1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Pháp luật về cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước ở Việt Nam : Luận văn ThS. Luật: 60 38 50

101 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô hình tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại nhà nước sau cổ phần hóa 46 Chương 2: Kinh nghiệm một số nước về cổ phần hóa Ngân hàng thương mại nhà nước và thực trạng tái cơ cấu

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Chu Văn Thái

Trang 2

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về cổ phần hóa

Ngân Hàng Thương Mại nhà nước

1.2 Khái niệm, đặc điểm, phương thức cổ phần hóa ngân hàng

thương mại nhà nước

1.4 Các quy định pháp luật về cổ phần hóa ngân hàng thương

mại nhà nước ở Việt Nam hiện nay

19

Trang 3

1.4.1 Quy định về điều kiện và hình thức cổ phần hóa 20

1.4.6 Chính sách với doanh nghiệp và người lao động khi sau cổ

phần hóa

43

1.4.7 Mô hình tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại

nhà nước sau cổ phần hóa

46

Chương 2: Kinh nghiệm một số nước về cổ phần hóa Ngân hàng

thương mại nhà nước và thực trạng tái cơ cấu chuẩn bị cho cổ phần hóa của các Ngân hàng thương mại nhà nước ở Việt nam hiện nay

49

2.1 Kinh nghiệm một số nước về cổ phần hóa ngân hàng thương

mại nhà nước

49

2.1.1 Lý do của sự tồn tại phổ biến hình thức sở hữu nhà nước các

ngân hàng thương mại trong lịch sử

2.1.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ quá trình cổ phần hóa

ngân hàng thương mại nhà nước của các nước

58

2.2 Thực trạng tái cơ cấu chuẩn bị cho cổ phần hóa của các ngân

hàng thương mại nhà nước ở Việt Nam hiện nay

61

2.2.1 Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long 62 2.2.2 Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam 63

Trang 4

Chương 3: một số kiến nghị xây dựng và hoàn thiện pháp luật về cổ

phần hóa Ngân hàng thương mại nhà nước

68

3.1 Định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về cổ phần

hóa ngân hàng thương mại nhà nước

68

3.1.1 Chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật

của Nhà nước

68

3.1.2 Yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới và cam kết cải cách hệ

thống Ngân hàng Việt Nam khi gia nhập WTO

70

3.2 Những kiến nghị cụ thể nhằm xây dựng và hoàn thiện các

quy định của pháp luật về cổ phần hóa ngân hàng thương

mại nhà nước ở Việt Nam hiện nay

72

3.2.5 Quy định về chính sách với doanh nghiệp và người lao động

khi sau cổ phần hóa

81

3.2.7 Mô hình tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại

Trang 5

ICB : Ngân hàng Công thương Việt Nam

MHB : Ngân hàng Phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long

NHTM : Ngân hàng thương mại

NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần

NHTMNN : Ngân hàng thương mại nhà nước

SHNN : Sở hữu nhà nước

TCTD : Tổ chức tín dụng

TNH : Tư nhân hóa

VCB : Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Thông tư số 95: Thông tư số 95/2004/TT-BTC ngày 12/10/2004 của Bộ

Tài chính, sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư

số 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 hướng dẫn thực hiện Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của

Trang 6

Chính phủ về chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần

Thông tư số 126: Thông tư số BTC ngày 24/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về chuyển công ty nhà nước thành công ty

126/2004/TT-cổ phần

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình đổi mới nền kinh tế nước ta trong hai mươi năm qua đã đạt được những thành tựu rất đáng tự hào Tốc độ phát triển kinh tế cao trên 7%/năm trong một thập kỷ trở lại đây, thu nhập đầu người đạt khoảng 800 USD/ năm (năm 2007), Việt Nam đã dần thoát khỏi tình trạng kém phát triển và nổi nên như một điển hình kinh tế năng động của khu vực Đông Nam Á Trong thành tựu trung đó, ngành Ngân hàng đã và đang đóng góp một vai trò, vị trí hết sức quan trọng, đặc biệt là hệ thống NHTMNN Chiếm tới 76% vốn huy động và 73.5% tổng dư nợ cho vay của toàn hệ thống (tính đến 2005) các NHTMNN đã thể hiện được vai trò đầu tầu của

hệ thống NHTM trong việc huy động vốn phục vụ mục tiêu phát triển kinh

tế và đã đóng góp quan trọng vào việc thực hiện các chính sách chính trị -

xã hội của Đảng và Nhà nước vì một xã hội công bằng và văn minh

Tuy nhiên, trong bối cảnh mới của toàn cầu hóa và hội nhập quốc

tế, hệ thống NHTMNN đã bộc lộ rõ những nhược điểm cố hữu: vốn tự có nhỏ bé, công nghệ lạc hậu, tỷ lệ nợ xấu rất cao, năng lực quản trị yếu kém, các tiêu chuẩn an toàn so với tiêu chuẩn quốc tế còn một khoảng cách rất xa… Tất cả những hạn chế đó đã đặt các NHTMNN trước những rủi ro nghiêm trọng và có nguy cơ đe dọa sự an toàn của cả hệ thống Điều đó đặt ra yêu cầu bức thiết là phải cải cách triệt để hệ thống NHTM nhà nước để các ngân hàng này thực sự được lành mạnh hóa và vững vàng đón nhận những

cơ hội cũng như thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế Trong bối cảnh hiện nay, CPH các NHTMNN là chủ trương, chính sách được Đảng và Nhà nước ta lựa chọn Thực tế cũng như nhìn nhận của giới quan sát nước ngoài đều cho thấy đây là một quyết sách đúng đắn

Trang 8

Trong lĩnh vực luật học, những năm gần đây đã có một số công trình khoa học pháp lý nghiên cứu về CPH DNNN, trong đó có các NHTMNN Tuy nhiên, cổ phần hóa NHTMNN là một vấn đề còn mới mẻ

ở nước ta Chúng ta vẫn đang trong quá trình thí điểm, vừa làm vừa hoàn thiện, điển hình là trường hợp thí điểm CPH VCB đã được bắt đầu tiến hành từ 2004, nhưng đến nay vẫn chưa CPH xong Do đó, quá trình CPH NHTM đã và đang còn rất nhiều vấn đề cần phải tháo gỡ đặc biệt là về các quy định pháp luật Các quy định chung về CPH DNNN có nhiều điểm tỏ

ra bất cập khi áp dụng vào CPH NHTM, ví dụ vấn đề xác định giá trị của NHTM, vấn đề xử lý tài chính, tỷ lệ cổ phần của nhà nước… Trong khi đó, yêu cầu CPH NHTM là đang rất cấp bách nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các NHTM khi chúng ta mở cửa thị trường tài chính và theo lộ trình của Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ cũng như các cam kết khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Chính vì vậy, tác giả

chọn đề tài "Pháp luật về cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước

ở Việt Nam" cho luận văn của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về CPH DNNN nói chung và NHTM nhà nước nói riêng

- Hệ thống hóa những quy định pháp luật về CPH DNNN nói chung và NHTMNN nói riêng

- Nghiên cứu kinh nghiệm CPH NHTMNN ở một số nước

- Phân tích các quy định pháp luật về CPH NHTMNN ở Việt Nam

- Đề ra các kiến nghị và giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về CPH NHTMNN ở Việt Nam

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về quá trình CPH DNNN, trong đó, tập trung đi sâu vào nghiên cứu quá trình CPH các

Trang 9

NHTMNN ở nước ta Luận văn sẽ chú trọng nghiên cứu thực tế quá trình thí điểm CPH hai NHTMNN đầu tiên là VCB và MHB, để từ đó làm sáng

tỏ các vấn đề lớn của quá trình CPH các NHTMNN của Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Các quy định pháp luật về CPH DNNN do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, trong đó chú trọng đến các quy định áp dụng đối với CPH NHTMNN Các quy định về CPH NHTM của các nước, đặc biệt là của Trung Quốc (quốc gia có nhiều điểm tương đồng về kinh tế, văn hóa, chính trị với Việt Nam) sẽ được sử dụng trong nghiên cứu như là sự so sánh, đối chiếu để từ đó tìm những điểm tích cực cũng như những vấn đề cần phải hoàn thiện của các quy định về CPH NHTMNN của Việt Nam

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm và chính sách, pháp luật

về CPH DNNN của Đảng và Nhà nước đã ban hành

- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống, cơ bản như: phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh…

- Bên cạnh đó luận văn chú trọng đến phương pháp nghiên cứu thực tế Việc tìm hiểu quá trình CPH NHTMNN của một số quốc gia trên thế giới; phân tích, đánh giá thực trạng quá trình CPH NHTMNN ở nước

ta, đặc biệt là việc thí điểm CPH VCB và MHB sẽ là những kinh nghiệm

quý báu cho việc hoàn thiện pháp luật về CPH NHTMNN ở Việt Nam

5 Những đóng góp của luận văn

- Việc phân tích và đánh giá thực trạng CPH NHTMNN sẽ tạo được cái nhìn tổng quan về quá trình CPH NHTMNN ở nước ta

- Hệ thống hóa được các quy định pháp luật về CPH DNNN nói chung và NHTMNN nói riêng

Trang 10

- Từ việc nghiên cứu để tìm ra những mặt tích cực cũng như những vấn đề còn chưa hoàn thiện, bỏ ngỏ của quy định pháp luật về CPH NHTMNN của Việt Nam, những kiến nghị, đề xuất cụ thể của luận văn góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật về CPH NHTMNN nói riêng và

nói chung

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về CPH

NHTMNN

Chương 2: Kinh nghiệm một số nước về CPH NHTMNN và thực

trạng tái cơ cấu chuẩn bị cho CPH các NHTMNN ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Một số kiến nghị xây dựng và hoàn thiện pháp luật về

CPH NHTMNN

Trang 11

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT

VỀ CỔ PHẦN HÓA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC

1.1.1 Khái niệm

NHTM nói chung và NHTMNN (hay quốc doanh) nói riêng là một khái niệm xuất hiện chưa lâu ở Việt Nam Trước đây, khi thực hiện chế độ Ngân hàng một cấp thì NHNN Việt Nam là ngân hàng duy nhất thực hiện vai trò chức năng của cả Ngân hàng trung ương và NHTM Kể từ khi có Nghị định số 53/1988/NĐ-HĐBT ngày 26/3/1988 về việc hình thành hệ thống Ngân hàng hai cấp thì khái niệm NHTM mới xuất hiện

Theo Khoản 2, Điều 20, Luật các Tổ chức tín dụng năm 1997, sửa

đổi, bổ sung năm 2004 thì "Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được

thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan"

Theo Khoản 1, Điều 20, Luật Tổ chức tín dụng năm 1997, sửa đổi,

bổ sung năm 2004, TCTD là "doanh nghiệp được thành lập theo quy định

của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng"

Theo Khoản 7, Điều 20, Luật này thì "Hoạt động ngân hàng là hoạt động

kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán"

Theo Khoản 2, Điều 4, Nghị định số 49/2000/NĐ-CP về tổ chức và

hoạt động của ngân hàng thương mại thì "Ngân hàng thương mại là ngân

hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác liên quan, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế khác của Nhà nước."

Trang 12

Theo Khoản 22, Điều 4, Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì "Doanh

nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ"

Do vậy, NHTMNN có thể định nghĩa là NHTM được Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận và góp phần thực hiện các mục tiêu chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước

1.1.2 Đặc điểm

Thứ nhất, NHTMNN trước tiên là một NHTM Điều này có nghĩa

là NHTMNN tổ chức và hoạt động theo mô hình của NHTM, thực hiện đầy

đủ các hoạt động nghiệp vụ, mục tiêu, chức năng của NHTM Đó là doanh nghiệp được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác

có liên quan, trong đó nội dung hoạt động chính là nhận tiền gửi, sử dụng chúng để cấp tín dụng cho khách hàng và thực hiện các dịch vụ ngân hàng NHTM là một loại hình doanh nghiệp rất đặc thù của nền kinh tế do đối tượng kinh doanh của nó là tiền tệ một loại hàng hóa đặc biệt, do đó, hoạt động của nó có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến toàn bộ nền kinh tế

Thứ hai, NHTMNN là NHTM do Nhà nước nắm quyền chi phối về

vốn Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005, thì tỷ lệ vốn tối thiểu của Nhà nước tại DNNN là 50% Nhưng cho đến nay, Việt Nam có 5 NHTMNN là: VCB, MHB, ICB, BIDV, Agribank thì Nhà nước vẫn nắm 100% vốn Do đó, Nhà nước là người nắm hoàn toàn quyền quản lý, điều hành bao gồm việc bổ nhiệm bộ máy lãnh đạo, quyết định phương án kinh doanh, quản lý hoạt động

Thứ ba, Hoạt động của NHTMNN không chỉ hướng tới mục tiêu lợi

nhuận mà còn góp phần thực hiện đường lối chính sách nhà nước, góp phần thực hiện các mục tiêu xã hội Đây là đặc điểm đặc thù của NHTMNN Các NHTM khác đơn thuần là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng, do đó, mục tiêu chỉ là tìm kiếm lợi nhận hợp pháp, các mục tiêu khác, trong đó có mục tiêu xã hội chỉ là mục tiêu phụ (chủ yếu nhằm quảng

bá doanh nghiệp) và hoàn toàn tự nguyện Với NHTMNN thì việc thực

Trang 13

hiện các mục tiêu chính trị - xã hội là một trong những mục tiêu hoạt động chính và trong nhiều trường hợp còn lấn át mục tiêu lợi nhuận Mặc dù trong quá khứ điều này có nhiều điểm tích cực nhưng hiện nay NHTMNN cần phải được cải tổ để thực sự là một NHTM, tức là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và cung cấp dịch vụ ngân hàng, hoạt động tuân thủ các quy luật của nền kinh tế thị trường

Thứ tư, NHTMNN hiện nay đang nắm vai trò chủ đạo trong lĩnh

vực ngân hàng tại Việt Nam: chiếm tới 76% vốn huy động và 73.5% tổng

dư nợ cho vay của toàn hệ thống (tính đến 2005) Điều này có nghĩa là hoạt động của NHTMNN có tầm ảnh hưởng chi phối, trong một số trường hợp

là quyết định đến thị trường tiền tệ của nền kinh tế nước ta

1.1.3 Vai trò

NHTMNN đã và đang đóng một vai trò hết sức quan trọng với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nước ta Vai trò quan trọng này được thể hiện:

Thứ nhất, NHTMNN là một kênh huy động vốn hiệu quả phục vụ

sự phát triển kinh tế đất nước Trước đây, khi mà thị trường chứng khoán Việt Nam chưa phát triển, hoạt động của các NHTMCP còn nhỏ bé và hạn hẹp, chi nhánh NHTM nước ngoài còn hoạt động rất hạn chế thì NHTMNN

là kênh huy động vốn chủ lực và hiệu quả nhất Các công trình trọng điểm đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn lâu hầu hết được thực hiện từ nguồn vốn huy động của NHTMNN Mặc dù gần đây, thị phần của NHTMNN có giảm đi tương đối song năm 2006, theo số liệu của Vụ chiến lược và phát triển ngân hàng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, NHTMNN vẫn chiếm khoảng 70% thị phần huy động và 60% thị phần cho vay của toàn

bộ hệ thống tín dụng Việt Nam

Thứ hai, NHTMNN góp phần phân bổ các nguồn lực tài chính quốc

gia hợp lý, là trung gian trong việc luân chuyển các nguồn vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn Vai trò này có được là bởi các NHTMNN có hệ thống

Trang 14

chi nhánh rộng khắp trên toàn quốc kể cả những vùng xa xôi hẻo lánh của đất nước

Thứ ba, NHTMNN góp phần thực hiện các chính sách chính trị - xã

hội của Nhà nước NHTMNN là lực lượng chủ yếu tham gia góp vốn đầu

tư vào các công trình quốc gia đòi hỏi vốn đầu tư lớn, lợi nhuận thấp hoặc không có lợi nhuận, những lĩnh vực mà khu vực kinh tế tư nhân không đủ sức hoặc không muốn tham gia, nhưng lại có hiệu quả kinh tế - xã hội lâu dài và to lớn Ví dụ, NHTMNN tham gia các chương trình cho vay chính sách nhằm xóa đói - giảm nghèo cho nông dân, cho vay hỗ trợ xuất khẩu có

độ rủi ro cao…Vai trò này của NHTMNN là rất to lớn, đặc biệt là trước đây

Thứ tư, NHTMNN là công cụ hiệu quả để Chính phủ thực hiện

chính sách tiền tệ quốc gia một cách gián tiếp cũng như trực tiếp Do các NHTMNN chiếm thị phần chủ đạo trên thị trường nên việc tác động vào NHTMNN qua các công cụ điều hành thị trường, có khi bằng cả mệnh lệnh hành chính, sẽ tác động nhanh chóng và mạnh mẽ đến thị trường tài chính tiền tệ Tuy nhiên, cũng như tham gia vào việc thực hiện các chính sách chính trị - xã hội của Nhà nước, việc NHTMNN được coi là công cụ trực tiếp để thực hiện chính sách tiền tệ và các mục tiêu chính trị - xã hội là việc trái với quy luật của kinh tế thị trường và trái với bản chất của NHTM Mặc

dù trong quá khứ điều này có những điểm cần phải được nhìn nhận là tích cực nhưng để xây dựng một hệ thống NHTM đáp ứng được yêu cầu của hội nhập kinh quốc tế hiện nay và tương lai, các điểm yếu trên cần phải được

sớm khắc phục

1.2 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, PHƯƠNG THỨC CỔ PHẦN HÓA NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

1.2.1 Khái niệm

Trang 15

Cổ phần hóa (Equitization) và tư nhân hóa (Privatization) là hai khái niệm được nhắc đến nhiều ở nước ta trong khoảng một thập kỷ trở lại đây Trên thế giới, hai khái niệm này đã xuất hiện từ lâu và đến những năm

80 của thế kỷ trước, CPH và TNH các DNNN, trong đó có các NHTMNN,

đã trở thành hiện tượng phổ biến trên thế giới Đặc biệt nó diễn ra mạnh mẽ

ở Mỹ Latinh, Đông Âu và Liên Xô (sau sự tan rã của hệ thống XHCN)

Để hiểu một cách đầy đủ khái niệm CPH DNNN, đặc biệt là trong bối cảnh của Việt Nam, trước tiên chúng ta cần tiếp cận một số khái niệm liên quan đến nó:

Khái niệm doanh nghiệp Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005,

doanh nghiệp được định nghĩa là "tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản,

có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh" Dựa theo

tiêu chí quan hệ sở hữu, doanh nghiệp được chia làm ba hình thức:

- Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ (Luật Doanh nghiệp năm 2005) NHTMNN là một loại hình đặc biệt của DNNN

- Doanh nghiệp sở hữu tư nhân là doanh nghiệp do một hay một số

tư nhân nắm toàn bộ quyền sở hữu như công ty tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân…

- Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia làm nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần, cổ đông có thể là tổ chức,

cá nhân; số lượng tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; cổ đông

có quyền và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn

đã góp vào doanh nghiệp (theo Khoản 1, 2, 3, Điều 77 Luật Doanh nghiệp năm 2005)

Từ những nhận thức trên ta có thể đưa ra khái niệm về CPH NHTMNN như sau: CPH NHTMNN là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp

từ sở hữu 100% vốn nhà nước sang đa sở hữu qua hình thức phát hành cổ

Trang 16

phiếu, qua đó, các tổ chức và cá nhân thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau sẽ cùng sở hữu ngân hàng

CPH DNNN đã có một thời gian được coi là vấn đề nhạy cảm vì kinh tế nhà nước ở nước ta gắn liền với chế độ XHCN Chúng ta ngần ngại không muốn CPH vì chúng ta sợ việc CPH đồng nhất với quá trình TNH và như vậy sẽ chệch hướng XHCN Bài học đắt giá của sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô cùng với đó là các công ty nhà nước bị bán với giá rẻ mạt cho các nhà tư bản khiến nhiều người trong chúng ta lo sợ kịch bản đó cũng xảy ra ở Việt Nam

Vậy CPH có đồng nhất với TNH hay không? Cho đến nay, quan điểm của Nhà nước ta cũng như của đa số các nhà luật học và kinh tế học của Việt Nam cho rằng CPH DNNN ở Việt Nam không đồng nhất với TNH Lý luận kinh điển của Các Mác đã chỉ ra và khẳng định: công ty cổ phần là một bước tiến của lực lượng sản xuất từ sở hữu tư nhân sang sở hữu tập thể của các cổ đông CPH ở Việt Nam có bản chất là sự chuyển đổi doanh nghiệp từ sở hữu nhà nước sang chế độ đa sở hữu, trong đó, các thành phần kinh tế khác nhau, thuộc các hình thức sở hữu khác nhau, cùng

là chủ sở hữu của doanh nghiệp Như vậy, ở góc độ kinh tế, CPH là sự đa dạng hóa chế độ sở hữu, là sự xã hội hóa tư liệu sản xuất, tạo nên sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích của nhà nước, người lao động và nhà đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Ở góc độ xã hội, nó mang lại quyền làm chủ thực sự cho người lao động Còn TNH là việc chuyển đổi

sở hữu nhà nước sang sở hữu của một nhóm cá nhân nhỏ mà bản chất là bán DNNN cho các nhà tư bản, người lao động trở thành những người làm thuê thực sự

1.2.2 Đặc điểm

CPH là một sự thay đổi về chất đối với NHTMNN nhất là trong vấn

đề phương thức và hình thức quản lý Đây là một sự thay đổi mạnh mẽ, triệt để, được gọi là "thay máu" cho các NHTM này CPH các NHTMNN ở Việt Nam có những đặc điểm cơ bản sau:

Trang 17

Thứ nhất, CPH NHTMNN là sự thay đổi hình thức sở hữu và

phương thức quản lý đối với NHTMNN Khi chưa CPH, NHTMNN là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, Nhà nước nắm toàn bộ quyền quản trị điều hành ngân hàng Xét ở góc độ quản lý, mục tiêu hoạt động, cơ cấu tổ chức, NHTMNN không phải là một doanh nghiệp theo đúng nghĩa Cũng như các tổng công ty khác, nó là một dạng tổ chức kinh tế - chính trị đặc biệt mà mô hình này chỉ có ở các nước XHCN Sau CPH, trên phương diện

lý thuyết, NHTMNN là một doanh nghiệp thực sự, một công ty cổ phần đa

sở hữu, trong đó, các thành phần kinh tế đáp ứng đủ yêu cầu luật định đều tham gia sở hữu và quản lý ngân hàng

Thứ hai, CPH NHTMNN ở nước ta là một hoạt động chưa có tiền

lệ, do đó, nó là một quá trình vừa làm vừa rút kinh nghiệm để hoàn thiện với nhiều bước thí điểm và trong nhiều trường hợp là "thực tiễn quyết định

lý luận" Đặc điểm này khiến cho quá trình CPH các NHTMNN diễn ra lâu hơn rất nhiều so với kế hoạch đề ra và phải thay đổi rất nhiều để phù hợp với hoàn cảnh thực tế Chúng ta đã lên kế hoạch CPH các NHTMNN từ năm 2004 nhưng đến nay vẫn chưa một ngân hàng nào được CPH

Thứ ba, CPH NHTMNN ở nước ta được Đảng và Nhà nước thực

hiện trên phương châm thận trọng, vững chắc, đảm bảo các mục tiêu cơ bản đặt ra cho CPH phải đạt được nhưng không chệch hướng XHCN Điều này xuất phát từ lý do NHTMNN là doanh nghiệp đặc thù: có đối tượng kinh doanh là tiền tệ, hoạt động chính là nhận tiền gửi sau đó sử dụng tiền này

để cấp tín dụng cho khách hàng với khối tài sản có và tài sản nợ cực lớn

Do đó, bất cứ sự thay đổi không thuận chiều nào của các NHTM này sẽ gây

ra hiệu ứng dây chuyền không chỉ cho lĩnh vực tài chính - ngân hàng mà còn với cả nền kinh tế Mặt khác, quá trình CPH các DNNN trước đó đã để lại nhiều bài học sâu sắc về việc tư nhân hóa, cổ phần hóa khép kín, bán rẻ doanh nghiệp… Điều này đã buộc quá trình CPH các NHTMNN phải rút được kinh nghiệm để không mắc lại những sai sót đó

Trang 18

Thứ tư, Sau CPH, Nhà nước vẫn nắm quyền sở hữu chi phối tại các

NHTM này NHTMNN, cho đến nay, vẫn đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính tiền tệ của nước ta Mặt khác, khi hội nhập kinh tế thế giới, lĩnh vực tài chính - ngân hàng là một lĩnh vực nhạy cảm được các nhà đầu

tư nước ngoài đặc biệt quan tâm không chỉ ở mặt kinh tế mà còn cả mặt chính trị vì ai làm chủ hệ thống tài chính - ngân hàng của một quốc gia sẽ

có ảnh hưởng lớn đến việc ra các quyết định điều hành đất nước Việc Nhà nước ban đầu nắm cổ phần chi phối và sau đó sẽ "buông dần" theo lộ trình phù hợp là hoàn toàn đúng đắn Nó tránh cho các ngân hàng này vấp phải những cú sốc quá lớn ngay sau CPH Mặt khác, nó vẫn giúp Nhà nước nắm quyền chủ động trong quản lý lĩnh vực tài chính - ngân hàng

1.2.3 Phương thức cổ phần hóa

Phương thức CPH đề cập ở đây là cách thức CPH NHTMNN ở nước ta Phương thức CPH đóng vai trò rất quan trọng đối với tiến trình cũng như hiệu quả của việc CPH của DNNN nói chung và NHTMNN nói riêng

Theo Điều 4, Nghị định 109, CPH DNNN được tiến hành theo ba

hình thức: Thứ nhất, giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ Thứ hai, bán một phần vốn

nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp bán bớt một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp kết hợp phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn

điều lệ Thứ ba, bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc

kết hợp vừa bán toàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ Trong ba hình thức trên hình thức thứ hai và thứ ba thường được áp dụng với các DNNN làm ăn không hiệu quả hoặc nhà nước thấy không cần thiết phải nắm cổ phần chi phối Hình thức thứ nhất thường áp dụng với các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả và hoạt động trong những lĩnh vực quan trọng hoặc có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế mà nhà nước thấy cần thiết phải duy trì vai trò chủ đạo của mình Theo đề án CPH mà các

Trang 19

NHTMNN trình Thủ tướng Chính phủ hiện nay thì tất cả các ngân hàng này đều được CPH theo phương thức giữ nguyên vốn Nhà nước tại ngân hàng và phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ nhằm đảm bảo sau CPH, trong mọi trường hợp, vốn nhà nước không thấp hơn 51% vốn điều lệ của ngân hàng

1.3 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CỔ PHẦN HÓA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC

NHTMNN bản chất là một DNNN nên quá trình CPH chịu sự tác động của các nhân tố chung của CPH DNNN Tuy nhiên, là một loại hình doanh nghiệp đặc thù kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt là tiền tệ, có tầm ảnh hưởng chi phối mạnh mẽ và trực tiếp đến nền kinh tế, do vậy, quá trình CPH NHTMNN lại có đặc thù riêng, chúng bao gồm các nhân tố chủ quan

và khách quan sau:

1.3.1 Các nhân tố chủ quan

Các nhân tố chủ quan là các nhân tố nội tại, xuất phát từ bản thân NHTMNN Đây là các nhân tố trực tiếp, quyết định đến việc cần thiết phải CPH các NHTMNN Các nhân tố này bao gồm:

* Năng lực nội tại của NHTMNN của Việt Nam rất yếu kém

Như đã nói ở trên hiện nay chúng ta có 5 NHTMNN bao gồm VCB, MHB, ICB, BIDV, Agribank Các ngân hàng này mặc dù hoạt động

có lãi nhưng năng lực nội tại rất yếu kém Trong con mắt của các chuyên gia, nhất là các chuyên gia nước ngoài, thời điểm trước khi có chủ trương CPH, năm 2004, tình trạng các ngân hàng này là những "quả trứng để trên đầu gậy" Điều này thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất: Vốn tự có của các NHTMNN quá nhỏ bé Cho đến cuối

năm 2004, chưa có ngân hàng nào có vốn tự có đạt trên 300 triệu USD So với các ngân hàng trong khu vực chứ chưa nói gì đến các đại gia trên thế giới thì con số này là quá nhỏ (một ngân hàng trung bình trên thế giới có vốn tự có từ

500 triệu USD trở lên) Vì lý do đó, tỉ lệ an toàn vốn tự có trên tài sản có là rất

Trang 20

thấp Cho đến tháng 6/2004, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của các NHTMNN như sau [32]

Ngân hàng No&PTNT Việt Nam: 6,17%

Ngân hàng Công thương Việt Nam: 4,43%

Ngân hàng ngoại thương Việt Nam: 4,7%

Ngân hàng Đầu tư phát triển Việt Nam: 5,25%

Như vậy so với tiêu chuẩn quốc tế về Vốn tự có/ Tài sản có theo quy định trong Basell là 8% thì rõ ràng các chỉ số trên còn một khoảng cách xa Mặt khác, đây là số liệu do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công

bố, chỉ số này theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài có thể còn thấp hơn nhiều Hạn chế về Vốn tự có trong khi Tài sản có tăng nhanh một cách

kỷ lục đã khiến cho tỷ lệ an toàn này càng có nguy cơ bị co lại Chính vì vậy nhu cầu về bổ sung vốn để có thể đạt được mức độ an toàn vốn tối thiểu là cực kỳ lớn Điều này thể hiện ở bảng sau:

Trang 21

Nguồn: Vụ Chiến lược phát triển Ngân hàng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Nguồn vốn tự có từ trước đến nay của các NHTMNN chủ yếu là do ngân sách nhà nước cấp Nhưng trước một đòi hỏi cao về bổ sung vốn như bảng trên thực sự nằm ngoài khả năng của nhà nước Con đường CPH, tức

là xã hội hóa công tác huy động vốn, là giải pháp hợp lý và hiệu quả nhất

Thứ hai, Tỷ lệ nợ xấu rất cao Theo báo cáo của NHNN, nợ xấu

năm 1999 của các NHTMNN lên đến 14,3%, sau ba năm thực hiện phương

án xử lý nợ xấu của Chính phủ, con số này đến năm 2004 là 4,14% Nếu so sánh tỉ lệ nợ xấu (theo tiêu chuẩn và cách phân loại của Việt Nam) với các nước trong khu vực thì tỉ lệ này là thấp (Hàn Quốc Khoản 10%, Thái Lan

nợ [34]) Tình trạng đặc biệt nghiêm trọng với ICB Do hậu quả của một thời gian dài làm không hiệu quả, phải thực hiện các Khoản cho vay khổng lồ có chất lượng tín dụng thấp theo chỉ đạo của Chính phủ, đến 31/12/2001, nợ xấu của ICB lên tới hơn 10.014.139 tỷ đồng, riêng nợ xấu của Epco - Minh Phụng lên đến 1.379 tỷ đồng và ICB bị coi là "phá sản

về mặt kỹ thuật" Cho đến nay, theo báo cáo của các NHTMNN thì nợ xấu

về cơ bản đã được xử lý Song vấn đề ở chỗ, theo các chuyên gia và giới quan sát nước ngoài, nợ xấu của nước ta có độ rủi ro cao hơn và chưa áp dụng theo các chuẩn thế giới Thực tế, con số nợ xấu vẫn còn rất lớn nhưng được che đậy khéo léo qua các hình thức như cho vay đảo nợ, biến

nợ quá hạn thành nợ trong hạn, các Khoản tín dụng có chất lượng thấp vẫn đang tiếp tục được cung cấp trên thị trường Do năng lực quản trị và điều hành kém, tư tưởng dựa dẫm, ỷ lại vào nhà nước dẫn đến chất lượng các Khoản tín dụng thấp Công tác thẩm định không được chú trọng, nhiều khi còn tiêu cực Mặt khác, cho đến nay, NHTMNN vẫn chưa là một NHTM theo đúng nghĩa mà còn kiêm thêm chức năng của ngân hàng chính sách khi phải cấp các Khoản tín dụng ưu đãi và cho vay chính sách theo chỉ định của Chính phủ, trong khi đó, đối tượng vay thường là các DNNN làm ăn

Trang 22

kém hiệu quả Công tác thu hồi nợ chưa được thực hiện triệt để Nợ xấu cao làm tăng nguy cơ rủi ro và giảm khả năng sinh lời của ngân hàng

Thứ ba, Năng lực quản trị yếu kém Mô hình quản lý của

NHTMNN là mô hình của tổng công ty Nhà nước, với "tứ trụ" là Chi bộ Đảng, Ban giám đốc, Công đoàn, Đoàn thanh niên, một dạng quản lý mang nặng tính chất hành chính - kinh tế mà chưa phải là quản trị doanh nghiệp chuyên nghiệp Cán bộ quản lý cao cấp của các NHTMNN thường là các quan chức Chính phủ được bổ nhiệm lãnh đạo chứ không phải là các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng được đào tạo cơ bản Do đó

"cách thức quản trị thường thực hiện theo kinh nghiệm", công tác hoạt động kinh doanh hàng ngày thường theo sự vụ mà không có sự hướng tới các mục tiêu dài hạn, tầm nhìn chiến lược kinh doanh Việc không phân tích đánh giá được hiệu quả kinh doanh của từng đơn vị cá nhân, nhóm khách hàng… nên chưa có được các giải pháp kinh doanh hiệu quả, mạng lưới hoạt động dàn trải Vai trò, chức năng của HĐQT rất mờ nhạt, không

có sự tách bạch rõ ràng giữa quản trị và điều hành dẫn đến sự chồng chéo trong hoạt động quản lý ngân hàng

Thứ tư, Công nghệ ngân hàng lạc hậu: Công nghệ là một trong

những yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng hiện đại

vì nó quyết định sự đa dạng và chất lượng của sản phẩm dịch vụ ngân hàng Tuy nhiên, đây lại là một trong những khâu yếu nhất của các NHTMNN

Do hậu quả của một quá trình lâu dài không được chú trọng quan tâm và đầu tư, cho đến 2004, về cơ bản, công nghệ ngân hàng của các NHTMNN còn khoảng cách so chính với chính một số các ngân hàng TMCP trong nước chứ chưa nói đến so với chuẩn thế giới Hiện nay các NHTMNN đã quan tâm đầu tư công nghệ hiện đại và đã thể hiện những tiến bộ lớn song

để đáp ứng yêu cầu của một ngân hàng hiện đại thì vẫn còn là quá ít Sự lạc hậu về công nghệ đã ngăn cản các NHTMNN trong việc triển khai các sản phẩm ngân hàng hiện đại, đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh, mở rộng thị phần để gia tăng lợi nhuận Công tác hiện đại hóa công nghệ ngân hàng

Trang 23

không chỉ đòi hỏi nguồn kinh phí rất lớn và quan trọng hơn là tìm được đối tác cung cấp và nguồn nhân lực đủ mạnh để tiếp cận và làm chủ

Thứ năm, chất lượng nguồn nhân lực yếu và thiếu Mặc dù, số

lượng cán bộ công nhân viên của các NHTMNN là rất lớn nhưng đa số đã lớn tuổi, chủ yếu được đào tạo theo cách thức quản lý trong cơ chế cũ và rất ít trong số đó được đào tạo bài bản về nghiệp vụ ngân hàng Nguồn nhân lực của VCB được đánh giá là có chất lượng cao nhất trong hệ thống NHTMNN nhưng so với yêu cầu thực tế vẫn chưa đáp ứng được Sự thiếu hụt này đặc biệt nghiêm trọng ở nhân sự có trình độ cao Hạn chế trong chất lượng nguồn nhân lực là rào cản lớn trong việc áp dụng mô hình quản

lý tiên tiến, triển khai các sản phẩm ngân hàng hiện đại Một vấn đề cũng rất nghiêm trọng hiện nay đó là nạn chảy máu chất xám tại các NHTMNN

do chế độ đãi ngộ chưa mang tính khuyến khích người lao động của các ngân hàng này

Thứ sáu, khả năng sinh lời thấp Tất cả những yếu kém ở trên đã

dẫn đến hậu quả tất yếu là khả năng sinh lời thấp Các chỉ số ROE (lãi ròng trên vốn tự có), ROA (tỉ lệ lãi dòng trên tổng tài sản) tại các NHTMNN đạt mức thấp hơn so với mức trung bình của các NHTMCP trong nước

* Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước

CPH NHTMNN nằm trong chủ trương chung CPH DNNNN của Đảng và Nhà nước Cách đây 16 năm, Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (tháng 11/1991) đã đề ra chủ trương CPH DNNN Mặc dù ngân hàng là một lĩnh vực nhạy cảm có ảnh hưởng nhanh chóng, mạnh mẽ và trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế nhưng Đảng và Chính phủ vẫn quyết tâm tiến hành CPH thành công các NHTMNN theo các nguyên tắc đã định nhằm lành mạnh hóa, giúp các NHTMNN đủ sức hội nhập quốc tế mà không làm chệch mục tiêu định hướng XHCN

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa

IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của DNNN

là văn bản chính trị quan trọng nêu ra chủ trương, đường lối CPH các

Trang 24

DNNN rất cụ thể Đánh giá về tình hình hoạt động của các DNNN, bên cạnh mặt tích cực, Nghị quyết cũng chỉ rõ:

Còn những mặt hạn chế, yếu kém, có mặt rất nghiêm trọng như quy mô nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý, chưa thật tập trung vào những ngành lĩnh vực then chốt; nhìn chung, trình độ công nghệ còn lạc hậu, quản lý còn yếu kém, chưa thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh, kết quả sản xuất kinh doanh chưa tương xứng với các nguồn lực đã có và sự

hỗ trợ, đầu tư của Nhà nước; hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, nợ không có khả năng thanh toán tăng lên… [5]

Về nguyên nhân của tình trạng trên, nghị quyết chỉ rõ:

Những yếu kém của DNNN có nguyên nhân khách quan nhưng chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan; chưa có sự thống nhất cao trong nhận thức về vai trò, vị trí của kinh tế nhà nước

và doanh nghiệp nhà nước, về yêu cầu và giải pháp sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước [5]

Về phương thức sắp xếp, đổi mới DNNN, CHP DNNN được coi là một trong những biện pháp then chốt Mục 4 của Nghị quyết đã khẳng định

Mục tiêu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là nhằm: tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ hữu, trong đó có đông đảo người lao động, để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của nhà nước và huy động thêm vốn xã hội vào phát triển sản xuất, kinh doanh; tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả cho doanh nghiệp nhà nước; phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của cổ đông, tăng cường giám sát xã hội đối với doanh nghiệp, bảo đảm hài hòa lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp và người lao động Cổ phần hóa

Trang 25

doanh nghiệp nhà nước không được biến thành tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước [5]

1.3.2 Các nhân tố khách quan

Nhân tố khách quan tác động mạnh mẽ nhất đó là yêu cầu cấp bách của hội nhập kinh tế quốc tế Thời gian qua, đặc biệt là hơn một thập kỷ trở lại đây, quá trình hội nhập quốc tế của nền kinh tế nước ta đã diễn ra rất mạnh mẽ và sâu sắc Hội nhập vừa là ý chí chủ quan của Đảng và Nhà nước ta vừa là một yêu cầu khách quan vì trong bối cảnh quốc tế hóa và toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay, một quốc gia muốn tồn tại và phát triển thì bắt buộc phải tham gia vào quá trình này Trong hội nhập kinh tế quốc tế thì hội nhập tài chính ngân hàng là vấn đề đặc biệt nhạy cảm vì lĩnh vực này có tác động sâu sắc, trực tiếp và mạnh mẽ đến toàn bộ nền kinh tế Mặt khác, cũng như các lĩnh vực: bảo hiểm, bưu chính viễn thông, tài chính ngân hàng là lĩnh vực không chỉ "màu mỡ" về mặt kinh tế mà nó còn có tầm ảnh hưởng chính trị - xã hội sâu sắc, do đó được đối tác nước ngoài quan tâm đặc biệt Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO đồng nghĩa với việc chúng ta phải tuân thủ triệt để các quy định trong lộ trình cam kết khi gia nhập Theo cam kết gia nhập WTO, cho đến 2010, chúng ta sẽ phải mở cửa hoàn toàn lĩnh vực tài chính ngân hàng Điều đó

đã tạo nên một sức ép cực kỳ lớn lên hệ thống tài chính - ngân hàng đặc biệt là các NHTMNN Để không bị thấu tóm hay lép vế trước các đối thủ hùng mạnh đến từ các quốc gia có nền kinh tế tài chính phát triển thì ngay

từ bây giờ việc khắc phục yếu kém, nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng nước ta là tối quan trọng Trong đó, CPH được Đảng và Nhà nước coi là một trong những biện pháp then chốt

1.4 CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CỔ PHẦN HÓA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Cho đến thời điểm hiện tại chúng ta chưa ban hành quy định riêng

về CPH NHTMNN Do đó, việc CPH NHTMNN cơ bản tuân thủ các quy

Trang 26

định chung của pháp luật về CPH DNNN, trong đó chịu sự điều chỉnh trực tiếp của Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việc chuyển công ty nhà nước thành doanh nghiệp cổ phần và Thông tư số 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty cổ phần, Thông tư số 95/2006/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 12/10/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 126, Nghị định số 52/2006/NĐ-CP ngày 19/5/2006 của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp Nghị định số 69/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 20/4/2007 về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần tại các NHTM Việt Nam … và văn bản mới nhất hiện nay là Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 về chuyển DNNN thành công ty cổ phần (thay thế Nghị định 187) Các văn bản này đã hình thành một khung pháp lý cơ bản quy định về CPH NHTMNN, chúng bao gồm các vấn đề cơ bản sau:

1.4.1 Quy định về điều kiện và hình thức cổ phần hóa

Đáp ứng điều kiện CPH là yêu cầu hết sức quan trọng Ở tầm vĩ mô,

nó giúp Chính phủ kiểm soát được quá trình CPH, đảm bảo hiệu quả cũng như sự an toàn của nền kinh tế Ở tầm vi mô, nó giúp đảm bảo cho các DNNN sau CPH có khả năng phát triển lành mạnh, quyền lợi của cổ đông được đảm bảo Điều kiện CPH DNNN nói chung, trong đó có NHTMNN, được quy định tại Điều 3, Nghị định 109 và về cơ bản không có thay đổi so với Nghị định 187 Theo Khoản 1, Điều 3, Nghị định 109thì để có thể tiến hành CPH DNNN nói chung và NHTMNN nói riêng phải đáp ứng các điều kiện:

Thứ nhất, DNNN phải không thuộc diện nhà nước nắm giữ 100%

vốn điều lệ Danh mục các doanh nghiệp nhà nước nắm 100% vốn điều lệ được Thủ tướng Chính phủ quyết định trong từng thời kỳ Theo Quyết định

số 38/2007/QĐ-TTg ngày 20/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành tiêu chí danh mục phân loại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thì các NHTMNN chỉ thuộc diện nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ

Trang 27

Thứ hai, Các DNNN này phải còn vốn nhà nước trước khi CPH và

sau khi đã được xử lý tài chính và đánh giá lại giá trị doanh nghiệp Nếu giá trị thực tế của doanh nghiệp sau quá trình này thấp hơn các Khoản phải trả thì phải chuyển sang thủ tục bán, giải thể hoặc phá sản doanh nghiệp

Thứ ba, việc CPH các đơn vị hạch toán phụ thuộc của ngân hàng

phải có đủ điều kiện hạch toán độc lập, việc CPH không gây khó khăn hay ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc các bộ phận còn lại của doanh nghiệp

Đối chiếu các điều kiện trên thì các NHTMNN của nước ta đều đủ điều kiện để CPH Các ngân hàng này đều không thuộc diện nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, sau một quá trình tái cơ cấu, tình hình tài chính của các ngân hàng này hiện nay đều ở trong tình trạng khá tốt

1.4.2 Quy định về xử lý tài chính

Xử lý tài chính đóng vai trò đặc biệt quan trọng đến quá trình CPH

doanh nghiệp Thứ nhất, nó quyết định đến việc doanh nghiệp có được giá cao hay thấp khi bán cổ phiếu cho các nhà đầu tư Thứ hai, nó quyết định

hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sau CPH Tuy nhiên, xử lý tài chính

là một công việc phức tạp, đặc biệt là với các doanh nghiệp ngân hàng Với việc CPH NHTMNN thì công tác này càng khó khăn hơn vì tổng tài sản của các ngân hàng rất lớn do ngân hàng là một tổ chức tín dụng hoạt động trên nguyên tắc đi vay để cho vay, mặt khác tính chất của các khoản nợ,

khoản vay rất phức tạp Thứ ba, tính minh bạch của các khoản nợ rất kém,

các NHTMNN của chúng ta một thời gian dài hoạt động trong cơ chế quan liêu bao cấp, hoạt động mang nặng tính hành chính - chính trị và không tuân thủ các chuẩn mực kế toán - tài chính quốc tế, tỷ lệ nợ xấu cao, tính trách nhiệm không rõ ràng

Quá trình xử lý tài chính của NHTMNN còn có một đặc thù riêng là

nó còn được tiến hành theo các Đề án tái cơ cấu của các NHTMNN được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và được tiến hành từ năm 2000 Quá trình

xử lý tài chính của NHTMNN tuân thủ rất nhiều văn bản pháp luật đặc thù

Trang 28

như Thông tư số 05/2003/TT-NHNN ngày 24/5/2003 của NHNN hướng dẫn Nghị định số 69/2002/NĐ-CP ngày 12/7/2002 của Chính phủ về quản

lý và xử lý nợ tồn đọng đối với DNNN tại các NHTMNN; Thông tư số 01/2002/TT-NHNN ngày 30/1/2002 của NHNN hướng dẫn thực hiện Quyết định số 146/2001/QĐ-TTg ngày 2/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về xử lý nợ tồn đọng của Hợp tác xã nông nghiệp Trong đó quan trọng nhất phải kể tới là: Quyết định số 149/2001/QĐ-TTg ngày 5/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án xử lý nợ tồn đọng của các NHTM và thành lập Ban chỉ đạo cơ cấu lại tài chính các NHTM, Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN về phân loại nợ và trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD

* Kiểm kê và phân loại tài sản, công nợ

Việc kiểm kê và phân loại tài sản, công nợ của DNNN nói chung và NHTMNN nói riêng được thực hiện theo quy định tại Điều 13, Nghị định

109 Quá trình này bao gồm hai công việc chính là: kiểm kê phân loại tài sản và đối chiếu, xác nhận, phân loại công nợ

Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN thì nợ của các NHTM được chia làm 5 nhóm:

Nhóm 1: Các khoản nợ tiêu chuẩn

Trang 29

Khoản để có các biện pháp xử lý thích hợp Đặc biệt các Khoản không có khả năng thu hồi phải xác định rõ nguyên nhân và có đầy đủ tài liệu chứng minh không có khả năng thu hồi theo quy định của xử lý nợ tồn đọng của nhà nước

Với các ngân hàng, do đặc thù của doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ công tác kiểm kê phân loại tài sản của ngân hàng còn phải thực hiện các bước nghiêm ngặt và chi tiết hơn Ngân hàng phải kiểm tra, đối chiếu các Khoản tiền vay của khách hàng, tiền gửi, chứng chỉ tiền gửi của khách hàng như sau: Kiểm kê chi tiết từng khoản vay trên cơ sở sổ kế toán; Đối chiếu xác nhận số dư tiền gửi với khách hàng là pháp nhân, đối chiếu từng

hồ sơ vay vốn và xác nhận với khách hàng cho vay về số tiền gửi mà ngân hàng còn nợ Với các Khoản tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi cá nhân, chứng chỉ tiền gửi thì không thực hiện đối chiếu với khách hàng nhưng phải đối chiếu thẻ lưu Với một số trường hợp đặc biệt như số dư tiền gửi quá lớn hoặc có chênh lệch giữa sổ kế toán và thẻ lưu thì phải thực hiện đối chiếu trực tiếp với khách hàng Nếu có sự chênh lệch giữa số liệu giữa hồ sơ tín dụng và xác nhận của khách hàng thì ngân hàng phải làm rõ nguyên nhân chênh lệch và xác định rõ trách nhiệm của các tổ chức cá nhân có liên quan để xử

lý theo quy định

Với các hợp đồng kinh tế thì phải rà soát để xác định các Khoản đã trả trước cho người cung cấp hàng hóa, dịch vụ nhưng đã hạch toán hết vào chi phí kinh doanh như tiền thuê nhà, thuê đất, mua hàng, tiền lương, tiền công… để tính vào giá trị doanh nghiệp CPH

* Xử lý tài chính

Xử lý tài chính của NHTMNN trước khi CPH bao gồm các vấn đề chính sau: Xử lý tài sản thuê, mượn, nhận góp vốn liên doanh, liên kết, tài sản không cần dùng, tài sản hình thành từ Quỹ phúc lợi, khen thưởng, xử lý

nợ phải thu, xử lý nợ phải trả, xử lý các Khoản dự phòng, lỗ hoặc lãi, vốn

đầu tư dài hạn vào các doanh nghiệp khác, các quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi Xử lý tài chính NHTMNN về cơ bản tuân theo quy định về xử lý tài

Trang 30

chính của DNNN khi CPH quy định tại Nghị định 109/2007/NĐ-CP Tuy nhiên, do tính đặc thù của mình, xử lý tài chính của NHTMNN còn tuân theo các quy định riêng của lĩnh vực tài chính - ngân hàng Điều này thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

Xử lý nợ phải thu

Theo Điều 15, Nghị định 109, vấn đề này được xử lý như sau: Doanh nghiệp có trách nhiệm đối chiếu, xác nhận thu hồi các khoản nợ phải thu đến hạn trước khi CPH, đến thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp mà vẫn còn tồn đọng nợ phải thu khó đòi thì xử lý theo quy định của Nhà nước về nợ khó đòi; Với các Khoản đã trả trước cho người cung cấp hàng hoá dịch vụ như tiền thuê nhà, tiền thuê đất tiền mua hàng…thì phải đối chiếu hợp đồng, khối lượng hàng hóa dịch vụ đã cung cấp để tính vào giá trị doanh nghiệp CPH; Doanh nghiệp có trách nhiệm bàn giao các khoản nợ không có khả năng thu hồi đã loại ra khỏi giá trị doanh nghiệp khi CPH cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền Với nợ phải thu mà có đủ tài liệu chứng minh không có khả năng thu hồi theo quy định hiện hành của nhà nước về xử lý nợ tồn đọng thì phải xác định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân liên quan để xử lý bồi thường Phần tổn thất sau khi xử lý mà không đủ, ngân hàng được dùng nguồn dự phòng phải thu khó đòi để bù đắp, nếu vẫn không đủ thì phải hạch toán vào chi phí kinh doanh của ngân hàng Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN thì nợ của các NHTM sau được chia làm 5 nhóm thì phải trích lập dự phòng được quy định cụ thể cho mỗi nhóm này và xử lý theo quy định

Xử lý nợ phải trả

Nợ phải trả được xử lý theo quy định tại Điều 16, Nghị định 109

So với Nghị định 187 quy định về xử lý nợ phải trả của Nghị định 109 quy định cụ thể và chi tiết hơn Cụ thể, Nghị định 109 đã phân chia các khoản

nợ phải trả theo ba nhóm đối tượng Thứ nhất, đối với nợ của các tổ chức,

cá nhân, doanh nghiệp phải huy động các nguồn vốn nhưng phải hợp pháp (Nghị định 187 chỉ quy định chung là huy động mọi nguồn) để thanh toán

Trang 31

Thứ hai, nợ thuế và các Khoản phải nộp cho ngân sách nhà nước mà doanh nghiệp trước CPH chưa thực hiện đầy đủ thì ngân hàng cổ phần hình thành sau CPH phải có trách nhiệm kế thừa toàn bộ Các khoản nợ phải trả nhưng không phải thanh toán được hạch toán tăng vốn nhà nước Với các khoản

nợ tồn đọng về thuế và các Khoản phải nộp cho ngân sách nhà nước thì được xử lý như sau: Trường hợp bị lỗ, không thanh toán được thì ngân hàng lập hồ sơ đề nghị dãn nợ, xóa nợ theo mức độ tối đa bằng số lỗ lũy kế đến thời điểm xác định giá trị Các khoản nợ đủ điều kiện được xóa, ngân hàng đã làm thủ tục, nộp hồ sơ đề nghị xóa nợ mà đến thời điểm xác định giá trị vẫn chưa nhận được quyết định xóa nợ thì cơ quan có thẩm quyền xác định giá trị doanh nghiệp xem xét cho tạm giảm trừ, giảm lỗ để xác định giá trị ngân hàng Sau đó ngân hàng tiếp tục phối hợp với Bộ Tài chính để xử lý Khi có quyết định của Bộ Tài chính, chênh lệch nếu có giữa

số tạm giảm trừ và số thực sẽ hạch toán điều chỉnh Báo cáo tài chính tại thời điểm chính thức chuyển thành NHTMCP

Các Khoản dự phòng, lỗ hoặc lãi

Ngân hàng có đối tượng kinh doanh là tiền tệ, hoạt động chính là đi vay để cho vay nên có độ rủi rất cao Chính vì vậy các Khoản dự phòng lỗ hoặc lãi đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc hạn chế tổn thất do rủi ro, triệt tiêu hay hạn chế các cú sốc để hoạt động của ngân hàng và của toàn hệ thống được suôn sẻ Các Khoản dự phòng này của mỗi NHTMNN

là rất lớn, lên đến hàng trăm tỷ đồng Khi CPH, các Khoản dự phòng lỗ lãi được xử lý theo quy định tại Điều 18 Nghị định 109 Cụ thể, số dư dự phòng nợ phải thu khó đòi dùng để bù đắp nợ phải thu không có khả năng thu hồi Dự phòng giảm giá chứng khoán dùng bù đắp phần giảm giá chứng khoán thực tế Dự phòng chênh lệch tỷ giá dùng bù đắp phần chênh lệch tỷ giá phát sinh Dự phòng trợ cấp mất việc làm dùng để thanh toán trợ cấp mất việc cho lao động dôi dư trong quá trình CPH Số dư Quỹ dự phòng rủi

ro được xử lý theo hướng dẫn của NHNN và Bộ Tài chính Quỹ dự phòng tài chính dùng để bù đắp các tổn thất về tài sản, nợ không thu hồi được Các Khoản dự phòng này, sau khi dùng để xử lý như trên, nếu còn số dư sẽ

Trang 32

được tính vào phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, nếu số dư của các quỹ

và các Khoản dự phòng không đủ khiến doanh nghiệp vẫn lỗ thì cơ quan có thẩm quyền quyết định giá trị doanh nghiệp xem xét giảm vốn nhà nước

Vốn đầu tư dài hạn vào các doanh nghiệp khác

Vốn đầu tư dài hạn vào các doanh nghiệp khác bao gồm: vốn góp liên doanh, liên kết, vốn cổ phần, vốn góp vào các hình thức đầu tư dài hạn khác… Hiện nay, các NHTMNN, theo xu thế chung của thế giới, bên cạnh hoạt động cho vay truyền thống, đã và đang mở rộng kinh doanh sang các lĩnh vực khác để tối đa hóa lợi nhuận và dần hình thành tập đoàn tài chính

đa năng Điều này đã khiến cho phần vốn dài hạn của ngân hàng vào các doanh nghiệp khác là rất lớn và tính chất các Khoản vốn này ngày càng phức tạp Việc xử lý trước CPH các loại vốn góp này trước đây tuân theo quy định tại Điều 14 Nghị định 187, hiện nay là Điều 18 Nghị định 109 Quy định về vấn đề này không có sự khác biệt giữa Nghị định 187 và Nghị định 109 Nếu ngân hàng sau CPH kế thừa liên doanh thì phải tính giá trị vốn góp liên doanh vào giá trị ngân hàng Nếu ngân hàng không kế thừa liên doanh thì cơ quan quyết định CPH xem xét xử lý theo các cách thức sau:

Thứ nhất, bán phần vốn đã góp cho đối tác khác hoặc nhà đầu tư

khác Việc chuyển giao này phải đáp ứng các điều kiện: giá bán phải sát với giá thị trường và không thấp hơn giá trị phần vốn góp theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán tại thời điểm gần nhất với thời điểm bán

Thứ hai, chuyển giao cho các doanh nghiệp khác làm đối tác sau

khi thỏa thuận với đối tác liên doanh

Thứ ba, ngân hàng và bên đối tác liên doanh thỏa thuận chấm dứt

hợp đồng liên doanh Trường hợp này, quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật về chấm dứt liên doanh

Xử lý chênh lệch giá trị tài sản trước thời điểm chính thức CPH

Trang 33

Khoản chênh lệch giữa giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại thời điểm NHTMNN chuyển sang NHTMCP với giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp được xử lý như quy định tại Khoản 3, 4, Điều 21 Nghị định 109 Cụ thể, nếu phát sinh chênh lệch tăng thì Khoản chênh lệch tăng đó, ngân hàng có trách nhiệm nộp về Quỹ

hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp hoặc Tổng công ty kinh doanh vốn Nhà nước Nếu phát sinh chênh lệch giảm thì ngân hàng có trách nhiệm báo cáo cơ quan có thẩm quyền quyết định CPH để phối hợp với các cơ quan liên quan làm rõ nguyên nhân và phương thức giải quyết Nếu do nguyên nhân khách quan thì sử dụng tiền thu từ bán cổ phần để bù đắp, sau khi đã trừ tiền bồi thường bảo hiểm (nếu có), nếu không đủ thì xem xét giảm quy mô, cơ cấu vốn điều lệ của NHTMCP Nếu lỗi chủ quan của cá nhân thì xem xét buộc bồi thường, nếu không đủ thì NHTMCP phải kế thừa Khoản thâm hụt này

1.4.3 Quy định về định giá ngân hàng khi cổ phần hóa

* Phương pháp định giá

Phương thức định giá ở đây được hiểu là phương pháp, cách thức xác định giá trị ngân hàng Định giá doanh nghiệp, đặc biệt là định giá ngân hàng, là vấn đề rất khó khăn, phức tạp Doanh nghiệp khi được định giá tốt

sẽ hạn chế được việc bán rẻ và là một trong những căn cứ quan trọng để các nhà đầu tư mua cổ phần ở mức giá cao hay thấp

Trong định giá, việc áp dụng phương pháp định giá nào là hết sức quan trọng vì nó ảnh hưởng quyết định đến tính sát thực của việc định giá Cùng một doanh nghiệp, nếu áp dụng các biện pháp định giá khác nhau có thể dẫn đến kết quả hoàn toàn khác nhau Ví dụ điển hình là Nhà hàng bánh Tôm Hồ Tây Nếu áp dụng phương pháp định giá là phương pháp tài sản và doanh nghiệp lựa chọn hình thức thuê đất thì theo quy định của Nghị định

187, giá trị doanh nghiệp chỉ khoảng 700 - 800 triệu đồng, nếu định giá theo phương pháp dòng tiền chiết khấu thì giá trị của doanh nghiệp lên đến hàng chục tỷ đồng Giá trị doanh nghiệp bao gồm các yếu tố hữu hình và

vô hình, quan niệm về giá trị… Vì vậy, không bao giờ có thể định giá chính

Trang 34

xác được hoàn toàn một doanh nghiệp Mỗi phương pháp định giá đã có đều không phải là những phương thức hoàn hảo, chúng bao gồm những điểm mạnh và hạn chế riêng Theo quy định tại Điều 16 Nghị định 187, DNNN khi CPH được áp dụng các phương pháp định giá sau:

Như vậy, ngân hàng thuộc diện áp dụng phương pháp dòng tiền chiết khấu

Phương pháp dòng tiền chiết khấu (DCF) là phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp trên cơ sở khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai

Quy định của Thông tư 126 nhìn ngoài như vậy là khá chi tiết và cụ thể, nhưng chính sự quy định chi tiết, cụ thể rằng định doanh nghiệp ngân hàng thì áp dụng phương pháp dòng tiền chiết khấu lại cho thấy những điểm không hợp lý Như đã trình bày ở trên, thực ra, phương pháp tài sản hay phương pháp chiết khấu chỉ là hai trong số các phương pháp định giá doanh nghiệp trên thế giới Các chuyên gia định giá doanh nghiệp hầu hết đều nhận định không có phương pháp nào là hoàn hảo và không thể định

Trang 35

giá chính xác hoàn toàn một doanh nghiệp Mỗi phương pháp định giá đều

có ưu nhược điểm riêng Để định giá doanh nghiệp được một cách sát thực thì vấn đề không chỉ ở việc lựa chọn phương pháp định giá mà còn phụ thuộc lớn vào các yếu tố khác như điều kiện thực tế của các doanh nghiệp

và trình độ của người định giá… Thực tế CPH các NHTMNN ở Việt Nam cho thấy phương pháp dòng tiền chiết khấu không đáp ứng được các điều kiện cần và đủ cho định giá các ngân hàng Việc định giá VCB và MHB hiện nay không áp dụng phương pháp này VCB và MHB đều thuê tổ chức định giá nước ngoài và nhờ các tổ chức này tư vấn phương pháp định giá phù hợp hơn Cụ thể là trường hợp VCB, căn cứ vào điều kiện thực tế là việc áp dụng phương pháp dòng tiền chiết khấu không đánh giá được giá trị của VCB một cách sát thực Vì vậy, trên cơ sở đề nghị của VCB và Ngân hàng Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép VCB được áp dụng Khoản 3, Thông tư 126, tức là lựa chọn phương pháp định giá khác trên cơ

sở đề xuất của tổ chức định giá Hiện nay, VCB đã lựa chọn được nhà tư vấn CPH và định giá là Ngân hàng Credit Suisse Ltd của Thụy Sĩ theo Quyết định số 230 và Thông báo số 18/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ ngày 26/1/2007 Theo đó, các phương pháp được nhà tư vấn dự định lựa chọn là phương pháp Phân tích chiết khấu cổ tức (Dividend Discount Analysis), Phân tích các giao dịch mua bán/sáp nhập tương đồng (Comparable Acquisition Analysis) Điều này cũng đang diễn ra tương tự trong quá trình định giá BIDV và ICB

Như vậy, việc lựa chọn phương pháp định giá khác cũng đã được

dự liệu trong mục C, phần II, Thông tư 126 Tuy nhiên, khi muốn áp dụng phương pháp khác ngoài phương pháp dòng tiền chiết khấu thì phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính Như vậy, bất hợp lý chính là ở chỗ phương pháp được quy định chi tiết thì thực tế các ngân hàng lại không

áp dụng Trong khi đó phương pháp áp dụng thì lại chỉ được quy định một cách chung chung và phải thực hiện thêm một thủ tục là xin ý kiến Bộ Tài chính trước khi áp dụng Điều này rõ ràng là gây khó khăn hơn cho ngân hàng khi định giá trước CPH

Trang 36

Nghị định 109 ra đời đã khắc phục bất cập này Thay vì quy định

"áp đặt" phương pháp định giá cho các ngân hàng như quy định tại Nghị định 187 và Thông tư 126, Nghị định 109 đã quy định mở về phương pháp

định giá cho doanh nghiệp lựa chọn Điều 23 Nghị định 109 quy định "Các

phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp bao gồm: phương pháp tài sản, phương pháp dòng tiền chiết khấu và các phương pháp khác" Nhưng trong mọi trường hợp: "Giá trị doanh nghiệp được xác định và công bố không được thấp hơn giá trị doanh nghiệp được xác định theo phương pháp tài sản…" Quy định này thực sự đã luật hóa quyền lựa chọn phương pháp

định giá của các NHTMNN vì cho đến nay chưa có NHTMNN đang CPH nào lựa chọn phương pháp dòng tiền chiết khấu để xác định giá trị của mình

* Tổ chức định giá

Lựa chọn phương thức định giá

Việc lựa chọn phương thức tổ chức xác định giá trị ngân hàng thực hiện theo quy định tại Điều 22 Nghị định 109 Theo đó, doanh nghiệp có tổng giá trị tài sản theo sổ kế toán từ 30 tỷ đồng trở lên hoặc có vốn Nhà nước trên 10 tỷ đồng hoặc có vị trí địa lý thuận lợi phải thuê tổ chức định giá xác định giá trị doanh nghiệp Đối chiếu quy định này, các NHTMNN đều phải được định giá qua tổ chức định giá Quy định này là sự kế thừa của Nghị định 187 và là một quy định hợp lý Việc định giá ngân hàng là một công việc cực kỳ khó khăn và phức tạp đòi hỏi các chuyên gia có trình

độ và chuyên môn rất cao Thực tế tại Việt Nam cho thấy chỉ có các tổ chức định giá chuyên nghiệp hàng đầu trên thế giới mới có thể thực hiện được công việc này Do đó, việc thuê tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá sẽ đảm bảo tính khách quan và sát thực hơn

Tổ chức định giá

Trang 37

Quy định việc định giá ngân hàng phải qua tổ chức trung gian định giá thì việc quy định tiêu chuẩn, điều kiện, sự lựa chọn tổ chức định giá là hết sức quan trọng

Điều kiện để trở thành tổ chức tư vấn định giá: Theo Khoản 3, Điều

22 Nghị định 109, Tổ chức tư vấn định giá phải thuộc danh sách do Bộ Tài chính công bố Do chưa có Thông tư hướng dẫn nên các quy định chi tiết vẫn tuân thủ các hướng dẫn tại Thông tư 126 Tổ chức định giá gồm các công ty kiểm toán, công ty chứng khoán, tổ chức thẩm định giá, ngân hàng đầu tư có chức năng và năng lực định giá… Theo Điểm 2.2, Phần IV Thông tư 126, Tổ chức định giá phải đảm bảo các tiêu chuẩn và điều kiện sau:

- Có chức năng định giá trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư

- Tùy theo ngành nghề kinh doanh, phải đảm bảo các điều kiện, tiêu chuẩn của pháp luật hiện hành

- Không cùng chủ sở hữu, không có quan hệ kinh tế với doanh nghiệp được định giá như hùn vốn, góp vốn liên doanh, góp vốn cổ phần

- Không trực tiếp thực hiện kiểm toán cho các doanh nghiệp được định giá

- Trong quá trình hoạt động không có vi phạm pháp luật về nghề nghiệp

Hàng năm, trước ngày 31 tháng 12, Bộ Tài chính công bố công khai danh sách các tổ chức định giá đủ điều kiện, tiêu chuẩn định giá doanh nghiệp của năm sau Những tổ chức có chức năng định giá nếu vi phạm pháp luật sẽ tạm thời bị đình chỉ công bố và được bổ sung vào danh sách khi đã được khắc phục sai phạm

Căn cứ danh sách các tổ chức định giá được công bố hàng năm, Ban chỉ đạo CPH quyết định lựa chọn tổ chức định giá và chịu trách nhiệm

về việc lựa chọn của mình Theo Điều 22, Khoản 3 Nghị định 109 thì cơ

Trang 38

quan quyết định CPH, cụ thể là Thủ tướng Chính phủ là người có thẩm quyền lựa chọn tổ chức định giá NHTMNN trước CPH

1.4.4 Quy định về bán cổ phần, quản lý và sử dụng vốn nhà nước, tỷ lệ cổ phần cho các loại cổ đông

* Bán cổ phần lần đầu

Đối tượng mua cổ phần

Quy định về đối tượng được mua cổ phần, đối tượng mua cổ phần lần đầu, mức cổ phần được mua của NHTMNN khi CPH là vấn đề hết sức nhạy cảm vì nó không chỉ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của nhà đầu tư

mà còn quyết định quan trọng đến tính chất của ngân hàng sau CPH, chiến lược phát triển và tương lai của ngân hàng Theo Nghị định 109, đối tượng mua cổ phần lần đầu của NHTMNN khi CPH bao gồm:

- Người lao động có tên trong danh sách thường xuyên tại thời điểm quyết định thực hiện cổ phần hóa

- Nhà đầu tư chiến lược: Theo Điều 26, Khoản 2 Nghị định

187/2004/NĐ-CP "Nhà đầu tư chiến lược là các nhà đầu tư trong nước

như: người sản xuất và thường xuyên cung cấp nguyên liệu cho doanh nghiệp; người cam kết tiêu thụ lâu dài sản phẩm của doanh nghiệp, người gắn bó lợi ích chiến lược lâu dài trong kinh doanh, có tiềm năng về tài chính và năng lực quản lý" Nhà đầu tư chiến lược do cơ quan quyết định

cổ phần hóa phê duyệt Theo Điểm 4 Thông tư 95/2006/TT-BTC của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Điểm 1.2, Mục A, Phần V, Thông tư 126 thì người lao động trong ngân hàng, các pháp nhân trong cùng một ngân hàng không được làm cổ đông chiến lược Điều này xuất phát từ mục tiêu của việc mời gọi nhà đầu tư chiến lược để giúp ngân hàng sau CPH có thể nhanh chóng nâng cao năng lực hoạt động trong các lĩnh vực: tài chính, công nghệ, trình độ quản trị Nếu để người lao động, các pháp nhân của cùng ngân hàng đóng vai trò này thì mục tiêu trên sẽ không thể đạt được

Trang 39

Quy định Nhà đầu tư chiến lược chỉ là các nhà đầu tư trong nước là một trong những điểm hạn chế lớn nhất của Nghị định 187 Như đã trình bày ở trên, mục đích CPH các NHTMNN là cải tổ năng lực hoạt động trong các lĩnh vực: tài chính, công nghệ, trình độ quản trị Trong hoàn cảnh thực

tế của Việt Nam hiện nay khó có tổ chức kinh tế trong nước nào có thể đáp ứng hiệu quả Trong khi đó các tổ chức kinh tế nước ngoài, nhất là các tổ chức tài chính lớn trên thế giới như HSBC, CitiGroup, JP Morgan lại thể hiện tính vượt trội về các điều kiện trở thành nhà đầu tư chiến lược của các NHTMNN Việt Nam sau CPH Không cho phép các nhà đầu tư nước ngoài

là nhà đầu tư chiến lược tức là chúng ta đã tự loại bỏ cơ hội phát triển của chính chúng ta Và thực tế là hầu hết các NHTMNN đang trong quá trình CPH đều có xu hướng muốn chọn nhà đầu tư chiến lược là nhà đầu tư nước ngoài mặc dù cho đến nay chúng ta chưa có những thông tin cụ thể và chính thức từ các ngân hàng do đây là vấn đề nhạy cảm

Khắc phục điểm yếu này, Nghị định 109 đã công nhận tư cách cổ đông chiến lược của các nhà đầu tư nước ngoài để phù hợp với Nghị định

69 Điểm a, Khoản 3, Điều 6 Nghị định 109 quy định "Nhà đầu tư chiến

lược là các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài có năng lực tài chính, quản trị doanh nghiệp; chuyển giao công nghệ mới; cung ứng nguyên vật liệu; phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm; gắn bó lợi ích lâu dài với doanh nghiệp"

- Các nhà đầu tư khác trong nước và nước ngoài tham dự đấu giá công khai Việc bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài phải tuân theo quy định của Nghị định số 69 về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của NHTM Việt Nam Theo đó, NHTM Việt Nam muốn bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng quy định của Điều 11 Nghị định này, Nhà đầu tư nước ngoài muốn mua cổ phần của NHTM Việt Nam phải đáp ứng quy định của Điều 12 Nghị định 69 Các điều kiện này bao gồm:

+ Có tổng tài sản "Có" tối thiểu tương đương 20 tỷ USD vào năm trước khi đăng ký cổ phần

Trang 40

+ Có kinh nghiệm hoạt động quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng + Được tổ chức xếp loại tín nhiệm quốc tế xếp hạng ở mức có khả năng thực hiện các cam kết tài chính và hoạt động bình thường ngay cả khi tình hình, điều kiện kinh tế biến đổi theo chiều hướng không thuận lợi

+ Với nhà đầu tư nước ngoài là cổ đông chiến lược, ngoài các điều kiện trên còn phải có cam kết về việc hỗ trợ ngân hàng Việt Nam về phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, nâng cao năng lực quản trị, điều hành và áp dụng công nghệ ngân hàng hiện đại Theo quy định tại Điều 6 Nghị định 69 thì một tổ chức tín dụng nước ngoài chỉ được là nhà đầu tư chiến lược tại một NHTM Việt Nam

- Tổ chức Công đoàn tại NHTMNN thực hiện CPH Đây là một điểm mới của Nghị định 109 Điểm c, Khoản 32, Điều 35 Nghị định 109 quy định:

Tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp cổ phần hóa được sử dụng nguồn quỹ hợp pháp (của công đoàn) tại doanh nghiệp cổ phần hóa (không huy động, vay vốn) để mua cổ phần nhưng không quá 3% vốn điều lệ Số cổ phần này do Tổ chức công đoàn nắm giữ nhưng không được chuyển nhượng Bộ Tài chính và Tổng liên đoàn lao động Việt Nam hướng dẫn việc sử dụng nguồn quỹ hợp pháp để mua cổ phần trên nguyên tắc đảm bảo quyền lợi của người lao động tại doanh nghiệp [21]

Đây là một sự bổ sung cần thiết để tổ chức Công đoàn thực sự có sức mạnh không chỉ về mặt chính trị mà còn cả trong kinh tế để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong doanh nghiệp sau CPH

- Theo Khoản 5, Thông tư 95, bổ sung Điểm 1.4, Mục A, Phần V Thông tư 126 thì thành viên Ban chỉ đạo CPH ngân hàng, tổ chức tài chính trung gian thực hiện định giá hoặc bán đấu giá cổ phần không được tham gia mua cổ phần của ngân hàng Quy định này nhằm đảm bảo tính khách quan trung thực của quá trình CPH Trong quá trình CPH ngân hàng, các

Ngày đăng: 26/09/2020, 00:46

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w