Do đó, nhiệm vụ đào tạo nghề sư phạm là sinh viên phải được trang bị hệ thống tri thức về khoa học giao tiếp, trong đó có giao tiếp sư phạm và KNGTSP, đồng thời mỗi sinh viên cần chủ độn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GI HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Ngọc Hùng
Hà Nội – 2017
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của tôi, các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực, kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó
Tôi xin chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Hà Nội, tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Chí
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng gửi tới GS.TS Lê Ngọc Hùng- người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi hoàn thành luận văn này với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Ban giám hiệu Trường Đại học Giáo dục, cán bộ và giảng viên Bộ môn Đo lường và đánh giá trong giáo Trường Đại học Giáo dục đã tạo mọi điều kiện cho tôi được học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo, giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Nha Trang; Ban lãnh đạo và giáo viên các trường mầm non ở tỉnh Khánh Hòa đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Do những hạn chế nhất định, luận văn không tránh khỏi các thiếu sót, tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp để luận văn hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Chí
Trang 5iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
6.1 Phương pháp thu thập thông tin 4
6.2 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 4
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐÁNH GIÁ KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Nghiên cứu về giao tiếp và giao tiếp sư phạm 6
1.1.2 Nghiên cứu về cấu trúc của kỹ năng giao tiếp sư phạm 8
1.1.3 Nghiên cứu về đo lường và đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm 11
1.2 Một số vấn đề lý luận về giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi 12
1.2.1 Giao tiếp và giao tiếp sư phạm 12
1.2.2 Giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi 15
1.2.2.1 Vài nét về đặc điểm ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi 15
Trang 7iv
1.2.2.2 Giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi 17
1.3 Kỹ năng giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi 19
1.3.1 Kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp sư phạm 19
1.3.2 Kỹ năng giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi 22
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi 23
1.4.1 Yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi 23
1.4.2 Yếu tố khách quan ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi 24
1.5 Đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 28
1.5.1 Khái niệm về đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm 28
1.5.2 Mục tiêu đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi 28
1.5.3 Một số yêu cầu khi đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 29
1.5.4 Nội dung đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi 30
1.5.5 Tiêu chí đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi 32
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 33
CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Phương pháp nghiên cứu 34
2.1.1 Chọn mẫu nghiên cứu 34
2.1.2 Phương pháp thu thập thông tin 34
2.1.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 36
2.2 Tổ chức nghiên cứu 36
2.2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 36
2.2.2 Quy trình tổ chức nghiên cứu 38
Trang 8iv
2.2.2.1 Giai đoạn nghiên cứu lý luận 38
2.2.2.2 Giai đoạn nghiên cứu thực tiễn 38
2.2.2.3 Giai đoạn xử lý số liệu và hoàn chỉnh luận văn 39
2.2.3 Thiết kế công cụ đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên 39
2.2.4 Thử nghiệm và điều chỉnh công cụ đánh giá 41
2.2.4.1 Thử nghiệm và điều chỉnh bảng hỏi sinh viên 41
2.2.4.2 Thử nghiệm và điều chỉnh bảng hỏi giáo viên 48
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 50
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51
3.1 Mức độ đạt được kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi 51
3.1.1 Mức độ đạt được kỹ năng định hướng giao tiếp 53
3.1.2 Mức độ đạt được kỹ năng định vị trong giao tiếp 55
3.1.3 Mức độ đạt được kỹ năng điều khiển đối tượng giao tiếp 57
3.1.4 Mức độ đạt được kỹ năng điều chỉnh bản thân chủ thể giao tiếp 58
3.1.5 Mức độ đạt được kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp 60
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi 63
3.2.1 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi 63
3.2.2 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi 64
3.2.3 Phân tích hồi quy về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi 65
3.3 Một số biện pháp sử dụng bộ công cụ đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 66
3.3.1 Đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên 66
3.3.2 Bồi dưỡng kiến thức cho sinh viên về giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi 67
Trang 9iv
3.3.3 Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo hướng phát
triển kỹ năng giao tiếp sư phạm cho sinh viên 69
3.3.4 Tăng cường rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ trong thời gian thực tập tại trường mầm non 70
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 72
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Phụ lục 1: BẢNG HỎI SINH VIÊN 80
Phụ lục 2: BẢNG HỎI GIẢNG VIÊN/GIÁO VIÊN 83
Phục lục 3: PHIẾU QUAN SÁT KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM 86
Phục lục 4: PHIẾU PHỎNG VẤN GIẢNG VIÊN/GIÁO VIÊN 87
Phục lục 5: PHIẾU PHỎNG VẤN SINH VIÊN 88
Phục lục 6: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỬ NGHIỆM BẢNG HỎI 89
Phục lục 7: MỘT SỐ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 95
Trang 10v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tiêu chí đánh giá mức độ đạt được KNGTSP của sinh viên với trẻ
mẫu giáo 40
Bảng 2.2 Độ hiệu lực của thang đo kỹ năng giao tiếp sư phạm 42
Bảng 2.4 Độ hiệu lực của thang đo kỹ năng giao tiếp sư phạm (điều chỉnh) 44 Bảng 2.5 Độ tin cậy của thang đo yếu tố chủ quan (điều chỉnh) 45
Bảng 2.7 Độ tin cậy của các yếu tố khách quan 46
Bảng 2.8 Độ tin cậy của các yếu tố khách quan (điều chỉnh) 47
Bảng 2.9 Độ hiệu lực của các yếu tố khách quan (điều chỉnh) 47
Bảng 2.10 Độ tin cậy và độ hiệu lực của thang đo KNGTSP 48
Bảng 2.11 Độ tin cậy và độ hiệu lực của thang đo các yếu tố chủ quan (điều chỉnh) 49
Bảng 2.12 Độ tin cậy và độ hiệu lực của thang đo các yếu tố khách quan 49
Bảng 3.1 Đánh giá chung về KNGTSP của sinh viên với trẻ mẫu giáo 51
Bảng 3.2 So sánh điểm trung bình giữa đánh giá của giáo viên và sinh viên về KNGTSP 52
Bảng 3.3 Đánh giá kỹ năng định hướng giao tiếp 53
Bảng 3.4 Đánh giá kỹ năng định vị trong giao tiếp 55
Bảng 3.5 Đánh giá kỹ năng điều khiển đối tượng giao tiếp 57
Bảng 3.6 Đánh giá kỹ năng điều chỉnh bản thân chủ thể giao tiếp 59
Bảng 3.7 Đánh giá kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp 60
Bảng 3.8 Phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến KNGTSP (lần 1) 65
Trang 11vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1 Điểm trung bình KNGTSP của sinh viên với trẻ mẫu giáo 52 Biểu đồ 2 So sánh điểm trung bình kỹ năng định hướng giao tiếp 54 Biểu đồ 3 So sánh điểm trung bình kỹ năng định vị trong giao tiếp 56 Biểu đồ 4 So sánh điểm trung bình kỹ năng điều khiển đối tượng giao tiếp 58 Biểu đồ 5 So sánh điểm TB kỹ năng điều chỉnh bản thân chủ thể giao tiếp 60 Biểu đồ 6 So sánh điểm trung bình kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp 61
Trang 12Trong giáo dục, giao tiếp có vai trò quan trọng trong hoạt động dạy học
và được xem là thành phần chủ đạo trong cấu trúc năng lực sư phạm của người giáo viên Kết quả dạy học và giáo dục phù thuộc phần lớn vào năng lực sư phạm, đặc biệt là KNGTSP của giáo viên Do đó, nhiệm vụ đào tạo nghề sư phạm là sinh viên phải được trang bị hệ thống tri thức về khoa học giao tiếp, trong đó có giao tiếp sư phạm và KNGTSP, đồng thời mỗi sinh viên cần chủ động trang bị cho bản thân các KNGTSP để có thể giáo tiếp hiệu quả với người học [5][7][10]
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên, tạo nền tảng của việc hình thành nhân cách của trẻ em Ở độ tuổi mẫu giáo, trẻ em có nhu cầu giao tiếp cao và
là giai đoạn có sự phát triển ngôn ngữ và giao tiếp diễn ra rất nhanh [43][53] Tuy nhiên, ngôn ngữ trẻ chưa phát triển đầy đủ nên đôi khi trẻ gặp khó khăn trong giao tiếp với người khác Do đó, để giao tiếp với trẻ đạt kết quả, SV cần phải hiểu được những đặc điểm tâm sinh lý nói chung và đặc điểm ngôn ngữ
và giao tiếp của trẻ mẫu giáo nói riêng, biết điều khiển-điều chỉnh trình độ giao tiếp của bản thân phù hợp với khả năng tiếp thu của trẻ mẫu giáo
Để rèn luyện và phát triển KNGTSP cho SV thì không thể thiếu được thông tin về mức độ đạt được KNGTSP của mỗi em và thông tin về hiện trạng giáo dục và rèn luyện KNGTSP ở mỗi cơ sở đào tạo giáo viên Do đó, việc đo lường và đánh giá chính xác, khách quan KNGTSP của SV là rất cần thiết, kết
Trang 132
quả đánh giá KNGTSP là cơ sở để xây dựng chuẩn đầu ra và chương trình đào tạo, tổ chức các hoạt động đào tạo, kiểm tra đánh giá, nhằm rèn luyện
và phát triển KNGTSP cho sinh viên
Giao tiếp nói chung và giao tiếp sư phạm nói riêng là một phạm trù rộng,
có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau bàn về bản chất, vai trò của giao tiếp và giao tiếp sư phạm, tiêu biểu là L.X.Vưgotxki (1938), A.A.Leonchiev (1978), Lary King (2008), Dale Carnegie (2015), Hoàng Anh (1991, 1992, 1995), Ngô Công Hoàn (1992), Nguyễn Văn Lê (1997, 1999, 2006), Nguyễn Bá Minh (2013) [1][15][31][32][33][36][38] Nghiên cứu về cấu trúc và thực trạng KNGTSP của học sinh hoặc sinh viên như V.P Dakharov, A.A.Leochiev (1979) [1], Hoàng Thị Anh (1992), Nguyễn Văn Đính (1997) [6]; Nguyễn Đình Chỉnh và Phạm Ngọc Uyển (1998), Nguyễn Văn Lũy và Lê Quang Sơn (2015)
[35]; Châu Thuý Kiều (2010), Lê Quang Sơn-Nguyễn Thị Diễm (2008), Lô Thị
Na (1999), Lò Thị Mai Thoan (2005) [29][38][41][47] Nghiên cứu về giao tiếp
sư phạm và KNGTSP của giáo viên mầm non của Ngô Công Hoàn (1995), Nguyễn Ngọc Trinh (2013) [21][52]; về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển
kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo của Nguyễn Thị Bích Cẩm (2014) [13] Ở Việt Nam, ít có nghiên cứu về xây dựng công cụ đo lường và đánh giá KNGTSP của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
Với mục đích xây dựng bộ công cụ đo lường, đánh giá biểu hiện và mức độ đạt được KNGTSP của sinh viên với trẻ mẫu giáo, từ đó đề xuất biện
pháp rèn luyện KNGTSP cho sinh viên, chúng tôi chọn vấn đề “Đánh giá kỹ
năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi” làm luận
văn nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm xây dựng bộ công
cụ đo lường KNGTSP của sinh viên với trẻ mẫu giáo, sử dụng bộ công cụ này
để đo lường và đánh giá KNGTSP của sinh viên với trẻ mẫu giáo, lý giải nguyên nhân thực trạng và đề xuất một số biện pháp ứng dụng bộ công cụ này
Trang 143
trong việc rèn luyện KNGTSP cho sinh viên
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
3.2 Khách thể nghiên cứu
Sinh viên chuyên ngành giáo dục mầm non
4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Có thể đo lường, đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi thông qua các kỹ năng thành phần nào?
- Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi ở mức độ nào?
- Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi?
4.2 Giả thuyết khoa học
- Có thể đo lường và đánh giá KNGTSP của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi thông qua các kỹ năng thành phần sau: kỹ năng định hướng giao tiếp,
kỹ năng định vị trong giao tiếp, kỹ năng điều khiển đối tượng giao tiếp, kỹ năng điều chỉnh bản thân chủ thể giao tiếp và kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp
- Thông qua ý kiến tự đánh giá của sinh viên, đánh giá của giáo viên và giảng viên, KNGTSP của SV với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi ở mức độ trung bình
- Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi bao gồm yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan, trong đó yếu tố chủ quan có ảnh hưởng mạnh hơn yếu tố khách quan
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lý luận về đánh giá KNGTSP của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
5.2 Khảo sát, đánh giá mức độ đạt được KNGTSP của sinh viên với trẻ
Trang 154
mẫu giáo 3-6 tuổi và lý giải nguyên nhân thực trạng
5.3 Đề xuất một số biện pháp rèn luyện KNGTSP của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thu thập thông tin
- Thu thập thông tin bằng phương pháp định tính:
+ Phương pháp hồi cứu tài liệu;
+ Phương pháp phỏng vấn sâu;
+ Phương pháp quan sát
- Thu thập thông tin bằng phương pháp định lượng:
+ Khảo sát bằng bảng hỏi
6.2 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin
- Phương pháp xử lý thông tin: Làm sạch dữ liệu và cấu trúc dữ liệu phù hợp mục đích nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp phân tích thông tin:
+ Mã hóa, nhập số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS bản 20.0;
+ Thực hiện các thống kê mô tả và thống kê suy luận
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
7.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và đánh giá KNGTSP của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi; yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến KNGTSP của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi; đề xuất một số biện pháp rèn luyện KNGTSP của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi nhưng chưa tiến hành thử nghiệm các biện pháp này
7.2 Giới hạn về khách thể khảo sát và địa bàn khảo sát
- Sinh viên năm cuối hệ chính quy cao đẳng sư phạm mầm non, năm học 2016-2017 tại Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Nha Trang
- Giảng viên tham gia giảng dạy sinh viên chuyên ngành giáo dục mầm non của Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Nha Trang
Trang 168 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 176
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐÁNH GIÁ KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu về giao tiếp và giao tiếp sư phạm
Giao tiếp là một phạm trù rộng, có rất nhiều quan điểm khác nhau về
giao tiếp, và hướng nghiên cứu khác nhau bàn về vấn đề giao tiếp
a) Hướng nghiên cứu về cấu trúc của giao tiếp
Nhìn nhận giao tiếp dưới góc độ lý thuyết thông tin và điều khiển học, giao tiếp được mô tả gồm các yếu tố cấu thành khác nhau Theo Wiener (1947), mô hình giao tiếp gồm 5 yếu tố: bộ phát, bộ thu, bản thông điệp, thông tin ngược, điều chỉnh Nhà xã hội học, điều khiển học người Mỹ Laswell (1948) cho rằng: giao tiếp sư phạm với tư cách là một quá trình thông tin phải trả lời các câu hỏi sau: ai nói?, nói gì?, cho ai?, bằng phương tiện gì?, đưa lại hiệu quả gì?, trên cơ sở đó ông đề xuất mô hình 5 yếu tố gồm: bộ
phát, mã hóa, kênh, giải mã, bộ thu [17]
Theo Jacobson (1961) đưa ra mô hình giao tiếp theo cấu trúc gồm 6 yếu tố: người truyện tin, người nhận tin, bản thông điệp, bộ mã, sự tiếp xúc và bối cảnh giao tiếp Năm 1975, G.Thines nêu lên mô hình 5 yếu tố gồm: bộ phát,
mã hóa, kênh, giải mã, bộ thu Mô hình 9 yếu tố: bộ phát, bộ thu, thông điệp, kênh, mã hóa, tiếng ồn, phản hồi, giải mã và đáp lại được xem là mô hình phổ
biến hiện nay [25]
b) Hướng nghiên cứu về bản chất và vai trò của giao tiếp, có nhiều
quan điểm khác nhau về vấn đề này:
- Một số quan điểm của các nhà tâm lý học phương Tây xem giao tiếp
chủ yếu theo khía cạnh thông tin, thông báo và truyền thông Theo
E.E.Acgyet nhà tâm lý học Mỹ cho rằng: giao tiếp là quá trình truyền và tiếp nhận và trao đổi thông tin giữa con người với nhau M.Acgain nhà tâm lý học người Anh xem giao tiếp là một quá trình thông báo, thiết lập sự tiếp xúc và
Trang 187
trao đổi thông tin T.Stecren nhà tâm lý học người Pháp xem giao tiếp là sự trao đổi ý nghĩ, tình cảm, cảm xúc giữa con người với nhau [32]
- Các nhà tâm lý học Xô Viết coi giao tiếp là một phạm trù tâm lý khá
cơ bản của đời sống con người, của mối quan hệ giữa người với người, tiểu
biểu là L.X.Vưgotxki, X.L Rubinstein Theo L.X.Vưgotxki, giao tiếp là mối quan hệ qua lại giữa con người với con người như là sự trao đổi về quan điểm
+ Quan điểm của phái B.Ph.Lomov cho rằng: không nên coi giao tiếp là một dạng hoạt động, mà nên coi là một phạm trù độc lập, một phạm trù đồng đẳng với phạm trù hoạt động, bởi vì giao tiếp thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể-chủ thể, hoạt động phản ánh mối quan hệ chủ thể-khách thể
Một số tác giả về sau có quan điểm hoàn chỉnh hơn về bản chất của giao tiếp, đó là quá trình trao đổi thông tin, mặt tri giác và tác động qua lại giữa con người và con người, tiểu biểu cho quan điểm này là B.D.Pareghin, G.M.Andreva, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quan Uẩn, Trần Trọng Thủy và Nguyễn Sinh Huy,…
B.D.Pareghin cho rằng: giao tiếp là quá trình tác động lẫn nhau, trao đổi thông tin, ảnh hưởng lẫn nhau, hiểu biết lẫn nhau
Theo G.M.Andreva, giao tiếp ba mặt quan hệ hữu cơ với nhau bao gồm: mặt thông tin, mặt tri giác con người, mặt tác động qua lại giữa con người và con người
Nghiên cứu về vai trò của giao tiếp đối với con người, có một số quan điểm sau: Giao tiếp là điều kiện thực hiện việc giáo dục, truyền đạt kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác (V.M Becherep, 1921); giao tiếp là
Trang 198
điều kiện cho bất cứ hoạt động nào của con người (A.A.Leonchiev, 1978); xem giao tiếp là sự trao đổi thông tin giữa con người với nhau và sự trao đổi thông tin này gọi là tiếp xúc (K.K.Platonow, 1981) [1][2]
Như vậy, giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin, tình cảm, tri giác lẫn nhau và tác động qua lẫn nhau
c) Nghiên cứu về giao tiếp sư phạm
A.A.Leochiev (1979), V.A Kruchetxki (1980), Polotnhicova (1980) và A.V.Pêtrovxki (1982) đã chỉ ra các đặc trưng của của giao tiếp sư phạm, nhân cách trong cấu trúc giao tiếp sư phạm, quá trình giao tiếp sư phạm và kỹ năng giao tiếp sư phạm của GV với học sinh Kế thừa kết quả nghiên cứu trên, các tác giả Trần Trọng Thủy (1985); Ngô Công Hoàn (1992); Ngô Công Hoàn và Hoàng Anh (1999); Hoàng Anh (1997) tập trung phân tích các quan hệ giao tiếp và ảnh hưởng của giao tiếp tới sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh ở các lứa tuổi khác nhau, mối quan hệ qua lại giữa hoạt động chủ đạo và giao tiếp trong mỗi hoạt động đó [2][4] Ngoài ra, còn phải còn một số nghiên cứu về những trở ngại tâm lí trong giao tiếp sư phạm (Sakanova ,1985; Nguyễn Thanh Bình, 1997), về nhu cầu giao tiếp của sinh viên sư phạm (Nguyễn Thanh Bình, 1991) [11]; đặc điểm giao tiếp của học sinh dân tộc Mường (Phạm Song Hà, 2012) [18]
Nghiên cứu về giao tiếp trong giáo dục mầm non được tác giả Ngô Công Hoàn (1997), Lê Xuân Hồng và Vũ Thị Ngân (2000, 2004), Nguyễn Ngọc Trinh (2013), Nguyễn Thị Bích Cẩm (2014), cập đến vấn đề như những đặc điểm phát triển nhu cầu giao tiếp của trẻ mầm non, đặc điểm giao tiếp sư phạm của người lớn với trẻ, những nguyên tắc và phương thức giao tiếp ứng xử giữa cô giáo và trẻ mầm non, về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ mẫu giáo [13][21][24][51]
1.1.2 Nghiên cứu về cấu trúc của kỹ năng giao tiếp sư phạm
Theo tác giả, Nguyễn Quang Uẩn, nghiên cứu cấu trúc KNGTSP dưới góc độ tâm lý học được nhìn nhận ở hai phương diện sau:
Trang 209
- Phương diện thứ nhất xem cấu trúc KNGTSP gồm hai cấp độ: cấp độ tri thức và cấp độ thao tác, hành động Ở cấp độ tri thức, chủ thể giao tiếp vận dụng tri thức về khoa học giao tiếp vào việc thiết lập và duy trì mối quan hệ giữa con người với con người Ở cấp độ thao tác, hành động: chủ thể giao tiếp tiến hành các hành động, thao tác giao tiếp có ý thức phù hợp với điều kiện thực tiễn [54]
- Phương diện thứ hai: KNGTSP có cấu trúc phức tạp gồm nhiều nhóm
kỹ năng thành phần, căn cứ vào quá trình giao tiếp, các bước tiến hành một pha giao tiếp mà mỗi tác giả đưa ra các nhóm KNGTSP khác nhau, dưới đây
là một số quan điểm tiêu biểu:
A.A.Leochiev (1979) đã đưa ra các KNGTSP gồm: kỹ năng điều khiển hành vi bản thân; kỹ năng quan sát; kỹ năng nhạy cảm xã hội; kỹ năng đọc, hiểu, mô hình hóa nhân cách học sinh; kỹ năng làm gương cho học sinh noi theo; kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ, kỹ năng kiến tạo sự tiếp xúc; kỹ năng nhận thức [1]
I.P Dakharov dựa vào trật tự các bước tiến hành một pha giao tiếp gồm 4 nhóm kỹ năng thành phần như: kỹ năng đóng vai trò tích cực, chủ động trong giao tiếp; kỹ năng thể hiện sự thụ động trong giao tiếp; kỹ năng điều khiển, điều chỉnh, cân bằng trong giao tiếp; kỹ năng diễn đạt cụ thể, dễ hiểu trong giao tiếp [33]
A.Cubanova và Ph.M.Rakhmatylina cho rằng: có 3 nhóm kỹ năng giao tiếp, gồm nhóm kỹ năng định hướng trước khi giao tiếp, nhóm kỹ năng tiếp xúc xảy ra trong quá trình giao tiếp, nhóm kỹ năng hướng quá trình giao tiếp đến các định hướng giá trị khác nhau [31][32]
Tùy thuộc vào từng đối tượng giao tiếp cụ thể mà các nghiên cứu sau này nhấn mạnh hoặc bổ sung một số KNGTSP cụ thể Tác giả Hoàng Anh (1992) cho rằng, “giao tiếp sư phạm là bộ phận cấu thành nên năng lực sư
phạm của người giáo viên” [5] Trong cấu trúc nhân cách của người thầy, xét
về mặt năng lực, một trong những năng lực người giáo viên cần phải có đó là
Trang 2110
năng lực giao tiếp với học sinh và phụ huynh Theo tác giả Hoàng Thị Anh (1992), KNGTSP gồm 3 nhóm kỹ năng: nhóm kỹ năng định hướng, nhóm kỹ năng điều khiển đối tượng giao tiếp bản thân và đối phương [6]; kỹ năng định hướng, kỹ năng định vị, kỹ năng điều khiển giao tiếp (Lê Xuân Hồng, 2000) [24]; biết định hướng, hiểu được các dấu hiệu bên ngoài của ngôn ngữ trong giao tiếp, biết điểu khiển quá trình giao tiếp (Nguyễn Đình Chỉnh-Phạm Ngọc Uyển, 1998); kỹ năng định hướng, kỹ năng định vị, kỹ năng điều chỉnh/điều khiển quá trình giao tiếp, kỹ năng điều khiển bản thân, kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp, kỹ năng ứng xử sư phạm khéo léo (Nguyễn Văn Lũy và
Lê Quang Sơn, 2015) [35] Theo Nguyễn Bá Minh (2013), căn cứ vào một quá trình giáo tiếp gồm các kỹ năng như nhóm kỹ năng lập kế hoạch giao tiếp, nhóm kỹ năng thực hiện kế hoạch giáo tiếp và nhóm kỹ năng kết thúc-đánh giá cuộc giao tiếp [37]
Mặc dù có sự khác biệt trong phân chia KNGTSP thành các kỹ năng thành phần nhưng hầu hết các tác giả đều nhất trí rằng, việc phân chia các KNGTSP nói trên chỉ có tính chất tương đối, giữa các kỹ năng có quan hệ mật thiết, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, là cơ sở của nhau, giúp cho quá trình giao tiếp diễn ra tốt đẹp, đem lại hiệu quả cao
Như vậy, các nghiên cứu trên cho thấy, mặc dù sử dụng tên gọi khác nhau nhưng cấu trúc KNGTSP gồm 3 nhóm kỹ năng cơ bản: nhóm kỹ năng định hướng, nhóm kỹ năng định vị và nhóm kỹ năng điều khiển, điều chỉnh quá trình giao tiếp Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiếp tục kế thừa việc phân chia cấu trúc KNGTSP thành 3 nhóm kỹ năng nêu trên, đồng thời để thuận tiện cho việc đo lường và đánh giá, chúng tôi chia nhóm kỹ năng điều khiển, điều chỉnh quá trình giáo tiếp thành các nhóm kỹ năng điều khiển đối tượng giao tiếp đối tượng giao tiếp, điều chỉnh bản thân chủ thể giao tiếp và
kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp
Trang 2211
1.1.3 Nghiên cứu về đo lường và đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm
V.P Dakharov đã xây dựng trắc nghiệm kỹ năng giao tiếp gồm 80 items (câu hỏi tình huống) để đo lường 10 nhóm KNGT sau:
1 Kỹ năng tự kiềm chế và kiểm tra đối tượng giao tiếp (Ae);
2 Kỹ năng thuyết phục đối tượng giao tiếp (Ah);
3 Kỹ năng chủ động, điều khiển quá trình giao tiếp (Ai);
4 Kỹ năng nghe đối tượng giao tiếp (Bc);
5 Kỹ năng thể hiện sự nhạy cảm trong giao tiếp (Bj);
6 Kỹ năng tiếp xúc, thiết lập mối quan hệ (Ca);
7 Kỹ năng cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng giao tiếp (Cb);
8 Kỹ năng tự chủ cảm xúc, hành vi (Cd:);
9 Kỹ năng thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo trong giao tiếp (Cg);
10 Kỹ năng diễn đạt cụ thể, mạch lạc, dễ hiểu (Df)
Mỗi nhóm kỹ năng nêu trên gồm 8 câu hỏi, mỗi câu hỏi có ba hình thức cho điểm: 0 điểm: Không có dấu hiệu của kỹ năng tương ứng; 1 điểm: Kỹ năng xuất hiện không thường xuyên hoặc đôi khi; 2 điểm: Kỹ năng tương ứng được thể hiện trong nhiều trường hợp, thường xuyên Dựa vào tổng điểm của từng nghiệm thể hay KNGT để xếp mức độ giao tiếp theo 5 mức độ: thấp, trung bình thấp, trung bình, trung bình cao và cao
Trắc nghiệm của ông được nhiều tác giả sau này đề cập đến trong các tài liệu giao tiếp sư phạm để cho SV tự đánh giá KNGTSP của bản thân, tiểu biểu là Hoàng Anh-Vũ Kim Thanh (1995), Ngô Công Hoàn-Hoàng Anh (2002), Nguyễn Văn Lê (2006), Nguyễn Văn Lũy-Lê Quang Sơn (2015),
Các nghiên cứu của Đỗ Văn Thông (1999), Lê Quang Sơn và Nguyễn Thị Diễm (2008), Trịnh Thị Ngọc Thìn (1996), đã sử dụng trắc nghiệm V.P Dakharov để đo lường KNGTSP của sinh viên sư phạm Kết quả nghiên cứu cho rằng: mức độ đạt được các kỹ năng giao tiếp không đồng đều, đa số sinh viên sư phạm có kỹ năng giao tiếp ở mức độ trung bình [41]
Trang 2312
Các tác giả khác như Lô Thị Na (2001), Lò Mai Thoan (2001), Phạm Song Hà (2012) cũng sử dụng trắc nghiệm Dakharov để đo lường và đánh giá KNGTSP của giáo sinh hoặc học sinh người dân tộc thiểu số Kết quả cho thấy, học sinh-sinh viên viên dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn về KNGTSP, nhất là kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp ngôn ngữ tiếng Việt (không phải là tiếng mẹ đẻ của các em) [18][38][47] Tác giả Nguyễn Ngọc Trinh (2013) đánh giá KNGTSP của GV với trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi, kết quả:
kỹ năng định hướng, kỹ năng định vị đều ở mức trung bình, kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp đạt mức thấp [52]
Ngoài ra, các trong các tài liệu về giao tiếp sư phạm của các tác giả Ngô Công Hoàn-Hoàng Anh (2002), Nguyễn Văn Lê (2006), Nguyễn Văn Lũy-Lê Quang Sơn (2015) đã đưa ra các bài tập tình huống để sinh viên tự đánh giá và rèn luyện kỹ năng giao tiếp của bản thân
Tóm lại, các nghiên cứu về đo lường và đánh giá KNGTSP của SV hoặc giáo viên chủ yếu sử dụng trắc nghiệm đã được chuẩn hóa và hầu hết tiến hành ở việc mô tả thực trạng, ít có nghiên cứu lý giải nghiên nhân thực trạng và xây dựng công cụ để đo lường và đánh giá KNGTSP Hiện tại, ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về xây dựng công cụ để đo lường và đánh giá KNGTSP của SV với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi Vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề
“Đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6
tuổi” làm luận văn nghiên cứu Kết quả nghiên cứu sẽ được ứng dụng vào
việc rà soát, điều chỉnh chuẩn đầu ra và chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao KNGTSP cho sinh viên
1.2 Một số vấn đề lý luận về giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi 1.2.1 Giao tiếp và giao tiếp sư phạm
a) Giao tiếp là gì?
Giao tiếp là một phạm trù rộng, là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học, vì vậy có nhiều quan niệm khac nhau về giao tiếp, xin đơn cử một số quan niệm cơ bản như sau:
Trang 2413
- Theo tác giả Lomov, giao tiếp là một dạng hoạt động đặc biệt phản ảnh mối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội [26] Còn A.A.Leonchiev cho rằng, giao tiếp là một dạng hoạt động, là phương tiện và điều kiện của hoạt động [1]
- L.X.Vưgotxki cho rằng: Hoạt động giao tiếp thiết lâp mối quan hệ
giữa người với người và tạo nên bản chất người [36]
- Từ điển Tâm lý học: “Giao tiếp là quá trình thiết lập và phát triển
tiếp xúc giữa các cá nhân, xuất phát từ nhu cầu phối hợp hành động Giao tiếp gồm hàng loạt các yếu tố như trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược hoạt động thống nhất, tri giác và tìm hiểu người khác Giao tiếp có ba khía cạnh chính là giao lưu, tác động tương hỗ và tri giác” [55]
- Nhìn nhận giao tiếp ở góc độ thiết lập và vận hành mối quan hệ người
– người, hiện thực hóa các mối quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác tác giả Nguyễn Quang Uẩn khẳng định: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý
giữa người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin,
về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau” [54]
Từ những quan niệm trên cho thấy, giao tiếp có những đặc trưng sau:
- Giao tiếp là nhu cầu tất yếu, đặc trưng của xã hội loài người, chỉ có ở con người và chỉ được diễn ra trong xã hội loài người
- Thông qua giao tiếp, con người trao đổi về thông tin, cảm xúc và ảnh hưởng lẫn nhau
- Giao tiếp diễn ra trong bối cảnh xã hội cụ thể và chịu sự tác động của các yếu tố văn hóa xã hội
- Giao tiếp vừa mang tính xã hội vừa mang tính cá nhân, không chỉ xảy
ra trong hiện tại mà còn trong quá khứ và tương lai
- Con người sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để giao tiếp, do đó, khả năng giao tiếp của con người phụ thuộc vào vốn tri thức, vốn kinh nghiệm sống và kỹ năng giao tiếp
Trang 2514
Giao tiếp có các chức năng cơ bản là: thông tin, cảm xúc, nhận thức lẫn nhau và đánh giá lẫn nhau, điều chỉnh hành vi và phối hợp hoạt động
Như vậy, giao tiếp là quá trình quan hệ, tác động qua lại giữa con
người và con người, trong quá trình này con người trao đổi với nhau thông tin, cảm xúc, nhận thức, đánh giá lẫn nhau, điều chỉnh hành vi lẫn nhau
b) Giao tiếp sư phạm
Đa số các tác giả khi nghiên cứu về giao tiếp sư phạm, đều khẳng định: Giao tiếp sư phạm là giao tiếp mang tính nghề nghiệp giữa giáo viên và học sinh; giao tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng của giao tiếp trong hoạt động giáo dục và dạy học Cụ thể:
A.N.Leonchiev đã khẳng định: “Giao tiếp sư phạm là giao tiếp có tính nghề nghiệp của giáo viên với học sinh ở trên lớp và ngoài giờ lên lớp, giao tiếp sư phạm là điều kiện đảm bảo hoạt động sư phạm” [24]
A.P.Levitov cho rằng: “Giao tiếp sư phạm là năng lực truyền đạt tri
thức cho trẻ bằng cách trình bày rõ ràng, hấp dẫn, ngắn gọn” [31]
E.V.Sukhanova, X.L.Rubinstein nhấn mạnh đến vai trò của giao tiếp sư phạm trong hoạt động dạy học: Giao tiếp là một phương thức chủ yếu tác động lên các quan hệ của học sinh, có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách, phát triển nhận thức và tính xã hội cho học sinh và tập thể học sinh; hay hoạt động của nhà giáo dục không thể thực hiện bằng một phương tiện nào khác ngoài giao tiếp [1][35]
Ngô Công Hoàn cho rằng: “Giao tiếp sư phạm là sự tiếp xúc giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền đạt và lĩnh hội những tri thức khoa học, vốn sống vốn kinh nghiệm, kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp, xây dựng và phát triển
nhân cách toàn diện ở học sinh” [22]
Lê Xuân Hồng quan niệm: Giao tiếp sư phạm diễn ra trong điều kiện của hoạt động sư phạm, là sự tiếp xúc, trao đổi giữa người dạy và người học bằng các phương tiện giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ giáo dục [24]
Trang 2615
Tác giả Nguyễn Văn Lũy và Lê Quang Sơn cho rằng: “Giao tiếp sư phạm là giao tiếp có tính nghề nghiệp giữa giáo viên với học sinh trong quá trình giáo dục, có chức năng sư phạm nhất định, tạo ra các tiếp xúc tâm lý, xây dựng bầu không khí tâm lý thuận lợi cùng các quá trình tâm lý khác (chú
ý, tư duy…) tạo ra kết quả tối ưu của quan hệ thầy trò hoạt động dạy và hoạt
động học cũng như trong nội bộ tập thể học sinh” [35]
Tóm lại, giao tiếp sư phạm không chỉ là quá trình trao đổi thông tin giữa thầy và trò mà còn là quá trình ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau giữa thầy và trò trong hoạt động dạy học và giáo dục; giao tiếp sư phạm đóng vai trò là phương tiện quan trọng bậc nhất cho việc thực thi các nhiệm vụ dạy học; giao tiếp sư phạm là thành phần căn bản của năng lực sư phạm
1.2.2 Giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
1.2.2.1 Vài nét về đặc điểm ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
Trẻ em khi chào đời chưa biết nói, chúng chỉ biết khóc để thể hiện những nhu cầu của bản thân Tuy nhiên, khoảng 5 – 6 tuổi trẻ đã có khả năng
sử dụng được ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ gần giống như người lớn Thông qua ngôn ngữ, trẻ không chỉ hiểu được lời nói của người lớn mà trẻ còn biết sử dụng ngôn ngữ làm công cụ để giao tiếp và biểu lộ những suy nghĩ và tình cảm của bản thân mình với mọi người xung quanh (Lee Sung Hoan, 1996; Ginsberg, 1997; Bloom & Lahey, 1978) Ngôn ngữ của trẻ MG phát triển nhanh và hoàn chỉnh dần theo độ tuổi, chịu sự chi phối và tác động trực tiếp bởi các yếu tố tâm lý, sinh lý, môi trường và điều kiện giáo dục [19][53]
- Về khả năng nghe hiểu lời nói: số lượng và các kiểu loại từ trẻ có thể
nghe hiểu ngày càng tăng dần theo độ tuổi Ban đầu, trẻ hiểu được các từ cụ thể, sau đó hiểu được các từ trừu tượng, khái quát Trẻ có thể nghe hiểu các câu có cấu trúc từ đơn giản đến phức tạp dần theo độ tuổi Đến cuối tuổi MG, trẻ có khả năng nghe hiểu các câu dài, cấu trúc ngữ pháp phức tạp Sự phát triển về khả năng nghe hiểu lời nói của trẻ qua các giai đoạn nói trên cho thấy trẻ cuối giai đoạn tuổi MG đã có thể nghe hiểu và sử dụng được tiếng mẹ đẻ
Trang 2716
để giao tiếp với mọi người xung quanh theo đúng chuẩn mực trong xã hội; trẻ
đã có thể hiểu nghĩa được rất nhiều từ vựng và biết sử dụng các từ đó để tạo câu theo đúng cấu trúc ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ và sử dụng được các câu đó trong giao tiếp với mọi người xung quanh trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày một cách tích cực và chủ động
- Về khả năng sử dụng lời nói: Trẻ thường phát âm sai các thanh ngã và
hỏi, các âm đầu khó phát âm, âm đệm và âm cuối ch, nh; riêng đối với âm chính trẻ thường phát âm sai nguyên âm đôi Mỗi trẻ thường hay nói sai một hoặc một số âm riêng, thể hiện những đặc điểm riêng của từng trẻ trong quá trình phát âm Càng ngày khả năng phát âm của trẻ càng hoàn thiện dần, đến cuối 6 tuổi về cơ bản trẻ đã có thể phát âm đúng các âm của tiếng mẹ đẻ [43]
Vốn từ của trẻ tăng dần theo độ tuổi: Giai đoạn đầu độ tuổi mẫu giáo
bé, trẻ sử dụng các từ mang nghĩa cụ thể, sau đó phát triển lên những từ mang nghĩa trừu tượng, khái quát Từ loại ban đầu trẻ có là danh từ, động từ, tiếp đó
là các loại tính từ, số từ, đại từ và các hư từ Tỉ lệ danh từ và động từ giảm dần theo sự lớn lên của trẻ, nhường chỗ cho tỉ lệ các từ loại khác tăng lên Đặc điểm này hoàn toàn phù hợp với quá trình phát triển nhận thức của trẻ mẫu giáo
Câu của trẻ tăng dần số lượng từ, các thành phần câu cũng như sự phức tạp về mặt cấu trúc theo độ tuổi Đến 5 – 6 tuổi, trẻ có thể sử dụng đầy đủ các loại câu theo mục đích nói và theo cấu trúc ngữ pháp Trẻ càng lớn số lượng câu cụt, câu thiếu thành phần giảm dần, số lượng câu ghép tăng lên
Ở trẻ cuối giai đoạn tuổi MG, sự phát triển ngôn ngữ của trẻ về mặt khả năng nghe hiểu lời nói và khả năng sử dụng lời nói chưa phải là giai đoạn đạt tới sự hoàn thiện về ngôn ngữ, nó chỉ được coi là thời kỳ quan trọng mang tính chất nền tảng để phát triển những năng lực ngôn ngữ cơ bản của trẻ em Người lớn cần phải nắm vững được đặc điểm và khả năng phát triển về mặt ngôn ngữ của trẻ ở từng giai đoạn tuổi MG để từ đó có cách thức giao tiếp phù hợp
Trang 2817
1.2.2.2 Giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
a) Khái niệm giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
Theo tác giả Lê Xuân Hồng: “Giao tiếp sư phạm trong hoạt động của giáo viên mầm non là hệ thống sự tác động qua lại giữa giáo viên mầm non và trẻ nhằm mục đích hiểu biết về trẻ, tổ chức các mối quan hệ qua lại có tính mục đích giáo dục rõ ràng, hình thành bầu không khí thuận lợi cho sự phát triển của trẻ” [24] Khái niệm này nhấn mạnh đến mối quan hệ qua lại giữa giáo viên với trẻ trong tổ chức các hoạt động có mục đích giáo dục ở trường mầm non
Chúng tôi cho rằng, giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi là loại
giao tiếp có tính nghề nghiệp diễn ra trong hoạt động chăm sóc và giáo dục chủ yếu giữa giáo viên và trẻ, tạo ra sự tiếp xúc tâm lý, tác động tới nhận thức, tình cảm và hành vi ở trẻ nhằm đạt mục tiêu chăm sóc và giáo dục
b) Những đặc trưng của giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
Giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo có những đặc trưng cơ bản sau:
- Giao tiếp sư phạm mang tính chuẩn mực (mẫu mực): Tính chuẩn mực
là yêu cầu bắt buộc trong giao tiếp sư phạm Khi giao tiếp với trẻ, người giáo viên phải mẫu mực trong cử chỉ, lời nói và việc làm; đòi hỏi tính nghệ thuật ứng xử sư phạm khéo khéo
- Trong giao tiếp sư phạm, người giáo viên chủ yếu tác động đến trẻ mẫu giáo bằng tình cảm và nhân cách của mình, nghĩa là giáo viên không thể giáo dục một phẩm chất nào đó cho trẻ em nếu như bản thân người giáo viên chưa có những phẩm chất đó
- Giao tiếp sư phạm diễn ra trong môi trường sư phạm, đây là môi trường đảm bảo tính mô phạm, an toàn, lành mạnh, được xã hội thừa nhận và tôn trọng
- Hiệu quả, sản phẩm của giáo tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi là đưa đến sự biến đổi trong đời sống tâm lý-nhân cách, đạo đức, hành vi, thói quen ở trẻ cũng như ở giáo viên, tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa cô và trẻ
Trang 2918
- Giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi mang đậm màu sắc xúc cảm, tình cảm: Trong giao tiếp với trẻ, GV mầm non cần thể hiện sự yêu thương, quan tâm săn sóc, trìu mến với trẻ như người mẹ, nói chuyện với trẻ cần nhẹ nhàng, vui tươi để trẻ cảm thấy gần gũi, an toàn và yêu thương
- Trong giao tiếp với trẻ mẫu giáo đòi hỏi người giáo viên sự kiên trì và nhẫn nại với trẻ Do khả năng ngôn ngữ và tư duy của trẻ còn hạn chế, nên giáo viên cần phải điềm tĩnh và chủ động lắng nghe trẻ
c) Các nguyên tắc giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
Giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Tính mô phạm chuẩn mực trong giao tiếp: thống nhất giữa lời nói và
việc làm; mẫu mực trong lời nói, cử chỉ, hành vi, trang phục,… khoan dung
độ lượng với trẻ, nhất là với trường hợp trẻ đặc biệt, trẻ em khuyết tật
- Tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp thể hiện ở chỗ: biết lắng
nghe trẻ trình bày ý muốn, nhu cầu; có hành vi, cử chỉ, điệu bộ thân thiện, lời nói nhẹ nhàng, trang phục gọn gàng, lịch sự
- Có thiện chí trong giao tiếp: thể hiện sự yêu thương, tin tưởng và tạo
mọi điều kiện thuận lợi để các em được vui chơi, học tập hiệu quả [15]
- Đồng cảm trong giao tiếp: biết đặt mình vào vị trí của trẻ để hiểu suy
nghĩ, tình cảm của các em nhằm có hành vi ứng xử phù hợp [30][42]
d) Các giai đoạn giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
- Giai đoạn định hướng trước khi giao tiếp, giáo viên “mô hình hóa” việc giao tiếp với nhóm để chuẩn bị cho hoạt động giảng dạy sắp diễn ra Giáo viên xác định mục đích, nhiệm vụ giáo dục, những đặc điểm tâm lý lứa tuổi mẫu giáo và đặc điểm cá nhân trẻ, những đặc điểm nhân cách của bản thân giáo viên, những phương pháp giáo dục sẽ được sử dụng trong giao tiếp với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
- Giai đoạn mở đầu quá trình giao tiếp, giáo viên thực hiện giao tiếp trực tiếp với trẻ trên lớp và trong các hoạt động chăm sóc trẻ; là giai đoạn giáo viên cụ thể hóa kế hoạch giao tiếp, chính xác các điều kiện giao tiếp
Trang 3019
- Giai đoạn điều khiển, điều chỉnh và phát triển quá trình giao tiếp nhằm đảm bảo đạt mục tiêu chăm sóc-giáo dục đề ra
- Giai đoạn cuối cùng là phân tích hệ thống giao tiếp đã được thực hiện
và xây dựng mô hình giao tiếp cho hoạt động tiếp theo
Sự phân chia các giai đoạn giao tiếp nói trên không hoàn toàn cứng nhắc một cách tuyệt đối, giữa các giai đoạn có quan hệ mật thiết, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, là cơ sở của nhau, giúp cho quá trình giao tiếp diễn ra tốt đẹp, đem lại hiệu quả cao
1.3 Kỹ năng giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
1.3.1 Kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp sư phạm
a) Khái niệm kỹ năng và kỹ năng giao tiếp
Trước khi tìm hiểu khái niệm kỹ năng giao tiếp, chúng ta cần hiểu thế nào là kỹ năng? Có nhiều quan điểm khác nhau về kỹ năng, chẳng hạn như:
Theo V.A Krutetxki, V.SV.Cudin, Trần Trọng Thủy cho rằng: kỹ năng
là phương thức thực hiện hành động đã được con người nắm vững, chỉ cần nắm vững phương thức hành động là con người có kỹ năng [54]
- N.D Levitop, K.K.Platonop, G.G.Coluvep, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành, Nguyễn Văn Đồng quan niệm: kỹ năng là một mặt của năng lực của con người để thực hiện một công việc có kết quả [17][39][54] Như vậy,
kỹ năng bao gồm tri thức và sự chuyển hóa tri thức thành năng lực hành động của cá nhân nhằm đạt được mục đích đề ra
- Theo Nguyễn Văn Lũy và Lê Quang Sơn, kỹ năng như là khả năng của con người thực hiện có kết quả hành động tương ứng với mục đích và điều kiện trong đó hành động xảy ra Vận dụng những quan niệm này, tác giả
đưa ra khái niệm kỹ năng giao tiếp như sau: “Kỹ năng giao tiếp là khả năng
cụ thể của mỗi con người vận dụng những kiến thức thu được vào quá trình tiếp xúc giữa người với người”[35]
Theo tác giả Hoàng Anh và Nguyễn Văn Đồng: Kỹ năng giao tiếp là năng lực của con người biểu hiện trong quá trình giao tiếp như khả năng sử
Trang 3120
dụng hợp lý, phối hợp hài hòa các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ [5][17]
Chúng tôi cho rằng, kỹ năng giao tiếp là sự thực hiện có hiệu quả một
hành động nào đó diễn ra trong quan hệ giao tiếp bằng cách sử dụng vốn hiểu biết, vốn tri thức về con người, sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để tác động đến đối tượng, điều khiển bản thân, tổ chức quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đích đề ra
b) Khái niệm kỹ năng giao tiếp sư phạm
Theo tác giả Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quan Uẩn và Hoàng Thị Anh:
Kỹ năng giao tiếp sư phạm là hệ thống những thao tác giúp cho việc thực hiện
có hiệu quả hành động giao tiếp diễn ra trong hoạt động sư phạm, tổ chức quá trình giao tiếp đạt kết quả cao trong dạy học và trong giáo dục của giáo viên [6][23][54]
Các tác giả Nguyễn Thạc, Hoàng Anh và Vũ Kim Thanh (1995) cho
rằng: “Kỹ năng giao tiếp sư phạm là khả năng nhận thức nhanh chóng những
biểu hiện bên ngoài và những diễn biến tâm lý bên trong của học sinh và bản thân, đồng thời sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức, điều khiển điều chỉnh bản thân chủ thể giao tiếp nhằm mục đích giáo dục” [2][42]
Đặc trưng của kỹ năng giao tiếp sư phạm:
- KNGTSP thể hiện trong hoạt động sư phạm, trong môi trường sư phạm;
- KNGTSP đòi hỏi tính mô phạm, chuẩn mực và tính nghề nghiệp sư phạm và tính nghệ thuật cao;
- KNGTSP được hình thành, giáo dục và rèn luyện trong trường sư phạm, trong thực tiễn đa dạng của hoạt động dạy học và giáo dục của người giáo viên
c) Phân loại kỹ năng giao tiếp sư phạm
Căn cứ vào diễn biến các giai đoạn của quá trình giao tiếp, kỹ năng giao tiếp sư phạm thường được chia thành các nhóm kỹ năng cơ bản như:
Trang 3221
Nhóm kỹ năng định hướng, nhóm kỹ năng định vị và nhóm kỹ năng điều khiển, điều chỉnh quá trình giao tiếp Tuy nhiên, tùy theo mục đích nghiên cứu và tiêu chí phân loại, mỗi tác giả đưa ra những cách phân chia riêng, chẳng hạn:
- V.P Dakharop đã dựa vào các bước tiến hành của một pha giao tiếp cho rằng, KNGTSP gồm có các kỹ năng sau: Kỹ năng thiết lập các mối quan
hệ trong giao tiếp; kỹ năng cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng giao tiếp; kỹ năng lắng nghe và biết cách lắng nghe đối tượng giao tiếp; kỹ năng tự chủ cảm xúc và hành vi; kỹ năng nhạy cảm trong giao tiếp; kỹ năng diễn đạt
dễ hiểu, gọn gàng, mạch lạc; kỹ năng linh hoạt mềm dẻo trong giao tiếp; kỹ năng thuyết phục trong giao tiếp; kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp; kỹ năng tự kiềm chế và kiểm tra đối tượng giao tiếp [35]
- Theo A.T.Kyrbanova và F.M.Rakhmatylina căn cứ vào quá trình giao tiếp sư phạm để phân chia KNGTSP gồm ba nhóm kỹ năng: kỹ năng định hướng trước khi giao tiếp; kỹ năng tiếp xúc xảy ra trong quá trình giao tiếp;
kỹ năng điều khiển, điều chỉnh độc đáo hướng quá trình giao tiếp đến các định hướng giá trị và mục tiêu khác nhau của giáo viên và học sinh [1]
- A.A.Leonchiev đưa ra bảy nhóm KNGTSP gồm: điều khiển hành vi bản thân; quan sát; nhạy cảm xã hội; đọc, hiểu, biết mô hình hóa nhân cách học sinh; làm gương cho học sinh noi theo; giao tiếp ngôn ngữ và kiến tạo sự tiếp xúc; kỹ năng nhận thức [33]
- Tác giả Lê Xuân Hồng cho rằng quá trình giao tiếp sư phạm gồm các nhóm kỹ năng sau: Kỹ năng định hướng giao tiếp, kỹ năng định vị giao tiếp,
kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp [23]
- Theo tác giả Nguyễn Văn Lũy và Lê Quang Sơn (2015), có sáu nhóm KNGTSP: Kỹ năng định hướng, kỹ năng định vị, kỹ năng điều chỉnh/điều khiển quá trình giao tiếp, kỹ năng điều khiển bản thân, kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp, kỹ năng ứng xử sư phạm khéo léo [35]
Trang 3322
1.3.2 Kỹ năng giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
a) Khái niệm kỹ năng giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
Kỹ năng giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3- 6 tuổi là khả năng nhận thức nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và những diễn biến tâm lý bên trong của trẻ mẫu giáo và của bản thân sinh viên, sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức, điều khiển điều chỉnh bản thân chủ thể giao tiếp nhằm đạt mục đích chăm sóc và giáo dục trẻ mẫu giáo
b) Phân loại kỹ năng giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
Trong luận văn này, chúng tôi kế thừa cách phân chia KNGTSP thành
ba nhóm cơ bản: Nhóm kỹ năng định hướng, nhóm kỹ năng định vị, nhóm kỹ năng điều khiển đối tượng giao tiếp, điều chỉnh Tuy nhiên, nhóm điều khiển, điều chỉnh khá phức tạp, gồm nhiều kỹ năng thành phần như thể hiện khả năng thu hút, hấp dẫn đối tượng, duy trì được quá trình giao tiếp, tự điều khiển bản thân, điều khiển đối tượng và biết sử dụng hợp lý thông tin và các phương tiện giao tiếp Do đó, chúng tôi chia nhóm kỹ năng này thành các nhóm kỹ năng sau: Nhóm kỹ năng tự điều khiển bản thân chủ thể giao tiếp, nhóm kỹ năng điều khiển đối tượng giao tiếp và nhóm kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp Như vậy, KNGTSP với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi gồm năm nhóm kỹ năng sau:
1) Nhóm kỹ năng định hướng: Kỹ năng định hướng trước khi giao tiếp
và định hướng trong quá trình giao tiếp như kỹ năng đọc trên nét mặt, hành vi, lời nói và kỹ năng chuyển từ sự tri giác bên ngoài vào nhận biết bản chất bên trong của nhân cách trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
2) Nhóm kỹ năng định vị: Kỹ năng xác định vị trí của bản thân trong
quá trình giao tiếp với trẻ; kỹ năng xác định thời gian và không gian, khoảng cách giao tiếp với trẻ; biết chọn đúng thời điểm mở đầu, diễn biến và kết thúc giao tiếp; có sự đồng cảm, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với trẻ mẫu giáo…
3) Nhóm kỹ năng điều khiển đối tượng giao tiếp đối tượng giao tiếp:
Thu hút, hấp dẫn, lôi cuốn trẻ vào nội dung giao tiếp; biết tạo ra những cảm
Trang 3423
xúc tích cực ở trẻ, biết thúc đầy, kìm hãm tốc độ, nhịp độ giao tiếp; điều chỉnh nội dung giao tiếp phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh
4) Nhóm kỹ năng điều chỉnh bản thân chủ thể giao tiếp: Làm chủ trạng
thái, cảm xúc bản thân; biết tự kiềm chế; biết điều khiển, điều chỉnh các diễn biến tâm lý của mình, biết sử dụng các cách giao tiếp phù hợp với đối tượng giao tiếp
5) Nhóm kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ, cử chỉ,
điệu bộ, ánh mắt, nụ cười; biết nghe, lắng nghe và xử lý thông tin
Tóm lại, việc phân chia các KNGTSP của sinh viên với trẻ mẫu giáo
3-6 tuổi nói trên chỉ có tính chất tương đối, giữa các KNGTSP nêu trên có quan
hệ mật thiết, bổ sung, hỗ trợ cho nhau và là cơ sở của nhau nhằm giúp cho quá trình giao tiếp diễn ra tốt đẹp, đem lại hiệu quả cao trong giao tiếp với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
1.4.1 Yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
a) Tính tích cực trong học tập, nghiên cứu về giao tiếp của sinh viên
Để giao tiếp với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi có hiệu quả và đạt được mục đích
giáo dục đề ra đòi hỏi mỗi sinh viên cần tích cực học tập, nghiên cứu về về khoa học giao tiếp, giao tiếp sư phạm và các KNGTSP, đồng thời tích cực học tập, nghiên cứu về đặc điểm tâm lý trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi, đặc điểm phát triển ngôn ngữ-giao tiếp của trẻ, những khó khăn và hạn chế trong quá trình phát triển ngôn ngữ-giao tiếp của trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi Trên cở sở hiểu biết về khoa học giao tiếp và đối tượng giao tiếp giúp sinh viên xác định phương thức giao tiếp phù hợp với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi Để bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng giao tiếp, sinh viên có thể tiến hành thông qua nhiều cách thức khác nhau như: học tập trên lớp, tự học ở nhà, tự nghiên cứu tài liệu về giao tiếp sư phạm trên truyền hình, mạng internet, , tham gia các buổi xêmina về kỹ năng
Trang 3524
mềm của sinh viên Mức độ tích cực học tập, nghiên cứu để làm giàu vốn tri thức về khoa học giao tiếp sẽ ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển KNGTSP của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
b) Mức độ trải nghiệm trong các hoạt động rèn luyện kỹ năng giao tiếp của sinh viên
Mức độ trải nghiệm trong các hoạt động rèn luyện kỹ năng giao tiếp
của sinh viên được thể hiện ở các phương diện như: Rèn luyện kỹ năng giao
tiếp trong các hoạt động học tập trên lớp như thảo luận, trình bày vấn đề trước lớp; tập giảng trong các giờ thực hành Rèn luyện kỹ năng giao tiếp trong các hoạt động phong trào như tham gia hội thi nghiệp vụ sư phạm; các hoạt động văn nghệ, thể thao, tình nguyện; tham gia sinh hoạt ở các nhóm/hội/đoàn thể, ; tham gia học tập các chuyên đề về kỹ năng giao tiếp ứng xử với trẻ mẫu giáo
c) Mức độ thường xuyên trong rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi trong thời gian thực tập tại trường mầm non
Mức độ thường xuyên trong rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi thể hiện ở việc sinh viên thường xuyên chơi, trò chuyện với trẻ mẫu giáo; tập dạy hoặc đứng trước gương để rèn luyện kỹ năng giao tiếp của bản thân; thường xuyên quan sát và học hỏi cách thức, những kinh nghiệm giao tiếp của giáo viên với trẻ mẫu giáo; chủ động xin góp ý, nhận xét của giáo viên hướng dẫn thực tập về KNGTSP của bản thân để biết được những điểm mạnh, hạn chế và đề ra phương hướng rèn luyện nhằm nâng cao KNGTSP của bản thân với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi; sinh viên cũng có thể trao đổi trong nhóm sinh viên thực tập về cách thức giao tiếp với trẻ mẫu giáo, thông qua các buổi trao đổi, sinh viên tự góp ý cho nhau, hỗ trợ nhau rèn luyện nâng cao KNGTSP với trẻ
1.4.2 Yếu tố khách quan ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
a) Yếu tố thuộc về chương trình đào tạo giáo viên mầm non
Trang 3625
Quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non xác định, giáo viên mầm non “có kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ một cách gần gũi, tình cảm” [8] Do đó, khi xây dựng chương trình đào tạo giáo viên mầm non cần xác định chuẩn đầu ra về kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên Mức độ rõ ràng, phù hợp trong xác định chuẩn đầu ra về kỹ năng giao tiếp sư phạm của chương trình đào tạo giáo viên mầm non có ảnh hưởng lớn đến việc thiết kế nội dung chương trình để hình thành và rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên, đặc biệt là những học phần chuyên ngành, kiến tập-thực tập sư phạm cần có những đóng góp nhằm đạt chuẩn đầu ra về KNGTSP với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
Chương trình đào tạo đảm bảo tính trình tự, logic trong sắp xếp các nội dung trong chương trình đào tạo từ kiến thức đại cương, kiến thức cơ sở ngành đến kiến thức chuyên ngành; cân đối giữa lý thuyết và thực hành nhằm đạt mục tiêu và chuẩn đầu ra về kỹ năng giao tiếp sư phạm
Lý luận dạy học hiện đại cho rằng, người học khác nhau về khả năng, nhu cầu, mỗi người có tốc độ học khác nhau, phong cách học khác nhau và nhu cầu lựa chọn nội dung học tập cũng khác nhau để phục vụ cuộc sống và nghề nghiệp tương lai Do đó, dạy học đáp ứng nhu cầu người học là xu hướng tất yếu của thời đại Muốn vậy, nội dung chương trình đào đạo phải mềm dẻo và linh hoạt và đáp ứng nhu cầu rèn luyện kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên [9][40]
Ngày nay, trong thời đại bùng nổ thông tin, khối lượng tri thức tăng theo cấp độ số nhân đã ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn các nội dung giáo dục nhằm đạt mục tiêu đào tạo của bất cứ ngành học nào, khoa học giáo dục mầm non cũng nằm trong xu hướng chung đó Việc thường xuyên cập nhật những tri thức mới về khoa học tâm lý trẻ em, khoa học giao tiếp và giao tiếp
sư phạm góp phần nâng cao năng lực giao tiếp cho sinh viên nói chung và kỹ năng giao tiếp sư phạm nói riêng Chương trình giáo dục sau khi được thực thi, được đánh giá thì những thông tin phản hồi đó luôn được sử dụng ngay
Trang 3726
trong các giai đoạn của quá trình đào tạo để hoàn thiện chương trình giáo dục Khi kết thúc một chu trình đào tạo thì việc đánh giá toàn bộ chương trình giáo dục, thông tin phản hồi, kết hợp với sự phân tích nhu cầu đào tạo sẽ làm cơ sở cho việc điều chỉnh chương trình đào tạo nhằm đạt chuẩn đầu ra hoặc nâng cao chuẩn đầu ra về KNGTSP cho sinh viên [14]
b) Các yếu tố thuộc về tổ chức đào tạo
Một chương trình giáo dục tốt chưa đủ để đảm bảo đạt được chuẩn đầu
ra về KNGTSP mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác, trong đó yếu tố tổ chức đào tạo giữ vai trò trung tâm Các yếu tố cơ bản thuộc về tổ chức đào tạo ảnh hưởng đến KNGTSP của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi gồm:
- Các hoạt động dạy và học thúc chưa đẩy việc rèn luyện các KNGTSP, chẳng hạn như việc xếp số lượng sinh viên trong lớp quá đông gây khó khăn cho giảng viên trong việc rèn luyện kỹ năng trình bày vấn đề của các SV;
- Phong cách giao tiếp (dân chủ, tự do hay độc đoán), quan điểm và thái
độ của giảng viên đối với sinh viên cũng ảnh hưởng đến việc rèn luyện KNGTSP cho sinh viên Nếu giảng viên chủ động lắng nghe ý kiến và tôn trọng nhân cách của sinh viên; gần gũi, thân thiện với sinh viên, tạo không khí cởi mở, dân chủ; thường xuyên quan tâm đến việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp
sư phạm cho sinh viên; thường xuyên khuyến khích sinh viên thảo luận, trình bày vấn đề trước lớp sẽ ảnh hưởng tích cực đến việc hình thành và rèn luyện KNGTSP của sinh viên
- Trong quá trình thực hành các môn chuyên ngành, sinh viên thường xuyên kiến tập, thực tập thực tế để được tiếp xúc và giao tiếp với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi sẽ là cơ hội tốt để rèn luyện KNGTSP của sinh viên
- Các hình thức tổ chức rèn luyện nghiệp vụ sư phạm nói chung và kỹ năng giao tiếp sư phạm cho sinh viên nói riêng chưa thường xuyên, chưa phong phú và đa dạng
c) Các yếu tố thuộc về kiểm tra đánh giá kỹ năng giao tiếp của sinh viên
Trang 3827
Khoa học về đo lường và đánh giá trong giáo dục đã chỉ ra rằng, kiểm tra đánh giá kết quả học tập ảnh hưởng đến thái độ và động cơ học tập của sinh viên [28][34][44][45] Bởi vì, thông qua việc đo lường và đánh giá mức
độ đạt được KNGTSP của sinh viên, bản thân sinh viên biết được mình có điểm mạnh và hạn chế gì để phấn đấu rèn luyện; giảng viên cũng biết được sinh viên còn yếu ở kỹ năng nào để tiếp tục bồi dưỡng cho các em;
Chính vì vậy, phải đưa ra tiêu chí đánh giá kỹ năng giao tiếp/trình bày của sinh viên trong các hoạt động khi kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên, đồng thời yêu cầu giáo viên hướng dẫn thực tập sư phạm nhận xét, đánh giá cụ thể, chi tiết về KNGTSP của sinh viên với trẻ mẫu giáo nhằm chỉ
ra những điểm mạnh và hạn chế, định hướng cho sinh viên tiếp tục rèn luyện nâng cao kỹ năng giao tiếp với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi Việc đánh giá kết quả học tập của SV cần hướng đến mức độ đạt được chuẩn đầu ra về kỹ năng giao tiếp sư phạm với trẻ mẫu giáo; kết quả đánh giá cần được phản hồi kịp thời để sinh viên cải thiện việc học tập và rèn luyện KNGTSP của bản thân
d) Các yếu tố thuộc về cơ sở vật chất, điều kiện môi trường
Mỗi cơ sở giáo dục, ngoài phòng học, khu sinh hoạt, vui chơi giải trí, thể dục thể thao cần có các không gian cho sinh viên tự học, tự nghiên cứu, đặc biệt là thư viện Thư viện của nhà trường cần có đầy đủ các tài liệu, giáo trình về giao tiếp và giao tiếp sư phạm để sinh viên học tập; phòng thực hành cho sinh viên tập dạy cần có các đồ dùng, phương tiện dạy học để sinh viên rèn luyện kỹ năng giảng dạy nói chung và kỹ năng giao tiếp sư phạm nói riêng Ngoài ra, để sinh viên biết được điểm mạnh và hạn chế về kỹ năng giao tiếp sư phạm của ban thân không thể thiếu các công cụ đánh giá về kỹ năng giao tiếp Ngoài ra, việc xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, thân thiện với nhiều hoạt động phong phú, đa dạng như các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể thao, hội thi nghiệp vụ sư phạm, hội nghị phương pháp học tập hiệu quả,
để sinh viên giao lưu học hỏi giữa sinh viên các lớp, các khoa trong nhà
Trang 3928
trường hoặc giữa sinh viên nhà trường với các sinh viên trường bạn, , qua đó rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho các em
1.5 Đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo
1.5.1 Khái niệm về đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm
Đánh giá nói chung được hiểu là quá trình phán đoán, đo lường sự vật
và thuộc tính của nó dựa trên các quan điểm về giá trị [34]
Theo tác giả Phó Đức Hòa, Đánh giá là khẳng định giá trị chân thực của đối tượng được đánh giá như nó vốn có theo những chuẩn khách quan có ý nghĩa đối với con người và được xã hội thừa nhận” [20]
Trong giáo dục, đánh giá được hiểu là quá trình thu thập thông tin và
dữ liệu một cách có hệ thống để tiến hành phán đoán giá trị các hoạt động giáo dục và đưa ra các quyết định giáo dục phù hợp [28]
Đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm là quá trình quá trình thu thập thông tin và dữ liệu một cách có hệ thống về KNGTSP của sinh viên để xác định mức độ đạt được KNGTSP, từ đó đề ra các biện pháp rèn luyện KNGTSP phù hợp
1.5.2 Mục tiêu đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi
Đánh giá kết quả kỹ năng giao tiếp sư phạm là một khâu quan trọng và cần thiết trong quá trình đào tạo giáo viên Thông qua đánh giá, nhà quản lý giáo dục, thầy cô giáo biết được họ đang làm tốt cái gì và cần thay đổi cái gì
để có thể đào tạo sinh viên sư phạm tốt hơn Đồng thời thông qua đó, sinh viên cũng biết được họ tiếp thu được những gì, đạt chuẩn kỹ năng giao tiếp sư phạm ở mức độ nào, từ đó có phương hướng phấn đấu, rèn luyện nâng cao kỹ năng giao tiếp sư phạm của bản thân Như vậy, việc đánh giá KNGTSP không chỉ dừng lại ở mục tiêu thu thập thông tin để đưa ra quyết định giáo dục cho mỗi sinh viên mà còn có mục tiêu cơ bản khác là hình thành và tăng cường động cơ học tập, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm nói chung và KNGTSP nói riêng cho sinh viên
Trang 4029
Động cơ học tập tốt nhất là sinh viên học vì lợi ích của chính bản thân của việc học Sinh viên có nhu cầu nhận thức được: cần phải học cái gì? Tại sao lại học những vấn đề đó? Sự tiến bộ trong quá trình học tập học phần đó như thế nào? Đánh giá kết quả học tập là phương tiện quan trọng để cung cấp những thông tin đó cho sinh viên và nó thể hiện ảnh hưởng rõ nét không những tới việc sinh viên học được những gì mà còn đánh giá xem sinh viên học tập như thế nào
Tóm lại, đánh giá KNGTSP nhằm xác định mức độ đạt được KNGTSP của sinh viên, phát hiện những thiếu sót, lệch lạc về khả năng giao tiếp của từng em để đề ra biện pháp rèn luyện nâng cao KNGTSP cho sinh viên, đồng thời đánh giá KNGTSP hướng đến việc tăng cường động cơ học tập, rèn luyện KNGTSP của sinh viên
1.5.3 Một số yêu cầu khi đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên với trẻ mẫu giáo
a) Đảm bảo tính khách quan
Việc đánh giá KNGTSP của sinh viên với trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi cần kết hợp giữa phương pháp đánh giá định tính và đánh giá định lượng; kết hợp giữa đánh giá quá trình và đánh giá kết thúc; việc đưa ra những phán đoán giá trị cần căn cứ trên các tiêu chí đánh giá rõ ràng, cụ thể
b) Đảm bảo tính công bằng
Tính công bằng yêu cầu sinh viên thực hiện các KNGTSP với cùng một mức độ sẽ nhận được những đánh giá kết quả như nhau, do đó, trong đánh giá KNGTSP của sinh viên, người làm công tác đánh giá cần xây dựng các tiêu chí đánh giá rõ ràng, cụ thể; cần thống nhất quan điểm, tiêu chí đánh giá
c) Đảm bảo tính hệ thống
Xác định và làm rõ các mục tiêu, tiêu chí đánh giá; mục tiêu, phương pháp đánh giá phải phù hợp với mục tiêu và nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy; sử dụng kỹ thuật đánh giá phù hợp với mục tiêu đánh giá,