1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hoạt động của Quốc hội trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội : Luận văn ThS. Luật: 60 38 01

125 35 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, còn có một số bài báo đăng trên các tạp chí của các tác giả: Thái Vĩnh Thắng, Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước: Nghị quyết hay luật Tạp chí Nghiên cứu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HỘI

KHOA LUẬT

VŨ CHÂU HẠNH

HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI TRONG VIỆC QUYẾT ĐỊNH NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG CỦA ĐẤT NƯỚC VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội - 2010

Trang 2

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Mã số : 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Văn Tú

Hà Nội - 2010

Trang 3

3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong các công trình khoa học khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Tác giả luận văn

Vũ Châu Hạnh

Trang 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUỐC HỘI QUYẾT ĐỊNH

NHỮNG VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG CỦA ĐẤT NƯỚC VỀ KINH TẾ - XÃ

HỘI… 141.1 Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội - Một chức năng quan trọng của Quốc hội 14

1.1.1 Khái quát về chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội 14 1.1.2 Khái niệm vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội 23 1.1.3 Các tiêu chí để Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội 25

1.2 Vị trí, vai trò của việc Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội 29

1.2.1 Khẳng định Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất,

cơ quan đại diện cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 29 1.2.2 Là định hướng cơ bản để Chính phủ chỉ đạo, điều hành, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước 32 1.2.3 Là cơ sở quan trọng để Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI TRONG

Trang 5

2.1.1 Quy định về việc Quốc hội quyết định kế hoạch phát triển kinh tế

- xã hội 5 năm và hàng năm 38 2.1.2 Quy định về việc Quốc hội quyết định các vấn đề về ngân sách nhà nước 39 2.1.3 Quy định về việc Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư dự án, công trình quan trọng quốc gia 41

2.2 Quy trình hoạt động của Quốc hội trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội 42

2.2.1 Thời gian trình Quốc hội xem xét, quyết định 47 2.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn và năng lực thẩm tra của các cơ quan của Quốc hội 47 2.2.3 Nhiệm vụ, quyền hạn và năng lực quyết định của đại biểu Quốc hội 49

2.3 Nội dung và hiệu lực của các quyết định của Quốc hội 51

2.3.1 Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước 51 2.3.2 Nghị quyết về các vấn đề thuộc lĩnh vực ngân sách nhà nước 55 2.3.3 Nghị quyết về dự án, công trình quan trọng của đất nước 57

2.4 Đánh giá chung 60

Trang 6

6

2.4.1 Những kết quả đạt được 60 2.4.2 Một số hạn chế, bất cập 63 2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên 66

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ

HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI TRONG VIỆC QUYẾT ĐỊNH NHỮNG

VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG CỦA ĐẤT NƯỚC VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI 72

3.1 Yêu cầu của tình hình mới đối với việc Quốc hội quyết định những vấn

đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội 72

3.1.1 Yêu cầu về nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội

là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 72 3.1.2 Yêu cầu về phân công, tăng cường, phối hợp giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước 73 3.1.3 Yêu cầu về phát huy dân chủ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường tính công khai, minh bạch 75 3.1.4 Yêu cầu về bảo đảm và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế 76

3.2 Một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế

- xã hội 77

3.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật quy định về các vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội 77 3.2.2 Tăng cường năng lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội 79 3.2.3 Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện quy trình, thủ tục trong hoạt động

Trang 7

7

quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội 81

3.2.4 Bảo đảm hiệu lực thực thi các quyết định quan trọng của Quốc hội 82

3.2.5 Tăng cường hình thức tham vấn lấy ý kiến nhân dân trong việc xây dựng và thực thi các quyết định quan trọng của Nhà nước 85

3.2.6 Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng 87

KẾT LUẬN……… ……….……90

PHỤ LỤC……… ………92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ………….… ……… …121

Trang 8

8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo dõi quá trình hình thành và phát triển của Quốc hội hơn sáu mươi năm qua cho thấy, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cơ quan đại diện của nhân dân là nhất quán và có sự phát triển phù hợp với yêu cầu của đất nước theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể Tại Hiến pháp 1946 đã quy định thành lập “Nghị viện nhân dân” và

khẳng định Quốc hội là hội đồng nhân dân toàn quốc, “Quốc hội quyết định

những công việc quan trọng nhất của đất nước” Hiến pháp 1992 kế thừa tinh

hoa của những bản Hiến pháp trước, bên cạnh việc ghi nhận vị trí và vai trò của Quốc hội trong hệ thống chính trị của đất nước, đã từng bước xác định rõ hơn nhiệm vụ của Quốc hội, đồng thời tách bạch hơn nhiệm vụ về quyết định chính sách với nhiệm vụ điều hành Điều 83 Hiến pháp 1992 khẳng định

“Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm

vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân” Như vậy, gắn liền với lịch sử hình thành của Quốc hội

nước ta, việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước nói chung, các vấn đề về kinh tế - xã hội nói riêng đã và đang được xem là một trong những chức năng cơ bản của Quốc hội, đồng thời là một chức năng chứa đựng nhiều điểm đặc thù của Quốc hội Việt Nam so với Nghị viện các nước trên thế giới

Trong những năm gần đây, cùng với việc đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, tăng cường chức năng lập pháp, giám sát tối cao thì chức năng quyết định các vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội của đất nước được Quốc hội chú trọng hơn, đầu tư thời gian và công sức ngày càng nhiều hơn Các nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm, về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, về các dự án, công trình quan trọng quốc gia và các vấn đề về ngân sách nhà nước… đã trở

Trang 9

9

thành những cơ sở định hướng và căn cứ pháp lý vững chắc cho các cấp, các ngành và nhân dân thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, tạo được sự đồng thuận của xã hội Những cố gắng không nhỏ của Quốc hội trong việc cải tiến nội dung, phương thức quyết định, nâng cao hiệu lực triển khai các Nghị quyết trên thực tế cho thấy Quốc hội ngày càng xứng đáng hơn với vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại diện cao nhất của Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tuy nhiên, những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và thách thức từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang tạo ra sức ép lớn cho Quốc hội trong việc quyết định nhiều hơn, đa dạng hơn và phức tạp hơn các vấn đề về kinh tế - xã hội Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động của Quốc hội trong lĩnh vực này vẫn bộc lộ một số hạn chế, có những lúc chưa kịp thời, trong nhiều trường hợp hiệu lực và hiệu quả của các Nghị quyết chưa cao Những tồn tại này nếu không được khắc phục sẽ là rào cản đối với sự nghiệp đổi mới và

phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chính vì vậy, chủ trương “tiếp tục đổi

mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội,… thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước” đã được khẳng định tại Đại hội đại

biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, trở thành một định hướng phát triển quan trọng của những khoá Quốc hội tiếp theo

Nhận thức rõ tầm quan trọng và những tư tưởng mang ý nghĩa chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về vấn đề này, đồng thời, xuất phát từ những đòi hỏi

của thực tiễn, việc chọn đề tài “Hoạt động của Quốc hội trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội” làm đề tài luận

văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành luật học là hết sức cần thiết và có ý nghĩa cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu

Việc Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước nói chung, về kinh tế - xã hội nói riêng đã được đặt ra ngay từ Nhiệm kỳ Quốc

Trang 10

10

hội khóa I và ghi nhận trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta năm 1946 Vấn đề này luôn được các nhà khoa học quan tâm, đặc biệt là từ khi việc xây dựng Nhà nước pháp quyền được khẳng định trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước Đã có một số hội thảo, cuộc toạ đàm về vấn đề này, chẳng hạn:

Hội thảo khoa học về nâng cao chất lượng Quyết định của Quốc hội về các vấn đề quan trọng của đất nước do Tiểu ban chỉ đạo xây dựng đề án của

Đảng đoàn Quốc hội tổ chức, Toạ đàm về tình hình kinh tế Việt Nam, vai trò,

trách nhiệm của Quốc hội đối với những quyết sách kinh tế do Uỷ ban kinh tế

của Quốc hội tổ chức Ngoài ra, còn có một số bài báo đăng trên các tạp chí

của các tác giả: Thái Vĩnh Thắng, Quốc hội quyết định những vấn đề quan

trọng của đất nước: Nghị quyết hay luật (Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số

6/2006), Đổi mới công tác quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước là

một yêu cầu trong đổi mới hoạt động của Quốc hội (Tạp chí Nghiên cứu lập

pháp số 12/2006), … Bên cạnh đó, vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế

- xã hội còn ít nhiều được đề cập đến trong một số công trình khoa học nghiên cứu về việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, về đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội v.v…

Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội, đặc biệt là vị trí, vai trò của Quốc hội trong hoạt động này, gắn liền với bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay cũng như những phương hướng cụ thể nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội trong lĩnh vực này, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể ở nước ta, vừa đáp ứng được những đòi hỏi của thế giới thời mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 11

11

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn đi sâu nghiên cứu một số vấn đề có tính lý luận về các vấn đề quan trọng của đất nước trong lĩnh vực kinh tế - xã hội (khái niệm các vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội; các tiêu chí để Quốc hội quyết định; vị trí, vai trò của Quốc hội trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội); tổng kết thực trạng hoạt động của Quốc hội Việt Nam trong lĩnh vực này; từ đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản trong việc xây dựng đổi mới, hoàn thiện quy trình hoạt động, tăng cường năng lực của các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả Nghị quyết của Quốc hội về các vấn đề quan trọng của đất nước trong lĩnh vực kinh

tế - xã hội

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những khái niệm, tiêu chí cơ bản

để Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội, thực trạng hoạt động của Quốc hội Việt Nam trong lĩnh vực này và các phương hướng nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động quyết định của Quốc hội trong thời gian tới

5 Phạm vi nghiên cứu

Những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về nhiệm vụ của Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước trong lĩnh vực kinh tế - xã hội; những kết quả đạt được cũng như hạn chế trong hoạt động của Quốc hội về lĩnh vực này; một số yêu cầu và giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, luận văn không đề cập đến toàn bộ các vấn đề về kinh tế - xã hội thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội như về chính sách tài chính, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất mà tập trung sâu vào ba nội dung chính như sau:

Một là, việc quyết định nhiệm vụ kinh tế - xã hội của đất nước 5 năm

Trang 12

12

và hàng năm

Hai là, việc quyết định các vấn đề về ngân sách nhà nước (quyết định

dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách trung ương và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước)

Ba là, việc quyết định dự án, công trình quan trọng quốc gia

6 Những đóng góp của Luận văn

Luận văn trình bày một cách cụ thể, rõ ràng những vấn đề lý luận cơ bản về nhiệm vụ và quyền hạn, vị trí và vai trò của Quốc hội trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội Trên cơ sở lý thuyết về các vấn đề quan trọng của đất nước, xuất phát từ thực tiễn hoạt động của Quốc hội Việt Nam trong thời gian qua, đặc biệt là thông qua hoạt động giám sát của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước, Luận văn đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là thông tin khoa học tham khảo phục vụ quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về chức năng cơ bản của Quốc hội nói chung và trong quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế, xã hội nói riêng, Đồng thời, còn là nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, tổ chức, cá nhân quan tâm đến vấn đề này

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đường lối, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,

do nhân dân, vì nhân dân thể hiện trong các nghị quyết của Đảng, trong Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước

- Các phương pháp cụ thể bao gồm: phương pháp tổng kết, đánh giá thực tiễn các quy định của pháp luật; phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp; kết hợp lý luận và thực tiễn để đưa ra các kết luận, đánh giá

Trang 13

13

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội

Chương 2: Thực trạng hoạt động của Quốc hội trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế

- xã hội

Trang 14

1.1.1 Khái quát về chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội

Nghiên cứu lịch sử Nghị viện, đặc biệt là trong giai đoạn hiện đại, chúng ta sẽ thấy một nghịch lý: ở nhiều nước, Nghị viện chỉ có tính chất hình thức nhưng không bị giải tán mà vẫn tồn tại bền vững Phải chăng bản thân Nghị viện như một tổ chức “vật chất” có thể không mạnh, nhưng “phần hồn” hay “tinh thần” của chế định Nghị viện lại tạo ra vai trò không thể thay được, nhất là trong một nền dân chủ Điều này cũng lý giải vì sao qua lịch sử phát triển thăng trầm của Nghị viện, thậm chí có lúc bị lấn át, triệt tiêu nhưng cuối cùng, Nghị viện vẫn khẳng định một chỗ đứng vững chắc trong hệ thống quyền lực nhà nước

Trong lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, người ta vẫn cho rằng nước Anh là quê hương của Nghị viện, nơi mà từ thế kỷ 13 quyền lực của Nhà vua đã bị thu hẹp hơn do có các cuộc đại hội của những lãnh chúa phong kiến, giới tăng lữ cao cấp và đại diện của các thành phố và địa hạt (các đơn vị hành chính nông thôn lúc đó) Những cơ quan đại diện đẳng cấp như thế cũng xuất hiện sau đó ở Ba Lan, Hungary, Pháp và những nước khác Dần dần những cơ quan đó phát triển thành Nghị viện như ngày nay Hiện nay, trên thế giới có khoảng gần 250 nước và vùng lãnh thổ thì có đến 178 nước tổ chức nghị viện với nhiều tên gọi khác nhau Bên cạnh những nghị viện lâu đời như Nghị viện Anh, Tây Ban Nha, lại có những Nghị viện ra đời muộn hơn như ở Pháp, Mỹ và trong những thập kỷ gần đây là Nghị viện ở các nước đang phát

Trang 15

15

triển Với lịch sử hình thành và phát triển khác nhau nhưng nghị viện hầu hết các nước trên thế giới đều mang những chức năng, thẩm quyền đặc trưng của mình là lập pháp, giám sát và tài chính Trừ một số trường hợp ngoại lệ, trong phần lớn hiến pháp các nước trên thế giới đều có chương riêng về những chức năng, thẩm quyền của Nghị viện, tuy nhiên căn cứ vào phạm vi thẩm quyền của Nghị viện, chúng ta có thể nêu ra ba nhóm nghị viện sau:

Nhóm thứ nhất là những Nghị viện với thẩm quyền không hạn chế: Đó

là Nghị viện ở những nước tuyên bố về tính tối cao của Nghị viện và trao cho Nghị viện quyền được thông qua các luật lệ về tất cả các vấn đề Ví dụ điển hình ở đây là Nghị viện Anh Các nhà nghiên cứu người Anh cho rằng tính tối cao của Nghị viện Anh bao gồm: 1) Tính tối cao của luật (luật có hiệu lực pháp lý cao hơn mọi văn bản pháp qui của các cơ quan chính quyền khác, không một cơ quan nào ngoài Nghị viện có quyền ban hành luật; 2) Quyền chuẩn y ngân sách Nhà nước và các loại thuế; 3) Trách nhiệm tập thể của Chính phủ trước Nghị viện; 4) Quyền phê chuẩn sự bổ nhiệm các quan toà; 5) Không có những quyền lực cạnh tranh tương tự

Hiến pháp Nhật Bản 1946 trong Điều 41 viết: “Nghị viện là cơ quan quyền lực nhà nước tối cao và là cơ quan lập pháp nhà nước duy nhất” đồng thời, không qui định cụ thể quyền hạn của cơ quan này - từ đó có thể thấy Nghị viện Nhật Bản không bị giới hạn về thẩm quyền Tương tự như vậy, phần lớn Quốc hội các nước xã hội chủ nghĩa cũng thuộc nhóm này, ví dụ như Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Liên Bang Nga - Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên đã qui định: “Mọi vấn đề tầm cỡ quốc gia đều thuộc thẩm quyền của Đại hội Xô viết toàn Nga và Uỷ ban chấp hành Trung ương các Xô Viết toàn Nga”; tiếp đó, Điều 50 viết: “Ngoài những vấn đề nêu trên, mọi vấn

đề khác mà Đại hội Xô viết toàn Nga và Uỷ ban Chấp hành Trung ương toàn Nga cho là thuộc phạm vi giải quyết của mình đều thuộc thẩm quyền của những cơ quan đó”

Trang 16

16

Nhóm thứ hai là những nghị viện bị giới hạn thẩm quyền tuyệt đối Ví

dụ điển hình ở đây là Cộng hoà Pháp Hiến pháp 1958 đã qui định cụ thể trong các điều 34, 35, 49 về những vấn đề mà Nghị viện Pháp có thể ban hành luật và các quyết định Mọi vấn đề khác thuộc về thẩm quyền của Chính phủ Nếu Nghị viện vượt qua giới hạn cho phép và ban hành luật về vấn đề không được qui định trong Điều 34 của Hiến pháp, thì theo Điều 37 đạo luật đó có thể bị thay thế bằng một pháp lệnh (ordonance) của Chính phủ do Tổng thống

Thẩm quyền bị hạn chế tuyệt đối cũng thường gặp ở nhiều nước đang phát triển trước đây là thuộc địa của Pháp như Congo, Madagascar, Senegal, Gabon

Nhóm thứ ba là những nghị viện có thẩm quyền bị giới hạn tương đối ở

các nước theo chế độ liên bang và những nhà nước đơn nhất phi tập trung Tại những nước như vậy thẩm quyền của chính quyền trung ương bị giới hạn bởi những quyền hạn của các chủ thể liên bang hoặc những lãnh thổ hành chính khác, vì vậy Nghị viện cũng chỉ có thể hoạt động trong khuôn khổ đó Hiến pháp Hoa Kỳ 1787 đã qui định “Những thẩm quyền không được Hiến pháp trao cho Liên bang và không bị cấm đối với tiểu bang sẽ thuộc về các tiểu bang hoặc nhân dân” Như vậy Quốc hội Mỹ chỉ có thể thực hiện những thẩm quyền mà Hiến pháp trực tiếp trao cho hoặc Hiến pháp cấm các bang thực hiện

Cách phân loại trên đây cho thấy phạm vi thẩm quyền của Nghị viện ở mỗi nước là khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như hình thức cấu trúc nhà nước và tương quan với các nhánh quyền lực khác

Ở Việt Nam, nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của bộ máy nhà nước từ năm 1945 cho đến nay, có thể thấy rằng, Quốc hội luôn giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, đồng thời là

cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Trang 17

17

Việt Nam Với vị trí ấy, có thể khẳng định rằng, chức năng, quyền hạn của Quốc hội là không giới hạn Điều 83 Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 của Quốc hội khóa X, sau đây gọi tắt

là Hiến pháp 1992) quy định về chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội như sau:

“Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp

Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội

và hoạt động của công dân

Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”

Như vậy, so với lịch sử lâu đời của Nghị viện thế giới, Quốc hội Việt Nam còn khá non trẻ, nhưng ngay từ khi hình thành nó đã mang đầy đủ những chức năng cơ bản và đặc trưng, cụ thể là: chức năng lập pháp, chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước

* Chức năng lập pháp

Hiến pháp của hầu hết các nước trên thế giới đều nhấn mạnh chức năng lập pháp của Nghị viện, coi đây là lĩnh vực hoạt động rộng nhất, cơ bản nhất của Nghị viện Lập pháp là hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước - quyền lập pháp Với ý nghĩa đó, hoạt động lập pháp là hoạt động mang tính sáng tạo,

là quá trình nhận thức các quan hệ xã hội, đặc biệt là vấn đề lợi ích, xác định tầm quan trọng của các quan hệ xã hội, từ đó xác định phạm vi và phương pháp điều chỉnh đúng đắn đối với các quan hệ xã hội [15, tr 6] Quyền lập pháp là biểu hiện sinh động nhất của quyền lực nhà nước Theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội nước ta là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Điều

đó không có nghĩa rằng Quốc hội sẽ làm mọi việc Quốc hội chỉ nắm quyền

Trang 18

18

lập hiến và lập pháp, quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước và thực

hiện quyền giám sát tối cao Như vậy, từ các phân tích trên, lập pháp có thể

được hiểu đó là quyền của Quốc hội được ghi nhận trong Hiến pháp, Quốc hội sử dụng quyền lập pháp quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước thông qua hình thức là các đạo luật Khái niệm trên xét về bản chất

cũng có những điểm tương đồng với khái niệm lập pháp được nêu ngắn gọn

trong Từ điển Tiếng Việt, theo đó, lập pháp được hiểu là việc định ra pháp

luật [16, tr 555]

Trong những năm qua, Quốc hội nước ta đã không ngừng chăm lo xây dựng và hoàn thiện pháp luật – công cụ pháp lý cực kỳ quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước trong từng thời kỳ Ngay từ khóa Quốc hội đầu tiên, với vai trò là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, Quốc hội

đã thay mặt nhân dân cả nước thông qua Hiến pháp 1946 – Hiến pháp đầu tiên – Cơ sở pháp lý cao nhất để củng cố chính quyền cách mạng non trẻ, khẳng định tính pháp lý của một nhà nước trước thế giới, đồng thời là một dấu mốc thể hiện sự hoàn chỉnh về cơ bản bộ máy nhà nước Đến nay, Quốc hội đã bốn lần ban hành Hiến pháp (Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992), Hiến pháp sau kế thừa Hiến pháp trước và luôn giữ vị trí đứng đầu trong hệ thống pháp luật Trên cơ sở các Hiến pháp này, Quốc hội đã thông qua hàng trăm đạo luật, bộ luật, sắc luật, sắc lệnh, pháp lệnh với nội dung tiến bộ, phù hợp với thực tiễn của nước ta trong từng thời kỳ, vừa kế thừa và phát triển những giá trị vốn có của dân tộc ta, vừa tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của nhân loại

Thông qua hoạt động lập hiến và lập pháp của Quốc hội, chúng ta đã xây dựng được cơ sở pháp lý vững chắc cho sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nhiều văn bản luật do Quốc hội ban hành đã thiết lập nên hệ thống pháp luật tạo môi trường ổn định và thuận lợi cho sự phát triển đa dạng hóa các thành phần kinh tế, đồng thời tạo ra cơ sở

Trang 19

19

pháp lý bảo đảm bình đẳng trong các quan hệ kinh tế và cơ chế hữu hiệu để giải quyết các tranh chấp phát sinh

Hoạt động lập pháp của Quốc hội còn tạo ra cơ sở pháp lý để xác định

rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, kiện toàn tổ chức và đổi mới phương thức hoạt động của bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương, thực sự thúc đẩy cải cách hành chính và sự phát triển một nền quản trị nhà nước có hiệu quả

Sự phát triển của pháp luật còn góp phần quan trọng trong việc tạo ra

cơ chế ngày càng hoàn thiện bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người dân Pháp luật về quyền lao động, việc làm, an sinh, giáo dục và các lĩnh vực xã hội khác đã có những đổi mới quan trọng theo hướng dân chủ và tiến bộ xã hội nhằm khắc phục những khiếm khuyết và hạn chế của cơ chế thị trường

Cùng với những cố gắng không ngừng của Quốc hội trong việc đổi mới

tổ chức và phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp thì cho đến nay, đã hình thành nên hệ thống pháp luật tương đối đồng bộ thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới hệ thống chính trị và xây dựng nhà nước pháp quyền Pháp luật đã trở thành công cụ chủ yếu để quản lý nhà nước và xã hội Nguyên tắc pháp quyền, tức là tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, từng bước được đề cao và phát huy hiệu quả trên thực tế

* Chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước

Quá trình đổi mới hệ thống chính trị đã và đang mang lại cho Quốc hội quyền hạn rất lớn đồng thời là trách nhiệm nặng nề trong việc thực hiện các chức năng cơ bản của mình, trong đó có việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước Theo quy định của Hiến pháp, những vấn đề quan trọng của đất nước thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội bao gồm ba nội dung chủ yếu:

Một là, các vấn đề về tổ chức và nhân sự cấp cao của nhà nước như:

Trang 20

20

quy định nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và chính quyền địa phương; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc phê chuẩn các chức vụ cao nhất của nhà nước và những người đứng đầu các bộ, cơ quan ngang bộ; quyết định thành lập, bãi bỏ các bộ và các cơ quan ngang bộ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương…

Hai là, các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, trong đó quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm; quyết định chính sách tài chính, tiền

tệ quốc gia, dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quyết định chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo của nhà nước; quyết định quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai của nhà nước; quyết định chủ trương đầu tư các công trình quan trọng quốc gia

Ba là, các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và chính sách cơ bản về đối ngoại như: quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình, quyết định việc trưng cầu ý dân; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế…

Trong những năm qua, thực hiện mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền với hệ thống pháp luật đầy đủ, minh bạch và công bằng, hệ thống giám sát hiệu quả thì việc đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước là một nhiệm vụ

ưu tiên của Quốc hội và được nhân dân đặc biệt quan tâm

Quốc hội xem xét và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước xuất phát từ lợi ích quốc gia và trên cơ sở vì lợi ích quốc gia Do vậy, ngoài việc phát huy vị trí, vai trò của mình, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và Đại biểu Quốc hội đã lắng nghe tiếng nói của người dân và coi sự tham gia của công chúng là phương thức hữu hiệu để bảo đảm tính khả thi của các quyết định do Quốc hội ban hành, thể hiện bản chất của nhà nước và sự tham

Trang 21

21

gia của nhân dân vào quản lý xã hội, quản lý đất nước

* Chức năng giám sát tối cao

“Giám sát vừa là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước vừa là một phương thức đảm bảo quyền lực nhà nước được thực hiện đúng trong phạm vi, thẩm quyền, hình thức mà pháp luật đã quy định cho mỗi một thiết chế quyền lực trong hoạt động thực tiễn” [19, tr.196] So với hai bản Hiến pháp 1946 và 1959 thì Hiến pháp 1980 và 1992 đã ghi nhận một bước phát triển quan trọng đối với quyền giám sát của Quốc hội, đồng thời đưa quyền

này lên một tầm cao mới với tính cách là “quyền giám sát tối cao đối với toàn

bộ hoạt động của Nhà nước” Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội được

phân biệt với các chủ thể có chức năng giám sát hiến định khác như Mặt trận

tổ quốc Tổ quốc, Công đoàn… trước hết ở đối tượng chịu giám sát, bao gồm: Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa

án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Theo quy định của Hiến pháp, hoạt động giám sát của Quốc hội bao gồm hai nội dung chính:

Một là, theo dõi, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát và các văn bản do các đối tượng này ban hành;

Hai là, xử lý các hành vi vi phạm bằng các biện pháp chế tài như: bãi nhiệm, miễn nhiệm các chức danh cấp cao trong bộ máy nhà nước; đình chỉ, bãi bỏ các văn bản trái với Hiến pháp, pháp luật

Trước đây, hoạt động giám sát được tập trung rõ nét nhất tại các kỳ họp Quốc hội, các phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Các cơ quan của Quốc hội ít tổ chức các cuộc làm việc với các bộ, ngành và việc tổ chức các đoàn đi giám sát còn nhỏ lẻ, nặng về khảo sát thực tế Gần đây, để nâng cao

Trang 22

22

chất lượng giám sát tại các kỳ họp, phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội đã tăng cường tổ chức các đoàn đi giám sát ở các bộ, ngành trung ương, các tổng công ty lớn và các địa phương

Hoạt động giám sát của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội được triển khai đồng bộ, thường xuyên nên đã có tác dụng thúc đấy các cơ quan nhà nước thực hiện, thi hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội

Hàng năm, Quốc hội đã thông qua nghị quyết về chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội Căn cứ vào chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, các Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội xây dựng chương trình giám sát của mình và tổ chức triển khai thực hiện Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã có nghị quyết về việc thành lập các đoàn giám sát, kế hoạch giám sát chuyên đề và chỉ đạo điều hành hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban

Quí I hàng năm, Uỷ ban thường vụ Quốc hội tổ chức Hội nghị toàn quốc để triển khai thực hiện nghị quyết về chương trình giám sát năm trước

và bàn cách thức triển khai thực hiện chương trình giám sát trong năm, nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cơ quan giám sát và cơ quan chịu

sự giám sát Hội nghị toàn quốc để triển khai thực hiện chương trình giám sát được tổ chức lần đầu vào tháng 1/2005 với sự tham gia đại diện các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội đại diện thường trực Chính phủ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các bộ, ngành liên quan

Việc hoạt động giám sát của Quốc hội đã được kế hoạch hóa cả về nội dung và thời gian tiến hành giám sát (thông qua Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội hàng năm và Kế hoạch của Ủy ban thường vụ Quốc hội triển khai nghị quyết)

có ý nghĩa hết sức quan trọng, đã giúp dân tộc và các Ủy ban, các Đoàn đại

Trang 23

23

biểu Quốc hội tích cực triển khai hoạt động giám sát theo Chương trình, cố gắng để đảm bảo tiến độ đề ra Chính vì vậy, hoạt động giám sát đã cơ bản khắc phục được tình trạng tự phát, một phần tình trạng chồng chéo, trùng lắp

về thời gian và địa bàn giám sát Đây nỗ lực đáng kể của Quốc hội trong việc đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát, góp phần đưa hoạt động giám sát của Quốc hội đi vào nền nếp, đáp ứng được phần nào sự mong mỏi

và kỳ vọng của cử tri cả nước, đồng thời nâng cao vị thế, vai trò của Quốc hội trong hệ thống các cơ quan nhà nước

1.1.2 Khái niệm vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội

Cùng với các chức năng lập pháp, giám sát tối cao thì chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước được Quốc hội ngày càng chú trọng hơn, chủ động hơn Dưới góc độ nhà nước và pháp luật, việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước được tiếp cận là một hoạt động thể hiện quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi chủ thể nhất định, với phương thức, cách thức khác nhau Dưới góc độ giai cấp, việc quyết định vấn đề quan trọng của đất nước phản ánh tương quan về lực lượng và lợi ích giữa các giai cấp Dưới góc độ xã hội, việc quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia, đặc biệt là các vấn đề quan trọng thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội được tiếp cận là hoạt động ảnh hưởng tới đời sống an ninh, chính trị, trật tự xã hội và lợi ích kinh tế

- xã hội của các thành viên trong xã hội Phạm vi những vấn đề quan trọng được Quốc hội quyết định bao gồm: những vấn đề về tổ chức bộ máy nhà nước, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, chính sách dân tộc, nhiệm vụ an ninh – quốc phòng, trong đó, những vấn đề quan trọng về kinh tế xã hội luôn được đặt ở vị trí quan tâm hàng đầu Có thể nói việc Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội là một chức năng đặc trưng của Quốc hội Việt Nam so với nghị viện các nước trên thế giới, đồng thời là một điều kiện quan trọng bảo đảm thực quyền của Quốc hội trong việc thực hiện các

Trang 24

24

chức năng, nhiệm vụ của mình

Đối với Nghị viện các nước trên giới, mặc dù chức năng, thẩm quyền tài chính của Nghị viện thường được thực hiện bằng hình thức luật, nhưng đó được coi là một thẩm quyền riêng Đáng nói là chức năng tài chính của Nghị viện về mặt lịch sử xuất hiện trước chức năng lập pháp: ở Anh, Nghị viện được quyền định ra các loại thuế vào thế kỷ 13, còn thông qua luật - vào thế

kỷ 15, ở Pháp tương tự là vào thế kỷ 14 và 18 Thẩm quyền tài chính của Nghị viện được thể hiện trong việc thông qua đạo luật tài chính lớn nhất hàng năm - Ngân sách Nhà nước gồm các khoản thu, chi của Nhà nước; chuẩn y bản quyết toán ngân sách của Chính phủ và trong việc qui định hay sửa đổi các mức thuế; một số nghị viện còn có thẩm quyền tạo ra quỹ ngoài ngân sách

để đáp ứng những khoản chi không được tính trước trong khi Nghị viện chưa kịp đưa chúng vào ngân sách

So với chức năng tài chính của nghị viện các nước trên thế giới thì với chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội, thẩm quyền quyết định của Quốc hội Việt Nam được mở rộng hơn Cho đến nay, chưa có một văn bản nào nêu định nghĩa các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội, tuy nhiên, căn cứ vào các quy định của pháp luật có liên quan, nội hàm của khái niệm này vẫn được hiểu khá thống nhất

Theo quy định của Hiến pháp, những vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội Việt Nam bao gồm:

- Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;

- Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia;

- Quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước;

- Quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế

Ngoài ra, để đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, trong quá trình hoạt động của mình, Quốc hội đã bổ sung chức năng

Trang 25

25

quyết định đối với một số vấn đề quan trọng khác như:

- Quyết định quy hoạch sử đụng đất 10 năm và kế hoạch sử dụng đất đai 5 năm (theo Điều 5 Luật đất đai năm 2003);

- Quyết định về chủ trương đầu tư các dự án, công trình quan trọng quốc gia (theo Nghị quyết số 66/2006/NQ-QH ngày 29/6/2006 của Quốc hội

về dự án, công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, sau đây gọi tắt là Nghị quyết 66)

Như vậy, xét một cách chung nhất, những vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội được hiểu là những vấn đề có ảnh hưởng to lớn, trực tiếp đến đời sống và lợi ích kinh tế của Nhà nước cũng như các thành viên trong xã hội, bao gồm: kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; các vấn đề về ngân sách nhà nước; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các dự án, công trình quan trọng quốc gia

Trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi chỉ xin đề cập đến ba vấn đề

cơ bản nhất về kinh tế - xã hội thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội như sau:

- Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;

- Quyết định các vấn đề về ngân sách nhà nước;

- Quyết định dự án, công trình quan trọng quốc gia

1.1.3 Các tiêu chí để Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội

* Những vấn đề có liên quan đến ngân sách nhà nước

Có thể nói quyền quyết định ngân sách của nghị viện là một loại quyền

mang tính lịch sử: “Quốc hội là, phải là người canh giữ túi tiền của công

chúng Dù Quốc hội không còn chủ động làm luật nữa, hoặc từ bỏ phần lớn quá trình làm ngân sách, dù Tổng thống có chơi trò vỏ bọc với những khoản

Trang 26

26

tiền Quốc hội đã chuẩn chi, thì Quốc hội cũng phải mạnh mẽ thường xuyên túm lấy cẳng hành pháp để đảm bảo tiền không bị rơi vãi, để những nhà cầm quyền bất lực khỏi phung phí tiền của người dân đóng thuế vào những dự án

vô ích, và để hành pháp phải tuân theo và thực hiện luật pháp Quốc hội là đại diện duy nhất của nhân dân Đành rằng tiền của dân phải được dùng, nhưng tiền đó phải có quyền lực, xem ngành hành pháp có làm đúng nhiệm vụ của mình không” [10, tr 467] Đối với Quốc hội Việt Nam, lịch sử hình thành

và phát triển còn khá non trẻ so với lịch sử nghị viện thế giới, tuy nhiên, nguyên lý trên cũng được áp dụng triệt để Nói cách khác, Quốc hội Việt Nam không chỉ làm luật mà còn phải nắm và phân bổ túi tiền của nhà nước, như

nguyên Chủ tịch Quốc hội khóa XI Nguyễn Văn An đã phát biểu: “vấn đề cốt

yếu của nhà nước là có quản lý được đất nước không, mà cốt lõi là quản lý ngân sách” Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất, đại diện cho nhân dân sử

dụng quyền lực nhà nước để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình vì đất nước, vì nhân dân Chân lý này được khẳng định ngay từ cuộc tổng tuyển

cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước ta năm 1946 và cho đến nay, trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thì nó càng được quán triệt nghiêm ngặt, trở thành một điều kiện tất yếu bảo đảm quá trình hoạt động hiệu quả và không ngừng phát triển của Quốc hội Cũng do đó, Quốc hội là cơ quan duy nhất, không chỉ đại diện cho người dân

sử dụng quyền lực nhà nước một cách chung chung mà đi vào cụ thể trong từng lĩnh vực hoạt động, điển hình nhất là quyết định việc sử dụng ngân sách nhà nước – túi tiền nhà nước được hình thành chính từ sự đóng góp của nhân dân như thế nào? hiệu quả ra sao? Đây là một trong những tiêu chí quan trọng hàng đầu để quy định Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách nhà nước, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định các công trình, dự án quan trọng quốc gia có vốn đầu tư từ ba mươi phần trăm vốn nhà nước trở lên

Trang 27

Không phải ngẫu nhiên, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, các vấn đề về ngân sách nhà nước, các dự án, công trình quan trọng của quốc gia … lại phải thảo luận và quyết định tại Nghị trường Đây là những vấn đề lớn, tác động trực tiếp đến sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước,

do đó, tất yếu phải được Quốc hội – đại diện cho ý chí của toàn thể nhân dân xem xét, quyết định, bảo đảm tính chính xác và khả thi, cân bằng các lợi ích giữa hiện tại và tương lai, hướng tới sự phát triển bền vững Một ví dụ điển hình cho những lập luận trên đây là quy định của Quốc hội về dự án, công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội chủ trương đầu tư Điều 2 Nghị quyết số 66/2006/NQ-QH11 quy định:

“Dự án, công trình có một trong năm tiêu chí sau đây là dự án, công

trình quan trọng quốc gia:

1 Quy mô vốn đầu tư từ hai mươi nghìn tỷ đồng Việt nam trở lên đối

Trang 28

28

với dự án, công trình có sử dụng từ ba mươi phần trăm vốn nhà nước trở lên

2 Dự án, công trình có ảnh hưởng lớn đến môi trường hoặc tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, bao gồm:

a) Nhà máy điện hạt nhân;

b) Dự án đầu tư sử dụng đất có yêu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng phòng hộ đầu nguồn từ hai trăm ha trở lên; đất rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển từ năm trăm ha trở lên; đất rừng đặc dụng từ hai trăm ha trở lên, trừ đất rừng là vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên; đất rừng sản xuất

5 Dự án, công trình đòi hỏi phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cần được Quốc hội quyết định.”

Quy định này cho thấy tiêu chí để Quốc hội quyết định các dự án, công trình quan trọng quốc gia nói riêng, các vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội nói chung là tổng hoà nhiều yếu tố về lợi ích xã hội, cơ cấu kinh tế, bình ổn dân sinh, thân thiện với môi trường… trong đó lợi ích của Nhà nước với lợi ích của các thành viên trong xã hội được hướng tới mục tiêu cân bằng

Trang 29

29

1.2 Vị trí, vai trò của việc Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội

1.2.1 Khẳng định Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất,

cơ quan đại diện cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Cùng với chức năng lập pháp, giám sát thì Quốc hội được giao trọng trách quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước trên mọi lĩnh vực: kinh

tế, chính trị, dân tộc, đường lối đối nội, đối ngoại, đặc biệt là những vấn đề về kinh tế - xã hội Quốc hội là cơ quan duy nhất, nói cách khác là trong hệ thống chính trị Việt Nam thì chỉ có Quốc hội mới có đủ quyền lực để thực hiện chức năng ấy Nguồn gốc của vấn đề này xuất phát từ nguyên tắc tối cao

trong tổ chức và hoạt động của nhà nước ta: “tất cả quyền lực nhà nước thuộc

về nhân dân” (Điều 2 - Hiến pháp 1992), mà Quốc hội lại là cơ quan đại diện

cao nhất của nhân dân, được nhân dân uỷ thác để thực thi quyền lực nhà nước

Do đó, mọi vấn đề quan trọng của quốc gia có ảnh hưởng, tác động tới mỗi người dân, có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của đất nước thì đều cần phải được Quốc hội quyết định, nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và phản ánh được mối quan tâm đa dạng của cử tri trong cả nước

Thứ nhất, Quốc hội quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5

năm và hàng năm được coi là bước cụ thể hoá nhằm thực hiện từng bước các mục tiêu của Chiến lược 10 năm phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội bằng các mục tiêu, chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, nâng cao phúc lợi xã hội, xác định các cân đối lớn của nền kinh tế, xây dựng các chính sách và chương trình phát triển của nhà nước, định hướng sự phát triển của các thành phần kinh tế Trong hệ thống kế hoạch hoá phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, kế hoạch 5 năm được đặt vào vị trí trung tâm, do vậy, việc Quốc hội quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm

là yêu cầu tất yếu và có tầm quan trọng đặc biệt trong sự nghiệp phát triển nền

Trang 30

- Ban hành và thực thi một cách đồng bộ hệ thống chính sách kinh tế vĩ

mô tích cực và hiệu quả, phục vụ phát triển kinh tế –xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Có những biện pháp điều tiết hay can thiệp bổ sung một cách hợp lý, phù hợp ở những lúc, những nơi cần thiết vào hoạt động của thị trường, để hạn chế những mặt tiêu cực do cơ chế thị trường gây ra, thực hiện các công cụ điều tiết vĩ mô để điều chỉnh kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Bảo đảm thực hiện công bằng xã hội thông qua công cụ kế hoạch hóa

Dù cơ chế thị trường có hoạt động hoàn hảo đến đâu cũng không đảm bảo được công bằng cho xã hội vì cơ chế thị trường tuân theo quy luật cạnh tranh khốc liệt Điều đó tất yếu dẫn đến bất bình đẳng trong xã hội Kế hoạch hóa chính là một công cụ hữu hiệu để nhà nước giảm thiểu sự bất bình đẳng bằng việc tác động đến phân phối thu nhập thông qua các chương trình, dự án của nhà nước

Thứ hai, Quốc hội quyết định các vấn đề về ngân sách nhà nước, bao

gồm: quyết định dự toán ngân sách nhà nước, quyết định phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước, quyết định điều chỉnh

dự toán ngân sách nhà nước Từ thực tiễn hoạt động của Quốc hội cho thấy,

“chỉ có phát huy vai trò của Quốc hội trong lĩnh vực ngân sách nhà nước thì

mới nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của quản lý ngân sách nói riêng và

Trang 31

31

quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung” [14, tr 101] Có thể nói

quyết định những vấn đề về ngân sách nhà nước là một nhiệm vụ phức tạp của Quốc hội, vừa mang tính cụ thể, vừa thể hiện vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thực hiện có chất lượng nhiệm vụ này không chỉ khẳng định vị thế của Quốc hội mà quan trọng hơn là củng cố lòng tin của nhân dân khi giao

cho Quốc hội trọng trách “thay mặt cử tri cả nước chịu trách nhiệm trực tiếp

xem xét, đánh giá phê chuẩn những đồng tiền đã thu của dân, đã chi dùng cho dân, cho nước không chỉ vì hôm nay mà còn vì tương lai, vì sự phát triển lâu dài bền vững, trường tồn của quốc gia, dân tộc”

Thứ ba, Quốc hội quyết định những dự án, công trình quan trọng quốc

gia Đây là một nội dung mới so với quy định của Hiến pháp, được Quốc hội chủ động xem xét, quyết định nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu của tiến trình đổi mới đất nước Quốc hội đã quy định cụ thể các tiêu chí để xác định dự án, công trình quan trọng quốc gia cần được trình Quốc hội chủ trương đầu tư

Như vậy, quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quyết định những vấn đề về ngân sách nhà nước và các dự án, công trình trọng điểm quốc gia là những vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước và bảo đảm quyền, lợi ích và cơ hội phát triển cho mỗi thành viên trong xã hội Tuy nhiên, từ tầm quan trọng của nó lại đặt ra những yêu cầu và đòi hỏi về chủ thể thực hiện Quy định của Hiến pháp trao trọng trách này cho Quốc hội chính là việc thừa nhận Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, được thay mặt nhân dân thực thi quyền lực nhà nước tối cao Nói cách khác, chức năng quyết định những vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội của Quốc hội cho chúng ta một cái nhìn toàn diện hơn và hình

ảnh Quốc hội trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam: “vừa

mang tư cách nhân dân, vừa có tư cách Nhà nước: Thứ nhất, đối với nhà nước nó là nhân dân được thu nhỏ Thứ hai, với nhân dân nó là Nhà nước

Trang 32

32

nhưng là Nhà nước được mở rộng” [12, tr 14]

1.2.2 Là định hướng cơ bản để Chính phủ chỉ đạo, điều hành, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về lĩnh vực kinh tế - xã hội bằng việc ban hành Nghị quyết, phản ánh những quyết sách quan trọng, những định hướng, mục tiêu, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mà không đi sâu vào công tác điều hành của Chính phủ, không hạn chế tính linh hoạt trong điều kiện vận hành của nền kinh tế thị trường Các Nghị quyết này không có điều, khoản, điểm như các quy phạm pháp luật, nhưng có các nội dung định lượng là các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu và các nội dung định tính là các nhiệm vụ, giải pháp … chính là cơ sở pháp lý quan trọng để Chính phủ triển khai thực hiện các nhiệm vụ trên từng lĩnh vực, trong từng năm và từng giai đoạn

Điều 109 Hiến pháp 1992 quy định: “Chính phủ là cơ quan chấp hành

của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, cho thấy Chính phủ là cơ quan chịu trách nhiệm

triển khai trên thực tế các Nghị quyết của Quốc hội và báo cáo kết quả trước Quốc hội

Sau khi Quốc hội thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội 5 năm Chính phủ sẽ đề ra Chương trình hành động cụ thể và triển khai các mục tiêu và định hướng trong Nghị quyết bằng các Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hôi hàng năm và các chương trình mục tiêu quốc gia Đồng thời chính phủ chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều hành các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng chương trình hành động của Bộ, ngành, địa phương mình và

cụ thể hoá thành các nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm

Trang 33

33

Nghị quyết của Quốc hội về dự án, công trình quan trọng quốc gia ghi

rõ các nội dung về quy mô; tổng mức đầu tư; công nghệ chính; địa điểm; thời gian, tiến độ thực hiện; cơ chế, chính sách đặc biệt được áp dụng (nếu có) là căn cứ để Chính phủ triển khai thực hiện Hàng năm hoặc khi Quốc hội có yêu cầu, Chính phủ báo cáo với Quốc hội về tình hình thực hiện dự án, công trình quan trọng quốc gia Khi có thay đổi mục tiêu, phát sinh tăng vốn đầu tư trên mười phần trăm, kéo dài thời gian thực hiện dự án, công trình quan trọng quốc gia, Chính phủ báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất để xem xét, quyết định

1.2.3 Là cơ sở quan trọng để Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao

Cùng với việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế

- xã hội, Quốc hội có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy

sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước Tuy nhiên, hiệu lực và hiệu quả hoạt động trong lĩnh vực này của Quốc hội còn phụ thuộc rất lớn vào quá trình thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội Để theo dõi được quá trình này, thì Quốc hội phải thực hiện đầy đủ và toàn diện chức năng giám sát tối cao của mình đối với hoạt động của Chính phủ hay cụ thể là của các Bộ, ngành, địa phương, cơ sở trong việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm và hàng năm, các vấn đề về ngân sách nhà nước và các dự án, công trình quan trọng quốc gia

Chủ thể thực hiện giám sát tình hình thực hiện nghị quyết của Quốc hội

về nhiệm vụ kinh tế - xã hội và các nghị quyết về ngân sách nhà nước, các dự

án, công trình quan trọng quốc gia là Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội và Đại biểu Quốc hội

- Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc tuân theo Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội Ở đây, Quốc hội tập trung giám sát

Trang 34

34

việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và Nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước; Nghị quyết phân bổ ngân sách trung ương và các Nghị quyết khác trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách Quốc hội thự chiện chức năng giám sát thông qua kỳ họp Quốc hội trên cơ sở xem xét, đánh giá các báo cáo về tình hình thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách nhà nước

- Ủy ban thường vụ Quốc hội giám sát việc thi hành Hiến pháp, nghị quyết của Quốc hội, trong đó có Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế -

xã hội và các Nghị quyết về ngân sách nhà nước Ủy ban thường vụ Quốc hội

ra Nghị quyết về tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương trong năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách

- Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội thực hiện quyền giám sát theo nhiệm vụ, quyền hạn của mình và theo sự phân công của Quốc hội và

Ủy ban thường vụ Quốc hội

- Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ trong quá trình thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và các nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách trung ương, việc chấp hành các quy định của pháp luật về thu và chi ngân sách nhà nước

Như vậy, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước về kinh tế - xã hội, trước hết và chủ yếu là bám sát vào các nội dung đã được Quốc hội xem xét và quyết định Thông qua đó, không chỉ đánh giá đúng thực tiễn và tình hình chấp hành của Chính phủ, mà quan trọng hơn là Quốc hội kịp thời khắc phục được những quyết định chưa hợp lý, sửa đổi, bổ sung các quyết định phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước và đáp ứng được đòi hỏi hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 35

35

Tiểu kết Chương 1

Cùng với việc phát huy chức năng lập pháp, giám sát tối cao và chức năng đại diện thì trong những năm qua, việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước nói chung, các vấn đề về kinh tế - xã hội nói riêng được Quốc hội ngày càng quan tâm và chú trọng hơn Nội dung các vấn đề về kinh tế - xã hội tương đối đa dạng, được quy định cụ thể trong Hiến pháp 1992 và một số văn bản pháp luật như Luật tổ chức Quốc hội, Luật đất đai, Nghị quyết số Nghị quyết số 66/2006/NQ-QH ngày 29/6/2006 của Quốc hội về dự án, công trình quan trọng quốc gia trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư…, trong đó, luận văn đi sâu phân tích ba nội dung chính là: việc quyết định kế hạch kinh tế - xã hội của đất nước (5 năm và hàng năm); quyết định các vấn

đề về ngân sách nhà nước (dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước) và quyết định các dự

án, công trình quan trọng quốc gia

Thông qua hoạt động quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội, vị trí, vai trò của Quốc hội ngày càng được tăng cường, tương xứng với tính chất là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại diện cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Với những cố gắng đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các khoá Quốc hội gần đây, Nghị quyết của Quốc hôị về các vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng đã tở thành định hướng cơ bản để Chính phủ chỉ đạo, điều hành, phát triển kinh tế - xã hội đất nước; mặt khác lại chính là cơ sở để Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Từ những phân tích này, luận văn đã nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường hơn nữa, pháp huy hơn nữa hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về kinh tế - xã hội, gắn liền với bối cảnh đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 36

36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI TRONG VIỆC QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG CỦA

ĐẤT NƯỚC VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI 2.1 Các chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước quy định việc Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước về kinh

tế - xã hội

Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước nói chung, các vấn đề về kinh tế - xã hội nói riêng chính là sự thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ phát triển đất nước

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ năm 1991 khẳng

định: “Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư

pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó” Trong điều kiện xây dựng

nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, quan điểm này đã được phát triển và hoàn thiện hơn Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng

lần thứ VIII và lần thứ IX đều khẳng định: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu

để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân,

do dân, vì dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp…” [3, tr 48] Như vậy, Quốc hội đặt trong mối quan hệ

với các cơ quan hành pháp, tư pháp vừa có sự phân công rành mạch về nhiệm

vụ, quyền hạn, lại vừa có sự thống nhất về thực thi quyền lực nhà nước của dân, do dân, vì dân Mối quan hệ đa chiều này cho thấy, để xây dựng một Nhà nước mạnh đòi hỏi các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp phải được hoàn thiện về tổ chức và đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động Với ý nghĩa đó,

Nghị quyết của Đại hội Đảng IX nhấn mạnh: “phải kiện toàn tổ chức, đổi mới

Trang 37

37

phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội Quốc hội làm tốt chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, quyết định và phân bổ ngân sách nhà nước, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn

bộ hoạt động của Nhà nước” [3, tr 146] Chủ trương của Đảng nhanh chóng

trở thành định hướng tổ chức và hoạt động của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XI với nhiều đổi mới căn bản hơn

Tổng kết kinh nghiệm từ thực tiễn triển khai Nghị quyết đại hội Đảng

IX, đồng thời phân tích cụ thể những thời cơ cũng như thách thức trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, Đại hội Đảng toàn quốc

lần thứ X tiếp tục khẳng định rõ: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và

tư pháp… Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội Hoàn thiện cơ chế bầu cử nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội; tăng hợp lý số lượng đại biểu chuyên trách, phát huy tốt hơn vai trò của đại biểu và đoàn đại biểu Quốc hội Tổ chức lại một số Uỷ ban của Quốc hội; nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội Đổi mới hơn nữa quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh Thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và chức năng giám sát tối cao” [3] Như vậy, trong công cuộc chung về đổi mới tổ

chức và hoạt động của Quốc hội thì nhiệm vụ quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, trong đó có việc quyết định các vấn đề kinh tế - xã hội được chú trọng

Thể chế hoá chính sách của Đảng, về cơ bản, các vấn đề quan trọng của đất nước thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội đều được quy định tại Hiến pháp và các luật Từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 1992 đều

Trang 38

và Nghị quyết khác như: Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nghị quyết số 07/2002/QH11 ban hành Nội quy kỳ họp Quốc hội, Nghị quyết số 26/2004/QH11 ban hành Quy chế hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Nghị quyết số 27/2004/QH11 ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Nghị quyết số 08/2002/QH11 ban hành Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội,

Trên cơ sở những nguyên tắc chung, đối với mỗi quyền quyết định của Quốc hội lại được thể chế hóa thành những quy định pháp lý riêng

2.1.1 Quy định về việc Quốc hội quyết định kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội 5 năm và hàng năm

Nghị quyết Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh: “Xây dựng Kế hoạch 5

năm trở thành công cụ chủ yếu của hệ thống kế hoạch hoá phát triển” Tiếp

theo đó , Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã yêu cầu : “Phân

đi ̣nh rõ chức năng, mối quan hê ̣ giữa Quốc hội , Chính phủ và các bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong quản lý nhà nước về kinh tế và xã hội” [4, tr 80] Như vậy, để điều tiết nền kinh tế - xã hội trong cơ chế

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước ta sử dụng công cụ kế hoạch hóa là chủ yếu

Đối với Quốc hội, thẩm quyền quyền quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm được quy định tại khoản 3 Điều 84 Hiến pháp năm 1992, khoản 2 Điều 2 Luật tổ chức Quốc hội Tuy nhiên, ngoài quy

Trang 39

khi cần thiết cũng dưới hình thức nghi ̣ quyết

Việc Quốc hội quyết định Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm

là bước cụ thể hoá, thực hiện từng bước các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm và Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội bằng các mục tiêu, chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, nâng cao phúc lợi xã hội trong thời kỳ 5 năm, xác định các cân đối lớn của nền kinh tế, xây dựng các chính sách và chương trình phát triển của nhà nước và khuyến khích, định hướng sự phát triển của các thành phần kinh tế Thực hiện tốt Kế hoạch 5 năm có ý nghĩa quan trọng đối với sự thành công của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm Kế hoạch 5 năm về nguyên tắc trùng với nhiệm kỳ của cơ quan Đảng, Quốc hội và Chính phủ Đồng thời cũng là khoảng thời gian đủ để có thể nhận ra những chuyển biến, thay đổi về kinh tế, xã hội của đất nước

Trên cơ sở Kế hoạch 5 năm, các Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

và dự toán ngân sách nhà nước hàng năm được cụ thể hóa để thực hiện Các mục tiêu, chỉ tiêu của Kế hoạch 5 năm sẽ được phân chia thành nhiệm

vụ cụ thể của từng năm và phân bổ nguồn lực để thực hiện

2.1.2 Quy định về việc Quốc hội quyết định các vấn đề về ngân sách nhà nước

Trong lĩnh vực tài chính, ngân sách, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội

Trang 40

40

được quy định chung tại Khoản 4 Điều 84 Hiến pháp năm 1992 Theo đó, Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; đôí với mỗi vấn đề lại được

cụ thể hóa bằng các văn bản pháp luật có liên quan

Ngay từ Hiến pháp năm 1946 cho đến Hiến pháp 1992 cũng như các văn bản pháp luật có liên quan của nước ta đều khẳng định vị trí, vai trò và thẩm quyền của Quốc hội trong việc quyết định các vấn đề về ngân sách nhà nước Trên cơ sở đó, ngày 20/3/1996, tại kỳ họp thứ 9, quốc hội khóa IX đã thông qua Luật ngân sách nhà nước có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 1997 Ngày 20/5/1998, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ngân sách nhà nước

Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 đã sửa đổi nhiệm vụ

và quyền hạn của Quốc hội trong việc “quyết định phân bổ ngân sách nhà

nước” thành “quyết định phân bổ ngân sách trung ương” Trong điều kiện

hiện nay, khi Quốc hội chưa có các điều kiện để phân tích, tính toán một cách khoa học các dòng, mục ngân sách thì việc quyết định phân bổ ngân sách nhà nước là một điều khoản ít có tính khả thi Việc sửa đổi này là nhằm bảo đảm cho Quốc hội làm tốt nhiệm vụ phân bổ ngân sách hàng năm cho các lĩnh vực, các bộ, ngành và mức bổ sung ngân sách trung ương cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và tạo quyền chủ động cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong việc quyết định phân bổ ngân sách của địa phương mình một cách chủ động và thực chất hơn Đồng thời, việc sửa đổi này còn góp phần thực hiện

chủ trương “phân cấp mạnh đi đôi với tăng cường trách nhiệm của chính

quyền địa phương trong việc thu và chi ngân sách địa phương” đã được Đại

hội Đảng lần thứ IX xác định Phù hợp với các quy định mới của Hiến pháp, ngày 16/12/2002, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật ngân sách nhà nước (mới) thay thế Luật ngân sách nhà nước năm 1996 và Luật

Ngày đăng: 26/09/2020, 00:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w