Những khó khăn của giáo viên và học sinh khi dạy - học dạng bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.. Ngày nay, trước những yêu cầu bức thiết của xã hội, học các tác
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN KHÁNH THÀNH
HÀ NỘI – 2013
Trang 3Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường THPT Hàn Thuyên - Bắc Ninh
và các thầy cô giáo đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song chắc chắn luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự quan tâm và đóng góp ý kiến, bổ sung của tất cả những ai quan tâm đến vấn đề này
Trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, tháng 12 năm 2013
Học viên
Nguyễn Thị Thu
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn……… i
Danh mục các chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng ……… vi
Danh mục các biểu đồ, đồ thị ……… vii
MỞ ĐẦU 1 1 Lý do chọn đề tài 9
2 Lịch sử vấn đề 11
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
5 Phương pháp nghiên cứu 15
6 Cấu trúc luận văn 16
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 17 1.1.Cơ sở lý luận của đề tài 17
1.1.1 Khái lược văn nghị luận xã hội 17
1.1 2 Việc phân chia các dạng bài nghị luận xã hội ở trường phổ thông 21
1.1.3 Về dạng bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học 26
1.1.4 Ý nghĩa của việc làm văn nghị luận xã hội về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học 31
1.1.5 Hiệu quả của cách thức giúp học sinh tích cực, chủ động phát hiện vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học 33
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 34
1.2.1 Thực trạng của việc dạy học kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học ở trường THPT 34
1.2.2 Những khó khăn của giáo viên và học sinh khi dạy - học dạng bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học 40
1.2.3 Khảo sát hệ thống đề bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học 37
Trang 6Tiểu kết chương 1 40
Chương 2 DẠY HỌC KỸ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI ĐẶT RA TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC 49 2.1 Dạy học kỹ năng phát hiện vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học 49
2.1.1 Một số vấn đề trọng tâm trong tác phẩm văn học 49
2.1.2 Kỹ năng phát hiện vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học 50
2.2 Rèn kỹ năng cho học sinh THPT làm bài văn nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học qua một số phương pháp dạy học tích cực 54
2.2.1 Phương pháp vấn đáp 54
2.2.2 Phương pháp thảo luận nhóm 58
2.2.3 Phương pháp dạy học nêu vấn đề 63
2.3 Vận dụng các kỹ năng làm văn nghị luận để làm tốt dạng bài nghị luận về vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học 66
2.3.1 Kỹ năng thu thập và chắt lọc xử lý thông tin trong tác phẩm văn học và ngoài đời sống xã hội 66
2.3.2 Vận dụng kĩ năng tìm hiểu đề: 67
2.3.3 Vận dụng kĩ năng xác định luận điểm và lập dàn ý 69
2.3.4.Vận dụng các kĩ năng diễn đạt khi làm dạng bài nghị luận về vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học 72
2.4 Các bước tiến hành làm bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học 80
2.4.1 Nhận diện đề bài 80
2.4.2 Định ra dàn ý thích hợp 80
2.4.3.Viết và hoàn chỉnh bài văn nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học 87
Tiểu kết chương 2 88
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 90 3.1 Các vấn đề chung 90
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 90
Trang 73.1.2 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 91
3.1.3 Đối tượng thực nghiệm và đối chứng 91
3.1.4 Chuẩn bị và tổ chức thể nghiệm 92
3.2 Thiết kế thực nghiệm 95
3.2.1 Giáo án đối chứng 95
3.2.2.Giáo án thực nghiệm 99
3.3 Kết quả thực nghiệm và đánh giá 109
3.3.1 Kết quả thực nghiệm 109
3.3.2 Phân tích, đánh giá 111
3.4 Kết luận và đề xuất 113
Tiểu kết chương 3 114
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1.Thống kê kết quả bài làm của học sinh 28
Bảng 1.2.Thống kê kết quả lỗi học sinh thường gặp khi lập dàn ý 28
Bảng 1.3.Thống kê kết quả bài làm của học sinh 28
Bảng 1.4.Thống kê kết quả lỗi học sinh thường gặp khi viết bài 28
Bảng 1.5 Thống kê phiếu khảo sát của học sinh 29
Bảng 1.6 Thống kê phiếu khảo sát của GV 30
Bảng 3.1 Khảo sát lực học của các lớp 84
Bảng 3.2 Phân công giáo viên dạy thực nghiệm và đối chứng 84
Bảng 3.3 Kết quả khảo sát bài làm của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 102
Bảng 3.4.Tổng hợp so sánh bảng kết quả lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 102
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ
Sơ đồ 2.1 Diễn giải sơ đồ cấu trúc tổng quát cách làm cho dạng bài nghị
luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học 73 Biểu đồ 3.1 So sánh kết quả kiểm tra giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 103
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Môn Ngữ văn trong nhà trường hiện nay gồm ba phân môn là Tiếng Việt, Đọc văn và Làm văn, mỗi phân môn đảm nhận những nhiệm vụ khác nhau Trong đó Làm văn là phân môn mang tính chất thực hành tổng hợp giữa các phân môn tiếng Việt với phân môn Đọc văn Mỗi bài làm văn có thể coi là một “tác phẩm nhỏ” của HS, phản ánh khá rõ nhận thức, kĩ năng, tình cảm của HS, là cơ hội để HS bộc lộ rõ nét nhất, tập trung nhất vốn hiểu biết nhiều mặt cũng như các phẩm chất và năng lực của mình Bên cạnh đó, sách giáo khoa Ngữ văn phổ thông hiện nay rất chú trọng vào chức năng ứng dụng của văn bản Nếu như trước đây, người ta chú ý nhiều đến các tác phẩm thuộc các thể loại như thơ trữ tình, tự sự, kịch, thì hiện nay chương trình còn đặc biệt quan tâm đến văn nghị luận Vì vậy trong quá trình dạy học, việc cung cấp cho các em những tri thức về cách làm từng dạng bài văn nghị luậnlà vô cùng quan trọng Đối với văn nghị luận, khi viết, nếu không thành thạo kĩ năng lập luận, học sinh sẽ rất lúng túng, và với kĩ năng lập luận kém, học sinh cũng không thể viết được một bài văn nghị luận có sức thuyết phục Nghị luận
về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học là dạng bài giúp học sinh hình thành và rèn luyện được kĩ năng lập luận
Hiện nay, chương trình Ngữ văn bậc phổ thông trung học được biên soạn theo hướng rèn luyện kĩ năng đọc - hiểu theo hướng cảm nhận của HS
và thực hiện tính tích hợp từ nội dung đến phương pháp giảng dạy Các phân môn Văn học, Tiếng Việt và Làm văn được giảng dạy theo hướng tích hợp dọc và tích hợp ngang với nội dung tương ứng và bổ trợ lẫn nhau Ở lớp 10,
HS được chủ yếu rèn luyện kĩ năng đọc văn bản Đến lớp 11, các bài học được sắp xếp theo đặc trưng thể loại trong từng giai đoạn văn học Ở lớp 12, nội dung giảng dạy lại chú trọng vào việc cảm thụ tác phẩm một cách sáng tạo
và vận dụng ngữ cảnh xã hội rộng lớn để tìm hiểu tác phẩm Như vậy, tính
Trang 11tích cực, chủ động trong tiếp nhận văn học dần được hình thành và nâng cao ở
HS Ngày nay, trước những yêu cầu bức thiết của xã hội, học các tác phẩm văn học trong nhà trường không chỉ để cảm nhận, để thưởng thức mà còn phải thấy được ý nghĩa xã hội, thấy được tính thời sự ở đó, vì thế dạng bài nghị luận một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học là một dạng bài nghị luận xã hội góp phần gắn chặt mối quan hệ giữa dạy Đọc - hiểu văn bản văn học với thực tế cuộc sống, làm cho HS sau khi học tác phẩm văn học còn biết liên hệ đến các vấn đề xã hội đang diễn ra xung quanh, đây cũng là một trong những mục tiêu lớn của việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông hiện nay
Trong chương trình sách giáo khoa bậc phổ thông hai thể loại nghị luận văn học và nghị luận xã hội tuy có một số điểm chung về các kĩ năng làm văn nhưng phạm vi các vấn đề được bàn đến có một khoảng cách khá xa Nghị luận văn học chỉ bàn đến những vấn đề thuộc lĩnh vực văn học, nghị luận xã hội chỉ bàn đến những vấn đề thuộc lĩnh vực xã hội và dường như với quan niệm trên, hai kiểu bài đang có một khoảng cách đáng kể ảnh hưởng đến tư duy, nhận thức của người học Vì vậy rất cần tạo một mối quan hệ giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội Trong yêu cầu học văn hiện nay, học sinh vừa phải có kĩ năng đọc hiểu tác phẩm văn học (có kiến thức về tác phẩm văn học), vừa phải biết vận dụng những kiến thức đó để bày tỏ quan điểm, lập trường của mình về một vấn đề xã hội có liên quan đến vấn đề trong tác phẩm văn học Dạng bài nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học đã tạo được mối quan hệ mật thiết giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy rằng kiểu bài này còn tương đối mới trong chương trình phổ thông nên trong thực tế dạy học còn gặp nhiều lúng túng, thậm chí còn rất xa lạ với cả GV và HS, nhất là chương trình Chuẩn Minh chứng cụ thể như sau: Ở chương trình Chuẩn, nghị luận xã hội
chỉ được nhắc đến với hai kiểu bài: Nghị luận về một tư tưởng đạo lí và nghị
luận về một hiện tượng đời sống (chương trình lớp 12) nhưng trong phần bài
tập thì vẫn có bài thuộc dạng nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm
Trang 12văn học mà học sinh vẫn chưa được học về cách làm dạng bài này; còn ở chương trình Nâng cao, ngoài hai kiểu bài trên, trong chương trình còn có
thêm bài: Luyện tập nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học
(chương trình lớp 12 - 1 tiết)trong khi chưa xây dựng được tiết học lí thuyết nào Khó khăn nhất đối với học sinh là không phân biệt được đây là nghị luận văn học hay là nghị luận xã hội, không biết phải bắt đầu triển khai vấn đề từ đâu và triển khai như thế nào.Vì vậy, thực hiện đề tài người viết mong muốn góp phần giảm bớt đi những lúng túng hiện tại của giáo viên và học sinh trong thực tế dạy học hiện nay Xuất phát từ những lí do cơ bản trên, tôi chọn
đề tài: Rèn luyện cho học sinh trung học phổ thông làm bài văn nghị luận
về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học Qua đó người viết mong
muốn giúp các nhà sư phạm sẽ có thể truyền đạt và hướng dẫn học trò của mình rèn luyện được tư duy logic, khả năng sáng tạo và biết vận dụng tốt để viết bài văn nghị luận xã hội Đồng thời qua đó người viết muốn đóng góp công sức nhỏ bé của mình vào việc dạy học văn nghị luận ở trường trung học phổ thông qua đó, nâng cao chất lượng dạy và học góp phần đổi mới giáo dục nước nhà
2 Lịch sử vấn đề
Trong khoảng vài năm trở lại đây, cùng với việc thay đổi chương trình sách giáo khoa, Bộ Giáo Dục đã đưa vào chương trình giảng dạy một phương diện phản ánh mới của văn nghị luận, đó chính là mảng nghị luận xã hội.Tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu để tìm ra phương pháp dạy và học nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học thì đã có những công trình nghiên cứu như:
Bàn về phương pháp làm bài văn nghị luận của ông Nguyễn Hữu Xuân
Quang (giáo viên Trường THCS,Quận Thủ Đức) Ở bài viết này tác giả tập trung phân biệt sự giống và khác nhau giữa nghị luận về tư tưởng đạo lý và nghị luận
về hiện tượng đời sống, giúp các em tránh nhầm lẫn trong khi làm bài
Trang 13Ông Trương Văn Quang - Chuyên viên Sở giáo dục tỉnh Quảng Nam cũng có bài viết đăng trên diễn đàn dạy học của Bộ giáo dục Ở bài viết này,
tác giả đã chỉ Phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội, giúp người dạy và
học nắm vững được những bước cơ bản khi dạy và học văn nghị luận
Trên diễn dàn văn học, đã có không ít những góp để xây dựng một bài
dạy và học nghị luận xã hội như: Cấu trúc bài văn nghị luận xã hội, Công
thức làm văn nghị luận xã hội Thậm chí có những bài viết bàn về Cách tiếp cận một đề văn nghị luận xã hội và phạm vi dẫn chứng của bài văn Trên báo
giáo dục của Bộ đang tải trên mạng cũng đưa ra bài viết: Cách ghi điểm của
bài văn nghị luận xã hội và Cách làm bài văn nghị luận xã hội Những bài
viết này đã chỉ rõ cho người dạy và người học biết cách nắm bắt thông tin, phân tích được dạng đề, và đặc biệt là cách hành văn sao cho phù hợp với từng dạng đề cụ thể
Tác giả Nguyễn Xuân Lạc trong cuốn Chuẩn bị kiến thức và kỹ năng
làm bài thi môn văn khi bàn bạc về đề văn nghị luận xã hội đã cho rằng “đề nghị luận xã hội gồm các vấn đề đặt ra trong cuộc sống xã hội của con người ngày hôm nay như môi trường giáo dục, văn hoá, truyền thống dân tộc, hội nhập quốc tế, lối sống cách ứng xử của con người thế kỉ XX”
Trong cuốn Dạy và học Nghị luận xã hội do tác giả Đỗ Ngọc Thống
chủ biên ngoài việc giói thiệu kiến thức cơ bản về nghị luận xã hội, các tác giả đã đưa ra các yêu cầu và cách làm một bài văn nghị luận xã hội giúp học sinh có định hướng, tránh sự lúng túng khi làm bài
Hai tác giả là Nguyễn Xuân Lạc và Đặng Hiển đã xuất bản cuốn Dạy
học nghị luận xã hội Cuốn này đã trình bày chi tiết những kỹ năng cần có
khi khi làm dạng bài nghị luận xã hội Theo các tác giả thì điều quan trọng là cần nắm được các bước làm một bài văn nghị luận và các thao tác lập luận trong một bài văn nghị luận
Cuốn Cácdạng đề và hướng dẫn làm bài nghị luận xã hội của NXB GD
do tác giả Lê A - Nguyễn Thị Ngân Hoa và một số tác giả khác biên soạn có
Trang 14đưa ra 6 đề bài cho kiểu bài nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm
văn học; ngoài ra có cuốn “Rèn kĩ năng làm bài thi TN THPT và thi ĐH môn
Ngữ văn- nghị luận xã hội” của NXB ĐHQG Hà Nội do Lê Anh Xuân và một
số tác giả khác biên soạn Tuy nhiên so với tài liệu nghiên cứu của các dạng bài nghị luận văn học thì các công trình nghiên cứu của dạng bài nghị luận
xã hội vẫn còn rất khiêm tốn Thực trạng này đã dẫn đến một số khó khăn cho giáo viên và học sinh khi dạy học dạng bài này Ngay đến cả sách giáo khoa và sách giáo viên là những tài liệu mang tính chất pháp lí, đó là những tài liệu định hướng cho việc dạy học đi đúng quy trình để đạt được mục tiêu nhưng trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay ở cả hai chương trình Chuẩn và Nâng cao phần lí thuyết về dạng bài này đều không có và chưa được cụ thể hóa thành một bài học riêng biệt Ở chương trình Chuẩn, dạng bài này chỉ được nhắc đến với một đề bài ở phần tổng kết Làm văn (lớp 12), sách giáo viên hướng dẫn thực hiện bài tập này cũng rất chung chung Ở chương
trình Nâng cao, kiểu bài này được nhắc đến với 1 tiết: Luyện tập nghị luận về
một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học (lớp 12-HK I), sách giáo viên cũng
hướng dẫn khá chi tiết từng bước thực hiện khi tiến hành dạy học bài học này trên lớp nhưng vẫn chưa xứng tầm với một dạng bài khó và tính ứng dụng cao như đã nêu ở phần trước
Tài liệu nghiên cứu là một trong những phương tiện quan trọng củaquá trình dạy học, các phương tiện dạy học giúp giảm nhẹ công việc của giáo viên
và giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi Có được các phương tiện thích hợp, người giáo viên sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng hơn, tạo cho học sinh những tình cảm tốt đẹp với môn học Nói đến các tài liệu dạy học là nói đến các công cụ cần thiết cho quá trình dạy
và học Thiếu công cụ lao động sẽ dẫn đến hiệu quả lao động không được như mong đợi Công việc dạy học cũng là một lao động đặc thù với sự hỗ trợ của các công cụ là sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo Đây là hạn chế
Trang 15cần phải điều chỉnh ngay trong thời gian tới để hiệu quả dạy - học được nâng cao hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên quan điểm xây dựng cơ sở lí thuyết và cơ sở thực tiễn, muốn đề xuất việc hiểu đúng kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học, đồng thời đề xuất một cách giải quyết sao cho hợp lí nhất đối với kiểu bài này, giúp việc học tập của học sinh đạt kết quả cao nhất
Đề xuất được cách làm bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học ở trường phổ thông vừa có cơ sở khoa học, vừa có tính khả thi phù hợp với tình hình thực tế trong việc dạy học ở trường phổ thông hiện nay Xác định được các hình thức, biện pháp tổ chức, phương pháp dạy và học nghị luận về ở trường phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có nhiệm vụ khảo sát thực trạng việc dạy học dạng bài nghị luận
về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học trong thực tế dạy học làm văn hiện nay ở trường phổ thông, xây dựng một sơ sở lí thuyết và cơ sở thực tiễn cho việc dạy học kiểu bài này, từ đó đề xuất một phương pháp dạy học cụ thể Ngoài ra, đề tài còn có nhiệm vụ khảo nghiệm tính khả thi bằng thực nghiệm
sư phạm để tổng hợp xem những vấn đề mà đề tài đề xuất có khả năng thực thi đến đâu và có hiệu quả như thế nào trong thực tế dạy học làm văn ở trường THPT hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng mà luận văn nghiên cứu là văn nghị luận: Phương pháp dạy
và học nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là đề tài nghiên cứu lý thuyết về dạng
bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học và cách làm dạng
Trang 16bài trên, chủ yếu trong chương trình Ngữ văn lớp 12 ở cả hai chương trình chuẩn và nâng cao
- Phạm vi khảo sát: Các lớp 12A7, 12A8, 12A9, 12A10 của trường
THPT Hàn Thuyên
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích loại hình
Để rèn luyện cho học sinh THPT, người viết tiến hành phân tích các đặc điểm của người dạy người học, phân tích đặc trưng của văn nghị luận xã hội, đặc biệt phân tích kĩ kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học, để từ đó giúp học sinh có cách thức tiếp cận đối với các đề văn nghị luận
- Phương pháp điều tra, khảo sát
Phương pháp điều tra, khảo sát, phỏng vấn trực tiếp giáo viên và học sinh về việc tổ chức dạy học nghị luận xã hội trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT
Tìm hiểu việc dạy học dạng bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học của trường THPT hiện nay, để từ đó có thể đưa ra những giải pháp phù hợp
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thực nghiệm sư phạm từng phần và toàn phần
+ Xử lí số liệu kết quả khảo sát và kết quả sau thực nghiệm sư phạm
+ Phân tích số liệu khảo sát và số liệu thực nghiệm
+ Sử dụng phương pháp thống kê toán học và các thành tựu của công nghệ thông tin để xử lí kết quả thực nghiệm
Với phương pháp thực nghiệm giúp người viết bước đầu đưa những vấn đề mà đề tài đề xuất vào thực tế dạy học ở trường THPT, từ do có thể rút
ra những kết luận cần thiết cho đề tài
Ngoài những phương pháp trên, người viết còn sử dụng kết hợp một số thao tác khác như: Thao tác thống kê - phân loại, thao tác phân tích, thao tác
Trang 17đối chiếu so sánh …và các phương pháp này không tiến hành đơn lẻ mà được vận dụng một cách tổng hợp có tác dụng hỗ trợ cho nhau một cách linh hoạt trong suốt quá trình nghiên cứu
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phần phụ lục, bố
cục luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 2: Dạy học kỹ năng làm văn nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Khái lược về văn nghị luận xã hội
1.1.1.1 Khái niệm
Văn nghị luận nói chung và nghị luận xã hội nói riêng đang ngày càng khẳng định vị trí quan trọng của mình trong nhà trường phổ thông cũng như trong thực tiễn cuộc sống Trong nhà trường từ lâu văn nghị luận đã được đưa vào giảng dạy để trang bị cho học sinh kiến thức kỹ năng, giúp các em biết đưa ra những lý lẽ dẫn chứng để trình bày quan điểm của bản thân về một vấn
đề nào đó nhằm thuyết phục người đọc
Văn nghị luận đã có từ rất lâu Ở Trung Hoa văn nghị luận có từ thời Khổng Tử Ở nước ta văn nghị luận cũng là một thể loại có truyền thống lâu đời, nó có giá trị và tác dụng hết sức to lớn trong trường kì lịch sử của công
cuộc dựng nước và giữ nước Tác phẩm Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn, Đại
Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi, Chiếu cầu hiền của Nguyễn Trường Tộ, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn và đặc biệt thế kỉ XX, văn nghị luận phát triển
mạnh mẽ hơn bao giờ hết Hàng loạt tên tuổi các nhà chính luận xuất sắc với những áng văn nghị luận bất hủ mà tiêu biểu nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh
với Tuyên ngôn độc lập và với biết bao nhà văn viết nghị luận nổi tiếng sau
này: Hoài Thanh, Xuân Diệu, Đặng Thai Mai
Văn nghị luận là loại văn viết ra để phát biểu ý kiến, bày tỏ nhận thức đánh giá thái độ đối với cuộc sống bằng những luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng Nếu tác phẩm văn học nghệ thuật phát biểu ý kiến bày tỏ thái độ cuộc sống bằng những hình tượng nghệ thuật gợi cảm thì văn nghị luận điễn đạt bằng những mệnh đề, phán đoán lôgic thuyết phục
Trang 19Văn nghị luận xã hội là loại văn nghị luận về một vấn đề xã hội, bao gồm những vấn đề thuộc mọi quan hệ hoạt động của con người trong mọi lĩnh vực đời sống, xã hội như chính trị, kinh tế giáo dục, đạo đức môi trường, dân số
Văn nghị luận xã hội là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn
đề liên quan đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội Mục đích cuối cùng của nó là tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ giữa người với người trong xã hội
Là phương pháp nghị luận lấy đề tài từ các lĩnh vực xã hội, chính trị đạo đức làm nội dung bàn bạc nhằm làm sáng rõ cái đúng cái sai tốt xấu của vấn đề được nêu ra từ đó đưa ra một cách hiểu thấu đáo về vấn đề nghị luận cũng như vận dụng nó vào đời sống bản thân
Nội dung nghị luận trong bài văn nghị luận xã hội thường cô đúc trong các câu tục ngữ, danh ngôn hay một lời nhận xét, đánh giá khái quát nào đó thể hiện những quan niệm đánh giá về các vấn đề xã hội
Là những bài văn bàn về các vấn đề xã hội nhân sinh như một tư tưởng đạo lý, một lối sống cao đẹp một hiện tượng tích cực hoặc tiêu biểu của đời sống, một vấn đề thiên nhiên môi trường
Như trên có thể đưa ra một khái niệm chung cho bài văn NLXH như sau: Văn NLXH là bài văn mà người viết sử dụng lý lẽ dẫn chứng để đưa ra
ý kiến mang tính cá nhân của mình về một vấn đề xã hội đời sống nhằm thuyết phục người đọc người nghe
Giữa văn bản NLVH và NLXH cũng có những điểm khác nhau rõ nét Trước hết về đối tượng của bài văn NLXH là loại văn bàn luận về các vấn đề
tư tưởng đạo lý, các vấn đề đời sống xã hội trong thưc tiễn cuộc sống hoặc có thể là vấn đề được đặt ra trong tác phẩm văn học Các vấn đề đó có thể là vấn
đề tích cực cũng có thể là mặt trái của xã hội Còn nghị luận văn học là loại văn lấy đối tượng chính là các tác phẩm văn học Nội dung được lựa chọn nghị luận trước hết là cái hay cái đẹp mang tính hoàn chỉnh cả về phương diện nội dung cũng như về nghệ thuật Do đặc trưng đối tượng lựa chọn nghị luận
Trang 20nên văn nghị luận xã hội chủ yếu huy động các kiến thức từ thực tế cuộc sống trong khi đó đối tượng của NLVH chủ yếu là các kiến thức về văn học bên cạnh đó cũng không thể thiếu được các kiến thức về đời sống xã hội Xét về hình thức nghệ thuật thì văn NLXH thường có cấu trúc ngắn gọn, chặt chẽ, trong khi đó văn NLVH thì ngôn từ thường giàu sức biểu cảm, hình tượng mang đậm tính nghệ thuật
Như vậy về cơ bản làm văn NLXH có sự khu biệt so với làm văn NLVH Đây là thể văn đưa ra các lý lẽ dẫn chứng bằng việc sử dụng ngôn từ
cô đọng, súc tích nhằm thuyết phục người đọc người nghe về một vấn đề thuộc đời sốngxã hội con người
1.1.1.2 Cấu trúc
Dù bài văn thuộc bất cứ dạng đề nào trong hai loại trên đây thì nó vẫn
phải đảm bảo đầy đủ bố cục 3 phần là Mở bài (Đặt vấn đề), Thân bài (Giải
quyết vấn đề) và Kết luận (Kết thúc vấn đề)
Phần Mở bài: Cần trình bày được vấn đề đặt ra trong bài làm (nội dung
đề bài) để người đọc có thể biết được bài làm đề cập tới nội dung chính nào, tránh tình trạng mở bài dài nhưng không đúng chủ đề hay làm lạc đề Cần có phần dẫn dắt nhất định để đi vào bài một cách tự nhiên, tránh gò bó, gượng ép gây cảm giác khó chịu cho người đọc Theo đánh giá chung, mở bài sáng tạo,
tự nhiên thường được đánh giá cao và gây ấn tượng đầu tiên đối với người chấm bài
Về hình thức phần mở bài thường là một đoạn văn ngắn gọn, nội dung nêu lên những những ý khái quát của đề bài, nó có nhiệm vụ khơi gợi dẫn dắt vấn đề cần nghị luận Có thể mở bài theo hai cách trực tiếp hoặc gián tiếp
Phần Thân bài: Được xem như phần chính, phần xương sống của cả bài
viết bởi nó làm nhiệm vụ giải quyết những vấn đề chính của đề bài đặt ra Phần này thường trả lời cho các câu hỏi: Vấn đề đó nghĩa là gì? Vấn đề là đúng hay sai, tại sao? Trong thực tế cuộc sống, nó diễn ra phổ biến như thế nào? Cần làm gì để phát huy những mặt tốt và hạn chế những tiêu cực (nếu là
Trang 21mặt xấu) đó trong xã hội hiện nay? Cần làm gì và làm như thế nào để góp phần hiện thực hóa nó vào trong thực tế? Đây là những yêu cầu cơ bản trong việc viết một thân bài của dạng bài NLXH
Phần kết bài: Tuy ngắn nhưng nó có vai trò vô cùng quan trọng vì nó
khép lại vấn đề mà cả bài viết bài đang đề cập tới và mở rộng ra những ý kiến
cá nhân nhằm làm người đọc có những liên tưởng rõ hơn về cả bài viết
1.1.1.3 Đặc trưng
Đặc trưng đầu tiên khi đề cập đến văn bản NLXH là tính nghị luận của văn bản Các vấn đề đưa ra bàn luận bằng các sử dụng lý lẽ dẫn chứng để làm nổi bật vấn đề, dẫn chứng càng xác thực bao nhiêu lý lẽ càng chặt chẽ thì càng làm tăng sức thuyết phục bấy nhiêu, văn phong sử dụng mang tính mẫu mực cao Các luận điểm, luận cứ đưa ra là một chỉnh thể logic nhất quán về nội dung để tạo thành một lập luận soi sáng vấn đề cần bàn luận
Thứ hai là phương diện ngôn ngữ, nếu như ngôn ngữ trong văn bản nghị luận văn học thiên về tính nghệ thuật giàu hình tượng, giàu sắc thái biểu cảm thì ngôn ngữ trong văn bản nghị luận xã hội phải là ngôn ngữ được chọn lọc mang tính chuẩn mực Ngôn ngữ phải mang phong cách ngôn ngữ chính luận Nó luôn đòi hỏi phải đảm bảo tính chính xác chặt chẽ, điều này phù hợp với mục đích diễn đạt trong văn nghị luận làm rõ vấn đề thuộc về chân lý để thuyết phục người đọc người nghe Bởi vậy mà ngôn ngữ sử dụng trong NLXH phải phản ánh rõ và chính xác quá trình tư duy để đạt đến việc nhận thức chân lý Vì vậy mà nó đòi hỏi người viết cần hết sức đúng và nhất quán các thuật ngữ từ ngữ một cách chính xác, sử dụng các kiểu câu và mở rộng thành phần câu hợp lý khi trình bày lý lẽ Không chỉ lý trí mà còn cả tình cảm, cảm xúc Thông qua đó HS sẽ được rèn giũa cách lựa chọn từ để lập luận được chặt chẽ tăng khả năng thuyết phục của bài viết
Phương diện thứ ba là đề tài và nội dung đề cập đến phải mang tính thời sự, xã hội nóng hổi Đề tài đó phải liên quan đến thực tế đời sống hàng ngày, là vấn đề mọi người đang quan tâm, muốn tìm hiểu và tìm cách giải
Trang 22quyết để mang lại sự hữu ích cho xã hội Các vấn đề thời sự nóng hổi thì có nhiều nhưng quan trọng là phải tìm được vấn đề phù hợp với tâm lý lứa tuổi của các em, đó cũng là bài học để các em ngày càng lớn hơn và có thêm kinh nghiệm sống cho mình
Một phương diện nữa là dẫn chứng sử dụng trong bài văn NLXH phải gắn liền với thực tiễn đời sống Điều đó đòi hỏi người viết không chỉ học trong sách vở mà phải biết tự tìm hiểu nhừng tri thức trong cuộc sống hàng ngày Đó là tất cà những điều các em được trải nghiệm trong cuộc sống hàng ngày Đó có thể là một câu nói một cử chỉ hành vi, một việc làm tuy rất nhỏ nhưng lại mang đến những bài học nhân sinh lớn lao cho các em HS cũng cần mài sắc cho mình các giác quan để nhận thấy cuộc sống đang biến đổi từng ngày để thu lượm cho mình những dấn chứng xác đáng cho bài viết
“Dẫn chứng phải mang tính chính xác tiêu biểu và chon lọc”[24, tr.18]
Để làm tốt một bài văn nghị luận đòi hỏi người viết cần hội tụ trong mình nhiều yếu tố như cần có hiểu biết về các tin tức, thời sự nóng hổi đang diễn ra hàng ngày, có những kiến thức về truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc từ ngàn xưa để lại Người viết cũng cần trang bị cho mình thêm nhiều vốn sống ở nhiều lĩnh vực trong xã hội để bài viết vừa phong phú lại vừa sâu sắc Ngoài ra người viết cũng cần sử dụng các thao tác nghị luận, có phương pháp luận để làm bài để bài viết sao cho ngắn súc tích chặt chẽ giàu sức thuyết phục với người đọc người nghe
1.1.2 Việc phân chia các dạng bài nghị luận xã hội ở trường phổ thông
1.1.2.1 Nghị luận về một tư tưởng đạo lý
* Khái luận chung về kiểu bài nghị luân về tư tưởng đạo lý
Nghị luận về một tư tưởng đạo lí là quá trình kết hợp những thao tác lập luận để làm rõ những vấn đề tư tưởng đạo lí trong cuộc đời
Đề tài của nghị luận về tư tưởng, đạo lí là vô cùng phong phú, bao gồm: Các vấn đề về nhận thức như lí tưởng, mục đích sống,… Các vấn đề về tâm hồn, tính cách như: Lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha, bao dung, ðộ
Trang 23tốn Về các quan hệ gia đình như tình mẫu tử, anh em Về quan hệ xã hội như tình đồng bào, tình thầy trò, bạn bè,… Về cách ứng xử, những hành động của mỗi người trong cuộc sống
Kiểu bài văn nghị luận về một tư tưởng đạo lý hướng cho HS trong việc rèn luyện nhân cách, giúp các em có cái nhìn tinh tế hơn trước các vấn
đề của cuộc sống GV đưa ra những quan điểm đúng đắn tiến bộ để từ đó giúp các em có suy nghĩ đúng hành động đúng phù hợp với chuẩn mực của xă hội Thông qua kiểu bài này các em sẽ thấy thấm thía hơn câu nói văn học chính là nhân học, dạy văn cũng chính là dạy người Để làm sao cho mỗi bạn HS đều thấm nhuần được tư tưởng đạo lý, biết yêu thương, biết chia sẻ, biết vươn lên mỗi khi vấp ngã trong đường đời đầy chông gai này
Cũng từ kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lý, GV sẽ rèn cho HS các kỹ năng và thao tác tổng hợp thông tin, lập luận và vận dụng các kỹ năng lập luận vào vào viết bài văn nhằm đáp ứng yêu cầu học tập phần làm văn nói riêng và yêu cầu xã hội đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đời sống
Thông qua đề văn HS cần xác định được được vấn đề nghị luận ở đây
là gì, nó được thể hiện ra sao, nguồn gốc, nguyên nhân của các tư tưởng đó Tuy nhiên cũng cần nhìn vấn đề quan điểm đạo đức đó sao cho phù hợp với từng thời đại, chỉ ra các điểm còn sai lệch chậm tiến và phát huy những mặt
ưu điểm đúng đắn tiến bộ của nó Từ đó rút ra bài học về tư tưởng đạo lý, để
áp dụng vào thực tiễn cuộc sống
* Dàn bài chung của bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí:
Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần bàn luận
Thân bài
- Giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận
- Nêu lên các biểu hiện mang tính khái quát để làm rõ hơn cho phần giải thích
- Phân tích:
+ Trình bày các giá trị của tư tưởng, đạo lí
+ Ảnh hưởng của nó đối với đời sống
+ Hệ quả
Trang 24- Chứng minh: Đưa ra các dẫn chứng
- Đề xuất ý kiến: Giới thiệu một số phương hướng, phương pháp, cách thức rèn luyện và học tập
- Bình luận: Nêu phản đề
+ Đặt vấn đề ngược lại với tư tưởng, đạo lí được nêu
+ Giải thích sơ lượt
+ Ảnh hưởng của nó đối với đời sống
+ Hệ quả
- Liên hệ bản thân: Rút ra bài học cho bản thân và cộng đồng xã hội
Kết bài: Khẳng định vấn đề
*Một số đề bài về tư tưởng đạo lý
- Hãy phát biểu ý kiến của mình về mục đích học tập do UNESCO đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”
- Suy nghĩ của em về triết lí sau: “Đừng xin người khác con cá, mà hãy tìm học cách làm cần câu và cách câu cá”
- Trả lời câu hỏi điều tra của nhà bác học Hantơn, nhà bác học Đacuyn
nói về kinh nghiệm thành công của mình như sau: “Tôi nghĩ rằng tất cả
những gì có giá trị một chút, tôi đều đã thu nhận được bằng cách tự học.”
Bình luận câu nói trên Anh (chị) có suy nghĩ gì về con đường học tập sắp tới của mình?
- “Nếu đứa trẻ dửng dưng với những gì đang diễn ra trong trái tim của
nguời bạn, người anh em, của bố mẹ mình hoặc của bất cứ một đồng bào nào
mà em gặp, nếu đứa trẻ không biết đọc trong mắt người khác điều đang xảy
ra trong trái tim người đó thì đứa trẻ chẳng bao giờ trở thành con người chân chính.”
Anh (chị) có suy nghĩ gì về câu nói trên
1.1.2.2 Nghị luận về một hiện tượng đời sống xã hội
* Khái luận chung về kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
Trang 25Kiểu bài này hướng vào việc nghị luận về một hiện tượng, sự kiện xảy
ra trong đời sống Vấn đề đó có thể có ý nghĩa tích cực cũng có thể tác động tiêu cực đến xã hội Vì vậy đây có thể nói là kiểu bài có ý nghĩa thiết thực trong văn nghị luận xã hội Với kiểu bài này học sinh cần có những kiến thức thiết thực về xã hội và làm nổi bật được ý kiến chủ quan của riêng mình như ủng hộ cái đẹp, cái thiện cái tốt và lên án phê phán vạch trần cái xấu, cái ác từ
đó rút ra vấn đề tư tưởng cần đề cập tới
Không mang tính khái quát cao như kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lý, đề tài của kiểu bài về một hiện tượng trong đời sống xã hội thường cụ thể hơn, đó có thể là vấn đề đang gây nhức nhối bức xúc cho người dân như hiện tượng ô nhiễm môi trường, hay bệnh thành tích, tình trạng chạy chức chạy quyền, vấn đề tham nhũng v…v do tính chất linh biến của cuộc sống hang ngày nên đề tài cũng khá phong phú phức tạp
Với kiểu bài này yêu cầu người viết thường xuyên phải cập nhật thông tin, nắm vững các kiến thức xã hội để qua đó làm nổi bật được ý kiến riêng của mình với vấn đề đặt ra trong bài viết Người viết cũng cần đưa ra những ý kiến chủ quan của mình, đánh giá vấn đề đó là tích cực hay tiêu cực từ đó đưa
ra được giải pháp khắc phục đối với vấn đề tiêu cực và phát huy đối với vấn
đề tích cực
*Dàn bài chung về dạng bài nghị luận một hiện tượng xã hội
Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần bàn luận
Thân bài:
- Giải thích hiện tượng
- Nêu lên các biểu hiện mang tính khái quát để làm rõ hơn cho phần giải thích
- Phân tích hiện tượng:
+ Nguyên nhân
+ Ảnh hưởng của nó đối với đồi sống
+ Hệ quả (Kết quả tốt hoặc xấu)
Trang 26+ Đặt vấn đề ngược lại với hiện tượng được nêu
+ Giải thích sơ lượt
+ Nêu nguyên nhân
+ Hệ quả (Kết quả xấu hoặc tốt)
+ Ảnh hưởng của nó đối với đời sống
- Liên hệ bản thân: Rút ra bài học cho bản thân và cộng đồng xã hội
Kết bài: Khẳng định vấn đề
* Một số đề bài về nghị luận về một hiện tượng xã hội
- Hiện nay, ở nước ta có nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ
em cơ nhỡ, lang thang kiếm sống trong các thành phố, thị trấn về những mái
ấm tình thương để nuôi dạy, giúp các em học tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp
Anh (chị) hãy bày tỏ suy nghĩ về hiện tượng đó
- Về hiện tượng ngày càng có nhiều người rời bỏ quê hương để đổ xô
về các thành phố lớn
- Về hiện tượng nhiều người trong lớp trẻ hôm nay lạnh nhạt với âm nhạc truyền thống
1.1.2.3 Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
Đề bài thường tập trung về một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc nào đó đặt ra trong tác phẩm văn học Vấn đề xã hội có ý nghĩa có thể lấy từ hai nguồn: Tác phẩm văn học đã học trong chương trình hoặc một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà HS chưa được học
Về cấu trúc triển khai tổng quát:
Trang 27Phần một: Phân tích văn bản (hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện) để rút ra
ý nghĩa của vấn đề (hoặc câu chuyện)
Phần hai (trọng tâm): Nghị luận (phát biểu) về ý nghĩa của vấn đề xã hội rút
ra từ tác phẩm văn học (câu chuyện)
* Một số đề tham khảo từ sách chuẩn và nâng cao:
- Từ đoạn trích vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang
Vũ, nghĩ về niềm hạnh phúc khi được sống thực với mình và với mọi người
- Đọc văn bản “Hoa hồng tặng mẹ”:
Nêu suy nghĩ của anh (chị) từ ý nghĩa của câu chuyện “Hoa hồng tặng mẹ”
- “Con cò mà đi ăn đêm, Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao
Ông ơi, ông vớt tôi nao!
Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong, Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con”
Từ bài ca dao, hãy bàn về vấn đề lẽ sống của con người Việt Nam
- Từ tiểu thuyết “Mùa lá rụng trong vườn” của nhà văn Ma Văn
Kháng, hãy bàn về mối quan hệ giữa gia đình và xã hội
- Từ truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh
Châu, nghĩ về nạn bạo hành gia đình trong xã hội ngày hôm nay
1.1.3 Về dạng bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
1.1.3.1 Vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
* Khái niệm xã hội
Cuốn Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) đã đưa ra khái niệm
xã hội: Hình thức sinh hoạt chung có tổ chức của loài người ở một trình độ
phát triển nhất định, được hình thành trong quá trình lịch sử (19,tr.1452)
Các vấn đề xã hộilà những ®iÒu cÇn ph¶i xem xÐt, nghiªn cøu, gi¶i quyÕt trong xã hội C¸c vấn đềnµy th-êng gây tranh cãi, liên quan đến cuộc sống cá
Trang 28nhân và tương tác của người dân Các vấn đề xã hội được phân biệt với các vấn đề kinh tế
* Khái niệm tác phẩm văn học
Cuốn Lý luận văn học do Phương Lựu chủ biên định nghĩa:“Tác phẩm
văn học là công trình nghệ thuật ngôn từ, kết quả của tiến trình lao động nghệ thuật (hoạt động sáng tác) của cá nhân nhà văn hoặc kết quả của nỗ lực sángtác tập thể.” (19,tr.402) Mỗi tác phẩm là một hệ thống phức tạp bao gồm
hàng loạt các yếu tố thuộc những bình diện khác nhau như đề tài, chủ đề, tư tưởng, kết cấu, ngôn ngữ, nhân vật, hình tượng, cốt truyện Sự kết hợp và tác động lẫn nhau giữa các yếu tố này khiến tác phẩm trở thành một chỉnh thể nghệ thuật, mang tính thống nhất hữu cơ giữa nội dung thẩm mỹ và hình thức nghệ thuật
* Vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
Bắt nguồn từ chức năng phản ánh của văn học Hiện thực là thuộc tính,
là phẩm chất của tác phẩm văn học Tác phẩm nào cũng có tính hiện thực vì
bất kỳ tác phẩm nào cũng phản ánh hiện thực Trước đây, trong Trăng sáng,
Nam Cao đã nêu quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh của mình: Nhà văn phải thấy rằng dưới cõi nhân gian mà ánh trăng đang bao phủ nuột nà, nơi người nghệ sĩ mặc sức cho trí tưởng tượng của mình bay bổng là bao cuộc đời cực
nhục, vất vả Gần đây là Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu,
chúng ta gặp hình ảnh người nghệ sĩ nhiếp ảnh với những suy nghĩ da diết về chân lý nghệ thuật và đời sống Nói vậy để thấy rằng vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học vô cùng phong phú và rộng lớn Đó cũng chính là nguồn khai thác cho các đề văn dạng bài nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học
Đây là dạng bài mới trong nội dung dạy học làm văn Đặc điểm của dạng bài này là dựa vào một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc nào đó đặt ra trong tác phẩm văn học, yêu cầu người viết phát biểu, bàn bạc về ý nghĩa của vấn đề đó Khi nhận định về kiểu bài này, sách giáo viên Ngữ văn 12 (Nâng
Trang 29cao) có cho rằng: “Vấn đề xã hội có ý nghĩa có thể lấy từ hai nguồn: Từ tác
phẩm văn học đã học trong chương trình Từ một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà học sinh chưa được học.” [31,tr 219]
Tác phẩm văn học là một tấm gương phản chiếu cuộc sống Tác phẩm văn học là kết quả của quá trình nhà văn khám phá, lí giải cuộc sống rồi chuyển hóa những hiểu biết đó vào nội dung tác phẩm Ở đó qua lăng kính nghệ thuật nhà văn trực tiếp hay gián tiếp chuyển tải những vấn đề xã hội vào
trong tác phẩm văn chương Cho nên văn học là cuộc sống, gần gũi và gắn bó
với mỗi người Vì vậy đọc văn là hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của con người Nó giúp chúng ta hiểu biết rõ hơn, sâu hơn về cuộc sống xung quanh và thậm chí chính bản thân mình, từ đó tác động vào cuộc sống hiệu quả hơn Thông qua cuộc sống và hình ảnh của nhiều người khác nhau được trình bày trong các tác phẩm cụ thể, văn học còn giúp cho mỗi người đọc hiểu được bản chất của con người nói chung chẳng hạn như đâu là mục đích tồn tại của con người? Đâu là tư tưởng, tình cảm, khát vọng và sức mạnh của con người Đồng thời chính từ cuộc đời người khác, mỗi người đọc có thể liện hệ, tự so sánh, đối chiếu để hiểu bản thân mình hơn với tư cách là một con người cá nhân
Trong khi đó, nhà văn khi phản ánh hiện thực cuộc sống thông qua tác phẩm văn học, dù trực tiếp hay gián tiếp bao giờ cũng bộc lộ một thái độ tư tưởng, tình cảm, một sự nhận xét, đánh giá của mình, … Như vậy tất cả đều
sẽ tác động đến người đọc Bởi con người ta nhận thức không chỉ để nhận thức mà nhận thức là để hành động Con người không chỉ có nhu cầu hiểu biết
mà còn có nhu cầu hướng thiện, khao khát một cuộc sống tốt lành Chính vì vậy văn học có khả năng đem đến cho người đọc những bài học quý giá về lẽ sống để họ tự rèn luyện bản thân mình ngày một tốt đẹp hơn.Về tư tưởng, văn học hình thành trong người đọc một lí tưởng tiến bộ, giúp cho học có thái độ
và quan điểm đúng đắn về cuộc sống Về tình cảm, văn học giúp con người trở nên lành mạnh, trong sáng, cao thượng hơn Về đạo đức, văn học nâng đỡ
Trang 30cho nhân cách của con người phát triển, giúp cho học biết phân biệt phải - trái, tốt - xấu, đúng - sai, có quan hệ tốt đẹp và biết gắn bó cuộc sống của cá nhân mình với cuộc sống của mọi người Tóm lại là văn học có giá trị giáo dục lớn lao, nó có thể thay đổi hoặc nâng cao tư tưởng, tình cảm con người theo chiều hướng tích cực, tốt đẹp, tiến bộ, đồng thời làm chocon người ngày càng hoàn thiện về đạo đức
Tuy nhiên đặc trưng giáo dục của văn học hoàn toàn khác với những nguyên tắc áp đặt của pháp luật hay những lời giáo huấn trực tiết trong những bài giảng về đạo đức bởi văn học giáo dục con người bằng con đường đi từ cảm xúc đến nhận thức, bằng cái thật, cái đúng, cái đẹp của những hình tượng sinh động, đầy sức thuyết phục Có lẽ vì thế tác dụng giáo dục của văn học không phải ngay lập tức mà dần dần thấm sâu nhưng rất lâu bền, nó gợi ra những cảm nghĩ sâu xa về cuộc đời và con người, nó gián tiếp đưa ra những bài học những đề nghị về cách sống Với những khả năng ấy, văn học không những góp phần hoàn thiện nhân cách con người mà còn hướng họ tới những hành động cụ thể, thiết thực, vì một cuộc đời ngày càng tốt đẹp hơn Mặt khác văn học còn có khả năng giúp con người biết cảm nhận và rung động một cách tinh tế, sâu sắc trước mọi vẻ đẹp của cuộc đời, hướng họ đến chân, thiện, mĩ
1.1.3.2 Dạng bài nghị luận vềt vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
Trong chương trình Ngữ văn hiện nay, häc sinh häc chươngtr×nh ChuÈn
chØ được häc hai d¹ng: Nghị luận về một tư tưởng đạo lí vµ Nghị luận về một
hiện tượng đời sống.Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩmvăn
họclà một dạng bài thuộc nghị luận xã hội, đối tượng nghị luận của nó là bàn
về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học cụ thể Sách giáo viên Ngữ văn
12 (nâng cao) đã đưa ra nhËn xÐt vÒ d¹ng bµi nµy như sau: Nhiều người nhầm
đề dạng này là nghị luận văn học, vì đề có liên quan đến tác phẩm văn học Đúng là dạng đề này liên quan và xuất phát từ tác phẩm văn học, nhưng tác phẩm văn học chỉ là “cái cớ” khởi đầu Mục đích chính của dạng đề này vẫn
là yêu cầu người viết bàn bạc, nghị luận về một vấn đề xã hội, đạo lí, tư
Trang 31tưởng, nhân sinh v v Nghĩa là nhân vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học
đó mà luận bàn, kiến giải Trong trường hợp này, tác phẩm văn học chỉ được khai thác về giá trị nội dung tư tưởng, rút ra ý nghĩa xã hội khái quát của tác phẩm ấy”.[31,tr 200]
Mặc dù xét về mặt nội dung dạng bài nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học có thể thuộc kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lý hoặc nghị luận về một vấn đề đời sống xã hội Tuy nhiên nó có những đặc trưng và yêu cầu riêng.Vì vậy cần xét đến với vai trò là một dạng nghị luận xã hội đặc biệt Có thể nói đây là kiểu bài giao thoa giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội, HS vừa phải huy động các kiến thức từ tác phẩm văn học, qua đó khám phá giải mã các vấn đề xã hội được đặt ra trong tác phẩm văn học
* Dàn bài chung cho kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm có vấn đề nghị luận
- Giới thiệu vấn đề được đưa ra bàn bạc
Thân bài:
- Nêu khái quát vấn đề xã hội được đặt ra trong tác phẩm văn học, phần này người viết phải vận dụng kĩ năng đọc - hiểu văn bản để trả lời các câu hỏi:
- Giải thích, phân tích, chứng minh vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
+ Vấn đề đó là gì?
+ Được thể hiện như thế nào trong tác phẩm?
(Vì tác phẩm văn học chỉ là cái cớ để nhân ý kiến đó mà bàn bạc, nghị luận về vấn đề xã hội, vì thế không nên đi quá sâu vào việc phân tích tác phẩm
mà chủ yếu rút ra ý nghĩa khái quát để bàn bạc vấn đề có ý nghĩa xã hội)
Trang 32- Bàn luận mở rộng vấn đề: Từ vấn đề được rút ra, người viết tiến hành làm bài nghị luận xã hội, nêu những suy nghĩ của bản thân mình về vấn đề ấy
+ Vấn đề đó là đúng hay sai?
+ Biểu hiện thông qua đời sống như thế nào?
+ Nó có ý nghĩa với cuộc sống hiện nay hay không?
Kết bài:
- Khẳng định ý nghĩa của vấn đề trong việc tạo nên giá trị của tác phẩm
- Từ vấn đề được bàn luận rút ra bài học cho bản thân
Như vậy trong thực tế, dạng bài nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học đã chính thức được coi như một dạng bài song hành cùng
hai dạng của văn nghị luận xã hội (Nghị luận về một tư tưởng đạo lí Nghị
luận về một hiện tượng đời sống) nhưng vẫn chưa được các nhà viết sách tạo
lập thành một tiết học riêng biệt như hai dạng bài kia ở chương trình Chuẩn,
và ở chương trình Nâng cao cũng không có tiết học lí thuyết riêng, chỉ có tiết luyện tập Ngoài hiện trạng sách giáo khoa như vậy cũng chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào nghiên cứu về việc dạy học kiểu bài này
1.1.4 Ý nghĩa của việc làm văn nghị luận xã hội về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
Phần làm văn trong chương trình Ngữ văn THPT một phần quan trọng của bộ môn Ngữ văn Gần đây cùng với sự đổi mới của giáo dục dạy học, phần làm văn thực sự nhận được sự quan tâm của các nhà giáo dục Môn Làm văn từng bước đã được khẳng định vị trí của mình trong chương trình Ngữ văn THPT
Với phần NLXH cung cấp cho HS các kiến thức, hiểu biết về đời sống
xã hội, giúp cho em thấy được mối liên hệ chặt chẽ giữa văn học và cuộc sống, để qua đó các em sẽ có thêm nhiều kinh nghiệm sống để có thêm bản lĩnh, thêm kỹ năng sống để qua đó các em có đủ bản lĩnh để phân biệt được cái tốt cái xấu, có đủ bản lĩnh để vượt qua những cám dỗ trong cuộc sống vốn nhiều thử thách và chông gai này và cũng qua đó tâm hồn của các em sẽ nhạy
Trang 33cảm hơn để vươn tới những giá trị chân thiện mĩ Bên cạnh đó qua bài văn nghị luận xã hội sẽ giúp các em rèn luyện được tư duy ngôn ngữ, khả năng lập luận và tổ chức ý trong văn bản Để viết được bài văn nghị luận xã hội hoàn chỉnh các em cần sử dụng rất nhiều các kỹ năng từ thu thập, chắt lọc xử lý thông tin, sau đó sử dụng các dẫn chứng lý lẽ qua hệ thống luận điểm để thuyết phục người đọc, người nghe về một vấn đề được đưa ra bàn luận
Dạng bài nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
có vai trò quan trọng trong cuộc sống cũng như trong nhà trường THPT HS cần rèn luyện khả năng tư duy logic và phải có kiến thức về tác phẩm, tác giả
để lảm tốt dạng bài nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học
Với kiểu bài này HS sẽ thấy được các tác phẩm văn chương có mối quan hệ mật thiết với đời sống, mỗi tác phẩm văn chương sẽ là một khía cạnh của đời sống, ở nơi đó đặt ra những vấn đề nóng bỏng của xã hội, vấn đề nhức nhối của thời đại, những tấm gương sáng để cho HS noi theo học tập
Ví như trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
ta cảm thấy rằng với một tình cảm dạt dào với tấm lòng thiết tha hiểu đời, hiểu nghệ thuật, tác giả không chỉ cho người đọc thấy được mối quan hệ giữa cuộc đời và nghệ thuật, giữa sự lam lũ của cuộc sống và tình người bao la, mà còn lên tiếng tố cáo, đấu tranh cho một vấn nạn đầy bức xúc và nhức nhối trong xã hội: đó là bạo hành trong gia đình Bạo hành trong gia đình không
chỉ là một đề tài mà Nguyễn Minh Châu quan tâm và nhắc tới trong “Chiếc
thuyền ngoài xa”, mà còn là vấn nạn cả xã hội chúng ta đang đối mặt và cần
phải giải quyết
Hoặc như HS có thể cảm nhận được về triết lý sống đẹp trong bài thơ
“Vội Vàng” của Xuân Diệu Tình yêu cuộc sống là cơ sở chắp cánh cho một lối sống đẹp Cuộc sống ngày hôm nay còn nhiều xô bồ, rối ren nhưng cần phải biết lắng nghe và phát hiện những thanh âm trong trẻo giữa thế giới đang của những guồng quay kia, ta sẽ thấy có thêm niềm tin để sống Khi gắn bó với đời, bám rễ vào đời lại chợt thấy cuộc sống có nhiều điều bình dị mà thú
Trang 34vị, đáng yêu Có những điều sẽ khiến người ta có khi bực dọc, buồn phiền nhưng lại mang đến cho con người khao khát được khám phá Chỉ có điều con người đừng để tâm hồn mình nghèo nàn, đơn điệu khi đứng trước cuộc đời này Ngày hôm nay, bên cạnh quan niệm sống đẹp là sống có ích cho đời thì không ít người còn quan niệm: Sống đẹp là phải biết tận hưởng, biết lãng mạn
và đắm say trước cuộc sống Có phút giây nào đó mọi người thoát ra khỏi guồng quay bận bịu của công việc để ngắm một cánh đồng, một dòng sông, thưởng thức một bộ phim hay, sống cho riêng mình, cũng sẽ thấy yêu cuộc
sống này hơn
Sống theo đúng nghĩa của hai chữ sống đẹp hãy xác định cho mình một
lí tưởng sống, sống và cống hiến tận độ đừng để những giờ khắc của tuổi trẻ phải sống hoài, sống phí hãy biến những lí tưởng sống đẹp của mình thành hành động có ích Bởi sống đẹp là thước đo nhân cách của một con người!
Ngày nay, trước những yêu cầu bức thiết của xã hội, học các tác phẩm văn học trong nhà trường không chỉ để cảm nhận, để thưởng thức mà còn phải thấy được ý nghĩa xã hội, thấy được tính thời sự ở đó, vì thế dạng bài nghị luận vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là một dạng bài nghị luận xã hội góp phần gắn chặt mối quan hệ giữa dạy đọc hiểu văn bản văn học với thực tế cuộc sống, làm cho học sinh sau khi học tác phẩm văn học còn biết liên hệ đến các vấn đề xã hội đang diễn ra xung quanh, đây cũng là một trong những mục tiêu lớn của việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông hiện nay
1.1.5 Hiệu quả của cách thức giúp học sinh tích cực, chủ động phát hiện vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
Bản chất của cách thức giúp học sinh tích cực, chủ độngphát hiện ra vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học là việc vận dụng nhiều phương pháp trong quá trình dạy và học, đạt được nhiều hiệu quả:
Trước hết để thực hiện phương pháp này học sinh sẽ phải chủ động tích cực chuẩn bị bài ở nhà, tìm hiểu kĩ về tác phẩm, phát hiện những vấn đề xã
Trang 35hội và những thông điệp của tác giả, từ đó các em có tâm thế và hứng thú trong tiết học trên lớp
Thứ hai trong tiết học, giáo viên còn tổ chức tiết học bằng việc vận dụng phương pháp dạy học như phát vấn, thảo luận nhóm, bình giảng… Điều này sẽ giúp không khí học tập sinh động, học sinh được tự do, mạnh dạn bày
tỏ ý kiến quan điểm của mình về một vấn đề, cũng là phương thức đối thoại giữa học sinh với nhà văn, giữa học sinh với giáo viên, và giữa học sinh với học sinh, rèn luyện kĩ năng diễn đạt, tranh luận … Do vậy việc tiếp nhận tác phẩm văn học không còn mang tính thụ động, áp đặt Đồng thời qua đó giáo viên có thể đánh giá được thái độ học tập của học sinh, nắm bắt mức độ tiếp nhận tác phẩm văn học, mức độ hiểu biết của các em về các vấn đề xã hội,… nhằm có sự khích lệ hoặc có định hướng tích cực, kịp thời
Thứ ba, việc tiếp nhận tác phẩm văn học một cách chủ động, tích cực còn sẽ giúp học sinh thấy tác phẩm văn học không phải là cái gì xa lạ, tách rời cuộc sống mà rất gần gũi, gắn bó với cuộc sống Văn học là cuộc sống Tiếp nhận một tác phẩm văn chương một cách tích cực, học sinh sẽ có sự thấu hiểu
và đồng cảm, học hỏi được những giá trị tinh thần quý báu của nhà văn, từ đó
tự điều chỉnh đời sống cá nhân theo hướng tích cực, hướng đến chân, thiện,
mĩ một cách tự nhiên nhất
Thứ tư, việc tích cực, chủ động phát hiện, tìm hiểu về các vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học còn giúp học sinh phát triển tư duy, rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận xã hội
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Thực trạng của việc dạy học kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt
ra trong tác phẩm văn học ở trường THPT
1.2.1.1 Đối tượng điều tra
Để nắm được thực trạng năng lực và việc dạy học về kiểu bài này, chúng tôi đã điều tra học sinh của 4 lớp 12 của hai trường trên địa bàn của
Trang 36thành phố Bắc Ninh, đó là trường THPT Hoàng Quốc Việt và trường THPT Hàn Thuyên
1.2.1.2 Nội dung điều tra
Điều tra năng lực kỹ năng viết bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học thông qua hệ thống bài tập và tiết trả bài kiểm tra
1.2.1.3 Cách thức điều tra
* Đối với học sinh
Chúng tôi đã tiến hành 3 phép đo như sau:
Cách thứ nhất: Cho HS một đề bài NLXH yêu cầu học sinh lập ý trong
khoảng thời gian từ 10-15 phút Sau đó chấm bài và thống kê kết quả cách này gọi là phép đo 1
Cách thứ hai: Cho HS viết một đề văn sau đó yêu cầu HS lập ý và viết
thành bài hoàn chỉnh trong 2 tiết tại lớp hoặc giao cho HS về nhà làm sau đó
GV sẽ thu chấm về hệ thống ý và bài văn Ở phép đo nay người chấm phải tiến hành các bước chấm hệ thống ý và bài làm kết hợp với việc so sánh kết quả của dàn ý và bài văn xem chúng có phù hợp hay không, từ đó mà đánh giá các khía cạnh của bài viết Cách này gọi là phép đo 2
Cách thứ ba: Ngoài 2 cách trên chúng tôi tiến hành điều tra HS và GV
để xác định thực trạng kỹ năng lập ý của HS THPT hiện nay
* Đối với giáo viên
Chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu thăm dò và trực tiếp, dự giờ giảng của các GV
1.2.1.4 Đánh giá kết quả
Ở phép đo 1, thời gian làm thực nghiệm là tháng 11 năm 2013, tổng số
HS tham gia là 160 em
Ở phép đo 2, thời gian làm thực nghiệm là tháng 11 năm 2013, tổng số
HS tham gia là 160 em
Ở phép đo 3 (phép đo bổ sung) tổng số HS tham gia là 325, số phiếu hợp lệ là 300, tổng số GV là 18 thầy cô
Trang 37* Phép đo 1: Căn cứ vào phiếu điều tra phát cho HS để kiểm tra năng lực của
HS, chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
Hãy lập dàn ý cho đề bài sau trong khoảng thời gian 15 phút
Đề bài: Từ trích đoạn Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ nghĩ
về niềm hạnh phúc khi được sống thực với mình và mọi người
Bảng 1.1.Thống kê kết quả bài làm của học sinh
Bảng 1.2.Thống kê kết quả lỗi học sinh thường gặp khi lập dàn ý
Tổng số
bài Thiếu ý Thừa ý
Triển khai ý không
rõ trọng tâm
Ý lộn xộn trùng lặp
Không biết lập ý
160 75(46,8%) 70(43,7%) 60(37,5%) 65(40,6%) 55(34,3%)
* Phép đo 2:
GV đo năng lực của học sinh về khả năng viết thành một bài văn hoàn chỉnh
với đề bài sau:
Đề bài: Từ trích đoạn Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
nghĩ về niềm hạnh phúc khi được sống thực với mình và mọi người
Qua phiếu điều tra, ta thu được kết quả như sau:
Bảng 1.3.Thống kê kết quả bài làm của học sinh
Cách diễn đạt lủng củng
Chưa biết cách liên kết đoạn văn
160 75(46,8%) 70(43,7%) 60(37,5%) 65(40,6%) 55(34,3%)
Trang 38* Phép đo 3:
Bảng 1.5 Thống kê phiếu khảo sát của học sinh
nào khó nhất?
Câu trả lời
luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học nói riêng em thấy khó ở khâu nào nhất?
khi viết bài không?
Trang 39Câu trả lời
Được trình bày suy nghĩ riêng 37 (12,3%)
Được biết thêm nhiều những vấn đề về
Chú ý nhiều trong việc rèn luyện kỹ
năng làm văn Đồng thời hướng dẫn cụ
thể cách vận dụng kiến thức vào làm
một bài văn
243(81%)
Cung cấp thật nhiều kiến thức 27(9%)
Đặt câu hỏi sáng rõ và hướng dẫn cụ thể 30(10%)
Bảng 1.6 Thống kê phiếu khảo sát của GV
Đánh giá về khả năng phân tích đề và lập dàn ý của
HS về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
là:
- Khả năng phân tích đề, lập dàn ý của HS là Tốt
- Khả năng phân tích đề, lập dàn ý của HS là Khá
- Khả năng phân tích đề, lập dàn ý của HS là Trung Bình
- Khả năng phân tích đề, lập dàn ý của HS là Yếu
0(0%) 4(22,2%)
7(38,9%) 7(38,9%)
Đánh giá về khả năng dựng đoạn và liên kết đoạn
Trang 40của HS về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn
học là:
-Khả năng dựng đoạn và liên kết đoạn của HS là Tốt
-Khả năng dựng đoạn và liên kết đoạn của HS là Khá
-Khả năng dựng đoạn và liên kết đoạn của HS là Trung
Bình
-Khả năng dựng đoạn và liên kết đoạn của HS là Yếu
0(0%) 4(22,2%) 10(55,6%) 4(22,2%)
Đánh giá về tình tình giảng dạy của GV về kiểu bài
nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn
học
- Dạy làm văn về kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt
ra trong tác phẩm văn học khó hơn so với dạy tiếng Việt
và Đọc văn
-Dạy làm văn về kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt
ra trong tác phẩm văn học gặp khó khăn vì HS không
chăm, thiếu kĩ năng tự học, bị hổng kiến thức từ lớp
dưới
-Dạy làm văn về kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt
ra trong tác phẩm văn học gạp khó khăn vì thời lượng
phân phối cho phân môn làm văn và cho từng tiết dạy
còn quá ít
-Các thầy cô còn lúng túng khi dạy cho HS kỹ năng áp
dụng lý thuyết để làm một bài văn cụ thể
15(83,3%)
17(94,4%)
18(100%)
12(66,6%)
Đánh giá về điều kiện phục vụ cho việc giảng dạy
- Cần trang bị cho HS một hệ thống kỹ năng bài bản từ
cấp dưới
- Cần trang bị cho GV sách giáo khoa, sách giáo viên,
tài liệu tham khảo có khả năng áp dụng, thực hành cao
16(88,8%)
17(94,4%)
18(100%)