đó chỉ rõ sự phát triển của Luật doanh nghiệp so với Luật công ty (1990) khi quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn cũng như nêu lên một sô' kiến nghị bước đầu nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật này
Để đạt được mục tiêu trên, nội dung của Luận văn sẽ đề cập và giải quyết những vốn đề sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của sự ra đời công ty trách nhiộm hữu hạn cũng như những đặc điểm của quá trình thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn
- Phan lích Hình bày những dặc điểm pháp lý cùa công ly trách nhiệm hữu hạn ở Việt Nam trong quá trình hoạt động, trong các thủ tục chấm dứt sự hoạt động tiiông qua những quy định về vấn đề này trong Luâl công ly (1990), Luậl doanh nghiệp, Luật phá sản doanh nghiệp ở Việt Nain kết hợp với những quy định tương ứng cùa luậl pháp mội số nước Irên Ihế giới, đồng thời cũng làm rõ sự phát triển của Luật doanh nghiêp mới ban hành so với Luật công ty 1990
- Tìm liiổu những vấn đề đặt ra, bước đầu đề xuất phương hướng cho việc thực thi
và tiếp tục hoàn thiện Luật doanh nghiệp cũng như pháp luật về công ty trách nhiệmhữu hạn
5 Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu
Đôi lượng nghiên cứu của luận văn này được giới hạn trong việc nghiên cứu các đặc điểm pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn ở nước ta mà các thành viên
là những tổ chức, cá nhần Việt Nam Những đặc điểm pháp lý đó thể hiện qua giai doạn thành lập và đãng ký kinh doanh, cơ cấu tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn, quá trình tổ chức lại, giải thể và phá sản công ty trách nhiệm hữu hạn
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các quy định của Luật cồng ty, Luật phá sản doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp, các văn bản hướng đẫn về những vấn đề kể trên và những quy định tương ứng của pháp luật một sô' nước trên thế giới Từ đó đưa ra những ưu điểm, nhược điểm và một sô' kiến nghị bước đầu «hằm góp phẩn
Trang 7Những đặc điểm pháp lý cùa công ty TNH H
hoàn thiện Luật doanh nghiệp nói riêng, pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn nói chung
6 Phương pháp luận và phưong pháp nghiên cứu
Khoa học về Nhà nước và pháp luật là khoa học thuộc phạm Irù khoa học xã hội và nhân văn nên cần phải tiếp cận trước hết theo phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Nghiên cứu về những đặc điểm pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn ta phải đặt nó trong một tổng thể bao gổm các mối quan hệ không Ihể tách rời với nó như các quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội
Ngoài ra tác giả còn sử dụng phương pháp thống kê để thấy dược số lượng các công ty Irách nhiệm hữu hạn ngày càng nhiều từ khi có Luật doanh nghiệp mới
ra đời và phương pháp phân tích, tổng hợp cũng như đánh giá những quy định của pháp luật về công ly Irách nhiệm hữu hạn và sự áp dụng chúng vào Ihực tế đời sống cũng như mối trường pháp luật
Phương pháp so sánh giữa các quy định của pháp luật Việt Nam vổ công ty liách nhiệm hữu hạn với một số nước trên thế giới, so sánh những quy định của Luật công ty 1990 so với Luật doanh nghiệp để dưa ra những đề xuất cho việc hoàn thiện pháp ỉuẠt vé cỏng ty írách nhiệm hữu hạn nói chung, hoàn thiện LuẠl doanh Iighiộp
nói riêng
7 Bô cục của L u ận văn: gồm Lời nói đẩu, Phđn nội đung, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo
Phần nội dung gổm 3 chương:
Chương 1: Khái luận chung về công ty trách nhiệm hữu hạn và quá trình thành lẠp công ty trách nhiệm hữu hạn
Chương 2: Cơ cấu tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn
Chương 3: Tổ chức lại, giải ihể, phá sàn công tỵ trách nhiệm hữu hạn
Trang 8/V/ííỉiiỹ dặr dicm pháp lý cùa CÔUK ty T N ÌỈH
C H Ư Ơ N G 1
K H Á I LUẬN CH U N G VỂ CÔ NG TY TR Á C H N H IỆM HỬU HẠN
VÀ QUÁ T R ÌN H T H À N H LẬ P CÔ NG TY T R Á C H N H ĨỆ M HŨU HẠN
1.1 Khái luận chung về công ty và công ty trách nhiệm hữu hạn
Dưới khía cạnh pháp lý, khái niệm công ty được hiểu là sự liên kết cùa hai hay nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng mộl sự kiện pháp lý, nhằm liến hành một công việc nào đó để đạt dược mục tiêu chung Sự kiện pháp lý nói ờ đây có thể là Hợp đồng thành lập công tv, quy chế hoạt động hay điều lệ hoạt đông của công ty
và chính nó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt loàn bộ quá trình hoạt động của công ty, Nếu cản cứ vào liêu chí mục đích thì có thể phân chia công ty ra làm rất nhiểu loại, trong dó có công ty kinh doanh Công ty kinh doanh là những công ty dược thành lập theo luật dân sự, có mục đích là kiếm lợi nhuận thông qua hoạt dộng kinh doanh Trong các công ty kinh doanh cũng có nhiều loại công ly khác nhau phAn biệt bởi tính chất liên kếl, chế độ irách nhiệm cùa các thành viên và ý chí của cơ quan lâp pháp Nhưng xét về góc độ pháp lý thì có Ihể chia các công ty thành hai nhóm cơ bản là các còng ty đối nhân và các công ty dối vốn
Cồng ly đối nhân là công ty mà việc thành lập dựa trên sự liên kết chặt chẽ bởi độ lin cậy vé nhân thân của các thành viên tham gia công ly, hùn vốn là yếu tô' thứ yếu Thông thường trong công ly đối nhân không có sự tách bạch vé tài sản cá nhân các thành viên với tài sản công ty Do đó các thành viên hoặc ít nhất một ihành viên cồng ly phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty Vì tính chất chịu írách nhiệm vô hạn nên các thành viên cùng nhau diéu hành công ty và dều phải hiểu biết về kinh doanh, ở nhiều nước hầu hết họ là những thương nhân Sô lượng thành viên của cổng ty đối nhân hạn chế và họ là những người quen biết nhau
Sự kiện ra khỏi công ty hoặc chết của thành viên có thể là lý do để giài Ihể công ty
Công ly đối vốn lại có những dặc điểm khác so với cồng ly đối nhftn Ihể hiỗn
là khi liên kết, các Ihành viên không quan tâm đến tư cách cá nhân mà chỉ quan lâm đến các phần vốn góp vào công ty Công ty dối vốn là pháp Iihân có tài sản riông, có
sự tách bạch về tài sản của cống ty và tài sản cùa cá nhân các thành viẻn Do dó các
Trang 9A7»mç đặc dié'm pháp lý của công ty T N H ỈỈ
công ty đối vốn phải chịu 2 lần thuế: thuế đánh vào lợi nhuận chung của công ty và thuế thu nhập cá nhân đánh vào thành viên công ty Sự tổn tại của công ty độc lạp với sự tổn lại của các thành viên Thành viên công ty dễ dàng Ihay đổi và họ chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong các khoản vốn mà mình đã tham gia vào công ty Công ty đối vốn Ihường có số lượng thành víẽn khá đông, được nhiều người ưa chuộng vì chế
độ chịu trách nhiệm hữu hạn, tạo cho người kinh doanh sẵn sãng đầu iư vào những lình vực rủi ro lớn và khả năng phân tán vốn đầu tư vào nhiểu cơ sờ kinh doanh khác nhau Đồng thời tạo điều kiện để những người không hiểu biết về kinh doanh cũng
có thổ Ihain gia vào hoạt động kinh doanh của công ty Cơ cấu quản lý trong công ty đồi vốn theo hình íhức tập trung, thông qua người đại diện đo các thành viên lựa chọn Quyền sờ hữu đối với công ty dược chia thành từng phần có thể gọi là các cổ phần hay gọi là phần vốn góp và có thể chuyển nhượng được Người sờ hữu mội hay nhiều cổ phần hoặc sở hữu phần vốn góp đó tuỳ từng trường hợp được gọi là cổ đông hay ihành viên (hội viên) Tuy nhiên do tính chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ liên công ty đối vốn dễ dàng gây rủi ro cho các chủ nợ Vì vậy loại công ty này phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật nhiều hơn so với công ty đối nhân Mặl khác do sò lirợng Ihành viên lớn và chỉ quan tâm đến phần vốn tham gia của các thành viên nên có (hể dẫn tới việc phân hóa các nhóm quyền lợi khác nhau, dôi khi chồng dối nhau và những thành viên có dịa vị thấp dẽ bị đè nén, bóc lột
Công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn là hai loại điển hlnh của công ty đối vốn Hiện nay trên thế giới có hai hỗ thống pháp luật cồng ty là hệ thống Luậl công ly Anh-Mỹ và hệ thống luật Cliâu Âu lục địa ở các nước theo hệ thống luật châu Âu lục địa có sự phân biệt rõ ràng giữa 2 loại hình công ty này, tạo điều kiộn dễ dàng cho công chúng nhạn biết từng loại, tránh được sự nhầm lẫn, nhưng sự thay đổi hình Ihức công ty lại không ihuận tiện Ví dụ ở Cộng hoà liên bang Đức có công ty công cộng (AG) và công ty hữu hạn (GmbH), ở Pháp có cồng ty vô danh (Sociela Anonyme) và công ty trách nhiệm hữu hạn (Socieía a Responnabilile Limitée) Phần lớn ở các nước theo hệ thông luật Châu Âu lục địa thì người góị) vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn nhận được cái gọi là phần vốn góp, chỉ khi góp vốn vào còng ty cổ phần mới được nhận cái gọi là cổ phấn Tuy nhiên cũng có
Trang 10Những diíc diếtn pháp lý cửa công f>' T N iiH
những Irường hợp đặc biệt ở một số mrớc không theo quy định này như ờ Đức thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn vẫn gọi là cổ đông, quyền sở hữu của công ty được chia lliành các cổ phần
Ở Việt Nam , do ảnh hưởng cùa hệ thống pháp luật châu Ấu lục địa nên chúng ta cũng quan niệm công ty đối vốn gồm có công ty cổ phẩn và công ty trách nhiệm hữu hạn Theo Luật công ly Việt Nain (1990), công ty trách nhiộm hữu hạn được định nghĩa là “doanh nghiệp trong đó các (hành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty.” Định nghĩa này rấl cứng nhắc và không tạo được sự linh hoạt la bản chất vốn có của công
ly trách nhiệm hữu liạn Sau dó, ngày 12/6/1999, Quốc Hội khóa 10 nước CHXHCN Víệl Nam đã thồng qua Luật doanh nghiệp - một văn bản luật kết hợp cùa Luậl công
ly và Luật doanh nghiệp tư nhăn nước đây, Irong đó quy định về công ty Irách nhiệm hữu hạn, cổng ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân Đây là một bước tiến mới Irong lịch sử lộp pháp Việt Nam thể hiện quan điểm đúng đắn và Ihực sự đổi mới của Đảng và Nhà nước ta Công ty trách nhiệm hữu hạn được định nghĩa lại Irong Luật doanh nghiệp một cách chính xác hơn, phàn ánh đúng bản chất vốn có của nó: “công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp Irong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn dã cam kếl góp vào doanh nghiệp Phán vốn góp chỉ được chuyển nhượng m ột phần hay toàn bộ cho người khác theo quy định tại điểu 32 Luât doanh nghiệp Thành viên có llìể là tổ chúc, cá nhân, số lượng thành viên không vượt quá năm mươi Công ty ưách nhiệm hữu hạn không được phát hành cổ phiếu” ,
“có lư cách pháp nhân kể từ ngày được cflíp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh” (diều 26 Luật doanh nghiệp)
Ngược lại, ở những nước theo hệ thống pháp luạt Anh - Mỹ (hô thống luât ihông lệ) do dặc điểm về điều kiộn kinh lế xã hội, đặc điểm cùa hệ llióng pháp luật, tập quán dàn tộc và những yếu lô khác mà người ta không phân biệt một cách rõ ràng 2 loại hình cỡng ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn, chỉ gọi chung là công ly và sau này có phân biệt Ihành công ty đóng (close Corporation) hay công ty
Trang 11Nhữnx dặc dié’m pháp lý cùa công ty T N liỉỉ
tư (private company) và công ty mở (public Corporation) hay công ty đại chúng (public company) Một sô' nước theo hệ thống luật thông lê không phân biệt công ty đóng, công ty mở nhưng một số nước như Canada hay có những bang ở Mỹ ban hành một phụ ỉục riêng áp dụng cho công ty đóng Đối với công ty dóng và công ty
mở theo luật thông lệ thì quyền sỏ hữu của công ty được chia thành dơn vị (khổng nhấl thiết bằng nhau) và dều được gọi ià cổ phần Nói cách khác người ta dinh nghĩa
cổ phần là đơn vị được sử dụng để chia quyền sở hữu dối với công ly Người góp vổn tức là mua cổ phẩn, mua quyền sờ hữu đối với công ty
“Công ty mở” iheo luật pháp các nước này quy định là loại hình công ty có số
cổ đông khá lớn và có một thị trường mua bán cổ phiếu rất sôi động, rộng lớn Sự lồn tại của các thị trường năng động đó chứng tỏ rằng các nhà đầu tư từ bẻn ngoài
“công ly mờ” luôn có quyền “ gia nhập” hoặc “rút khỏi” các công ty này bằng cách hết sức đơn giản là “mua” hoặc “bán” các cổ phần trên thị trường chứng khoán đại chúng Nhiều “công ty mở” là những Ihực thể kinh tế hùng mạnh có tổng số lượng tài sản lên lới hàng tỉ Đô la Mỹ và có hàng chục hoặc hàng trãm ngàn nhân viên, hàng triệu cổ phiếu mệnh giá lớn Nhưng nếu như các thị trường chứng khoán không lổn tại thì quyền “gia nhập” hay “rút khỏi” công ty cũng không thể có được
Còn “công ty đóng” là loại hình công ty do một hay một nhóm cổ đông có quan hệ mật thiết thành lập, Phần lớn (nhưng không phải là tất cả) các “công ty đóng” là những doanh nghiệp có quy mô nhò Tuy nhiên, một vài “công ty đóng” cũng có khối lượng tài sản ỉớn và khá nhiều cổ đông, nhưng “công ty đóng” không
có những thị trường công khai mua bán cổ phần để xác lập quyển sở hữu nên nó không có các cổ đông là từ dân chúng Các cổ đông là những người điểu khiển và quản lý công ty “Công ty đóng” thường có trách nhiệm pháp lý hữu hạn và bảo đảm được mối quan hộ khăng khít trong nội bộ của các thành viên
Thông thường ở những nước theo hệ thống luật thông lệ, công ty đóng và các loại hình còng ty khác đều thành lập và hoạt động theo các đạo luật công ty chung Một điểm thuận lợi đối với các công ty đối vốn ở các nước này là việc chuyển đổi hình thức giữa các công ty này được thực hiện rất dể dàng, thích hợp với tính náng động của hoạt động kinh doanh Tuy nhiên theo quan điểm của chúng tôi, nước ta
Trang 12Nhfntg (tặc điểm pháp lý cùa công ty TN H H
lựa chọn phương Ihức phân biệt rõ ràng giữa công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn là hoàn loàn hợp lý bởi điều này sẽ vừa íạo điểu kiộn thuận lợi cho công tác quản lý cùa nhà nước đồng thời các nhà đầu tư cũng dễ dàng lựa chọn và thực hiộn hoạt động kinh doanh theo loại hình công ty phù hợp với khả náng của mình
Tóm lại, các công ty đối vốn trên thế giới thường gồm có công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn v ề cơ bản, công ty Irách nhiệm hừu hạn quy định ở Châu Âu lục địa giống với công ty đóng ở các nước theo luật thông lệ, còn công ty
cổ phần thì tương tự công ty mở Trong phạm vi hạn hẹp cùa luận văn này, chúng tồi chỉ đề cập tới công ty trách nhiệm hữu hạn với những đặc điểm pháp lý của nó được thể hiện ở những khía cạnh chủ yếu và cơ bản sau:
- Quá trình thành lập một công ty trách nhiệm hữu hạn
- Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn
- Tổ chức lại, giải thể, phá sản công ty trách nhiệm hữu hạn
Những khía cạnh này sẽ lần lượt được trình bày ở các phán tiếp theo của luận văn
1.2 Quá trình thành lập một công ty trách nhiệm hữu hạn
1.2.1 Những nhân tô kình tế- xã liội và pháp lý cũng như cơ sở của quá trình thành lập cũng ty trách nhiệm hữu hạn.
Dù có những cách gọi khác nhau ờ mỗi nước song mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn khác với các loại hình công ty khác ở chỗ: nó là sản phẩm của hoạt dộng lập pháp và được quy định đầu úẽn ờ Đức vào năm 1892 Sau đó công ty trách nhiệm hữu hạn được hình thànli và phát triển ờ Pháp, Italia một sô' các nước khác ờ Chău Âu lục địa và các nước Nam Mỹ Từ đó đến nay, các cồng ty trách nhiệm hữu hạn phát triển nhanh chóng và phổ biến Irên thế giới
Cũng như bấi kỳ một hiện tượng xã hội nào, quá trình thành lạp công ty trách nhiệm hữu hạn cũng có những nhân tô' về kinh tế-xã hội, pháp lý riêng biệt của nó Nhân lố tlìứ nhát dẫn tới sự ra dời mộl công ty nói chung, công ly trách nhiệm hữu hạn nói riêng là: sự phát triển của lực lượng sản xuất và những tiến bộ cùa khoa học công nghệ đòi hòi phải có một quy mô sản xuất thích ứng, phải có một khối lượng tư bản lớn Tất nhiên để đáp ứng nhu cầu khách quan thì các nhà tư bản đơn lẻ cũng sừ
Trang 13Nhãng dặc điểm pháp lý cứa cfinr, ty TN U U
dụng biện pháp tích lũy dần Tuy nhiên điều đó sẽ diễn ra hết sức chậm chạp Vì vậy, do nhu cầu huy động vốn và đáp ứng tính kịp thời nên các nhà tư bản phải tìm đến nhau, liên kết lại với nhau và theo như c Mác đã nói là bằng cách chỉ đơn giản thay đổi sự sắp xếp về lượng của các bộ phận cấu thành cửa tư bản xã hội thì lư bản
đã có thể ỉớn lên tới những quy mô khổng lồ
Nhân tố thứ hai đó là do trình độ sản xuất của xã hội phát triển làm nảy sính nhiều ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh có tỷ suất iợi nhuận cao hơn, thu hút các nhằ
lư bản đầu tư Tuy nhiên không phải ngay trong chốc lát mà các nhà tư bản có thể vứt bô hoàn toàn cơ sở sản xuất cũ để đổi sang những ngành nghề mới đã đự định
mà phải có một Ihời gian khá ỉâu dài để dịch chuyển từng phần vốn đã đẩu tư vào lĩnh vực cũ sang lĩnh vực mới Thế nhưng trong kinh doanh yếu tố quan trọng là thời gian và hiệu quả, Nếu cứ kéo đài quá trình dịch chuyển vốn này ihì sẽ làm các nhà
tư bản mất rất nhiều thì giờ và thời cơ, khồng còn khả năng cạnh tranh và chiến thẳng Vì vậy, các nhà tư bản phải tìm đến một hình thức kinh doanh mới đó là liên kết lại với nhau
Thứ ba là như Irên đã trình bày, công ty trách nhiệm hữu hạn là sản phẩm của hoạt dộng lập pháp đo đó những ưu điểm cùa quy chế pháp lý về công ty trách nhiệm hữu liạn chính là m ột trong những nhân tố thúc đẩy các nhà đầu lư Ịựa chọn
và cho ra đời trên thực tế loại hình công ty này Bởi lẽ một công ty cổ phần không còn thích hợp với quy mô vừa và nhỏ nữa, Mặt khác, công ty trách nhiệm hữu hạn lụi ít chịu sự điều chỉnh của pháp luật hơn công ty cổ phần và đo sô' lượng các hội viên ít nên quan hệ giữa các thành viên thường bền chặt và phần lớn họ ià những người đã quen biết nhau Vây là công ty trách nhiệm hữu hạn đã kết hợp được ưu điểm của công ty cổ phần vê chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ của công tỵ và ưu điểm về sự quen biết nhau trong số các thành viên của công ty đối nhân, đồng thời khắc phục được nhược điểm về sự phức tạp trong thành lập, điều hành của công ty cổ phổn, chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của công ty dối nhân nên các nhà tư bản dẻ nhận thấy đây là một loại hình lý tưởng cho hoạt độiìg kinh doanh
ở quy mô vừa và nhỏ
Trang 14NhửitịỊ dậc (liếm pháp lý của công ty TNH11
Về C ơ SỞ của quá trinh thành lập công ty nói chung, cóng ty Irách nhiệm hữu hạn nói riêng gổm các yếu tố cơ bản sau: tài sản, thiên chí, lợi ích và sự nhất trí cùa các thành viên
Yếu tố tài sản là yếu tố đầu tiên và có tính bao trùm bởi vì công ty trách nhiệm hữu hạn là một công ty kinh doanh cho nên phải có tài sản đổ hoạt động, Tài sàn của công ly khi Ihành lạp là do sự đóng góp của các thành viên và nó sẽ là nguồn sức mạnh tài chính của công ty
M ột công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập không những phải có yếu tố
vé tài sản mà phải còn phải có “thiện chí” hay là nguyện vọng của những người tham gia muốn đưa tài sản của mình vào đầu tu, kinh doanh Nếu như khồng có yếu
tố “thiện chí” này thì không thể thành lập một công ty nói chung, công ty trách nhiệm hữu hạn nói riêng
Yếu tố tiếp theo là lợi ích mà các nhà đầu tư quan tâm Bất kỳ một nhà dầu tư nào khi góp vốn vào một công ty dể kinh doanh thì họ đều cân nhắc về việc liệu họ
sẽ nhẠn được khoản lợi nhuân là bao nhiêu, có lớn hơn so với các hình thức đầu tư khác không Dĩ nhiên là người khởi xướng việc thành lập một công ty trách nhiêm hữu hạn muôn Ihu hút vốn dầu tư của các nhà tư bản thì phải xây dựng một chiến lược kinh doanh dầy íriổn vọng ngay iừ dầu mà những người cùng Ihain gia có thổ nhạn lliấy được mức lợi nhuận họ sẽ nhăn được đủ sức hấp dản đối với họ Đồng thời đương nhiên là họ cũng phải cháp nhận những may rủi trong cạnh tranh trên thị trường
Yếu tố cuối cùng là sự nhất trí thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn Việc thành lập một công ty trách nhiệm hữu hạn sẽ không thành công nếu chỉ có 3 yếu tố: tài sản, thiện chí và lợi ích mà còn phải có sự thỏa thuận giữa những người có tài sản muốn tham gia góp vốn kinh doanh trôn cơ sở tài sản đóng góp của minh và những quy định của pháp luật, Nếu không có sự thống nhất ý chí về mọi vấn đề liên quan dến việc hình thành m ộl công ty trách nhiệm hữu hạn của những người tham gia thì công ty trách nhiệm hữu hạn đó không thể ra đời được Sự nhấi trí này không phải chỉ ờ thời điểm Ihành lập mà còn có ý nghĩa trong suốt quá trình tổn tại và hoạt động của cỏng ty irách nhiệm hữu hạn
Trang 15NhCmg đặc điểm pháp lý của công íy T N ĨỈH
Tóm lại một công ty nói chung, công ty trách nhiệm hữu hạn nói riêng được hình thành trên cơ sờ đủ 4 yếu tố đó, nếu thiếu một trong những yếu tố này thì chưa
đủ cơ sở tất yếu khách quan cho việc thành lập nó
1.2.2 Quá trinh thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn
a) Các diều kỉệii để thành ỈẠp một công ty trác!) nhiệm hữu hạn:
Đặc điểm pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn được thể hiện dầu tiên ở quá trình thành lập Muốn thành lập một công ty trách nhiệm hữu hạn cần phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện mà pháp luật đặt ra ở những nước khác nhau, pháp iuật quy dịnh khác nhau về các điều kiện để thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn Có những nước cho rằng khi thành lập một công ty trách nhiệm hữu hạn thì không thể thiếu một điều kiện nào đó nhưng pháp luật nước khác lại coi điều kiện này là không quan trọng và đưa ra một điều kiện bắt buộc khác thích hợp với đặc điểm kinh tế xã hội của nước đó
Tuy có sự khác biệt về các điều kiện để hình thành mộl công ty trách nhiệm hữu hạn giữa pháp luật các nước song về cơ bản để thành lập loại hình công ty này, người la cẩn phải đáp ứng những điều kiện chủ yếu sau:
♦t* Điều kiện về các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn:
ở hẩu hết các nước, luật pháp chỉ quy định ai không được quyền quản iý công ly trách nhiệm hữu hạn chứ thường không quy định ai được quyền góp vốn và thành lập công ty bởi họ quan niệm : người quản lý công tỵ thực hiện các quyển và nghĩa vụ của công ty cho nên chỉ họ mới có ảnh hưởng nhiều đến lợi ích của những người khác có liên quan (trên thực tế người quản lý có thể đổng thời là thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn) Còn việc thực hiện thù tục thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn là ai thì điều đó không quan trọng m iễn là Ihực hiện đúng, đủ [lình tự do luật định
Tuy nhiên ở Việl Nam, khác với các nước Irên thế giới, pháp luật vẫn quy định những đối tượng nào được thằnh ỉập, quản Ịý hay góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn bởi một đặc điểm thực tế ở nước ta ià những người góp vốn vào cống
ty irách nhiệm hữu hạn thì thường lại đứng ra thành lập và cũng quản lý luồn công
Trang 16Những diic diem pháp /v cùa coup ly T N IÏH
ty đó Chính vì vậy mà pháp luật Việt Nam có những quy định ràng buộc không chỉ đối với những người quản lý mà còn đối với cả những người góp vốn hay íhành lập cóng tv trách nhiệm hữu hạn Điểu đó được thể hiện trong Luật công ty năm 1990 và Luât doanh nghiệp năm 1999,
Theo Luật cồng ty năm 1990 loại chủ thể thứ nhất được quyền góp vốn hoặc thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn trước hết là những công dân Việt Nam đủ ỉ 8 tuổi có nãng lực hành vi, không đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoăc bị kết án
tù mà chưa được xóa án, không phải là viên chức tại chức hay sĩ quan tại ngũ là những công chức theo Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991 cùa Hội đổng Bộ trưởng trừ trường hợp được tổ chức nhà nước có thẩm quyền cừ làm đại diện cho phần vốn thuộc sở hữu nhà nước góp vào công ty
Loại chủ thể thứ hai theo Luật công ty nám 1990 có thể tham gia thành lạp hoặc góp vôn dầu tư vào công ty trách nhiộm hữu hạn là: các tổ chức kình tế Việt Nam thuộc mọi Ihành phần kinh tế Các tổ chức này phải có lư cách pháp nhân lức
là phải có đầy dủ các yếu tố cấu thành một pháp nhân độc lập Điều 6 Luật công ty (1990) quy định “nghiêm cấm cơ quan nhà nước, đơn vị thuộc ỉực lượng vũ trang nhân dAn sử dụng lài sản của Nhà nước và công quỹ để góp vốn vào công ty hoặc llìam gia Ihành lẠp còng ty nhằm thu lợi riêng cho cơ quan, dơn vị mình.”
Loại chủ thổ lliứ ba là các tổ chức xã hội gồm những tổ chức xã hội nằm trong hệ thống chính trị Việt Nam như tổ chức Đảng, công đoàn, đoàn thanh niên, liội phụ nữ, Mặl trận T ổ quốc và các tổ chức xã hội nghề nghiệp khác nhu hội luạtgia, hội người mù, hội từ thiện Luật công ty năm 1990 khởng đòi hỏi các tổ chức
xã hội này phải có tư cách pháp nhân Có nghĩa là tư cách pháp nhân không hể ảnh hưởng đến quyền được góp vốn tham gia thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn của các lổ chức xã hội đó
Qua nghiên cứu về những quy định trên, chúng tôi nhận thấy một điểm sơ hở cùa Luậl công ly năm 1990 đó là chưa phân biệt rõ và chính xác về quyển tham gia thành lạp quyén quàn lý và quyền góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, cụ ihể
là Luật công ty chi hạn chế quyền Ihành lập, điều hành công ty của các viên chức tại chức, sĩ quan tại ngũ trong lực lượng vQ trang nhân dân mà không hạn chế quyền
Trang 17Những (tộc riìểtn pháp lý cùa C(ÍM£ ly T N H ỈÍ
góp vốn cùa họ vào công ty trách nhiệm hữu hạn Điếu đó có nghĩa là họ vần có thể trở thành thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn thông qua việc góp vốn mà hiển nhiên là những đối tượng này không thể tham gia thành lập, quản lý hay góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn bởi họ là những người đang ăn lương nhà nước, thời gian của họ phải dùng để tiến hành các công vụ theo chức trách của mình Đổng thời Luật công ty còn chưa quy định người nước ngoài, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài, các tổ chức nước ngoài có được góp vốn vào công ty trácli nhiệm hữu hạn ở Việt Nam hay không Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó có rất nhiều Tuy nhiên chúng tôi cho rằng một trong những nguyên nhân quan trọng là do Luật công ly được ban hành trong những năm dàu thời kỳ đỏi mới, khi chúng ta chưa hiểu biết nhiều và chưa có kinh nghiệm thực tế về kinh lế thị trường Vì vây trong quá trình thực [liên, những hạn chế đó đã bộc lộ ra, tạo những kẽ hờ cùa pháp luật, khiến cho hiệu quả điều chỉnh của pháp luật bị giảm sút
Trên cơ sở kế thừa những ưu điểm về các quy định ràng buộc đối với người quàn lý, thành lập và người góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn trong Luật công ty nám 1990, đồng thời khắc phục những nhược điểm đă phân tích ở trên của đạo luật này, Luật doanh nghiệp nãm 1999 đã phân chia một cách rõ ràng, hợp lý vé quyền Ihành lập, quàn lý và góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn của các chủ thế, dã xay dựng hoàn thiện hơn đanh mục những đối tượng bị hạn chế các quyền này, kịp thời điều chỉnh những vấn đề mới của xã hội trong thời đại hiện nay, Điều 9 Luật doanh nghiệp năm 1999 đã quy định rõ về quyền thành lập và quyền quản lý cồng ly trách nhiệm hữu hạn như sau: mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền thành lập
và quàn lý công ty trách nhiệm hữu hạn trừ 8 trường hợp bị cấm trong đó có cả các cán bộ, công chức nhà nước Còn quyền góp vốn của các tổ chức, cá nhân thì được lách riêng và quy định tại điều 10 của Luật doanh nghiệp, đặc biệt là Irong danh mục những trường hợp không được quyền góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn
đã có các đối lượng theo pháp luật về cán bộ, công chức nhà nước - diổu mà Luật công ty năm 1990 không nhắc tới Đồng thời Luât doanh nghiệp còn quy dịnh là “lổ chức nước ngoài, người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn” theo quy
Trang 18A'/iững (lặc điếm pháp ỉý của cổng ty T N ỈiH
định của Luậl khuyên khích đầu tư Irong nước Qua đó ta có thể nhận thấy Luật doanh nghiệp dã cụ thể hóa Hiến pháp 1992 về "quyền tự do kinh doanh của công dan theo quy định của pháp luật"
Về số lượng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn: đại đa số các nước trên thế giới đều quy định số thành viên tối thiểu là 1, nhiều nhất là 50 như ở Anh, Pháp hay Cộng hòa liên bang Đức chẳng hạn Việc giới hạn số lượng Ihành viên irong công ty trách nhiệm hữu hạn là hoàn toàn phù hợp với đặc điểm quy mô kinh doanh vừa và nhỏ của nó Do đó trên thực tế thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn chù yếu là những người thân quen, tin tưởng lản nhau (bố mẹ, anh em, con cháu,
họ hàng và bạn thân ) Việc lựa chọn hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hay
“công ty đóng” chứng tỏ các thành viên chưa muốn những người khác cùng với họ quản lý và đầu lư vào công ty Họ không muốn trao quyền quản lý công ty cho người khác
Tuy nhiên ở nước ta, trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, Luật cồng ty năm 1990 không ấn định số lượng thành viên tối đa trong công ty Điều này dẫn tới việc Irèn Ihực đã có một số công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập với hàng trăm thành viên, cao hơn nhiều so với sô' lượng thành viên của một công ty cổ phần Sô' công ty có số lượng thành viên quá lớn đó làm ăn không hiệu quả, giữa các thành viên này sinh sự phíần lioá vé lợi ích khiến cho việc điều hành không thổ thống nhát được và dẫn đến đổ bể • V.
Chỉ đến Luật doanh nghiệp năm 1999, hạn chế nêu trên của Luật công ly năm 1990 mới dược khắc phục Học tập điểm tiến bộ và đúng đắn của luật cồng ty các nước trên thê' giới, Luâl doanh nghiêp nước ta đã quy định con sô' tối đa về số lượng thành viên liong công ty trách nhiêm hữu hạn là 50 và số tối thiểu là I Đây là một điểm tiến bộ đáng kể của Luật doanh nghiệp thể hiện sự đổi mới mạnh mẽ trong nhận thức của những nhà làm luậl và cùa Đảng, Nhà nước ta Nếu nlur trước day, chúng ta không thừa nhận loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mặc dù chúng vẫn tồn tại trên thực tế thì hiện nay Luật doanh nghiệp đã cho phép các nhà đầu tư có thể kinh doanh dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một chủ
Trang 19Theo diều 46 Luật doanh nghiệp thì cống ty trách nhiệm hữu hạn mộl chủ được định nghĩa là “doanh nghiệp đo một lổ chức làm chủ sờ hữu (sau đây gọi tắt là chù sở hữu còng ty); chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi sô' vốn điều lệ của công ly” Theo Nghị định sô 03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ thì thành viên duy nhất của công ty trách nhiệm hữu hạn là chủ sở hữu của công ty và phải là mội tổ chức có lư cách pháp nhân, có thể bao gồm: cơ quan nhà »ước, dcm vị thuộc lực lượng vũ trang;
cơ quan Đảng cấp Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (điều 14) Như vậy, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên dược quy định trong Luật doanh nghiẹp là một tổ chức và hơn nữa tổ chức đó phải có tư cách pháp nhân, còn
cá nhàn thì không được thành lập còng ty trách nhiệm hữu hạn m ột Ihành viên So sánh với luật còng ty của các nước trên thế giới, chúng tôi nhận thấy phần lớn các nước này đều cho phép cá nhân có thể trở thành thành viên duy nhất của công ty irách nhiêm hữu hạn Theo chúng tôi Luật doanh nghiêp cũng nên học tập điểm tiến
bộ này để khuyến khích các nhà đầu tư có thể tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù họp dôi với họ và phái triển hoạt động sản xuất kinh doanh cùa mình Mặc dù pháp luỊU nước ta chưa cho phép cá nhân thành lạp công ty trách nhiộm hữu hạn một thành viên song liên thực tế công ty trách nhiêm lìữu hạn một thành viên là cá nliAn
dã từng tổn tụi ờ Việt Nam mà pháp luật chưa kiểm soát được ví dụ như trong trường hợp một người giao vốn cho người khác để người đó góp bằng vốn dó cùng với mình Hoạc có trường hợp trong một công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ có 2 người nhưng một người bị chết đột ngột mà điều lệ công ty lại khỏng cho phép kết nạp Ihành viên mới hay trường hợp tất cả các thành viên của một công ty trách nhiệm hữu hạn đều chuyển nhượng lại phán vốn của minh cho một cá nhân là thành viên cùa công ty mà các nhà đầu tư lại không muốn chuyển dổi hình thức công ty sang doanh nghiêp tư nhân Tuy nhiên, pháp luật hiện hành lại chưa cho phép cá nhân thành lập còng ly trách nhiệm hữu hạn một chủ Điều này đã làm hạn chế sự tự do lựa chọn hình thức kinh doanh của các nhà doanh nghiệp Do đó để phát huy hơn nữa sức mạnh của thành phẩn kinh tế tư nhân đối với nển kinh tế nước nhà, chứng ta
Những ổãc (liéni pháp lý của cõng ty T M H Ỉi
Trang 20Mhữrig đặc diêm pháp lý củn công ty TN H H
Cần phải ghi nhận hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân trong các quy định của pháp luật
Tuy nhiên theo quan điểm của chúng tói, việc cho tồn tại loại hình cồng ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân sẽ không làm triệt tiêu hình thức doanh nghiệp tư nhân bởi vì mặc dù 2 loại hình này đểu do một cá nhân làm chủ song chúng lại rất khác nhau ở những điểm chính sau: công ty trách nhiộm hữu hạn
có ưu điểm là trong kinh đoanh nếu có bị thua lỗ, thì doanh nghiệp chỉ phải chịu trách nhiệm trong phần vốn góp mà thôi Nhưng nó lại có hạn chế khi quan hệ làm
ân với bạn hàng, các doanh nghiệp khác bao giờ cũng thạn trọng hơn khi giao dịch với công ty trách nhiệm hữu hạn vì tính chịu trách nhiệm hữu hạn của nó Còn doanh nghiệp tư nhân lại được các doanh nghiệp khác thích cùng quan hộ làm ăn bới tính chịu trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp đối với các khoản nợ làm các doanh nghiệp yốn tàm hơn Vì vậy, nếu luật pháp quy định thêm về hình thức công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân sẽ tạo điều kiộn cho các nhà đàu
tư iựa chọn hình thức kinh doanh, đổng thời bảo vệ được lợi ích của chủ nợ, cùa người lao dộng và những người khác có liên quan
❖ Về diều lệ công ty t r á c h nhiệm hữu h ạ n và n h ữ n g v ă n b à n t h ỏ a t h u ậ n g i ữ a
các sáng lập viên Lrưức khi thành lập:
Theo pháp luật Viẻl Nam, đối với một công ly trách nhiệm hữu hạn thì điều kiện bắt buộc dể thành lập là các thành viẻn phải soạn thảo ra bản điều lệ công ty Điều lệ là văn bản có giá trị tối cao của công ty trách nhiệm hữu hạn để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong công ty cũng như định hướng cho hoạt động của nó Đó chính \ầ những thoả thuận cùa các thành viên công ty trên cơ sờ pháp luật Nhìn chung một bàn diều lệ công ly bao gồm những điều khoản chủ yếu sau: tôn của cồng
ty trách nhiệm hữu hạn, địa chỉ trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện (nếu có), mục tiêu, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, tổng v S ố vốn dược ghi vào điểu lệ cùa công lỵ, họ lên địa chỉ các Ihành viên, phần vốn góp và giá trị vốn góp của mỗi thành viên, phương thức góp vốn, người đại diện hợp pháp của công ty, phương thức thông qua một quyết định liên quan đến công ty và nhũng vấn đề quan trọng khác
m à các thành viên thấy cần phải thể hiện trong điều lệ
Trang 21Những (tặc (liêm phả/) ỉỳ cùa công ly T N H Ỉi
Trong Điều lệ, tên gọi của công ty là yếu tố đầu tiên không thể thiếu được và theo khoản 1 điều 24 Luật doanh nghiệp nước ta Ihì tên gọi cùa công ty trách nhiệm hữu hạn “phải bảo đảm không trùng hoặc gây nhầm lãn với tên của doanh nghiệp khác dã đăng ký kinh doanh; khòng vi phạm truyền thống lịch sử, vãn hóa đạo đức
và thuần phong mỹ tục của dân tộc; phải viết bằng tiếng Việt và có thể viết thêm bằng một sỏ liếng nước ngoài với khổ chữ nhò hơn”, ngoài ra “còn phải viết rõ loại hình doanh nghiệp: công ty trách nhiệm hữu hạn, cụm từ công ty trách nhiệm hữu hạn viết tắt là TN HH”
Một vấn đề hoàn loàn mới trong Luật doanh nghiệp năm 1999 đó là quy định
về hợp đồng được ký trước khi dăng ký kinh doanh Do luật công ty 1990 không thừa nhạn các thoả thuận ở thời kỳ tiền thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn mà chi quan tâm đến giai đoạn kể tù khi được cấp giấy phép thành lẠp nên dã phát sinh nhiểu vấn đẻ khó khăn không thể giải quyết được chẳng hạn như quy định của Luât công ty vé việc yêu cầu phải có hợp đổng thuê nhà làm trụ sờ thì mới được cấp giấy phép thành lập Nhưng lúc đó chưa có người đại điện cho công ty, hơn nữa công ty chưa có lư cách pháp nhân để làm hợp đồng đó Vì vậy yêu cáu này là không hợp lý
Ngoài ra, Điều 11 của Luật doanh nghiệp còn quy định “hợp dổng phục vụ cho việc thành lập doanh nghiệp có thể được thành viên sáng lập hoăc người đại điện theo uỷ quyền của nhóm thành viên sáng lẠp ký kết.” Tuy nhiên theo chúng tôi, luật nên quy định rõ hơn về những trường hợp nào thì coi đó là hợp đồng phục vụ cho việc thành lập, nội dung chính của hợp đồng này phải gồm những điều khoản nào và trách nhiệm liên đới giữa các thành viên tham gia hợp đồng khi công ty không được thành lập
❖ Lĩnh vực, n g àn h nghề k in h doanh: Khi thành lập một công ty trách nhiộm hữu hạn thì các sáng lập viên phải lựa chọn trước cho công ty một phạm vi kinh doanh không trái với các quy định của phập luật Phạm vi kinh doanh này phải rõ ràng nghĩa là xác định rõ còng ty đó dược thành lập để kinh doanh ở ngành nghề nào, lĩnh vực nỉio Điều này phải dược thể hiện trong bản Điều lê công ty dể các cơ quan Nhà nước và các bạn hàng cùng bịpt ở một số nước như Philippin, Thái Lan, Singapore một số ngành nghề như luật sư, bác sĩ, kế toán có các điều Kiện chặt chẽ
Trang 22Những dộc điểm nháp lý cửa cõng ty T N t ìỉi
vé cáp giấy phép hành nghề cũng như một số ngành nghề khác lại bị hạn chế hoặc khi kinh doanh thì công ty trách nhiệm hữu hạn phải đạt dược các điều kiện kèm theo Có nước lại quy định ngành nghề mà công ty Irách nhiệm hữu hạn không được kinh doanh là lĩnh vực bảo hiểm hay nghề thày thuốc, công chứng viên, luật sư ở Pháp, trước năm 1988, các hoạt động sân khấu không được thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn nhưng về sau lại cho phép công ty trách nhiệm hữu hạn có mặt cả Irong lĩnh vực này
Học tập kinh nghiệm các nước, Luật công ty Việt Nam nãm 1990 và Luật doanh nghiệp năm 1999 đều yêu cầu những ngành nghề mà công ty trách nhiệm hữu hạn xin phcp kinh doanh phải là những ngành nghề mà Nhà nước cho phép kinh doanh, tức là những ngành nghề không thuộc diện nhà nước cấm kỉnh doanh hay
m ' r
nhà nước độc quyền kinh doanh Tuy nhỉên trong Luật cồng tỵ năm Ì990, chúng ta đặt ra quy định một sô' ngành nghề đặc biệt mặc dù nhà nước không cấm kinh doanh nhưng nếu muốn kinh doanh thì phải dược Thủ tướng Chính phủ cho phép đó là 7 ngành nghề nèu tại điều 11 Ngoài ra theo điều B Bản quy định của Hội đổng Bộ trưởng cụ thể hóa một số điều trong Luật công ty (ban hành kèm theo Nghị định số 222/HĐBT ngày 23/7/1991 của Hội đồng Bộ trưởng) thì nếu công ty kinh doanh ở
một số ngành nghề sau phải tuần thủ $ầy đủ các điều kiện do các Bộ quản lý ngành
và Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định như ngành năng lượng, ỉuỵện kìm, sản xuất và lắp ráp điện tử Ngành sản xuất gạch ngói nung, sử dụng lò hơi, máy búa, thuốc
nổ, khí nén sẽ do Ưỷ ban nhân đân tỉnh quy định các điều kiện cụ thể cho phù hợp với đặc điểm kinh tế- xã hội cùa từng địa phuững Thực tế cho thấy việc quy định này gây nên sự lộn xộn, chổng chéo nhau, không nhất quán giữa quy định của các ngành, các địa phương Hơn nữa việc quy định danh mục nghề nghiệp cũng có chỗ không rõ ràng dễ dẫn tới m ột khái niệm nhưng có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau Ví dụ như trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, theo Nghị định 222/HĐBT mục 16 quy định ngành nghề là buôn bán tư liệu sản xuất, buôn bán tư liệu tiêu đùng Khái niệm này được các cơ quan nhà nước giải thích hoàn toàn khác nhau, Chẳng hạn theo ý kiến của cơ quan cấp phép thì trường hợp này công ty được kinh doanh mọi mạt hàng (trừ những mặt hàng cấm và măt hàng kinh doanh có điểu
Trang 23NhĩniR đặc điểm pháp lý cùa cõng ty TN H H
kiện) Nhưng trong ngành hải quan và một số trường hợp ngay cả Bộ thương mại cũng cho rằng ngành nghé như thế là quá chung chung và muốn kinh doanh, xuâít khẩu mặt hàng nào Ihì phải ghi rõ trong giấy phép kinh doanh (Thông tư của Tổng cục hải quan sô' 04/1998/TT-TCHQ ngày 29/8/1998 hướng dẫn thi hành chương II
và chương IV Nghị định 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luạt thương mại về thù lục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và đại lý mua bán hàng hoá với nước ngoài) Như vây, công ty không biết
ai dúng, ai sai nhưng muốn được việc thì vẫn phải làm theo các cơ quan chức năng
Nhìn chung những quy (lịnh về ngành nghề kinh doanh trong Luật công ty năm 1990 là rấi chung, rất rộng do đó làm cho các cán bộ chuyèn trách của cơ quan nhà nước có thể lợi dụng điểm hạn chế này, gây sách nhiểu cho nhà đểu tư Đổng thời về phía công ty và những người quản lý đều có thể tìm mọi cách để "lách" luật
Với sự ra đời của Luật doanh nghiệp năm 1999, quy định về những ngành nghé cần phải xin phép Thủ tướng chính phủ mà Luật công ty nãm 1990 nêu ra đã bị loại bỏ và đổng Ihời Luật doanh nghiệp đã phân đinh hết sức rõ ràng và rất khoa học
vé các loại ngành nghề khác nhau thể hiện sự mở rộng quyền tự chú, sáng lạo trong kinh doanlì cho các doanh nghiệp, khắc phục được lình trạng lộn xộn khi quy định
vẻ ngành nghề kinh doanh của các cấp, các địa phương ở thời kỳ trước dây Cụ thể là Luật doanh nghiệp phân chia làm 6 nhóm ngành nghề khác nhau đó là: nhóm những ngành nghề bị cấm kinh doanh, nhóm các ngành nghề khi kinh doanh phải có diều kiện, nhóm ngành nghể cần có vốn pháp định, nhóm ngành nghề cần có chứng chỉ hành nghề, nhỏm ngành nghề chỉ dược kinh đoanh dưới hình thức công ty hợp danh hay doanh nghiôp tư nhan và nhóm những ngành nghề còn lại Điéu đó đã thể hiện
sự tiến bộ vưựl bậc của các nhà lập pháp nước ta, đồng thời thể hiện quá trình chuyển đổi từ cơ chế “chỉ làm những gì được phép” sang cơ chế ''dược làm những gì
mà pháp luậl không cấm ” Điều 3 Nghị định số 03/2000/NĐ-CP của Chính phù ra ngày 03/2/2000 hướng dẫn thi hành một số điểu của Luật doanh nghiệp dã quy định
11 ngành nghề bị cấm kinh doanh, đó là những nghề “gây plurơng hại đến quốc phòpg, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuẩn phopg mỹ tục Việt Nam và sức khoẻ của nhân dân” (khoản 2 đíẻu 6 Luât doanh
Trang 24Nhtntg đặc điểm pháp lý của công ly T N tìti
nghiệp) Trong sô đó có các ngành nghề như kinh doanh chất ma tuý, kinh doanh mại dâm, dịch vụ tổ chức mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em, kinh doanh dịch vụ tổ chức gá bạc, đánh bạc là những ngành nghề đang có nguy cơ gia tăng trong những năm gẩn đAy và đã được Luật hình sự sửa đổi liệt kê vào danh mục các lội danh có tính nguy hiểm cao cho xã hội
Về nhóm các ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì Luật doanh nghiệp và các văn bản hướng dãn quy định “đ ìềư k iện kinh doanh” thể hiện dưới 2 hình thức:
m ột là giấy phép kinh doanh do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp và hai là các quy dịnh về tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, quy định về phòng cháy, chữa cháy, trủt tự xã hội, an toàn giao Ihông và quy định vể các yêu cầu khác dối với hoạt dộng kinh doanh Ngoài ra dể tránh viêc tự do đạt ra các điều kiện riêng bất hợp lý và nhiéu khi trái pháp luật về ngành nghề kinh doanh của các Bộ, ngành hoặc các cấp chính quyền dịa phương như trước đây thì Nghị định 03 còn quy định “các văn bàn quy phạm pháp luật do các Bộ, ngành hoặc các cấp chính quyén địa phương ban hành mà không căn cứ vào luật, pháp lệnh, nghị dịnh quy định vẻ ngành, nghề kinh doanh có điều kiên và điều kiộn kinh doanh các ngành, nghề dó dổu không có hiệu lực thi hànli” Ngày 13/10/2000, Bộ trường Bộ thương mại dã cỏỉig bố danli mục ngành nghề kinh doanh có diều kiện và danh mục giấy phép kinh doanh trong hoại dộng thương mại Trong đó quy định các ngành nghề, mặt hàng kinh doanh có điều kiện và các điều kiện tương ứng như: đá quý (điều kiện kinh doanh là có giấy chứng nhận đãng ký kinh doanh măt hàng đá quý, có cơ sở vật chất
kỹ thuật, có cán bộ, thợ chuyên môn) Tuy nhiên cho đến nay sô' lượng văn bản hướng dẫn Ihi hành Luật doanh nghiệp còn quá ít đăc biệt là chưa có quy định cụ thể
về danh mục các ngành nghề cần vốn pháp định, chưa có hướng đẫn cụ thể của các
Bộ vẻ đặc tính những mặt hàng bị cấm kinh doanh theo Nghị định 03/2000/NĐ-CP cùa Chính phủ ngày 03/2/2000 Do việc ban hành vãn bản hướng đần quá châm, khỏng kịp thòi đã gây khó khãn cho hoạt động kinh doanh của các doatih nghiệp Vì vậy, trong (hời gian tới, các nhà làm luật cần nhanh chóng xây dựng nhữỉig văn bản hướng đẫn để đảm bảo cho Luật doanh nghiệp thực sự đi vào đòi sống
Trang 25N lìínig dặc điếm pltáp tý cùa công ty T N H Ỉi
❖ Vốn và thủ tục góp vòn khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn:
Liên quan đến vấn đề này, chúng tôi xin trình bày các khái niệm đáng chú ý
sau: vốn điều lệ, vốn pháp định, vốn góp và thủ tục góp vốn khi thành lập công ty
trách nhiệm hữu hạn
- Vốn p h áp định: là mức vốn tôi thiểu phải có đổ thành lập công ty do pháp luạt quy định dối với từng ngành nghề cụ thể Đó là cái ngưỡng cửa tài chính lối
thiều mà muốn hình thành công ty phải vượt qua Mục đích chính của vốn pháp định
là sự thể hiện hợp thức hóa về mặt nguyên lý nguyện vọng và thiện chí thực sự của
các thành viên công ty cho sự tồn tại và hoạt động của công ty, chứ không phải là sự
dàm bảo vể mạt tài chính cho vấn đế đó Vốn pháp định có những mức khác nhau ở
các ngành nghề khác nhau và được pháp luật các nước quy định khác nhau
Hiện nay trên thê' giới, một số nước đã bỏ quy định về vốn pháp định Những
nước còn duy irì khái niệm này chủ yếu ỉà những nước châu Âu nhưng cũng chỉ
mang tính lượng trưng, không còn là công cụ để bảo vộ lợi ích của chủ nợ nữa
Trong gần một thế kỷ qua, mức vốn pháp định của các nước dó không hề thay đổi
Trước đay, Luật công ty Việt Nam năm 1990 cũng đã từng quy định mức vốn
pháp định cho công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh ở những ngành nghề khác
nhau Theo Nghị (lịnh số 222/HĐBT ngày 23/7/1991, 18 nhóm ngành nghề đã được
ấn định mức vốn pháp định, mức cao nhất là 1.500 triệu đồng và mức thấp nhất íà 50
triệu đổng Đây là khoản vốn cô' định bắt buộc công ty phải có, và công ty không được lãng hay giảm vốn pháp định Nhưng dĩ nhiên là nó không cố định dối với nhà nước bởi nhà nước sẽ điểu chỉnh nó cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh
tế Tuy nhicn danh mục này lại chưa dầy đủ, không chặt chẽ, không Ihực tế đối với
sự phát triển của xã hội, đôi khi còn làm hạn chế những ngành nghề kinh doanh khác Viộc thiếu các quy định về mức vốn pháp định ờ một số ngành nghề đã tạo ra
cơ hội cho các cấp, các ngành tự quy định một cách tuỳ tiện vốn pháp định đối với các ngành nghề không có trong danh mục nhằm dáp ứng yêu cầu cùa thực tế xã hội
ví dụ như mức vốn pháp dịnh của công ty írách nhiệm hữu hạn tư vấn luật chưa được nhà nước quy định trong đanh mục Đây chính là một sơ hở của Luüt công ty năm
1990, gây irở ngại rất lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, làm nảy sinh các
Trang 26Những dậc điếm pháp lý ctỉa công ly T N U II
hiện tượng tiêu cực lạm dụng, cửa quyền, giảm lòng tin cửa nhân dân vào các chính sách đúng đắn cùa Đảng và nhà nước dôi với các nhà dáu tư và các doanh nghiệp Mặt khác, sau mộl thời gian áp dụng, các mức vốn pháp dịnh dâ dặt la khồng còn phù hợp với thực tế nữa nên tính khả thi của pháp luật bị giảm sút, chỉ còn là hình thức Như vậy, mục dich của vốn pháp định là để bảo vệ lợi ích của các chủ nự thì liên thực tế lại cản trở nhà đầu tư Và không ít trường hợp nhà đầu tư đi vay mượn liền của người khác gửi vào tài khoản ờ ngân hàng để đảm bảo đạt mức vốn pháp định Sau khi dã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận vể mức vốn thì họ lại rút tiền ra irả cho người vay
Như vậy qua hơn 8 năm thực hiện Luật công ty, một thực tế cho thấy là quy dịnli vé vốn pháp định rất hình thức, không phải là công cụ để ngăn chặn những vụ làm ăn phi pháp, lừa đảo Các chủ doanh nghiệp có thể lách qua các quy định của pháp luật một cách dễ dàng và những vốn "ma" được nhà nước hợp pháp hóa khiến cho người khác dễ bị nhám lân như vụ án Minh Phụng-Epco, Trần Xuân Hoà và đổng bọn là những minh chứng cho điều đó
Từ việc nghiên cứu về các hạn chế trong quy định trước đây của Luật công ỉy năm 1990, chúng lôi nhận thấy Luât doanh nghiệp năm 1999 dã Ihể hiện sự tiến bộ lớn lao qua việc quy định vôn pháp định không phải là một Irong những điều kiện bắt buộc trong quá trình Ihành lập công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ trừ một số ngành nghề có yêu cầu về vốn pháp định Như vậy, phạm vi quy định vé vốn pháp định trong Luại doanh nghiệp đã được thu hẹp lại Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp vẫn dành chỏ cho sự tổn lại của vốn pháp định bởi Nhà nước đật ra vốn pháp định với mục đích là công cụ để bảo vệ lợi ích của chủ nợ Song trên thực tế mục đích này rất khó thực hiện do vốn pháp định thường chỉ bảo đảm một phần yêu cầu sản xuất kính doanh của công ty Trong khi đó khả năng trả nợ của doanh nghiệp không phải phụ thuộc vào vốn pháp định mà phụ thuộc vào tình trạng tài chính và năng lực quản lý của nó Vì vậy ở hầu hết các nước trên thế giới đã bỏ quy định vồ vốn pliáp định Từ
đó chúng tỏi thiết nghĩ Luật doanh nghiệp cũng nên bỏ hẳn quy định này để tránh sự nhổm lản cho các chủ nợ Tuy nhiên điều này không có nghĩa là không có vốn mà vẫn thành lạp được công ty trách nhiệm hữu hạn, trái lại công ly phả| đãng ký vốn
Trang 27Những ddc diem Iiháp lý cửa công tỵ T N lỉlt
khi thành lúp và định kỳ báo cáo, cập nhật thông tin về số vốn đó trong quá trình hoạt động với các cơ quan đăng ký kinh doanh để cung cấp thông tin cán thiết cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong viêc quản lý các loại hình doanh nghiôp cũng như cho các chù thể khác có nhu cầu cần biết về công ty Điều đó dựa trên cơ
sở và nhằm thực thi nguyên tắc kết hợp sự quản lý, kiểm tra, giám sát của các chủ ihể irên thương trường và xã hội
- Vốn diều lệ: bất kỳ một công ty trách nhiệm hữu hạn nào muốn thành lập thì luật pháp cũng yêu cầu công ty đó phải có vốn điều lệ Vổn điều lệ là số vốn do các thành viên đóng góp và được ghi vào điều lệ công ty Pháp luật không quy định mức bắt buộc dối với vốn điều lộ mà nó phụ Ihuộc vào khả năng đóng góp của các Ihành viên Một sô nước (trong đó có Việt Nam) thì quy định vốn điều lệ không dược thấp hơn vốn pháp định
- V ốn g ó p và th ủ tục g ó p vòn: Việc góp vốn vào một công tỵ trách nhiệm hữu hạn dược hiểu là việc một cá nhân hay một tổ chức chuyển dịch một khối lượng vạt chất hay một quyền, một khả năng có giá trị nhát định nào đó của mình vào một công ty irách nhiệm hữu hạn để trở tịìành chù sở hữu hoặc các chù sở hữu chung của công ly Theo quan điểm của các nước thuộc hộ thống Luật Châu Âu lục địa (Irong
dó có Việt Nam) till công ty trách nhiệm hữu hạn có điểm khác so với công ty cổ phán ờ chỏ: sau khi đã góp vốn vào công ty Irách nhiệm hữu hạn thì vốn đã góp đó thuộc sở hữu của công ty và người góp vốn là thành viên nhận dược cáí gọi là “phần vốn góp” thể hiện mức sở hữu của thành viên đó đối với còng ty Còn nếu góp vốn vào còng ty cổ phần Ihì người đó cũng ưở ihành thành viẽn của công ty cổ phần nhưng sau khi góp vốn Ihành viên này nhận dược cái gọi là “cổ phần” “Cổ phần” ở đâv được hiểu là phần chia nhỏ nhất vốn điều lệ của công ty cổ phần, dược thể hiện dưới hình Ihức cổ phiếu, c ổ phiếu có một giá (rị danh nghĩa gọi là mệnh giắ cổ phiếu Thành viên của công ty cổ phần góp vốn bằng cách mua các cổ phần Trên Ihực lê theo quan niệm này, cỏ phần cũng thể hiện quyền sỏ hữu dối với công ty và người la coi lổng số vốn điều lệ bằng sở hữu công ty Tuy nhiên, ở các nưóc theo hệ thrtng LuẠt Ihỏng lô thì người ta định nghía “cổ phán” là đơn vị đổ phận chia quyền
sở Ịiữu của công ty nên nó không có mối liên hệ gì với vốn điều lê Do đó phán lợi
Trang 28Nh im g đặr điểm pluíp lý cùa còng ty TN H H
ích của người góp vốn vào “công ty đóng” hay “công ty mờ” đều được gọi chung là
ngoại ]ệ đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn giữa các cặp vợ chổng, khi mà một tiong 2 người dã góp bằng một cửa hiệu hay một cơ quan sản xuất thủ công thì người kia dược phép góp khả năng của minh vào công ly” [32, 134] Tuy nhiên, về ván dề góp vốn bằng khả nãng vào công ty trách nhiệm hữu hạn nói trên, theo chúng tòi ở nước ta chưa thể áp dụng được bởi chúng ta chưa có một cơ chế kiểm soát đủ chặt chẽ và hiện đại như ở các nước đổng thòi nếu đem thi hành vấn đề này trên thực
tố thì e rằng nhiều hiện tượng tiêu cực sẽ xảy ra
Khi góp vớn bằng tiền mặt vào công ty trách nhiệm hữu hạn thì một số nước quy định diều kiộn là phải mang đếu tức khắc và đầy đủ Phẩn vốn dóng góp này công ly phải gửi lại mội ngan hàng và chỉ được rút ra khi công ly chính Ihức (Jị vào hoạt dộng hoặc sau một thời gian nhật định tuỳ theo sự quy định của pháp luật mổi nước Nhưng cũng có những nước không bắt buộc các thành viên khi góp vốn bàng liền mặt phải đóng đáy đủ ngay mà có thổ chỉ góp một phần rồi cam kết thời hạn sẽ góp dủ
Vốn góp còn có Ihể bao gồm cả các khoản góp bằng hiện vật và phải đảm bào dược 3 tính chất là hợp pháp, lợi ích và tính Ihỏa mãn nhu cầu của công ty Thông thường pháp luật các nước đều có quy định về nguyên tắc xác định giá trị tài sản góp vốn như: việc đánh giá phải tiến hành trên cơ sở báo cáo cùa một uỷ viên kiổm tra hùti vốn do toàn thể hội viên tương lai chỉ dinh hoặc do toà án thương mại chi định hoặc Luật cồng ty Trung Quốc quy định “vốn góp bằng quyồn sở hữu công nghiệp, kỹ thuạt dược định giá không đưực vượt quá hai mươi phần trâm (20%) vốn
Trang 29N Ịìữỉig dặc diêm pháp lý cùa cóng ty T N ỈiH
ghi Sổ của công ty trách nhiệm hữu hạn, trừ trường hợp Nhà nước có quy định riêng đối với việc áp dụng các thành quả kỹ thuật, công nghệ cao và mới” [2, 3], Đồng thời luật pháp các nước cũng đưa ra chế tài áp dụng đối với trường hợp tài sản hay bàn q u yền sờ hữu cổng nghiệp dùng để góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế của nó thì các thành viên phải liên đới chiu trách nhiêm về viêc này và thành viên giao nộp sô' vô'n đó phải nộp bù số chênh lệch Sau khi công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập thì phải phát giấy chứng nhận phần vốn đã góp vào công ty cho các thành viên
Học tâp điểm tiến bộ này của luật pháp các nước, Luậl doanh nghiệp nảm
1999 cũng đưa ra một cơ chế kiểm tra, kiểm soát đối với thù tục góp vốn bằng tài sản, bản quyền sở hữu công nghiệp hay quyền sử đụng đất như sau:
+ Việc góp vốn bằng tài sản vào công ty phải chuyển quyén sở hữu từ người góp vốn cho công ty (điều 22) và phải được định giá và thông qua theo nguyên tắc nhất trí Điều đó có nghĩa là việc xác định giá trị tài sản góp vốn trước hết thuộc trách nhiộm của người góp vốn và công ty Điều 22 Luật doanh nghiệp còn quy định lõ: sau khi công ty được cấp giấy chứng nhân đăng ký kinh doanh thì phải làm thú tục cần thiết để chuyển quyén sở hữu tài sản gổm: thủ tục chuyển quyền sở hữu đôi với lài sản có đăng ký, thủ lục chuyển quyền sử dụng dất tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc đối với các tài sản khác thì phải có biên bản bàn giao xác nhận việc góp vốn bằng tài sản Sau đó, người đại diộn theo pháp ỉuật của công ty phải làm thông báo bằng văn bản đến cơ quan đăng ký kinh doanh và phải nêu rõ tinh trạng góp vốn của các thành viên
+ Đối với trường hợp giá trị tài sản góp vốn được xáe định cao hơn so với giá trị thực tế cùa nó lại thời điểm góp vốn thì cũng giống như pháp luật các nước, Luật doanh nghiệp quy định: người góp vốn và người định giá phải góp cho đủ vốn lìhư đã được dịnh giá; nếu gây thiệt hại cho người khác thì phải liên đới chịu trách nlúôm bồi Ihường Người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích liên quan, khi chứng minh được việc tài sản góp vốn đã được địnỊi giá sai so với giá trị thực tế lại thời điểm góp vốn thì có quyén yêu cầu cơ quan đãng ký kinh doanh buộc người định giá phải định giá Ịại hoặc chỉ định lại giá trị tài sản góp vốn (điéu 23 Luật đoanh nghiệp)
Trang 30đủ và dúng hạn sô vốn dã cam kếl (điểu 27).
Như vậy các quy định này của Luật doanh nghiệp đã ràng buộc chặt chẽ irách nhiệm của người góp vốn cũng như người đại diên Iheo pháp luật của công ty, tạo ra môi quan hệ ràng buộc lân nhau giữa các thành viên cổng ty Các thành viên phải tự điều chinh nhau và phải tuñn thủ pháp luật
b) Thủ tục thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn:
Để một công (y trách nhiệm hữu hạn ra đời, các sáng lập viên phải đáp ứng dáy dù các điều kiện và phải thực hiện thủ tục thành [ập theo đúng trình tự pháp iuât quy định
Ở phẩn lớn các nước, trước đây, thủ tục thành lập một công ty trách nhiêm hữu hạn dưực quy định là phải trải qua 2 giai đoạn: giai đoạn một cẩn phải có giấy phép Ihành lập của Nhà nước và giai đoạn 2 là đăng ký kinh doanh Đến năm 1870, hầu hết các nước trên thế giới đều bãi bỏ giai đoạn cấp giấy phép thành lập mà quy định công dân có quyến tự do thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn và lự do hoat dộng kinh doanh Nhà nước chỉ b it buộc các công ty có nghía vụ dàng ký kinh doanh trước khi hoạt động kinh doanh Và từ đó cho đến nay, thủ tục thành lập một công ty trách nhiệm hữu hạn ở hầu hết các nước trên thế giới đều chỉ gồm 1 giai đoạn là đãng ký kinh doanh Ở nuớp ta, trước đây theo Luât Công ty năm 1990 thì Ihủ tục thành lạp một công ty trách nhiệm hữu hạn cũng gổm 2 giai dpạn: giai doạn
1 là xin phcp thành lạp công ty trách nhiộm hữu hạn (chúng ta quan niệm đây là thù
Trang 31\ ’hững dộc điểm pháp lý cùa cồng ív TN H H
tục hành chính) và giai đoạn 2 là đăng ký kinh doanh (nước ta quan niệm đây là thủ lục mang tính tư pháp) mà 2 giai doạn này cùng một mục đích chung là cho ra dời một công ty trách nhiệm hữu hạn So với các nước, việc quy định như vậy là hết sức phức tạp, thù tục thành lập phải qua nhiều cửa, ảnh hưởng lớn đến quyền tự do kinh doanh của công dân ở mỗi giai đoạn, nhà đẩu tư phải lầm đủ từ 8 đến 10 loại giấy chứng nhận khác nhau và phải xin được khoảng gần 20 loại giấy tờ, con dấu khác nhau ví dụ khi xin giấy phép thành lập công ly trách nhiệm hữu hạn, theo Luật công
ty 1990, các sáng lập viên phải làm 3 bộ hồ sơ gửi đến sở quản lý ngành kinh tế kỹ thuật mà công ty dự định kinh doanh và mỗi bộ hồ sơ (theo điều 14 Luật công ty và Thồng lư số 472/PLDS-KT ngày 20/5/1993 của Bộ Tư pháp) phải có đủ từ 8 đến 10 loại giấy tờ Do đó thời gian trung bình để cho ra dời một công ty ỉrách nhiệm hữu hạn là khoảng vài tháng và hơn nữa phải trả một khoản lệ phí không nhỏ Điểu đó đã làm nhiều nhà đầu tư nản lòng và không muốn thành lập công ty trách nhiêm hữu hạn Tuy nhiên sự việc nào thì cũng có những nguyên nhân của nó Theo chúng tôi, việc quy định quá trình thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn trước đây ở nước ta phải trải qua 2 giai đoạn là do những nguyên nhân chủ yếu sau chi phối:
Thứ Iihất là do chúng ta quan niệm việc cấp giấy phép thành lâp công ty trách nhiêm hữu hạn thực chất ỉà một quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm cho phép một cá nhân hoặc một tổ chức nào đó dược thành lập công ly trách nhiệm hữu hạn Việc cấp giấy phép này ỉà mộl biện pháp quản lý cùa nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh, bạn chế những hoạt động kinh doanh trái pháp luật Thông qua việc cấp phép thành lập, nhà nước có thể nắm bắt dược tình hình phát triển kinh tế trong các ngành, lĩnh vực để từ đó có chính sách thích hợp điều liết nền kinh tế đất nước Ngoài ra nó còn đóng góp vào việc đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người kình doanh và tiêu dùng Do đó biộn pháp quán lý này phải dược Ihực hiện ngay từ bước đẩu của quá trình thành lập công ty
Thứ hai là trên thực tế trong những năm 80, ở nước ta dã có quá nhiều vụ lừa dào trong vấn đề huy động vốn, điêỊi hình là vụ hãng “nước hoa Thanh Hương” và
sự sụp đổ liên liếp của hàng loạt các quỹ tín đụng Cho nên trước nhu cầu cấp bách
CÙJỈ việc hạn chê sự lạm dụng lừa đậo trong kinh doanh, nhà nước ta phân thấy cần
Trang 32Nhihig đăc điểm nháp ¡ý cùa cồrtiỊ ty TN H H
phải quản lý quá trình thành ỉập một doanh nghiệp nĩi chung, cơng ty trách nhiệm hữu hạn nĩi riỏng một cách chặt chẽ bằng cơng cụ pháp luật Do đĩ (rong thời kỳ Ihực hiện Luật cơng ty, riêng vấn đề vẻ thành lập cồng ty nĩi chung, cơng ty Irách nhiệm hữu hạn nĩi riêng ở Việt Nam dã cĩ một khối lượng khơng nhị những ván bàn hướng dẫn
Theo Luật cơng ty năm 1990, thời hạn để sờ quản lý ngành xem xét và làm ihií tục báo cáo với u ỷ ban vể việc cấp hoặc từ chối cấp giấy phép thành lập cơng ty
là 40 ngày kể từ ngày nhận đủ hổ sơ Thời hạn quy định để UBND cấp hộc lừ chối cấp giấy phép Ihành lập cơng ty là 60 ngày, kể từ ngày nhân đủ hổ sơ nếu hổ sơ được trực tiếp dưa đến Sở quản lý ngành, hoặc tính theo ngày gửi được ghi trên dấu bưu điện, nêu hồ sơ được gửi qua bưu điện Muốn thành lập cơng ty trách nhiệm hữu hạn ở những ngành nghề đặc biệt thì phải tuân theo quy định tại Thơng tư số 141/PLDS-KT ngày 3/3/1992 của Bơ tư pháp Hơn nữa, Luật cơng ty năm 1990 cịn dặt ra 3 điều kiện sau đày để một cơng ty trách nhiệm hữu hạn được cấp phép thành lập:
- Cĩ mục tiêu, ngành nghề kinh doanh rõ ràng, c ĩ phương án kinh doanh ban đầu
gây ra khơng ít phiền hà cho các sáng lập viên Thậm chí cĩ những quy định riêng của các ngành, địa phương trái với quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền tự
do kinh doanh của các doanh nghiệp ví dụ như: Quyết định số 272/QĐUB ngày
Trang 33s hững dặc die III pháp lý của công ty TN H H
8/2/1992 của UBND thành phố Hà Nội quy định chỉ có những người có hộ khẩu thường trú tụi Hà Nội và có chứng minh ihư nhân dân do công an thành phố Hà Nội cấp mới được cấp phép thành lập công ty tại Hà Nội Đôi với những người ờ tỉnh khác muốn vào Hà Nội kinh doanh phải có ý kiến của IJBND lỉnh sở tại đồng ý cho
về Hà Nội kinh doanh
Qua việc nghiên cứu thủ tục xin cấp giấy phép thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn trên day, chúng tôi có thể rút ra những nhận xét sau:
- Thủ lục này là quá phiền hà, phức tạp và thiếu hiệu quả, trong đó các cơ quan nhà nước lại chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc thành lập công ty mà hầu hết ở các nước khác không làm như vậy
- Hồ sơ xin phép thành lập quá rườm rà, phức tạp, có một số điểm không cần thiết, chưa hợp lý như cơ quan nhà nước ]ại đòi xem và đánh giá phương án kinh doanh ban đắu của công ty khi mà trên thực tế các cán bộ nhà nước không thể có đù thông tin và kiến Ihức chuyên môn để đánh giá tính khả thi của phương án bằng các nhà đầu tư Bởi một điẻu là khi các nhà đầu lư dự định kinh doanh lĩnh vực nào là họ dã phải có một sự chuẩn bị khá kỹ càng, thu thập đầy đủ các thông tin liên quan đến lĩnh vực dó và họ dự đoán việc kinh doanh này sẽ marçg lại lợi nhuận cho họ thỉ mới quyết địnỉi đầu lư Bản thân diều kiện bắt buộc này đã gây ra lốn kém cho nhà đáu
iư, đổng thời còn tạo ra hiện tượng tham nhũng, sách nhiễu từ phía các cán bộ nhà nước và tệ hại hơn nữa là có thể làm lộ bí mật kinh đoanh của công ty Vì vậy, các nhà dầu lư không bao giờ đưa ra một kế hoạch kinh doanh thậi sự của mình mà chỉ
là thủ tục mang tính hình thức Còn các giấy tờ xác nhận nhân thân cùa sáng lập viên cũng chỉ mang tính hình thức và không cần thiết Việc xin công chứng giá trị tài sàn bằng hiện vậỉ thực hiện rất khó khăn bởi vì người xin công chứng phải có giấy phép thành lạp công ty Trong khi đó họ xin công chứng ỉà để làm hổ sơ xin pliép thành lộp công ly Hơn nữa quá trình liến hành công chứng lại phức tạp với Hội dồng dịnh giá gồm dại diện cùa mội số cư quan, mội sô' chuyên gia
Nhận thức duợc những bất cûp của Luật công ty năm 1990 về ihủ tục thành lập công ty trách nhiộm hữu hạn, đồng thời tiếp thu những điểm tiến bộ của pháp luật các nước trên thế giới, ngày 12/6/1999 Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 5 đã ban
Trang 34Nlunip dác diéin pháp lý cùa công ly TN H H
hành LuẠt doanh nghiệp - đánh dấu một buớc ngoặt quan trọng trong lịch sử lạp pháp nước la LuẠl doanh nghiệp năm 1999 dược xem như là bước dột phá trong công cuộc cải cách hành chính, nhất là trong môi quan hệ giữa các cư quan nhà nước với dàn cư và doanh nghiệp Luậl doanh nghiệp đã thực hiện việc dơn giản hóa thù lục và hỗ sơ đảng ký Ihành lập công ly trách nhiệm hữu hạn theo hướng chì giữ lại những hổ sơ, giấy tờ và thủ tục thực sự cần thiết, giảm tới mức tối đa những việc
mà người dân và công ty phải xin phép mới được làm Luạt doanh nghiệp đã bỏ giai đoạn cấp giấy phép thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn mà quy định thủ tục thành lập công ty chỉ gồm một bước là đăng ký kinh doanh Sự đổi mới này xuất phát từ nguyên nhân cơ bản sau:
Hiện nay nền kinh tế đất nước ta đang trên đà phát triển Chúng ta không còn
ờ trong giai đoạn đầu tiên của thời kỳ dổi mới nữa Do đó với tình hình hiện nay, khi
mà trình độ phát triổn kinh tế-xã hội ờ Việt Nam đã đạt mức cao hơn so với thời kỳ LuẠl còng ty năm 1990 ra đời lliì khung pháp lý và thể chê quàn lý nhà nước từng bước phát triển và đang Irong quá trình hoàn thiện Hơn nữa nẻn kinh tế thị trường hiện nay mang tính năng động và đòi hòi các nhà đầu tư phải nắm bắt cơ hội một cách nhanh chóng liên thương trường Vì vậy hếu các thủ lục hành chính quá phức tạp, rườm rà ihì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư, sẽ làm các nhà (lầu lư trong và ngoài nước nản lòng và chúng ta không thể thực hiện được phương châm phát triển nền kinh tê dựa vào nguổn nội lực trong nước là chính, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài Mặt khác, một số quy định cùa Luật công ty năm 1990 không còn thích hợp với tình hình thực tế hiện nay nữa, đã thể hiộn nhiều bất cập làm hạn chế hoại dộng sản xuất kinh doanh, đặc biệt ỉà vấn đề thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn Vì vây Luật doanh nghiệp ra đời là một điều tất yếu
Hơn nữa, do sự đổi mới trong nhận thức của các nhà lập pháp khi tiếp cận với những tiến bộ trong lĩnh vực pháp lỷ trên thế giới, những người xây dựng Luật doanh nghiệp đã quan niệm việc ihành lạp doanh nghiệp nói chung, công ty Irách nhiệm hữu hạn nói riêng là quyển của nhà dđu tư, không cần phải xin phép cơ quan nhà nước như Irước dây Do đó một cống ty trách nhiệm hữu hạn muốn thành lạp thì
Trang 35ty trách nhiệm hữu hạn mới có tư cách pháp nhân Khi chưa đăng ký kinh doanh Ihì các thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn phải chịu trách nhiệm vồ hạn về những khoản nợ Công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty sau khi đã được đăng ký kinh doanh Tuy nhiên, sau khi đăng ký, các thành viên có thể thoả thuận với nhau để tiếp nhận những nghĩa vụ dã phát sinh trước khi đãng ký nếu các nghĩa vụ đó phát sinh từ việc thành lập công ty Khi đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì công ty trách nhiêm hữu hạn được tiến hành các hoại động kinh doanh theo các ngành nghề đã đãng ký, được thừa nhạn về iư cách doanh nghiệp để Ihiết lập các quan hệ kinh lế, được bảo vệ quyền lợi chính đáng và lợi ích theo quỵ định của pháp luật Việc đăng ký kinh doanh vSẽ
giúp cho Nhà nước nắm được các loại hình doanh nghiệp, quy mô và Irạng thái hoạt động của nó theo lừng ngành nghề trong nén kinh lế Đồng thời, thông qua công tác kinh doanh, cơ quan thuế tiến hành thu thuế theo quy định của pháp luật một cách thuận tiện và chính xác hơn, tránh tình trạng bỏ sót, thất thu thuế Hơn nữa, viêc dăng ký kinh doanh sẽ giúp cho Nhà nước có kế hoạch đầu tư phù hợp vào những lình vực mà các nhà tư bản ÍI đầu tư để phát triển cân đối lổng thể nền kinh tế cùa đất nước Việc dăng ký kinh doanh còn có tác dụng thiết iập trật tự kỷ cương trong hoạt dộng sàn xuất kinh doanh bởi qua hành vi đãng ký, các công ty trách nhiêm hữu hạn sẽ tự chịu trách nhiệm vé hoạt động của mình trước các doanh nghiệp khác, Ihực hiên những hoại động kinh doanh một cách thận trọng Điều đó cũng giúp cho việc hạn chế những tranh chấp về hợp đồng kinh tế, những vi phạm pháp luật
Hầu hết các nước phương Tây, do những đăc trưng về chế dô quàn lý nhà nước cũng như về phong tục, tập quán cùa dân tộc mà viêc đãng ký kinh doanh được thực hiện tại các cơ quan tư pháp nhự Toà án Toà án sẽ thực hiện việc dảng ký kinh doanh cho các công ty căn cứ vào lời khai của người thành lập công ly và căn cứ vào
Trang 36Những dặc điểm pháp lý của công ty TN tỉH
kết quả (hẩm định cùa các chuyên gia kiểm toán dộc lập Nhưng ờ các nước châu Á thì người ta lại giao việc đăng ký kinh doanh cho các cơ quan hành pháp thực hiện trong đó có cả Việt Nam
Theo pháp luật nước ta, khi muốn đăng ký kinh doanh, người thành lập cổng
ty trách nhiỏm hữu hạn phải lạp và nộp đủ hổ sơ theo quy định của pháp luật đến Sở
Kê hoạch và Đầu tư của tỉnh, thành phố irực thuộc trung ương Quy định vé hổ sơ đăng ký kinh doanh được đổi mới mạnh mẽ trong Luật doanh nghiệp năm 1999 so với Luật công ly năm 1990 Cụ thể là theo điều 13 Luật doanh nghiệp thì hồ sơ đãng
ký kính doanh chỉ gồm: đơn xin đãng ký kinh doanh, điều lộ cùa công ty, đanh sách thành viên của công ly trách nhiệm hữu hạn, đối với công ty kinh doanh các ngành nghể đòi hỏi phải có vốn pháp định lliì phải có Ihêm xác nhạn vể vốn của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định cùa pháp luật Đối với công ty kinh doanh các ngành nghể phải có chứng chỉ hành Ịighề thì phải có thêm bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề cùa inột Irong số những người quản lý công ly Theo Luật doanh nghiệp năm 1999, giấy phép hành nghề cũn£ được đổi mới, nhiéu loại giấy phép bất hựp lý trước đây, trái quy định của Luật doạnh nghiệp được bãi bỏ như trong Quyết định số 19/2000/QĐ-TTg cùa Thủ tướng Chfnh phù ban hành ngày 3/2/2000 vồ loại bỏ 84 giày phép trái với quy định của Luậf doanh nghiệp hay Nghị dịnh 30 /2000/NĐ-CP cùa Chính phú ban hành ngày 11/8/2000 về bãi bỏ giấy phép và chuyển một số giấy phép (hành điều kiện kinh doanh NỊịư vậy, Luật doanh nghiộp đã thực sự tạo điều kiện ihuận lợi cho sự phát Iriển của lọại hình công ty trách nhiệm hữu hạn nói riêng, các loại hình doanh nghiệp khác nói chung,
Theo quy định hiên hành của Luật doanh nghiệp thì sau 15 ngày kể từ ngày nhận dược hồ sơ, cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ giải quyết việc đãng ký kinh doanh cho công ty, nếu từ chối cấp thì phải trả lời bằng văn bàn cho người thành lạp công
ty biết, nêu rõ lý do và các yôu cáu sửa đổi, bổ sung Đồng thời Luật doanh nghiệp cũng quy định cơ quan đăng ký kinh doanh không có quyển yêu cầu người thành lâp công ty trách nhiệm hữu hạn phải nôp thẻm các giấy tờ khác ngoài hồ sơ đã được luật định Trong Luật doanh nghiệp, trách nhiệm của người thành lập công ty đã được đề cao hơn, những người đó phải chịu trách nhiệm trước pháp luật vổ tính
Trang 37Những dặc diếm pháp lý cùa còng ty TMHH
kết quả thẩm định cùa các chuyên gia kiổm toán độc lập Nhưng ờ các nước châu Á
thì người ta lại giao việc đãng ký kinh doanh cho các cơ quan hành pháp thạc hiện
trong dó có cả Việt Nam
Theo pháp luật nước ta, khi muốn đãng ký kinh doanh, người thành lập công
ty trách nhiệm hữu hạn phải lâp và nộp đủ hổ sơ theo quy định của pháp luật đến Sở
Kê hoạch và Đầu tư của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Quy định về hổ sơ
dăng ký kính doanh được đổi mới mạnh mẽ trong Luật doanh nghiệp năm 1999 so
với Luật công ty nãm 1990 Cụ thể là theo điều 13 Luật doanh nghiệp thì hồ sơ đãng
ký kinh doanh chỉ gồm: đơn xin đăng ký kinh doanh, điều lệ của công ty, danh sách thành viên cũa công ty trách nhiệm hữu hạn, đối với công ty kinh doanh các ngành nghề đòi hỏi phải có vốn pháp định Ihì phải có thêm xác nhận về vốn của cơ quan, tô chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Đối với công ty kinh doanh các ngành nghề phải có chứng chỉ hành nghề thì phải có thêm bản sao hợp lộ chứng chỉ hành nghề của một trong số nhũng (Ịgưòi quản lý công ty Theo Luật doanh nghiệp
V *
năm 1999, giấy phép hành nghề cũng được đổi mới, nhiều loại giây phép bất hợp lý trước dây, trái quy định của Luật doanh nghiệp được bãi bỏ như trong Quyết định số 19/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 3/2/2000 về loại bỏ 84 giấy phép trái với quy định của Luật doanh nghiệp hay Nghị định 30 /2000/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 11/8/2000 về bãi bỏ giấy phép và chuyển một sô' giáy pUcp thành điều kiện kính doanh Như vậy, Luật doanh nghiệp đã thực sự tạo diều kiện thuận lợi cho sự phát triển của loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn nói riêng, các loại hình doanh nghiệp khác nói chung
Theo quy định hiện hành của Luật doanh nghiệp thì sau 15 ngày kể từ ngày
nhận dược hồ sơ, cơ quan đãng ký kinh doanh sẽ giải quyết việc đăng ký kinh doanh
cho công ly, nếu từ chối cấp thì phải (rà lời bằng văn bàn cho người thành lộp công
ly biêì nêu rõ lý do và các yêu cầu sừa đổi, bổ sung Đổng thời Luạt doanh nghiệp cũng quy định cư quan đăng ký kinh doanh không có quyền yêu cầu người Ihành lập còng ly trách nhiệm hữu hạn phải nộp thêm các giấy tờ khác ngoài hổ sơ đã dược luật định Trong Luật doanh nghiệp, trách nhiệm của người thành lạp công ty dã
dươc đề cao hơn, những người đó phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính
Trang 38A'hững đđc điềm pháp lý của rông ty TN H H
thành lập các doanh nghiệp nói chung, công ty trách nhiệm hữu hạn nói riêng cũng
này sinh m ột số ván đề vướng mắc càn phải dược giải quyêí trong giai đoạn tới như
sau:
- Mặc dù Bộ K ế hoạch và Đầu tư đã có vãn bản số 1202/BKH-QLKT ngày 3/3/2000 trả íời: các quy định tại Nghị định 17/CP cùa Chính phủ ban hành ngày
23/12/1992 và Nghị định số 87/CP ban hành ngày 12/12/1995 là trái với Luật doanh
nghiệp và các quy định Irước đây liên quan đến giấy phép hành nghề ở một số
ngành nghề trái với Luậl doanh nghiệp đều phải bị bãi bỏ nhưng trên thực tế, các
quy định này vẫn còn được các cơ quan nghiệp vụ chuyên ngành áp đụng nên cơ quan đăng ký kinh doanh gặp nhiểu khó khăn khi xét cấp đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp
Ví dụ: Nghị định 109/1997/NĐ-CP của Chính phủ vẫn còn hiệu lực cho đến hiện nay quy định các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thống phải là doanli nghiệp nhà nước hoặc công ty cổ phán m à nhà nước chiếm cổ phẩn chi phối hoặc cổ phần đặc biệt được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lạp hoãc cho
phép Iliành lạp Vậy là công ty trách nhiêm hữu hạn hoạt đông theo Luật doanh nghiệp không dược kinh doanh ờ ngành địch vụ bưu chính viễn thông
- Chưa có văn bản hướng dẫn về quy chế cấp chứng chỉ hành nghề theo Luật doanh nghiệp đo đó các cơ quan dăng ký kinh doanh ở địa phương chưa thể cấp đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp trong những lĩnh vực đời hỏi phải có chứng chỉ hành nghề
Từ việc nghiên cứu quá trình thành lập một công ty trách nhiêm hữu hạn nêu trên, chúng tòi xin nêu lên một số vân đề cần phải được thực hiện và những kiến nghị sau đây nhằm hoàn thiện thủ tục thành lập và đãng ký kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung, công ty trách nhiệm hữu hạn nói riêng:
- Nên ban hành văn bản hướng dẫn trong đó quy định giao việc theo dõi
hành vi đăng báo của các công ly trách nhiộm hữu hạn khi mới dược thành lập cho một cơ quan nào đó và đổng thời quy định biện pháp xử lý nếu công ty không thực hiện nghĩa vụ đãng báo bởi vì việc đăng báo này có ý nghĩa quan trọng là cung cấp ihóng tin ban đầu về m ột công ty cho toàn xã hội biết
Trang 39\h in if! tiậc điểm pháp lý cùa công ỉv TN H U
- Tiếp tục rà soát và loại bỏ những giấy phép hành nghề, những văn bàn
trái với nội dung cùa Luật doanh nghiệp để đảm bào hiêu quả điều chinh của pháp
luật Thực chất công việc này rất nặng nhọc và không đơn giản vì số lượng các loại
giấy phép cũng như các văn bản không còn phù hợp là rất lớn và lại được ban hành ừ
nhiều cấp khác nhau, đồng thời khi loại bỏ sẽ ảnh hưởng đến không ít cán bộ còn
bào thù, mang nặng tính quan liêu và lề thói của sự bao cấp.
- Cần có quy định chật chẽ, rõ ràng hơn về chức năng, thàm quyền của
cơ quan thanh tra, kiểm tra để nâng cao khả năng hậu kiểm theo cư chế mới của
Luậl doanh nghiệp
Tóm lại, tất cả những điều phân tích trên đã bộc lộ rõ các đảc điểm pháp lý
cùa công ty trách nhiệm hữu hạn trong quá trình thành lập
Trang 40NhữìĩR độc (tiếm pháp lý cùa càng ly T N tiH
C H Ư Ơ N G 2
C ơ CẤU T Ổ CHỨC QUẢN LÝ CỦA
CÔ N G TV T R Á C H N H IỆM HỦU HẠN
Những đặc điểm pháp iý của công ty trách nhiộm hữu hạn không chỉ thể hiện qua quá trình thành lập mà còn bộc lộ phần lớn ở cơ cấu tổ chức quàn lý công ty trong dó gồm các vấn tlề quan trọng sau:
- Quyền, nghĩa vụ của công ty trách nhiệm hữu hạn và thành vièn công ly tráchnhiệm hữu hạn;
- Tổ chúc và hoạt động của bộ máy quản ỉý Irong công ty trách nhiệm hữu hạn;
- Vấn đề tài chính cùa công ty trách nhiệm hữu hạn trong quá trình hoạt dộng
2.1 Quyền, nghĩa vụ của công ty trách nhiệm hữu hạn và thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn.
2.1.1 Quyền và nghĩa vụ của công ty trácli nhiệm hữu hạn
Khi dã dược cấp giáy chứng nhân đăng ký kinh doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn mới có lư cách pháp nhân và có thể nhân danh mình tham gia vào các quan
hệ pháp luật inột cách độc lập Trong quá trình hoạt động, công ty trách nhiệm hữu hạn có dầy đú các quyển và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, đồng (hời công ty cũng tự lạo cho minh những quyền và nghĩa vụ thòng qua các hành vi pháp ỉý và phải gánh chịu những hậu quả pháp lý đo hành vi của công ty đó gầy ra Những đặc điểm pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn cũng được thể hiện qua
hộ thống các quyền và nghĩa vụ của nó
Quyền và nghĩa vụ của cổng ty trách nhiệm hữu hạn là bộ phận quan trọng trong địa vị pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn, thể hiện năng lực pháp lý và nàng Ịực hành vi của công ly Quyền mà công ty trách nhiệm hữu hạn đuợc hưởng là khả năng mà công ly có thổ hành dộng vì lợi ích của công ty khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, được quy định trong các quy phạm pháp luật hoặc được nhà nước