1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh lớp 10 trong dạy học phần thơ Đường : Luận văn ThS. Giáo dục học: 60 14 10

123 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC PHẠM THỊ THỦY BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH LỚP 10 TRONG DẠY HỌC PHẦN THƠ ĐƯỜNG LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN CHUYÊ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM THỊ THỦY

BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH

LỚP 10 TRONG DẠY HỌC PHẦN THƠ ĐƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM THỊ THỦY

BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH LỚP 10

TRONG DẠY HỌC PHẦN THƠ ĐƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Ban

HÀ NỘI – 2012

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 1.1 Các bài thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 10 19

2 Bảng 1.2 Các tác phẩm văn học nước ngoài trong chương trình

THPT hiện hành

20

3 Bảng 1.3 Chuẩn kiến thức, kĩ năng cần đạt ở từng bài thơ Đường

trong chương trình Ngữ văn 10

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục các chữ viết tắt iv

Danh mục các bảng v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1:CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 8

1.1 Khái quát về thơ Đường 8

1.1.1 Những yếu tố cơ bản chi phối đặc điểm nội dung và nghệ thuật của thơ Đường 8

1.1.2 Các đề tài và trường phái thơ Đường 11

1.1.3 Thi pháp thơ Đường 13

1.2 Thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 10 19

1.2.1 Nội dung dạy học thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 10 19

1.2.2 Ý nghĩa của việc dạy học thơ Đường 24

1.3 Hứng thú và hứng thú học tập Ngữ văn của học sinh 25

1.3.1 Các khái niệm 25

1.3.2 Những đặc trưng cơ bản của hứng thú học tập 27

1.3.3 Các điều kiện để tạo hứng thú học tập 28

1.3.4 Biểu hiện của hứng thú học tập môn Ngữ văn 33

1.3.5 Vai trò của hứng thú học tập đối với môn Ngữ văn 36

1.4 Thực trạng dạy học thơ Đường ở lớp 10 xét từ góc độ tạo hứng thú học tập cho học sinh 39

1.4.1 Về phía giáo viên 39

1.4.2 Về phía học sinh 41

Chương 2: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH LỚP 10 TRONG DẠY HỌC PHẦN THƠ ĐƯỜNG 44

2.1 Nguyên tắc tạo hứng thú cho HS trong dạy học thơ Đường 44

2.1.1 Đảm bảo tính hình tượng, tính nghệ thuật 44

2.1.2 Đảm bảo tính vừa sức, tạo sức 46

Trang 6

2.1.3 Đảm bảo tính dân chủ 47

2.1.4 Đảm bảo phát huy sức mạnh trí tuệ, tình cảm và hứng thú của tập thể 48

2.2 Sử dụng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn một cách có hiệu quả để tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học thơ Đường 48

2.2.1 Phương pháp đọc sáng tạo 48

2.2.2 Phương pháp đàm thoại 59

2.3 Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực để tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học thơ Đường 64

2.3.1 Phương pháp dạy học theo nhóm 64

2.3.2 Phương pháp dạy học nêu vấn đề 75

2.3.3 Phương pháp trò chơi học tập 79

2.4 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học thơ Đường 84

2.4.1 Công nghệ thông tin với việc tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy học thơ Đường 84

2.4.2 Một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy thơ Đường 86

Chương 3:THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 91

3.1 Mục đích thực nghiệm 91

3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 91

3.3 Nội dung thực nghiệm 92

3.4 Phương pháp tiến hành 104

3.5 Kết quả thực nghiệm 104

3.5.1 Kết quả bài kiểm tra mức độ nhận thức của HS sau bài học 104

3.5.2 Kết quả sản phẩm nhóm của HS tại lớp thực nghiệm (sau một tuần) 106

3.5.3 Kết quả bài trắc nghiệm về mức độ hứng thú của HS sau khi học bài “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” tại lớp thực nghiệm 106

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

PHỤ LỤC 113

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số

16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo đã nêu:

“Phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”

Trong các yêu cầu trên, tạo được niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh là một vấn đề quan trọng Bởi lẽ bản chất dạy – học là một hoạt động phức tạp, trong

đó chất lượng, hiệu quả cơ bản phụ thuộc vào chủ thể nhận thức - người học Điều

dễ nhận thấy là nếu học sinh không có hứng thú thì cũng không thể phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập Đối với dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông hiện nay, tạo hứng thú học tập cho học sinh càng được coi là một yêu cầu cấp thiết Đã và đang có ngày càng nhiều học sinh thờ ơ hay coi thường môn Ngữ văn vì thấy môn học này nhàm chán, khuôn sáo, nặng nề, ít hấp dẫn Vậy cần phải có những biện pháp cụ thể để thay đổi cách nhìn trên đối với môn Ngữ văn, đem lại hứng thú học tập cho các em khi đến với môn học

1.2 Trong chương trình Ngữ văn THPT, thơ Đường có một vị trí quan trọng ở phần

văn học nước ngoài Đây là một trong những thành tựu xuất sắc của văn học cổ điển Trung Hoa và của cả nhân loại Đưa học sinh THPT đến với thơ Đường chính là giúp các em tiếp cận với một phần của tinh hoa văn hóa nhân loại Tuy nhiên, thơ Đường thực sự là một phần khó dạy đối với giáo viên và khó học đối với học sinh THPT Với học sinh THPT hiện nay, thơ Đường là một sản phẩm tinh thần xa về mặt thời gian và xưa về mặt ngôn từ Ngôn ngữ thơ Đường hàm súc, ý tứ sâu xa và còn có nhiều điển tích, điển cố khó hiểu Trong khi đó, vốn từ gốc Hán và vốn từ Hán Việt của học sinh không nhiều, năng lực cảm thụ và phân tích thơ cổ điển rất hạn chế… Có thể nói, khoảng cách thời gian, hàng rào ngôn ngữ và sự hạn chế về vốn tri thức, tầm đón nhận của học sinh THPT đã đặt ra nhiều thử thách cho việc dạy học thơ Đường Việc tìm hiểu những bài thơ sâu xa của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Thôi

Trang 8

Hiệu dường như là quá khó đối với lứa tuổi 16 nên các em không mấy hứng thú Vậy vấn đề đặt ra là cần có biện pháp dạy học hiệu quả để những giờ học thơ Đường thật sự hấp dẫn, lôi cuốn Qua đó học sinh có hứng thú học tập, phát huy tính tích cực, chủ động, say mê khám phá và chiếm lĩnh tri thức về thơ Đường – tinh hoa văn hóa nhân loại

1.3 Thực tiễn dạy học thơ Đường trong trường phổ thông hiện nay xét về góc độ

tạo hứng thú cho học sinh vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn Do nhiều lí

do khách quan và chủ quan, cả GV và HS đều thấy lúng túng, chưa vượt qua được những khó khăn trong dạy học thơ Đường Và những giờ học thường diễn ra trong không khí nặng nề hoặc ít sôi nổi

Mặt khác, việc nghiên cứu vấn đề dạy học thơ Đường trong trường phổ thông tuy đã được quan tâm, bàn luận khá nhiều, nhưng còn chưa thực sự chú trọng đến các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh Việc thiết kế các biện pháp cụ thể, rõ ràng nhằm tạo hứng thú học thơ Đường cho học sinh, làm cho giờ học thực sự hấp dẫn và hiệu quả vẫn là vấn đề cần bàn đến

Với những lí do nêu trên và mong muốn nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn nói chung, dạy học thơ Đường nói riêng, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn nghiên

cứu đề tài: Biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh lớp 10 trong dạy học

phần thơ Đường

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Việc nghiên cứu, tìm tòi các biện pháp tạo hứng thú trong dạy học nói chung

và trong dạy học môn Ngữ văn nói riêng từ lâu đã được các nhà khoa học và các nhà sư phạm quan tâm Trên thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này và có thể kể ra đây một số công trình:

- Luận văn Thạc sĩ khoa Tâm lý trường ĐHSPHN (1981) của Nguyễn Thị

Tuyết: Bước đầu tìm hiểu hứng thú học tập môn Văn của HS lớp 10, 11 ở trường THPT đã đề cập nguyên nhân gây hứng thú cho HS trong giờ học văn, đánh giá

hiện trạng nhưng lại chưa đưa ra được những giải pháp cụ thể

- Luận văn thạc sĩ khoa học sư phạm, khoa Tâm lí – ĐHQGHN của Bùi

Quốc Đạt: Hứng thú và năng lực tiếp nhận tác phẩm văn học trong chương trình PTTH của HS lớp 12 miền núi Thanh Hóa đã đi sâu vào nghiên cứu hiện trạng

Trang 9

hứng thú và năng lực tiếp nhận văn học của HS lớp 12 miền núi, qua đó đưa ra một

số biện pháp gây hứng thú và rèn luyện năng lực tiếp nhận văn học cho HS

- Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Giáo tại ĐHSPHN năm 1981 nghiên cứu về hứng thú học tập môn văn của đối tượng là sinh viên trong nhà trường cao

đẳng với tên đề tài: Bước đầu tìm hiểu hiện trạng hứng thú môn văn của giáo sinh trường cao đẳng sư phạm Nha Trang đã nêu lên những vấn đề lí luận chung nhất

về hứng thú, trên cơ sở đó phân tích hiện trạng và nguyên nhân của hứng thú học tập môn Văn của giáo sinh trường cao đẳng sư phạm Nha Trang

- Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của tác giả Nguyễn Bá Cường,

ĐHSPHN, 2003, với tên đề tài: Một số biện pháp bồi dưỡng, phát triển hứng thú, nhu cầu, thị hiếu, năng lực đọc tác phẩm văn chương của HS lớp 9 miền núi Lai Châu đã hướng đến nghiên cứu một số biện pháp tạo hứng thú cho HS lớp 9 khi

học văn nhưng hệ thống biện pháp đưa ra còn quá nhỏ nhặt và chỉ mang tính chất như là những thủ pháp, những kĩ thuật của GV trong giờ học

Ngoài các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ nghiên cứu về vấn đề tạo hứng thú cho học sinh trong giờ học môn Ngữ văn còn có rất nhiều các bài viết đăng trên các báo, tạp chí nghiên cứu về vấn đề trên Đối với việc tạo hứng thú trong giờ học thơ Đường thì hầu như chưa có một công trình nào chính thức được công bố cho tới thời điểm này

2.2 Thơ Đường được đưa vào sách giáo khoa Văn 10 cải cách từ năm học 1989 –

1990 Cho đến nay, ở Việt Nam đã có không ít công trình nghiên cứu về vấn đề giảng dạy thơ Đường trong nhà trường phổ thông Có thể kể đến những công trình tiêu biểu như:

- Cuốn Thơ Đường ở trường phổ thông do Hồ Sĩ Hiệp tuyển và biên soạn

(Nhà xuất bản Tổng hợp Khánh Hòa, Khánh Hòa, 1991) với những bài giới thiệu và phân tích một số bài thơ Đường nổi tiếng và các nhà thơ tiêu biểu

- Cuốn Bình giảng thơ Đường và việc dạy học thơ Đường ở trường phổ thông của Nguyễn Thị Bích Hải (Nhà xuất bản Giáo dục, H., 2003) trình bày

những kiến thức về thơ Đường và việc dạy học thơ Đường trong trường phổ thông, nêu những vấn đề có tính phương pháp trong việc tìm hiểu thơ Đường

Trang 10

- Cuốn Thơ Đường bình giải của Nguyễn Quốc Siêu (Nhà xuất bản Giáo

dục, tái bản lần thứ 5 năm 2005) giới thiệu lại và thêm phần bình những bài thơ Đường đã được chọn tuyển trong sách giáo khoa THCS và THPT

- Các cuốn sách Thơ Đường trong nhà trường của Trần Ngọc Hưởng (2004), Văn học Trung Quốc với nhà trường – tập tiểu luận của Hồ Sĩ Hiệp (2006), Dạy học các tác phẩm thơ Đường ở trường THCS và THPT: Theo chương trình ngữ văn mới của Lê Xuân Soan (2006), Dạy - học văn học nước ngoài Ngữ văn 10 (cơ bản và nâng cao) của Lê Huy Bắc (2009),

- Luận văn thạc sĩ Giáo dục học của tác giả Phan Thị Minh, ĐHSP TP Hồ

Chí Minh năm 2007 với tên đề tài Giảng dạy thơ Đường ở trường phổ thông dưới góc nhìn của thi pháp học nghiên cứu cụ thể việc dạy thơ Đường trong nhà trường

nhưng chỉ ở góc độ thi pháp học, hướng đến việc đổi mới phương pháp dạy học

- Khóa luận tốt nghiệp Đường thi trong sách giáo khoa phổ thông ở Việt Nam của Mạnh Thị Minh năm 2006 (Tư liệu khoa Văn học, Trường Đại học

Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội) Trong khóa luận này, người viết chủ yếu

là thống kê lại quá trình thơ Đường được đưa vào giảng dạy trong chương trình môn Văn phổ thông ở Việt Nam, đồng thời đề xuất phương pháp dạy học, giúp

HS tìm hiểu thơ Đường

Các công trình trên đã có những vai trò tích cực, định hướng cho việc dạy – học thơ Đường trong nhà trường nhưng nhìn chungs mới dừng lại ở việc đưa ra các đặc điểm, các đặc trưng, nội dung, cách tiếp cận, câu hỏi định hướng để giúp giáo viên cần giảng dạy những gì về những bài thơ Đường trong chương trình chú chưa đề cập đến các biện pháp cụ thể nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

Các kết quả nghiên cứu về nội dung, nguyên tắc khi dạy học thơ Đường, những lí thuyết về hứng thú học tập của HS và các biện pháp tạo hứng thú ở các lĩnh vực kiến thức khác nhau mà các công trình trên đề cập đến đã gợi dẫn chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các nội dung lí luận trong các công trình trên làm cơ sở lí luận cho đề tài của mình

Trang 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Từ việc tìm hiểu lí thuyết về hứng thú và tạo hứng thú trong học tập; các điều kiện, nguyên tắc và tác dụng khi vận dụng lí thuyết về hứng thú và tạo hứng thú trong học tập vào dạy học thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 10; luận văn

đề xuất một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS lớp 10 trong dạy học phần thơ Đường nhằm giúp HS yêu thích học nội dung này Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng dạy học thơ Đường nói riêng, dạy học văn học nước ngoài và môn Ngữ văn nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đề ra ở trên, đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:

- Nghiên cứu cơ sở khoa học bao gồm cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc đề xuất các biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS lớp 10 trong dạy học phần thơ Đường

- Đề xuất một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS lớp 10 trong dạy học phần thơ Đường

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của những biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy học phần thơ Đường đã đề xuất

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi giải quyết những câu hỏi sau:

1/Thế nào là hứng thú trong học tập và điều kiện tạo hứng thú trong khi dạy học thơ Đường được xét trên những mặt nào?

2/Giữa các đặc trưng của thơ Đường và tâm lí học sinh trong khi học các bài

học này có thể tạo ra những lợi thế và khó khăn nào khi xây dựng hệ thống các biện pháp tạo hứng thú?

3/Hệ thống các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh lớp 10 trong dạy học thơ Đường được đưa ra gồm các biện pháp nào và phải đảm bảo những nguyên tắc nào?

4/Có thể vận dụng hệ thống các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh vào quá trình dạy học các bài thơ Đường theo trình tự hay theo mẫu nào?

Trang 12

5/Việc xây dựng hệ thống các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh lớp 10 trong dạy học các bài thơ Đường có tác dụng như thế nào đối với sự tiếp nhận các tri thức thơ Đường nói riêng và thơ ca cổ điển nói chung của học sinh?

4 Phạm vi nghiên cứu và hướng triển khai nghiên cứu

Lớp 10A4 - Trường THPT Hoàng Văn Thụ, Hà Nội

4.2 Hướng triển khai nghiên cứu

Nghiên cứu những lí thuyết tâm lí về hứng thú và tạo hứng thú trong học tập

và đặc trưng của thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 10, điều kiện để tạo hứng thú trong khi dạy học các bài học này được xét từ các mặt: chủ thể học sinh; nội dung dạy học; phương pháp, phương tiện dạy học; môi trường học tập; hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá

Giữa các đặc trưng của thơ Đường và tâm lí học sinh trong khi học thơ Đường có thể tạo ra những khó khăn nhưng cũng có một số lợi thế để xây dựng các biện pháp tạo hứng thú học tập

Các biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong dạy học thơ Đường phải đảm bảo các nguyên tắc: Đảm bảo tính hình tượng, tính nghệ thuật trong khi dạy học Ngữ văn; tăng cường cho học sinh liên hệ bản thân, liên hệ thực tiễn; các hoạt động học đảm bảo tính vừa sức; đảm bảo tính dân chủ; tăng cường phát huy sức mạnh của hứng thú cá nhân và trí tuệ tập thể

Có thể đưa ra một số biện pháp tạo hứng thú cho HS trong giờ dạy thơ Đường như: Phương pháp đọc sáng tạo, phương pháp vấn đáp – đàm thoại tích cực, phương pháp dạy học nêu vấn đề, phương pháp trò chơi học tập, biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong quy trình dạy học

Việc xây dựng hệ thống các biện pháp tạo hứng thú học tập trong dạy học thơ Đường chương trình Ngữ văn 10 giúp học sinh có hứng thú, say mê, sáng tạo

Trang 13

và chủ động chiếm lĩnh tri thức thơ Đường và có thể liên hệ tới quan niệm sống, suy nghĩ của bản thân trong đời sống hiện đại

5 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tiếp thu kinh nghiệm của các nhà khoa

học, của đồng nghiệp, xác định cơ sở khoa học cho việc tạo hứng thú học tập cho

HS lớp 10 trong dạy học thơ Đường

- Nhóm phương pháp chuyên gia bao gồm:

+ Phương pháp quan sát: Quan sát các giờ dạy - học thơ Đường của giáo viên

và học sinh 10 (có sử dụng phiếu nhật ký quan sát để ghi lại kết quả), chú ý đến các biểu hiện, thái độ, hành động của học sinh trong giờ học

+ Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn các giáo viên và học sinh đang dạy và học chương trình Ngữ văn 10 tại trường THPT Hoàng Văn Thụ, THPT Đông Kinh, THPT Cao Bá Quát

+ Phương pháp thảo luận: Tổ chức thảo luận ở tổ Ngữ văn của trường THPT Hoàng Văn Thụ về vấn đề: Xây dựng các biện pháp tạo hứng thú cho HS trong dạy học thơ Đường

+ Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm đối chứng quy trình dạy học cụ thể có vận dụng hệ thống biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học thơ Đường đối với 2 lớp 10

+ Phương pháp điều tra qua phiếu hỏi đối với học sinh các lớp trong mẫu khảo sát

- Phương pháp thống kê: Thống kê kết quả khảo sát, kết quả của lớp thực

nghiệm và lớp đối chứng trong tổ chức thực nghiệm

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài

Chương 2: Đề xuất biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh lớp 10 trong dạy

học phần thơ Đường

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

Ở nước ta, từ đời Lý trở về sau, thơ Đường được ông cha ta tìm hiểu và học hỏi, tiếp thu rất nhiều Không ít nhà thơ trung đại và hiện đại đã vận dụng đề tài, thi liệu,

tứ thơ, điển cố trong thơ Đường, học tập ngôn ngữ thơ Đường Thơ Đường cũng được đưa vào giảng dạy ở nhà trường phổ thông và đại học Những điều đó một mặt khẳng định giá trị to lớn của thơ Đường, mặt khác thể hiện thái độ trân trọng, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại của người Việt Nam ta

Việc dạy – học thơ Đường trong nhà trường phổ thông nói chung và chương trình Ngữ văn lớp 10 nói riêng không phải chỉ trong một giới hạn nhỏ hẹp là phân tích vài tác phẩm trong sách giáo khoa Cả người dạy và người học đều cần có những hiểu biết cơ bản về thơ Đường, đặc biệt là những người dạy thơ Đường – các

GV cần có vốn kiến thức tương đối toàn diện, sâu sắc thì mới tìm được các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp, tạo được hứng thú học tập cho HS Chúng tôi cho rằng, việc nghiên cứu, đề xuất biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS lớp 10 trong dạy học phần thơ Đường cần dựa trên cơ sở nắm rõ những kiến thức cơ bản như sau:

1.1.1 Những yếu tố cơ bản chi phối đặc điểm nội dung và nghệ thuật của thơ Đường

Có rất nhiều yếu tố chi phối đặc điểm nội dung, nghệ thuật của thơ Đường nhưng ở đây chúng tôi chỉ xin đề cập đến hai yếu tố quan trọng là hoàn cảnh chính trị, xã hội và tư tưởng, văn hóa Hiểu rõ hai yếu tố này sẽ giúp ích nhiều cho việc tìm hiểu, khám phá các bài thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 10 Ví dụ như

để hiểu tâm trạng của Đỗ Phủ trong bài Thu hứng, cần phải nắm được hoàn cảnh

lịch sử - xã hội thời Thịnh Đường, nhất là cuộc khởi loạn An Lộc Sơn có nhiều tác

Trang 15

động đến cuộc đời của nhà thơ Hay để hiểu những gì mà Thôi Hiệu muốn gửi gắm

qua bài Hoàng Hạc lâu, ta cần nắm được sự chi phối của tư tưởng Đạo giáo đối với

Biên tái và Ðiền viên Biên tái là loại thơ tả cảnh sắc biên thùy và tâm tình của người lính thú Ðiền viên là loại thơ tả cuộc sống nông thôn đạm bạc, chất phác

cùng những lạc thú thiên nhiên của nhàn nhân dật sĩ

 Thời Thịnh Đường (713 – 766):

Cuộc khởi loạn của An Lộc Sơn (năm 755) là mốc phân chia thời này ra làm hai giai đoạn: thái bình và tán loạn Trước loạn An Lộc Sơn là thời những bài thơ chứa đầy tình, nhạc và rượu Cũng có những bài thơ tả tình quan ái và niềm khuê oán Nhưng đó là tình cảm hào hùng của người chinh phu tuy biết “Từ xưa chinh chiến mấy ai về” nhưng vẫn quyết “Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”; là nỗi nhớ nhung, sầu muộn của người chinh phụ tuy có tê tái nhưng không bi thảm Từ cuộc loạn An Lộc Sơn về sau, thơ ca phản ánh một xã hội điêu tàn, thống khổ Chiến địa không còn là cảnh hùng tráng đầy thi vị, mà là nơi ma than, quỉ khóc, xương trắng

tả tơi Những người lính thú bạc đầu nơi quan ải, những thiếu nữ thành cô phụ sau tối tân hôn, những người chồng phải gửi vợ nơi quê người, đất khách, và những

người cha tủi hổ vì bất lực trước cảnh con thơ chết đói Các bài như Tam lại, Tam biệt của Ðỗ Phủ cực tả cảnh chiến tranh tàn khốc, xã hội tối tăm trong thời kì này

Lí Bạch và Đỗ Phủ là hai tên tuổi nổi bật nhất thời Thịnh Đường với hai phong cách thơ hoàn toàn khác nhau Một người là nhà thơ lãng mạn vĩ đại nhất, một người là nhà thơ hiện thực vĩ đại nhất

Trang 16

 Thời Trung Ðường (766 - 835):

Sau khi loạn An Lộc Sơn, Sử Tư Minh đã bình, tình hình vẫn còn phân loạn Giặc ngoài quấy nhiễu, triều đình thối nát, hoạn quan lộng quyền, đó là những nguyên nhân khiến xã hội bất an, nhân dân cực khổ Tình trạng thơ ca kém hẳn thời trước Các nhà thơ chỉ quanh quẩn trong phạm vi cũ, không có gì sáng tạo mới mẻ, tạo những sắc màu mới cho thi đàn Nổi bật hơn cả là nhà thơ Bạch Cư Dị với chủ trương nghệ thuật vị nhân sinh Bạch Cư Dị thích làm những bài thơ dùng chữ thông tục, dễ hiểu, có thể gọi là thơ bạch thoại của đương thời Nhưng những tác phẩm phổ biến nhất và nổi tiếng nhất của ông lại là những bài thơ trường thiên trữ

tình: Trường hận ca tả mối diễm tình bi thảm của Ðường Minh Hoàng với Dương Quí Phi, và Tì bà hành nói lên tâm sự người thương phụ ở bến Tầm Dương

 Thời Vãn Đường (836 – 905):

Tình trạng, chính trị, kinh tế, xã hội càng ngày càng suy đồi Quan lại tham nhũng, thuế má nặng nề, thưởng phạt bất công,những nguyên nhân ấy đưa đến loạn Vương Tiên Chi (874) rồi loạn Hoàng Sào hơn trong 10 năm, làm sụp đổi nhà Ðường Lịch sử tái diễn cảnh hỗn độn khoảng cuối đời Tùy, văn học trở lại duy mỹ lúc Ðường Sơ Trước kia có phái Ỷ mỹ, bây giờ có phái Chi Phấn, tràn ngập phong khí hoa diễm lãng mạn

1.1.1.2 Tư tưởng văn hóa

Về mặt tư tưởng, đặc điểm của đời Đường là sự tịnh thịnh của ba giáo thuyết Nho, Đạo và Phật Tình trạng Tam giáo đồng nguyên này có ảnh hưởng đối với khuynh hướng sáng tác của thi nhân, tạo ra những phong cách, trường phái và cảm hứng sáng tác đa dạng của thơ Đường

- Nho giáo được tôn sùng từ thời nhà Hán với Đổng Trọng Thư, đến đời Đường lại càng hưng thịnh Loại thơ phúng thích xã hội như Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị

đã thấm nhuần tinh thần cũng như tư tưởng tích cực của Khổng Tử

- Trong các đời Tần Hán, Đạo gia có ảnh hưởng lớn Đến đời Đường, nó gần như trở thành quốc giáo Ảnh hưởng của Đạo giáo với thi ca rất lớn lao Những bài thơ thần tiên của Lý Bạch, tự nhiên của Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên và duy mỹ của Lý Thương Ẩn là những tác phẩm tiêu biểu của loại thơ có màu sắc Đạo gia

Trang 17

- Phật giáo du nhập vào Trung Quốc từ thời Đông Hán, và đã phát triển trong thời Nam Bắc triều, nhưng đến đời Đường mới thật thịnh đạt Phật giáo nhờ sự tôn sùng của vua chúa và công trình dịch kinh của chư tăng, đã lan rộng, thấm sâu trong các tầng lớp nhân dân Trong số các thi nhân nổi tiếng Giả Đảo đã từng làm tăng, Vương Duy là nhân vật quan trọng trong Nam phái thiền tông Tuy không có ảnh hưởng nhiều như Nho và Đạo, Phật giáo cũng đem lại cho thi ca đời Đường những sắc thái và ý tưởng đặc biệt

1.1.2 Các đề tài và trường phái thơ Đường

1.1.2.1 Đề tài

Đề tài trong thơ Đường có những nội dung đa dạng và phong phú, với nhiều hình thức diễn đạt phóng khoáng, từ những đề tài về an nhàn ẩn dật, vui thú điền viên, tả cảnh thiên nhiên, đến những bài thơ nói về cung đình, biên tái, chiến chinh, những đề tài liên quan đến xã hội, cảnh nghèo đói áp bức, nỗi bất công của phụ nữ, những bài thơ tâm tình, từ tình bè bạn, tình yêu thiên nhiên, đến tình yêu nam nữ, rồi những đề tài vịnh sử, hoặc những bài thơ mang hương vị Thiền…

1.1.2.2 Các trường phái

Để phản ánh hiện thực xã hội phong phú muôn màu muôn vẻ, thơ ca đời Đường xuất hiện nhiều trường phái, phong cách và phát triển một cách rầm rộ, nhiều tác giả, tác phẩm nổi tiếng ở thời kì này được đời sau truyền tụng và ca ngợi Căn cứ vào đề tài sáng tác, các nhà văn học sử Trung Quốc đã chia thơ Đường thành các trường phái sau:

- Trường phái Điền viên sơn thủy : Phái Điền viên sơn thủy còn được gọi là

phái “Vương – Mạnh” bởi vì hai thi nhân tiêu biểu của phái này là Mạnh Hạo Nhiên (689 – 740) và Vương Duy (701 – 761) Mạnh Hạo Nhiên là nhà thơ sống gần gũi với với cảnh thôn quê lặng lẽ, bình dị Hình ảnh thiên nhiên trong thơ ông được miêu tả đẹp đẽ với cảnh thanh nhàn êm ả của làng quê, cảnh núi sông hùng vĩ và tráng lệ… Người thứ hai là Vương Duy tự Ma Cật, tuy suốt đời làm quan nhưng ông thường sống như một ẩn sĩ, là người sùng tín đạo Phật, thơ mang đậm ý vị thiền nên được mọi người tôn vinh là Thi Phật Ông là một người rất đa tài, không những nổi tiếng về thơ mà còn am hiểu về âm nhạc, có tài thư pháp và là một danh họa Khi nhận xét về Vương Duy, Tô Thức đời Tống cho rằng: “Thi trung hữu họa, họa

Trang 18

trung hữu thi” (Đọc thơ Ma Cật thấy trong thơ có họa, xem họa Ma Cật thấy trong họa có thơ)

- Trường phái thơ Biên tái: Phái Biên tái còn được gọi là phái “Cao – Sầm”, đó

là Cao Thích (702 – 765) và Sầm Tham (716 – 770) Thơ của Cao Thích mang đậm chất trữ tình hào phóng nhưng lại khẳng khái hiên ngang, trong khi đó thơ của Sầm Tham thì mỹ lệ huyền ảo, âm điệu dồn dập vút cao Ngoài ra còn có một số tác giả cũng góp phần quan trọng cho thi phái này như: Vương Xương Linh (698? – 757)

và Lí Kì (690 – 751)

- Trường phái lãng mạn: Một trong những cây đại thụ lớn của phái này là Lí Bạch (701 – 762) Thơ của ông kết hợp hài hòa giữa tính hiện thực và tính lãng mạn Tuy nhiên, tính hiện thực trong thơ Lí Bạch không bằng Đỗ Phủ và Bạch Cư

Dị, và thơ ca lãng mạn có nội dung tích cực của ông lại vượt trội hơn Trong thơ ông, ý - cảnh - tình hòa quyện vào nhau, vừa diễm lệ, kì vĩ, vừa mênh mông bát ngát, xứng đáng là “Thi tiên”

- Trường phái hiện thực: Đại diện tiêu biểu nhất của phái hiện thực trong thời

kì này là Đỗ Phủ (712 – 770) Đỗ Phủ để lại cho đời gần 1.500 bài thơ, trầm uất buồn đau, nhưng sáng ngời tinh thần nhân ái bao la Thơ ông là bức tranh phơi bày hiện thực xã hội phong kiến đen tối, phơi bày cuộc sống khốn cùng của tầng lớp nhân dân lao động cùng khổ Những ngòi bút hướng theo trường phái này còn có Nguyên Kết (719-772), Cổ Huống (725-816) Sau này, người kế tục xứng đáng và xuất sắc nhất là Bạch Cư Dị (772-846) Các nhà thơ trên đã góp phần đưa thi ca hiện thực lúc bấy giờ lên đỉnh cao, mặc dù trường phái hiện thực khai sinh muộn hơn so với các trường phái khác

Thực tế có thể quy tụ các trường phái thơ đời Đường thành hai trường phái lớn, có ảnh hưởng sâu rộng nhất và có những thành tựu lớn nhất Đó là trường phái lãng mạn đại biểu là Lí Bạch và trường phái hiện thực tiêu biểu là Đỗ Phủ

Nói tóm lại, thơ Đường phong phú về đề tài, nổi bật và tập trung nhất vào hai khuynh hướng sáng tác là hiện thực và lãng mạn Hiện thực và lãng mạn là hai

bộ phận thống nhất trong một chỉnh thể của thi ca đời Đường góp phần cống hiến to lớn cho văn học Trung Quốc

Trang 19

1.1.3 Thi pháp thơ Đường

Thi pháp có thể hiểu là hệ thống hình thức nghệ thuật như: kết cấu của tác phẩm, ngôn từ nghệ thuật, thời gian và không gian nghệ thuật… mà nhà văn dùng

để biểu hiện nội dung của tác phẩm văn học

Thi pháp thơ Đường rất phong phú, đa dạng Với khuôn khổ của đề tài chúng tôi chỉ trình bày một số yếu tố tiêu biểu trong hệ thống thi pháp thơ Đường qua các phương diện sau: Quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, thể loại và ngôn ngữ

1.1.3.1 Quan niệm nghệ thuật về con người

Đối tượng trung tâm của văn học là con người, cho nên trong hệ thống thi pháp nó cũng là yếu tố trung tâm so với các yếu tố khác Trong thơ Đường, có hai kiểu con người chủ yếu, đó là con người vũ trụ và con người xã hội

- Con người vũ trụ: Quan điểm về con người trong nghệ thuật với quan niệm triết học có mối quan hệ rất mật thiết với nhau Triết học cổ đại Trung Quốc nói riêng cũng như các dân tộc thời cổ nói chung quan niệm con người được đặt trong mối tương thông tương hợp với thiên nhiên: “Thiên nhân tương dữ” Con người là một “tiểu vũ trụ” trong lòng “đại vũ trụ” Quan niệm đó chi phối toàn bộ các hoạt động, kể cả hoạt động nghệ thuật lúc bấy giờ và nó tồn tại mãi trong suốt thời phong kiến, và cả đến thời hiện đại Con người xuất hiện trong tư thế vũ trụ, đứng giữa đất trời “đầu đội trời, chân đạp đất”, hòa hợp đất trời Con người trong thơ Đường luôn khát vọng hòa hợp với thiên nhiên, ở giữa đất trời, cảm ứng với đất

trời Tống hữu nhân của Lí Bạch, Đăng cao của Đỗ Phủ là những ví dụ tiêu biểu

Thơ Đường rất quan tâm thể hiện quan hệ tương giao, hòa hợp giữa con người với con người Con người trong thơ Đường đặc biệt đề cao cái tâm được thể hiện rõ trong đề tài bằng hữu Thơ Đường nói nhiều về tình bạn vì đó là thanh khí tự nhiên, tri âm, tri kỷ Hơn nữa các quan hệ trong xã hội phong kiến, chỉ có quan hệ tình bạn là bình đẳng, là thuần túy tình cảm, tự nguyện, khiến con người, thi sĩ bày

tỏ tâm sự và thể hiện khát vong tri âm một cách dễ dàng, cho nên hiếm nhà thơ nào

lại không viết về tình bạn Tiêu biểu phải kể đến Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng của Lí Bạch Có thể nói, đến đời Đường, con người vũ trụ

được thể hiện trong thơ ca đã đạt đến trình độ tuyệt vời Hình tượng con người vũ

Trang 20

trụ thể hiện khát vọng của con người được sống thanh bình, hòa hợp vào nhịp sống của vũ trụ vô biên

- Con người xã hội: Trong thơ Đường, con người xã hội chủ yếu là tầng lớp nhân dân thấp cổ bé họng được phản ánh bằng quan hệ mâu thuẫn, đối lập gay gắt với tầng lớp thống trị Điều này được thể hiện rất rõ trong bộ phận thơ sáng tác theo

khuynh hướng hiện thực mà tiêu biểu là Đỗ Phủ (các bài Tam lại, Tam biệt, Mao ốc

vị thu phong sở phá ca ) Mọi nỗi đau khổ của con người, đặc biệt là con người bất

hạnh đều được các nhà thơ hiện thực phản ánh bằng tất cả tấm lòng nhân đạo, cảm thông Con người trong thơ Đường mang tính nhân văn sâu sắc, bồi đắp cho tâm hồn ta những tình cảm cao đẹp, lòng nhân ái, hướng ta về với chân, thiện, mĩ Đó là

sự đóng góp to lớn của thơ Đường cho Trung Quốc và cả nhân loại

1.1.3.2 Không gian nghệ thuật

Cũng như quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật trong thơ Đường có hai kiểu không gian là không gian vũ trụ và không gian đời thường

- Không gian vũ trụ: Từ một điểm trung tâm, con người nhìn ra mọi phía: đông, tây, nam, bắc và con người là yếu tố trung tâm nên không gian mang tính đối xứng, con người chính là tâm đối xứng của không gian ấy Điều này khiến con người cảm thấy nhỏ bé, cô đơn giữa vũ trụ mênh mông vô tận Để chiếm lĩnh không gian vũ trụ, con người thường dùng hai cách, đó là: lên cao và đi xa, ví dụ như

Đăng cao, Thu hứng của Đỗ Phủ, Tĩnh dạ tứ của Lí Bạch Vì vậy không gian vũ trụ

trong thơ Đường là không gian mở Thi sĩ tạo dựng không gian vũ trụ chính là để đưa không gian nội tâm hòa hợp cùng thế giới

- Không gian đời thường: Trong thơ Đường, con người được phản ánh trong quan hệ mâu thuẫn đối lập với thế lực áp bức họ và lúc này không gian vũ trụ cũng nhường chỗ cho không gian đời thường Đó chính là không gian tồn tại của lớp người “thấp cổ bé họng” Trong không gian ấy đầy nỗi bi ai, con người bị vây bủa, trói buộc Họ phải đi (hoặc chạy) trong những thôn xóm, làng mạc, chiến trường Đây là kiểu không gian xuất hiện nhiều trong thơ hiện thực Với tư cách là người đại diện để cất lên tiếng nói của nhân dân, các thi sĩ đã tái hiện lại những cảnh đời vất vả, khó nhọc, vẽ lại cảnh tiêu điều thê lương trên quê hương bị chiến tranh tàn

Trang 21

phá Cho nên không gian đời thường rất thực, gần gũi Thế giới cảnh vật mang màu sắc u tối, nhợt nhạt thiếu sức sống, các thi nhân miêu tả nó một cách cụ thể, chi tiết

Nhìn chung, trong thơ Đường không gian vũ trụ vẫn chiếm ưu thế hơn Không gian nghệ thuật của thơ Đường đã đạt đến mức hoàn mĩ, tiêu biểu cho không gian nghệ thuật thơ Trung Quốc

1.1.3.3 Thời gian nghệ thuật

Thời gian nghệ thuật của thơ Đường là sự đúc kết những tinh hoa của thời gian trong thơ ca Trung Quốc Các nhà thơ, nhà văn xây dựng con người trong tác phẩm bằng hình tượng, cho nên thời gian trong tác phẩm cũng sẽ là thời gian của hình tượng Cũng như quan niệm về con người nghệ thuật, không gian nghệ thuật, chúng ta có thể chia ra hai kiểu thời gian chính trong thơ Đường là: thời gian vũ trụ

và thời gian đời thường

- Thời gian vũ trụ: Nói đến thời gian vũ trụ tức là nói đến thời gian trong mối quan hệ với không gian Khi nhắc đến không gian, chúng ta hình dung về nó rõ hơn

vì không gian là cái có thể nhìn thấy được, còn thời gian thì vô hình, nhưng thời gian vũ trụ trong thơ Đường luôn có mối quan hệ biện chứng với không gian, người

ta dùng không gian để thể hiện thời gian và ngược lại Trong thơ Đường có rất nhiều địa danh và đằng sau địa danh ấy vẫn thấy sự tiềm ẩn, bóng dáng của thời gian Với tư cách là thời gian vũ trụ, thời gian nghệ thuật trong thơ Đường ít chịu đóng khung trong thời hiện tại mà luôn có xu hướng vận hành trong vòng lưu chuyển của thời gian, ngược về quá khứ, xuôi đến hiện tại Dường như các nhà thơ luôn ưu tiên cho quá khứ và chủ yếu thể hiện điều đó dưới hai dạng: thời gian hoài

cổ và thời gian kí ức Vì vậy mà có rất nhiều bài thơ hoài cổ: Bạch đế hoài cổ, Tây Thi vịnh, Xích Bích hoài cổ Ẩn chứa trong thời gian hoài cổ là niềm xót thương

cho hiện tại và lo lắng cho tương lai

- Thời gian đời thường: Khi phản ánh đời sống của con người trong xã hội, thời gian nghệ thuật là thời gian đời thường Thời gian đời thường chủ yếu là thời hiện tại, có tính cụ thể khi kể về cái đang diễn ra rất thực, rất đời thường như trong

bài Thạch hào lại hay Mao ốc vị thu phong sở phá ca của Đỗ Phủ

Trang 22

1.1.3.4 Thể loại và ngôn ngữ

 Thể loại: Các nhà thơ đời Đường sử dụng hai thể thơ chính là cổ thể và kim thể

 Thơ cổ thể: Hai dạng của thơ cổ thể là cổ phong và nhạc phủ

Cổ phong thường là thơ 5 chữ hoặc 7 chữ Còn nhạc phủ là tên chung của nhiều thể khác nhau và chúng thường được dùng để phổ nhạc

Thơ cổ thể không có luật lệ nhất định, số câu trong bài không hạn chế, số chữ trong câu không bị bó buộc Không chỉ thế, niêm luật và đối ngẫu ở thể thơ này cũng không qui định nghiêm ngặt nên gần gũi với đời thường Ví dụ như các bài:

Tương tiến tửu của Lí Bạch, Thạch hào lại của Đỗ Phủ, Tì bà hành của Bạch Cư Dị

 Thơ kim thể: Thơ kim thể đã có từ trước và đến đời Đường đạt đến thành tựu đặc sắc, thơ kim thể có hai dạng chính là luật thi và tuyệt cú

Luật thi gồm thất ngôn bát cú (thất luật) và ngũ ngôn bát cú (ngũ luật)

Tuyệt cú (tứ tuyệt) mỗi bài thơ chỉ có 4 câu, gồm Thất ngôn tuyệt cú (thất tuyệt) và Ngũ ngôn tuyệt cú (ngũ tuyệt) Thất ngôn tuyệt cú thực chất là một bài

“thất ngôn bát cú” đem bỏ đi bốn câu đầu hoặc bốn câu cuối Luật bằng trắc và niêm, vần vẫn giữ nguyên, có thể bỏ luật đối ở hai câu 3, 4 hoặc 5, 6 Ngũ ngôn tuyệt cú thực chất là bài thất ngôn tứ tuyệt đem bỏ đi hai chữ đầu ở mỗi câu; các chữ còn lại vẫn giữ nguyên luật bằng trắc, niêm và vần

Cả luật thi và tuyệt cú đều là thơ cách luật Tuyệt cú ra đời sau luật thi, nó có quan hệ mật thiết với luật thi Niêm luật của thơ tuyệt cú tương ứng với luật thi

Sự qui định của luật thi rất chặt chẽ, không được vi phạm, cụ thể như sau: Một bài thơ phải đạt sáu yêu cầu - niêm, luật, vận, đối, tiết tấu, bố cục

Niêm: là qui tắc phối thanh theo chiều dọc làm các liên thơ kết với nhau Trong

một bài thơ có 4 liên, các liên thơ đi với nhau từng đôi một (câu 1 liên với câu 2, câu 3 liên với câu 4, câu 5 liên với câu 6, câu 7 liên với câu 8) Niêm làm cho các liên thơ dính lại căn cứ từ chữ thứ 2 của mỗi câu theo qui định: bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc Câu 2 niêm với câu 3, câu 4 niêm với câu 5, câu 6 niêm với câu

7, câu 8 niêm với câu 1 Qui định này làm cho bài thơ dính lại với nhau thành một vòng khép kín, tạo nên một cấu trúc nội tại vững chắc

Trang 23

Luật: Luật thơ Đường căn cứ trên thanh bằng và thanh trắc, và dùng các chữ thứ

2-4-6 và 7 trong một câu thơ để xây dựng luật Thanh bằng gồm các chữ có dấu huyền hay không dấu; thanh trắc gồm các dấu: sắc, hỏi, ngã, nặng

Các luật của thơ Đường là luật bằng và luật trắc Nếu chữ thứ 2 của câu đầu tiên dùng thanh bằng thì gọi là bài có “luật bằng”; nếu chữ thứ 2 câu đầu dùng thanh trắc thì gọi là bài có “luật trắc” Trong từng câu phải hòa hợp, cân xứng các thanh bằng trắc, cứ một câu 4 trắc 3 bằng lại đến một câu 4 bằng 3 trắc cứ thế luân phiên xen kẽ nhau sao cho thanh điệu được cân bằng Luật thi yêu cầu “nhị, tứ, lục phân minh” các chữ 2, 4, 6 phải nhất định đúng thanh điệu, nếu thay đổi thì thanh điệu sẽ phá vỡ làm mất đi sự hài hòa cân đối của câu thơ Do đó chữ thứ 2 và

6 cùng thanh, cụ thể là: nếu chữ thứ 4 là bằng thì chữ thứ 2 và 6 sẽ là trắc, còn ngược lại nếu chữ thứ 4 là trắc thì chữ 2 và 6 sẽ là bằng Trong đó chữ thứ 4 là tâm đối xứng Luật phối thanh bảo đảm bằng trắc cân bằng, âm điệu hài hòa Nếu một câu thơ Đường mà không theo quy định này thì được gọi “thất luật”

Vận (vần): Vần là những chữ có cách phát âm giống nhau, hoặc gần giống

nhau, dùng để tạo âm điệu trong thơ Trong một bài thơ Đường chuẩn, vần được dùng tại cuối các câu 1, 2, 4, 6 và 8 Những câu này được gọi là “vần với nhau” Nếu một bài thơ Đường mà chữ cuối của một trong các câu này không giống nhau

về vần thì được gọi là “thất vận” Những chữ có vần giống nhau hoàn toàn gọi là

“vần chính”, những chữ có vần gần giống nhau gọi là “vần thông” Một bài thơ bát

cú có 5 vần (tuyệt cú 2 hoặc 3 vần) Hầu hết thơ Đường dùng vần thanh bằng, nhưng cũng có các ngoại lệ

Đối: Với thơ Đường luật thì đối thơ cũng là yếu tố bắt buộc Phải đối liên

(liên 2 là câu 3, 4 còn liên 3 là câu 5, 6 - tức là câu 4 đối với câu 3, câu 6 đối với câu 5), đối cả thanh (bằng đối với trắc, trắc đối với bằng), đối từ (từ loại nào đối với từ loại đó), đối ý Đó là 4 yêu cầu phải được tuân thủ nghiêm ngặt trong một bài luật thi

Tiết tấu (cách ngắt nhịp): Tiết tấu trong thơ Đường nhìn chung ở câu thơ 7 chữ

và 5 chữ đều là chẵn trước, lẻ sau (4/3 hoặc 2/2/3 ở câu thơ 7 chữ và 2/3 ở câu thơ 5 chữ) Cách ngắt nhịp theo chẵn/lẻ là cố định tạo nên sự hài hòa

Trang 24

Bố cục: Có ba cách chủ yếu về chia bố cục của một bài luật thi cụ thể như

sau:

- Chia làm 4 phần: đề, thực, luận và kết Cứ mỗi “liên thơ” là một phần

+ Hai câu đầu gọi là đề, câu thứ nhất là phá đề (mở ý đầu của bài ra) Câu thứ hai là thừa đề (tiếp ý của câu thứ nhất để chuyển vào thân bài)

+ Câu 3, 4 gọi là thực (giải thích rõ ý của phần đề)

+ Câu 5, 6 gọi là phần luận (phát triển ý của của phần đề)

+ Hai câu cuối gọi là kết (kết thúc ý của toàn bài)

Hiện nay ở trường phổ thông, khi giảng dạy một bài luật thi, giáo viên chủ yếu vẫn chia bố cục theo cách này

- Chia làm 3 phần: (2/4/2) Cách chia này tương đối mới, gần với cách chia

bố cục của một văn bản hiện đại: có 3 phần (mở bài, thân bài và kết bài)

- Cách chia làm 2 phần (4/4) Bốn câu đầu (tiền giải) tả cảnh và trong cảnh

có tình Trên cái nền phong cảnh đã tạo trước đó, bốn câu cuối (hậu giải) thể hiện tình cảm

Chia bố cục theo ba cách trên đều có những ưu điểm riêng của nó, nhưng việc chia theo bố cục đều xuất hiện ở thời sau còn ở thời Đường, điều mà các nhà thơ quan tâm là sao cho bài thơ đạt được tính toàn vẹn và theo sự vận hành đi từ ngoại cảnh đến nội tâm (cảm xúc trước cảnh mà nảy sinh tình) Cả luật thi và tuyệt

cú là thơ trữ tình nội tâm, nên khi tâm tình đã được bộc bạch thì bài thơ kết thúc

 Ngôn ngữ:

Thơ Đường ít lời nhiều ý, ý ở ngoài lời Ngôn ngữ thơ Đường là ngôn ngữ tinh luyện, có tính khái quát cao, giàu hình ảnh và cảm xúc Số chữ được dùng rất ít (chỉ 20 chữ ở thơ ngũ ngôn tứ tuyệt và 56 chữ ở thơ thất ngôn bát cú) nhưng tinh tế

và hàm súc Đó là do sức gợi sâu xa của các biện pháp tu từ, đặc biệt là phép tỉ dụ,

ẩn dụ, điển cố Một bài thơ năm chữ tuyệt cú vẻn vẹn chỉ có hai mươi chữ, nhưng càng ít chữ, càng phải cân nhắc cho nên từ ngữ ở thơ Đường luật phần lớn được sử dụng rất đắt

Ngôn ngữ thơ Đường được tập hợp theo hai “trường” mang tính đặc trưng của hai khuynh hướng sáng tác (khuynh hướng lãng mạn và khuynh hướng hiện thực) Hệ thống thơ thể hiện con người vũ trụ, ngôn ngữ mang tính khái quát, cổ

Trang 25

kính trang nhã, nhiều hình ảnh ước lệ tượng trưng, gợi liên tưởng, ngữ âm hài hoà, thể hiện tâm tình sâu lắng, suy tư Hệ thống thơ phản ánh hiện thực, ngôn ngữ mang tính cụ thể, tỷ lệ động từ, câu trần thuật cao, ngữ âm sôi động, nhiều thanh trắc

1.2 Thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 10

1.2.1 Nội dung dạy học thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 10

1.2.1.1 Khảo sát các bài thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 10

Di sản Đường thi còn để lại đến ngày nay vô cùng đồ sộ với hơn 48000 bài của trên 2300 nhà thơ Trong đó, những nhà thơ nổi tiếng nhất đời Đường là Lí Bạch (701– 762), Đỗ Phủ (712– 770), Bạch Cư Dị (772– 846),… Ngoài ra còn có các nhà thơ tuy sáng tác không nhiều nhưng vẫn để lại những tuyệt tác bất hủ Ví dụ

như Thôi Hiệu với Hoàng Hạc lâu – kể ra 10 nhà thơ tiêu biểu nhất đời Đường chưa

chắc đã có Thôi Hiệu, nhưng nếu nói đến 10 bài Đường thi hay nhất thì trong đó

chắc chắn có Hoàng Hạc lâu

Trong số rất nhiều tác giả, tác phẩm như trên, chương trình Ngữ văn lớp 10 (chương trình chuẩn) chỉ tuyển chọn 5 bài thơ Đường là:

Bảng 1.1 Các bài thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 10

STT Tên tác phẩm Tên tác giả Ghi chú

1 Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi

Quảng Lăng (Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo

Nhiên chi Quảng Lăng)

Lí Bạch

2 Cảm xúc mùa thu (Thu hứng) Đỗ Phủ

3 Lầu Hoàng Hạc (Hoàng Hạc lâu) Thôi Hiệu Đọc thêm

4 Nỗi oán của người phòng khuê (Khuê oán) Vương Xương

Linh

Đọc thêm

5 Khe chim kêu (Điểu minh giản) Vương Duy Đọc thêm

Mỗi tác phẩm được lựa chọn ở trên đều là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách tác giả và các trường phái thơ Đường Lí Bạch là “Thi tiên” – nhà thơ lãng mạn vĩ đại của Trung Quốc với phong cách thơ hào phóng, bay bổng, lại rất tự nhiên, tinh

tế và giản dị Đỗ Phủ được gọi là “Thi thánh” – nhà thơ hiện thực vĩ đại của Trung Quốc với giọng thơ trầm uất, nghẹn ngào Vương Xương Linh đại diện cho trường

Trang 26

phái thơ biên tái, Vương Duy là đại biểu của phái thơ sơn thủy Mỗi người một vẻ, mỗi tác phẩm là một nét riêng, đem đến cho HS cái nhìn cơ bản nhất về một trong những di sản văn học độc đáo nhất của nhân loại

So với các chương trình trước đây, tuy số lượng các văn bản thơ Đường có giảm đi nhưng vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong phần văn học nước ngoài Có thể nhận thấy rõ điều đó qua bảng sau:

Bảng 1.2 Các tác phẩm văn học nước ngoài trong chương trình THPT

hiện hành Lớp Tên tác phẩm Tác giả

10

1 Uy-lít-xơ trở về (trích Ô-đi-xê) Hô-me-rơ (Hi Lạp)

2 Ra-ma buộc tội (trích Ra-ma-ya-na) (Đọc thêm) Sử thi Ấn Độ

3 Tam quốc diễn nghĩa

+ Hồi trống Cổ Thành

+ Tào Tháo uống rượu luận anh hùng (Đọc thêm)

La Quán Trung (Trung Quốc)

4 Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi

Quảng Lăng

Lí Bạch (Trung Quốc)

14 Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Đọc thêm) Ăng-ghen (Đức)

Trang 27

15 Tình yêu và thù hận (trích Rô-mê-ô và Giu-li-ét) Sếch-xpia (Anh)

12

20 Thông điệp nhân Ngày Thế giới phòng chống

AIDS, 1-12-2003

Cô-phi An-nan

(Các bài số 2 và 14 mới chuyển thành bài đọc thêm theo chương trình giảm tải từ năm học 2011 – 2012)

Có thể thấy, trong 21 bài văn học nước ngoài, thơ Đường chiếm một số lượng khá lớn là 5 bài (23,81%) Điều này là phù hợp vì thơ Đường không chỉ là thành tựu của thơ ca nhân loại mà nó còn có ảnh hưởng sâu sắc đến văn học Việt

Nam Tuy nhiên thời lượng dành cho phần này lại không nhiều : Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng và Cảm xúc mùa thu mỗi bài học trong 1 tiết,

ba bài còn lại được hướng dẫn đọc thêm trong 1 tiết Thời gian đó là quá ngắn ngủi, rất khó để GV có thể giúp HS cảm nhận được hết cái hay, cái đẹp của mỗi tác phẩm

1.2.1.2 Chuẩn kiến thức, kĩ năng cần đạt khi dạy học thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 10

Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn lớp 10 quy định mức độ cần đạt về chuẩn kiến thức, kĩ năng đối với chủ đề thơ Đường như sau :

- Hiểu những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của các bài thơ (Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng – Lí Bạch, Thu hứng – Đỗ Phủ ; các bài đọc thêm : Hoàng Hạc lâu – Thôi Hiệu, Khuê oán – Vương Xương Linh, Điểu minh giản – Vương Duy) : đề tài, cấu tứ, bút pháp tình cảnh giao hòa ; phong thái nhân

Trang 28

Trong đó, chuẩn kiến thức, kĩ năng cụ thể với từng bài là:

Bảng 1.3 Chuẩn kiến thức, kĩ năng cần đạt ở từng bài thơ Đường trong

- Hiểu được phong cách thơ tứ tuyệt của tác giả

- Tình cảm chân thành, trong sáng, cảm động của nhà thơ đối với bạn

- Hình ảnh, ngôn ngữ thơ tươi sáng, gợi cảm

- Đọc – hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại

- Phân tích theo những đặc trưng

cơ bản của thơ

2 Cảm xúc

mùa thu

- Hiểu được tâm trạng buồn rầu của nhà thơ trong cảnh đất nước loạn li: nỗi nhớ quê hương và nỗi ngậm ngùi xót xa cho thân phận của người xa quê

- Biết thêm một khía cạnh

và đặc điểm của thơ Đường luật: kết cấu chặt chẽ, tính cô đọng, hàm súc của hình ảnh và ngôn ngữ thơ

- Cảnh buồn mùa thu và tâm trạng con người cũng buồn như cảnh

- Qua việc tiếp nhận văn bản, củng cố những kiến thức đã học về hình thức

và đặc điểm nghệ thuật của thơ Đường luật

- Đọc – hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại

- Phân tích cảm hứng nghệ thuật, hình ảnh, ngôn

từ và giọng điệu thơ

3.Lầu

Hoàng Hạc

- Cảm nhận những suy tư sâu lắng đầy tính triết lí trước cảnh lầu Hoàng Hạc thể hiện nỗi buồn và lòng nhớ quê hương của tác giả

- Nắm được nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, lời thơ ngắn gọn, ý hàm súc, cô đọng

- Suy tư sâu lắng đầy tính triết lí của tác giả về mối tương quan giữa cái hữu hình và vô hình, giữa quá khứ và hiện tại thể hiện qua lời thơ

- Nỗi buồn, lòng thương nhớ quê hương của nhà

Đọc - hiểu một bài thơ Đường luật theo những mối quan hệ đặc trưng

Trang 29

thơ

- Thơ giàu tính triết lí, suy tưởng, tạo nhiều mối quan hệ trong thơ

- Nhận ra được cấu tứ độc đáo của bài thơ

- Tâm trạng người thiếu phụ diễn biến theo ngoại cảnh; tinh thần phản đối chiến tranh của bài thơ

- Bài thơ có cấu tứ độc đáo

Nhận biết cấu tứ của bài thơ

5 Khe chim

kêu

- Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn tinh tế của nhà thơ trong đêm trăng thanh tĩnh

- Thấy được mối quan hệ giữa động và tĩnh trong cách thể hiện của bài thơ

- Tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của nhà thơ trong đêm trăng thanh tĩnh

- Mối quan hệ giữa tĩnh

và động trong bài thơ

Đọc – hiểu thơ Đường theo đặc trưng thể loại

Có thể hiểu, viêc dạy học thơ Đường vừa phải hướng dẫn để HS khám phá những giá trị độc đáo về nội dung và nghệ thuật đồng thời phải hình thành những kĩ năng đọc hiểu văn bản thơ Đường Từ đó, HS tự chiếm lĩnh để có kiến thức nền tảng trong việc học một số đặc điểm thơ Đường luật Việt Nam Điều quan trọng là giúp HS thấy được đặc điểm của thơ ca Việt Nam trung đại tiếp thu các tinh hoa văn học Trung Quốc nhưng cũng có những sáng tạo để tạo nên tính dân tộc, độc đáo

Với một thời lượng dạy học hạn chế như đã nói ở trên cùng nhiều nguyên nhân khác, việc đạt được các mức độ chuẩn kiến thức, kĩ năng theo quy định không phải là điều dễ dàng Và càng khó khăn hơn để giúp HS đạt được mức độ chuẩn

kiến thức, kĩ năng trên với một niềm say mê, hứng thú học tập thật sự

Trang 30

1.2.2 Ý nghĩa của việc dạy học thơ Đường

Về việc đưa thơ Đường vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông, cụ thể là chương trình Ngữ văn 10, không phải ngẫu nhiên mà thơ Đường giữ một vị trí quan trọng trong phần văn học nước ngoài Những bài thơ ra đời cả nghìn năm trước được chọn đưa vào sách giáo khoa để giới thiệu cho HS lớp 10 không phải với tư cách một “cổ vật” thiêng liêng để chiêm ngưỡng mà thực sự là những bài học có nhiều ý nghĩa Nếu GV giúp HS khám phá và thấy được vẻ đẹp huyền diệu sâu xa của các bài thơ Đường, HS sẽ bước đầu cảm nhận được giá trị đích thực của một trong những di sản văn học độc đáo nhất của nhân loại Hiểu thơ Đường chính là hiểu tiếng nói của người xưa, rung cảm, thấm thía được những tâm hồn cao đẹp Thời đại nhà Đường cách đây hơn một ngàn năm nhưng việc đọc thơ Đường vẫn có những bài phù hợp với ý nghĩa tư tưởng của thời đại mới Ví dụ như “Cái buồn thiên cổ trong thơ Đường vẫn là vẻ đẹp vĩnh hằng để con người hiện đại khỏe khoắn hơn, bớt đi sự ham sống cuồng nhiệt và cũng không yếm thế đến sầu muộn” (TS Nguyễn Viết Chữ) Hay cuộc chia tay của Lý Bạch với Mạnh Hạo Nhiên “giữa mùa

hoa khói” trong bài Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng vẫn để

lại cho thế hệ trẻ ngày nay bài học về một tình bạn chân thành, sâu sắc

Ở một phương diện khác, thơ Đường có mối liên hệ mật thiết và ảnh hưởng sâu sắc với thi ca Việt Nam cả về nội dung và nghệ thuật Do đó, giúp HS hiểu và yêu thơ Đường, các em sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn đối với văn học Việt Nam từ việc chọn đề tài, xây dựng hình ảnh, cấu tứ đến sử dụng ngôn ngữ, bút pháp hay thi liệu Nắm được thi pháp thơ Đường sẽ có điều kiện để lí giải nhiều hiện tượng của thi pháp thơ cổ điển Việt Nam Không có những hiểu biết nhất định về thơ Đường thì HS sẽ gặp khó khăn ngay trong việc cảm thụ văn học Việt Nam, từ thơ ca trung đại với những sáng tác của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, đến thơ ca

hiện đại với những thành tựu của Thơ mới (1930 – 1945), với Nhật kí trong tù của

Hồ Chí Minh, Nếu hiểu được nỗi niềm “khuê oán” của người thiếu phụ trong thơ Vương Xương Linh, chắc chắn HS sẽ dễ dàng hơn khi tìm hiểu tâm trạng của người

chinh phụ trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn Còn nếu không hiểu nỗi niềm

“Quê hương khuất bóng hoàng hôn” của Thôi Hiệu trong Hoàng Hạc lâu thì HS

khó cảm nhận hết tâm trạng của Huy Cận “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Trang 31

(Tràng giang – Ngữ văn 11) Nếu không biết đến những cánh chim, những áng mây trong thơ Lý Bạch, Thôi Hiệu thì cũng khó thấy hết được vẻ đẹp cổ điển của bài Mộ (Chiều tối) của Hồ Chí Minh (Ngữ văn 11) Hoặc nếu không nhớ, không hiểu thơ

Đường thì HS lớp 12 sẽ không hiểu được liên tưởng tuyệt vời của Nguyễn Tuân khi đứng trước dòng sông Đà gợi cảm với “nắng tháng ba Đường thi”… Có thể nói, nếu hiểu và yêu thơ Đường, học sinh sẽ cảm nhận sâu sắc, thấu đáo vẻ đẹp của nhiều tác phẩm văn học Việt Nam

1.3 Hứng thú và hứng thú học tập Ngữ văn của học sinh

1.3.1 Các khái niệm

1.3.1.1 Hứng thú

Hứng thú là một cấu tạo tâm lí phức tạp của cá nhân Vấn đề hứng thú lâu nay vẫn được các nhà tâm lí học quan tâm nghiên cứu Đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về hứng thú N.Ph-đô-bru-nhin cho rằng hứng thú biểu hiện ra như là một khuynh hướng lựa chọn của chú ý con người Đ-Phrei-et thì coi hứng thú là động lực của những cảm xúc khác nhau trong khi đó Sbiule quan niệm hứng thú là tính nhạy cảm đặc biệt của trẻ em

Trong khi đó, ở các công trình nghiên cứu của mình, một số nhà tâm lí học Liên Xô như Miaxisop, RubinStein và Ivanop…lại nhìn hứng thú ở khía cạnh nhận thức X Ananhin cho rằng hứng thú chính là nhu cầu đã được nhận thức

Sau khi phê phán những quan niệm về hứng thú của các nhà tâm lí học đi trước, nhà tâm lí học Cô-va-li-nôp đưa ra quan niệm của mình Quan niệm của Cô-va-li-nôp đã phản ánh đầy đủ những đặc điểm cơ bản của hứng thú, bảo đảm tính

trọn vẹn của quá trình tâm lí cá nhân phức tạp, sinh động Theo đó, hứng thú là một thái độ đặc thù của cá nhân đối với hiện tượng nào đó do ý nghĩa của nó trong dời sống và do sự hấp dẫn về tình cảm của nó

Định nghĩa của Cô-va-li-nôp đã làm sáng tỏ một số đặc trưng cơ bản của hứng thú như sẽ phân tích ở phần sau Trước khi làm rõ các đặc điểm cơ bản của hứng thú, cần phải phân biệt hứng thú và nhu cầu

Sở dĩ có quan niệm qui hứng thú về nhu cầu là vì người ta thấy rằng khi có hứng thú thì tính tích cực của hoạt động được nâng cao, năng suất lao động tăng lên

Trang 32

rõ rệt Mà nguồn gốc tính tích cực của con người là vì nhu cầu do vậy có thể nhầm tưởng hứng thú và nhu cầu là một

Sự thực, hứng thú và nhu cầu là 2 thuộc tính khác nhau của xu hướng cá nhân Hai thuộc tính này có những mối liên quan chặt chẽ với nhau Hứng thú nảy sinh trên cơ sở của nhu cầu, hay nói cách khác nhu cầu là cơ sở để hình thành hứng thú

Thế nhưng hứng thú lại không đồng nhất với nhu cầu, có nhiều khi hứng thú không chỉ dừng lại ở nhu cầu Trong thực tế có nhiều trường hợp hứng thú và nhu cầu không trùng khớp với nhau Nhu cầu là sự cần thiết và trong cuộc sống có những cái ta cần mà ta không thích nó Chẳng hạn, có HS không thích học thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du nhưng vì nhu cầu cần đạt điểm cao trong bài thi học kì,

HS ấy phải đọc và nghiên cứu kĩ các tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du

Hứng thú và nhu cầu có thể chuyển hóa lẫn nhau Bản thân hứng thú có thể trở thành nhu cầu của cá nhân hoặc ngược lại Những hứng thú nhận thức hoặc hứng thú thẩm mĩ đã được hình thành có thể biến thành nhu cầu thiết thân của con người

1.3.1.2 Hứng thú học tập môn Ngữ văn

Hoạt động học tập với tư cách là hoạt động nhận thức tích cực, tự lực và sáng tạo là một quá trình căng thẳng, đòi hỏi người học phải có sự nỗ lực thường xuyên Để nâng cao tính tích cực của người học và tăng hiệu quả của quá trình nhận thức, cần có hứng thú nhận thức, trong trường hợp này chính là hứng thú học tập

Theo Cô-va-li-nôp, hứng thú học tập chính là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập, vì sự cuốn hút về tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong đời sống cá nhân

Dựa vào định nghĩa trên, có thể đưa ra định nghĩa về hứng thú học tập môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông như sau: Hứng thú học tập trong môn Ngữ văn là thái độ say mê tự giác tích cực đặc biệt của cá nhân đối với môn Ngữ văn do nhận thức được tầm quan trọng của môn Ngữ văn và có sự gắn bó tình cảm với nó Thái độ này được đặc trưng bởi sự vươn lên thường trực tới những nhận thức văn học và thể hiện trong mọi hoạt động của cá nhân rõ nét nhất là hoạt động học tập

Trang 33

Trên đây là định nghĩa hứng thú cụ thể về một môn học nên nó có phần thiên

về góc độ hoạt động của cá nhân trong quá trình hứng thú

1.3.2 Những đặc trưng cơ bản của hứng thú học tập

1.3.2.1 Tính lựa chọn

Tính lựa chọn của hứng thú biểu hiện ở thái độ đặc thù của mỗi cá nhân đối với từng môn học, từng nội dung học tập Một HS có thể có hứng thú với nội dung học này mà không có hứng thú với môn học khác, điều đó phụ thuộc vào thái độ đặc thù của mỗi cá nhân

Thái độ đặc thù cá nhân biểu hiện rất rõ trong hứng thú cá nhân Tức là đứng trước hiện thực khách quan, con người nhận thức hiện thực với thái độ riêng của mình Hứng thú luôn luôn có khuynh hướng đối tượng nhất định Cái gì có ý nghĩa quan trọng, có giá trị với chính cá nhân, có liên quan tới kinh nghiệm, tới sự phát triển cá nhân mới được phản ánh một cách lựa chọn trong hứng thú của từng cá

Nhận thức đối tượng là nắm lấy và hiểu rõ đối tượng với mức độ sâu sắc và

đi sâu vào bản chất đối tượng Ở đây tính chất lí trí chiếm ưu thế Thành phần nhận thức có vai trò quan trọng đối với hứng thú Nó tham gia vào hứng thú người học

và có nhiệm vụ thúc đẩy người học tìm thấy giá trị, ý nghĩa, tầm quan trọng của đối tượng đối với cuộc sống nói chung và cá nhân người học nói riêng

Thành phần tình cảm trong hứng thú có vai trò hết sức quan trọng Nó giúp cho việc nhận thức diễn ra nhanh hơn, mạnh hơn, dễ dàng và thoải mái hơn vì tình cảm là nguồn sức mạnh nuôi dưỡng hứng thú, thúc đẩy hứng thú hình thành và phát triển Khi nhận thức của hứng thú kết hợp hữu cơ với thành phần tình cảm mạnh

mẽ thì hứng thú của cá nhân càng được bền lâu và sâu sắc hơn Và cũng chính thành phần tình cảm này khiến cho hứng thú của cá nhân có sắc thái riêng – đặc thù

cá nhân, từ đó quy định tính lựa chọn của hứng thú Như vậy, khi có hứng thú họ

Trang 34

tập tức là HS có thái độ nhận thức tích cực đồng thời có được cảm xúc, tình cảm trong sáng với một ý chí tập trung cao đô, trên cơ sở đó nắm chắc và đi sâu vào bản chất đối tượng

1.3.2.3 Thống nhất giữa chủ thể và khách thể

Giữa chủ thể và khách thể trong hứng thú có mối quan hệ thống nhất chặt chẽ với nhau Đây là một đặc điểm quan trọng khi nghiên cứu về hứng thú, nó là cơ

sở cho việc nghiên cứu các biện pháp thích hợp kích thích hứng thú của HS

Theo các nhà xã hội học thì: Hứng thú là sự thống nhất giữa biểu hiện thực

tế của nội tại với sự phản ánh thế giới khách quan, với tổ hợp những giá trị vật chất và tinh thần của nền văn hóa nhân loại trong ý thức của chủ thể

Các nhà xã hội học nhìn thấy sự thống nhất đó theo tính chất khách quan của sự tồn tại hứng thú và phản ánh hứng thú trong ý thức con người Các nhà tâm

lí học lại cho rằng, mối liên hệ giữa chủ thể với thế giới khách quan được xác lập nên bằng hứng thú

1.3.3 Các điều kiện để tạo hứng thú học tập

Dựa trên bản thân khái niệm hứng thú, chúng ta có thể xác định được một điều có tính quy luật là: Muốn hình thành được hứng thú thì đối tượng phải hội tụ được 2 điểm:

 Phải có ý nghĩa quan trọng đối với chủ thể và ý nghĩa đó được chủ thể nhận thức

 Phải có sự hấp dẫn tình cảm đối với chủ thể

Trên cơ sở đó, hứng thú học tập của HS có thể được hình thành theo 2 hướng:

 Hứng thú hình thành một cách tự phát không có ý thức, do nội dung kiến thức, môn học có sự hấp dẫn về mặt tình cảm, sau đó mới dẫn đến việc những ý nghĩa cần thiết của nội dung kiến thức, môn học đó

 Hứng thú hình thành một cách tự giác, từ chỗ có ý thức về ý nghĩa của đối tượng, nội dung kiến thức, môn học đến chỗ bị đối tượng, nội dung kiến thức, môn học hấp dẫn, cuốn hút

Hứng thú của cá nhân phụ thuộc vào đặc điểm của đối tượng và phẩm chất của

cá nhân nhưng nó cũng được hình thành do môi trường bên ngoài Ở đây, chúng tôi chia các điều kiện bên trong và bên ngoài thành các điều kiện cụ thể như sau:

Trang 35

1.3.3.1 Điều kiện tâm lí chủ thể

Hoạt động nhận thức của HS là quá trình vận động từ bên trong trong cấu trúc tâm lí, văn hóa và nhân cách của mỗi cá nhân Mỗi HS lại là một cấu trúc riêng, để thúc đẩy hoạt động nhận thức của các em bằng cách tạo hứng thú thì không gì khác, điều đầu tiên mà mỗi người GV cần quan tâm tới đó là chính cá nhân mỗi HS

Cấu trúc chủ thể mỗi HS có thể phân định thành:

- Cấu trúc tâm lí: Bao gồm năng lực tưởng tượng, liên tưởng, hứng thú, thị

hiếu, nhu cầu, tình cảm, khát vọng

- Cấu trúc văn hóa: Bao gồm trình độ văn hóa, sự hiểu biết về các lĩnh vực

khoa học, kinh nghiệm thẩm mĩ, năng lực đánh giá và thưởng thức thẩm mĩ, năng lực tư duy thẩm mĩ

- Cấu trúc nhân cách: Bao gồm lối sống, quan điểm sống, năng lực tư duy, thị

hiếu thẩm mĩ, cá tính, trí tuệ, niềm tin, cách ứng xử…

Với cấu trúc riêng ấy, hứng thú chỉ thực sự tới với chủ thể người học khi các cấu trúc thành phần bắt được tín hiệu của nhu cầu nhận thức, của tình cảm mà đối tượng, nội dung học mang lại Nghĩa là, để tạo hứng thú, không những chủ thể người học tự điều chỉnh cấu trúc của mình mà GV, bạn bè…có thể tác động vào cấu trúc ấy tạo ra sự mong muốn nhận thức và ý thức về vai trò quan trọng của nội dung kiến thức môn học

1.3.3.2 Điều kiện về nội dung học tập và mục tiêu học tập

Nội dung học tập là cái mà người học phải chiếm lĩnh và biến nó thành kinh nghiệm của bản thân Nội dung học tập tồn tại khách quan với người học và là cái nhờ đó mà người học có thể đạt được các mục tiêu học tập mục tiêu học tập do người dạy thiết kế, và cũng là cái quyết định xem người học có yêu thích và hứng thú hay không Tuy nhiên, không phải là tất cả mục tiêu học tập đều là mục tiêu kiến thức bên trong mà người học khao khát đạt đến Chỉ những yếu tố nào của mục tiêu học tập trở thành đối tượng hoạt động học tập thì mới thực sự trở thành mục tiêu bên trong của người học Vì lẽ đó, để gia tăng hứng thú và khả năng của người học trong việc chiếm lĩnh nội dung học tập cần phải làm cho nội dung học tập trở thành đối tượng của hoạt động học tập, phải thực sự coi nội dung học tập là

Trang 36

hình thái đối tượng hoá của những mục tiêu học tập Do học tập là tổ hợp những hoạt động khác nhau được người học thực hiện nhằm chiếm lĩnh đối tượng nên nội dung học tập là mục tiêu học tập được diễn đạt dưới hình thức các đối tượng của những hoạt động của người học trong quá trình học tập như hoạt động nhận thức, hoạt động giao tiếp, hoạt động vui chơi, hoạt động quản lí tri thức,

Như vậy, nội dung học tập muốn trở thành điều kiện tạo hứng thú trong HS thì nó phải đảm bảo:

- Hấp dẫn về mặt nhận thức

Các kiến thức mà nội dung học tập đưa ra phải là những kiến thức có sức hút với HS Không qua phức tạp nhưng không đơn giản, phải đảm bảo chúng nằm trong phạm vi phát triển gần của mỗi người học

- Đa dạng hóa trong cách trình bày và mô tả đảm bảo HS có nhu cầu học và thích học

Nội dung học tập phải được thiết kế theo nhiều logic cũng như cách tiếp cận khác nhau để HS có thể tiếp cận đối tượng học tập bằng nhiều con đường, nhờ đó làm bộc lộ nhiều khía cạnh, nhiều vấn đề khác nhau của nội dung học tập Để làm cho nội dung học tập tạo được hứng thú với HS đòi hỏi người GV phải có kĩ năng

sư phạm và khắc phục thói quen thiết kế các nội dung học tập một cách máy móc (tuyệt đối dựa vào logic sách giáo khoa và coi đó là con đường duy nhất để trình bày nội dung học tập) bởi thói quen đó có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình tìm kiếm các con đường khác nhau để tổ chức nội dung học tập Khi thiết kế nội dung học tập với nhiều cách thức tổ chức và mô tả nó cần có sự hỗ trợ của nhiều tài liệu học tập, sách giáo khoa và các phương tiện kĩ thuật dạy học khác nhau

- Nội dung học tập đưa ra nhiều cơ hội cho phép người học kiến tạo kiến thức

Yêu cầu này đòi hỏi thiết kế nội dung học tập phải chú ý tối đa các tình huống, các hoàn cảnh có thể giúp người học kiến tạo cho mình tri thức thuộc phạm

vi của nội dung học tập Đây là những tri thức sống động do người học kiến tạo phụ thuộc vào hoàn cảnh Muốn vậy, cần căn cứ vào sự phát triển cá nhân của người học

để dự kiến những yếu tố cấu thành hoàn cảnh cụ thể của học tập khiến cho người

Trang 37

học phải tạo ra cấu trúc mới trong kinh nghiệm của mình mới có thể thích ứng được với hoàn cảnh đó

- Nội dung học tập phải đảm bảo tính liên tục trong sự liên kết lẫn nhau ở mức độ cao

Thiết kế nội dung học tập phải căn cứ vào điều kiện học liệu và các kĩ thuật dạy học có khả năng sử dụng trong quá trình học tập để tạo ra sự liên kết thông tin học tập Các dạng thông tin phải được liên kết giữa các loại tài liệu, giữa các kĩ thuật dạy học và giữa tài liệu với kĩ thuật dạy học Đó là sự liên thông giữa các kiểu tài liệu (tài liệu in, tài liệu nghe nhìn thông thường, tài liệu và phương tiện multimedia, ) cũng như sự liên thông giữa nhiều kĩ thuật dạy học như lời nói, tranh ảnh, bản đồ, câu hỏi và câu trả lời, ngôn ngữ đàm thoại và thảo luận, ngôn ngữ lập trình và hệ thống hộp thoại trong phần mềm giáo dục, Đảm bảo sự liên thông trên

sẽ giúp cho các nguồn tri thức không bị cắt rời nhau trong quá trình học tập của người học và cũng là một điều kiện quan trọng nhằm tạo ra hứng thú cho người học trong giờ học trên lớp

1.3.3.3 Điều kiện về phương tiện và PPDH

Chất lượng của các năng lực, sự hình thành phẩm chất tâm lý này hay khác ở người học tùy thuộc ở cách người học tiến hành việc học - ở PPDH, giáo dục Trong quá trình dạy học, PPDH nổi lên như nhân tố chủ quan (chủ quan về phía người GV) hàng đầu quyết định chất lượng dạy học Và do vậy, việc lựa chọn và sử dụng PPDH phù hợp luôn có ý nghĩa sống còn đối với chất lượng dạy học nói chung và việc tạo hứng thú với HS nói riêng Nó một yếu tố rất quan trọng trong việc kích thích lòng ham học, hứng thú của HS qua đó củng cố một năng lực đặc biệt quan trọng ở HS là năng lực hứng thú PPDH chỉ thực sự tạo dựng được ở HS hứng thú trên tất cả các mặt: trí tuệ, tình cảm, ý chí khi phương pháp ấy đảm bảo các yêu cầu sau:

- Phương pháp vận dụng phải phù hợp với mục tiêu, đặc trưng nội dung và nguyên tắc dạy học Chẳng hạn, với phần kiến thức nhật dụng, phương pháp nhóm,

PPDH nêu vấn đề được xem là những phương pháp thích hợp

- PPDH phải phát huy tính tích cực của HS Trong giờ học, nếu HS thực sự

được làm chủ hoạt động học của mình thì họ sẽ cảm thấy thoải mái, thấy việc học

Trang 38

của mình là có ích, kiến thức sẽ ở lại lâu hơn trong trí nhớ của họ và quan trọng là

họ thấy hứng thú vì họ được trải nghiệm thực sự với kiến thức ấy

Với PPDH phù hợp, HS sẽ có điều kiện để phát triển hứng thú nhận thức, thỏa mãn nhu cầu tìm tòi, khám phá của bản thân Với các PPDH tích cực, người học không chỉ tự mình tìm cách giải quyết các vấn đề đặt ra mà còn tự phát hiện ra các vấn đề mới cần giải quyết Điều này thỏa mãn nhu cầu đặc trưng của con người – nhu cầu tìm tòi khám phá Những cảm xúc có được thông qua sự tìm tòi khám phá, cảm xúc thành công và cảm xúc về sự hoàn thành trọn vẹn một công việc là những củng cố tích cực cho việc hình thành và phát triển nhu cầu và hứng thú nhận thức của người học

- Hệ thống PPDH chỉ làm tròn nhiệm vụ của nó là lôi cuốn HS vào việc chiếm lĩnh kiến thức khi nó có sự hỗ trợ của hệ thống phương tiện dạy học Phương tiện dạy học góp phần mang lại sự sinh động cho giờ học, tạo ra hứng thú thực sự cho HS trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức

1.3.3.4 Điều kiện về môi trường học tập

Môi trường học tập là không gian mà ở đó hứng thú của HS sẽ xuất hiện, được kích thích tăng dần lên hay làm cho hứng thú bị giảm đi Môi trường là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, tức thời nhất Bầu không khí học tập có thoải mái hay không,

cơ sở vật chất, phương tiện, âm thanh, ánh sáng có phù hợp hay không sẽ khiến HS

có cảm thấy hứng thú hay không Môi trường học tập thường được chia nhỏ thành: môi trường vật chất và môi trường tâm lí.Để tạo được một môi trường tâm lí học tập thoải mái người GV phải biết cách tổ chức lớp học, chia nhóm, phải biết tạo niềm tin cho HS qua những hình thức động viên, khen thưởng kịp thời, hợp lí GV phải là người hướng dẫn lớp học trong tính dân chủ, đảm bảo mọi HS đều cảm thấy mình đang được quan tâm

1.3.3.5 Điều kiện về các hình thức kiểm tra đánh giá

Các hình thức kiểm tra đánh giá không những là cái thang đo mức độ đạt được mục tiêu ở người học mà hơn nữa đối với việc tạo hứng thú, nó còn là một cú hích quan trọng đối với lòng ham mê học hỏi ở các em Đánh giá đúng, kịp thời sẽ khiến HS có tâm lí thoải mái, tạo được động cơ học tập bên trong nhưng ngược lại

Trang 39

đánh giá không kịp thời, không đúng với năng lực của HS sẽ làm các em thấy tổn thương, tâm lí không thoải mái, việc nhận thức do đó mà bị ảnh hưởng

Hiện nay, việc kiểm tra đánh giá tuy đã đi vào quỹ đạo đổi mới nhưng riêng với môn Ngữ văn, sự đổi mới chưa thực sự rõ nét, chưa làm thay đổi hứng thú của HS từ đó chưa làm thay đổi chất lượng của việc học tập Bản thân vai trò của phần thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 10 vẫn chưa được nhiều giáo viên coi trọng nên cách kiểm tra, đánh giá cũng rất hòi hợt, khiến cho HS thấy không cần thiết và cũng không hứng thú đối với phần này

1.3.4 Biểu hiện của hứng thú học tập môn Ngữ văn

1.3.4.1 Biểu hiện của hứng thú học tập nói chung

Muốn đo được mức độ phẩm chất về những thuộc tính tâm lí của con người,

ta dựa vào những dấu hiệu nhất định biểu hiện qua thái độ và hoạt động của họ Tương tự như thế, hứng thú học tập của HS được biểu hiện qua các mặt sau:

 Biểu hiện về mặt trí tuệ:

 HS luôn say mê vươn tới nhận thức

- Đầu óc tò mò khoa học, ham hiểu biết, sẵn sàng học thầy hỏi bạn, thích tìm tòi khám phá, thường xuyên đặt câu hỏi chứa đựng các vấn đề

- Có óc tưởng tượng sáng tạo, trí tuệ mềm dẻo

- Tích cực sáng tạo trong học tập và các hoạt động thực tiễn

- Luôn là người đưa ra sáng kiến và là người khơi mào các cuộc tranh luận nhận thức trong lớp

- Luôn mong muốn vận dụng tri thức vào thực tiễn

- Không ngừng tìm tòi đọc sách báo và tài liệu

- Thường tìm tới những bài tập, những nhiệm vụ học tập khó, có tính thử thách, yêu cầu cao về nhận thức

 Luôn chú ý trong học tập

- Dễ tập trung trí nhớ và có thể tập trung cao độ

- Nhanh chóng chuyển trí nhớ ngắn hạn sang trí nhớ dài hạn

- Tính ổn định và độ bền của chú ý thể hiện rất rõ qua các hoạt động học

 Biểu hiện về mặt ý chí:

Sự nỗ lực của ý chí thể hiện rõ qua hoạt động học tập với các biểu hiện:

Trang 40

- Cần cù, kiên trì nhẫn nại trong mọi hoạt động Khi đã đặt vấn đề giải quyết cái gì thì suy nghĩ, tìm hiểu và theo đuổi tới cùng

- Chịu khó sưu tầm, ghi chép và tích lũy kiến thức

 Biểu hiện về mặt tình cảm:

- Rất thích thú, phấn khởi, lạc quan trong hoạt động học tập

- Chủ động dành thời gian nhiều cho hoạt động học

- Không thích sự dễ dàng mà say mê, yêu thích việc vượt qua những nhiệm

 Biểu hiện về mặt kết quả:

- Thường xuyên thành công trong học tập

- Đôi khi thất bại cũng không nản mà biết tận dụng thất bại như một bài học kinh nghiệm để vươn lên

 Biểu hiện về mặt năng lực:

- Những năng lực thuộc lĩnh vực nhận thức đều phát triển mạnh mẽ và thể hiện rất rõ nét: Các năng lực quan sát, tư duy, tưởng tượng, so sánh, phán đoán, phân tích tổng hợp, suy luận, khái quát hóa, trừu tượng hóa, vận dụng kiến thức vào thực tiễn

1.3.4.2 Biểu hiện cụ thể của hứng thú học tập Ngữ văn

Đối với môn Ngữ văn - một môn học vừa có tính chất khoa học và tính nghệ thuật, hứng thú học tập của HS với môn học này cũng có những nét riêng khác biệt

 Biểu hiện về mặt trí tuệ:

 HS luôn say mê đạt tới nhận thức về văn học, ngôn ngữ

- Luôn tìm tòi, khám phá các tác phẩm văn học, các cấu trúc ngôn ngữ, cấu trúc và thi pháp tác phẩm

- Luôn học thầy, thảo luận trao đổi với bạn bè về các vấn đề văn học, ngôn ngữ, các khuynh hướng văn học; luôn đặt các câu hỏi tại sao, các câu hỏi đòi hỏi phải lí giải bằng hệ thống kiến thức văn học

Ngày đăng: 26/09/2020, 00:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w