1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng Tài chính - Quản trị kinh doanh nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của nhà trường trong giai đoạn hiện nay

120 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hệ thống các trường đào tạo nói chung, các trường đại học và cao đẳng nói riêng, sự tồn tại, phát triển về số lượng và chất lượng đào tạo không tách rời vai trò của đội ngũ cán bộ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

MÃ SỐ: 60 14 05

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS NGUYỄN THỊ MỸ LỘC

HÀ NỘI – 2006

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài .6

2 Mục đích của luận văn 7

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 8

5 Giả thiết khoa học của đề tài 8

6 Phương pháp nghiên cứu 8

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 9

8 Cấu trúc luận văn 9

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN 10

1.1 Một số khái niệm cơ bản 10

1.1.1 Quản lý, quản lý giáo dục, 10

1.1.2 Giảng viên, đội ngũ giảng viên, chất lượng giảng viên 14

1.2 Một số vấn đề lý luận về quản lý nguồn nhân lực, quản lý đội ngũ giảng viên 18

1.2.1 Quản lý nguồn nhân lực 18

1.2.2 Quản lý đội ngũ giảng viên 20

1.3 Những vấn đề ảnh hưởng chất lượng quản lý đội ngũ giảng viên trong các Trường cao đẳng đại học 23

1.3.1 Số lượng và cơ cấu đội ngũ giảng viên 23

1.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị giảng dạy nghiên cứu khoa học……… 24

1.3.3 Chế độ sử dụng và đãi ngộ đối với đội ngũ giảng viên 24

1.3.4 Môi trường truyền thụ kiến thức 28

1.3.5 Các nhân tố về mục tiêu đào tạo 29

Trang 3

1.4 Vị trí, vai trò nhiệm vụ của trường Cao đẳng và những yêu cầu đối với

giảng viên, đội ngũ giảng viên 31

1.4.1 Vị trí vai trò, nhiệm vụ của trường Cao đẳng 31

1.4.2 Những yêu cầu đối với giảng viên 33

1.4.3 Những yêu cầu đối với đội ngũ giảng viên 35

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG TÀI CHÍNH - QUẢN TRỊ KINH DOANH. 38

2.1 Khái quát về trường cao đẳng tài chính quản trị kinh doanh………

………38

2.1.1 Quá trình xây dựng và phát triển 38

2.1.2 Quy mô và ngành nghề chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng Tài chính - Quản trị Kinh doanh 41

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của nhà trường 44

2.1.4 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị trong trường liên quan đến quản lý đội ngũ giảng viên 45

2.2 Thực trạng về đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị Kinh doanh 49

2.2.1 Số lượng đội ngũ giảng viên 49

2.2.2 Cơ cấu giảng viên 50

2.2.3 Phẩm chất đội ngũ giảng viên 53

2.2.4 Trình độ đội ngũ giảng viên của trường 54

2.2.5 Năng lực của đội ngũ giảng viên 57

2.3 Tình hình quản lý đội ngũ giảng viên của trường 59

2.3.1 Công tác tổ chức 59

2.3.2 Công tác đào tạo bồi dưỡng 60

2.3.3 Kiểm tra, đánh giá 61

Trang 4

2.4 Đánh giá chung đối với việc quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường Cao

đẳng Tài chính – Quản trị Kinh doanh 62

2.4.1 Điểm mạnh 62

2.4.2 Điểm yếu 63

2.4.3 Thuận lợi 64

2.4.4 Khó khăn 65

Chương 3: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG TÀI CHÍNH - QUẢN TRỊ KINH DOANH 68

3.1 Các căn cứ xây dựng giải pháp 68

3.1.1 Chiến lược phát triển giáo dục 68

3.1.2 Kế hoạch chiến lược phát triển trường 69

3.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng quản lý đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh 70

3.2.1 Nâng cao nhận thức của đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý về sứ mạng, nhiệm vụ chiến lược, mục tiêu đào tạo của nhà trường, về vai trò và nhiệm vụ giảng viên 70

3.2.2 Quy hoạch đội ngũ giảng viên 74

3.2.3 Đẩy mạnh công tác đào tạo – bồi dưỡng đội ngũ giảng viên 83

3.2.4 Nâng cao năng lực quản lý đội ngũ giảng viên của cán bộ quản lý nhà trường 91

3.2.5 Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất –kỹ thuật 95

3.2.6 Đẩy mạnh công tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ giảng viên 98

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 106

1 Kết luận 106

2 Khuyến nghị 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

PHỤ LỤC .113

Trang 5

KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng Sản Việt nam đã mở ra cho nước ta một bước ngoặt lịch sử - đưa nước ta sang một thời kỳ phát triển mới - Thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

Để đảm bảo sự nghiệp CNH, HĐH thành công đòi hỏi phải lấy việc phát huy nguồn lực “con người” làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững, chính vì thế, Đại hội IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam khẳng định mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong 10 năm tới là: “Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm

2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng HĐH Nguồn lực con người, năng lực khoa học - Công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường, thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản, vị thế nước ta trên trường quốc tế được nâng cao”, để đạt được mục tiêu trên, Đại hội IX tiếp tục khẳng định “Giáo dục đào tạo cùng với Khoa học công nghệ

là quốc sách hàng đầu Phát triển Giáo dục là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH – CNH là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển Xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”

Để đạt được mục tiêu đào tạo đội ngũ lao động có trí thức có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo phục vụ cho

sự nghiệp CNH - HĐH đất nước thì phải phát triển sự nghiệp GD - ĐT và thực sự coi GD - ĐT là quốc sách hàng đầu

Trang 7

Trong hệ thống các trường đào tạo nói chung, các trường đại học

và cao đẳng nói riêng, sự tồn tại, phát triển về số lượng và chất lượng đào tạo không tách rời vai trò của đội ngũ cán bộ giảng dạy và chất lượng quản

lý đội ngũ cán bộ giảng dạy

Sau nhiều năm đổi mới, các Trường cao đẳng và đại học có những bước phát triển đáng kể, đội ngũ GV ngày một tăng lên cả về số lượng và chất lượng, việc quản lý đội ngũ này có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất và tinh thần của đội ngũ GV ngày một cải thiện, nhờ đó đã góp phần mở rộng

và nâng cao chất lượng đào tạo Tuy vậy, xung quanh vấn đề nâng cao chất lượng quản lý đội ngũ GV so với yêu cầu của sự CNH – HĐH và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện đang còn những bất cập: Đội ngũ GV còn thiếu về số lượng và trình độ chưa cao, chất lượng quản lý đội ngũ GV chưa thật khoa học, mô hình quản lý có hiệu quả đội ngũ này chưa nhiều và chưa được tổng kết rút kinh nghiệm nhằm phổ biến, nhân rộng trong các trường cao đẳng và đại học Rõ ràng, lời giải cho những bất cập về nâng cao chất lượng quản lý đội ngũ GV ở các trường cao đẳng và đại học là rất bức xúc trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn hiện nay ở nước ta

Chính từ nhận thức trên, là một GV ở trường Cao đẳng Tài chính –

Quản trị kinh doanh nên tôi đã chọn vấn đề: “Giải pháp quản lý đội ngũ

GV ở trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của nhà trường trong giai đoạn hiện nay” làm

đề tài nghiên cứu cho mình với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng quản lý đội ngũ GV trong nhà trường nói riêng và trong cả nước nói chung, đáp ứng phần nào nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong giai đoạn CNH, HĐH đất nước

2 Mục đích luận văn

Thông qua lý luận và thực tiễn công tác quản lý đội ngũ GV ở trường CĐ TC - QTKD, đề xuất những giải pháp quản lý nhằm nâng cao

Trang 8

chất lượng đội ngũ GV ở trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến đề tài ,có tham khảo kinh nghiệm một số nước và trong nước về đội ngũ GV và chất lượng quản lý GV

3.2 Phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ GV và quản lý đội ngũ GV của trường cao đẳng tài chính - quản trị kinh doanh: phân tích những thành công, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng

3.3 Đề xuất các giải pháp quản lý cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ GV trường Cao đẳng Tài chính - Quản trị kinh doanh

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu:

Đội ngũ giảng viên ở Trường Cao Đẳng Tài Chính - Quản Trị Kinh Doanh

4.2 Đối tượng nghiên cứu :

Những giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng Tài chính - Quản trị kinh doanh

5 Giả thiết khoa học của đề tài

Nâng cao chất lượng quản lý đội ngũ giảng viên là yếu tố quyết định đến việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển nền kinh tế xã hội Nếu xây dựng và triển khai được các giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên phù hợp sẽ nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng Tài chính - Quản trị kinh doanh

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

6.1.1 Nghiên cứu những chuyên đề lý luận đã học và các tài liệu tham khảo liên quan để làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu để vạch ra được quy luật phát triển nghiên cứu

Trang 9

6.1.2 Nghiên cứu các nghị quyết và chỉ thị của Đảng, các văn bản, luật, chủ trương, chính sách của Nhà Nước ban hành làm cơ sở pháp lý của đề tài

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra : Đàm thoại, điều tra bằng phiếu, trắc nghiệm

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp phân tích và tổng kết thực tiễn

6.3 Nhóm phương pháp toán học

Sử dụng các thuật toán sác suất thống kê, xử lí số liệu

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Khảo sát thực trạng vấn đề quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường Cao Đẳng Tài Chính Quản Trị Kinh Doanh

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn dự kiến được trình bày trong 3 chương :

Chương 1 Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý đội ngũ giảng viên

Chương 2 Thực trạng quản lý đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh

Chương 3 Giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng Cao đẳng Tài chính – Quản trị kinh doanh

Trang 10

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Quản lý, quản lý giáo dục

lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Nó có vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại trong nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội

Đề cập đến vấn đề quản lý, Các Mác đã viết : “Bất cứ lao động chung nào mà tiến hành trên quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ huy để điều hoà các hoạt động cá nhân Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”.(30, tr.40)

Ngoài ra, từ cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, xuất hiện rất nhiều quan điểm quản lý, đặc biệt ở các nước phương Tây

F.W Tay lor cho rằng : “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”.(13, tr 40)

Harold Koontz trong cuốn sách “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” thì cho rằng : “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối

Trang 11

hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất” (37, tr.33)

Henry Fayol là người đầu tiên chỉ ra chức năng quản lý gồm :“Dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra”.(13, tr.15)

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang :“Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu

dự kiến”.(32,tr.15)

Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng :

“Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.(13, tr.1)

Như vậy dấu hiệu bản chất nhất của quản lý chính là sự tác động có

tổ chức, có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản

lý để nhằm đạt mục tiêu Vì thế, quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật Nó mang tính khoa học là vì các hoạt động quản lý có tổ chức,

có định hướng đều dựa trên nhũng quy luật, những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể, đồng thời cũng mang tính nghệ thuật vì nó cần được vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể, trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của yếu tố khác nhau trong đời sống xã hội

Trong lao động quản lý chủ thể tác động vào khách thể thông qua một hệ thống các hoạt động xác định Các hoạt động đó được chuyên môn hoá gọi là chức năng quản lý Khi xác định chức năng quản lý có nhiều cách trình bày khác nhau Tuy nhiên, được thống nhất ở bốn chức cơ bản sau:

- Lập kế hoạch : Xác định mục tiêu nội dung, biện pháp, thời gian

và các điều kiện đảm bảo tính khả thi của kế hoạch Kế hoạch là nền tảng của công tác quản lý

- Tổ chức : Xác định các mối quan hệ, tính chất và cách thức từ đó

và sắp xếp bố trí con người, nguồn lực cho công việc Đây là chức năng

Trang 12

quan trọng nhất của quản lý vì nó phản ánh toàn bộ nội dung, mục tiêu quản lý Nhờ tổ chức có hiệu quả, có khoa học, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn nhân lực

- Chỉ đạo : Chỉ đạo thực chất là hoạt động dẫn dắt, điều khiển của người quản lý đối với các hoạt động và các thành viên của tổ chức để đạt được mục tiêu quản lý Hoạt động nảy sinh từ khi xây dựng mục tiêu, đến quá trình lập kế hoạch, tổ chức nhân sự, kiểm tra và đánh giá kết quả Chỉ đạo là hoạt động thường xuyên mang tính kế thừa, phát triển

- Kiểm tra là quá trình đo lường, đánh giá kết quả tìm ra ưu điểm, khuyết điểm để sữa chữa, điều chỉnh trong việc tổ chức thực hiện mục tiêu

đề ra Quản lý mà không có kiểm tra không gọi là quản lý Kiểm tra chính

là sự thiết lập mối quan hệ ngược trong quản lý Kiểm tra bao gồm yếu tố

cơ bản sau đây : xem xét, thu thập thông tin ngược, đánh giá việc thực hiện công việc theo chuẩn, nếu có sự sai lệch thì phải điều chỉnh uốn nắn

Trên thực tế, các chức năng trên diễn ra tuần hoàn theo một chu trình với tính logic chặt chẽ Tuy nhiên các chức năng kế tiếp và độc lập với nhau chỉ là tuơng đối, tuỳ theo nội dung, thời điểm mà một số chức năng có thể tiến hành đồng thời, đan xen với nhau

1.1.1.2 Quản lý giáo dục:

Giáo dục là một chức năng của Xã hội loài người được thực hiện một cách tự giác, vượt qua hoạt động “tập tính” của các loài động vật Cũng như mọi hoạt động của Xã hội loài người, giáo dục cũng được quản

lý trên bình diện thực tiễn ngay từ khi hoạt động giáo dục có tổ chức mới hình thành Bản thân sự giáo dục được tổ chức và có mục đích đã là một thực tiễn quản lý giáo dục sống động

Nhà sư phạm lỗi lạc Cômenxki (1592- 1670) khi đặt nền móng cho hệ thống các nhà trường – một tài sản quý báu cho đến nay, đã tạo cơ

sở ra đời của vấn đề quan trọng hàng đầu của quản lý giáo dục là “tổ chức

hệ thống giáo dục” trên quy mô toàn Xã hội Cômexinki đã đề xuất một hệ

Trang 13

thống các trường học dành cho các lưá tuổi khác nhau Uxin-xki 1870), nhà sư phạm vĩ đại người Nga, những quan điểm giáo dục dân chủ, dân tộc và nhân dân của ông rất gần gũi với các quản điểm quản lý giáo dục được phát triển trong thế kỷ XX

(1824-Đầu những năm 50 của thế kỷ XX, trong hàng loạt những công trình nghiên cứu có tính hàn lâm của các nhà khoa học Liên xô (cũ), đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề khác nhau của quản

lý giáo dục Năm 1956, lần đầu tiên xuát hiện cuốn “quản lý trường học” của A.Pôpốp một nhà sư phạm và quản lý giáo dục của Liên xô cũ Đây không phải là một công trình nghiên cứu mà mang tính chỉ dẫn cho hoạt động thực tiễn đối với người làm công tác giáo dục Trong thời gian gần đây, tài liệu, sách báo, tạp chí đựơc xuất bản rất nhiều Điển hình là các công trình”Nghề hiệu trưởng-một triển vọng thực tiễn được phản ánh của Thomas J Seriovanni (1995); “Quản lý giáo dục – Lý thuyết, nghiên cứu

và thực tiễn” của Wayne K.hoy, Cecil G.Mískel (1996)

Theo ba tác giả M.I KondaKep, ML Ponop và P.V Hudomixki;

“Quản lý khoa học trong hệ thống giáo dục có thể xác định như là tác động

có hệ thống, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống: từ Bộ Giáo dục đến các trường, các cơ sở giáo dục khác nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục chủ nghĩa cho các thế hệ trẻ, trên cơ sở nhận thức và quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực, tâm lý trẻ, thiếu niên và thanh niên

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ điều hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tinh chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội

tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về vật chất”.(33, tr 12)

Trang 14

Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt tới mục đích đã định Quan hệ trong quản lý giáo dục là quan hệ giữa người quản lý với người dạy và người học trong các hoạt động giáo dục

Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc : “quản

lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo các thế hệ trẻ đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội ngày một cao”.(17, tr 14)

Như vậy, khái niệm quản lý giáo dục ở nước ta hiện nay được mở rộng không chỉ đơn thuần là các hoạt động quản lý ngành giáo dục đào tạo

mà là các hoạt động phối hợp của toàn xã hội nhằm phát triển giáo dục đào tạo mà là các hoạt động phối hợp của toàn xã hội nhằm phát triển giáo dục- đào tạo thực hiện lời Bác dạy “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”

1.1.2 Giảng viên, đội ngũ giảng viên, chất lượng giảng viên

Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:

+ Phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt

+ Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ + Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp

+ Lý lịch bản thân rõ ràng

Trang 15

Nhà giáo dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên ; giáo dục đại học, sau đại học gọi là giảng viên

Như vậy, giảng viên là những nhà giáo làm công tác giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng Họ không chỉ có trách nhiệm truyền thụ kiến thức khoa học, hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho sinh viên mà họ còn là những người “dạy cho học sinh, sinh viên cách học và cách đưa ra sáng kiến trong công việc”; xây dựng nhân cách cho sinh viên nhằm đạt được mục tiêu giáo dục là “Đào tạo con người VIệt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH”

Điều 14 luật giáo dục về vai trò nhà giáo “nhà giáo có vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện, nêu gương tốt cho người học”

Hiện nay, trong bối cảnh đổi mới giáo dục để đáp ứng những biến đổi to lớn không ngừng xảy ra trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá và xã hội thì yêu cầu đối với nhà giáo ngày càng cao Cụ thể yêu cầu nhà giáo phải có những phẩm chất, năng lực sau:

* Phẩm chất đạo đức tốt:

Phẩm chất hàng đầu của nhà giáo là lòng yêu nước, giác ngộ xã hội chủ nghĩa với lý tưởng nghề nghiệp Phẩm chất này thể hiện đậm nét ở niềm tin cách mạng trong sáng và cao thượng.Tình cảm này xuất phát từ lòng yêu nước, lý tưởng cách mạng “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh” Tình cảm này thể hiện ở lòng yêu nghề, hứng thú và có nhu cầu làm việc với thế hệ trẻ, có trách nhiệm trước những lệch lạc hoặc chậm phát triển của học sinh, có tính kiên trì, thái độ kiềm chế và chủ động trong cách đối xử với học sinh, nếp sống giản dị, khiêm tốn, lịch

sự

* Yêu cầu về trình độ chuyên môn :

Trang 16

Trong công tác đào tạo, đội ngũ những nhà giáo giữ vai trò có tính quyết định đối với chất lượng và hiệu quả đào tạo bởi lẽ:

+ Trước hết họ là những người thầy và mặc dù không phải là nguồn kiến thức chủ yếu, độc tôn đối với người học xong nhiệm vụ quan trọng của họ là cung cấp những kiến thức một cách chính xác, có hệ thống đồng thời giúp người học biết cách tự đọc, biết cách nghiên cứu khoa học, tổng kết rút kinh nghiệm để hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình

+ Trình độ chuyên môn của thầy phải giỏi có chuyên môn sâu, có bằng cấp đạt tiêu chuẩn có khả năng trả lời những câu hỏi của người học trò ít nhất về vấn đề chuyên môn mình phụ trách và luôn quan tâm đổi mới, lựa chọn nội dung - chương trình phù hợp với mục tiêu đào tạo

* Yêu cầu nghiệp vụ sư phạm:

Đội ngũ nhà giáo chỉ có chuyên môn thì chưa đủ mà năng lực của nhà giáo còn thể hiện ở trình độ sư phạm Trình độ sư phạm là trình độ nghề nghiệp hoạt động cao của những nhà giáo, đó là sự thể hiện độc đáo không chỉ những tri thức kỹ năng, kỹ xảo mà của cả những quá trình, trạng thái và thuộc tính tâm lý nhân cách được phát triển phù hợp với các yêu cầu hoạt động nghề nghiệp Như vầy muốn có chất lượng dạy tốt thì nhà giáo phải có trình độ sư phạm tốt, phải có một hệ thống tri thức giỏi về chuyên môn, phải nắm được một hệ thống kỹ năng kỹ xảo nhất định, phải rèn luyện được những phẩm chất nhân cách đặc trưng cho nghề dạy học Điều kiện để hình thành trình độ sư phạm là nhà giáo giảng dạy phải biết tích luỹ tri thức khoa học ở trình độ cao, phải biết nghiên cứu khoa học, phải tham gia tích cực vào hoạt động dạy học để tích luỹ kinh nghiệm và phát huy sáng tạo trong việc giải quyết các nhiệm vụ dạy học

1.1.2.2 Đội ngũ giảng viên:

Trang 17

Theo từ điển Tiếng Việt, chúng ta có thể nói đội ngũ là khối đông người cùng chức năng nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, chúng ta có thể hiểu đội ngũ là một tập thể người gắn kết với nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc

Với nhiều cách diễn đạt khác nhau các định nghĩa đều nêu rõ đội ngũ là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để cùng thực hiện một hay nhiều chức năng có thể cùng nghề nghiệp hoặc khác nhau về công việc nhưng cùng chung một mục đích nhất định và cùng hướng tới mục đích đó

Từ đó cho thấy, đội ngũ giảng viên là tập hợp những giảng viên được tổ chức thành một lực lượng có cùng chung một tnhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đặt ra Tập hợp giảng viên của một trưòng đại học, cao đẳng nhất định thì được gọi là đội ngũ giảng viên của trường đó Khi nói đến đội ngũ giáo viên ta phải hiểu và xét trên quan điểm hệ thống

đó không phải là một tập hợp rời rạc mà các thành tố trong đó có mối quan

hệ lẫn nhau, bị ràng buộc bởi những cơ chế nhất định nào đó Vì vậy, mỗi tác động vào một thành tố đơn lẻ của hệ thống vừa có ý nghĩa cục bộ, vừa

có ý nghĩa trên toàn thể

1.1.2.3 Chất lượng giảng viên:

Trong giáo dục đại học, chất lượng giảng viên là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng đào tạo

Để xác định được chất lượng giảng viên cần tiến hành đánh giá giảng viên nói chung và hoạt động giảng dạy của giảng viên nói riêng

Vậy, cần dựa trên những tiêu chí nào để đánh giá chất lượng giảng viên ?

Có thể nói rằng, đây là một vấn đề khó, bởi lẽ cho đến nay, chưa có một thước đo chi tiết, mang tính chuẩn chung cho tất cả các trưòng đại học

Trang 18

để tiến hành đánh giá hết các mặt cần đo về phẩm chất, đạo đức, trình độ chuyên môn và kỹ năng sư phạm của người giảng viên

Theo tác giả Nguyễn Đức Chính, để đánh giá giảng viên, trước hết cần dựa vào chức trách, vai trò của người giảng viên Tuy nhiên, theo thời gian, chức trách, vai trò của người giảng viên cũng thường thay đổi cho phù hợp với thực tế xã hội

Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu có chung quan điểm về cách xác định các công việc thuộc chức trách giảng viên dựa trên 4 yếu tố:

- Giảng dạy

- Nghiên cứu khoa học

- Phục vụ chuyên môn phục vụ công cộng

- Bổn phận công dân với tư cách là nhà khoa học

Cũng có các công trình nghiên cứu chỉ xem xét chức trách của người giảng viên với 3 yếu tố: giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng

Để đánh giá chất lượng giảng viên, có thể thông qua nhiều kênh thông tin khác nhau như căn cứ vào kết quả học tập và phát triển của sinh viên, kết quả đánh giá cán bộ định kỳ của nhà trưòng, của đồng nghiệp, hoặc có thể tham khảo phiếu thăm dò ý kiến sinh viên Vấn đề đặt ra là muốn đánh giá chính xác và công bằng cần xây dựng các tiêu chí chuẩn, phù hợp và một quy trình đánh giá tốt

1.2 Một số vấn đề lý luận về quản lý nguồn nhân lực, quản lý đội ngũ giảng viên

1.2.1 Quản lý nguồn nhân lực

Đối với bất kỳ một tổ chức nào, hoạt động quản lý luôn diễn ra ở các mặt sau đây :

(1) Nhân lực

(2) Tài lực

(3) Vật lực (nguyên liệu, máy móc thiết bị)

Trang 19

(4) Sản phẩm được tiếp thị lưu thông

Trong các yếu tố đó, quản lý nguồn nhân lực là quan trọng và phức tạp nhất, bởi nó liên quan đến con người

Chúng ta có thể hiểu cụm từ nguồn nhân lực chính là nguồn lực con người Theo cách giải thích trong cuốn Phương pháp và kỹ năng quản

lý nhân sự, thì : “nguồn nhân lực là một nguồn lực sống Bước vào thế kỷ mới, chúng ta đang đứng trước thách thức của thời đại kinh tế tri thức Vì trong thời đại kinh tế tri thức, vai trò của lao động trí óc càng trở nên quan trọng hơn nên nguồn lực con người là quý nhất của xã hội ngày nay, là nguồn lực mang tính chiến lược và việc quản lý nguồn nhân lực phải được đặt trên tầm cao chiến lược của nó”

Do đó, đòi hỏi tổ chức phải luôn quan tâm đến yếu tố này, phải quản lý ra sao để có thể tận dụng và phát huy hết được giá trị của nguồn nhân lực

Vậy quản lý nguồn nhân lực là : “chức năng quản lý giúp cho người quản lý tuyển mộ, lựa chọn, huấn luyện và phát triển các thành viên của tổ chức” (27, tr 1)

Việc biến động nguồn nhân lực là điều thường xuyên diễn ra trong bất cứ xã hội nào, bất cứ tổ chức nào Một người quản lý có tài sẽ được đề bạt hoặc chuyển đến một vị trí công tác cao hơn ; một người quản lý vô năng sẽ bị giáng cấp thậm chí bị sa thải Hơn nữa, một tổ chức tuỳ từng giai đoạn hoạt động khác nhau, có thể cần nhiều hoặc ít thành viên Như vậy, quá trình quản lý nguồn nhân lực diễn tiến không ngừng Và một vấn

đề quan trọng luôn đặt ra cho chức năng quản lý nguồn nhân lực ấy là phải giữ sao cho tổ chức có “đúng người, đúng chỗ, đúng lúc”…

Quá trình quản lý nguồn nhân lực bao gồm bảy hoạt động sau đây :

+ Kế hoạch hoá nguồn nhân lực : nhằm đảm bảo nhu cầu nhân sự luôn được đáp ứng một cách thích đáng Kế hoạch hoá nguồn nhân lực được thực hiện thông qua việc phân tích các nhân tố bên trong như các kỹ

Trang 20

năng hiện có và sẽ cần đến, các chỗ làm việc đang khuyết và sự mở rộng hay thu gọn các đơn vị, các bộ phận ; các nhân tố bên ngoài như “thị trường lao động”

+ Tuyển mộ : là việc lập một danh sách chính xác hơn chuẩn bị một nhóm nhân sự - các ứng cử viên tương ứng với kế hoạch nguồn nhân lực Có thể tìm thấy họ thông qua quản cáo trên báo chí, các cơ quan xúc tiến việc làm, các lời giới thiệu, các cuộc thăm viếng các trường đại học cao đẳng, trường kỹ thuật nghề…

+ Chọn lựa : được tiến hành bằng cách xem xét các đơn xin việc, các bản lý lịch, các cuộc phỏng vấn hoặc các trắc nghiệm ký năng và nhân dụng và các kiểm tra tham chiến khác để đánh giá và các thẩm định công việc của ứng cử viên do nhưng người quản lý trực tiếp tiến hành ; những người quản lý đó là người sẽ lựa chọn cuối cùng và sử dụng nhân lực được chọn

+ Xã hội hoá hay định hướng : là quá trình giúp những thành viên được tuyển chọn nhanh chóng và êm ả thích nghi, hoà nhập với tổ chức Người mới đến được giới thiệu với đồng nghiệp, làm quen với những nghĩa

vụ và trách nhiệm, được thông báo về mục đích, chính sách của tổ chức và hành vi đáng được mong đợi từ những thành viên

+ Huấn luyện và phát triển : nhằm nâng cao năng lực, khả năng cống hiến của mỗi thành viên cho kết quả hoạt động của tổ chức Việc huấn luyện là nhằm để nâng cao, cải thiện kỹ năng đối với những công việc đang thực hiện ; còn chương trình phát triển nhằm chuẩn bị cho việc đề bạt hay nâng bậc (cấp)

+ Thẩm định kết quả hoạt động : là việc so sánh kết quả hoàn thành

công việc cá nhân được giao với các tiêu chuẩn hoặc mục đích đã xác định cho vị trí làm việc đó Kết quả thấp cần phải có hành động uốn nắn tức thì ; chẳng hạn như huấn luyện thêm, nặng ra thì hạ cấp, quá lắm thì “chia tay” còn nếu đạt kết quả cao thì đáng được tưởng thưởng hoặc đề bạt, nâng cấp

Trang 21

Tuy việc thẩm định kết quả hoạt động có thể do một giám sát viên tiến hành tại một thời điểm hoặc thời đoạn nào đó, nhưng “phòng” quản lý nguồn nhân lực có trách nhiệm làm việc với người quản lý cấp cao hơn để hình thành một chính sách hướng dẫn mội cuộc thẩm định nói trên

+ Đề bạt, thuyên chuyển, giáng cấp và sa thải : những hoạt động này phản ánh giá trị (vị trí, vai trò) của một thành viên đối với tổ chức Người đạt thành tích cao có thể được đề bạt, thuyên chuyển để giúp họ phát triển kỹ năng của mình ; người đạt thành tích thấp có thể bị chuyển đến vị trí ít quan trọng hơn, thậm chí bị thải hồi Tất cả các hoạt động này đều tác động đến kế hoạch hoá nguồn nhân lực

1.2.2 Quản lý đội ngũ giảng viên

Quản lý đội ngũ giảng viên là quản lý về mặt xã hội đối với giảng viên Những tác động của xã hội cũng như của quản lý đều hướng đội ngũ giảng viên vào việc tham gia phục vụ lợi ích chung của nhà trường, của xã hội trong đó có một phần lợi ích của mỗi người giảng viên

Quản lý đội ngũ giảng viên, trước hết là chăm lo đến các nhu cầu của họ theo Abraham Maslow, con người có 5 nhu cầu cơ bản được phân cấp, sắp xếp theo một thứ tự tăng dần từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất Đó là: nhu cầu tồn tại (nhu cầu sinh lý), nhu cầu an toàn, nhu cầu được chấp nhận ( nhu cầu được tôn trọng) và nhu cầu tự thể hiện (nhu cầu sáng tạo)

Quản lý đội ngũ giảng viên là giúp cho họ xác định được vai trò của mình trong xã hội, trong tập thể nhà trường, từ đó có những đóng góp hiệu quả trong công việc được giao; đồng thời tiến hành kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của người giảng viên, qua đó có chính sách khen thưởng, xử phạt kịp thời, nghiêm minh

Quản lý đội ngũ giảng viên là tiến hành bồi dưỡng nâng cao năng lực nhận thức, lựa chọn và mở rộng cơ hội phát triển Nói một cách cụ thể

là giúp người giảng viên thành công trong các mặt sau:

Trang 22

- Nâng cao trình độ chuyên môn (trí tuệ, trí lực)

- Phát triển các mối quan hệ (giao lưu)

- Trau dồi phẩm chất đạo đức (tâm lực)

- Nâng cao sức khoẻ (thể lực)

đức của đội ngũ giảng viên đẻ đáp ứng yêu cầu, nhiêm vụ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo là khâu trọng tâm trong công tác quản lý đội ngũ giảng viên

Để thực hiện tốt công tác quản lý đội ngũ giảng viên, người làm công tác quản lý giáo dục cần chú ý đến các vấn đề sau:

* Những đặc điểm xã hội của nghề dạy học:

Trước hết, cần khẳng định, dạy học là một nghề chuyên môn Vì vậy, để đảm đương những nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của nghề này, cần phân tích đặc điểm cơ bản về nghề nghiệp của “nghề dạy học”:

- Thông qua hoạt động giảng dạy, giáo dục tác động tới đời sống tinh thần, tâm lý nhằm hình thành và phát triển nhân cách của người học

- Phải xử lý hàng loạt các quan hệ con người, quan hệ xã hội thông qua hoạt động giao tiếp

- Tái tạo và sáng tạo kinh nghiệm giá trị xã hội: “sản phẩm” lao động của người thầy giáo là “nhân cách” của người học được phát triển đến một trình độ nhất định bằng việc lĩnh hội và khả năng, năng lực sáng tạo các kinh nghiệm xã hội

- Tính trách nhiệm cá nhân cao và tính cô lập: Lao động sư phạm của người thầy giáo là tính trách nhiệm cá nhân cả trong quá trình tương tác với người học “Tính mô phạm” cũng là một biểu hiện của tính trách nhiệm cá nhân cao của người thầy giáo Trong quá trình giảng dạy, giáo dục người thầy giáo phải chịu trách nhiệm hành vi, kiến thức kỹ năng, thái

độ của mình trước người học Lao động sư phạm của người thầy còn có đặc điểm “một mình” đối diện với người học, không có sự giám sát thường

Trang 23

xuyên, trực tiếp, không có sự hỗ trợ tại chỗ, tức thời của đồng nghiệp Đây

là một dặc điểm rất quan trọng mà người quản lý giáo dục phải tính đến trong quá trình quản lý đội ngũ giảng viên nhà trường

* Tâm lý lao động sư phạm:

- Tình cảm và lý trí: Trong qua trình hoạt động sư phạm, người giảng viên thường xuyên tiếp xúc với sinh viên, với đồng nghiệp, với cộng đồng Vì vậy, việc giữ được sự cân đối, hài hoà giữa tinh cảm và lý trí là một vấn đề rất quan trọng giúp cho họ có đủ điều kiện để hoàn thành nhiệm

vụ của mình

- Trong bất cứ bậc học nào cũng tồn tại sự cách biệt thế hệ giũa người dạy và người học điểm mạnh của sự cách biệt thế hệ này là “niềm tin” của người học với người dạy Điểm yếu của sự cách biệt thế hệ này là thiếu sự “cảm thông” của người dạy trước những nhu cầu, hứng thú, hành

vi của người học Việc điều chỉnh sự cách biệt này, trên cơ sở tin cậy, cảm thông, hợp tác sẽ tạo ra hiệu quả giáo dục

* Sức lao động của nghề dạy học:

Có thể nói, lao động dạy học thuộc loại lao động đặc biệt, đòi hỏi phải sử dụng đồng thời năng lượng tinh thần và năng lượng thể chất

Vì vậy, người cán bộ quản lý giáo dục cần có sự hiểu biết đầy đủ

để có thể đánh giá khách quan, chính xác lao động của người thầy giáo và

từ đó có biện pháp chăm lo đến đời sống tinh thần, vật chất của họ

* Vai trò xã hội và đặc điểm nhân cách của người giảng viên:

Người thầy giáo có một vai trò xã hội và một sứ mạng rất cao cả

Họ là “đại diện” có thẩm quyền của xã hội, hay nói cách khác, xã hội giao cho họ sứ mạng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ theo một mục tiêu mà xã hội đặt ra

Từ xa xưa cho đến ngày nay, ở bất kỳ nước nào trên thế giới, nghề dạy học vẫn luôn là một nghề cao quý và được tôn trọng Cho dù tồn tại

Trang 24

dưới chế độ chính trị nào thì vị trí xã hội của người thầy giáo vẫn luôn được khẳng định

Từ đó cũng đặt ra một đòi hỏi khắt khe về nhân cách, phẩm chất, năng lực của người làm nghề dạy học

1.3 Những vấn đề ảnh hưởng chất lượng quản lý đội ngũ giảng viên trong các Trường cao đẳng đại học

Lý luận và thực tiễn đều khẳng định chất lượng của vịệc quản lý giảng viên trong các trường CĐ phụ thuộc vào các vấn đề sau đây

1.3.1 Số lượng và cơ cấu đội ngũ giảng viên

Theo quy luật lượng và chất của Triết học cho thấy: sự thay đổi chất lượng của mọi sự vật và hiện tượng chỉ xuất hiện khi sự phát triển về lượng đạt đến độ nhất định để vượt qua độ thì mới dẫn đến sự thay đổi về chất lượng Do vậy, sự phát triển về số lượng đội ngũ giảng viên có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến chất lượng quản lý đội ngũ giảng viên của nhà trường

Thực tiễn cho thấy tình trạng thiếu cán bộ giảng dạy, đặc biệt là thiếu cán bộ giảng dạy có trình độ kiến thức, kỹ năng thực hành và phương pháp giảng dạy là một trong nhũng nguyên nhân dẫn đến tình trạng quá tải

và hạn chế hiệu quả thực hiện nhiệm vụ giảng dạy của đội ngũ giảng viên Ngoài ra còn dẫn đến hạn chế khác như : thiếu thời gian tham gia hoạt động thực tiễn, tự nghiên cứu, tham gia các phong trào khác của nhà trường và ảnh hưởng đến sức khỏe của đội ngũ giảng viên

tạo, từ thực tiễn, nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực giáo dục đều khẳng định: trong các nguyên nhân suy giảm chất lượng giáo dục đào tạo không thể không nhấn mạnh đến vai trò và sự bất cập của nhân tố chất lượng đội ngũ giảng viên và đều yêu cầu phải nâng cao chất lượng của đội ngũ giảng viên trên cả 3 mặt, lý luận và thực tiễn; trình độ ngoại ngữ và công nghệ

Trang 25

thông tin; phương pháp dạy học tích cực, tức là đổi mới từ phương pháp đào tạo trước đây thành phương pháp tự đào tạo Bên cạnh việc cân đối về

cơ cấu trình độ cũng phải cân đối về cơ cấu ngành nghề, cơ cấu tuổi và giới Xác định một cơ cấu hợp lý về trình độ đào tạo và thực hiện các hoạt động liên quan để đạt cơ cấu đó cũng là một biện pháp nâng cao chất lượng quản lý đội ngũ giảng viên

Tuy vậy trong tác phẩm “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết” Lênin đã chỉ rõ: “Quản lý vừa là một khoa học vừa là một

nghệ thuật”.Như vậy chất lượng quản lý không chỉ phụ thuộc vào đối

tượng quản lý mà còn phụ thuộc trình độ của chính đội ngũ cán bộ quản lý

và tổ chức bộ máy quản lý Theo Người : “Khi đã định ra đường lối đúng đắn rồi, hãy cho tôi một tổ chức bộ máy có hiệu lực, tôi đảo lộn cả nước

Nga”

1.3.2 Cơ sở vật chất - kỹ thuật, trang thiết bị giảng dạy nghiên cứu khoa học

Thực tiễn cho thấy ở trường nào cơ sở vật chất – kỹ thuật thấp kém

đều có ảnh hưởng đến kỹ năng, phương pháp giảng dạy, các hoạt động tự học tập, nghiên cứu từ đó ảnh hưởng tới việc nâng cao trình độ của cá nhân mỗi GV cũng như cán bộ quản lý đội ngũ GV

Tăng cường đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất một cách đầy đủ, kịp thời và theo hướng từng bước hiện đại là những biện pháp cơ bản trong việc tạo tiền đề vật chất cho nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy

và chất lượng quản lý đội ngũ giảng viên ở mỗi nhà trường

1.3.3 Chế độ sử dụng và đãi ngộ đối với đội ngũ giảng viên

Chế độ sử dụng và đãi ngộ đội ngũ giảng viên trong các nhà trường bao gồm rất nhiều vấn đề, như: phân công, sắp xếp chuyên môn giảng dạy phù hợp với khả năng, trình độ của mỗi giảng viên, tổ chức lao động khoa học cho toàn đội ngũ giảng viên nhằm tạo động lực vật chất- tinh thần để động viên, kích thích lao động, học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ của

Trang 26

giảng viên qua thu nhập, đánh giá thành quả lao động giảng dạy, khen thưởng - kỷ luật là những vấn đề rất cần thiết để nâng cao chất lượng quản

lý đội ngũ giảng viên Dưới đây là một số vấn đề trọng yếu:

+ Để sử dụng tốt lao động của đội ngũ giảng viên, một trong những vấn đề cơ bản của tổ chức lao động khoa học là những biện pháp kích thích đối với họ Kích thích qua thu nhập là kích thích bằng lợi ích vật chất quan trọng trong hệ thống các yếu tố kích thích Kích thích bằng lợi ích vật chất một cách đúng mức đối với lao động giảng dạy trong các nhà trường là một

sự cần thiết để đội ngũ giảng viên yên tâm, dành tâm huyết cho nghề nghiệp, giữ gìn và nâng cao tư chất nghề nghiệp, nhất là trong điều kiện hiện nay, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường phát triển, đời sống của hầu hết các tầng lớp dân cư trong xã hội đều tăng lên

Điều có thể nhận biết là giảng viên có lương tâm, có tình yêu nghề nghiệp, tình yêu học trò, luôn sống vị tha, hết lòng vì học sinh thân yêu và coi sự trưởng thành của học sinh là sự trả giá xứng đáng nhất, là sự đền đáp, bù đắp có ý nghĩa nhất đối với công sức của mình Thế nhưng sự trả công xứng đáng của nhà trường thông qua tiền lương cũng là hết sức cần thiết và phải chăng đó cũng là một biểu hiện vật chất sự tôn vinh của xã hội đối với đội ngũ giảng viên trong các nhà trường Đây là khía cạnh mới trong nhận thức tìm kiếm động lực lao động đối với đội ngũ giảng viên cần phải được thống nhất, quán triệt cùng với việc tìm kiếm cơ chế thích hợp

để chuyển nhận thức này vào thực tiễn Tuy nhiên, cũng không thể chấp nhận ý kiến mang tính thực dụng chạy theo mặt trái của kinh tế thị trường,

mặt trái của thương mại hóa

+ Một vấn đề không kém phần quan trọng trong chế sử dụng và đãi ngộ đối với đội ngũ giảng viên là sự quan tâm, đầu tư thích đáng của lãnh đạo các cấp quản lý vào việc nâng cao học hàm, học vị cho đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý trong nhà trường

Trang 27

Sự quan tâm của lãnh đạo các bộ, ngành có liên quan, của Ban lãnh đạo các nhà trường đối với mọi hoạt động của cán bộ, giảng viên nói chung, trong các hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên nói riêng, luôn là vấn đề cần thiết, có ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc tới kết quả các hoạt động của đội ngũ

Sự quan tâm đó cần được thể hiện qua việc nhận thức, quan điểm đúng đắn và những định hướng, những triển khai thực tiễn thiết thực đối với nâng cao chất lượng đội ngũ, như: chế độ sử dụng hợp lý đội ngũ giảng viên, các chính sách hỗ trợ tài chính khuyến khích họ học tập, nghiên cứu khoa học , thực sự là những biện pháp có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trong các trường CĐ và

ĐH ở nước ta hiện nay

Ngoài động lực lợi ích vật chất, bầu không khí tâm lý trong lao

động được tạo bởi những mối quan hệ giữa con người với nhau, phản ánh tâm trạng chủ yếu của tập thể và của mỗi thành viên trong đội ngũ giảng viên như: tâm trạng tốt, người lao động thoải mái, có chất lượng, có sự thông cảm tin cậy, hiệp tác và tương trợ nhau, có hiệu quả và ngược lại

+ Việc áp dụng tổ chức khoa học đối với lao động giảng dạy: Như

đã biết giảng dạy bất kỳ ở cấp, bậc nào, đều có những đặc điểm giống nhau, đó là một nghề lao động nghiêm túc, không được phép có phế phẩm,

là nghề lao động trí óc nặng nhọc, là nghề “niềm vui chen lẫn nước mắt”

ý thức được điều đó, bất chấp những khó khăn, trong thực tế có không ít giảng viên đã làm việc với lương tâm nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm cao, bất kể thời gian 8 tiếng vàng ngọc quy định, có thể tiếp diễn từ sáng sớm cho tới đêm khuya và cả vào ngày nghỉ

Các nhà nghiên cứu về thời gian lao động của giảng viên đã khẳng

định rằng: Cán bộ giảng dạy ngày nay bận rộn gấp 1,5 đến 2 lần so với người thầy giáo dưới chế độ cũ Ngoài việc giảng dạy, đa số cán bộ giảng dạy còn làm các công tác khác như: làm giáo viên chủ nhiệm, quản lý,

Trang 28

nghiên cứu khoa học … Mỗi công việc muốn có chất lượng đều đòi hỏi nhiều thời gian, công sức

Về phương diện xã hội học, vấn đề đặt ra ở đây là: lao động của cán bộ giảng dạy phải được tổ chức như thế nào để họ có thời gian tự do cần thiết để tự học, đọc sách báo, tiếp xúc thực tiễn, nâng cao trình độ và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí khác? Nhiều công trình nghiên cứu

đã cho thấy tình hình sử dụng thời gian lao động của cán bộ giảng dạy trong nhiều năm nay, bộc lộ không ít những bất hợp lý, nhất là từ khi đất nước chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế "Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước" theo định hướng XHCN, một cơ chế mang lại rất nhiều sự khởi sắc, phát triển lớn lao, đáng khích lệ về phương diện kinh tế, nhưng cũng mang lại nhiều thay đổi về vấn đề xã hội, cả tốt và xấu cần được tính đến

Trong cuốn "Chuyên đề quản lý trường học số 4" của NXB GD - 1997), có một số kết luận về vấn đề này, như sau:

- Ngày làm việc của cán bộ giảng dạy không những không được rút ngắn lại theo xu hướng chung của thời đại, như đối với hầu hết những người lao động khác mà lại tiếp tục tăng lên, do nhu cầu đào tạo tăng cả về

có thể thuận lợi trong định hướng phát triển, hoàn thiện của bản thân một cách hiệu quả hơn

Trang 29

Muốn có một chế độ sử dụng đội ngũ giảng viên một cách khoa

học, đúng đắn, các nhà quản lý của các trường cần dựa trên cơ sở những quyết định của Nhà nước về sử dụng lao động giảng dạy, đồng thời căn cứ vào điều kiện cụ thể để đưa ra những quy định phù hợp trong việc sử dụng đội ngũ giảng viên của mình

Tuy nhiên, chế độ sử dụng muốn khích lệ tính tích cực đối với giảng viên thì còn phải xuất phát từ một trong những tiền đề là sự hiểu biết sâu sắc, thực tế về nghề dạy học, chỉ có trên cơ sở đó những biện pháp về

sử dụng đội ngũ giảng viên mới trở nên sát thực, có hiệu quả, có tác dụng kích thích tính tích cực của đội ngũ giảng viên

1.3.4 Môi trường truyền thụ kiến thức

Quản lý đội ngũ giảng viên, một nội dung quan trọng không thể thiếu được xét về thực chất là quản lý mối quan hệ giữa dạy và học Do vậy, phải coi sinh viên, học sinh là đối tượng truyền thụ cùng với môi trường truyền thụ là nhân tố có quan hệ mật thiết với việc nâng cao chất lượng của đội ngũ giảng viên và chất lượng quản lý đội ngũ giảng viên trong các trường Cao đẳng ở nước ta hiện nay

Trước một tập thể học sinh, sinh viên có động cơ học tập đúng đắn, cầu thị kiến thức, học tập say mê, tìm tòi, sáng tạo, thông minh, lễ độ Các thày cô không thể bằng lòng với vốn kiến thức lý luận, thực tiễn hạn hẹp, viển vông, thiếu cập nhật không thể bằng lòng với những phương pháp lạc hậu, ít hiệu quả

Trong một nhà trường có điều kiện và nề nếp, có truyền thống giảng dạy và học tập tốt, việc tự học, học tập và trau dồi vươn lên tự hoàn thiện mình của các giảng viên thường được rất chú trọng và được thực hiện một cách tự giác, hiệu quả

Như vậy có thể nói, đối tượng truyền thụ và nề nếp giảng dạy - học tập trong mỗi nhà trường cũng là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp, đặt ra

Trang 30

các yêu cầu cao, thấp tương ứng đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ

giảng viên và chất lượng quản lý đội ngũ giảng viên cần được coi trọng

1.3.5 Các nhân tố về mục tiêu đào tạo

Lý luận và thực tiễn về giáo dục - đào tạo đã chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa mục tiêu đào tạo và chất lượng đội ngũ giảng viên:

Chất lượng đội ngũ giảng viên quyết định kết quả mục tiêu đào tạo, ngược lại mục tiêu đào tạo quy định nội dung và chuẩn mực của chất lượng đội ngũ giảng viên

Chất lượng đội ngũ giảng viên cao hay thấp, sẽ được thể hiện

tương ứng qua khả năng thực hiện các nhiệm vụ của giảng viên, từ đó dẫn

đến kết quả thực hiện các mục tiêu đào tạo có hiệu quả hay không? ở chừng mực nào?

Ngược lại, mục tiêu đào tạo cao hay thấp, sẽ đặt ra yêu cầu tương ứng đối với các điều kiện thực hiện, trong đó có điều kiện về chất lượng đội ngũ giảng viên - điều kiện tiên quyết trong thực hiện mục tiêu đào tạo

Cụ thể hơn là mục tiêu đào tạo quy định phải xây dựng đội ngũ giảng viên

có chất lượng đến mức độ nào?

Cho nên khi bàn về vấn đề giải pháp nâng cao quản lý đội ngũ cần phải gắn với mục tiêu đào tạo mỗi thời kỳ, phải xuất phát từ yêu cầu của mục tiêu đào tạo mà xác định cho phù hợp

Toàn bộ các vấn đề trên đây được đặt trong bối cảnh kinh tế chính trị xã hội cụ thể mang tính thách thức rất lớn song cũng đầy cơ hội đó là :

+ Sự bùng nổ dân số, dự báo sẽ làm cho bình quân các nguồn lực (như đất đai, tài nguyên, thu nhập…) giảm xuống nhưng nhu cầu của con người ngày một tăng lên, một mâu thuẫn đòi hỏi trí tuệ con người và theo

đó sự nghiệp GD&ĐT phải giải quyết; mâu thuẫn này gây khó khăn cho việc tổ chức quản lý xã hội; làm cho nhu cầu đào tạo ngày một tăng lên

+ Sự bùng nổ thông tin, làm cho tri thức của loài người trong thế

kỷ qua, tính trung bình cứ sau 7 năm tăng gấp đôi Bước vào thế kỷ XXI

Trang 31

loài người bước vào nền văn minh thông tin ( có ý kiến là văn minh trí tuệ, hay văn minh hậu công nghiệp), làm cho mọi hoạt động của từng người, từng đơn vị kinh tế, từng tổ chức xã hội đều trải qua trật tự 3 bước: thu thập thông tin, xử lý thông tin và ra quyết sách khoa học và nhân bản Đó cũng chính là mục tiêu của giáo dục và cũng là sự bùng nổ của giáo dục ở thế kỷ XXI

* Cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật và công nghệ hiện đại :

- Dưới tác động mang tính bùng nổ khoa học công nghệ mà mục tiêu hướng tới các công nghệ mới như: công nghệ điện tử viễn thông, công nghệ năng lượng nguyên tử, công nghệ sinh học, công nghệ tốc độ cao

- Sự tiến bộ khoa học vật liệu mới, công nghệ môi trường, công nghệ Nano , phát triển với– kỹ thuật và công nghệ này đã làm cho:

+ Lượng thông tin tăng theo cấp số nhân

+ Nhu cầu thông tin của mỗi người, mỗi tổ chức tăng theo cấp số

+ Tốc độ truyền tin tăng lên theo luỹ thừa của luỹ thừa

+ Các hình thức truyền tin ngày một đa dạng: sách, báo, điện thoại, phát thanh, truyền hình, băng đĩa, Internet…

+ Làm xuất hiện nhiều phương pháp quản lý hiện đại, phương pháp dạy và học hiện đại

+ Mối quan hệ giữa các nước, các khu vực và quốc tế gia tăng nhanh

* Toàn cầu hóa, một xu thế tất yếu:

+ Toàn cầu hóa làm cho thị trường nguồn nhân lực được đào tạo ngàymột mở rộng, mở ra cơ hội xúc tiến giao lưu lĩnh vực GD&ĐT giữa các nước vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau Trong bối cảnh toàn cầu

Trang 32

hóa gắn với sự hình thành và phát triển kinh tế tri thức, chỉ có giáo dục đào tạo mới có thể làm cho gánh nặng dân số thành lợi thế, đó là một mặt

+ Mặt khác, toàn cầu hóa và hội nhập cũng đặt ra cho sự nghiệp

GD & ĐT nước ta những thách thức, khó khăn đòi hỏi phải thông qua đổi mới để vượt qua

Đổi mới phải sao cho vừa ổn định tương đối, vừa thực hiện những đổi mới cần thiết để phù hợp với thông lệ quốc tế là một thách thức, khó khăn của GD & ĐT trong thập niên trước mắt, khi ta chưa kịp thích nghi, nhất là đối với việc đào tạo Cao đẳng và Đại học

Chiến lược, chính sách và cơ chế đổi mới phải sao cho vừa đáp ứng nhu cầu học tập của công dân, vừa đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao theo đòi hỏi của CNH, HĐH đất nước và từng bước liên thông quốc tế về trình độ Cao đẳng và Đại học hiện nay ở nước ta

1.4 Vị trí, vai trò nhiệm vụ của trường Cao đẳng và những yêu cầu đối với giảng viên, đội ngũ giảng viên

1.4.1 Vị trí vai trò, nhiệm vụ của trường Cao đẳng

Trường Cao đẳng là nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm cả trường Công lập, bán công, dân lập và tư thục được thành lập

và quy hoạch theo kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và chịu sự quản lý nhà nước của các cơ quan quản lý giáo dục theo sự phân công, phân cấp của chính phủ

Theo điều 53 Luật giáo dục Việt Nam, nhà trường có những nhiệm

vụ và quyền hạn sau đây:

+ Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục theo mục tiêu, chương trình giáo dục

+ Quản lý nhà giáo, cán bộ, nhân viên

+ Tuyển sinh và quản lý người học

Trang 33

+ Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy định

+ Phối hợp với gia đình người học, tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáo dục

+ Tổ chức cho nhà giáo, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các hoạt động xã hội

+ Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật Nhà trường là một đơn vị sự nghiệp hành chính, được thiết lập theo thiết chế xã hội - có quy tắc, có luật lệ ; là một tổ chức có bộ máy, có nhân

sự, hoạt động theo những mục đích, mục tiêu đã được đặt ra Nhà trường là

cơ sở đào tạo của ngành giáo dục nơi trực tiếp giáo dục học sinh, sinh viên

; nơi thực thi mọi chủ trương, đường lối, chính sách, nội dung, phương pháp giáo dục nơi diễn ra lao động của thầy, lao động của trò và lao động của bộ máy quản lý trường học

Theo từ điển Giáo dục học: “Trường đại học là cơ sở giáo dục thuộc bậc đại học đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, có thể đào tạo trình

độ thạc sỹ, tiến sỹ khi được thủ tướng chính phủ giao”

Khác với trường phổ thông trường đại học cao đẳng còn có nhiệm

vụ và quyền hạn trong nghiên cứu khoa học, phục vụ xã hội như:

- Thực hiện các nghiên cứu khoa học, ứng dụng và phát triển công nghệ, tham gia giải quyết những vấn đề về kinh tế - xã hội của địa phương

Trang 34

tiêu, tổ chức quá trình đào tạo công nhân tốt nghiệp và cấp văn bằng theo thẩm quyền; tổ chức bộ máy nhà trường; huy động, quản lý, sử dụng nguồn nhân lực nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục; hợp tác với các tổ chức kinh

tế, giáo dục, văn hoá, thể dục, thể thao, y tế, nghiên cứu khoa học trong nước và ngoài nước theo quy định của chính phủ

1.4.2 Những yêu cầu đối với giảng viên

Trong lịch sử phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam, người GV luôn được tôn vinh là kỹ sư tâm hồn, là người có vai trò quyết định đến chất lượng giáo dục đào tạo Vì vậy, người GV trước hết phải thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình được quy định rõ ràng trong Luật Giáo dục

và các văn bản pháp quy khác Đó là nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học - hai nhiệm vụ trọng tâm và hàng đầu của GV Ngoài ra, theo quan điểm giáo dục hiện đại, người GV còn tham gia các hoạt động đối với cộng đồng với tư cách là nhà khoa học

Để thực hiện tốt nhiệm vụ nêu trên, người GV phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về kiến thức chuyên môn, năng lực sư phạm và phẩm chất đạo đức - chính trị

* Kiến thức chuyên môn:

Theo từ điển giáo dục học, kiến thức “là những điều hiểu biết có được của con người về thế giới tự nhiên và xã hội nhờ học tập trong trường

và từng trải trong thực tế cuộc sống”

Kiến thức chuyên môn của GV là những điều hiểu biết của GV đó

về một hoặc một số môn học mà họ đảm nhận, thông qua học tập trong trường, nghiên cứu sách vở và thực tiễn cuộc sống

Tuy người GV không phải là nguồn kiến thức độc tôn đối với người học, song nhiệm vụ quan trọng của họ vẫn là cung cấp kiến thức một cách chính xác, có hệ thống, đồng thời giúp người học biết cách tự học,

Trang 35

biết cách nghiên cứu khoa học, tổng kết rút kinh nghiệm để hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình Vì vậy, yêu cầu đầu tiên đối với một người GV khi bước lên bục giảng là họ phải có một lượng tri thức tương đối rộng, học sâu một số môn chuyên ngành Bên cạnh đó, GV phải có kiến thức về một

số môn học khác để thực vụ việc hiểu biết sâu hơn những môn chuyên ngành và giải đáp thắc mắc của SV và lựa chọn nội dung phù hợp với chương trình và mục tiêu đào tạo

Đặc thù của giáo dục cao đẳng và đại học là đào tạo ra những người lao động, có trình độ từ cao đẳng trở lên, nắm vững kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước Chính

vì vậy, giáo dục cao đẳng và đại học phải đảm bảo thống nhất giữa dạy lý thuyết và thực hành, gắn tri thức lý luận với thực tiễn sống, làm cho SV trở thành người hiểu sâu, biết rộng, biết nói, biết làm

Vì vậy, GV không chỉ là người có kiến thức chuyên môn mang tính

lý luận, sách vở sâu rộng mà còn phải có kinh nghiệm giải quyết những vấn

đề nảy sinh trong thực tiễn Một người giáo viên giỏi phải là người tinh thông lý luận, nhuần nhuyễn thực tiễn, là điểm tựa cho SV

* Năng lực sư phạm:

Năng lực sư phạm là yếu tố cấu thành cơ bản nên tư chất người

GV Năng lực sư phạm là tổng hợp những đặc điểm tâm lý cá nhân đáp ứng nhu cầu của hoạt động sư phạm và quyết định sự thành công trong công việc nắm vững hoạt động ấy

Năng lực sư phạm thể hiện trước hết ở khả năng truyền thụ kiến thức cho người học Tuy nhiên, theo lý luận dạy học hiện đại thì “dạy là sự điều khiển tối ưu hoá quá trình người học chiếm lĩnh nội dung học, trong

và bằng cách đó phát triển và hình thành nhân cách” Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên

Trang 36

Như vậy, nhiệm vụ của GV không chỉ truyền thụ kiến thức mà còn

là người biết gợi mở, hướng dẫn, dạy người học cách tìm kiếm và xử lý thông tin, từ đó vận dụng chúng

Theo GS.Nguyễn Đức Chính, năng lực sư phạm có thể được cụ thể hoá bằng các kỹ năng như :

- Kỹ năng lập kế hoạch, tổ chức và tiến hành dạy học

- Kỹ năng tổ chức, quản lý, tư vấn, giúp đỡ SV ngoài giờ

- Kỹ năng giao tiếp

- Kỹ năng lập hồ sơ giảng dạy, hồ sơ học sinh, học liệu

- Kỹ năng đánh giá (tự đánh giá, đánh giá đồng nghiệp, đánh giá chương trình đào tạo, đánh giá kết quả học tập của học sinh)

- Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và viễn thông trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học

- Kỹ năng thích ứng với những thay đổi trong giáo dục cũng như trong cuộc sống

- Kỹ năng tự học và học tập suốt đời

* Phẩm chất chính trị, đạo đức:

Có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức và lối sống trong sáng

là tiêu chuẩn đầu tiên và cơ bản của một GV Phẩm chất chính trị của nhà giáo được chủ tịch Hồ Chí Mình đánh giá rất cao Người cho rằng : “…có chuyên môn mà không có chính trị giỏi thì dù học giỏi mấy thì dạy trẻ con cũng hỏng

Với người GV, có nhận thức chính trị đúng đắn chưa đủ mà còn có khả năng xử lý các tình huống chính trị và định hướng nhận thức chính trị -

xã hội cho SV, là tấm gương đạo đức cho SV noi theo Đặc biệt trong nền

Trang 37

kinh tế thị trường, người GV cần gìn giữ phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp của mình

1.4.3 Những yêu cầu đối với đội ngũ giảng viên

* Số lượng:

Số lượng là biểu thị về mặt định lượng của ĐNGV Mỗi trường đại học phải có đủ số lượng GV tương ứng với số lượng SV và chương trình đào tạo của nhà trường theo một tỷ lệ nhất định Dựa vào đó mà mỗi trường lập quy hoạch xây dựng và phát triển số lượng ĐVGV để :

- Đảm bảo duy trì đủ, ổn dịnh số lượng đội ngũ giảng viên

- Đảm bảo tỷ lệ sinh viên trên giảng viên theo yêu cầu hiện nay :

“10 – 15 đối với các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ,

20-25 đối với các ngành khoa học xã hội và nhân văn, các ngành kinh tế

- Đảm bảo cho giảng viên hoàn thành được nhiệm vụ giảng dạy và tạo điều kiện cho giảng viên có thời gian tham gia nghiên cứu khoa học, tự học, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ

- Đảm bảo cho việc sử dụng và phát huy hết khả năng của đội ngũ giảng viên cơ hữu một cách hợp lý và hiệu quả

Số lượng GV trong các trường đại học công lập bị điều chỉnh bởi chỉ tiêu biên chế Nhà nước ; trong khi đó, các trường ngoài công lập (trong

đó các trường ĐHDL) có quyền tự chủ hơn

* Chất lượng:

Chất lượng của ĐNGV là một trong những điều kiện quyết định chất lượng đào tạo của một trường đại học Chất lượng của ĐNGV bao hàm nhiều yếu tố : trình độ đào tạo của từng thành viên trong đội ngũ, thâm niên làm việc trong vị trí làm việc, sự hài hoà giữa các yếu tố Tuy nhiên, chúng ta chú trọng hai nội dung :

Trang 38

- Trình độ đào tạo : GV có được tạo chính quy hay không, chất lượng và uy tín của cơ sở đào tạo, bằng cấp, chứng chỉ, học vị

- Sự hài hoà giữa nội dung công việc và đào tạo : có được bố trí giảng dạy đúng chuyên môn hay không ? Có đủ tiêu chuẩn về trình độ nhưng có đủ năng lực để giảng dạy hay không ? Việc phân công tiếp nhân giảng viên về các khoa, các tổ bộ môn đã hợp lý chưa ?

Từ những phân tích trên, xác định nội dung và nhiệm vụ nâng cao chất lượng ĐNGV Một số biện pháp như tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng Song song với việc thực hiện các biện pháp là vấn đề kiểm tra, đánh giá tình hình giảng dạy của mỗi giáo viên một cách thường xuyên, có kế hoạch nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy

- Giới tính : để có những tác động cần thiết thông qua quản trị nhân

sự, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu suất công tác của từng cá nhân và của

cả đội ngũ Cơ cấu nam lớn hơn nữ, cán bộ chủ chốt chủ yếu là nam

Tóm lại, những nội dung trình bày trên đây là phần lý luận chung cho việc quản lý đội ngũ giảng viên trong các trường cao đẳng và đại học Thông qua đó, giúp chúng tôi có cơ sở phân tích thực trạng quản lý đội ngũ

Trang 39

giảng viên ở Trường Cao đẳng Tài chính Quản trị Kinh doanh để đưa ra

những giải pháp phù hợp để quản lý đội ngũ giảng viên của trường nhằm

đáp ứng nhu cầu phát triển của nhà trường trong giai đoạn hiện nay

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG

CAO ĐẲNG TÀI CHÍNH- QUẢN TRỊ KINH DOANH

2.1 Khái quát về trường cao đẳng tài chính quản trị kinh doanh

2.1.1 Quá trình xây dựng và phát triển

Trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị Kinh doanh (Thuộc bộ Tài

chính) được thành lập theo Quyết định số 6584 / QĐ / BGD & ĐT ngày

21/11/2005 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (Trên cơ sở tổ chức tại

Trường Cao đẳng Tài chính Kế toán I và Trường Cao đẳng bán công Quản

trị Kinh doanh) Trường Cao đẳng Tài chính - Quản trị Kinh doanh có bề

dày truyền thống vẻ vang về đào tạo: 41 năm của Trường Cao đẳng Tài

chính kế toán I và 39 năm của Trường Cao đẳng bán công Quản trị Kinh

doanh Trường đã đào tạo 54.500 học sinh, sinh viên có trình độ Cao đẳng,

Trung học theo các loại hình chính qui tập trung, chuyên tu, tại chức và bồi

dưỡng theo chuyên đề ở trong và ngoài nước, trên các lĩnh vực khoa học về

Kế toán, Tài chính, Quản trị, Kinh doanh, Tin - Kinh tế Chỉ tiêu tuyển sinh

năm 2006 của trường là:

- Cao đẳng chính quy 1601 chỉ tiêu

- Trung học chính quy 1191 chỉ tiêu

- Cao đẳng liên thông 350 chỉ tiêu

- Cao đẳng không chính quy 723 chỉ tiêu

Ngoài ra nhà trường còn liên kết, đào tạo liên thông từ bậc Cao

đẳng lên bậc Đại học với các trường:

- Học viện tài chính 160 chỉ tiêu

Trang 40

- Đại học Thương mại 250 chỉ tiêu

- Đại học Kinh tế quốc dân 250 chỉ tiêu

Trong quá trình xây dựng và phát triển, nhờ định hướng đúng, với quyết tâm của lãnh đạo, giảng viên, cán bộ, nhân viên nhà trường và sự quan tâm chỉ đạo , giúp đỡ của Bộ Tài Chính, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo uỷ ban nhân dân tỉnh Hưng Yên cùng các Ban Ngành Đoàn thể của tỉnh Hưng Yên nhà trường đã từng bước vươn lên khẳng định vị trí xứng đáng của mình trong hệ thống giáo dục của nước nhà

Với phương châm “Chất lượng đào tạo là sự sống còn của nhà trường”, Đảng uỷ Ban Giám Hiệu nhà trường luôn quan tâm đến vấn đề đảm bảo và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo mà trọng tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ giảng viên vững mạnh về mọi mặt tính đến năm học

2005 -2006 tổng số cán bộ của trường Cao đẳng Tài chính Quản trị Kinh doanh hiện có 210 người

Trong đó phân theo ngạch bậc

TT Đối tượng Số

lượng

Trình độ Sau đại học

Đại học

Cao đẳng khác Loại Tiến sĩ,

Phân theo biên chế:

TT Loại lao động Số lượng (người) Ghi chú

Ngày đăng: 26/09/2020, 00:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ giáo dục và đào tạo (2004), Giáo dục đại học Việt Nam NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đại học Việt Nam
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
2. Ban khoa giáo Trung ương (2002), Giáo dục và đào tạo trong đào tạo trong thời kỳ đổi mới, chủ trương, thực hiện, đánh giá, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và đào tạo trong đào tạo trong thời kỳ đổi mới, chủ trương, thực hiện, đánh giá
Tác giả: Ban khoa giáo Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
3. Ban khoa giáo trung ương (2005), Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam
Tác giả: Ban khoa giáo trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
4. Chương trình KHCN cấp Nhà nước KX- 05 (2002), Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam: cơ sở khoa học vấn đề và kinh nghiệm (kỷ yếu hội thảo), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2002), Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam: cơ sở khoa học vấn đề và kinh nghiệm (kỷ yếu hội thảo)
Tác giả: Chương trình KHCN cấp Nhà nước KX- 05
Năm: 2002
5. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
8. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
6. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Điều lệ trường Đại học số 153/2003/QĐ-TTg Khác
9. Đề án đổi mới và phát triển Trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị Kinh Doanh Khác
10. Luật giáo dục của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB chính trị quốc gia Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w