1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thiết kế và sử dụng Graph dạy học chương III: Tuần hoàn và chương V: Tiêu hóa – Sinh học 8, trung học cơ sở : Luận văn ThS. Lý luận và phương pháp dạy học sinh học : 60 14 10

132 15 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Graph là một chuyên ngành toán học hiện đại đã được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khoa học như kinh tế học kế hoạch hoá…, sinh học mạng thần kinh…, tâm lí học sơ đồ hoá các quá trì

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM THỊ ÁNH

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG GRAPH VÀO DẠY HỌC

CHƯƠNG III: TUẦN HOÀN, CHƯƠNG V: TIÊU HÓA

SINH HỌC 8 - TRUNG HỌC CƠ SỞ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM THỊ ÁNH

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG GRAPH VÀO DẠY HỌC

CHƯƠNG III: TUẦN HOÀN, CHƯƠNG V: TIÊU HÓA

SINH HỌC 8 - TRUNG HỌC CƠ SỞ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC

CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

( BỘ MÔN SINH HỌC )

Mã số: 60 14 10

Cán bộ hướng dẫn: PGS TS Mai Văn Hưng

HÀ NỘI –2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Giáo dục- Đại học Quốc Gia Hà Nội, phòng Quản lý đào tạo và Nghiên cứu khoa học, phòng Tư liệu đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Bằng lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc,tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Mai Văn Hưng, người thầy đã dành nhiều thời gian, công sức và tâm trí hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo cùng các em học sinh trường THCS Thịnh Quang – Đống Đa – Hà Nội đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp

đã luôn khích lệ, động viên và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn

Hà Nội, tháng 11 năm 2013

Tác giả

Phạm Thị Ánh

Trang 4

DANH MỤC KÍ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

4 Bảng 1.4 Kết quả điều tra về thái độ, phương pháp và kết quả

học tập môn Sinh học của HS

Trang 6

13 Bảng 3.9 Thống kê điểm bài kiểm tra 15 phút số 2 của lớp TN

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang 8

1.2 Xuất phát từ ưu điểm của phương pháp Graph 2

1.4 Xuất phát từ thực trạng dạy chương trình sinh học 8 5

Trang 9

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 10

Trang 10

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG GRAPH TRONG DẠY HỌC

CHƯƠNG III: TUẦN HOÀN VÀ CHƯƠNG V: TIÊU HÓA , SINH HỌC 8

– TRUNG HỌC CƠ SỞ

34

2.1 Quy trình thiết kế Graph dạy học sinh học 34

2.1 3 Quy trình thiết kế Graph dạy Sinh học 39

2.2 Quy trình sử dụng một số Graph trong dạy học Chương III: Tuần

hoàn, chương V: Tiêu hóa, Sinh học 8

42

2.2.1 Sử dụng Graph trong khâu nghiên cứu tài liệu mới 42 2.2.2 Sử dụng Graph trong khâu củng cố, hoàn thiện kiến thức 47 2.2.3 Sử dụng Graph trong khâu kiểm tra - đánh giá 50 2.2.4 Sử dụng Graph để mở rộng kiến thức cho học sinh 52 2.2.5 Một số lưu ý khi sử dụng Graph trong dạy học chương III:

Tuần hoàn, chương V:Tiêu hóa - Sinh học lớp 8, trung học cơ sở

Trang 11

3.5 Lập kế hoạch tiến hành thực nghiệm 97

3.8 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS sau khi thực nghiệm 100

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Xuất phát từ nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông

Để xây dựng một nền móng vững chắc cho sự phát triển của nền kinh tế tri thức trong thế kỷ XXI, giải pháp có ý nghĩa quyết định là phải tăng cường đầu tư nguồn vốn cho giáo dục nhằm cải cách và đổi mới sâu sắc giúp nâng cao chất lượng của sự nghiệp giáo dục, đáp ứng những yêu cầu của nền kinh tế và xã hội mới trong tương lai Một nền giáo dục cho mọi người, cho toàn xã hội được đổi mới và hiện đại hoá cả về phương thức tổ chức và nội dung giáo dục, kết hợp hài hoà những thành tựu khoa học hiện đại với những tinh hoa của nền văn hoá truyền thống sẽ đảm bảo chắc chắn cho chúng ta tìm được một con đường thích hợp, có hiệu quả và

có những bản sắc riêng để phát triển, hội nhập với xu hướng chung của thế giới.[2]

Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu trên chặng đường đua tranh trí tuệ tiến vào thế kỷ XXI đang đòi hỏi nền giáo dục phải có những đổi mới sâu sắc, trong

đó có sự đổi mới cơ bản về phương pháp dạy và phương pháp học, để đào tạo cho đất nước những con người thích ứng với nền kinh tế thị trường cạnh tranh và hợp tác, có năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong cuộc sống Vấn đề này không phải của riêng nước ta mà là vấn đề đang được quan tâm ở mọi quốc gia trong chiến lược phát triển nguồn lực con người phục vụ các mục tiêu xã hội.[2]

Luật Giáo dục, điều 28.2 đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh (HS), phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” Có thể nói vấn đề cốt lõi của đổi mới PPDH là hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động

Mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 cũng nêu rõ:

“…Đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, chương trình giáo dục các cấp bậc học và trình độ đào tạo…”.[3]

Trang 13

Trước đây, khi khoa học - kỹ thuật chưa phát triển cả về số lượng, chất lượng

và phương thức truyền bá thì trong dạy học người ta có thể đạt được những kết quả nhất định bằng phương pháp dạy học (PPDH) mà ở đó độc thoại là chủ yếu Tuy nhiên tri thức khoa học của nhân loại được đổi mới một cách nhanh chóng, tăng theo tốc độ luỹ tiến Cho nên nếu chúng ta dạy bằng phương pháp thông báo kiến thức có sẵn để được đáp lại bằng một hoạt động học thụ động tức là chúng ta đang phạm sai lầm nghiêm trọng cả về mục đích, nội dung và phương pháp dạy - học

Hiện nay đổi mới PPDH được triển khai theo hướng tích hợp sư phạm mà tư tưởng cốt lõi của nó là phát triển năng lực, nghĩa là biết sử dụng các nội dung và các

kỹ năng phản ứng thích nghi trong những tình huống đa dạng có ý nghĩa Dấu hiệu quan trọng của quá trình dạy học nhằm đạt được yêu cầu trên chính là dạy học không phải chủ yếu là truyền đạt, cung cấp thông tin mà phải chủ yếu là rèn luyện khả năng tìm, quản lý thông tin và xử lý thông tin thành sản phẩm có ý nghĩa trong hoạt động sống.[1]

Như vậy việc dạy học hiện nay không chỉ giới hạn ở việc dạy kiến thức mà phải chuyển mạnh sang dạy phương pháp học HS có phương pháp học, phương pháp tư duy thì khi bước vào cuộc sống sau giai đoạn học tập tại nhà trường, các em

sẽ có được bản lĩnh để có thể bước vào hoạt động học liên tục và học suốt đời Với nhiệm vụ đó đòi hỏi việc nghiên cứu lý luận dạy học đại cương và bộ môn

về cải tiến PPDH phải đi trước một bước để tìm tòi các giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS

1.2 Xuất phát từ ưu điểm của phương pháp Graph

PPDH là các con đường, là cách thức vận động của nội dung dạy học phù hợp với quy luật phát triển tâm lý, sinh lý và trình độ nhận thức của người học, là các biện pháp tổ chức hợp tác giữa thày và trò nhằm giúp cho trò chiếm lĩnh được nội dung dạy học một cách chắc chắn Đứng trước yêu cầu đổi mới PPDH, đòi hỏi người giáo viên (GV) phải chú trọng hơn đến các cách tiếp cận khác nhau nhằm tăng cường tính tích cực nhận thức của HS

Trong vài chục năm trở lại đây, trên thế giới đã có những tác giả áp dụng tiếp cận chuyển hoá các phương pháp khoa học, các thành tựu của kỹ thuật tiên tiến và công nghệ mới thành PPDH đặc thù Trong đó, tiếp cận chuyển hoá lý thuyết Graph toán học thành PPDH là một trong những hướng có triển vọng

Trang 14

Graph là một chuyên ngành toán học hiện đại đã được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khoa học như kinh tế học (kế hoạch hoá…), sinh học (mạng thần kinh…), tâm lí học (sơ đồ hoá các quá trình hình thành các khái niệm –tri thức), giáo dục học (phát triển hoạt động trong quá trình dạy học)…[7]

Phương pháp Graph là phương pháp khoa học sử dụng sơ đồ để mô tả sự vật, hoạt động, cho phép hình dung một cách trực quan các mối liên hệ giữa các yếu tố trong cấu trúc của sự vật, cấu trúc logic của quá trình triển khía hoạt động giúp con người quy hoạch tối ưu, điều khiển tối ưu các hoạt động Graph có tác dụng mô hình hóa các đối tượng nghiên cứu và mã hóa các đối tượng đó bằng một loại “ngôn ngữ” vừa trực quan vừa cụ thể và cô đọng Vì vậy, dạy học bằng phương pháp graph có tác dụng nâng cao hiệu quả truyền thông tin nhanh chóng và chính xác hơn Phương pháp graph là một trong những phương pháp khoa học có tính khái quát cao giúp học sinh có kỹ năng tự lực trong quá trình học tập Trong lý luận dạy học, Graph đã trở thành một cách tiếp cận mới thuộc lĩnh vực PPDH, cho phép GV quy hoạch được quá trình dạy học tổng quát cũng như từng bước tiến hành thiết kế tối ưu hoạt động dạy học và điều khiển hợp lý quá trình này đáp ứng được yêu cầu tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS, đặc biệt nhằm rèn luyện năng lực hệ thống hóa kiến thức và năng lực sáng tạo của học sinh.[7]

1.3 Xuất phát từ đặc điểm môn học

Sinh học là môn khoa học tự nhiên nghiên cứu về sự sống Đối tượng của sinh học là thế giới sống Nhiệm vụ của sinh học là tìm hiểu cấu trúc, cơ chế, bản chất của các hoạt động, quá trình, quan hệ trong thế giới sống và với môi trường, phát hiện những quy luật của sinh giới, làm cơ sở cho loài người nhận thức đúng và điều khiển sự phát triển của sinh vật

Đặc biệt, sinh học chỉ ra các mối quan hệ của các hệ thống sống ở các cấp độ

tổ chức khác nhau từ cấp độ phân tử đến cấp độ sinh quyển Các mối quan hệ đó có thể diễn đạt dưới dạng graph Ví dụ như quan hệ giữa cấu trúc với cấu trúc, cấu trúc với chức năng, cấu trúc, chức năng với môi trường Như vậy, nếu sử dụng graph trong dạy học sinh học sẽ thuận lợi trong việc mô hình hóa, hệ thống hóa các kiến thức

Qua sinh học 6 và sinh học 7 các em đã được tìm hiểu về cấu tạo và đời sống

Trang 15

tính thích nghi kì diệu với môi trường sống của chúng Đồng thời các em cũng thấy được sự tiến hóa từ cơ thể đơn giản đến cơ thể phức tạp có cấu tạo phù hợp với chức năng ngày càng hoàn thiện đã phải trải qua quá trình phát triển lịch sử lâu dài…

Môn học Cơ thể Người và vệ sinh - sinh học 8 tiếp nối chương trình sinh học 7 nhằm hoàn thiện những hiểu biết về thế giới động vật, giúp ta thấy rõ loài người có nguồn gốc động vật, nhưng đã vượt lên vị trí cao nhất về mặt tiến hóa Nhờ có lao động con người đã bớt lệ thuộc thiên nhiên Chương trình sinh học 8 trang bị cho

HS có hệ thống những kiến thức cơ bản, phổ thông, hiện đại và thực tiễn về cấu tạo, chức năng sinh lí của các cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể người và mối quan hệ giữa chúng trong hoạt động chung của cơ thể; những kiến thức đó thiết thực cho HS trong đời sống, lao động và học tập Đó là những kiến thức:

- Cấu tạo và hoạt động sinh lí của các cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể người

- Các kiến thức về vệ sinh và những biện pháp rèn luyện thân thể, bảo vệ và tăng cường sức khỏe, phòng chống bệnh tật

- Một số kiến thức măng tính chất đại cương: tế bào, mô, trao đổi chất, sinh trưởng, cảm ứng,

- Các kiến thức hỗ trợ mang tính chất liên môn, kiến thức về lịch sử khoa học

và các phương pháp nghiên cứu đặc trưng của bộ môn

Chương trình cung cấp một cách có hệ thống, toàn diện các tri thức về cơ thể người, quan tâm tới tính địa phương, tính vùng miền

Chương trình giúp hoàn thiện kiến thức chuyên khoa về các đối tượng sinh vật theo trật tự tiến hóa và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí HS: có khả năng tư duy trừu tượng cao hơn; HS đang ở độ tuổi dậy thì nên có nhu cầu tìm hiểu về bản thân Khi tìm hiểu về cấu tạo, chức năng của các cơ quan, hệ cơ quan sẽ có cơ sở vận dụng vào việc giữ gìn sức khỏe, rèn luyện thân thể để học tập, lao động có hiệu quả Đồng thời có hiểu biết khoa học để có ý thức và hành vi bảo vệ môi trường

Trong chương III: Tuần hoàn nội dung gồm các bài:

Bài 13: Máu và môi trường trong cơ thể

Bài 14: Bạch cầu – Miễn dịch

Bài 15: Đông máu và nguyên tắc truyền máu

Bài 16: Tuần hoàn máu và lưu thông bạch huyết

Trang 16

Bài 17: Tim và mạch máu

Bài 18: Vận chuyển máu qua hệ mạch Vệ sinh hệ tuần hoàn

Bài 19: Thực hành: Sơ cứu cầm máu

Trong chương V: Tiêu hóa nội dung gồm các bài:

Bài 24: Tiêu hóa và các cơ quan tiêu hóa

Bài 25: Tiêu hóa ở khoang miệng

Bài 26: Thực hành: Tìm hiểu hoạt động của enzim trong nước bọt

Bài 27: Tiêu hóa ở dạ dày

Bài 28: Tiêu hóa ở ruột non

Bài 29: Hấp thụ chất dinh dưỡng và thải phân

Bài 30: Vệ sinh tiêu hóa

Khi dạy - học hai chương này, có thể dùng Graph để hệ thống hóa quá trình tuần hoàn và quá trình tiêu hóa diễn ra trong cơ thể người…

1.4 Xuất phát từ thực trạng dạy chương trình sinh học 8

Phong trào đổi mới PPDH đang diễn ra sôi nổi trong các nhà trường Tuy nhiên, trong thực tế dạy học các bộ môn nói chung, môn Sinh học nói riêng vẫn còn những biểu hiện của tính hình thức ở nhiều mức độ khác nhau dẫn tới chất lượng dạy và học còn chưa cao Nguyên nhân chủ yếu là do từ trước đến nay GV chủ yếu vẫn giảng dạy theo phương pháp truyền thống, thầy truyền đạt kiến thức, học sinh thụ động tiếp thu tri thức, ít tích cực và sáng tạo Các phương pháp dạy học tích cực

ít được sử dụng hoặc chủ yếu chỉ sử dụng trong các giờ thao giảng Việc giảng dạy

và học tập các bộ môn nói chung, bộ môn Sinh học nói riêng còn nhiều hạn chế, chưa phát huy được năng lực tư duy hệ thống – tư duy được áp dụng nhiều trong đời sống kinh tế - xã hội ngày nay, chưa phát huy được năng lực sáng tạo của HS để giải quyết các vấn đề tiếp thu được trong tài liệu SGK và thực tiễn cuộc sống nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Vì vậy, học sinh chưa yêu thích môn học và khả năng vận dụng kiến thức kém Việc nghiên cứu, tìm cách đưa phương pháp hiện đại vào dạy học nhằm phát huy tính tích cực và năng lực học tập của học sinh, tạo cho các em có cơ hội độc lập nhận thức là hết sức cần thiết

Việc thiết kế và dạy học chương III: Tuần hoàn và chương V: Tiêu hóa, Sinh học 8 bằng phương pháp Graph sẽ khắc phục hiện tượng HS chỉ học thuộc lòng một

Trang 17

cách máy móc, giúp HS hiểu bản chất của sự vật hiện tượng, thiết lập được mối quan hệ giữa các thành phần kiến thức

Hiện nay chương III: Tuần hoàn và chương V: Tiêu hóa, Sinh học 8 theo chương trình mới có nhiều đổi mới cả về cấu trúc chương trình và nội dung kiến thức Vì vậy nhiều GV còn lúng túng trong việc soạn giáo án và lên lớp

Việc thiết kế và dạy học chương III: Tuần hoàn và chương V: Tiêu hóa, Sinh

học 8 bằng phương pháp Graph chưa được GV chú trọng và chưa được tác giả nào nghiên cứu

Với những lí do như trên, chúng tôi chọn đề tài: “ Thiết kế và sử dụng Graph

vào dạy học chương III: Tuần hoàn và chương V: Tiêu hóa - Sinh học 8, trung học cơ sở”

2 Mục đích nghiên cứu

Thiết kế kế Graph nội dung, Graph hoạt động và sử dụng Graph trong dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy và học chương III : Tuần hoàn , chương V : Tiêu hóa - Sinh học 8, trung học cơ sở

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận về phương pháp graph

- Điều tra thực trạng về tình hình ứng dụng của lí thuyết Graph trong dạy học Sinh học tại trường THCS

- Thiết kế các Graph nội dung và Graph hoạt động để xây dựng các giáo án tổ chức cách hoạt động trong dạy học chương III: Tuần hoàn, chương V: Tiêu hóa Sinh h ọc

ở trường trung ho ̣c cơ sở

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu:

Trang 18

+ Giáo viên dạy chương III: Tuần hoàn , chương V: Tiêu hóa Sinh h ọc 8 ở trường THCS Thi ̣nh Quang

+ Học sinh lớp 8 trường THCS Thịnh Quang

- Đối tượng nghiên cứu : phương pháp Graph trong dạy học chương III: Tuần hoàn,

chương V: Tiêu hóa - Sinh học 8, Trung ho ̣c cơ sở

6 Câu hỏi nghiên cứu

Vận dụng phương pháp Graph như thế nào để dạy học chương III : Tuần hoàn, chương V: Tiêu hóa Sinh học 8 ở trường trung ho ̣c cơ sở?

7 Giả thuyết khoa học

Nếu sử dụng phương pháp Graph phù hợp với từng mức độ trong các khâu của bài học ở quá trình dạy học chương III : Tuần hoàn, chương V: Tiêu hóa Sinh học 8 ở trường THCS sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học những chương này nói riêng và môn sinh học 8 nói chung

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu các văn bản, tài liệu chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo liên quan đến đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới ra đề kiểm tra, danh mục thiết bị dạy học Sinh học

- Sách giáo khoa, sách giáo viên, phân phối chương trình, chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Sinh học…

- Phân tích tổng quan và khái quát hoá những lý thuyết về graph trong dạy học và những ứng dụng của nó trong thực tiễn cuộc sống và trong dạy học Nghiên cứu các tài liệu về lý thuyết Graph, các giáo trình lý luận dạy học, sách giáo khoa và các tài liệu có liên quan đến đề tài

- Phân tích, tổng hợp các tài liệu trên sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu các vấn đề liên quan trực tiếp đến phương pháp graph và việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm đưa ra quy trình thiết kế và sử dụng graph

- Phân tích tổng hợp những quan điểm lý luận và hệ thống khái niệm có liên quan đến việc đổi mới giáo dục và việc dạy học môn sinh học

8.2 Phương pháp điều tra sư phạm

8.2.1 Điều tra học sinh

Trang 19

- Thông qua phiếu hỏi, tiến hành điều tra thái độ, nhận thức, phương pháp học tập của HS đối với việc học môn Sinh học 8

8.2.2 Điều tra giáo viên

- Thiết kế và sử dụng phiếu điều tra hiểu biết của GV về phương pháp Graph, vận dụng Graph vào dạy học

- Dự giờ và trao đổi trực tiếp với GV, tham khảo các ý kiến, các giáo án của GV

8 3 Phương pháp chuyên gia

- Sử dụng phương pháp chuyên gia nhằm tổ chức lấy ý kiến của đồng nghiệp về tất

cả các khía cạnh của đề tài nghiên cứu

8.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

8.4.1 Thực nghiệm thăm dò

- Thăm dò GV dạy Sinh học ở trường THCS và học sinh lớp 8 ở trường THCS về những vấn đề còn tồn tại khi dạy học chương III: Tuần hoàn, chương V: Tiêu hóa - Sinh học 8, trung học cơ sở

- Xây dựng phiếu điều tra, điều tra tìm hiểu về thực trạng việc sử dụng phương pháp Graph vào dạy học chương III: Tuần hoàn, chương V: Tiêu hóa - Sinh học 8, trung học cơ sở

8.4.2 Thực nghiệm chính thức

- Thực nghiệm giảng dạy trên các lớp đã chọn ở trường THCS nhằm kiểm tra, đánh giá hiệu quả của việc vận dụng phương pháp Graph vào dạy học chương III : Tuần

hoàn, chương V: Tiêu hóa - Sinh học 8, trung học cơ sở

- Các lớp TN và ĐC có trình độ tương đương nhau dựa trên khảo sát học tập trước

đó Bố trí TN và ĐC song song

8.7 Phương pháp xử lý số liệu

- Về mặt định tính : Phân tích chất lượng câu hỏi , câu trả lời của học sinh để thấy

rõ hiê ̣u quả của việc sử dụng phương pháp graph trong da ̣y ho ̣c

- Về mặt định lượng : Các số liệu thu được trong thực nghiệm sư phạm được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học với sự hỗ trợ của phần mềm Excel Sau đó sẽ đánh giá định lượng kết quả thu được nhờ xử lý số lượng

9 Những đóng góp mới của đề tài

- Hệ thống hóa được cơ sở lí luận về việc thiết kế và sử dụng graph vào dạy học chương III: Tuần hoàn, chương V: Tiêu hóa - Sinh học 8, trung học cơ sở

Trang 20

- Thiết kế được các giáo án sử dụng graph vào dạy học chương III : Tuần hoàn , chương V: Tiêu hóa - Sinh học 8, trung học cơ sở

10 Cấu trúc cu ̉ a luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Thiết kế và sử dụng Graph trong dạy học chương III: Tuần hoàn, chương V: Tiêu hóa – Sinh học 8 , trung học cơ sở

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 21

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1.2 Lịch sử ra đời của Graph

Lí thuyết Graph là một chuyên ngành của toán học được khai sinh từ công

trình về bài toán “Bảy cây cầu ở Konigsburg” (1736) của nhà toán học người Thụy

Sĩ – Leonhard Euler (1707 – 1783) Lúc đầu, lý thuyết graph là một bộ phận nhỏ của toán học, chủ yếu nghiên cứu giải quyết những bài toán có tính chất giải trí Trong những năm cuối thế kỉ XX, cùng với sự phát triển của toán học và nhất là toán học ứng dụng, những nghiên cứu về vận dụng lý thuyết graph đã có những bước tiến nhảy vọt Sau đó nó đã được nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học khác [7]

Lý thuyết Graph hiện đại được công bố đầu tiên trong cuốn sách “Lý thuyết Graph định hướng và vô hướng” (Conig, 1936) Năm 1958, “ Lý thuyết Graph và những ứng dụng của nó”, tác giả Claude Berge trình bày khái niệm và định lí toán

học cơ bản của Graph, ứng dụng của lí thuyết Graph trong nhiều lĩnh vực Từ đó cho đến nay, lí thuyết Graph được nghiên cứu nhiều nơi trên thế giới Nhiều nhà toán học trên thế giới đã nghiên cứu làm cho bộ môn học này ngày càng phong phú

và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của các ngành khoa học khác như điều khiển học, mạng điện tử, lý thuyết thông tin, kinh tế học [7]

Dựa trên giải pháp tiếp cận chuyển hóa graph toán học thành graph dạy học, qua đó đưa ra các quy trình áp dụng trong dạy học sinh học Các bước áp dụng phương pháp Graph tiến hành theo trình tự như sau:

Trang 22

1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu Graph

Năm 1965, tại Liên Xô cũ, A.M Xokos là người đầu tiên đã vận dụng một số quan điểm của lí thuyết Graph để mô hình hóa nội dung tài liệu sách giáo khoa môn hóa học Năm 1965, V.X Poloxin mô tả trình tự các thao tác dạy học trong một tình huống dạy học bằng Graph Năm 1972, V.P Grakumop đã sử dụng phương pháp Graph trong dạy học nêu vấn đề để phát huy tính tích cực của học sinh Năm 1973, tại Liên Xô cũ tác giả Nguyễn Như Ất trong công trình luận án Phó Tiến sĩ khoa học sư phạm đã vận dụng lý thuyết graph kết hợp với phương pháp ma trận như một phương pháp hỗ trợ để xây dựng logic cấu trúc các khái niệm “ tế bào học” trong nội dung giáo trình môn sinh học đại cương trường phổ thông của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa [3]

Tại Việt Nam, lí thuyết Graph cũng được một số nhà giáo dục nghiên cứu Nguyễn Ngọc Quang (1971) là người đầu tiên đã nghiên cứu chuyển hóa Graph toán học thành Graph dạy học Sau công trình nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Quang, nhiều tác giả đã nghiên cứu về Graph trong các lĩnh vực khác nhau Trần Trọng

Dương (1980) đã nghiên cứu đề tài: “Áp dụng phương pháp Graph và Alogorit hóa

để nghiên cứu cấu trúc và phương pháp giải, xây dựng hệ thống bài toán về lập công thức hóa học ở trường phổ thông” Nguyễn Đình Bảo (1983) nghiên cứu sử

dụng Graph để hướng dẫn ôn tập môn Toán và Nguyễn Anh Châu nghiên cứu sử dụng Graph hướng dẫn ôn tập môn Văn Phạm Tư (1984) nghiên cứu dùng Graph với tư cách là phương pháp dạy học và đưa ra một số hình thức áp dụng trong dạy học Hóa học Nguyễn Chính Trung (1987) nghiên cứu chuyển hóa Graph Toán học vào lĩnh vực giảng dạy khoa học quân sự Hoàng Việt Anh (1993) vận dụng phương pháp Graph trong quy trình dạy môn Địa lí [3]

Trang 23

Đối với bộ môn Sinh học, Nguyễn Phúc Chỉnh đi sâu nghiên cứu hệ thống về

lí thuyết Graph và ứng dụng lí thuyết Graph trong dạy học Giải phẫu – Sinh lí người [3]

Trong những năm gần đây, nhất là sau khi thực hiện chương trình cải cách giáo dục, các bài viết về việc dùng graph trong dạy học đã có những bước chuyển nhất định Các vấn đề nghiên cứu trở nên đa dạng, phong phú và đội ngũ tác giả ngày một đông đảo hơn Việc ứng dụng lý thuyết graph cũng được mở rộng ở nhiều môn khác nhau trong nhà trường Có thể kể đến các tác giả sau:

Phạm Thị Trinh Mai (1997) với bài viết: “Dùng graph dạy tổng kết hoá học theo chủ đề”

Phạm Thị My (2000) nghiên cứu “Ứng dụng lý thuyết Graph xây dựng và sử dụng

sơ đồ để tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học sinh học ở THPT”

Nguyễn Thị Ban: “Sử dụng graph để dạy những bài về từ và tiếng việt ở THCS”,

“Sử dụng graph trong dạy học tiếng việt cho học sinh THCS”, và “Sử dụng graph vào việc phân tích mối quan hệ nghĩa giữa các câu trong đoạn văn”

Phạm Minh Tâm, với: “Sử dụng graph vào dạy học địa lý lớp 12 THPT”

Nguyễn Mạnh Chung: “Hướng dẫn học sinh giải toán bằng phương pháp graph” Phạm Thị Kim: “Sử dụng graph để dạy những bài về câu và văn bản ở chương tŕnh lớp 10 - THPT - SGK thí điểm bộ 2 năm 2003”

Phạm Thị Thanh Huyền: “ Sử dụng graph hệ thống hoá từ ngữ trong nội dung mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 3”

Khổng Cát Sơn: “Sử dụng graph vào việc dạy học các bài về cấu tạo từ tiếng việt trong sách giáo khoa ngữ văn THCS ”

Vũ Ngọc Chuyên: “ ứng dụng lý thuyết graph trong dạy học môn công nghệ 11 - THPT ”

Đào Thị Thu Thảo: “Sử dụng graph dạy học những bài ôn tập tiếng việt cho học sinh lớp 5”

Trịnh Quang Từ: “Sử dụng graph trong thiết kế phương pháp dạy học”

Phan Xuân Đạm, Phạm Trọng Tân (2007): “Sử dụng graph trong dạy học từ loại tiếng việt cho SV dân tộc thiểu số theo chương trình CĐSP 2004”

Trịnh Thị Minh Hảo: “Sử dụng graph vào dạy học môn lịch sử và địa lý lớp 4”

Trang 24

Như vậy, việc vận dụng lý thuyết graph vào quá tŕnh dạy học ở nước ta đã bước đầu được quan tâm và ngày càng thu hút được sự chú ý của nhiều nhà sư phạm cùng đông đảo các thầy cô giáo

1.1.2.2 Lý thuyết Graph

Graph là một chuyên ngành toán học hiện đại đã được ứng vào nhiều ngành khoa học khác nhau Hiện nay trên thế giới có rất nhiều công trình, sách, tạp chí, trang web nghiên cứu về lý thuyết Graph

Khái niệm Graph có hướng và Graph vô hương

Trong nhiều trường hợp, chúng ta có thể vẽ những sơ đồ gồm những điểm biểu thị những đối tượng được xem xét và các đường nối thể hiện mối quan hệ giữa chúng Đó chính là các Graph

Trong toán học, Graph được định nghĩa là tập hợp không rỗng các yếu tố E gọi là đỉnh và tập hợp A các yếu tố gọi là cạnh, mỗi yếu tố A là một cặp (không xếp thứ tự) những yếu tố rõ rệt của E [20]

Như vậy, một Graph gồm tập hợp các điểm gọi là đỉnh và một tập hợp các đoạn thẳng (gọi là cạnh) hay đoạn cong (gọi là cung) Mỗi cạnh (cung) nối với 2 đỉnh khác nhau, và 2 đỉnh khác nhau được nối bằng nhiều nhất một cạnh (cung) Graph có thể biểu diễn dưới dạng sơ đồ, dạng biểu đồ quan hệ hoặc dạng bảng (ma trận) Một Graph có thể có những cách thể hiện khác nhau nhưng phải chỉ rõ được mối quan hệ giữa các đỉnh của graph Hình dạng, kích thước của các cạnh và vị trí của các đỉnh không quan trọng mà quan trọng là số lượng cạnh và đỉnh cũng như mối quan hệ giữa các đỉnh [6]

Trang 25

cạnh của Graph không phân biệt điểm gốc với điểm ngọn thì đó là Graph vô hướng (Hình 1.1) Nếu với mỗi cạnh của Graph ta phân biệt 2 đầu, một đầu là gốc còn một đầu là ngọn thì đó là Graph có hướng (Hình 1.2)

Ví dụ, cấu tạo tế bào gồm có 3 phần chính: màng, tế bào chất và nhân chúng ta

có thể dùng một grap để mô tả cấu trúc của tế bào như hình 1.3 (Mũi tên một chiều chỉ các thành phần cấu tạo; mũi tên hai chiều chỉ mối quan hệ về mặt cấu trúc của tế bào)

Hình 1.3 Cấu trúc của tế bào

Khái niệm “cây” trong lý thuyết Graph

Cây là một Graph liên thông không có chu trình Cây có gốc là cây có hướng, trên đó đã chọn một đỉnh sao cho với mọi đỉnh luôn luôn có một đường hướng từ gốc lên đỉnh đó Có hai loại cây là cây đa phân và cây nhị phân [6]

Hình 1.4 Cây đa phân

Trang 26

Hình 1.5 Cây nhị phân

Cây đa phân là cây có số cạnh của một đỉnh là không xác định (Hình 1.4) Trong dạy học Sinh học, có thể dùng cây đa phân để mô tả mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng, cây phát sinh chủng loại

Trong dạy học sinh học, có thể dùng cây đa phân để mô tả cấu tạo và chức năng của các cơ quan trong cơ thể Ví dụ, cấu tạo của hệ hô hấp ( Hình 1.6)

Hình 1.6 Cấu tạo hệ hô hấp

Cây nhị phân là cây có gốc sao cho mọi đỉnh đều có nhiều nhất là 2 cạnh (Hình 1.5) Trong dạy học sinh học, cây nhị phân thường được dùng để lập các sơ

đồ nhánh như dùng cây nhị phân để xác định kiểu gen của các loại giao tử trong phép lai hữu tính

Ví dụ, có thể ứng dụng cây nhị phân để xác định các kiểu giao tử của cơ thể dị hợp về nhiều cặp gen AaBbCc (hình 1.7) Mỗi cặp gen dị hợp nằm trên một cặp nhiễm sắc thể tương đồng nên trong quá trình giảm phân tạo giao tử, các nhiễm sắc thể đã phân ly dẫn tới sự phân ly của các gen.[7]

Trang 27

Hình 1.7 Xác định các kiểu giao tử của cơ thể AaBbCc

Ví dụ, dùng một “cây” để mô tả cấu trúc và chức năng của nơ ron (hình 1.8), trong đó khái niệm “nơron” là gốc, các đỉnh “cấu trúc” và “chức năng” là cây con bậc 1; các đỉnh “thân ”, “tua”, “cảm ứng”và “dẫn truyền” là cây con bậc 2 tiếp tục các bậc nhƣ vậy đến đỉnh cuối cùng là “ngọn” của cây (tua ngắn, tua dài).[7]

Trang 28

Hình 1.8 Cấu trúc và chức năng của nơron thần kinh

1.1.2.3 Cơ sở của việc chuyển hóa Graph toán học thành Graph dạy học

Cơ sở triết học của nó là phương pháp tiếp cận cấu trúc – hệ thống Lý thuyết

hệ thống là một luận thuyết nhằm nghiên cứu và giải quyết các vấn đề theo một quan điểm toàn vẹn.Tức là nghiên cứu giải quyết các vấn đề một cách có căn cứ khoa học, có hiệu quả và hiện thực dựa trên tất cả các yếu tố cấu thành nên đối tượng.[7]

L.V Bertalanffy cho rằng “hệ thống” là tập hợp các yếu tố liên kết với nhau, tạo thành một chỉnh thể thống nhất và tương tác với môi trường

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hệ thống, những định nghĩa đó đều

có những điểm chung: Hệ thống là một tập hợp các yếu tố liên hệ với nhau tạo thành

sự thống nhất ổn định trong một chính thể, có những thuộc tính và tính quy luật tổng hợp.[7]

Tiếp cận cấu trúc - hệ thống là cách thức xem xét đối tượng như một hệ toàn vẹn, phát triển động, là cách phát hiện ra lôgic phát triển của đối tượng từ lúc sinh

Trang 29

ra đến lúc trở thành một hệ toàn vẹn.[1]

Phương pháp tiếp cận cấu trúc - hệ thống là sự thống nhất giữa hai phương pháp phân tích cấu trúc và tổng hợp hệ thống, nghĩa là phân tích đối tượng nghiên cứu thành các yếu tố cấu trúc và tổng hợp các yếu tố đó lại trong một chỉnh thể trọn vẹn theo những quy luật của tự nhiên.[7]

Phân tích cấu trúc và tổng hợp hệ thống luôn gắn liền với nhau Các yếu

tố của hệ thống được xem xét trong mối quan hệ với nhau và với môi trường Phân tích cấu trúc và tổng hợp hệ thống là hai mặt không thể tách rời trong quá trình tiếp cận cấu trúc - hệ thống

Chuyển hoá Graph toán học thành Graph dạy học phải thực hiện theo nguyên tắc cơ bản của lý thuyết hệ thống để xác định các đỉnh của một Graph trong một hệ thống mang tính lôgic khoa học, qua đó thiết lập các mối quan hệ của các yếu tố cấu trúc trong một tổng thể.[7]

1.1.3 Cơ sở của việc sử dụng phương pháp Graph trong dạy học

1.1.3.1.Cơ sở tâm lý học nhận thức của việc sử dụng phương pháp Graph trong dạy học

Mục đích quá trình nhận thức của con người là hình thành tri thức Tri thức là những thông tin đã được xử lý qua nhận thức biến thành hiểu biết đưa vào “bộ nhớ” của con người, có mối quan hệ với kiến thức đã tích luỹ trước

Đối với các nhà khoa học thì hoạt động phát minh bắt nguồn bằng việc thu thập thông tin từ thế giới khách quan, được xử lý bằng phương pháp đặc thù để xây dựng thành các tri thức khoa học dưới dạng ngôn ngữ: khái niệm, biểu thức, công thức, quy luật, định luật

Quá trình nhận thức của con người gồm 3 giai đoạn là tích luỹ thông tin, khái quát hoá - trừu tượng hoá, mô hình hoá thông tin bằng các tri thức [4]

Trong quá trình học tập, học sinh tiếp nhận thông tin và tri thức khoa học để hình thành tri thức cá nhân Thông qua tri giác, học sinh sẽ khái quát hoá - trừu tượng hoá và cuối cùng mô hình hoá thông tin để ghi nhớ theo mô hình

Mô hình là vật thể được dựng lên dưới dạng sơ đồ, cấu trúc vật lý, dạng ký hiệu hay công thức tương ứng với đối tượng nghiên cứu nhằm phản ánh, tái tạo dưới dạng đơn giản và sơ lược nhất cấu trúc, tính chất, mối liên hệ và quan hệ giữa các bộ phận của đối tượng nghiên cứu Mô hình là vật đại diện thay thế cho vật gốc

Trang 30

có những tính chất tương tự với vật gốc, nhờ đó khi nghiên cứu mô hình người ta sẽ nhận được những thông tin về những tính chất hay quy luật của vật gốc Mô hình hoá là một hành động học tập giúp con người diễn đạt lôgic khái niệm một cách trực quan Qua mô hình, các mối quan hệ của khái niệm được chuyển vào trong [6]

Việc dạy học sinh có khả năng mô hình hoá các mối quan hệ, cũng như khả năng sử dụng mô hình đó để phân tích đối tượng là việc làm cần thiết nhằm phát triển trí tuệ học sinh

Sử dụng Graph trong dạy học thực chất là hành động mô hình hoá, tạo ra các đối tượng nhân tạo tương tự về một mặt nào đó với đối tượng hiện thực để tiện cho việc nghiên cứu

Có thể nói, Graph thuộc loại mô hình “mã hoá”, tức là loại mô hình mà các yếu tố trực quan bị loại bỏ chỉ còn các mối quan hệ lôgic Loại mô hình này

có ý nghĩa quan trọng trong các thao tác tư duy như hình thành biểu tượng, trừu tượng hoá - khái quát hoá

1.1.3.2 Cơ sở lý luận dạy học của việc sử dụng phương pháp Graph trong dạy học

Theo lý thuyết thông tin, quá trình dạy học tương ứng với một hệ thống

thông báo gồm 3 giai đoạn là truyền và nhận thông tin, xử lý thông tin, lưu trữ và vận dụng thông tin [4]

Thông tin giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh và học sinh, giữa học sinh và các phương tiện dạy học được truyền qua các kênh thị giác (kênh hình), kênh thính giác (kênh tiếng) Trong đó kênh thị giác có năng lực truyền tải thông tin nhanh nhất, hiệu quả nhất

Graph có tác dụng mô hình hoá các đối tượng nghiên cứu và mã hoá các đối tượng đó bằng một loại ngôn ngữ vừa trực quan, vừa cụ thể Vì vậy, có tác dụng nâng cao hiệu quả truyền thông tin

Xử lý thông tin là sử dụng các thao tác tư duy nhằm phân tích thông tin, phân loại thông tin và sắp xếp các thông tin vào các hệ thống nhất định Nhờ các Graph

mã hoá thông tin theo những hệ thống lôgic hợp lý, làm cho việc xử lý thông tin nhanh và hiệu quả hơn

Lưu trữ thông tin là việc ghi nhớ các tri thức của người học Những cách dạy

Trang 31

dễ quên Graph sẽ giúp học sinh ghi nhớ một cách khoa học và vận dụng kiến thức một cách linh hoạt

1.1.4 Các nguyên tắc xây dựng Graph dạy học [7]

1.1.4.1.Nguyên tắc thống nhất giữa mục tiêu - nội dung - phương pháp dạy học

Ba thành tố cơ bản của quá trình dạy học là mục tiêu, nội dung, phương pháp

có tác động qua lại, hữu cơ Giải quyết tốt mối quan hệ này, quá trình dạy học sẽ đạt kết quả cao Vì vậy, trong việc thiết kế Graph dạy học cần chú ý tới mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học

Mục tiêu dạy - học là những tiêu chí về mặt nhận thức và kỹ năng phải đạt được khi thực hiện một hoạt động dạy - học, có thể là cho một bài hoặc một chương

cụ thể Logic của mối quan hệ giữa mục tiêu - nội dung - phương pháp dạy học là: dựa vào nội dung sách giáo khoa đã được biên soạn, giáo viên phải phân tích nội dung, căn cứ vào đối tượng cụ thể để xác định những mục tiêu mà học sinh phải đạt được sau khi học một bài hoặc một chương Để đạt được mục tiêu cần phải tập trung vào nội dung nào, sử dụng phương pháp dạy học nào, phương tiện dạy học nào để đạt hiệu quả cao nhất Như vậy, mục tiêu bài học được xác định chủ yếu dựa vào nội dung bài học, đặc điểm tâm lý nhận thức của học sinh và năng lực sư phạm của giáo viên Mục tiêu và nội dung kiến thức là cơ sở để xác định phương pháp dạy học phù hợp, theo hướng phát huy cao độ óc tư duy tìm tòi khám phá của học

sinh để đạt được những mục tiêu đã đề ra

Thống nhất giữa mục tiêu – nội dung – phương pháp dạy học trong việc thiết

kế grap dạy học, phải trả lời các câu hỏi sau:[7]

+ Thiết kế grap để làm gì ?

- Học sinh phải đạt những gì sau khi kết thúc bài học?

- Các kiểu dạy học nào phù hợp với mục tiêu đặt ra ?

- Cần đặt các tình huống học tập nào để đạt được các mục tiêu đề ra?

- Có cách nào biết được học sinh đã đạt hay không đạt những mục tiêu đã đề ra ?

+ Graph được thiết kế như thế nào ?

- Nội dung cần lập graph thuộc loại kiến thức nào ?

- Xác định các yếu tố cấu trúc trong một tổng thể nhất định ?

- Các đơn vị cấu trúc trong nội dung đó liên hệ với nhau như thế nào?

Trang 32

+ Việc thiết kế grap liên quan với việc sử dụng grap như thế nào?

- Nội dung đó liên quan đến “kiểu dạy học nào” ?

- Thuộc loại nghiên cứu tài liệu mới hay hoàn thiện tri thức hay kiểm tra đánh giá ?

- Cần lựa chọn phối hợp những phương pháp dạy học nào để tổ chức quá trình dạy học bằng graph ?

Thống nhất mục tiêu nội dung và phương pháp dạy học trong quá trình thiết kế

và sử dụng grap là đặt ra và trả lời được các câu hỏi trên Làm như vậy, chúng ta sẽ thiết kế được những grap đạt yêu cầu của nội dung một bài học không những về logic khoa học mà còn đảm bảo mục đích và cách sử dụng các grap đó

1.1.4.2 Nguyên tắc thống nhất giữa toàn thể và bộ phận

Giải quyết mối quan hệ giữa toàn thể và bộ phận thực chất là quỏn triệt tiếp cận cấu trỳc - hệ thống trong thiết kế Graph Thiết kế Graph phải đảm bảo vị trí các đỉnh của Graph theo một hệ thống lôgic hợp lý

Quán triệt tư tưởng tiếp cận cấu trúc hệ thống trong việc thiết kế grap dạy học sinh học, cần phải trả lời được các câu hỏi sau :

+ Thiết kế grap dạy học cho hệ thống nào?

+ Có bao nhiêu yếu tố thuộc hệ thống? đó là những yếu tố nào?

+ Các yếu tố trong hệ thống liên hệ với nhau như thế nào?

+ Quy luật nào chi phối mối quan hệ của các yếu tố trong hệ thống?

Trả lời các câu hỏi này, chúng ta sẽ xác định được các đỉnh của grap và các mối liên hệ giữa các đỉnh Đặc biệt xác định mối quan hệ về mặt cấu trúc và chức năng giữa các đỉnh theo quy luật nhất định của tự nhiên

Ví dụ, Theo nguyên tắc thống nhất giữa toàn thể và bộ phận, khi thiết kế grap

về “Xương đầu, thân và xương chi” có thể xác định bộ xương người là một hệ thống (toàn thể), trong đó các yếu tố cấu trúc (bộ phận) là xương đầu, xương thân và xương chi Các yếu tố cấu trúc này quan hệ với nhau tạo nên chức năng nâng đỡ và bảo vệ các nội quan

Ở cấp độ khác, có thể quan niệm mỗi yếu tố cấu trúc trong hệ thống lớn đó là một hệ thống nhỏ hơn, chẳng hạn cột sống và lồng ngực là các yếu tố cấu trúc của

hệ thống xương thân

Cứ xét như vậy chúng ta sẽ xác định được vị trí các đỉnh của grap theo một

Trang 33

1.1.4.3 Nguyên tắc thống nhất giữa cụ thể và trừu tượng

Nhận thức chỉ có thể bắt đầu bằng cái cụ thể có thể tri giác bằng giác quan Con đường nhận thức thế giới khách quan của nhân loại là “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”

Graph là một trong những loại mô hình có thể mô hình hoá các đối tượng cụ thể và cụ thể hoá các đối tượng trừu tượng thành mô hình cụ thể trong tư duy Trong giai đoạn trừu tượng hoá, Graph có ý nghĩa là phương tiện để mô hình hoá các mối quan hệ bản chất của đối tượng, làm cho những vấn đề trừu tượng cụ thể trong tư duy Khi thiết kế Graph dạy học cần xác định rõ mối quan hệ giữa cụ thể và trừu tượng của từng đối tượng riêng biệt, từ đó đề ra các giải pháp hữu hiệu

1.1.4.4 Nguyên tắc thống nhất giữa dạy và học

Thống nhất giữa dạy và học trong Graph tức là trong khâu thiết kế, sử dụng Graph phải thể hiện rõ vai trò tổ chức, chỉ đạo của giáo viên để phát huy tính tích cực, tính tự lực của học sinh

Thực hiện nguyên tắc thống nhất giữa dạy và học, giáo viên không phải sử dụng Graph như một sơ đồ minh hoạ cho lời giảng, mà phải biết tổ chức cho học sinh tìm tòi thiết kế graph phù hợp với nội dung học tập

Tóm lại, những nguyên tắc cơ bản nêu trên định hướng cho việc thiết kế Graph dạy học Kết quả của việc thiết kế Graph dạy học là lập được các Graph nội dung và Graph hoạt động

1.1.5.Ưu điểm của graph [1]

Trong dạy học, Graph có một số ưu điểm sau:

- Graph cho phép kiểm tra dễ dàng tính chính xác của nội dung kiến thức

- Dạy học theo Graph nội dung, giáo viên sẽ đi sâu được vào nội dung chính, vào bản chất vấn đề, tránh sa vào những nội dung vụn vặt, hướng bài học theo nội dung

Trang 34

tượng được nghiên cứu

- Vận dụng Graph vào dạy học để mô hình hoá các mối quan hệ, chuyển thành phương pháp dạy học đặc thù sẽ nâng cao được hiệu quả dạy học, thúc đẩy quá trình tự học, tự nghiên cứu của học sinh theo hướng tối ưu hoá, đặc biệt rèn luyện năng lực hệ thống hoá kiến thức và năng lực sáng tạo của học sinh

1.1.6 Ứng dụng của Graph trong dạy học [1]

1.1.6.1.Sử dụng Graph để hệ thống hóa khái niệm

Khái niệm thường rất trừu tượng và khó hiểu, sử dụng Graph cho phép tiếp cận nội dung kiến thức theo con đường lôgic: tổng hợp – phân tích – tổng hợp, có nghĩa vừa phân tích đối tượng thành các yếu tố vừa khái quát thành các chỉnh thể hoàn thiện, từ đó các khái niệm được sắp xếp có hệ thống

Graph hệ thống hóa các khái niệm trong một tổng thể, từ đó mở rộng hiểu biết

về đối tượng cần nghiên cứu một cách khái quát

1.1.6.2.Sử dụng Graph để cấu trúc hóa nội dung tài liệu

Cấu trúc hóa tài liệu giáo khoa là tạo nên mối liên hệ giữa các đơn vị kiến thức trong một hệ thống nhất định (trong một chương trình, một chương, một bài) Tổ chức tài liệu học tập thành một hệ thống kiến thức tạo nên hệ thống kiến thức cho

HS, HS tự bồi dưỡng được phương pháp tự học, tự nghiên cứu Graph có ưu điểm:

 Hoạt động dạy học có hiệu quả hơn

 Những kiến thức mang tính hệ thống mà HS tự chiếm lĩnh được sẽ nhớ lâu hơn, tái hiện chính xác hơn vì nó là sự nhận thức có ý nghĩa

 Vốn kiến thức của HS sẽ được huy động dễ dàng, tốt hơn để giải quyết những vấn đề mới nảy sinh

Trang 35

Phương pháp Graph có ý nghĩa rất quan trọng trong dạy học Tuy vậy, nếu lạm dụng phương pháp này mà ít chú trọng đến việc giúp HS hiểu bản chất của vấn đề thì sẽ có tác dụng tiêu cực Một số tiêu cực như:

- HS ghi nhớ máy móc, chỉ thấy mối quan hệ bề ngoài, không hiểu bản chất của kiến thức

- Không thấy được mối liên hệ nên không thấy được tính hệ thống của kiến thức

- Không thấy được nguồn gốc của kiến thức khoa học nên không thấy được ý nghĩa của kiến thức được vận dụng vào thực tiễn

Để khắc phục tiêu cực đó, cần tăng cường các câu hỏi và thảo luận nhóm.[3], [9], [10]

1.1.7 Phân loại Graph.[8],[11]

1.1.7.1.Phân loại theo kí hiệu sơ đồ

 Hình vẽ lược

 Graph nội dung

 Mô hình hóa cấu trúc

1.1.7.2.Phân loại theo nội dung

1.1.7.3.Phân loại theo lí luận dạy học

 Nghiên cứu tài liệu mới

 Củng cố, khái quát kiến thức

 Kiểm tra đánh giá

1.1.7.4.Phân loại theo mục tiêu

1.2.1 Thực trạng dạy học Sinh học tại trường THCS Thịnh Quang

Bảng 1.1 Điều tra về phương pháp giáo viên thường sử dụng trong dạy học

Trang 36

Số lượng: 6 GV

TT Tên phương pháp

Số lượng (%) Luôn

luôn

sử dụng

Thường xuyên

sử dụng

Thỉnh thoảng

Trang 37

dụng phương pháp graph vẫn chưa được các thầy cô sử dụng thường xuyên, thậm chí có những giáo viên cũng chưa sử dụng bao giờ ( chiếm 16.7%)

Bảng 1.2 Điều tra hiểu biết của giáo viên về phương pháp graph

Nội dung điều tra Mức độ hiểu biết về phương pháp graph

Bảng 1.3 Điều tra về cách sử dụng phương pháp graph của giáo viên

STT Mức độ: Rất Thường Thỉnh Không

Trang 38

Số lượng

(%)

Nội dung

thường xuyên

xuyên thoảng bao giờ

1 Khi sử dụng phương pháp

Graph, thầy/ cô thường

tích hợp vào hình thức:

- Kiểm tra bài cũ 3 (50%) 2(33.3%) 1(16.7%) 0

- Nghiên cứu tài liệu mới 3 (50%) 2(33.3%) 1(16.7%) 0

GV lập graph, học sinh dựa

vào graph hình thành kiến

có hứng thú học Đa số GV thường xuyên (33.3%) và rất thường xuyên (50%) chỉ

Trang 39

tích hợp Graph trong khâu hình thành kiến thức và kiểm tra bài cũ (62,5%) Đa số giáo viên chỉ vận dụng graph vào dạy ở mức độ giáo viên lập graph, học sinh hình thành kiến thức và khâu giáo viên hướng dẫn học sinh lập graph Còn mức độ học sinh tự lập graph thì giáo viên không sử dụng Chính vì việc tích hợp Graph không được áp dụng ở tất cả các khâu, ở tất cả các mức độ nên hiệu quả của việc vận dụng graph vẫn chưa cao

Bảng 1.4 Kết quả điều tra về thái độ, phương pháp và kết quả học tập

môn Sinh học của HS

(%) Câu 1: Đối với em, việc học môn Sinh học 8 169 100%

Câu 2: Đối với việc chuẩn bị mới và học bài cũ môn

Rất ít khi học và hầu như không 17 10.1

Câu 3: Đối với các kiến thức các Thầy/ cô giáo giảng

dạy trên lớp về môn Sinh học 8 thì

em…………

Hiểu bản chất, thiết lập được các mối quan hệ

giữa các kiến thức đã học

43 25.44

Hiểu được kiến thức nhưng chưa biết thiết lập

mối quan hệ giữa các kiến thức

26 15.38

Tái hiện kiến thức không đầy đủ, ít khi vận dụng 50 29.59

Trang 40

được kiến thức

Câu 4: Em có thường xuyên sử dụng phương pháp

graph để học các kiến thức sinh học không?

Không sử dụng phương pháp học này 58 34.3

Câu 5: Về việc sử dụng phương pháp graph để học

các kiến thức trên lớp và tự học ở nhà môn

Sinh học thì em tự nhận thấy………

Biện pháp này rất hiệu quả trong việc ghi nhớ tất

cả các kiến thức và đã giúp em đạt điểm cao

29 17.18

Thỉnh thoảng sử dụng phương pháp graph và

học với phương pháp này đạt hiệu quả như

những phương pháp học tập khác

56 33.13

Không thích học môn Sinh học 42 24.85

Trả lời những câu hỏi và bài tập giao về nhà 34 20.14 Học theo nội dung hướng dẫn của GV 68 40.23 Học thuộc lòng một cách máy móc 56 33.13 Ghi lại kiến thức bằng cách sơ đồ hóa 11 6.5

Câu 8: Kết quả học tập năm học trước của em đạt

loại:

Ngày đăng: 26/09/2020, 00:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w