Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại nói chung và tranh chấp giữa cổ đông và giữa cổ đông với người quản lý trong CTCP đang là nhu cầu bức xúc của xã hội cũng như của các doanh n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUÂT■
TRẦN DUY BÌNH
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP GIỮA CÁC c ổ ĐỒNG
VÀ GIỮA CỔ OÔNG VỚI NGƯỜI QUẢN LÝ CÔNG TY
TRONG CỐNG TY cổ PHẦN
LUẬN VÃN THẠC s ĩ LUẬT HỌC
ĐAI HỌ C Q UỐ C GIA HÁ NỘI TRUNG ĨẢM THONG tin thưviên
V - L o / / / 9 2 / í
/
HÀ NỘI - 2008
Trang 2NỘI Bộ TRONG CÔNG TY CỎ PHẦN
1.1 Khái quát về mô hình công ty cổ phần theo quy định của 6
pháp luật Việt Nam
1.1.1 Khái niệm công ty cổ phần 61.1.2 Đặc điểm của mô hình công ty cổ phần 71.1.3 Cơ cấu tổ chức và quản trị của công ty cổ phần 81.1.3.1 Đại hội đồng cổ đông 91.1.3.2 Hội đồng quản trị 101.1.3.3 Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty 13
1.2 Tranh chấp nội bộ trong công ty cổ phần 151.2.1 Khái niệm và đặc trưng của tranh chấp nội bộ trong công ty 15
Trang 32.1.1 Giải quyết tranh chấp nội bộ trong công ty cổ phần bằng 27
thương lượng
2.1.2 Giải quyết tranh chấp nội bộ trong công ty cổ phần bằng trung 27
gian hòa giải
2.1.3 Giải quyết tranh chấp nội bộ trong công ty cổ phần bằng 28
sự hòa thuận giữa các cổ đông
2.3.3 Công ty cổ phần Du lịch Khách sạn Bạch Đằng - một tranh 50
chấp điển hình sau khi cổ phần hóa
TRANH CHẤP NỘI Bộ TRONG CÔNG TY CÓ PHẦN
3.1 Chính sách của Nhà nước Việt Nam trong hoạt động giải 61
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
3.2 Định hướng giải quyết ừanh chấp nội bộ trong công ty cổ phần 623.3 Nguyên nhân của hiện tượng tranh chấp nội bộ trong công 63
ty cổ phần
3.4 Một số giải pháp nhằm hạn chế và giải quyết có hiệu quả 64
Trang 43.4.1 Nhóm giải pháp pháp lý 643.4.2 Nhóm giải pháp về quản lý nội bộ trong công ty cổ phần 673.4.3 Nhóm giải pháp cho các phương thức giải quyết tranh chấp 70
nội bộ trong Công ty cổ phần
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công cuộc đổi mới mà Đảng và Nhà nước ta đề ra từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1996) đã và đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ và thu được những kết quả tích cực Trọng tâm của công cuộc đổi mới chính là việc phát triển nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo Thực tế cho thấy, hon 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế Việt Nam có những bước phát triển mạnh mẽ với nhiều thành tựu rất đáng khích lệ Từ nền kinh tế quan liêu bao cấp, kinh tế Việt Nam phát triển không ngừng với những dấu hiệu tích cực của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường của chúng ta vẫn đang trong giai đoạn sơ khai và trước mắt còn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thử thách Một trong những khó khăn, bất ổn mà chúng ta cần đề cập tới đó là những tranh chấp của các chủ thể hoạt động trong nền kinh tế diễn ra ngày càng nhiều về số lượng, phức tạp
về nội dung và gay gắt về mức độ tranh chấp, tiêu biểu là các tranh chấp trong nội bộ công ty cổ phần (CTCP)
Có thể khẳng định, tranh chấp trong kinh doanh thương mại nói chung và trong nội bộ CTCP nói riêng là một hiện tượng tất yểu của xã hội đang phát triển mạnh mẽ như Việt Nam Một xã hội phát triển ngày càng năng động về kinh tế, kéo theo việc một nguồn vốn nhàn rỗi khổng lồ trong dân cư tìm được đích đến là các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm kiếm lời Mô hình CTCP là hình thức khá lý tưởng cho hoạt động đầu tư, đặc biệt là với sự phát triển bước đầu ấn tượng của thị trường chứng khoán Hàng loạt các doanh nghiệp theo mô hình CTCP ra đời, kéo theo đó là một
1
Trang 7lực lượng đông đảo các cổ đông không hạn chế thành phần kinh tế, địa vị
xã hội, tiềm lực tài chính Hiện tượng này tất yếu dẫn đến việc tranh chấp giữa các cổ đông và giữa cổ đông với người quản lý trong CTCP tăng nhanh Mặt khác, các chủ thể này luôn trong tình trạng mâu thuẫn, đối lập
về lợi ích, khi lợi ích bị xâm hại, lập tức tranh chấp sẽ nổ ra
Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh của Việt Nam đã có từ lâu và đang từng bước được hoàn thiện trong một hệ thống pháp luật đang được xây dựng ngày càng đồng bộ Tuy nhiên, những quy định thực định của pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại còn nhiều thiếu sót và bất cập trong khi tranh chấp kinh doanh, thương mại ngày càng gia tăng Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại nói chung và tranh chấp giữa cổ đông và giữa cổ đông với người quản lý trong CTCP đang là nhu cầu bức xúc của xã hội cũng như của các doanh nghiệp cổ phần
Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: ''Giải quyết
tranh chấp giữa các cỗ đông và giữa cồ đông với người quản lý công ty
trong công ty cỗ phần " làm đề tài cho luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời đã tạo ra một bước đột phá trong hệ thong pháp luật kinh doanh, luật chơi mới của những doanh nhân được củng cố, Nhà nước công nhận và đảm bảo quyền tự do kinh doanh của mọi tổ chức cá nhân Thêm vào đó, Luật Chứng khoán ra đời tiếp tục một "cú huých" gây biến đổi mạnh mẽ trong môi trường kinh doanh cũng như trong lĩnh vực học thuật Trên thực tế, doanh nghiệp được thành lập hàng loạt với nhiều loại hình trong đó mô hình CTCP chiếm đại đa số Tình hình thực tế phát triển nhanh chóng với hàng loạt các vấn đề pháp lý mới
mẻ khiến cho hoạt động nghiên cứu, tổng kết, đánh giá trở nên sôi động
Trang 8hơn rất nhiều Những vấn đề cũ tuy vẫn còn ý nghĩa nhưng phần nào đã lạc hậu so với thực té.
Trong khoảng một thập kỷ trở lại đây, tranh chấp kinh doanh, thương mại nói chung và tranh chấp trong nội bộ doanh nghiệp nói riêng đã được khá nhiều công trình khoa học đề cập đến Tiêu biểu trong số đó là:
luận văn "Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án - những điểm mới và các vẩn đề đặt ra cho thực tiễn thi hành" của tác giả Bùi Nguyễn Phương Lê; luận văn "Giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp - những vấn đề lý luận và thực tiễn" của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh; bài viết "Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh theo
Bộ luật Tố tụng dân sự và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành", Tạp
chí Nhà nước và pháp luật, số 6 năm 2005 Các công trình nghiên cứu nói trên hầu hết tập trung nghiên cứu việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại nói chung chứ chưa tập trung nghiên cứu sâu về tranh chấp giữa các chủ thể trong doanh nghiệp
Có thể nói, đề tài "Giải quyết tranh chấp giữa các cổ đông và giữa
co đông với người quản lý công ty trong công ty cổ phần" mà tác giả lựa
chọn là công trình nghiên cứu đầu tiên được thực hiện ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu một cách chuyên sâu các quy định của pháp luật
về giải quyết một loại tranh chấp cụ thể giữa các chủ thể đã được xác định trong CTCP
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Với quan điểm: tranh chấp là hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế thị trường, chúng tôi đặt ra tầm nhìn: không thể hạn chế triệt để những tranh chấp phát sinh trong nội bộ CTCP mà mục đích cơ bản phải là giải quyết những tranh chấp một cách hiệu quả nhất với các tiêu chí: tranh chấp phải được giải quyết nhanh chóng, kịp thời; ưu tiên con đường giải quyết
3
Trang 9bằng hòa bình; chi phí giải quyết tranh chấp thấp Giải quyết hiệu quả tranh chấp kinh doanh thương mại nói chung và tranh chấp trong CTCP nói riêng sẽ hạn chế được thiệt hại cho người tiêu dùng, doanh nghiệp, người lao động, cơ quan nhà nước đồng thời môi trường kinh doanh trở nên lành mạnh hơn.
Với tầm nhìn như trên, đề tài đặt ra mục đích tìm hiểu hiện tượng tranh chấp giữa các cổ đông và giữa cổ đông với người quản lý trong CTCP, đồng thời đề xuất giải pháp giải quyết hiệu quả những tranh chấp đó
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Sơ bộ tìm hiểu về cấu trúc và đặc điểm của CTCP; nguyên nhân
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Tranh chấp trong CTCP trên thực tế được lý giải bởi nhiều nguyên nhân và được giải quyết thông qua nhiều con đường, tuy nhiên, trong phạm
vi luận văn này, chúng tôi tập trung tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân các tranh chấp trong CTCP Luận văn không đi sâu tìm hiểu các quy tắc tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2003, cũng không khảo sát tình hình thực tế của hiện tượng TCNB trong CTCP, mà tập trung tìm
hiểu, phân tích các nguyên nhân dẫn đến tranh chấp từ thực tế và từ pháp
Trang 10luật thực định, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết có hiệu quả các tranh chấp này.
5 Phương pháp nghiền cứu
Để thực hiện nhiệm vụ đề tài đặt ra, luận văn sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như: phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh pháp luật, chứng minh, tổng hợp và một số phương pháp xã hội học Đồng thời, trong suốt quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng việc phân tích các tình huống cụ thể kết hợp với phương pháp tổng kết thực tiễn để hoàn thành luận văn
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về công ty cổ phần và tranh chấp nội bộ trong
công ty cổ phần
Chương 2: Giải quyết tranh chấp nội bộ trong công ty cổ phần
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả giải quyết
tranh chấp nội bộ trong công ty cổ phần
5
Trang 111.1.1 Khái niệm công ty cổ phần
Trước hết CTCP là một loại doanh nghiệp Khoản 4 Điều 1 Luật
Doanh nghiệp năm 2005 quy định: "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế cỏ tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh" [14].
Công ty cổ phần có vốn điều lệ được chia làm nhiều phàn bằng nhau gọi là cổ phần, các thành viên của công ty (cổ đông) sở hữu một hay nhiều cổ phần và hưởng các quyền, chịu các nghĩa vụ trong phạm vi số cổ phần mình nắm giữ, CTCP có quyền phát hành cổ phần rộng rãi trong công chúng để huy động vốn
Mô hình CTCP lần đầu tiên được quy định trong Luật Công ty năm
1990, đến Luật Doanh nghiệp năm 1999 và đặc biệt là Luật Doanh nghiệp
2005 địa vị pháp lý của loại hình Công ty này mới được hoàn thiện một cách căn bản Theo quy định tại Điều 77 Luật Doanh nghiệp 2005:
1 Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi
là cổ phần;
b) Cố đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế sổ lượng tối đa;
Trang 12c) c ổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa
vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này [14].
1.1.2 Đặc điểm của mô hình công ty cổ phần
Công ty cổ phần có một số đặc điểm cơ bản và đặc trưng như sau:
* Trên phương diện pháp lý:
Công ty cổ phần là một tổ chức kinh doanh, có tư cách pháp nhân độc lập, được hưởng quy chế pháp lý của Nhà nước, độc lập và bình đẳng với các chủ thể khác trước các cơ quan tư pháp CTCP có vốn kinh doanh
do nhiều người đóng góp dưới hình thức cổ phần Các cổ đông của CTCP hưởng quyền và chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp Trên thực tế, mệnh giá cổ phần của CTCP thường được định giá thấp để có
thể huy động được tối đa mọi nguồn vốn trên thị trường và trong công chúng.
* Trên phương diện huy động vốn:
Công ty cổ phần có cơ chế huy động vốn rất ưu việt, đây là đặc điểm riêng có của loại hình doanh nghiệp này Quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của CTCP cho phép doanh nghiệp tạo điều kiện cho các
tổ chức, cá nhân với số tiền nhỏ nhưng vẫn có cơ hội đầu tư an toàn và có lãi Việc mua cổ phiếu của CTCP không những đem lại cho cổ đông nguồn
cổ tức mà còn hứa hẹn mang đến cho họ một khoản thu nhập nhờ sự tăng giá trị của cổ phiếu khi công ty làm ăn có hiệu quả Mặt khác, các cổ đông còn có thể tham gia quản lý công ty theo điều lệ của CTCP và được pháp luật bảo đảm; các cổ đông còn được hưởng ưu đãi trong việc mua những cổ
7
Trang 13phiếu mới phát hành của công ty trước khi công ty phát hành rộng rãi ra
công chúng.
Một đặc điểm khác về vốn của CTCP là sự linh hoạt trong việc chuyển nhượng, mua bán những cổ phiếu tự do Như vậy sẽ không khó cho những cổ đông muốn rút vốn hay tham gia kinh doanh thêm trong CTCP Việc luân chuyển nguồn vốn trong công ty sẽ được thực hiện nhanh chóng
mà không ảnh hưởng nhiều đến tổ chức và hoạt động của công ty
* Trên phương diện sở hữu:
Công ty cổ phần là doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, chủ sở hữu CTCP là các cổ đông của công ty Thông thường, các cổ đông không trực tiếp tham gia vào công việc quản lý, điều hành công ty, mà thông qua một
bộ phận nhỏ là Hội đồng quản trị (HĐQT) Các cổ đông hầu hết thực hiện quyền sở hữu của mình thông qua việc nhận cổ tức, tham dự đại hội đồng
cổ đông (ĐHĐCĐ) để quyết định các vấn đề mang tính chiến lược của công ty như: thông qua điều lệ của công ty, phương hướng hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo tài chính, bầu cử, ứng cử HĐQT và các chức danh quản lý công ty
1.1.3 Cơ cấu tổ chức và quản trị của công ty cổ phần
Điều 95 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định:
Công ty cố phần có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tong giám đốc; đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng sổ cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát.
Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty được quy định tại Điều lệ công ty Người đại diện theo pháp luật của công
ty p h ả i thường trú ở Việt Nam; trường hợp vẳng mặt trên ba
Trang 14mươi ngày ở Việt Nam thì phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác theo quy định tại Điều lệ công ty để thực hiện các quyền và nhiệm vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty [ 14].
Có thể mô hình hóa cơ cấu tổ chức của CTCP như sau:
1.1.3.1 Đại hội đồng cổ đông
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có quyền lực cao nhất trong CTCP bao gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của CTCP
Điều 96 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định các các quyền và nhiệm
vụ của ĐHĐCĐ như sau:
- Thông qua định hướng phát triển của công ty;
- Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; quyết định mức cổ tức hằng năm của từng loại cổ phần, trừ trường họp Điều lệ công ty có quy định khác;
9
Trang 15- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT, thành viên Ban kiểm soát;
- Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công
ty nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác;
- Quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty, trừ trường hợp điều
chỉnh vốn điều lệ do bán thêm cổ phần mới trong phạm vỉ số lượng cổ phần
được quyền chào bán quy định tại Điều lệ công ty;
- Thông qua báo cáo tài chính hằng năm;
- Quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại;
- Xem xét và xử lý các vi phạm của HĐQT, Ban kiểm soát gây thiệt hại cho công ty và cổ đông công ty;
- Quyết định tổ chức lại, giải thể công ty;
- Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật Doanhnghiệp và Điều lệ công ty
Có thể nhận thấy Luật Doanh nghiệp đã ghi nhận ĐHĐCĐ là cơ quan quyền lực cao nhất trong CTCP qua việc quy định cho cơ quan này quyền quyết định những vấn đề trọng yếu, mang tính sống còn của doanh nghiệp Mặt khác, ĐHĐCĐ là cơ quan tập họp sự có mặt của tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, do đó đây có thể coi là tổ chức của những ông chủ công ty, do vậy những người đầu tư vào công ty có quyền quyết định đối với tài sản của mình là điều tất yếu
Trang 16Điều 108 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định HĐQT có các quyền
và nhiệm vụ sau đây:
- Quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty;
- Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại;
- Quyết định chào bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần được quyền chào bán của từng loại; quyết định huy động thêm vốn theo hình thức khác;
- Quyết định giá chào bán cổ phần và trái phiếu của công ty;
- Quyết định mua lại cổ phần theo quy định tại khoản 1 Điều 91 Luật Doanh nghiệp;
- Quyết định phương án đầu tư và dự án đầu tư trong thẩm quyền và giới hạn theo quy định của Luật Doanh nghiệp hoặc Điều lệ công ty;
- Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ; thông qua họp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công
ty, trừ hợp đồng và giao dịch quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp;
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với giám đốc hoặc tổng giám đốc và người quản lý quan trọng khác do Điều lệ công ty quy định; quyết định mức lương và lợi ích khác của những người quản lý đó; cử người đại diện theo ủy quyền thực hiện
quyền sở hữu cổ phần hoặc phần vốn góp ở công ty khác, quyết định mức
thù lao và lợi ích khác của những người đó;
11
Trang 17- Giám sát, chỉ đạo Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác trong điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty;
- Quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty, quyết định thành lập công ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác;
- Duyệt chương trình, nội dung tài liệu phục vụ họp ĐHĐCĐ triệu tập họp ĐHĐCĐ hoặc lấy ý kiến để ĐHĐCĐ thông qua quyết định;
- Trình báo cáo quyết toán tài chính hằng năm lên ĐHĐCĐ;
- Kiến nghị mức cổ tức được trả; quyết định thời hạn và thủ tục trả
cổ tức hoặc xử lý lỗ phát sinh trong quá trình kinh doanh;
- Kiến nghị việc tổ chức lại, giải thể hoặc yêu cầu phá sản công ty;
- Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp
và Điều lệ công ty
Như vậy HĐQT là cơ quan nắm hầu hết các quyền quyết định liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của CTCP, có thể coi HĐQT là bộ não của công ty, đồng thời là cơ quan chịu trách nhiệm chính trước ĐHĐCĐ về hiệu quả hoạt động của công ty
v ề nhiệm kỳ và số lượng thành viên HĐQT, Luật Doanh nghiệp
2005 cũng quy định rất rõ ràng đồng thời những quy định này đều mang tính mở, tạo điều kiện để công ty tự quyết định cơ cấu quản lý phù họp với tình hình thực tế của công ty thông qua các quy định của điều lệ công ty
Cụ thể là: HĐQT có không ít hơn ba thành viên, không quá mười một thành viên, nếu điều lệ công ty không có quy định khác, số thành viên HĐQT phải thường trú ở Việt Nam do Điều lệ công ty quy định Nhiệm kỳ của HĐQT là năm năm Nhiệm kỳ của thành viên HĐQT không quá năm năm; thành viên HĐQT có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế
Trang 181.1.3.3 Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty
Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong CTCP do HĐQT của công ty
bổ nhiệm một người trong số họ hoặc thuê người khác đảm nhiệm Trường hợp điều lệ công ty không quy định Chủ tịch HĐQT là người đại diện theo pháp luật thì Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty
Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty; chịu sự giám sát của HĐQT và chịu trách nhiệm trước HĐQT và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao Nhiệm kỳ của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc không quá năm năm; có thể được bổ nhiệm lại với số nhiệm kỳ không hạn chế Một điểm đáng lưu ý là Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty không được đồng thời làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp khác
Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có các quyền và nhiệm vụ sau đây:
- Quyết định các vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh hằng ngày của công ty mà không cần phải có quyết định của HĐQT;
- Tổ chức thực hiện các quyết định của HĐQT;
- Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty;
- Kiến nghị phương án cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty;
- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong công ty, trừ các chức danh thuộc thẩm quyền của HĐQT;
- Quyết định lương và phụ cấp (nếu có) đối với người lao động trong công ty kể cả người quản lý thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc;
- Tuyển dụng lao động;
13
Trang 19- Kiến nghị phương án trả cổ tức hoặc xử lý lỗ trong kinh doanh;
- Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật, Điều lệ công ty và quyết định của HĐQT
Có thể thấy rằng, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có các quyền và nghĩa vụ như một người lao động của CTCP, do đó Giám đốc hoặc Tổng giám đốc cũng phải thực hiện hoạt động điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty theo đúng quy định của pháp luật, điều lệ công ty, hợp đồng lao động ký với công ty và quyết định của HĐQT Đồng thời nếu điều hành trái với quy định này mà gây thiệt hại cho công ty thì Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại cho công ty
1.1.3.4 Ban kiểm soát
Ban kiểm soát do ĐHĐCĐ bầu ra, đây là cơ quan khá đặc thù trong
mô hình CTCP, xuất phát từ đặc trưng của CTCP về cơ cấu vốn, hoạt động của CTCP ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều chủ thể, do vậy càn có cơ chế kiểm soát hoạt động của Công ty nói chung và của HĐQT cũng như Giám đốc hoặc Tổng giám đốc nói riêng
Ban kiểm soát trong CTCP có từ ba đến năm thành viên nếu Điều lệ công ty không có quy định khác; nhiệm kỳ của Ban kiểm soát không quá năm năm; thành viên Ban kiểm soát có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế
Các thành viên Ban kiểm soát bầu một người trong số họ làm Trưởng ban kiểm soát Quyền và nhiệm vụ của Trưởng ban kiểm soát do Điều lệ công ty quy định Ban kiểm soát phải có hơn một nửa số thành viên thường trú ở Việt Nam và phải có ít nhất một thành viên là kế toán viên hoặc kiểm toán viên
Trong trường họp vào thời điểm kết thúc nhiệm kỳ mà Ban kiểm
soát nhiệm kỳ mới chưa được bàu thì Ban kiểm soát đã hết nhiệm kỳ vẫn
Trang 20tiếp tục thực hiện quyền và nhiệm vụ cho đến khi Ban kiểm soát nhiệm kỳ
mới được bầu và nhận nhiệm vụ
Qua nghiên cứu sơ bộ về tổ chức và quản trị trong CTCP có thể
nhận thấy: Tổ chức và quản trị trong CTCP là một hệ thống các thiết chế,
theo đó việc tổ chức, điều hành các hoạt động trong công ty được thực hiện
trên cơ sở phân định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của các cổ đông, HĐQT,
người quản lý điều hành và những người có quyền và lợi ích liên quan
Công tác quản trị CTCP bao gồm các phương pháp được áp dụng theo trình
tự thủ tục nhất định nhằm đảm bảo tổ chức và hoạt động của công ty một
cách hiệu quả nhất Luật Doanh nghiệp 2005 là văn bản pháp lý quy định
khá chi tiết về mô hình CTCP, tuy vậy các quy định liên quan đến tổ chức
và quản trị trong CTCP vẫn được quy định theo hướng mở, tôn trọng sự
thống nhất của các cổ đông trong điều lệ công ty trên cơ sở tuân thủ những
quy định chung của Luật Doanh nghiệp
1.2 TRANH CHẤP NỘI Bộ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.2.1 Khái niệm và đặc trưng của tranh chấp nội bộ trong công
ty cổ phần
Trước hết, cần định nghĩa khái niệm tranh chấp? Có thể hiểu theo
nghĩa thứ nhất: tranh chấp là việc giành nhau một cách giằng co, không rõ
thuộc về bên nào Cũng có thể hiểu tranh chấp là sự đấu tranh giằng co khi có
ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa các bên [27, tr 1024],
Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường nảy sinh rất
nhiều loại hình tranh chấp, luật điều chỉnh các quan hệ này cũng đưa ra quy
định về các loại hình tranh chấp
Tranh chấp thương mại phát sinh từ hoạt động thương mại và thông
thường là tranh chấp hợp đồng giữa các bên Xuất phát từ hoạt động
thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời và được các chủ thể thực
15
Trang 21hiện thông qua các hợp đồng trong hoạt động thương mại Chính vì vậy, cơ
sở nảy sinh tranh chấp chủ yếu là từ họp đồng ký kết giữa các bên
Tranh chấp kinh doanh được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao gồm gần như tất cả các xung đột, bất đồng phát sinh trong hoạt động kinh doanh Do đó, tranh chấp phát sinh trong hoạt động linh doanh có thể là tranh chấp hợp đồng hoặc tranh chấp trong nội bộ công ty Ngoài ra, tranh chấp kinh doanh có thể bao hàm cả những tranh chấp phát sinh ngoài quan
hệ hợp đồng như quan hệ bồi thường thiệt hại, quan hệ cạnh tranh
Thông qua việc tìm hiểu về các khái niệm nêu trên, luận văn tập trung làm rõ khái niệm TCNB trong CTCP
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhưng khá đặc thù CTCP được hình thành trên cơ sở góp vốn của nhiều cổ đông, cổ đông
có thể là tổ chức hoặc cá nhân nhưng đều độc lập với công ty Đe tồn tại và phát triển, CTCP phải được các cổ đông không chỉ tham gia góp vốn mà còn tham gia quá trình quản lý, điều hành công ty Trong quá trình này thi việc nảy sinh xung đột giữa công ty với cổ đông, giữa cổ đông này với cổ đông khác là điều không thể tránh khỏi, thậm chí dễ dàng xảy ra trong thực tế
Khái niệm TCNB trong CTCP có thể xem xét ở hai góc độ: góc độ luật thực định (xem xét các TCNB trong CTCP theo các quy định hiện hạnh của pháp luật Việt Nam) và góc độ khoa học pháp lý
Dưới góc độ luật thực định Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản khác đều thống nhất quy định TCNB trong CTCP là tranh chấp giữa công
ty với các cổ đông của công ty, giữa các cổ đông của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của CTCP
So với Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án Kinh tế, Bộ luật Tố tụng dân sự đã bổ sung thêm một số tranh chấp liên quan đến sáp nhập, hợp
Trang 22nhất, chia tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của CTCP Nguyên nhân của
sự bổ sung này là do sự thay đổi về luật nội dung về các hình thức tổ chức lại doanh nghiệp từ Luật Công ty 1990 đến Luật Doanh nghiệp 2000 và Luật Doanh nghiệp 2005
Ngoài ra, Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành phần thứ nhất "Những quy định chung" của Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định cụ thể thế nào là tranh chấp giữa thành viên công ty và công ty cũng như tranh chấp giữa các thành viên trong công ty tại mục 3.5 phần I Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng
đã khắc phục được hạn chế của Bộ luật Tố tụng dân sự về chủ thể của TCNB thông qua quy định: người chưa phải là thành viên công ty cũng có thể là chủ thể của tranh chấp trong quan hệ chuyển nhượng vốn góp với thành viên của công ty
Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự nói riêng cũng như hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung đều chưa đưa ra được định nghĩa khái quát
và những dấu hiệu cụ thể để nhận biết TCNB trong doanh nghiệp nói chung
và trong CTCP nói riêng TCNB trong công ty theo pháp luật thực định được xác định dựa trên tiêu chí chủ thể và lĩnh vực phát sinh tranh chấp, do
đó không bao quát hết các trường họp TCNB trong công ty và các TCNB của công ty lại được giải quyết theo thủ tục dân sự hay lao động ảnh hưởng đến quyền và lợi ích họp pháp của đương sự
Trong phạm vi và quy mô của luận văn thạc sĩ luật học, chúng tôi tạm xác định TCNB trong CTCP là những mâu thuẫn bất đồng về quyền lợi giữa các cổ đông và giữa cổ đông với người quản lý công ty trong quá trình thành lập, tổ chức quản lý, hoạt động, tổ chức lại, giải thể, phá sản của CTCP để nghiên cứu việc giải quyết những tranh chấp này
ĐAI HỌ C Q UỌ C TRUNG TÃM THÕNC
17
Trang 23Với khái niệm về TCNB trong CTCP nêu trên, có thể xác định một vài đặc trưng của TCNB trong CTCP như sau:
M ột là, chủ thể của TCNB trong CTCP là cổ đông và người quản lý
trong CTCP Khoản 11 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: "cổ đông
là người sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành của công ty cổ phần"; thuật ngữ "người" có thể hiểu là tổ chức hoặc cá nhân Khoản 13 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005 quy định: người quản lý CTCP là thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc và các chức danh khác do điều lệ công ty quy định
Hai là, lĩnh vực phát sinh TCNB trong CTCP là quá trình trình thành
lập, tổ chức quản lý, hoạt động, tổ chức lại, giải thể, phá sản của CTCP
Ba là, TCNB trong CTCP có biểu hiện ra bên ngoài là những xung
đột bất đồng về mặt lợi ích kinh tế giũa các bên Đây là bản chất của bất
cứ tranh chấp nào, tuy nhiên cần phân biệt TCNB trong CTCP với các tranh chấp về kinh doanh, thương mại phát sinh từ hoạt động của công ty, theo đó các bên không có tranh chấp mà chỉ yêu cầu cơ quan tài phán công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ phát sinh
quyền và nghĩa vụ của các bên Ví dụ: cổ đông có thể yêu cầu hủy quyết
định của ĐHĐCĐ
1.2.2 Phân loại tranh chấp nội bộ trong công ty cổ phần
TCNB trong CTCP xảy ra hết sức đa dạng và phức tạp, do đó việc phân loại TCNB trong CTCP là cần thiết và có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Phân loại TCNB trong CTCP là việc chia các tranh chấp này thành từng nhóm khác nhau dựa trên những tiêu chí nhất định Việc phân loại TCNB trong CTCP sẽ cho thấy cái nhìn hệ thống và toàn diện đối với những tranh chấp này, từ đó xây dựng hoặc sửa đổi những cơ sở pháp lý cho phù hợp với việc hạn chế, ngăn ngừa TCNB trong CTCP
Trang 24Dựa trên tiêu chí chủ thể tranh chấp có thể phân TCNB trong CTCP
thành hai loại: tranh chấp giữa cổ đông với người quản lý công ty và tranh chấp giữa các cổ đông
- Tranh chấp giữa cổ đông với người quản trị trong công ty: c ổ
đông là người góp vốn vào công ty và trở thành đồng chủ sở hữu công ty,
pháp luật nói chung và pháp luật doanh nghiệp đều ghi nhận các quyền và
cơ chế bảo vệ quyền của cổ đông Người quản lý công ty cũng có thể là cổ đông của công ty, tuy nhiên những người này có thể do lý do về số vốn góp lớn hoặc khả năng quản trị được trao quyền điều hành và quản lý công ty Người quản lý công ty thực chất là đại diện cho các cổ đông để duy trì hoạt động hiệu quả của công ty, họ được cổ đông trực tiếp bầu chọn hoặc được
cơ quan do cổ đông bầu ra tuyển chọn Mâu thuẫn giữa người quản lý công
ty với cổ đông thường do một hoặc cả hai bên vì tư lợi cá nhân gây ảnh hưởng đến lợi ích của công ty hoặc lợi ích của bên kia Ngoài ra, người quản lý công ty thường đại diện cho quyền lợi của công ty, khi quyền lợi này bị cổ đông gây tổn hại thì tranh chấp cũng sẽ xảy ra
- Tranh chấp giữa các cổ đông với nhau' Như đã nêu ở trên, các cổ
đông là những người sở hữu công ty, họ bỏ vốn và suy đến cùng cũng vì mục tiêu lợi nhuận Đây là cơ sở phát sinh tranh chấp giữa các cổ đông Tranh chấp giữa các cổ đông có thể là tranh chấp về giá trị phần vốn góp vào công ty, về quyền sở hữu tài sản tương ứng với phần vốn góp vào công
ty Ngoài ra, các cổ đông cũng có thể tranh chấp xung quanh các quyết định không công bằng của ĐHĐCĐ hay HĐQT như: ưu đãi cho cổ đông là thành viên HĐQT, ưu đãi cho người lao động
Dựa trên tiêu chí tính chất tranh chấp có thể chia TCNB trong
CTCP thành hai nhóm: tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu tài sản trong công ty và tranh chấp liên quan đến quyền quản lý công ty
19
Trang 25- Tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu một phần tài sản trong công ty: Tài sản trong CTCP do các cổ đông cùng đóng góp hoặc tài sản từ
hiệu quả kinh doanh có lãi tạo thành, đây là tài sản thuộc sở hữu chung của các cổ đông Tài sản này các cổ đông không thể tự do định đoạt mà phải theo quy định của pháp luật cũng như các quy định nội bộ của công ty Đây
là cơ sở chủ yếu phát sinh tranh chấp Đó có thể là tranh chấp về phần vốn góp, về quyền được chia lợi nhuận, về nghĩa vụ chịu lỗ, thanh toán nợ của công ty về việc thanh lý tài sản, phân chia quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong trường họp công ty bị phá sản
- Tranh chấp liên quan đến quyền quản lý công ty: Nguyên nhân
của các tranh chấp này là việc các nhóm cổ đông nắm quyền chi phối thường muốn người của mình nắm quyền quản lý, hoặc cổ đông lớn làm chủ tịch HĐQT muốn kiêm luôn chức vụ Giám đổc hoặc Tổng giám đốc nhằm không bị loại khỏi vị trí chủ tịch HĐQT Bên cạnh đó cũng có trường họp Tổng giám đốc hoặc Giám đốc hoặc Chủ tịch không chấp nhận quyết định bãi miễn của HĐQT (dù quyết định đó là hợp pháp) Do đó, họ không
ký quyết định thay đổi người đại diện theo pháp luật, không bàn giao quyền quản lý, điều hành cho người mới được bổ nhiệm, khiếu kiện, khiếu nại lên
cơ quan nhà nước có thẩm quyền Thực chất tranh chấp liên quan đến quyền quản lý công ty là tranh chấp phái sinh từ quyền sở hữu công ty
Dựa trên tiêu chí thời điểm phát sinh tranh chấp có thể chia TCNB
trong CTCP thành các tranh chấp phát sinh trong giai đoạn thành lập công ty; trong giai đoạn công ty hoạt động; trong giai đoạn tổ chức lại công ty,
trong giai đoạn chuyển đổi hình thức công ty và trong giai đoạn giải thể
hoặc phá sản công ty
- Tranh chắp phát sinh trong giai đoạn thành lập công ty chủ yếu là
tranh chấp về tư cách cổ đông, về phần vốn góp và tiến độ góp vốn của các
cổ đông
Trang 26- Tranh chấp phát sinh trong giai đoạn công ty hoạt động bao gồm
tranh chấp liên quan quan đến phân chia lợi nhuận và chịu lỗ, tranh chấp về
mệnh giá cổ phiếu, số cổ phiếu phát hành
- Tranh chấp phát sinh trong quá trình tổ chức lại và chuyển đổi
công ty chủ yếu là các tranh chấp về giá trị phần vốn góp, về yêu cầu công
ty thanh lý tài sản, thanh lý hợp đồng lao động
- Tranh chấp phát sinh trong giai đoạn giải thể, phá sản công ty bao
gồm các tranh chấp về quyền sở hữu một phần tài sản, chia lợi nhuận và gánh chịu thua lỗ tương ứng với số cổ phần sở hữu, thanh lý hợp đồng công ty ký kết trước khi giải thể hoặc phá sản Tranh chấp phát sinh trong giai đoạn
Theo những tiêu chí khác nhau, TCNB trong CTCP được chia thành rất nhiều loại, tuy nhiên, có thể thấy các tranh chấp này có thể được khái quá thông qua chủ thể của tranh chấp, đó chính là: (1) tranh chấp giữa các
cổ đông với nhau, (2) tranh chấp giữa cổ đông với lãnh đạo công ty và (3) tranh chấp giữa những người lãnh đạo công ty
Việc phân loại TCNB trong CTCP theo tiêu chí chủ thể tranh chấp
có thể dẫn đến khúc mắc do cổ đông có thể đồng thời là người quản lý, nắm giữ các vị trí lãnh đạo trong CTCP Do đó, có thể xác định:
(1) Nếu tranh chấp giữa các chủ thể không liên quan đến hoạt động quản lý, điều hành công ty và các chủ thể đều là cổ đông thì coi là tranh chấp giữa các cổ đông với nhau;
(2) Neu tranh chấp nảy sinh liên quan đến hoạt động quản lý, điều hành công ty giữa một bên là cổ đông (không nắm quyền quản lý) và một bên nắm quyền quản lý có thể là cổ đông hoặc không phải là cổ đông của công ty thì coi là: tranh chấp giữa cổ đông với lãnh đạo công ty;
(3) Nếu tranh chấp nảy sinh liên quan đến hoạt động quản lý, điều hành công ty giữa các bên đều nắm quyền quản lý công ty (có thể là cổ
21
Trang 27đông hoặc không phải cổ đông của công ty) thì coi là: tranh chấp giữa
những người quản lý công ty
Như vậy, việc phân loại dựa theo chủ thể tranh chấp cần kết họp với
tính chất và nguyên nhân tranh chấp để có thể phân loại một cách minh
bạch và họp lý
1.2.3 Mức độ và nguyên nhân của tranh chấp nội bộ trong công
ty cổ phần
Cho đến thời điểm hiện tại, tranh chấp trong các doanh nghiệp nói
chung và TCNB trong CTCP nói riêng đang ngày càng phổ biến và dự báo
sẽ tăng nhanh trong thời gian tới Thực tế cho thấy mức độ của các TCNB
trong CTCP cũng hết sức gay gắt Các bên tranh chấp thường không
thương lượng, hòa giải, không sử dụng trọng tài, chỉ ra tòa và khiếu nại
hành chính (đến tận cấp cuối cùng) Đôi khi, sự can thiệp hành chính khiến
mức độ tranh chấp càng thêm trầm trọng và mở rộng Một trong các bên
hoặc tất cả các bên không quan tâm đến lợi ích chung của công ty mà vì lợi
ích của mình một cách thái quá Hệ quả của việc này là đình trệ sản xuất,
thậm chí các bên tranh chấp còn cố tình can thiệp ngăn cản hoạt động bình
thường của công ty, gây thiệt hại cho chính họ và các bên liên quan
Công ty cổ phần là mô hình rất dễ gặp phải bất ổn về tổ chức:
những người quản lý công ty được yêu cầu đặt lợi ích của công ty cao hơn
lợi ích của chính họ và hai lợi ích này có thể không gặp nhau Đây là điều
mà các nhà kinh tế vẫn gọi là "vấn đề đại diện": người quản lý công ty là
người đại diện cho chủ sở hữu, và khi lợi ích của người đại diện được đặt
lên trên, lợi ích thực sự của công ty sẽ bị đe dọa Một vài cơ chế nỗ lực
bằng cách này hay cách khác dung hòa các lợi ích trên nhưng sự khác biệt
vẫn luôn tồn tại Tất nhiên, các cổ đông có thể kiểm soát đội ngũ quản lý,
nhưng lợi ích của chính họ cũng có thể xung đột với lợi ích của công ty
Trang 28v ấ n đề về cổ đông không nảy sinh khi một người nắm giữ 100% cổ phần, bởi nếu làm điều gì đó sai trái: anh ta sẽ làm một việc có hại cho chính mình, và do đó trên thực tể rất hiếm khi điều này xảy ra v ấ n đề là cổ đông lớn có thể kiểm soát công ty trong khi chỉ nắm giữ 51% cổ phần hay thậm chí là ít hơn nếu các cổ đông khác yên lặng (thường với trường hợp công ty niêm yết); nếu họ hành động đi ngược lại lợi ích của công ty, bản thân họ chỉ phải gánh chịu thiệt hại theo tỉ lệ phần trăm nắm giữ Đặc biệt, trong một số trường hợp, nhờ cấu trúc tài chính kiểu kim tự tháp hoặc cổ phiếu có quyền bỏ phiếu ưu đãi, phần trăm kiểm soát lớn hơn tỷ lệ sở hữu Thậm chí còn có thể xấu hơn khi người đại diện cổ đông không nắm giữ cổ phần của công ty nhưng lại có thể hưởng thụ 100% lợi ích và không phải chịu bất kỳ tổn thất nào Hiện tượng này được gọi là "vấn đề lạm dụng của cổ đông"
Nguyên nhân của những TCNB trong CTCP hiện nay phát sinh ngay từ những bước đi đầu tiên để "khai sinh" ra công ty Có rất nhiều CTCP phát triển tốt có xuất phát điểm là doanh nghiệp gia đình, bạn bè, doanh nghiệp nhỏ Lúc đầu, việc thành lập doanh nghiệp dựa trên tình cảm thân quen, bỏ qua các thủ tục pháp lý cần thiết hoặc thực hiện các thủ tục này một cách hình thức Tiêu biểu là việc điều lệ hoạt động của CTCP được soạn thảo hết sức sơ sài, chỉ đủ để qua được các yêu cầu hành chính, thậm chí các cổ đông sáng lập còn ký hộ nhau, các thỏa thuận quan trọng được thực hiện bằng miệng Đen khi công ty phát triển, nhiều người trong
số họ tìm cách tư lợi từ hoạt động của công ty, thậm chí tìm cách loại bỏ những người khác Bên cạnh đó, khi có tranh chấp xảy ra, các bên rất ít có
thiện chí giải quyết trên cơ sở tôn trọng nhau và đặt lợi ích công ty lên trên
lợi ích cá nhân Các bên liên quan hoặc không hiểu hoặc cố tình hiểu, giải thích, áp dụng luật theo hướng riêng, phục vụ lợi ích của mình
Thời gian vừa qua, những TCNB phát sinh nhiều trong các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa Do đặc thù trước đây hoạt động trong
23
Trang 29thời gian dài dưới sự bảo trợ của Nhà nước, đến khi được cổ phần hóa, cổ đông cũng như người quản lý trong công ty không nhận thức được các quyền và nghĩa vụ của mình theo pháp luật Cụ thể là một số cổ đông không phân biệt được quyền với tư cách là cổ đông và quyền với tư cách là người lao động Khi ĐHCĐ diễn ra không như mong đợi, họ tìm cách cản trở hoạt động của ĐHĐCĐ bằng những biện pháp không liên quan đến quyền cổ đông Một hiện tượng phổ biến là khi HĐQT vi phạm điều lệ, không thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao thì các
cổ đông không thực hiện quyền cổ đông của mình để thay thế HĐQT mà lại viết đon tố cáo gửi tới các cơ quan nhà nước yêu cầu can thiệp hoặc khi công ty có dấu hiệu vi phạm các chế độ tài chính thì cổ đông không yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra mà lại yêu cầu cơ quan nhà nước kiểm tra Đối với các cổ đông đại diện phần vốn góp của Nhà nước, họ không phân biệt được quyền của cổ đông với quyền quản lý hành chính nên đã can thiệp trực tiếp vào công việc quản trị nội bộ của công ty như chỉ đạo triệu tập ĐHCĐ, chỉ định việc thay thế thành viên HĐQT, Ban kiểm soát
KÉT LUẬN CHƯƠNG 1
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp đang ngày càng phổ biến trên thế giới bởi khả năng huy động vốn cao, nhanh chóng, đáp ứng kịp thời nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp Kinh tế càng phát triển thì nguy cơ rủi
do trong kinh doanh càng cao, do đó CTCP là hình thức giúp người kinh doanh hạn chế được rủi ro bằng cách dầu tư vào nhiều công ty khác nhau với chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp Cơ cấu tổ chức của CTCP có tinh thần dân chủ cao nên phát huy được trí tuệ tập thể, minh bạch trong hoạt động, có cơ chế kiểm soát dễ dàng và hiệu quả, trong nền kinh tế thị trường thì những ưu điểm này càng được phát huy mạnh mẽ
Tuy nhiên, mô hình CTCP không phải là không có điểm hạn chế
Cơ chế nhiều chủ sở hữu dẫn đến tình trạng các cổ đông không quen biết
Trang 30nhau và nhiều người trong số họ không có kiến thức về kinh doanh, mặt khác mức độ tham gia góp vốn của họ là khác nhau, do đó mức độ ảnh hưởng đến công ty không giống nhau dẫn đến việc lạm dụng quyền của cổ đông hoặc nảy sinh tranh chấp và phân hóa lợi ích giữa các nhóm cổ đông khác nhau, về tổ chức, tuy có cơ cấu tổ chức chặt chẽ nhưng việc phân công quyền lực và chức năng của từng bộ phận để đem lại hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh và hạn chế được tranh chấp là điều không dễ dàng, các cổ đông lớn nắm phần lớn số cổ phần thường chi phối hầu như toàn bộ hoạt động của công ty Việc khắc phục những hạn chế nêu trên phụ thuộc vào trình độ phát triển chung của nền kinh tế, trình độ dân trí, khả năng điều hành quản lý của Nhà nước và tính hoàn thiện của hệ thống pháp luật.
25
Trang 31Chương 2
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NỘI B ộ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
Tranh chấp nội bộ đang phát sinh như là một vấn đề quan trọng
trong quá trình hoạt động của CTCP Phần lớn những người quản lý khi rơi
vào những tình huống tranh chấp cụ thể đều thiếu kỹ năng và sự sẵn sàng
để đương đầu với tình huống Từ bất cứ nguyên nhân gì, mâu thuẫn trong
nội bộ công ty có thể dẫn đến phá hủy các mối quan hệ, làm giảm năng suất
làm việc và nguy hại tới vấn đề đạo đức doanh nghiệp, và trong một số
những trường hợp cực đoan, nó có thể dẫn tới sự vắng mặt, phá hoại ngầm,
tranh chấp, kiện tụng nhau và thậm chí là đình công
Tiếp theo những khái quát về TCNB trong CTCP, ở chương này,
chúng tôi tập trung làm rõ những cơ sở và cách thức giải quyết TCNB
trong CTCP đồng thời, qua phân tích một vài ví dụ cụ thể, chúng tôi chỉ ra
những thiếu sót của pháp luật thực định, những sai lầm khi giải quyết tranh
chấp nhằm giải quyết hiệu quả TCNB trong CTCP
2.1 PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NỘI Bộ TRONG CÔNG TY CỎ PHẦN
Giải quyết tranh chấp nói chung và giải quyết TCNB trong CTCP
nói riêng là việc các bên tranh chấp thông qua một phương thức nhất định
nào đó nhằm chấm dứt mâu thuẫn, xung đột để bảo vệ và khôi phục quyền
và lợi ích hợp pháp của mình TCNB trong CTCP có thể được giải quyết
theo nhiều phương thức khác nhau, tùy thuộc vào mức độ tranh chấp và sự
lựa chọn của các bên tranh chấp có thể giải quyết TCNB bằng thương
lượng, hòa giải, trọng tài hay tòa án
Trang 322.1.1 Giải quyết tranh chấp nội bộ trong công ty cổ phần bằng thương lượng
Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp phổ biến, thường xuất hiện đầu tiên trong hệ thống các phương thức giải quyết tranh chấp và thường được các bên đương sự sử dụng trước tiên để giải quyết TCNB trong CTCP Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng là phương thức các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc thỏa thuận để đi đến thống nhất giải quyết bất đồng và tự nguyện thực hiện những thỏa thuận đó
Giải quyết TCNB trong CTCP bằng thương lượng có một số đặc điểm cơ bản như sau:
- Đây là phương thức giải quyết tranh chấp không chính thức, được áp dụng trên cơ sở thỏa thuận của các bên, thông thường các TCNB trong CTCP nên ưu tiên hình thức giải quyết này trước khi đưa vụ việc ra trọng tài hay tòa án
- Các bên tranh chấp tự bàn bạc, thỏa thuận tìm phương án loại bỏ mâu thuẫn mà không dựa vào phán quyết của cá nhân hay tổ chức thứ ba
- Quá trình thương lượng giữa các bên không bị hạn chế bởi bất kỳ một trình tự, thể thức nào Pháp luật thực định của Việt Nam chỉ quy định
về mặt hình thức đối với phương thức giải quyết tranh chấp này Kết quả thương lượng, đàm phán hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng, kỹ năng đàm phán và thiện chí của các bên có tranh chấp
- Việc thi hành những thỏa thuận đạt được qua quá trình thương lượng, hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên Nói cách khác, chưa có sự hỗ trợ của cơ quan nhà nước đối với quá trình thương lượng cũng như việc thực hiện những kết quả của quá trình thương lượng
2.1.2 Giải quyết tranh chấp nội bộ trong công ty cổ phần bằng trung gian hòa giải
Giải quyết TCNB trong CTCP bằng hòa giải là phương thức giải
quyết tranh chấp cũng giống như thương lượng nhưng có vai trò của người
27
Trang 33thứ ba tham gia với tư cách người trung gian Người trung gian này là
người có hiểu biết trong lĩnh vực tranh chấp, được các bên tín nhiệm để hồ
trợ các bên tìm ra phương án giải quyết tranh chấp chứ không phải là người
đưa ra phán quyết về vụ tranh chấp
Ưu thế của việc giải quyết TCNB trong CTCP bằng hòa giải là việc
có sự tham gia của người thứ ba với quan điểm trung gian, mang tính tuân
thủ pháp luật và vì lợi ích của cả hai bên Trong khi các bên trong tình
trạng mâu thuẫn thì việc xuất hiện một chủ thể thứ ba có hiểu biết trong
lĩnh vực tranh chấp và được các bên tín nhiệm sẽ tránh được việc mâu
thuẫn trở nên trầm trọng hơn, đồng thời việc giải quyết tranh chấp sẽ nhanh
chóng và hiệu quả hơn
Cũng giống như hình thức thương lượng, việc hòa giải không bị
giới hạn bởi bất cứ trình tự thủ tục nào, người thứ ba với vai trò trung gian
hòa giải cũng không có thẩm quyền áp đặt bất cứ hình thức giải quyết mâu
thuẫn nào cho các bên Việc giải quyết TCNB bằng hòa giải vẫn tôn trọng
tuyệt đối quyền tự quyết của các bên tranh chấp Kể cả có sự xuất hiện của
người thứ ba làm trung gian, nội dung vụ tranh chấp vẫn do hai bên tự giải
quyết, mà không nhờ đến một người thứ ba phán xử hộ, như tòa án hoặc
trọng tài
2.1.3 Giải quyết tranh chấp nội bộ trong công ty cổ phần bằng trọng tài
Trọng tài xuất hiện hết sức tự nhiên và là một cơ chế có tính chất
nguyên thủy của pháp luật, ngay cả sau khi nhà nước và pháp luật hình
thành, trọng tài vẫn tiếp tục tồn tại song song với Tòa án và được xem là
hình thức giải quyết tranh chấp ít mang tính nghi thức và đỡ tốn kém Ngày
nay các quan hệ kinh tế càng phát triển và phức tạp hơn, do đó các TCNB
trong CTCP cũng biến đổi theo đòi hỏi phải được điều chỉnh mang tính
Trang 34pháp lý cao hom Nhưng về bản chất, hoạt động này không thay đổi, đó vẫn
là một hình thức trong đó hai bên tham gia một TCKT mà tự họ không thể giải quyết được, nên họ thỏa thuận nhờ một bên thứ ba đứng ra phân xử Kết thúc quá trình này tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một phán quyết Nói chung có thể khẳng định Trọng tài là quyền quyết định của người thứ
ba đối với tranh chấp phát sinh Cơ quan thứ ba này thường do các bên tự thỏa thuận với nhau lựa chọn ra, do đó phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm đối với các bên đương sự
Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài (với tư cách là trọng tài phi chính phủ) là phương thức giải quyết tranh chấp xuất hiện ở nước ta từ những năm 60 của thế kỷ XX với sự thành lập Hội đồng trọng tài Hàng hải
và Hội đồng trọng tài Ngoại thương, tuy nhiên việc áp dụng trên thực tế hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài rất hạn chế Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, Chính phủ ban hành Nghị định số 116/CP ngày 05/9/1994 về Tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế; Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 204/TTg ngày 28/4/1993 về tổ chức và hoạt động của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam và Quyết định số 114/TTg
về mở rộng thẩm quyền giải quyết của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam Các văn bản nêu trên là cơ sở đầu tiên và quan trọng cho hoạt động trọng tài ở Việt Nam Tuy nhiên khung pháp lý này còn đon giản, nhiều quy định còn mâu thuẫn, chồng chéo và chưa phù họp với thông lệ quốc tế Trước tình hình đó, ủ y ban Thường vụ Quốc hội ra Pháp lệnh trọng tài Thương mại có hiệu lực thi hành từ 01/7/2003 thay thế cho các văn bản trước đó quy định về hoạt động trọng tài
Pháp luật thực định Việt Nam xác định TCNB trong CTCP là một trong những tranh chấp có thể được giải quyết bằng thủ tục trọng tài Pháp
lệnh Trọng tài thương mại 2003 quy định trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại
29
Trang 35Khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh này giải thích hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh, ữong đó có hoạt động đầu tư Mặt khác, khoản 1 Điều 3 Luật Đầu tư 2005 quy định: Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc
vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư, kinh doanh Hành vi góp vốn của các cổ đông nhằm đưa tài sản vào CTCP và trở thành những đồng chủ sở hữu của công ty, xét về bản chất là hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư 2005 Do đó, có thể khẳng định mọi tranh chấp phát sinh giữa cổ đông và giữa cổ đông với người quản lý trong CTCP là tranh chấp thương mại Như vậy, TCNB trong CTCP có thể giải quyết theo phương thức trọng tài theo quy định của Pháp lệnh trọng tài Thương mại 2003
Tuy nhiên, theo Pháp lệnh Trọng tài Thương mại 2003 và Nghị định số 25/2004/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của pháp lệnh Trọng tài Thương mại thì trọng tài thương mại chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại giữa các chủ thể là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh Quy định này có vẻ như không phù hợp bởi vì cùng là TCNB trong CTCP nhưng có tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài thương mại, có tranh chấp lại không được giải quyết bằng thủ tục này mặc dù có sự thỏa thuận của các bên Hơn nữa quy định này còn không phù hợp với các thông lệ quốc tế và pháp luật của một số quốc gia khác
Quy định về trọng tài trong pháp luật của Trung Quốc ghi nhận: Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng hoặc quyền sở hữu giữa các công dân, pháp nhân hoặc các tổ chức khác trên cơ sở bình đẳng có thể được giải quyết bằng trọng tài [24],
Luật trọng tài Sing-ga-po năm 2001 quy định: thỏa thuận đưa vụ việc giải quyết ở trọng tài có thể bao gồm tât cả hoặc một vụ việc cụ thê
nào đó phát sinh giữa các bên mà vụ việc đó có thê phát sinh từ họp đông
hoặc không phải từ hợp đồng
Trang 36Như vậy, pháp luật trọng tài các nước trên thế giới đều ghi nhận thẩm
quyền rất rộng của trọng tài thương mại, theo hướng trọng tài có thể giải
quyết mọi tranh chấp liên quan đến tài sản và tranh chấp trong các công ty hiển nhiên có thể được trọng tài giải quyết mà không hạn chế về chủ thể
Phương thức giải quyết TCNB trong CTCP bằng trọng tài có một số đặc điểm chủ yếu như sau:
- Giải quyết TCNB trong CTCP bằng phương thức trọng tài dựa trên thỏa thuận của các bên tranh chấp vào thời điểm trước hoặc sau khi tranh chấp phát sinh Thỏa thuận trọng tài có thể được các cổ đông ghi nhận trong điều khoản của Họp đồng góp vốn, trong Điều lệ công ty hoặc
là một văn bản thỏa thuận riêng (còn gọi là Hiệp nghị trọng tài);
- Giống như phương thức hòa giải, phương thức giải quyết TCNB trong CTCP bằng trọng tài có sự tham gia của người thứ ba Điểm khác nhau giữa hình thức hòa giải và hình thức trọng tài là vai trò của người thứ
ba trong quá trình giải quyết tranh chấp Trong hình thức hòa giải, trọng tài chỉ là người trung gian, vận động hòa giải nhằm giải quyết tranh chấp, còn trong phương thức trọng tài, trọng tài ngoài vai trò trung gian còn có vai trò
là người đưa ra phán quyết về vụ tranh chấp giữa các bên
- Bản chất của trọng tài là cơ quan tài phán, tính tài phán thể hiện ở điểm trọng tài được đưa ra quyết định giải quyết vụ việc và quyết định này
có tính cưỡng chế với các bên trong tranh chấp
- Trọng tài hoạt động theo nguyên tắc xét xử một lần Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên tranh chấp Các bên không thể kháng cáo hay khiếu nại đối với quyết định của cơ quan trong tài đến một cơ quan nào khác
- Hoạt động trọng tài được hồ trợ tư pháp từ phía tòa án với việc xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, áp dụng các biện pháp khân câp tạm thời,chỉ định trọng tài viên, hủy bỏ quyết định trọng tài
31
Trang 37- Các bên tranh chấp có thể lựa chọn nhiều hình thức trọng tài để
giải quyết tranh chấp: trọng tài vụ việc (hội đồng trọng tài do các bên thành
lập) và trọng tài thường trực (tồn tại dưới hình thức trung tâm trọng tài) Ở hình thức trọng tài thường trực các bên sử dụng các quy tắc tố tụng có sằn của trung tâm trọng tài, còn ở hình thức trọng tài vụ việc, các bên phải tự thỏa thuận quy tắc tố tụng cho riêng mình
Trong bối cảnh hội nhập ngày nay, sự ra đời của trọng tài thương mại - một tổ chức xã hội - nghề nghiệp do các trọng tài viên thành lập trên
cơ sở giấy phép của Bộ Tư pháp nhằm giải quyết các tranh chấp phát sing trong hoạt động sản xuất kinh doanh - là điều phù hợp và tất yếu Phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có nhiều ưu thế so với các cơ chế giải quyết tranh chấp khác, cụ thể như sau:
- Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đảm bảo bí mật kỉnh doanh
và uy tín nghề nghiệp cho các bên có liên quan tới vụ tranh chấp Có được
ưu điểm này là do nguyên tắc xét xử của trọng tài là xét xử bí mật, tức là không ai có quyền tham dự phiên họp xét xử nếu không được sự đồng ý của các bên Trong khi đó, nguyên tắc xét xử của tòa án là xét xử công khai
- Cơ chế giải quyết bằng trọng tài thương mại có thủ tục đơn giản, đảm bảo giải quyết nhanh chóng các tranh chấp, tiết kiệm thời gian chờ đợi
- Tố tụng trọng tài hiện nay được đánh giá là linh hoạt, bảo đảm tốt hơn quyền định đoạt của các bên, cụ thể là: tự quyết định chọn hình thức trọng tài là ad-hoc hay thể chế, tự chọn tổ chức trọng tài cũng như trọng tài viên mà mình ưa thích, thời gian, địa điểm giải quyết
- Trọng tài thương mại không đại diện cho quyền lực nhà nước nên rất phù họp để giải quyết các tranh chấp mà các bên có quốc tịch khác nhau (Tòa
án nói là được độc lập nhưng cũng dễ bị chi phối bởi quyền lợi dân tộc, do
đó các bên tranh chấp có quốc tịch khác nhau thường không thích chọn tòa
Trang 38án của nhau) Vì vậy, họ thường thích chọn trọng tài, nhất là trọng tài của nước thứ ba để đảm bảo tính khách quan trong việc giải quyết tranh chấp.
- Các phán quyết của trọng tài được công nhận và cho thi hành ở nước ngoài Công ước New York 1958 về công nhận và cho thi hành các
quyết định của trọng tài nước ngoài đã quy định rằng các nước thành viên
của công ước này có nghĩa vụ công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài của nước bên kia cũng là thành viên
Những ưu điểm nêu trên sẽ ngày càng phát huy khi các CTCP hiện nay có cơ cấu cổ đông và những người quản lý công ty không chỉ là người Việt Nam mà có cả những cổ đông và nhà quản lý nước ngoài
2.1.4 Giải quyết tranh chấp nội bộ trong công ty cổ phần bằng tòa án
Giải quyết TCNB trong CTCP bằng tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp trên cơ sở đơn khởi kiện của một bên tranh chấp yêu cầu tòa án có thẩm quền giải quyết vụ án, tòa án sẽ xem xét vụ việc và đưa ra phán quyết theo quy định của pháp luật
Giải quyết TCNB trong CTCP bằng con đường tòa án có một số đặc điểm như sau:
- Tòa án là cơ quan tài phán nhân danh quyền lực nhà nước để giải quyết tranh chấp và phán quyết của Tòa án có giá trị bắt buộc thi hành dựa trên sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước
- Giải quyết TCNB trong CTCP bàng tòa án có thể qua hai cấp xét xử: sơ thẩm và phúc thẩm Một số trường hợp bản án, quyết định giải quyết tranh chấp của tòa án có thể được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm khi có các căn cứ theo quy định của pháp luật Điều này đảm bảo cho phán quyết của tòa án là chính xác, khách quan, đúng pháp luật
33
Trang 39- Nguyên tăc xét xử của tòa án là xét xử công khai, trong trường
hợp cần giữ bí mật, các bên tranh chấp có thể yêu cầu tòa xử kín nhưng vẫn phải tuyên án công khai, Như vậy, bằng con đường tòa án các bên tranh
chấp luôn bị đặt trước nguy cơ tiết lộ thông tin gây ảnh hường đến uy tín và
hoạt động sản xuất kinh doanh
- Giải quyết TCNB trong CTCP bằng con đường tòa án phải tuân thủ triệt để những quy định mang tính hình thức của pháp luật tố tụng, do
đó các bên thường tổn nhiều thời gian theo kiện ảnh hường đến hoạt động sản xuất kinh doanh
Hiện nay, pháp luật thực định về giải quyết tranh chấp nói chung và giải quyết những TCNB trong CTCP được ghi nhận tập trung tại Bộ luật
Tố tụng dân sự có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 So với Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Bộ luật Dân sự đã có nhiều quy định mới, phù hợp, tiến bộ hơn Nhằm khắc phục hạn chế của các quy định về phương thức trọng tài về chủ thể tranh chấp như đã nêu ở phần trên, tại điểm b, khoản 1.1 mục 1 phần I của Nghị quyết 01 ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ghi nhận: tòa án có thể giải quyết các yêu cầu về kinh doanh, thương mại mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh nhưng đều có mục đích lợi nhuận Như vậy những TCNB trong CTCP nếu không thể giải quyết bằng thương lượng, hòa giải hay trọng tài thì có thể giải quyết tại tòa án kinh tế
Thực tế hiện nay ở Việt Nam cho thấy phần lớn TCNB trong CTCP đuợc giải quyết bằng con đường tòa án Hiện tượng này không xuất phát từ lợi thế của hình thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án so với các hình thức giải quyết tranh chấp khác mà chủ yếu từ những yếu tố khách quan tạo ra
ưu thế của tòa án trong việc giải quyêt TCNB trong CTCP Các ưu thê đó
cụ thể như sau:
Trang 40- Tòa án là cơ quan giải quyêt tranh châp có tính chuyên nghiệp và
có khả năng áp dụng các biện pháp mang tính cưỡng chế nhà nước Là cơ quan có chức năng hoạt động xét xủ, tòa án có một bộ máy phục vụ cho hoạt động của mình, có đội ngũ thẩm phán xét xử chuyên nghiệp đáp ứng được yêu cầu công việc, có hệ thống pháp luật tố tụng rõ ràng, áp dụng cụ thể Bên cạnh đó, khả năng áp dụng các biện pháp cưỡng chế mang tính quyền lực nhà nước là rất cao
- Người Á Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng luôn muốn
giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa bình và khi đã cần phải có người
đứng giữa phân xử đúng sai thì họ luôn có xu hướng tin tưởng và lựa chọn tòa án với tư cách là cơ quan đại diện quyền lực nhà nước để giải quyết tranh chấp
- Hiện nay các phương thức giải quyết tranh chấp khác ngoài tòa án chưa tạo được niềm tin đối với các bên tranh chấp Các quy định về thương lượng hòa giải chỉ màn tính hình thức, việc giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hòa giải chỉ màn tính tự phát và chưa có cơ chế cưỡng chế thực hiện đối với kết quả của quá trình thương lượng, hòa giải Phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là mộ phương thức mới, có nhiều
ưu điểm và lợi thế nhưng các quy định về trọng tài thương mại còn nhiều bất cập và chưa được phổ biến rộng rãi đến giới doanh nhân Bên cạnh đó đội ngũ trọng tài viên thiếu về số lượng, yếu về chất lượng nên năng lực giải quyết còn hạn chế
Có thể kết luận rằng: Tòa án vẫn ỉà phương thức giải quyết TCNB trong CTCP chủ yếu ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, phương thức này đang bộ lộ nhiều điểm yếu và bị lấn át bởi phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Một ví dụ tiêu biểu là trường họp tại Công ty Đay Sài Gòn Trong khi tình hình công ty đang rối loạn sau vụ "đảo chính", cả Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc và Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Phó Tông
35