4 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề “Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực giảng dạy của giáo viên trung cấp cảnh sát Nghiên cứu tại Trường Trung cấp Cảnh sát Vũ tran
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
LƯƠNG TRƯỜNG SA
XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC
GIẢNG DẠY CỦA GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG CẤP CẢNH SÁT
(Nghiên cứu tại Trường Trung cấp Cảnh sát Vũ trang)
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Hà Nội – năm 2015
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
LƯƠNG TRƯỜNG SA
XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC
GIẢNG DẠY CỦA GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG CẤP CẢNH SÁT
(Nghiên cứu tại Trường Trung cấp Cảnh sát Vũ trang)
Chuyên ngành: đo lường và đánh giá trong giáo dục
Mã số: 60140120
LUẬN VĂN THẠC SỸ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS DƯƠNG THU MAI
Hà Nội – năm 2015
Trang 33
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin dành lời cám ơn đặc biệt, lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Dương Thu Mai, người đã luôn động viên, tận tình hướng dẫn, truyền đạt các kiến thức nghiên cứu khoa học và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục, các Thầy giáo, Cô giáo tham gia giảng dạy và các anh chị quản lý trong Viện đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành khoá học và được trình bày luận văn này
Tôi xin cảm ơn lãnh đạo Phòng Khảo thí và đảm bảo chất lượng đào tạo trường Trung cấp Cảnh sát Vũ trang, các đồng nghiệp đã hỗ trợ và tạo mọi điều kiện trong thời gian tôi theo học chương trình Thạc sĩ Đồng thời, tôi cũng xin cám
ơn cán bộ quản lý, giáo viên, học viên đã nhiệt tình thực hiện Phiếu xin ý kiến và trả lời phỏng vấn để tôi có cơ sở phân tích và đưa ra các kết luận trong luận văn
Tác giả rất mong nhận được sự hướng dẫn, đóng góp ý kiến của Quý Thầy/
Cô để hoàn thiện luận văn và rút kinh nghiệm phát triển trong những nghiên cứu tiếp theo
Xin trân trọng cám ơn!
Trang 44
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề “Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá
năng lực giảng dạy của giáo viên trung cấp cảnh sát (Nghiên cứu tại Trường Trung cấp Cảnh sát Vũ trang” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của
chính bản thân tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn tường minh, theo đúng quy định
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội dung khác trong luận văn của mình
Hà Nội, ngày 12 tháng 8 năm 2015
Tác giả luận văn (Ký và ghi rõ họ tên)
Lương Trường Sa
Trang 51
Mục lục
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Câu hỏi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Cấu trúc luận văn 8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 9
1.1 Các khái niệm 9
1.1.1 Khái niệm về tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số 9
1.1.2 Khái niệm về đánh giá (Evaluation) 10
1.1.3 Khái niệm giảng dạy 13
1.1.4 Khái niệm năng lực 15
1.1.5 Khái niệm năng lực giảng dạy 17
1.1.6 Năng lực sư phạm 20
1.2 Hướng tiếp cận đánh giá năng lực 23
1.3 Những nguồn thông tin dùng để đánh giá 30
1.4 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 36
1.4.1 Lịch sử phát triển của đánh giá giáo viên 36
1.4.2 Các công trình nghiên cứu nước ngoài có liên quan 38
1.4.3 Các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan 39
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
2.1.Bối cảnh nghiên cứu 42
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu: phương pháp hỗn hợp - kết hợp các phương pháp định tính và định lượng 44
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 46
2.3 Áp dụng lý thuyết đánh giá cổ điển và hiện đại 49
Trang 62
2.3.1 Định nghĩa, đặc trưng của lý thuyết đánh giá cổ điển 49
2.3.2 Định nghĩa, đặc trưng của lý thuyết đánh giá hiện đại 50
2.3.3 Ứng dụng các lý thuyết trên trong thiết kế công cụ đánh giá 51
2.4 Phân tích dữ liệu 55
2.4.1 Thẩm định thang đo bằng phương pháp định tính 55
2.4.2 Thẩm định thang đo bằng phương pháp định lượng 56
2.5 Phương pháp thu thập thông tin 57
2.5.1 Phiếu hỏi và thang đo 57
2.5.2 chọn mẫu 57
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 61
3.1 Ý kiến đánh giá thang đo – thẩm định định tính 61
3.2 Đánh giá của cán bộ quản lý và đồng nghiệp 63
3.2.1 Độ tin cậy của bảng hỏi 63
3.2.2 Độ giá trị của tiêu chí 65
3.2.3 Sự phù hợp của tiêu chí đối với mô hình Rasch 67
3.2.4 Sự phù hợp của thang đo theo CCT 67
3.3 Đánh giá của học sinh 71
3.3.1 Độ tin cậy của bảng hỏi 71
3.3.2 Độ giá trị của các tiêu chí 72
3.3.3 Sự phù hợp của tiêu chí đối với mô hình Rasch 74
3.3.4 Sự phù hợp của thang đo theo CCT 74
3.4 Phân tích mối tương quan giữa các hình thức đánh giá 74
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77
1 Kết luận 77
2 Khuyến nghị 78
Tài liệu tham khảo 80
Phụ lục 83
Trang 73
Phụ lục 1 83
Trang 95
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Đề xuất các tiêu chí và chỉ số đánh giá năng lực
Bảng 3.1 Cơ cấu mẫu khảo sát cán bộ quản lý, giáo viên 56
Bảng 3.3 Hệ số tin cậy của thang đo (dữ liệu nhóm đối tượng
Bảng 3.4 Hệ số tin cậy của từng tiêu chí (dữ liệu nhóm đối
tượng cán bộ quản lý và đồng nghiệp) 62 Bảng 3.5 Hệ số độ khó, MNSQ, chỉ số CI, độ giá trị T 64
Bảng 3.6 Hệ số tin cậy của thang đo (dữ liệu nhóm đối tượng
Bảng 3.7 Hệ số tin cậy của từng tiêu chí (dữ liệu nhóm đối
Bảng 3.8 Hệ số độ khó, MNSQ, chỉ số CI, độ giá trị T 71 Biểu đồ 3.1 Phân bố các câu trả lời theo các mức đánh giá 67
Trang 10ở cáccơ sở giáo dụcViệt Nam
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ “Tiếp tục nâng cao năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước
ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên CNXH”
Chỉ thị 40 – CT/TW ngày 15/06/ 2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
về xây dựng, nâng cao chất lượng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã chỉ
rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong
những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, là điều kiện phát huy nguồn lực con người”
Nhà giáo là đội ngũ cán bộ đông đảo, có vai trò quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp nâng cao dân trí, xây dựng con người và đào tạo nguồn nhân
lực cho đất nước Điều 15, Luật Giáo dục năm 2005 khẳng định: “Nhà giáo
giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục”
Đánh giá đúng năng lực giảng dạy của giáo viên là một công việc hệ trọng và cần thiết để có kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng Người Thầy, là yếu tố quan trọng hàng đầu có ý nghĩa quyết định việc nâng cao chất lượng giáo dục Tuy nhiên để làm được công việc đó một cách chuẩn xác,
Trang 112 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực giảng dạy dưới phương thức đồng nghiệp đánh giá, học sinh đánh giá và cán bộ quản lý đánh giá (Trưởng phó khoa, Bộ môn);
Đánh giá năng lực giảng dạy của giáo viên trường Trung cấp Cảnh sát (nghiên cứu tại trường Trung cấp Cảnh sát Vũ trang)
3 Câu hỏi nghiên cứu
Câu 1: Các tiêu chí nào có thể dùng cho cán bộ quản lý đánh giá năng
lực của giáo viên tại trường trung cấp Cảnh sát?
Câu 2: Các tiêu chí nào có thể dùng cho đồng nghiệp đánh giá năng lực
của giáo viên tại trường trung cấp Cảnh sát?
Câu 3: Các tiêu chí nào có thể dùng cho học viên đánh giá năng lực của
giáo viên tại trường trung cấp Cảnh sát?
Câu 4: Ý kiến của cán bộ quản lý về bộ tiêu chí này?
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp định tính
Sử dụng ý kiến các chuyên gia, đồng nghiệp để hoàn thiện bộ tiêu chí, dùng để trả lời cho câu hỏi 1, 2, 3
Trang 128
Phỏng vấn lãnh đạo nhà trường các đồng chí Hiệu trưởng, Hiệu phó, và các đồng chí trưởng Phòng, Khoa, Bộ môn Các ý kiến này sẽ sử dụng để trả lời cho câu hỏi 4
4.2 Phương pháp định lượng
Khảo sát trong phạm vi toàn trường sử dụng các phiếu hỏi
Thẩm định câu hỏi sử dụng lý thuyết đánh giá cổ điển và hiện đại, sử dụng các phần mềm chuyên dụng xử lý số liệu: SPSS, QUEST và mô hình RASCH để trả lởi các câu hỏi 1, 2, 3
4.3 Kế hoạch nghiên cứu
Thời gian triển khai nghiên cứu: dự kiến sẽ nghiên cứu từ tháng 9/2013 đến 6/2015
5 Cấu trúc luận văn
1 Phần mở đầu
2 Chương I Tổng quan và cơ sở lý luận
3 Chương II Phương Pháp nghiên cứu
4 chương III Kết quả và Bàn luận
5 Kết luận và khuyến nghị
Trang 139
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Khái niệm về tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số
1.1.1.1 Khái niệm Tiêu chuẩn, chuẩn mực (Standards)
Adam Stephen (2006), đã đưa ra khái niệm về tiêu chuẩn đánh giá: Tiêu chuẩn đánh giá là những mô tả về những gì người học dự kiến sẽ làm được để chứng minh kết quả học tập đã đạt được Kết quả học tập thường được đánh giá thông qua mức ngưỡng
Tiêu chuẩn có thể được mô tả như là một phát biểu dưới dạng thuật ngữ chung hay riêng về kiến thức, sự hiểu biết, kỹ năng và thái độ được chứng minh bằng những sinh viên tốt nghiệp thành công
Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học là mức độ yêu cầu và điều kiện mà trường đại học phải đáp ứng để được cộng nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục
Nguyễn Kim Dung, Phạm Xuân Thanh (2003), trong “Về một số khái
niệm thường dùng trong đảm bảo chất lượng giáo dục đại học” đã đề xuất
các khái niệm về chuẩn mực, tiêu chí, chỉ số thực hiện dựa trên các ý kiến khác nhau của các học giả trong và ngoài nước:
Chuẩn mực: là khái niệm dùng để biểu thị những đặc tính, phẩm chất của chất lượng mà chúng ta muốn đạt được Trong giáo dục, chuẩn mực là những đòi hỏi mà một nền giáo dục hay một trường học mong muốn người học phải đạt được khi tốt nghiệp Trong các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn được dùng thay cho chuẩn mực [4]
Brennan (1997), cho rằng: Chuẩn mực được dùng để gắn kết với mức
độ của đầu ra Chuẩn mực được xem như kết quả mong muốn của một chương trình đào tạo trong giáo dục bao gồm: Kiến thức, kỹ năng, thái độ cần
Trang 1410
có của người tốt nghiệp, kể cả chuẩn mực của bậc học lẫn ngành đào tạo
1.1.1.2 Khái niệm Tiêu chí
Theo tác giả Nguyễn Kim Dung, Phạm Xuân Thanh (2003):
Tiêu chí: Là sự cụ thể hóa của chuẩn mực, chỉ ra những căn cứ để đánh giá chất lượng Tiêu chí có thể đo được thông qua các chỉ số thực hiện [4]
Theo Công văn số 2754/BGDĐT- NGCBQLGD về Lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của giảng viên của Bộ GD&ĐT ngày
20 tháng 5 năm 2010, xác định: Tiêu chí là các hoạt động, công việc mà giảng viên cần thực hiện khi giảng dạy, mỗi tiêu chí được xác định bởi một số chỉ số
cụ thể [1]
1.1.1.3 Khái niệm Chỉ số
Theo nghiên cứu của hai tác giả Nguyễn Kim Dung, Phạm Xuân Thanh (2003) về một số khái niệm thường dùng trong đảm bảo chất lượng giáo dục đại học thì:
Chỉ số thực hiện: Là những con số hoặc những kí hiệu định lượng dùng
để đo lường các tiêu chí chất lượng [4]
Chỉ số: là khía cạnh cụ thể của tiêu chí về hoạt động, công việc cụ thể của giảng viên trong giảng dạy mà người học có thể cảm nhận được trong quá trình học tập [4]
Như vậy, trong nghiên cứu của mình, tác giả xác định các định nghĩa
về tiêu chí và chỉ số của hai tác giả Nguyễn Kim Dung, Phạm Xuân Thanh là phù hợp với đề tài nghiên cứu
1.1.2 Khái niệm về đánh giá (Evaluation)
Đánh giá là nguồn cung cấp thông tin phản hồi trong các quá trình điều khiển Một cách tổng quát, đánh giá được coi là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc dựa vào sự phân tích những thông
Trang 1511
tin thu hồi được đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc
Đánh giá không chỉ đơn thuần là nguồn thông tin phản hồi mà còn là một trong những cơ chế điều khiển hữu hiệu quá trình giáo dục Nếu việc đánh giá không được tiến hành đúng theo các mục tiêu giáo dục thì cả quá trình giáo dục sẽ bị lệch lạc theo
Trong giáo dục và quản lý giáo dục, đánh giá là quá trình mà người giáo viên, nhà quản lý thu thập những thông tin về thực trạng dạy học, giáo dục và quản lý của nhà trường, trên cơ sở đó chỉ rõ những kết quả đã đạt được
và chưa đạt được, làm rõ nguyên nhân và đề xuất các biện pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục và hoạt động quản lý
Đánh giá là một khâu không tồn tại độc lập, mà đan xen với việc lập kế hoạch hoạt động của nhà trường, kế hoạch dạy học và khâu tổ chức, quản lý các hoạt động
Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, chứng cứ về đối tượng cần đánh giá và đưa ra những phán xét, nhận định về mức độ đạt được theo các thang đo hoặc các tiêu chí đã được đưa ra trong các tiêu chuẩn hay chuẩn mực Đánh giá
có thể là đánh giá định lượng (quantitative) dựa vào các con số hoặc định tính (quanlitative) dựa vào các ý kiến và giá trị
Theo quan niệm của triết học, đánh giá là xác định giá trị của sự vật, hiện tượng xã hội, hoạt động hành vi của con người tương xứng với những mục tiêu, nguyên nhân mong đợi hay chuẩn mực nhất định, từ đó bộc lộ một thái độ
Nó có tính động cơ, phương tiện và mục đích hành động
Khái niệm “đánh giá” được sử dụng rất phổ biến trong giáo dục đại học Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2007) đánh giá là hoạt động của con người
Trang 1612
nhằm phán xét về một hay nhiều đặc điểm của sự vật, hiện tượng, con người theo những quan niệm và chuẩn mực nhất định mà người đánh giá cần tuân theo
Trong hội thảo – tập huấn về kiểm định chất lượng giáo dục đại học tổ chức tại Quảng Ninh (2012), G.S Anthony de Sam Lazaro cũng đưa ra định nghĩa: đánh giá là một hay nhiều quá trình xác định, thu thập và chuẩn bị số liệu để đánh giá mức độ đạt được của các chuẩn đầu ra và các mục tiêu giáo dục của giáo dục đào tạo Cả hai khái niệm này cho thấy, đánh giá nhấn mạnh đến sự phù hợp giữa mục tiêu và việc thực hiện
Quan điểm này cũng trùng hợp với R.Tiler (1984): “Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu của chương trình giáo dục”
Theo GS Trần Bá Hoành “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc dựa vào việc phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc”
Theo Phạm Xuân Thanh (2007) đánh giá là một quá trình bao gồm:
- Chuẩn bị một kế hoạch;
- Thu thập, phân tích thông tin và thu được kết quả;
- Chuyển giao các kết quả thu được đến những người liên quan để họ hiểu về đối tượng đánh giá hoặc giúp những người có thẩm quyền đưa ra các nhận định hay các quyết định liên quan đến đối tượng đánh giá
Bên cạnh đó còn có thể kể đến quan điểm của một số nhà nghiên cứu như L.A Braskam và J.C.Orey đánh giá được coi là mô hình 3 yếu tố: hình
Trang 17- Xây dựng tiêu chí đánh giá;
- Xây dựng các chuẩn mực;
- Đo lường các thuộc tính sự vật theo tiêu chí và đối chiếu với chuẩn mực;
- Tổng hợp và tích hợp các bằng chứng thu được để dưa ra những nhận định chuẩn xác
1.1.3 Khái niệm giảng dạy
Giảng dạy là sự điểu khiển tối ưu hóa quá trình SV chiếm lĩnh khái niệm khoa học, trong và bằng cách đó, phát triển và hình thành nhân cách
Giảng dạy có hai chức năng thường xuyên tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau đó là truyền đạt thông tin dạy học và điều khiển hoạt động học (GS Nguyễn Ngọc Quang)
Tính nghệ thuật của việc giảng dạy thể hiện ở năng lực truyền đạt của người dạy làm sao cho khơi dậy được tiềm năng tiếp thu, phát triển và sáng tạo của SV để nhận thức, để cảm nhận và để có kĩ năng cao
Triết lý dạy và học hiện đại
Quá trình phát triển lý luận dạy học, đã có bốn triết lý về phương pháp Dạy học được mô tả qua sơ đồ sau:
Trang 18Triết lý I và II Lấy thầy làm trung tâm
Triết lý III và IV Lấy trò làm trung tâm
Thầy truyền đạt kiến thức, trò thụ
động tiếp thu
Trò tự mình chiếm lĩnh kiến thức dưới sự hướng dẫn của thầy
Thầy truyền thụ một chiều, độc thoại
hay phát vấn
Đối thoại: trò - thầy; trò – trò; hợp tác với bạn và thầy; do thầy quản lý và tổ chức
Thầy giảng giải – trò ghi nhớ, học
thuộc lòng
Học cách học, cách ứng xử, cách giải quyết vấn đề, cách sống
Thầy độc quyền đánh giá Trò tự đánh giá, tự điều chỉnh; cung
cấp liên hệ ngược cho thầy đánh giá,
có tác dụng khuyến khích tự học Thầy là thầy về dạy: dạy chữ, dạy
nghề, dạy làm người
Thầy là thầy về học, chuyên gia về việc học, dạy cách học cho trò tự học chữ, tự học nghề, tự học nên người
Trò Thầy
Trang 1915
1.1.4 Khái niệm năng lực
Hiện nay có nhiều định nghĩa về năng lực khác nhau:
Theo P.A Ruđích: “Năng lực là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định [12]
Định nghĩa này đã mở rộng khái niệm năng lực bao gồm các điều kiện tâm – sinh lí chi phối các loại hoạt động của con người
Theo A.G Covaliop: “Năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu lao động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao” [12]
Theo N.X Laytex: “Năng lực là những thuộc tính tâm lý nào đó của cá nhân mà là điều kiện để hoàn thành tốt đẹp những loại hoạt động nhất định” [12]
Cả hai định nghĩa của A.G Côvaliôp và N.X Lâytex đều nêu lên những thuộc tính của cá nhân bảo đảm điều kiện cho hoạt động Song Côvaliôp cho những thuộc tính đó bao gồm tất cả các thuộc tính của cá nhân, còn N.X Lâytex cho rằng những thuộc tính đó chỉ là những thuộc tính tâm lý
Theo Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Minh Hạc: “Năng lực là những đặc điểm tâm lý cá biệt, tạo thành điều kiện quy định tốc độ, chiều sâu, cường độ của việc tác động vào đối tượng lao động” [12]
Từ bình diện Giáo dục học, NL là “khả năng được hình thành và phát triển cho phép con người đạt được thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp NL được thể hiện ở khả năng thi hành một hoạt động, thực thi một nhiệm vụ”
Trong lý luận dạy học hiện đại, NL được quan niệm là “điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức”
Trang 20độ hoàn thành công việc của họ
NL được thể hiện thông qua các hoạt động cụ thể có kết quả, NL dưới dạng tổng thể giúp các nhân nắm bắt và giải quyết các vấn đề thực tiễn Cấu trúc các thành tố của năng lực linh hoạt, dễ chuyển hoá khi môi trường và yêu cầu hoạt động thay đổi NL được ĐG thông qua việc theo dõi toàn bộ tiến trình hoạt động của cá nhân ở nhiều thời điểm khác nhau Đây chính là cách các nhà quản lý dùng để ĐG năng lực nhân viên của mình nói chung và của các nhà quản lý giáo dục trong các sở giáo dục sử dụng để ĐG năng lực của
GV nói riêng
Từ những định nghĩa trên, trong đề tài này người nghiên cứu rút ra
được khái niệm: Năng lực là tổ hợp những thuộc tính tâm sinh lý độc đáo
của cá nhân đáp ứng yêu cầu đặc trƣng của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra có kết quả
Phân loại năng lực
Năng lực có thể chia làm hai loại: Năng lực chung và năng lực chuyên môn
Năng lực chung là hệ thống những thuộc tính trí tuệ của cá nhân, bảo đảm cho cá nhân nắm chắc tri thức và hoạt động một cách dễ dàng, có hiệu quả Năng lực chung cần thiết cho tất cả các hoạt động có thể gọi năng lực chung là năng lực trí tuệ Năng lực này được thể hiện ở các chức năng tâm lý như: Tư duy, trí nhớ, chú ý, tưởng tượng
Trang 2117
Năng lực chuyên môn là hệ thống những thuộc tính tâm lý cá nhân bảo đảm đạt được những kết quả cao trong nhận thức và trong sáng tạo của các lĩnh vực phát triển chuyên môn Chẳng hạn như năng lực hội họa, năng lực
âm nhạc, năng lực toán học, năng lực giảng dạy của giáo viên…
Năng lực chuyên môn có quan hệ chặt chẽ với năng lực chung Năng lực chung càng phát triển cao càng tạo điều kiện thuận lợi cho năng lực chuyên môn phát triển ngược lại sự phát triển của năng lực chuyên môn cũng giúp cho năng lực chung phát triển cả hai năng lực này luôn luôn bổ sugn cho nhau và hỗ trợ nhau để chủ thể hoàn thành công việc
1.1.5 Khái niệm năng lực giảng dạy
Hoạt động của người giáo viên biểu hiện trong tất cả các hình thức khác nhau của công tác sư phạm, nhưng trước hết là ở giờ dạy trên lớp Một giờ giảng của giáo viên có kinh nghiệm, có năng lực phải là một giờ giảng có hiệu quả cao, có tính giáo dục và tính phát triển Muốn đạt được yêu cầu đó đòi hỏi người giáo viên có năng lực giảng dạy
Hiện nay khi nói về năng lực giảng dạy của giáo viên thì cũng có nhiều quan điểm khác nhau Có những tác giả sắp xếp các năng lực sư phạm dựa vào các yếu tố chủ đạo, hỗ trợ, điểm tựa và từ đó chia năng lực sư phạm ra thành ba nhóm yếu tố: Nhóm các năng lực sư phạm giữ vai trò chủ đạo, nhóm các năng lực sư phạm giữ vai trò hỗ trợ, nhóm các năng lực sư phạm giữ vai trò điểm tựa và xen kẽ trong ba nhóm yếu tố này tác giả đề cập tới năng lực giảng dạy, chứ không sắp xếp năng lực giảng dạy thành một hệ thống
Giáo sư A.V.Pestrovski chia năng lực sư phạm thành: Các năng lực dạy học, các năng lực thiết kế, các năng lực tri giác, các năng lực truyền đạt, các năng lực giao tiếp, các năng lực tổ chức Trong đó theo ông các năng lực dạy học tạo khả năng xây dựng có kết quả những phương pháp truyền thụ tri thức và kỹ xảo cho học sinh trên cơ sở hiểu những quy luật chung của việc
Trang 2218
dạy học Tuy nhiên A.V.Pestrovski cũng chưa hệ thống được các năng lực thuộc năng lực giảng dạy
Theo tác giả Lê Văn Hồng, năng lực giảng dạy của người giáo viên bao
gồm: Năng lực hiểu học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục, tri
thức và tầm hiểu biết của người thầy giáo, năng lực chế biến tài liệu học tập, nắm vững kỹ thuật dạy học, năng lực ngôn ngữ Ở đây tác giả đã trình
bày nhóm năng lực dạy học trong hệ thống các năng lực của người giáo viên, bên cạnh các phẩm chất quan trọng, tuân theo cấu trúc nhân cách bao gồm phẩm chất và năng lực (đức và tài) Quan điểm đó cho thấy được tính hệ thống, logic, mối quan hệ giữa các thành phần, nội dung và xét về mặt thực tiễn, cách chia này giúp chúng ta thấy những năng lực cần thiết, cơ bản ứng với từng loại hoạt động đặc trưng của người giáo viên
Năng lực hiểu học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục
Dạy học là một quá trình thuận, nghịch, thống nhất của hai hoạt động dạy và học do thầy và trò đảm nhiệm Trong quá trình đó, chức năng của người giáo viên là tổ chức, và điều khiển hoạt động của trò, chức năng của trò là chiếm lĩnh kiến thức Dạy và học chỉ có hiệu quả cao khi quá trình
đó thực sự là quá trình điều khiển được Kết quả của sự điều khiển đó một phần tùy thuộc vào “tần số” trao đổi thông tin giữa người dạy và người học, nói cách khác người giáo viên càng hiểu trò, hiểu kịp thời bao nhiêu thì càng
có căn cứ để tổ chức và điều khiển quá trình dạy học và giáo dục của mình bấy nhiêu Người giáo viên có năng lực hiểu học sinh còn thể hiện ở chỗ dự đoán được thuận lợi và khó khăn, xác định đúng đắn mức độ căng thẳng cần thiết khi thực hiện các nhiệm vụ nhận thức
Tri thức và tầm hiểu biết của người giáo viên
Đây là một năng lực cơ bản của năng lực sư phạm, một trong những năng lực trụ cột của nghề dạy học Bởi vì người giáo viên có nhiệm vụ phát triển nhân cách học sinh nhờ phương tiện đặc biệt là tri thức, quan điểm,
Trang 2319
kỹ năng, thái độ… mà loài người đã khám phá ra, nhất là tri thức khoa học thuộc lĩnh vực giảng dạy của mình Do đó, người giáo viên phải nắm vững nội dung, bản chất, như vậy người giáo viên mới giúp học sinh tái tạo và lấy lại những cái cần cho sự phát triển tâm lí, nhân cách của học sinh, đồng thời chiếm lĩnh được tri thức khoa học của nhân loại
Năng lực chế biến tài liệu học tập
Khi truyền đạt kiến thức cho người khác hiểu không phải là chuyện đơn giản, không phải mọi cái mình hiểu thì sẽ nói lại cho người khác hiều đúng và đầy đủ như mình Hơn nữa người giáo viên không phải dạy những con người chung mà dạy từng con người cụ thể với những đặc điểm riêng về tư chất, tâm lí, trình độ nhận thức Vì vậy, muốn giúp học sinh hiểu được tài liệu học tập và có thể vận dụng được thì người giáo viên phải biết chế biến tài liệu học tập cho phù hợp một cách tối đa đối với trình độ nhận thức của học sinh, biết biến cái khó thành dễ, cái phức tạp thành cái đơn giản… Hay nói cách khác người giáo viên phải có năng lực chế biến tài liệu học tập
Nắm vững kỹ thuật dạy học
Nghề nào cũng có kỹ thuật hành nghề của mình, nghề dạy học cũng có kỹ thuật riêng của nó, kỹ thuật này bị chi phối bời mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh Trước đây mối qua hệ giữa giáo viên và học sinh được coi là mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể Giáo viên được coi là trung tâm của quá trình dạy học, từ đó đưa đến một kỹ thuật dạy học “rót tri thức” (thầy giảng, trò ghi) Ngày nay việc đổi mới dạy học theo quan điểm hoạt động, ta thấy rằng hoạt động của người giáo viên không có mục đích riêng cho mình
mà nhằm mục đích tạo ra hoạt động tích cực ở học sinh Quan niệm này dẫn đến một kỹ thuật dạy học hoàn toàn mới đặc điểm nổi bật của kỹ thuật dạy học mới là người giáo viên tổ chức và điều khiển hoạt động của trò nhằm lĩnh hội tri thức vậy nắm vững kỹ thuật dạy học là nắm vững kỹ thuật tổ chức và
Trang 2420
điều khiển hoạt động nhận thức của trò qua bài giảng và đạt đến mức như là năng lực
Năng lực ngôn ngữ
Năng lực ngôn ngữ chính là năng lực biểu đạt rõ ràng, mạch lạc
ý nghĩ và tình cảm của mình bằng lời nói cũng như nét mặt và điệu bộ bằng ngôn ngữ giáo viên truyền đạt thông tin tới học sinh, bằng ngôn ngữ điều khiển, điều chỉnh hoạt động nhận thức của học sinh Do vậy, có thể nói năng lực ngôn ngữ là một trong những năng lực quan trọng của người giáo viên
Nó là công cụ sống còn đảm bảo cho người giáo viên thực hiện chức năng dạy học và giáo dục của mình
Theo các tác giả Phạm Minh Hạc [13] thì các NLSP bao gồm: (1) Năng lực nắm vững kiến thức khoa học cơ bản, khoa học giáo dục, (2) Năng lực hiểu học sinh trong quá trình giảng dạy và giáo dục, (3) Năng lực nắm vững phương pháp giảng dạy và vận dụng các phương pháp ấy có hiệu quả trong thực tiễn giáo dục, (4) Năng lực giáo tiếp với học sinh và phụ huynh học sinh, (5) Năng lực phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, (6) Năng lực tổ chức các dạng hoạt động của học sinh
Trang 2521
Theo tác giả Trần Bá Hoành thì “NLSP là khả năng thực hiện các hoạt động giáo dục – dạy học với chất lượng cao” Với quan điểm đó, tác giả đã xác định các năng lực theo quá trình hoạt động của người GV, với 5 nhóm NLSP cơ bản: (1) Năng lực chẩn đoán nhu cầu và đặc điểm của đối tượng giáo dục – dạy học, (2) Năng lực thiết kế kế hoạch giáo dục – dạy học, (3) Năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục – dạy học, (4) Năng lực giám sát, đánh giá kết quả các hoạt động giáo dục – dạy học, (5) Năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giáo dục – dạy học
Tác giả Trần Công Dương trong luận án của mình đã chia NLSP thành các nhóm năng lực cơ bản sau: (1) Hiểu biết về môn học và khoa học giáo dục, (2) Chẩn đoán được nhu cầu và đặc điểm đối tượng, (3) Biết xây dựng các kế hoạch, (4) Biết tổ chức thực hiện kế hoạch, (5) Giám sát, đánh giá kết quả hoạt động, (6) Năng lực giao tiếp, (7) Năng lực thích ứng với các thay đổi trong hoạt động giáo dục – dạy học, (8) Năng lực tự bồi dưỡng phát triển nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Tại Hoa kỳ, để đánh giá năng lực của người GV, năm 1987, Tổ chức liên bang về đánh giá và trợ giúp GV (INTASC) đã đề xuất một hệ thống gồm
8 tiêu chí sau: (1) Có hiểu biết về môn học và có khả năng tạo ra môi trường
sư phạm để truyền đạt những hiểu biết của GV cho học sinh, (2) Có hiểu biết
về khả năng nhận thức của học sinh để xây dựng phương pháp giảng dạy phù hợp, (3) Có kiến thức về sự đa dạng của học sinh để xây dựng phương pháp dạy học đối với từng đối tượng học sinh, (4) Có khả năng giao tiếp và tổ chức nhằm tọa ra môi trường học tập lành mạnh, (5) Phải xây dựng chương trình đào tạo đi đôi với thực hành, (6) Biết cách nhận xét đánh giá chính thống và không chính thống, (7) Phải có trách nhiệm trong việc luôn nâng cao trình độ nghề nghiệp, (8) Có khả năng tạo mối quan hệ tốt với đồng nghiệp, phụ huynh, xã hội nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh
Trang 2622
Ở Úc “Hiến chương Giáo dục 1990” đã đề ra tiêu chuẩn của người GV bao gồm 4 lĩnh vực: (1) Giá trị và thái độ, (2) Tiếp cận nội dung, (3) Phương pháp giảng dạy, (4) Phổ biến kinh nghiệm dạy học Năm 1993, Hội đồng GV của Úc đã đưa ra tiêu chuẩn quốc gia về đánh giá người GV bao gồm 5 lĩnh vực cơ bản: (1) Sử dụng và phát triển sự hiểu biết và giá trị nghề nghiệp, (2)
Kỹ năng giao tiếp và làm việc với học sinh và đồng nghiệp, (3) Lập kế hoạch
và quản lý quá trình dạy và học, (4) Theo dõi và đánh giá việc học tập của học sinh và kết quả học tập, (5) Phản ánh, đánh giá và lập kế hoạch cho việc phát triển nghề nghiệp
Có thể thấy rằng, do tiếp cận ở những góc độ khác nhau nên cách xác định và sắp xếp cấu trúc NLSP của các tác giả cũng khác nhau Có tác giả dựa vào chức năng đặc trưng của người GV là dạy học và giáo dục để xác định cấu trúc NLSP, có tác giả lại dựa vào quá trình hoạt động dạy học – giáo dục của GV để đưa ra và sắp xếp các NLSP Các cách sắp xếp như trên đều có những điểm hợp lý và chưa hợp lý
Tuy nhiên, tựu chung lại các tác giả trên đều có những điểm chung như:
- Xét các NLSP trong hoạt động đặc trưng của người GV là dạy học và giáo dục
- Xét các NLSP dưới góc độ hiệu quả của các hoạt động giáo dục – dạy học, với các yêu cầu về khả năng thực hiện các hoạt động giáo dục có chất lượng cao
- NLSP tồn tại và phát triển thông qua hoạt động dạy học – giáo dục, nói đến mỗi NLSP là nói đến khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó trong quá trình dạy học – giáo dục của GV
- NLSP chỉ nảy sinh và quan sát được trong các hoạt động dạy học – giáo dục, giải quyết các tình huống sư phạm và do đó gắn liền với tính sáng tạo
Trang 2723
Theo tác giả thì “NLSP là hệ thống những thuộc tính của cá nhân con
người, phù hợp với yêu cầu của lĩnh vực hoạt động sư phạm và làm cho lĩnh vực hoạt động sư phạm đó đạt hiệu quả cao”
1.2 Hướng tiếp cận đánh giá năng lực
* Tại Mỹ
Giáo dục từ phổ thông đến đại học của Mỹ đều chú trọng đánh giá NL Khi đánh giá NL, những yêu cầu cho GV cũng cao hơn GV cần phải có các thành phần NL đánh giá sau:
+ NL miêu tả những kỳ vọng của họ về thành quả học tập và NL học tập của học sinh
+ Hiểu biết về các mục đích đánh giá khác nhau
+ Xác định hoặc thiết kế phương pháp đánh giá phù hợp
+ Hiểu về các đặc điểm thống kê của kết quả đánh giá và giải thích kết quả đó
+ Lưu và phản hồi thông tin về đánh giá cho các đối tượng có liên quan + Biết và ứng dụng các chuẩn về đánh giá trên lớp
+ Hiểu và luôn sẵn sàng chịu trách nhiệm về những hậu quả của đánh giá của họ cho học sinh và gia đình học sinh
Để đánh giá năng lực giáo viên, theo tác giả Lee S.Shulman (1987) đã đưa ra 7 năng lực cần đánh giá:
- Hiểu biết về nội dung giảng dạy
- Có kiến thức sư phạm bao gồm nguyên tắc, chiến lược, quản lý lớp học
- Kiến thức về chương trình giảng dạy, bao gồm tài liệu và chương trình giảng dạy của giáo viên
- Phương pháp sư phạm và các hiểu biết chuyên môn
- Sự hiểu biết về người học và đặc điểm của họ
Trang 28- Hiểu biết về học sinh và việc học
- Hiểu biết về chuyên môn và việc dạy
- Hiểu biết về nền tảng xã hội của giáo dục
- Hiểu biết về môn học
- Hiểu biết về nghệ thuật
* Tại Vương Quốc Anh
Tại Anh, tổ chức đánh giá năng lực giáo viên được thực hiện bởi chính phủ và các tổ chức của chính phủ Đã xuất bản một văn bản hướng dẫn đánh giá năng lực giáo viên gồm 5 lĩnh vực cơ bản:
- Hiểu biết môn học
- Thực hành môn học
- Quản lý lớp
- Đánh giá và theo dõi sự phát triển của học sinh
- Nâng cao trình độ nghiệp vụ
Năm 1993 Vụ Giáo dục Scotland xuất bản bộ tiêu chí cơ bản đánh giá năng lực giáo viên bao gồm:
- Năng lực liên quan đến môn học và nội dung giảng dạy
- Năng lực liên quan đến kỹ năng, phương pháp quản lý, đánh giá trong lớp học
- Năng lực liên quan đến trường học
- Năng lực liên quan đến nghề nghiệp
- Thái độ và trách nhiệm với nghề nghiệp
Trang 29+ Việc đưa ra chuẩn đầu ra là NL không chỉ dừng lại ở việc đưa ra chuẩn đầu ra, mà phải có kèm cả hướng dẫn để làm thế nào có được chuẩn đầu ra đó nữa cho cả GV và học sinh
Từ những trở ngại đó, một số giải pháp được nêu ra cho đánh giá NL như: + Thiết kế hệ thống các NL cụ thể, các phương pháp đánh giá – không tách rời từng thành phần
+ Tập trung chú ý vào cả hệ thống đánh giá, từ việc xác định mục đích, xây dựng NL, đầu ra, phương pháp, phản hồi…
+ Phân biệt các khái niệm, ví dụ như thực hành và NL
+ Xác định biện pháp đảm bảo các nguyên tắc chính của đánh giá: độ khả thi, độ hữu dụng, tính giá trị, tính tin cậy, độ thực tế, ảnh hưởng tới giáo dục
+ Xây dựng công cụ đánh giá mới
+ Đào tạo GV và người tham gia đánh giá
+ Xây dựng thang đo, chuẩn NL, tiêu chí đánh giá
* Ở New Zealand và Úc:
Tại New Zealand, đánh giá theo chuẩn đầu ra đã bắt đầu được tiến hành
từ những năm 1970 Ngân hàng câu hỏi và các hệ thống thi cử trên diện rộng
Trang 3026
được xây dựng, các biện pháp đảm bảo chất lượng khác cũng được áp dụng
GV được quyền tự quyết các phương pháp đánh giá nhưng nhà nước có hỗ trợ thông qua các hướng dẫn bằng văn bản về cách thực hiện đánh giá Rất nhiều hoạt động hỗ trợ đã được cung cấp cho GV và những người thực hiện đánh giá Vấn đề quan trọng là việc thu thập thông tin dữ liệu về học sinh và dạy cho GV cách xử lý lượng thông tin lớn đó để phục vụ giảng dạy Tuy vậy, dù thay đổi chương trình và đánh giá vẫn phải thay đổi cùng với các chính sách phân vùng giáo dục và ngân sách giáo dục (Philips, 2002)
* Tại Hồng Kông
Năm 2003, Hội đồng cố vấn về chất lượng giáo viên của Hồng Kông đã tiến hành xây dựng một tiêu chuẩn chung nhằm đánh giá giáo viên trong đó các tiêu chí về khả năng, kỹ năng, hiểu biết nghề nghiệp và thái độ của giáo viên trong những lĩnh vực khác nhau Các tiêu chí của hội đồng bao gồm 6 điểm như sau:
- Tin tưởng rằng tất cả các sinh viên có khả năng học tập
- Thương yêu và quan tâm tới sinh viên
- Tôn trọng tính đa dạng của sinh viên
- Có trách nhiệm và cống hiến cho nghề nghiệp
- Có tinh thần hợp tác và chia sẻ đối với đồng nghiệp
- Có niềm đam mê học tập và nâng cao trình độ
* Tại Việt Nam
Ngày 05/3/2012, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 08/2012/TT-BGDĐT Quy định Chuẩn nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp đánh giá, xếp loại năng lực sư phạm của giáo viên trung cấp chuyên nghiệp bao gồm 5 tiêu chuẩn, 20 tiêu chí Nội dung các tiêu chí như sau:
Tiêu chuẩn 1: Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục
Trang 3127
Tiêu chí 1 Hiểu biết đối tượng giáo dục: Có kiến thức, kỹ năng tìm
hiểu và nhận biết được đặc điểm tâm lý, trình độ, năng lực, nhận thức, phong cách, phương pháp, thái độ học tập của học sinh trung cấp chuyên nghiệp
Tiêu chí 2 Hiểu biết môi trường giáo dục: Có kiến thức, kỹ năng tìm
hiểu và nhận biết được đặc điểm, tác động của môi trường dạy học, giáo dục tới hoạt động dạy học, giáo dục trong nhà trường để phát triển các chương trình giáo dục, lập và thực hiện các kế hoạch dạy học, kế hoạch bài dạy, kế hoạch các hoạt động giáo dục đạt chất lượng, hiệu quả
Tiêu chuẩn 2: Năng lực dạy học
Tiêu chí 3 Lập kế hoạch dạy học: lập được kế hoạch dạy học môn
học, học phần, thể hiện được vị trí của môn học, học phần trong chương trình giáo dục; kế hoạch thời gian dạy học, mục tiêu, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh Kế hoạch dạy học phải phù hợp với kế hoạch thực hiện chương trình giáo dục của nhà trường
Tiêu chí 4 Lập kế hoạch bài dạy: Lập được kế hoạch bài dạy thể hiện
được mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện phù hợp với đặc thù của bài dạy, đặc điểm học sinh và môi trường dạy học; phối hợp hoạt động học với hoạt động dạy theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức và thực hành của học sinh
Tiêu chí 5 Chuẩn bị các điều kiện và phương tiện dạy học: Chuẩn
bị các điều kiện, phương tiện dạy học phù hợp với kế hoạch bài dạy, mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và đối tượng học sinh trung cấp chuyên nghiệp
Tiêu chí 6 Thực hiện kế hoạch dạy học: Thực hiện kế hoạch dạy học
môn học, học phần được giao phụ trách, đảm bảo nội dung dạy học chuẩn xác, gắn với thực tiễn nghề nghiệp; khai thác các kiến thức, kĩ năng liên môn vào bài dạy; kết hợp giữa nội dung dạy học với việc sử dụng các phương
Trang 3228
pháp, chiến lược dạy học linh hoạt để đạt được mục tiêu của bài dạy; có kỹ năng quản lý lớp học, xử lý được những tình huống xung đột trong lớp học, quản lý được các mối quan hệ giữa nhà trường và cơ sở thực hành, thực tập; đảm bảo tiến độ theo kế hoạch dạy học đã đề ra
Tiêu chí 7 Vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học: Vận dụng, kết hợp được các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học theo
hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo, phát triển năng lực tự học và
tự rèn luyện năng lực nghề nghiệp của học sinh để đạt được mục tiêu dạy học
Tiêu chí 8 Sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học: Sử dụng thành
thạo các phương tiện, thiết bị dạy học thông dụng, kết hợp với ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông phù hợp với nội dung, phương pháp, hình thức
tổ chức và đối tượng dạy học
Tiêu chí 9 Xây dựng môi trường dạy học: Tạo dựng được môi
trường học tập thân thiện, hợp tác, an toàn và lành mạnh, khuyến khích sáng tạo trong dạy và học
Tiêu chí 10 Đánh giá kết quả học tập của học sinh: Thiết kế và sử
dụng được công cụ đánh giá; thực hiện được các phương pháp đánh giá, đảm bảo đánh giá chính xác, khách quan và công bằng kết quả học tập của học sinh; sử dụng kết quả kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh hoạt động dạy và học Phát triển năng lực tự đánh giá kết quả học tập của học sinh
Tiêu chí 11 Quản lí hồ sơ dạy học: Lập, sử dụng và bảo quản hồ sơ
dạy học theo quy định
Tiêu chuẩn 3: Năng lực giáo dục
Tiêu chí 12 Lập kế hoạch các hoạt động giáo dục: Lập được kế
hoạch các hoạt động giáo dục theo các nhiệm vụ được phân công, như công tác chủ nhiệm lớp, công tác Đoàn, các hoạt động khác phù hợp với đối tượng, môi trường giáo dục, đặc thù ngành đào tạo và thể hiện khả năng phối hợp trong việc huy động các nguồn lực để tiến hành các hoạt động giáo dục
Trang 3329
Tiêu chí 13 Giáo dục qua các hoạt động dạy học: Giáo dục qua các
hoạt động dạy học để hình thành và phát triển nhân cách, rèn luyện tác phong
và đạo đức nghề nghiệp cho học sinh; giáo dục học sinh bằng chính tấm gương của nhà giáo
Tiêu chí 14 Giáo dục qua công tác chủ nhiệm lớp và các hoạt động
giáo dục khác: Thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh thông qua công tác chủ
nhiệm lớp và các hoạt động giáo dục khác trong sự phối hợp với các đơn vị có chức năng quản lý học sinh, các tổ chức chính trị - xã hội, chuyên môn, nghề nghiệp ở trong và ngoài nhà trường theo kế hoạch đã được phê duyệt; giáo dục có hiệu quả đối với các trường hợp học sinh cá biệt
Tiêu chí 15 Hỗ trợ, hướng dẫn nghề nghiệp, việc làm cho học sinh:
Hỗ trợ và hướng dẫn học sinh bước vào thị trường lao động để giúp học sinh chuẩn bị tham gia thành công vào thị trường lao động sau khi tốt nghiệp
Tiêu chí 16 Đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh: Thiết kế và
sử dụng được công cụ đánh giá; thực hiện được các phương pháp đánh giá; đảm bảo tính chính xác, khách quan, công bằng khi đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh Sử dụng kết quả kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh hoạt động giáo dục Phát triển năng lực tự đánh giá kết quả rèn luyện, tự điều chỉnh của học sinh
Tiêu chuẩn 4: Năng lực hợp tác trong dạy học và giáo dục
Tiêu chí 17 Hợp tác, phối hợp với đồng nghiệp trong trường: Hợp
tác với đồng nghiệp trong dạy học và giáo dục Học tập, trao đổi kinh nghiệm, phối hợp, hướng dẫn, giúp đỡ đồng nghiệp trong việc phát triển năng lực dạy học và giáo dục
Tiêu chí 18 Hợp tác, phối hợp với đồng nghiệp ngoài trường: Hợp
tác, phối hợp với giáo viên ở các cơ sở đào tạo khác, chuyên gia ở các doanh nghiệp trong dạy học và giáo dục Học tập, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy,
Trang 3430
phát triển nội dung chương trình giáo dục thông qua các hoạt động hội giảng, hội thảo, tập huấn để nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục
Tiêu chuẩn 5: Năng lực phát triển nghiệp vụ sƣ phạm
Tiêu chí 19 Bồi dƣỡng, tự bồi dƣỡng nghiệp vụ sƣ phạm: Xác định
được nhu cầu bồi dưỡng và tự bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm của bản thân;
có phương pháp tự bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm hiệu quả; Áp dụng được những kiến thức, kỹ năng được bồi dưỡng, tự bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm để đổi mới công tác dạy học và giáo dục
Tiêu chí 20 Đổi mới dạy học và giáo dục: Có thái độ tích cực đối với
đổi mới chương trình, phương pháp dạy học và giáo dục Tiến hành các hoạt động nghiên cứu và triển khai phục vụ cho việc phát triển các chương trình giáo dục, đổi mới dạy học và giáo dục
1.3 Những nguồn thông tin dùng để đánh giá
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều phương pháp hay còn gọi là nhiều công cụ khác nhau đã qua thực nghiệm được vận dụng để ĐG các hoạt động của giáo viên Ở châu Âu và Hoa Kỳ, những phương pháp phổ biến hiện hành trong các trường đại học, cao đẳng hiện được sử dụng để ĐG giáo viên bao gồm 7 phương pháp chính; nhưng không phải các trường sử dụng đồng thời cả 7 phương pháp này để hàng năm ĐG giáo viên, bởi vì để đạt hiệu quả
ĐG và có kết quả ĐG mang tính khách quan cao, cần có cân nhắc kỹ lưỡng để chọn phương pháp ĐG phù hợp mục đích đặt ra Cũng giống như nhiều nước trên thế giới, chúng ta áp dụng một số phương thức sau để ĐG phương pháp giảng dạy của GV:
- GV tự đánh giá;
- ĐG của đồng nghiệp;
- ĐG của SV;
Trang 3531
- ĐG của các nhà quản lí giáo dục;
- ĐG qua hồ sơ giảng dạy;
- Quan sát của tổ trưởng chuyên môn;
- ĐG của các chuyên gia ĐG ngoài
Tuy nhiên, ở mỗi đơn vị cụ thể không nhất thiết phải áp dụng đồng bộ các phương thức trên để ĐG phương pháp giảng dạy của GV Để đạt hiệu quả
ĐG và kết quả ĐG có tính khách quan cao, người ĐG hoặc đơn vị tổ chức ĐG cần có sự cân nhắc kĩ lưỡng trong việc sử dụng một hoặc phối hợp nhiều phương thức ĐG cụ thể Ở đây, chúng tôi xin đề cập đến phương pháp ĐG phương pháp giảng dạy của GV thông qua việc ĐG của SV, GV tự ĐG và ĐG của đồng nghiệp
GV tự đánh giá
Tự ĐG là một trong những phương thức ĐG phương pháp giảng dạy của GV Thông qua việc tự đánh giá, GV sẽ tự nhìn nhận lại và cócơ hội để hoàn thiện và làm mới mình hơn Nói cách khác, đây là phương tiện để từng
cá nhân GV xác định hiệu quả giảng dạy của mình Thực hiện hoạt động tự
ĐG phương pháp giảng dạy cũng gần như tiến hành một nghiêncứu Trong cả hai trường hợp, GV phải trả lời những câu hỏi chính yếu liên quan đến vấn đề nghiên cứu Điểm mấu chốt để thực hiện tự ĐG hay một nghiên cứu đạt kết quả tốt là phải xác định được những câu hỏi cần trả lời vàcách thức trả lời những câu hỏi đó Thông thường GV thường đặt ra những câu hỏi đối với việc giảng dạy của mình là: Tôi giảng như thế nào? Khía cạnh nào đã được thực hiện tốt và khía cạnh nào cần phải được thay đổi cải tiến?
Câu hỏi thứ nhất nhằm xác định một sự ĐG chung trên tất cả các mặt của
cả quá trình giảng dạy Ở câu hỏi thứ hai, cần có những phương pháp, kỹ thuật nhằm ĐG chi tiết hơn những khía cạnh cụ thể của phương pháp giảng dạy
Trang 3632
Qua thời gian, hầu hết GV đều thực hiện phương pháp giảng dạy của mình tốt hơn vì tích lũy được nhiều kinh nghiệm hơn Thực ra việc tiến hànhtự ĐG của GV được thực hiện thường xuyên, liên tục và là việc làm tự thân của mỗi GV khi bắt đầu bước vào nghề Mỗi GV với đạo đức nghề nghiệp phải không ngừng trau dồi kiến thức, trình độ chuyên môn cũng như phương pháp giảng dạy để đáp ứng nhu cầu học tập của HS và bắt kịp với thời đại Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp GV tự đánh giá, cải tiến trong giai đoạn nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra và sau đó họ ngừng lại quá trình tự ĐG và cải tiến này Điều đó sẽ dẫn đến những người này sẽ có hiệu quả phương pháp giảng dạy ngày một kém hơn
Xét dưới góc độ tâm lý, tự ĐG là hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu cao hơn trong thang nhu cầu của Mashlow Đó là nhu cầu về sự tự hoàn thiện và được tôn trọng Một GV có tinh thần cầu tiến sẽ luôn thực hiện hoạt động tự ĐG và kết quả của hoạt động này phần nào đáp ứng được nhu cầu tinh thần của họ
GV có thể tự ĐG phương pháp giảng dạy của mình thông qua các hoạt động như: Tự giám sát, sử dụng phương tiện ghi lại phương pháp giảng dạy, lấy ý kiến từ người học, ĐG kết quả học tập của HS, lấy thông tin từ chuyên gia trong ngành, nhà trường, GV khác Mỗi một nguồn thông tin đều có những ưu điểm và hạn chế riêng Do vậy, người GV cần có sự lựa chọn, kết hợp khéo léo, để hoạt động tự ĐG của mình cho kết quả trung thực, khách quan; căn cứ vào đó phát huy những mặt mạnh và khắc phục những tồn tại trong giảng dạy
Phương thức GV tự ĐG sẽ đạt hiệu quả sử dụng khi GV có sự tự tin, yên tâm làm việc này Hơn nữa, GV cần có kỹ năng thu thập các bằng chứng thông tin phù hợp cho việc ĐG của bản thân
Đánh giá của SV
Trang 3733
SV tham gia ĐG phương pháp giảng dạy của GV là việc làm không mới ở các nước có nền giáo dục phát triển thuộc Châu Âu, Hoa Kỳ Riêng ở Việt Nam, hoạt động này chưa được ủng hộ nhiều Từ xưa đến nay, trong
quan niệm của người Việt Nam “một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng làthầy”
mà đã là thầy thì SV không có quyền nhận xét, đánh giá Chỉ có thầy ĐG trò, không có chuyện trò ĐG thầy Tuy vậy, theo xu thế phát triển chung của xã hội, việc ĐG phương pháp giảng dạy của GV thông qua ĐG của SV đã bắt đầu được thực hiện trong nhiều trường đại học Thực chất của việc SV ĐG
GV là việc lấy ý kiến phản hồi của SVđối với việc giảng dạy của GV Ngoài việc phản hồi về chất lượng mà SV thu được qua việc giảng dạy của GV, việc làm này còn mang ý nghĩa là sự phản hồi của xã hội đối với chất lượng của nhà trường, của cơ sở giáo dục và đào tạo Việc lấy ý kiến của SV thể hiện mức độ hài lòng của SV đối với GV, là cơ hội để SV đóng góp ý kiến với GV, khắc phục tình trạng trao đổi ngoài lề hay tạo ra những dư luận không mang tính xây dựng phía sau giảng đường Đồng thời hình thức này cung cấp những
“thông tin ngược” để GV kiểm tra lại phương pháp giảng dạy của mình Qua
đó GV phát huy những thế mạnh, ưu điểm và khắc phục những tồn tại, hạn chế nhằm đảm bảo chất lượng hoạt động giáo dục Việc làm này có ý nghĩa thiết thực trong điều kiện hiện nay khi đa số các trường đại học đã, đang và sẽ triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ mà một trong những đặc trưng của loại hình đào tạo này là HS có quyền chọn lớp, chọn GV, HS sẽ chọn những GV giỏi Đây là động cơ tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh giữa các GV Thêm vào
đó, trình độ và đòi hỏi về kiến thức của SV ngày càng cao, GV cần có ý thức thường xuyên trau dồi kiến thức chuyên môn, đổi mới phương pháp giảng dạy, liên tục làm mới mình thì mới đáp ứng được yêu cầu thiết thực đó Để
ĐG phương pháp giảng dạy của GV thông qua lấy ý kiến phản hồi của SV đạt hiệu quả và tính khách quan cao, cần chú ý một số điểm sau:
- Nâng cao nhận thức đối với GV và HS về hoạt động HS tham gia ĐG GV
Trang 38- Là một hoạt động quan trọng trong việc nỗ lực nâng cao chất lượng
GV của đơn vị nên cần thực hiện nghiêm túc, có qui trình, chuẩn mực cụ thể, tránh tình trạng “giơ cao, đánh khẽ”
- Cần từng bước công khai ý kiến ĐG của SV để tránh nguy cơ gây nên tác dụng ngược
- Việc ĐG phương pháp giảng dạy của GV cần thực hiện đồng thời với việc đổi mới công tác kiểm tra, ĐG hết môn học, trong đó khắc phục tình trạng GV vừa là người tham gia giảng dạy, vừa là người ra đề, chấm thi
- Nhà trường cần quan tâm về xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị, phòng thí nghiệm, giáo trình để GV có được những điều kiện thuận lợi trong việc nâng cao chất lượng giờ giảng của mình
Đánh giá của đồng nghiệp
ĐG đồng nghiệp là một phương thức ĐG hữu hiệu khi muốn biết chất lượng một trường đại học nói chung và chất lượng hoạt động của GV nói riêng Hoạt động tự ĐG của GV ở trên được tiến hành một cách tỉ mỉ, cẩn trọng đầy tính phê phán thôi chưa đủ vì nó còn mang tính chủ quan nên ĐG đồng nghiệp, một hình thức ĐG ngoài khách quan là điều hết sức cần thiết Bản thân mỗi người, nhiều khi cũng không nhìn thấy hết thiếu sót của mình cũng như việc nhìn sai bản chất của vấn đề, chính vì thếquan sát của những người ngoài đối với những gì chúng ta làm để ĐG là việc làm không thể thiếu Người ngoài sẽ giúp giơ cao tấm gương phản chiếuđể mỗi chúng ta thấy được những gì mình đã làm được và những gì mình còn thiếu sót, sai
Trang 3935
lầm Như vậy, bản chất của ĐG đồng nghiệp trong phương pháp giảng dạy là việc tìm kiếm, thu thập các thông tin về chất lượng giảng dạy của GV này thông qua GV khác
Tự ĐG phương pháp giảng dạy và ĐG đồng nghiệp có một điểm chung
ở nguồn đánh giá Nguồn ĐG ở đây không ai khác chính là GV GV không chỉ là nguồn cung cấp những quan điểm, ý kiến phản hồi mà là nguồn quan trọng để ĐG chất lượng, thành tích nghiên cứu, giảng dạy và thực hành GV thường tự tin hơn khi ĐG đồng nghiệp của mình thông qua các tài liệu giảng dạy hơn là dự giờ để quan sát việc giảng dạy tại lớp học (French – Lazovik, 1981) Bởi vậy, trong việc đưa ra các quyết định có tính cá nhân, các minh chứng ĐG đồng nghiệp dựa trên việc xem xét các tàiliệu giảng dạy và nghiên cứu xác thực hơn so với những ĐG thông qua dự giờ tại lớp học; cả hai loại
ĐG này đều được các GV coi là có tính xác thực ngang nhau Nếu không có những tài liệu được biên soạn, tài liệuđược công bố hoặc lớp học để dự giờ, khó xác định được mức chuẩn để GV sử dụng khi ĐG đồng nghiệp Những
GV có chuyên môn trong cùng một môn học với người được ĐG và là người quen với ngữ cảnh của khoá học được ĐG (nghĩa là, khả năng và kiến thức nền của HS, mục tiêu mong đợi của khoa đối với HS và thành tích học tập) là nguồn rất quan trọng để ĐG giảng dạy (Cohen&McKeachie, 1980); họ có thể đưa ra các ĐG rất xác thực về kiến thức chuyên môn, kỹ năng giảng dạy, các tài liệu giảng dạy, tư vấn hướng dẫn HS và các hoạt động nghiên cứu khoa học của đồng nghiệp
Một quy trình đánh giá đồng nghiệp được đề xuất dưới nhiều hình thức khác nhau như sau:
- Đánh giá được thực hiện ở trường đại học với sự tham gia của các đồng nghiệp ở các khoa lân cận
- Đồng nghiệp từ các trường đại học khác, trong nước hoặc quốc tế có
Trang 4036
thể được mời tham gia đánh giá Ưu điểm của cách đánh giá này là chúng tasẽ
có nhiều cơ hội để so sánh khi đánh giá Tuy nhiên, một bất lợi lớn đó làchi phí rất tốn kém, đặc biệt nếu mời chuyên gia nước ngoài
- Chúng ta có thể kết hợp cả hai hình thức trên và mời một số đồng nghiệp bên ngoài tham gia đánh giá
- Cuối cùng, có thể biến đánh giá đồng nghiệp thành đánh giá ngoài hoàn toàn và mời chuyên gia từ các tổ chức chuyên nghiệp đánh giá Mọi chi phí phải do nhà trường chịu trách nhiệm
Trong luận văn này, tác giả sử dụng 3 phương pháp đánh giá sau: Cán
bộ quản lý đánh giá, đồng nghiệp đánh giá và HS đánh giá năng lực giảng dạy của giáo viên để thử nghiệm bộ công cụ đánh giá năng lực giảng dạy tại trường Trung cấp Cảnh sát Vũ trang Việc lựa chọn phương pháp đánh giá, quy trình thiết kế công cụ đánh giá và việc thử nghiệm bộ công cụ vào việc đánh giá phương pháp giảng dạy sẽ được trình bày chi tiết ở chương sau
1.4 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.4.1 Lịch sử phát triển của đánh giá giáo viên
Thời kỳ Trung cổ châu âu: Các trường đại học châu âu dựa vào sinh
viên để kiểm tra việc giảng dạy của giảng viên Hiệu trưởng chỉ định một hội đồng sinh viên, Hội đồng này có nhiệm vụ ghi chép xem giảng viên có giảng dạy theo đúng lịch trình giảng dạy quy định của trường không, nếu có sự thay đổi nhỏ nào ngoài quy định chung, Hội đồng sinh viên báo cáo ngay cho Hiệu trưởng Hiệu trưởng sẽ phạt giảng viên về những vi phạm đó Sinh viên đóng tiền học trực tiếp cho giảng viên và lương của họ được tính theo số lượng sinh
viên dự giờ học (Rashdall, 1936 và Centra, 1993)
Thời kỳ thực dân: Vào thế kỷ XVI và XVII trong các trường đại
họcvà cao đẳng ở châu Âu, vào cuối năm học đại diện hội đồng quản trị và hiệutrưởng đã dự giờ quan sát việc GV đặt câu hỏi kiểm tra kiến thức cả năm