Từ đó cần tìm hiểu thơ của ông một cách toàn diện hơn, xem xét thơ ông như một chỉnh thể, một thế giới nghệ thuật có quy luật nội tại, đặt nó trong tiến trình vận động - đổi mới thơ ca V
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ TRINH
H¦íNG DÉN HäC SINH LíP 8 §äC HIÓU
BµI TH¥ MUèN LµM TH»NG CUéI CñA T¶N §µ
Tõ §ÆC TR¦NG LO¹I H×NH T¸C GI¶ GIAO THêI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ TRINH
HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 8 ĐỌC HIỂU
BÀI THƠ MUỐN LÀM THẰNG CUỘI CỦA TẢN ĐÀ
TỪ ĐẶC TRƯNG LOẠI HÌNH TÁC GIẢ GIAO THỜI
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học
(Bộ môn Ngữ văn)
Mã số : 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Ái Học
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong tổ bộ môn
Lý luận và phương pháp dạy học Văn - Khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Quốc gia - Đại học Giáo dục Hà Nội và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã đóng góp những ý kiến quý báu giúp cho tôi thực hiện luận văn này được hoàn thiện hơn
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Ái Học - Người thầy
đã tận tình hướng dẫn và dành nhiều công sức giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các anh, chị em đồng nghiệp, tới gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn thành công việc
Hà Nội, tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn
Phạm Thị Trinh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục các chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 8
1.1 Cơ sở lí luận 8
1.1.1 Loại hình văn học và nghiên cứu loại hình 8
1.1.2 Loại hình nhà thơ giao thời ở Tản Đà 9
1.1.3 Tản Đà- Kiểu nhà thơ giao thời trung - cận đại 14
1.2 Cơ sở thực tiễn 25
CHƯƠNG 2: NHỮNG NỘI DUNG HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC HIỂU BÀI THƠ MUỐN LÀM THẰNG CUỘI THEO ĐẶC TRƯNG THI PHÁP NHÀ THƠ GIAO THỜI TẢN ĐÀ 28
2.1 Thế giới nghệ thuật thơ Tản Đà mang đặc điểm loại hình nhà thơ giao thời 28
2.1.1 Tản Đà - Kiểu nhà thơ mới giao thời 28
2.2 Các nội dung hướng dẫn đọc - hiểu bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” - Tản Đà từ đặc trưng loại hình tác giả giao thời 69
2.2.1 Hướng dẫn học sinh khai thác yếu tố thi pháp của thơ ca trung đại và sự vận dụng yếu tố văn học dân gian 69
2.2.2 Hướng dẫn học sinh khai thác yếu tố lãng mạn hiện đại trong bài thơ 69
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 77
3.1 Mô tả thực nghiệm 77
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 77
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 77
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 77
Trang 63.2.1 Đối tượng 77
3.2.2 Địa bàn thực nghiệm 78
3.3 Nội dung và tiến trình thực nghiệm 79
3.3.1 Nội dung thực nghiệm 79
3.3.2 Tiến trình thực nghiệm 79
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 80
3.4.1 Biện pháp đánh giá 80
3.4.2 Hướng đánh giá 81
3.5 Kết quả thực nghiệm, nhận xét, đánh giá 81
3.5.1 Kết quả bài kiểm tra mức độ nhận thức của HS sau bài học 81
3.5.2 Kết quả điều tra ý kiến từ phía giáo viên và học sinh 82
3.5.3 Nhận xét đánh giá chung 83
GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 85
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96
1 Kết luận 96
2 Khuyến nghị 97
3 Hướng phát triển của đề tài 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 100
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Tổng kết mức độ hứng thú với bài học thực nghiệm 81 Bảng 3.2 Tổng kết điểm kiểm tra của học sinh 82 Bảng 3.3 Phân loại kết quả 82
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Dạy học văn vừa là một khoa học, vừa là nghệ thuật Mỗi người thầy có một cách thực hiện khác nhau, khó có một khuôn mẫu nào cho một giờ học văn chương Tuy người thầy dạy học theo những định hướng mục tiêu của từng tác phẩm, từng bài cụ thể thì người thầy cũng phải không ngừng học hỏi, đổi mới về phương pháp để tạo ra những sản phẩm là các tiết học sáng tạo và
có hiệu quả cao hơn Hay nói khác đi, người thầy chính là một “đạo diễn” tài
ba xử lý kịch bản một cách không phải theo kiểu dập khuôn, máy móc kiểu câu chữ, mà luôn có sự sáng tạo trong vai trò người “đạo diễn” của mình để tổ chức cho các “diễn viên” học sinh biết cách tự chiếm lĩnh kịch bản bài học một cách chủ động, tích cực, làm cho kịch bản bài học được truyền tải một cách thông minh và hiệu quả nhất
Thơ văn Tản Đà là một hiện tượng phức tạp Vì vậy việc nghiên cứu dạy học thơ văn Tản Đà gặp phải rất nhiều khó khăn đối với người giáo viên hiện nay Do đó cần phải có nhiều công trình nghiên cứu để tiếp tục tìm ra các
phương pháp, biện pháp dạy học có hiệu quả
Nghiên cứu thực tế việc dạy học thơ văn Tản Đà trong trường phổ thông hiện nay đã có, song có thể nói chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu vào nghiên cứu dạy học thơ văn Tản Đà theo hướng đặc trưng loại hình Tản Đà là tác giả văn học lớn của dân tộc, có đóng góp nhiều mặt cho tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam Thơ Tản Đà đã được chọn đưa vào chương trình ngữ văn phổ thông trong một thời gian dài Đã có nhiều tài liệu hướng dẫn dạy học thơ Tản Đà nói chung và dạy học bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” nói riêng Tuy nhiên, chưa có công trình hướng dẫn dạy học thơ Tản Đà nào xuất phát từ đặc trưng loại hình để tiến tới nhận diện, phân xuất
về những đặc điểm của một nhà thơ giao thời, là tiền đề cho việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu bài thơ đúng đặc trưng, bản chất của loại hình thơ để tiến tới khám phá chiều sâu và ý nghĩa phong phú của nó
Trang 9Việc đổi mới dạy học văn trong nhà trường phổ thông nói chung và THCS nói riêng đang đặt ra những yêu cầu mới, sao cho phát huy được chủ thể người học theo định hướng khoa học và đạt được được các mục tiêu giáo dục đề ra
Luật Giáo dục (2005- Điều 28 Mục 2) của nước ta nhấn mạnh:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.[ 17, tr 145]
Thực tế việc dạy học môn Văn trong nhà trường chưa hoặc ít chú trọng đến đặc trưng loại hình mà mới chỉ quan tâm phương diện loại thể Việc phân tích tác phẩm chủ yếu vẫn là bình luận trên phương diện câu chữ, và tán dương theo đặc trưng thể loại mà chưa chú trọng đặc trưng loại hình, dẫn đến không hiểu hoặc lúng túng khi xếp những hiện tượng văn học vào vị trí nào trong tiến trình phát triển của nó Điều này đã thành mối bận tâm của các nhà lí luận, nghiên cứu, nhà giáo ở nước ta trong suốt thời gian qua khi đưa ra những hướng tiếp cận mới trong việc dạy học thơ văn Tản Đà ở trường phổ thông
Như vậy để tiến tới đánh giá ngày càng đúng hơn những đóng góp lớn của thơ Tản Đà đối với lịch sử văn học dân tộc đòi hỏi chúng ta phải đưa ra được những đổi mới trong việc dạy học thơ văn Tản Đà theo hướng tiếp cận mới trong đó có hướng tiếp cận theo đặc trưng loại hình Từ đó cần tìm hiểu thơ của ông một cách toàn diện hơn, xem xét thơ ông như một chỉnh thể, một thế giới nghệ thuật có quy luật nội tại, đặt nó trong tiến trình vận động - đổi mới thơ ca Việt Nam từ phạm trù trung đại sang phạm trù hiện đại với loại hình nhà thơ giao thời và một nhà thơ trữ tình độc đáo - người đã “dạo những bản đàn mở đầu cho cuộc hòa nhạc tân kì đương sắp sửa” [ 25, tr 14]
Tuy nhiên vấn đề chúng tôi quan tâm ở đây là đối tượng người học là học sinh lớp 8 còn khá non nớt trong tư duy và cách hệ thống các vấn đề
Trang 10Chính vì vậy nên khi nghiên cứu và đề xuất hướng dạy học thơ văn Tản Đà
nói chung và bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” nói riêng theo đặc trưng loại
hình, chúng tôi cần phải áp dụng phù hợp với đối tượng người học (HS lớp 8)
để vừa đảm bảo được tính khoa học, đồng thời vừa mang tính vừa sức, sát đối tượng Tức là không đặt nặng vấn đề khái niệm và các thuật ngữ phức tạp hay khó hiểu với học sinh lớp 8 như: loại hình, phạm trù mà đơn giản hóa
nó, lồng ghép trong tiết học, đặt nó trong chỉnh thể của bài học chứ không tách rời riêng lẻ
Xuất phát từ các lí do trên nên chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu
khoa học: “Hướng dẫn học sinh lớp 8 đọc hiểu bài thơ “Muốn làm thằng
Cuội” của Tản Đà từ đặc trưng loại hình tác giả giao thời”
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Kể từ khi xuất hiện trên văn đàn đến nay, gần 80 năm trôi qua đã có khoảng hơn 300 công trình đề cập, giới thiệu, nghiên cứu, phê bình, bình luận… về cuộc đời và thơ văn Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu cho thấy vai trò
và sức ảnh hưởng không nhỏ của thơ văn Tản Đà trong lòng bạn đọc Tuy rằng đã có những thời kỳ thơ văn Tản Đà đã từng bị công kích khá dữ dội, như: Phạm Quỳnh đã phê phán Tản Đà trên báo Nam Phong nhằm mục đích xây dựng một nền quốc học mới, hay khi “Thơ Mới” xuất hiện, Tản Đà trở thành đối tượng chế diễu trên báo ngày nay của nhóm Tự Lực Văn Đoàn Tuy nhiên, từ khi Tản Đà mất đi (1889 -1939), thơ Tản Đà được đề cao trở lại trên một nhận thức mới hơn Người ta bắt đầu nhận thấy “Công của thi sỹ Tản Đà”
mở đầu cho Thơ Việt Nam hiện đại với hàng loại những bài viết ca ngợi Tản
Đà, như: Lưu Trong Lư, Trương Tửu, Nguyễn Tuân, Nguyễn Triệu Luật, Xuân Diệu, Nguyễn Công Hoan… cũng từ đó đến nay, Tản Đà được các nhà nghiên cứu khắp cả nước tiếp tục tìm hiểu, đánh giá trên nhiều phương diện
Xuất phát từ lịch sử dạy học thơ văn Tản Đà trong nhà trường phổ thông từ trước 1945 đến nay thường theo hướng phân tích, bình luận, bình giảng trên các mặt nột dung và nghệ thuật theo nội dung xã hội như yêu nước, nội dung chính trị, giai cấp… chưa xuất phát từ đặc trưng loại hình
Trang 11Sau này mới có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm thi pháp thơ văn Tản Đà của Tiến Sĩ Nguyễn Ái Học - giảng viên Trường Đại học sư phạm
- Nguyễn Ái Học: Thi pháp thơ Tản Đà - Luận án Tiến Sĩ (2006)
- Nguyễn Ái Học: Khi Tản Đà muốn làm thằng Cuội - Phương pháp tư duy hệ thống trong dạy học Văn
- Trần Đình Hượu - Lê Chí Dũng - Văn học Việt Nam 1900 - 1930 (Chương VI: Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu)
Như vậy, nhìn lại lịch trình nghiên cứu thơ Tản Đà người ta đã nói đến các yếu tố của thi pháp Tản Đà như giọng điệu, không gian, thời gian thơ, ngôn ngữ… thành hệ thống, thấy được đặc trưng loại hình của một nhà thơ giao thời Từ đó có thể đánh giá đúng mức giá trị của thơ văn Tản Đà một cách toàn diện và sâu sắc Đặc biệt là đã chú ý đến sự hiện diện của tác giả như một chủ thể nghệ thuật
3 Mục đích và đối tượng nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tiếp thu kết quả nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi vận dụng vào nghiên cứu thực hiện đề tài này nhằm vận dụng lý thuyết loại hình
vào dạy học tác phẩm văn chương, cụ thể là: Hướng dẫn học sinh đọc hiểu
bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” - Tản Đà theo đặc trưng loại hình (Sách
giáo khoa Ngữ Văn 8 - Tập I - Chương trình THCS), góp phần đổi mới
phương pháp, nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy học Ngữ Văn
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dạy học tác phẩm văn chương Nghiên cứu vận dụng
lý thuyết loại hình vào dạy học loại hình nhà thơ giao thời (trung đại sang
Trang 12hiện đại) ở trường Trung học cơ sở mà cụ thể là Tản Đà với bài thơ và dạy học bài thơ Muốn làm thằng Cuội
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của lí thuyết loại hình để ứng dụng vào dạy học thơ văn giao thời Việt Nam Trong phạm vi đề tài này, tôi chọn dạy học bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” của Tản Đà và tiến hành xây dựng giáo án thực nghiệm ở trường Trung học cơ sở Cụ thể như sau:
- Nghiên cứu thơ văn Tản Đà
- Nghiên cứu việc dạy học thơ Tản Đà
- Nghiên cứu việc dạy học bài thơ: Muốn làm thằng Cuội
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của lý thuyết loại hình trong văn học
- Nghiên cứu đặc điểm loại hình thơ Tản Đà
- Nghiên cứu bài thơ: “ Muốn làm thằng Cuội” - Tản Đà
- Nghiên cứu các biện pháp, con đường dạy học bài thơ “ Muốn làm thằng Cuội” - Tản Đà theo đặc trưng loại hình
- Tổ chức thiết kế giáo án thực nghiệm dạy học bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” - Tản Đà theo đặc trưng loại hình tác giả giao thời nhằm kiểm chứng, đánh giá kết quả nghiên cứu từ đó rút ra kết luận,đề xuất, kiến nghị
- Điều tra kết quả thực nghiệm để từ đó phân tích, đánh giá tính hiệu quả của nó
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ đặt ra cho đề tài, luận văn sử dụng các phương pháp sau:
6.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp lí luận và thực tiễn
Phân tích và tổng hợp những công trình, bài viết của các nhà lí luận và nghiên cứu về lý thuyết loại hình trong văn học, về dạy học tác phẩm của Tản
Đà trong nhà trường phổ thông đề hình thành cho vấn đề nghiên cứu
Trang 136.2 Phương pháp so sánh
So sánh đặc điểm loại hình nhà thơ giao thời với đặc trưng thi pháp của các nhà thơ trung và hiện đại khác để làm nổi bật những nét cũ và mới, những tiền đề của nền thơ lãng mạn hiện đại sau này
6.3 Phương pháp thực nghiệm:
Chọn mẫu, xây dựng, thiết kế giáo án thể nghiệm nhằm định hướng một phương pháp dạy học mới áp dụng lý thuyết loại hình và loại hình nhà thơ giao thời vào dạy học bài thơ Muốn làm thằng Cuội - Tản Đà
Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp thường dùng khác trong nghiên cứu khoa học như: quan sát, trắc nghiệm thống kê, phân loại, tổng hợp…
7 Giả thuyết khoa học và đóng góp của luận văn
7.1 Giả thuyết khoa học
Luận văn đề xuất và ứng dụng lý thuyết loại hình vào dạy học Văn nhằm nâng cao chất lượng dạy học các tác giả văn học giao thời nói chung và loại hình nhà thơ giao thời Tản Đà nói riêng trong nhà trường phổ thông tiến tới ứng dụng dạy học tác phẩm cụ thể Muốn làm thằng Cuội đạt hiệu quả cao nhất Cụ thể:
Việc hướng dẫn học sinh lớp 8 đọc hiểu bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” - Tản Đà theo đặc trưng loại hình tác giả giao thời sẽ giúp cho giáo viên và học sinh THCS tiến hành đọc hiểu bài thơ này cũng như các tác phẩm văn học giao thời khác, đảm bảo tính khoa học, tính nghệ thuật nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy học văn
7.2 Đóng góp mới của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu khoa học nghiên cứu về dạy học thơ văn Tản Đà nói chung và dạy học bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” nói riêng theo đặc trưng loại hình với mục đích để nhận diện, phân xuất về những đặc điểm của nhà thơ giao thời, làm tiền đề cho việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu bài thơ này theo đúng đặc trưng bản chất của loại hình thơ để khám phá được
Trang 14chiều sâu và ý nghĩa phong phú của bài thơ cũng như góp thêm một hướng dạy học mới cho phần văn thơ Tản Đà trong trường Phổ thông hiện nay Từ
đó giúp chúng ta nhận diện bản chất của nhà thơ Tản Đà là một nhà thơ giao thời và một nhà thơ trữ tình độc đáo, góp phần đổi mới phương pháp dạy
học Ngữ văn hiện nay
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được viết trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Chương 2 Những nnội dung hướng dẫn học sinh đọc hiểu bài thơ ' Muốn làm thằng Cuội" theo đặc trưng thi pháp nhà thơ giao thời Tản Đà
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Loại hình văn học và nghiên cứu loại hình
1.1.1.1 Khái niệm loại hình
Theo Từ điển Tiếng Việt, loại hình là “Tập hợp sự vật, hiện tượng cùng
có chung những đặc trưng cơ bản nào đó.” [12, tr 229]
1.1.1.2 Loại hình trong nghiên cứu văn học
Kể từ khi phương pháp nghiên cứu văn học theo đặc trưng loại hình ra đời, người đầu tiên đặt nền móng cho phương pháp này là nhà nghiên cứu văn học người Nga Vladimir Propp Còn ở nước ta, công trình nghiên cứu văn học theo hướng loại hình là của giáo sư Đinh Gia Khánh với cuốn "Sơ bộ tìm hiểu truyện Tấm Cám"
Hiện nay, phương pháp loại hình là một trong những phương pháp tổng quan, có thể được áp dụng cho nhiều bộ môn của ngành nghiên cứu văn học Trong thực tiễn nghiên cứu khoa học, có những hiện tượng nếu chỉ được nghiên cứu một cách riêng biệt, thì ta khó có thể xác định được danh tính và giá trị của nó, bởi lẽ ta không có được các tiêu chuẩn và hệ quy chiếu của nó
để dựa vào đó mà đánh giá nó Đặc biệt là đối với những hiện tượng mới, nếu
ta xác định được loại hình của nó, thì ta chỉ việc lấy các tiêu chuẩn và ý nghĩa của loại hình đó để gán cho nó là có thể rất dễ dàng đánh giá được giá trị của
nó Nếu không xác định được loại hình của nó, thì ta suốt đời loay hoay với
nó như đứng trước một con vật lạ mà không biết gọi tên nó là gì, và như thế thì dĩ nhiên ta không thể biết được nó có ý nghĩa giá trị gì đối với chúng ta
Ở Việt Nam, thuật ngữ “loại hình” có lẽ mới xuất hiện từ những năm
1970, nhưng trên thực tế thì những năm 1960 ở Việt Nam cũng đã có việc thực hành phương pháp loại hình Qua bằng chứng là cuốn sách của nhà nghiên cứu giáo sư Đinh Gia Khánh: "Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của
Trang 16truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám" (NXB Hà Nội 1968) Ông là người đầu tiên ở nước ta được coi là người áp dụng phương pháp loại hình trong nghiên cứu văn học một cách có nguyên tắc
1.1.2 Loại hình nhà thơ giao thời ở Tản Đà
1.1.2.1 Khái niệm giao thời
“Giao thời là khoảng thời gian chuyển tiếp từ thời kì này sang thời kì khác,cái mới,cái cũ đan xen với nhau,thường có mâu thuẫn xung đột,chưa ổn định” [12, tr 378]
1.1.2.2 Tính giao thời trong văn học Việt Nam giai đoạn 1900-1930
Có thể nói sở dĩ thơ văn Tản Đà mang đặc trưng loại hình nhà thơ giao thời là một tất yếu của một giai đoạn văn học chuyển giao giữa cũ và mới,giữa trung đại và hiện đại,giữa Á và Âu Tính giao thời trong văn học là
đề cập đến những chuyển biến hết sức phức tạp cùa văn học trong một khoảng thời gian nhất định để đưa nền văn học bước sang một thời kì mới Sự chuyển giao giữa cũ và mới không phải diễn ra ngay để nhận biết, mà nó có sự thải hồi có lúc âm ỉ, dần dần và có thể nói nó diễn ra quyết liệt và không phân thắng bại Đây cũng là một giai đoạn hết sức phức tạp của nội dung và hình thức sáng tác cũ và mới đan xen nhau,nền văn học cũ đã khắc phục dần những hạn chế từng cách tân,còn nền văn học mới vừa phát huy những nhân tố hiện đại vừa kế thừa những thành tựu của nền văn học cũ Vì vậy văn học giai đoạn này có một diện mạo đặc biệt tạo nên một đặc trưng riêng biệt không giống hay trùng lặp với các nền văn học trước và sau nó
Trong lịch sử phát triển của văn học Việt Nam giai đoạn 1900-1930 là giai đoạn văn học có tính chất giao thời Đây là thời kì chuyển hóa,tập hợp
để chuẩn bị cho sự ra đời của nền văn học hiện đại sau đó: “Văn học của cả giai đoạn 1900-1930 có tính chất giao thời Tính chất giao thời đó được biểu hiện ở sự tồn tại song song hai nền văn học cũ và mới với hai lực lượng sáng tác,hai công chúng với hai quan niệm văn học hai ngôn ngữ văn học ở hai địa bàn khác nhau, ở xu thế thắng lợi cùa nền văn học mới đang tiến đi thay
Trang 17thế nền văn học cũ tuy đã ở trên đã suy tàn nhưng vẫn còn giữ một vị trí đáng kể, vẫn còn một tác dụng nhất định trong sự đi lên của văn học dân tộc” [15, tr.29]
Nguyễn Đình Chú đã viết: “Lịch sử văn học xét cho cùng là lịch sử cách tân văn học” [1, tr.115] Nguyễn Đình Chú - Tài liệu bồi dưỡng giảng dạy ở dạng SGK lớp 11 CCGD môn văn học - Hà Nội 1991 Theo ông thì có hai mức độ cách tân đó là: Cách tân trong nội bộ một phạm trù văn học và cách tân có ý nghĩa chuyển từ phạm trù văn học này sang phạm trù văn học khác và sự thay đổi phạm trù văn học là sự cách tân có tính đồng bộ, toàn diện
về cả lực lượng sáng tác công chúng thưởng thức, về phương diện văn học và phương thức tồn tại của văn học,về đề tài, về thể loại hay quan niệm nghệ thuật…Và để thực hiện nó đòi hòi phài có một khoàng thời gian nhất định với
sự chuyển hóa ở nhiều mức độ khác nhau: có khi âm thầm, nhưng có khi cũng rất quyết liệt, gay go, phức tạp Có thể xem 30 năm đầu của thế kỉ là chặng đường đầu của sự cách tân văn học.Tính giao thời của văn học thể hiện rõ nhất trong giai đoạn này
1.1.2.3 Các biểu hiện của tính giao thời trong văn học 1900-1930
Khi nghiên cứu giai đoạn văn học 1900-1930 ta có thể nhận ra các biểu hiện của tính giao thời: Lúc này có sự tồn tại song song của hai lực lượng sáng tác,hai phương pháp thể hiện,hai quan niệm sáng tác,hai loại công chúng…Nhưng đó chỉ là những bề nổi của tình hình văn học lúc đó,mà điều cốt yếu là ta phải bóc tách được lớp vỏ bọc bề ngoài cùa nó để khai thác mọi vấn đề tiềm ẩn trong nó mới có thể nhìn nhận được tính chất và nội dung cốt lõi của tính giao thời trong văn học
Trong lịch sử văn học Việt Nam, đây là giai đoạn duy nhất có sự đan xen phức tạp nhưng cũng rất tích cực giữa cũ và mới trong sáng tác cùa một tác giả,đôi khi sự đan xen đó còn tồn tại ngay trong chính cùng một tác phẩm Hai yếu tố cũ và mới về cả nội dung và nghệ thuật được kết hợp nhuần nhuyễn trong rất nhiều thể loại khác nhau tạo ra những giá trị đặc biệt mà
Trang 18chưa thể xếp vào nền văn học trung đại hay hiện đại Tuy nhiên ta có thể dễ dàng nhận ra những biểu hiện của tính giao thời trong văn học giai đoạn này ở các mặt sau:
a Trường hợp nội dung mới thể hiện trong những hình thức cũ
Đây là trường hợp phổ biến trong dòng văn học yêu nước và cách mạng Mục đích của dòng văn học này đã tập trung thể hiện những nội dung mới trong những hình thức nghệ thuật chưa có gì thay đổi Người ta bắt đầu nói tới tư tưởng yêu nước mới Lúc này yêu nước và trung quân không còn đi đôi với nhau mà yêu nước gắn liền với đấu tranh giải phóng dân tộc,bảo tồn
“nòi giống” và đi đến xã hội theo con đường cách mạng dân chủ tư sản Đây
là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc tư tưởng dân chủ, dân quyền được đưa ra
và được xem là mục tiêu của phong trào cách mạng,chủ nghĩa anh hùng được xác lập và phồ biến rộng rãi…Tất cả các nội dung trên đều được thể hiện là các thể loại văn học của các nhà nho xưa và chữ Hán vẫn là ngôn ngữ phổ biến để truyền tải các nội dung trên Văn xuôi vẫn còn nặng tính chất biền ngẫu, vẫn còn thông dụng với các nhà chí sĩ cách mạng thời kì này Thời kì này các tác giả đã có ý thức đưa các vấn đề mới vào văn học với mục đích tuyên truyền,vận động cách mạng.Hay nói cách khác là họ đã chú ý việc dổi mới nội dung sáng tác nhưng chưa chú trọng tới yếu tố nghệ thuật đổi mới theo kiểu “bình cũ, rượu mới”
Không chỉ ở văn học cách mạng mà cả văn học hợp pháp các hình thức,nghệ thuật cũ vẫn được sủ dụng trong các sáng tác: Đông Hồ,Tượng phố, Hoàng Ngọc Phách đã thổ lộ tình cảm thầm kín, riêng tư của mình bằng những hình ảnh cũ kĩ thông qua các bài thơ Đường cổ kính xen giữa những câu văn xuôi,văn biến ngẫu Họ đã thổi vào văn chương hợp pháp bấy giờ một nỗi buồn mênh mông,da diết Nói nó mới là mới so với nỗi buồn trong thơ trước đây nhưng cũng chưa phải là nỗi buồn của những nhà thơ liên quan giai đoạn 30 - 45 Trong sáng tác của họ đã chuẩn bị cho sự ra đời của Thơ Mới về sau
Trang 19b Sự ra đời của một số thể loại văn học mới
Ở giai đoạn đầu của thế kỉ XX do ảnh hưởng sâu sắc của nền văn phương tây,đặc biệt là nền văn học Pháp công tác dịch thuật, họ đã dần chuyển sang công tác tác phẩm văn học Pháp Và kết quả là sự ra đời của tiểu thuyết truyện ngắn, kịch… Đó là những thể loại mới thể loại văn học hiện đại.Họ đã từng bước đẩy lùi văn chương Hán ngữ, những cách viết dùng điển tích,điển cố cách nói ước lệ… để cố gắng đưa vào đó thứ ngôn ngữ bình dị đôi khi là gẩn gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân và xây dựng thế giới nhân vật Có thể nói,họ đã có nhưng đổi mới đáng kể và rõ nét về mặt nghệ thuật mặc dù không tránh khỏi những hạn chế nhất định.Điều muốn nói ở đây là trong lớp vỏ có phần mới mẻ ấy,họ vẫn tiếp tục thể hiện những nội dung cũ kĩ,thậm chí là lạc hậu và lỗi thời Trong 30 năm đầu thế kỉ vẫn còn nhiều nhà tiểu thuyết ở Nam Bộ,nhà viết kịch ở Bắc Bộ vẫn tiếp tục thể hiện nhưng vấn
đề đạo lí trong sáng tác của mình Tuy nhiên đạo lí đó có phần nào đã vượt
qua quan niệm Nho giáo và tiến dần đến đạo lí bình dân của tuyệt đại đa số dân chúng
c Sự kết hợp hai yếu tố cũ và mới
Đây là hai phương diện nội dung và nghệ thuật là hiện tượng phổ biến nhất trong giai đoạn văn học ở đầu thế kỉ XX “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách là một tác phẩm tiêu biểu cho sự pha tạp hai giá trị truyền thống và hiện đại Hoàng Ngọc Phách đã để cho hai nhân vật Tố Tâm và Đạm Thủy giằng co giữa hai con đường chạy theo tình yêu tự do hay chấp nhận những quy tắc nghiêm ngặt của lễ giáo phong kiến Đạm Thủy đã khuyên Tố Tâm đi lấy chồng để trọn đạo chữ hiếu đạo và chàng giữ được chữ Tín nhưng lòng thì vẫn không muốn rời xa Tố Tâm Còn Tố Tâm thì luôn khẳng luôn khẳng định tình yêu của mình: “Em đã yêu anh thì không thể yêu ai được nữa mà cũng không muốn yêu ai Đã không yêu thì không lấy” Nhưng rồi nàng cũng phải cân nhắc giữa tình yêu chân chính và chữ hiếu để lựa chọn Cả hai đều có những giấc mơ yêu đương đẩy lãng mạn, họ đã từng có ý nghĩ cùng
Trang 20nhau bỏ trốn đến một nơi “thâm sơn cùng cốc” hay góc bể chân trời nào không ai biết để cùng nhau hưởng cuộc ái ân trăm năm” Thế mà cuối cùng cũng chính họ để cho tình gia quyến đánh đổ Tác phẩm đã khép lại trong kết thúc bi thảm Tố Tâm chết, Đạm Thủy sống trong đau khổ vì nhớ thương người xưa Mặc dù tưởng đã cố tình tạo cho chàng một cơ hội mới (lập nghiệp) nhằm giúp chàng thoát khỏi “bể sầu núi thảm” nhưng hạnh phúc vẫn không thể đến với chàng Với “Tố Tâm”, người tuân thủ theo đạo đức truyền thống đã không thể có được hạnh phúc trong chế độ đại gia đình phong kiến mà người muốn sống hết mình cho tình yêu tự do cũng không đến được với hạnh phúc Cả đôi đường đều không trọn vẹn,con người lâm vào thế bế tắc, nguyên nhân bắt nguồn từ trạng thái lưỡng phân,giao thời của
xã hội Hoàng Ngọc Phách đã đem cái “tôi” tư sản đặt bên lễ giáo phong kiến Đây là trường hợp tiêu biều trong giai đoạn văn học XX “Tố Tâm” là tác phẩm được sáng tác bằng phương pháp lắp ghép nghệ thuật viết văn của nhà Nho (văn biến ngẫu,văn xuôi xen kẽ với văn vần, ngôn ngữ bóng bẩy…) Với nghệ thuật sáng tác của người nghệ sĩ hiện đại (văn tiểu thuyết, kết cấu mới, kết thúc không có hậu, khai thác yếu tố đời tư của nhân vật) Chính nhờ sự lắp ghép,pha tạp giữa các yếu tố cũ và mới đã làm cho “Tố Tâm” vừa thể hiện chất hiện đại, vừa mang dáng dấp truyền thống Đó chính
là tính giao thời của tác phầm
Như vậy có thể không định, văn học giai đoạn 1900-1930 có xu hướng tiến gần đến hiện đại Đối với đội ngũ sáng tác thời kì này, văn học hiện đại là khu vườn quyến rũ đầy những hoa thơm quả lạ phát triển ra nó là một chuyện nhưng đến với nó lại là một chuyện khác Bởi vì không phải ai cũng có “độ sâu và độ đúng của lí luận, không đủ học vấn để kế thừa truyền thống và tiếp thu ảnh hưởng của văn học nước ngoài một cách hợp lí và sáng tạo”[15, tr 337) Đối với các nhà văn, nhà thơ thời này có sự thay đổi cả về quan niệm thẩm mỹ, thế giới quan và nhân sinh quan nhưng họ chưa được trang bị chu đáo về mặt lí luận và đó cũng là hạn chế mang tính tất yếu của một giai đoạn
Trang 21chuyển biến trong lịch sử văn học từ phạm trù văn học trung đại sang phạm trù văn học hiện đại
1.1.3 Tản Đà - Kiểu nhà thơ giao thời trung - cận đại
1.1.3.1 Từ nhà Nho tài tử trở thành nhà sáng tác chuyên nghiệp với chủ trương đem văn chương bán phố phường
Trong thời gian đó, Tản Đà không giống các nhà yêu nước vì hoạt động chính trị mà phải viết văn Cũng không giống một số nhà nho ăn lương của chính quyền thực dân để viết báo Hơn thế, Tản Đà tuy là nhà nho nhưng không cùng loại với các nhà nho kể trên Đó là những ảnh hưởng rất lớn đến các sáng tác của Tản Đà
Mặt khác do được thừa hưởng từ truyền thông gia đình ông sinh ra trong gia đình dòng dõi khoa bảng nhà Lê, bố ông là Nguyễn Danh Kế làm quan đến chức Án sát, Ngự sử Anh cả là Nguyễn Tái Tích đỗ phó bảng Mẹ của ông là người phụ nữ có nhan sắc có tài làm thơ Nôm Có thể nói gia đình Nguyễn Khắc Hiếu (Tản Đà) là một gia đình nhà Nho tiêu biểu cho thái độ chính trị lúc đó Chính vì vậy mà ngay từ nhỏ Tản Đà rèn cặp theo lối học cử
tử cho nên ảnh hưởng của Nho giáo với Tản Đà đến rất sớm và tự nhiên như một nét gia phong.Thế nên Tản Đà vào đời cũng theo một lộ tình khá quen thuộc với một nhà Nho: học hành - đi thi - làm quan, nhưng mấy lần thi cử đều hỏng ông rơi vào đau khổ và bế tắc Đó cũng là lí do trong khoảng thời gian này mặc dù có tài hơn người nhưng ông chưa thể hiện tài thơ phú mà chỉ
là chuyện chữ nghĩa đóng đinh chung trong sách vở thánh hiền
Chuyện trở thành nhà văn nhà báo đối với Tản Đà sau này trong cảm nhận của Tản Đà là một sự lỡ dở:
“Chủ nghĩa Tây, Tầu trót dở dang
Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng.” (Khối tình con 1)
Hỏng thi Hương 1912 và đến 1915 là khóa thi cuối cùng theo chữ Hán
ở miền Bắc khiến Tản Đà chán nản, bi phẫn Có thể nói sự phá sản cả lối vào đời truyền thống ấy đã trở thành hiện thực nhãn tiền, Tản Đà đã bị trượt ra
Trang 22khỏi quỹ đạo truyền thống và mất phương hướng hành xử,đấy chính là nguyên nhân sâu xa gây nên sự chán nản đến độ “quyết mong tịch cốc để từ trần” Và sự kiện người yêu bỏ đi lên xe hoa cũng là một giọt nước làm tràn ly.Có lẽ phải đến năm 1916 các sáng tác của Tản Đà mới thực sự có sự chuyển biến Đây là năm ông lấy bút danh Tản Đà là sự hòa ghép của Sông
Đà, núi Tản quê hương ông.Và cũng từ đây Tản Đà thực sự lựa chọn con đường của một người kiếm sông bằng ngòi bút tuy rằng ở điểm xuất phát không được chuẩn bị và cũng không hề có ý định trở thành nhà văn chuyên nghiệp Đến với nghề văn khá muộn nhưng lại rất kiên quyết và triệt để trong toàn bộ quãng đời còn lại Vậy do đâu đã làm nên sự biến đổi đặc biệt này trong con người Tản Đà?
Đối với nhà Nho, trong nhận thức của họ có ba điều để họ có thể lưu danh thiên cổ đó là: lập đức,lập công và lập ngôn (đức độ để đời, làm nên việc lớn,lời nói bất hủ) Với Tản Đà ông cũng rất tán thưởng quan điểm này.Ông
đã từng công khai bày tỏ: “ Đã gọi là thằng người thì phải có một cái hơn con vật Hoặc là cái đức hay,hoặc là cái việc hay,hoặc là câu nói hay”(An Nam tạp chí số 8) Với cốt cách tài tử lại kết hợp sự pha tạp của lối sống thành thị khiến Tản Đà không bị hấp dẫn vào những khuôn mẫu của một nhà đạo đức.Bởi lẽ ở giai đoạn này nền văn minh phương Tây đã chứng tỏ được sự ưu việt hơn hẳn thứ Nho giáo phong kiến gò bó, ngặt nghèo thì ngả rẽ và kì vọng vào mộng kinh bang tế thế,trị nước cứu đời cũng trở nên mờ mịt với nhà Nho phải “phá nghiệp kiếm ăn xoàng” như Tản Đà Cuối cùng Tản Đà đã tìm đến với một mảnh đất mới như một lẽ tất yếu - mảnh đất của lời nói hay(lập ngôn)
để có thể thi thố với đời
Từ sau 1910 trên cơ sờ hình thành của kiểu đô thị hiện đại, viết văn,làm báo cũng được thừa nhận, điều mà trước đây các nhà nho chưa từng biết đến.Hàng loạt bài viết trên Đông Dương tạp chí đã đem đến cho Tản Đà một danh tiếng lừng lẫy trên văn đàn.Thực tế cho thấy Tản Đà đã có được những quan điểm thật sự mới mẻ về văn học Ngay từ 1916,trong lời đề tựa cho tập
Trang 23“Khối tình con một” người ta đã bắt gặp một chân dung, một tuyên ngôn cho
sự tồn tài một loại hình nhà văn mà rổi đây sẽ giữ vị trí chủ đạo trong đời sống văn học:
“Còn non còn nước còn trăng gió,
Còn có thơ ca bán phố phường”
Như vậy có thể nói, cái tuyên ngôn về “thơ ca bán phố phường” của Tản Đà là sự khai sinh cho một danh phận mới: nhà văn chuyên nghiệp, cũng đồng thời nó mang đến cho văn học một thuộc tính mới: thuộc tính hàng hóa.và cũng chỉ với Tản Đà người ta mới bắt gặp những trải nghiệm thật mới
mẻ của một người viết văn với trong điều kiện khắc nghiệt của thi trường: “Bao nhiêu củi nước mới thành văn,
Được bán văn ra chết mấy lần
Ông chủ nhà in, in đã đắt,
Lại ông nhà sách mấy mươi phân.” (Lo văn ế)
Có thể khẳng định rằng với những mới mẻ trong cách thể hiện cũng như trong tầng sâu quan niệm văn học như trên, Tản Đà xứng đáng được xem
là người đi tiên phong trên con đường vận động từ lối viết văn làm thơ của nhà Nho sang lối viết văn và làm thơ của những nhà thơ chuyên nghiệp
1.1.3.2 Quan niệm về văn học của Tản Đà mang tính giao thời
Bước ra từ quan niệm văn học Nho giáo,tầng lớp tri thức tự coi mình là thần tử của triều đình,kẻ hướng đạo nhân dân,kẻ bảo vệ đạo lí thánh hiền, nhà Nho viết văn không phải để biểu hiện cái đẹp, không phải để mua vui,văn gắn liền với “đạo”, bảo vệ đạo lí cương thường Đó là thứ văn chương ca tụng vua hiền,tôi giỏi,giảng giải đạo lí nhằm nêu gương,thuyết phục và răn dạy Đó là thứ văn chương “mượn cảnh nói tình,biểu đạt tâm, trí, bộc bạch tấm lòng trung trinh, tiết tháo”[15 - tr.17] Trong quan niệm truyền thống,văn học là một thứ quà tặng để thù tạc Điều này giải thích vì sao trong văn học trung đại mặc dù tồn tại một khối lượng lơn tác phẩm văn học nhưng trong đời sống vẫn không có khái niệm thi sĩ, khái niệm nhà văn Đến giai đoạn này, cùng
Trang 24với những biến đổi của lịch sử của thời đại và sự ào ạt xâm nhập của văn hóa Tây phương làm cho văn học dân tộc có sự biến chuyển và quan niệm sáng tác của các nhà văn cũng có những biến đổi theo thời cuộc, Tản Đà không phải là một ngoại lệ Lúc này là quan niệm sáng tác văn chương của Tản Đà
có sự thay đổi mầm mống của cái “tôi” lãng mạng sau này đã xuất hiện Tản
Đà đã bắt đầu coi văn chương như một phương thức giải tỏa mà dấu ấn rõ nét
là trong “ Khối tình con 1 và 2 ” Tản Đà đã lựa chọn phương thức “lập ngôn” một trong ba lĩnh vực(tam bất hủ)của Nho giáo để viết văn ông đã từng bày tỏ: “ Đã là thằng người phải có một cái hơn con vật.Hoặc là cái đức hay hoặc
là cái viêc hay, hoặc là câu nói hay ”[ 2, tr.16 ].Như vậy Tản Đà đã dùng quan niệm văn chương “lập ngôn” để thi thố với đời Có không ít những nguyên nhân khách quan và chủ quan khuyến khích Tản Đà theo ngả rẽ này Trong môi trường đô thị mà nghề báo đã trở thành một nghề, danh phận của người viết báo, viết văn đã được thừa nhận và xem trọng Chính cái không khí mới mẻ của thời cuộc ấy không phải là không có sức hấp dẫn và đem đến những nét thực sự mới mẻ trong quan niệm về văn học của Tản Đà với lối tuyên ngôn “thơ ca bán phố phường”, coi nghề văn,nhà văn trở thành nghề chuyên nghiệp và văn chương trở thành hàng hóa Những quan niệm mới mẻ này đã tác động rất lớn đến người đọc và sáng tác của nhà văn Những tác phẩm xoay quanh đề tài du kí,những câu chuyện tình ái với hình bóng của các giai nhân xuất hiện trong hầu hết các sáng tác của ông cũng như những sầu muộn, vẩn vơ trong các tập “Khối tình con”… một phần là xuất phát từ cá tính sáng tạo của Tản Đà nhưng mặt khác cũng có sự gợi ý và kích thích từ môi trường của tác giả những thập kỉ hai mươi trong môi trương đô thị Ta có thể dễ dàng nhận ra điểm tương đồng dù ở mức độ đậm,nhạt, nhiều ít khác nhau trong các đề tài và mô típ nghệ thuật nói trên giữa Tản Đà và hàng loạt nhưng tác giả đương thời như: Nguyễn Bá Trắc,Phạm Quỳnh, Hoàng Ngọc Phách, Đoàn Như Khuê… sự tương đồng này cũng cho thấy là đằng sau những sáng tác văn học là những nhu cầu và thị hiếu mới của thời đại mà
Trang 25những người cầm bút một khi đã đi vào con đường của một nhà văn chuyên nghiệp đều ít nhiều chịu tác động và định hướng của chúng
Tuy nhiên ta vẫn có thể nhận thấy một cách hệ thống những quan niệm văn học của nhà Nho truyền thống đóng vai trò như một khuôn khổ định trước, trong tư duy về văn học của Tản Đà, ông lả một con người tự tin và thành thật.Ông tự khen thơ mình tự mình và tự hào về thi tài của mình nhiều lần bên cạnh đó còn có một niềm tự hào khác cũng được Tản Đà hết mực đề cao và coi đó như một chức phận của mình là sáng tác văn học đó là: Truyền
bá thiên lương cho nhân loại (Hầu trời),chức phận này mà Tản Đà cả đời chẳng bao giờ nguôi:
“Hai chữ “thiên lương” thăng Hiếu nhớ,
Dám mong không phụ Trời trong mong.”
(Tiền của công lên trầu trời)
Quan niệm văn chương truyền bá “thiên lương” cũng được Chu Kiều Anh từng khẳng định: Văn chương có trọng giá,không phải là một sự đùa vui trong ý thú, không phải là một sự đùa vui trong phẩm bình, mà phải có bóng mây hơi nước đến dân xã…sao cho nhân tâm, phong tục được thuần chính, dân trí, tư tưởng được khai mình, là chức trách được đề cao hết mực nhưng cái làm nên giá trị của văn chương lại nằm ở chức năng giao huấn, khả năng khai minh và chính tâm cho con người Đó chính là quan niệm “văn dĩ Tải tạo của Nho gia
Giai đoạn giao thời là sự đan xen của hai hệ thống thể loại cũ - mới Bên cạnh văn - thơ - phú - lục của truyền thống, còn xuất hiện các thể loại với nguồn gốc từ Tây phương: truyện ngắn, tiểu thuyết…Vấn đề không chỉ là sự phức tạp của hệ thống thể loại mà còn là sự phức tạp trong cách thức phân loại nhưng theo quan niệm cùa Tản Đà văn có nhiều lối, nhiều hạnh Trong bài “Hầu trời” (1921) Tản Đà viết:
“Đọc hết văn vần sang văn xuôi
Hết văn thuyết lí lại văn chơi.”
……
Trang 26Hai quyển khối tình văn thuyết lí
Thần tiên, giấc mộng văn tiểu thuyết
Đại dương, lên sáu văn vị đời”
Trong hàng loạt các cách gọi trên ta thấy có sự phân loại theo lối văn vần và văn xuôi nhưng sự đối lập giữa văn thuyết lí và văn chơi (văn vị đời và văn chơi) là phân loại theo thứ thứ hạng Mặc dù thành danh với “Giấc mộng con” nhưng trong quan niệm Tản Đà không xem trọng tiểu thuyết như tản văn Sau này khi ra mắt “giấc mộng lớn”, bóng mây hơi nước đến dân xã
“mới là thể loại mà Tản Đà xem trọng,ông từng khẳng định “Văn chương mà không được như các văn Lư Thoa, Lương Khải Siêu thời sự nghiệp có đáng giá là mấy” Vì vậy mà ông chủ trương đặt tâm tư của mình vào tản văn để truyền tải thứ văn chương ấy.Với những quan niệm về văn học như trên Tản
Đà được xem là một trong những đại diện đầu tiên ở vào thời điểm phôi thai của nền văn học mới cùng với không ít những hăm hở “phá cách vứt điệu luật” của ông trở thành một trong những cây bút có tính cách tân đầu của văn học Việt Nam trong bối cảnh giao thời
1.1.3.3 Tản Đà - người mở đầu cho thơ hiện đại Việt Nam
Tản Đà tự hào vì “Văn đã nhiều thay lại lăm lối” (Hầu trời) Ông đã viết rất nhiều thể loại khác nhau: bút kí, truyện ngắn, bình luận báo chí…và đến 1916 ông viết quyển tiểu thuyết đầu tiên là lịch sử văn xuôi Việt Nam Ông coi văn xuôi là phần tinh túy trong tài năng của mình, nhưng với người yêu quý và biết đến Tản Đà là nhờ tài năng thơ ca của ông.Xuân Diệu đã từng tôn vinh công của Tản Đà là “một thi sĩ An Nam, có thể nói là hoàn toàn An Nam” Ít ai có được sự hiểu biết rộng như Tản Đà vì đã từng tính nghiệp khoa bảng nên Tản Đà rất am hiểu văn, thơ, phú, lục Văn chương chữ Hán ông còn thông thạo ca trù, thơ song nhất và lục bát Nhưng cái mà Tản Đà hơn hẳn các nhà Nho khác là ông thông thạo cả tuồng chèo và các loại ca lí Ông am hiểu làn điệu vùng nông thôn, mà còn nắm vững các loại ca xướng có tính chất đô thị, chợ búa trong các môi trường ăn chơi Ông vừa am hiểu ca lí Việt Nam,
Trang 27thông thạo cả Từ Khúc Trung Quốc Sự am hiểu đó đã có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành tài năng và đến việc cách tân trong thơ ca của ông
Năm 1916 sau khi “Giấc mộng con” ra đời, Dương Bá Trạc đề tựa cho Tản Đà đã phải thốt lên: “Mới mươi mười lăm năm nay,sĩ phu trong nước mới
có khuynh hướng về văn quốc âm,giọng hàn thuyên, hồn Đại Việt đã lập lòe một tia lửa sáng xuất hiện trong văn giới hoàn cầu Ông Nguyễn Khắc Hiếu - Sơn Tây chính là một tay kiện tướng trên trường hà mặc ấy”.Qua hai cuộc viễn du tưởng tượng trong “Giấc mộng con I” và II,Tản Đà muốn đưa người đọc đến với thế giới lí tưởng, kỳ diệu mà ở đó chỉ tồn tại cái đẹp, tình yêu thương và sự tôn trọng lẫn nhau,khác hẳn với cái xấu xa nơi trần giới.Tác phẩm vừa có giá trị hiện thực, vừa có ý nghĩa lãng mạn thể hiện những ước vọng nhân văn của tác giả
Tản Đà là người thích mở rộng và có một trí tưởng tượng rất phong phú.Song với ông đôi khi điều đó chỉ là những yếu tố thi pháp trong cá tính sáng tạo của Tản Đà Điều đó không hề làm giảm đi giá trị nghệ thuật của tác phẩm.Có lẽ phải kể đến cuốn tiểu thuyết “Thần tiền” là một minh chứng Ở đây tác giả đã mượn lời hai chị em đồng tiền nói với nhau để tố cáo thói ăn tiền bẩn thỉu của bọn quan lại: “Khi đã vào trong cửa quan,trên thời quan nha,dưới thời lính tráng,dân sự,mà các ông ấy để mình nằm trần truồng ra trước công đường.Lúc ấy thẹn phải ấy… thỉnh thoảng thấy quan nhìn mình thời như có ý thương yêu lắm” Cách kể chuyện thế này thì thật là hóm hỉnh
và hấp dẫn
Tuy nhiên trong nhiều truyện ngắn, tùy bút, bút kí…Tản Đà cũng chẳng cần bóng gió mà ngòi bút của ông đả kích thẳng thừng vào bọn quan lại bất lương, vào bọn người vô liêm sỉ; đồng thời tỏ sự bênh vực những người nghèo khổ, ca ngợi lòng yêu nước Trong tạp văn đăng trên Đông Pháp năm
1927 bài “Thế nào là hạng người hạ lưu trong xã hội” Tản Đà viết: “Nay nghĩ như những người quan cao chức lớn, cửa rộng nhà to mũ áo đai cân, mề đay kim khánh mà gian tham, xiểm nịnh, bất nghĩa vô lương, hút máu mủ của dân
Trang 28thứ để nuôi béo vợ con, hiến vợ con cho người ta để giữ bền phú quý,như thế
có phải là hạng người hạ lưu hay không ”…Ông đã đề cao đạo đức con người chứ không lấy giàu là thước đo hạnh phúc của người hạ lưu hay thượng lưu.Đó chính là một sự duy tân của Tản Đà khi mà xã hội lúc đó là xã hội thực dân phong kiến, đạo đức suy đồi luân thường bị đảo lộn Đó chẳng phải
là một nhà văn, nhà báo đầy dũng khí và khí phách hay sao? Vì lẽ đó mà Tản
Đà bị bọn quan lại thực dân tìm cách xét nét, rình rập điều này được Tản Đà thể hiện rõ trong “ Giấc mộng lớn.”
Văn xuôi của Tản Đà đề cập nhiều đến các vấn đề đương thời bằng một lối văn giàu nghệ thuật,sáng tạo mới mẻ mang bản lĩnh và bản sắc riêng.Với những tác phẩm được coi là văn chương vị đời được nhiều công chúng biết đến như: “ Cảnh nhà nghèo lấy vợ” “Cảnh túng đi vay tiền” Một lần nữa ta
có thể khẳng định rằng:Trong thời điểm mà văn quốc ngữ đang trong giai đoạn phôi thai,mới bắt đầu mà lại là văn xuôi nghệ thuật thì mới có thể thấy
rõ được vai trò khai sáng và tiên phong của Tản Đà trong nền văn học hiện đại của dân tộc
Không chỉ ở lĩnh vực văn xuôi, mà trong lĩnh vực thi ca Tản Đà cũng thể hiện được một thứ thơ có bản lĩnh,bản sắc riêng mà không nhầm lẫn với bất cứ ai.Song giá trị lớn lao và đặc sắc hơn cả vẫn là vị trí dẫn đầu của ông trên thi đàn đầu thế kỉ XX mà hai nhà phê bình văn học nổi tiếng Hoài Thanh
và Hoài chan đã viết trong cuốn “Thi nhân Việt Nam” “… Đôi bài thơ của tiên sinh ra đời tư hơn hai mươi năm trước đã có một giọng phóng túng riêng tiên sinh đã dạo những bản dàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đang sắp sửa” [25, tr 232] Hay Xuân Diệu, một người say mê thơ Tản Đà từ nhỏ
đã khẳng định “Tản Đà là người thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại”.Tuy nhiên Tản Đà chưa phải là một nhà thơ mới thật sự như các nhà thơ mới lớp sau,nhưng rõ ràng ở ông có tư tưởng cách tân,có niềm tìm tòi, sáng tạo và mạnh dạn vượt ra ngoài những khuôn sáo cũ trong thi ca:
Trang 29“Lá đào rơi rắc lối thiên thai
Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi Nửa năm tiễn cảnh,
Một phút trần ai
Ước cũ duyên thừa có thế thôi,
Đá mòn rêu nhạt
Nước chảy hoa trôi
Cái hạc bay lên vút tận trời,
Trời đất từ nay xa cách mãi
trong bài Tống biệt này của Tản Đà thi sĩ quả là rất mới,rất lạ!
Chính sự mạnh bạo vượt ra ngoài khuôn phép cũ đã tạo ra trong thơ Tản
Đà “ một giọng điệu phóng túng riêng”
“Trời sinh ra bác Tản Đà,
Quê hương thì có cửa nhà thì không
Nửa đời nam,bắc,tây,đông,
Bạn bè xum họp vợ chồng biệt ly
Túi thơ đeo khắp ba kì,
Lạ chi rừng biển thiếu gì gió trăng
(Thú ăn chơi)
Thơ Tản Đà nhiều bài có giọng điệu phóng túng,ngang tàng pha chút
“ngông” khiến ta liên tưởng đến giọng điệu trong thơ: Nguyễn Công Trứ,Tú
Xương… những vần có dấu ấn riêng không thể pha lẫn.Trong “Thi nhân Việt
Nam” Hoài Thanh và Hoài Chân từng viết: “Cái dáng điệu ngang tàng chúng
Trang 30tôi từng thấy ở các nhà thơ xưa,ở tiên sinh không bao giờ có vẻ vay mượn ” Trong bài Tự Trào(1912) Tản Đà đã viết:
“Vùng đất Sơn Tây này một ông,
Tuổi chưa bao nhiêu vă rất hùng
Sông Đà,núi Tản ai hun đúc,,
Bút thánh,câu thần sớm vãi vung
Bởi ông hay quá ông không đỗ,
Không đỗ ông càng tốt bộ ngông.”
hay “Thơ lưng chất nặng tay buồn rỗi,
Bán áo mà mua giấy viết ngông.”
(Dạm bán áo)
Đi liền với cái “ngông” là cái “say” nhưng đó không phải là cái say ẩm thực tầm thường mà là cái say của tao nhân mặc khách, cái say vì nhân tình thế thái:
“Cảnh đời gió gió mưa mưa,
Buồn trong ta phải say sưa đỡ buồn
Rượu say ta lại khơi nguồn,
Nên thơ rượu cũng thên ngon giọng tình
Rượu thơ mình lại với mình,
Khi say quên cả cái đỉnh phù du
Trăm năm thi sĩ tửu đồ là ai.”
(Thơ rượu)
Nhưng bao trùm và sâu lắng trong hồn thơ Tản Đà có lẽ vẫn lả cái buồn vẩn vơ,cái sầu man mác,cái tình bâng khuâng Đó chính là nhưng yếu tố muôn đời của thơ ca lãng mạn nhưng ở vào thời kì này chỉ có riêng Tản Đà và cũng có thể gọi đó là chủ nghĩa lãng mạn Tản Đà nếu được gọi như thế! Những bài thơ nổi tiếng cho dấu ấn lãng mạn xã hội là thơ Tản Đà phải kể đến như: “Muốn làm thằng cuội”
Trang 31“ Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi
Trần thế em nay chán nửa rồi
Cung quế có ai ngồi đó chửa
Cành đa xin chị nhấc lên chơi ”
Có thể khẳng định rằng dù Tản Đà “ngông”,Tản Đà “say”,Tản Đà buồn, Tản Đà mơ mộng có lẽ cũng chỉ là một phần tình cảm của ông trước buổi giao thời “gió Á mưa Âu”
Bên cạnh những bài thơ mang phong cách thơ ca lãng mạn thì với tư cách là một người dân mất nước, lo cho vận mệnh của dân tộc,lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX, vì vậy Tản Đà còn có những vần thơ cảm khái nói đến các anh hùng dân tộc,nói đến dân vong quốc, giống nòi Tiên Rồng… thể hiện tư tưởng yêu nước kín đáo Tiêu biểu là bài
“Thề non nước”:
“Nước non nặng một lời thề Nước đi đi mãi không về cùng non
Nhớ lời nguyện ước thề non, Nước đi chưa lại,non còn đứng không
Núi cao những ngóng cùng trông, Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày
Xương mai một nắm hao gầy, Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương
Trời tây ngả bóng tà dương, Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha
Non cao tuổi vẫn chưa già, Non thời nhớ nước,non mà quên non
Dù cho sông cạn đá mòn, Còn non,còn nước hãy còn thề xưa
Non cao đã iết hay chưa, Nước mưa ra bể lại mưa về nguồn
Trang 32Nước non hội ngộ còn luôn, Bảo cho non chớ có buồn làm chi
Nước kia dù hãy còn đi, Ngàn dâu xanh tốt,non thì cứ vui
Nghìn năm giao ước kết đôi, Non non,nước nước không nguôi lời thề.”
Như vậy với những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật trong thơ văn nói trên Tản Đà xứng đáng là một đại diện tiên phong dẫn những bước đi mở đầu cho nền thơ Việt Nam hiện đại, là gạch nối giữa thơ ca cân - hiện đại Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX Công lao to lớn đó của ông là không thể phủ nhận
1.2 Cơ sở thực tiễn
Xuất phát từ thực trạng việc dạy học bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” - Tản Đà sách ngữ văn 8 tập 1 (Chương trình THCS) chỉ chú trọng về phân tích tác phẩm ở góc độ câu, chữ máy móc, chưa thực sự giúp học sinh phân biệt được một hiện tượng nhà thơ giao thời (Trung đại và Hiện đại) Mặt khác khi dạy học thơ văn Tản Đà từ trước đến nay thường bị giàng buộc bởi một số yếu tố của lịch sử nên có một thời gian dài, giáo viên còn dạy theo định hướng bình giảng tác phẩm theo những nội dung xã hội như yêu nươc, nội dung chính trị, giai cấp…Vì vậy chưa thể đánh giá hết được hiệu quả thẩm
mỹ của loại hình tác giả giao thời Dẫn đến sự lúng túng khi xác định giá trị của bộ phận văn học này do ta không có được các tiêu chí chuẩn và hệ quy chiếu của nó để đưa vào mà đánh giá nó Bởi thế ta sẽ loay hoay không biết gọi tên nó là gì và không thể đánh giá được ý nghĩa, giá trị của loại hình tác giả giao thời đối với nền văn học dân tộc ta
1 Tài liệu sách giáo viên Ngữ Văn 8 tập một đã định hướng cách dạy bài thơ “Muốn làm thăng Cuội” là:
- Thấy được giọng điệu mới mẻ của bài thơ so với các bài thơ cùng thể loại khác
- Chỉ ra được cái “ngông” Tản Đà thể hiện trong bài thơ
- Phân tích cái buồn,cái sầu của Tản Đà
Trang 332 Tài liệu “Thiết kế bài giảng Ngữ Văn 8 tập 1” thì dùng hướng cách dạy bài thơ “Muốn làm thằng Cuội”
- 4 câu đầu: khai thác lí do chán trần thế,giọng điệu “ngông”
- 4 câu cuối: Vẫn đi vào cái “ngông” Tản Đà và lí giải lí do trông xuống thế gian “cười”
3 Tài liệu bình giảng Ngữ Văn 8-NXBGD - Vũ Dương Quý - Lê Bảo thì hướng giáo viên vào việc dạy học và bình giảng bài thơ đi sâu vào phân tích lí do buồn, “chán trần thế” của Tản Đà,cách xưng hô “chị” “em”, chỉ ra được sự cách tân trong lối thơ Đường Luật để ý thơ được trôi chảy, tư nhiên, khai thác cảm hứng lãng mạn của bài thơ,
4 Tư liệu Ngữ Văn 8 do Đỗ Ngọc Thống chủ biên NXBGD (2004) định hướng dạy học bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” của Tản Đà là:
- Lí giải lí do chán trần thế và cái ý muốn lên tiên của thi sĩ và thái độ của Tản Đà đối với trần, khai thác cái “ngông”, sự bất cần đời,dám làm điều trái lẽ thường,không sợ dư luận khen chê,lời thơ phóng khoáng,tự do
5 Tài liêu “Học tốt Ngữ Văn 8” tập I của Trần Văn Sáu, Trần Công Tùng thì hướng dẫn giáo viên và học sinh khai thác bài thơ ở các khía cạnh sau:
- Lí giải lí do chán trần thế là do buồn về thế thời và thân thế
- Bài thơ thể hiện nét “ngông” là tính cách của Tản Đà và giải thích lí
do của cai “ngông” là do mối bất hòa sâu sắc với hiện thực và còn do tính phóng khoáng “thuộc giống đa tình” như ông đã tự nhận
Như vậy,với rất nhiều tài liệu hướng dẫn,định hướng dạy học bài thơ
“Muốn làm thằng Cuội” SKG môn Ngữ Văn 8 tập I như trên,hầu hết các tác giả đã định hướng day học bài thơ theo đúng đặc trưng phương pháp dạy học
bộ môn,dạy học thể loại thơ thất ngôn bát cú Đặc biệt hầu hết các tác giả đều giúp giáo viên định hướng khai thác các khía cạnh nội dung và nghệ thuật của bài thơ một cách sâu sắc,giúp học sinh cảm nhận được:
- Nguồn cảm xúc mãnh liệt,dồi dào,vừa phóng túng bay bổng,lại vừa sâu lắng, tha thiết được biểu hiện một cách tự nhiên, thoải mái nhuần nhị như giọng diệu tâm tình với người bạn tri âm, tri kỉ
Trang 34- Lời lẽ giản dị,trong sáng, không gọt đẽo cầu kì mà vẫn giàu sức biểu cảm
- Đặc biệt thể thơ Đường luật vẫn được tuân thủ nghiêm ngặt về vần,luật nhưng hoàn toàn không còn gò bó,công thức.Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi không có ý định phản bác cách khai thác và định hướng dạy học bài thơ “Muốn làm thăng Cuội” như các tác giả trên đã đưa ra,mà mạnh dạn đề xuất cách dạy học bài thơ này theo hướng bám sát vào đặc trưng của loại hình nhà thơ giao thời để thấy đươc những điểm cũ và mới của bài thơ một cách rõ nét hơn,đồng thời qua đó có thể đánh giá được những đóng góp quan trọng của Tản Đà trong nền thơ hiện đại Việt Nam sau này.Và trên hết bài thơ này của Tản Đà còn giúp giáo viên dạy học những bài thơ khác của Tản Đà nói riêng và các nhà thơ khác nói chung, dễ dàng nhận diện và phân xuất chúng vào thời kì văn học giao thời và cách dạy học những tác phẩm văn học giao thời của nước ta
Trang 35CHƯƠNG 2 NHỮNG NỘI DUNG HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC HIỂU
BÀI THƠ MUỐN LÀM THẰNG CUỘI THEO ĐẶC TRƯNG THI PHÁP
NHÀ THƠ GIAO THỜI TẢN ĐÀ 2.1 Thế giới nghệ thuật thơ Tản Đà mang đặc điểm loại hình nhà thơ giao thời
2.1.1 Tản Đà - Kiểu nhà thơ mới giao thời
Từ một nhà thơ trung đại truyền thống,Tản Đà đã tự đổi mới mình qua chủ thể trữ tình,cái tôi trữ tình.Đó là sự đổi mới trong cách nhìn,cách cảm nhận cuộc sống,cách giao tiếp…
2.1.1.1 Những quy phạm mới đã xuất hiện trong các quy phạm cũ
- Nhà thơ mang cái nhìn và giọng điệu siêu cá thể với thi liệu truyền thống: Một trong hai đặc điểm của thi ca trung đại là “Miêu tả thế giới tinh thần lí tưởng,thống nhất hài hòa khách quan và chủ quan.Thơ ca cổ điển không thiên về miêu tả thế giới khách quan như thơ ca hiện thực,cũng không nghiêng về biểu hiện cảm xúc chủ quan như thơ ca luận.Các nhà thơ cổ điển chưa có ý thức tách bạch chủ thể khách quan để nhìn từ một trong hai phía”[19, tr 12] Tuy nhiên dấu vết kiểu nhà thơ trung đại và thơ Tản Đà trước hết mang đặc điểm của cái nhìn siêu cá thể,với mọi vật được miêu tả trong thuộc tính chung phổ biến: trăng, sương, liễu, chim, thu thảo, tich dương…tuy nhiên điều thú vị là nó đã “nhiễm” “cái buồn thời đại”, cái “sầu
đô thị” trong màu sắc cổ kính Cái nhìn của kiểu nhà thơ ca trung đại thể hiện
rõ hơn hết là ở thể loại bát cú chẳng hạn như bài “ Cảm xuân” Tản Đà viết:
“Pháo đốt vui xuân rộn phố phường
Xuân về riêng cảm khách văn chương
Hồng phơi lóa mắt chùm hoa giấy, Trắng nhuộm phơ đầu mái tóc sương
Cành liễu đông tây cơn gió thổi,
Trang 36Con tằm sóng thác sợi tơ vương
Xuân này biết có hơn xuân trước, Hay nữa xuân tàn hạ lại sang
- Nhà thơ vũ trụ sống giữa núi sông,đất trời:
Đi vào thế giới thơ Tản Đà,chúng ta thấy thể hiện một kiểu nhà thơ trữ tình gián tiếp qua các yếu tố của vũ trụ như: non nước,bốn mùa,mây gió Qua tựa đề một loạt các bài thơ như: “Thề non nước”, “Trông giăng cảm tưởng”,
“Tây Hồ nguyệt vọng”, “Sầu xuân”, “Đêm đông hoài cảm”…
- Nhà thơ giải thoát bằng thơ rượu trước cuộc đời thay đổi:
Tản Đà tìm đến thơ rượu là có nhiều mục đích.Trong đó có hai mục đích chính là để giải thóat nỗi buồn và tận hưởng niềm vui.Quan hệ thơ và rượu là truyền thống tồn tại từ lâu của văn nhân Trung Quốc và Việt Nam.Nếu ở Trung Quốc Lí bạch là một nhà thơ-rượu điển hình còn thơ Việt Nam thì Cao bá Quát, Nguyễn Công Trứ,Tú Xương…là những nhà thơ đã từng có duyên nợ với rượu.Bởi lẽ rượu với thi nhân xưa là một chất xúc tác, là phương tiện để gây hưng phấn hay để tìm đến sự lãng quên trong thực tại Tản
Đà đã nối tiếp thi nhân xưa với hàng loạt các bài thơ ra đời để nói đến thơ rượu như: Ngày xuân thơ rượu,Thơ rượu, Cười bác Mai Lâm…
- Nhà thơ đi đầu bứt phá phạm trù thơ trung đại:
Nhiều nhà viết văn học trung đại như Trần Đình Hượu,Trần Đình Sử…
đã cho thấy sự tồn tại của một kiểu tác giả vào giai đoạn cuối văn học trung đại đã khẳng định mạnh mẻ ý thức cá nhân,tài năng và cá tính.Tuy nhiên do điều kiện thế giới quan phong kiến chưa thay đổi nên các tác giả chưa thể đẩy thơ ca sang một phạm trù khác.Tuy nhiên với sự xuất hiện của kiểu tác giả này đã làm cho văn học thay đổi một cách sâu sắc Có bốn yếu tố tạo nên sự độc đáo của kiểu nhà thơ này là:
+ Sự tạo ra cách nói riêng,giọng điệu riêng
+Tư tưởng tự do được phát huy ở mức độ cao
+ Gắn với tư tưởng tự do là sự xuất hiện của những cá tính “ngông”
Trang 37+ Nhu cầu giải phóng thơ ca khỏi những quy phạm về mặt hình thức đặc biệt “ ý thức tạo ra những giọng điệu cá nhân của giai đoạn văn học trung đại không hề là một hiện tượng ngẫu nhiên mà đã được các nhà thơ tài năng xem như một lối thoát,một hình thức quẫy đạp để phá chuẩn nhằm giải phóng năng lượng thơ ca” [11, tr.162 - 163] Tản Đà là một sự kết nối để kết thúc kiểu nhà thơ này,sau đó chuyển kiểu nhà thơ này sang kiểu nhà thơ hiện đại - mở đầu cho chủ nghĩa cá nhân lãng mạn hiện đại của văn học Việt Nam
Có thể nói, kiểu nhà thơ này từng tồn tại trong thế giới nghệ thuật của thơ Tản Đà một mặt lưu dấu vẻ đẹp “cổ kính” cũng như sự nối tiếp truyền thống của thơ ông,mặt khác ý thức “giải quy phạm” còn cho thấy cơ sở, nền tảng vững chắc cho sự ra đời kiểu nhà thơ hiện đại - một đóng góp to lớn của Tản Đà trong viếc đổi mới kiểu nhà thơ và trong quá trình hiện đại hóa thơ ca dân tộc
2.1.1.2 Đổi mới bằng hình thức tìm đến với thơ ca dân gian
Từ một nhà thơ trung đại,Tản Đà đã đến với thơ ca dân gian Theo các nhà nghiên cứu thơ ca dân gian thì yếu tố tạo nên tính đặc trưng của các sáng tác thơ ca dân gian là tính hồn nhiên và “thích hợp” Các tác giả dân gian thường sáng tác một cách tự nhiên, tùy hứng, tự do Tác phẩm của họ thường tồn tại dưới các dạng như: hát, ngâm, đọc, truyền miệng Đó là sự giãi bày trực tiếp nhất tình cảm, tâm tư, khát vọng của nhân dân lao động trong mọi hoàn cảnh.Chính vì thế mà người ta ví ca dao là “cây đàn muôn điệu” của trái tim quần chúng
Trong thời kì phong kiến,thơ ca dân gian ở một số phương diện nào đó vẫn được coi là đối lập với loại thơ ca có tính giáo huấn nặng tính duy lí,tính quy phạm: Đúng như nhà phê bình nghiên cứu văn học Trương Tửu từng nói:
“Trong lúc các tín đồ mê muội của nho giáo chịu sự hi sinh cá tính cho lễ nghi
xã hội,đa số dân chúng vẫn ồ ạt chạy theo tiếng gọi của tự nhiên Những phong dao,tự tình,những ca vè bỡn cợt, những lời thơ ai oán của thôn nữ nhỡ nhàng vê duyên kiếp…mà ta thường được nghe trong lũy tre xanh, đủ chứng
Trang 38tỏ rằng dân chúng Việt Nam vẫn khao khát sống một cuộc đời đầy đủ,lí thú hơn cái sống nhân tạo của nho giáo…” [16, tr.24]
Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu đã tìm đến thơ ca theo tinh thần trên đây
và đã tạo ra trong thơ mình một tiếng nói riêng,tự nhiên,tự do và phóng khoáng
Ngoài việc xác định các tính chất cơ bản của thơ ca dân gian thì các nhà yêu nước như Hoàng Trinh, Nguyễn Xuân Kính cũng cho thấy các dấu hiệu của thi pháp thơ ca dân gian được thể hiện trong cái nhìn,giọng điệu… của kiểu nhà thơ dân gian:
Giọng điệu của thơ ca dân gian, xét trong lời văn trong quan hệ với chủ thể của tác giả có tính chất: giãi bày, trách móc, thở than Xét lời văn trong quan hệ với người đọc thường có giọng điệu, ngữ điệu bình dân,mang tính tập thể
Cái nhìn của nhà thơ dân gian trước hết thể hiện trong sự tri giác,cảm giác,quan sát những hình ảnh quen thuộc, gần gũi trong cuộc sống hằng ngày.Nó chính là không gian trần thế,đời thường Đó là cái nhìn của nhân vật trữ tình chưa cá thể hóa, mang tâm trạng chung,tình cảm chung
Đặc điểm của các yếu tố trình bày trên đã cho thấy sự thể hiện mình thành hình tượng trong kiểu nhà thơ dân gian là còn mờ nhạt Trong thơ ca dân gian,tác giả với tư cách là một cá thể,một cái tôi trữ tình không được biểu lộ
Cũng giống như bao nhà thơ khác,tìm đến với thơ ca dân gian,Tản Đà cũng tuân thủ những đặc điểm của kiểu tác giả này.Mọt mặt kiểu nhà thơ dân gian trong thơ Tản Đà thể hiện ở phương diện như cái nhìn,giọng điệu…Mặt khác Tản Đà cũng phải tuân thủ các phép tắc của thơ ca dân gian như tuân theo các công thức,tứ thơ mẫu,khuôn hình,mô típ…Tài năng của Tản Đà là ở chỗ ông đã biết diễn tả được đúng nhất tư tưởng,tình cảm,tâm trạng của mình trong các chi tiết,tổ chức theo các mô hình được coi là “công thức” “khuôn mẫu” của kiểu nhà thơ dân gian
Trang 39Khảo sát thơ ca Tản Đà ta thấy những nội dung kiểu nhà thơ trên đây đã được Tản Đà thể hiên hầu hết ở các mảng thơ mà tập trung nhất là những mảng thơ ông gọi thẳng là dân ca,phong dao,sau đó là thơ ca lục bát của tản Đà
Kiểu nhà thơ dân gian trong thơ của Tản Đà trước hết thể hiện trong cái nhìn, sự tri giác, hướng về thế giới đa số quen thuộc, dân dã, đời thường
và mang đậm màu sắc Việt Nam gắn với thứ ngôn ngữ mộc mạc,giản di,bình dân.Vì vậy cuộc sống trong cái nhìn của thơ Tản Đà đã trở nên gần gũi xiết bao với người dân Việt Nam:
- “Con cò lăn lội bờ ao
Phất phơ đôi dải yếm đào gió bay.”
(phong dao 15)
- Hỡi cô yếm thắm kia là
Chồng cô cô bỏ,Ở nhà đi chơi,”
(phong dao 28)
- Người ta có vợ có chồng
Em như con sáo trong lồng kêu mai
Má đào gìn giữ cho ai Răng đen,đen quá cho hoài luống công.”
(phong dao 45)
- “Cô kia cắp nón đi đâu
Dưới ngực yếm trắng,trên đầu khăn đen.”
(phong dao 33)
- Ào ào tiếng suối bên tai
Lợn kêu eng éc bên ngoài cửa phên.”
(Đên ngủ ở nhà người Mãn Xiềng)
- Muốn ăn rau sắng chùa Hương
Tiền đò ngại tốn,con đường ngại xa
Mình đi ta lại ở nhà Cái dưa thì khú,cái cà thì thâm.”
(Rau sắng chùa Hương)
Trang 40Rõ ràng,với cái nhìn của kiểu nhà thơ dân gian,Tản Đà đã mang đến cho thơ mình một vẻ “ đẹp bình dân ”.Nhưng trên hết ở đó đã cho thấy một tâm hồn trong sáng,hồn nhiên, tự do, phóng khoáng của một hồn thơ bình dị gắn với con người, cảnh vật thiên nhiên rất thực cũng như nó mang đậm màu sắc dân tộc, hồn, thơ dân tộc trong thơ Tản Đà
Một điều dễ dàng nhận ra một biểu hiện rõ ràng và đầy đủ nhất là kiểu nhà thơ dân gian của Tản Đà đó chính là giọng điệu thơ dân gian Trên cơ sở của cái nhìn dân gian,Tản Đà đã tạo nên giọng điệu buồn, nhớ nhung, tâm sự, rãi bày
Nỗi buồn nhớ trong thơ Tản Đà nhờ giọng điệu dân gian đã trở nên gần gũi với tâm tình của những người dân lao động,diễn tả nỗi niềm tâm sự của họ.Chẳng hạn khi diễn tả nỗi nhớ người bạn văn chương, thơ rượu, nhưng một số bài thơ của Tản Đà không có giọng điệu “tao nhân mặc khách”,với ngôn ngữ trang trọng,cổ kính, chứa điển tích, điển cố nhưng trong kiểu tác giả nhà thơ cổ điển mà nỗi nhớ được bình dân hóa, bình dị hóa bằng giọng điệu gần gũi được tạo nên từ cách nói, từ ngữ nôm na, bình dị, ngôn ngữ lời nói hàng ngày được ông đưa vào trong thơ hết sức tự nhiên:
“Ngồi buồn nhớ bạn sông Thương
Nhớ ai ta nhớ,nhung đường thời xa Ước sao Thương nói sông Đà,
Ta buông chiếc lá,lên mà rượu thơ
Không đi để những ai chờ,
Mà ta thơ rượu bây giờ với ai!
Thơ đầy túi,rượu đầy nai
Đà,Thương đôi ngã cho người sầu thương
Nhớ ai là bạn văn chương, Cho ta bối rối vấn vương tơ lòng
Ngày xuân dê béo, rượu nồng Tiếc ai hỡi đôi dòng sông Hương.”
(Nhớ bạn sông Thương)