Trong thời đại toàn cầu hóa, cạnh tranh và hội nhập với những ưu thế đặc biệt của khoa học – công nghệ nói chung và CNTT nói riêng hiện nay để có được một nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
Trang 23 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4 Giả thuyết khoa học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
6 Phạm vi nghiên cứu
7 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại các Trung tâm GDTX
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Ở nước ngoài
1.1.1.1 Ở các nước phương tây
1.1.1.2 Các nước Đông Nam Á
1.1.1.3 Nghiên cứu UNESCO
1.1.2 Ở trong nước
1.2 Các khái niệm cơ bản:
1.2.1 Quản lý
1.2.2 Quản lý giáo dục
1.2.3 Giáo dục hướng nghiệp
1.2.3.1 Khái niệm giáo dục hướng nghiệp
1.2.3.2 Các thành phần của hoạt động GDHN
1.2.3.3 Các nhiệm vụ của hoạt động GDHN trong trường phổ thông
1.2.3.4 Các hình thức tổ chức hoạt động GDHN cho học sinh bao gồm: 1.3 Những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động GDHN cho học sinh tại
Trang 3TTGDTX
1.3.1 Trung tâm GDTX và yêu cầu GDHN cho học viên
1.3.1.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của TTGDTX
1.3.1.2 Đặc điểm học viên BTTHPT
1.3.1.3 Yêu cầu về GDHN cho học viên BTTHPT
1.3.2 Trung tâm GDTX với công tác GDHN cho HS BTTHPT
2.2 Quá trình phát triển của TTGDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên
2.2.1 Sự hình thành và phát triển của trung tâm qua các thời kỳ
2.2.2 Các kết quả giáo dục của TTGDTX Phố Nối
2.2.2.1 Quy mô phát triển HV BTTHPT, tin học, ngoại ngữ, nghề phổ thông
2.2.2.2 Chất lượng giáo dục của học viên
2.3 Giới thiệu chung về khảo sát thực trạng quản lý hoạt động GDHN cho HV tại TTGDTX Phố Nối
2.3.1 Mục đích, nội dung khảo sát thực trạng quản lý hoạt động GDHN tại TT GDTX Phố Nối
2.3.1.1 Mục đích
2.3.1.2 Chọn mẫu khách thể, địa bàn và thời gian khảo sát thực trạng
2.3.1.3 Nội dung khảo sát
2.4 Kết quả khảo sát cho HV tại TTGDTX Phố Nối
2.4.1 Thực trạng phân luồng HV tại TTGDTX Phố Nối
2.4.2 Nhận thức về GDHN tại TTGDTX Phố Nối
2.4.3 Nhận thức về nghề và những yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn nghề của HV
Trang 42.4.4 Thực trạng triển khai các hình thức GDHN tại TTGDTX Phố Nối 2.4.4.1 Những quy định về hoạt động GDHN
2.4.4.2 Thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy thực hiện hoạt động GDHN 2.4.5 Quản lý hoạt động GDHN tại TTGDTX
2.4.6 Các điều kiện, phương tiện phục vụ hoạt động GDHN
3.1.6 Hiệu quả và khả thi
3.2 Những vấn đề quan tâm khi đề xuất các biện pháp
3.2.1 Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về GD
ĐT
3.2.2 Chỉ đạo của Bộ GDĐT về GDHN
3.2.3 Định hướng phát triển GDĐT và phát triển nhân lực của địa phương
3.2.4 Xu hướng kết hợp nội dung giáo dục phổ thông với nội dung giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp
3.2.5 Chương trình giáo dục cho HV tại TTGDTX Phố Nối
3.2.6 Xu hướng phân luồng học sinh sau THCS và THPT
3.3 Một số biện pháp tổ chức GDHN cho học sinh tại TTGDTX Phố
Trang 5Nối, tỉnh Hưng Yên theo định hướng phát triển nhân lực
3.3.1 Xây dựng cơ cấu tổ chức hoạt động GDHN cho HV tại TTGDTX Phố Nối 3.3.2 Tuyên truyền nâng cao nhận thức về hoạt động GDHN cho các lực lượng giáo dục trong và ngoài TT
3.3.3 Nâng cao hiệu quả thực hiện các chức năng quản lý hoạt động GDHN của Giám đốc TTGDTX
3.3.4 Xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL, GV, nhân viên với hoạt động GDHN
3.3.5 Đổi mới nội dung, phương thức GDHN phù hợp với đặc điểm của
3.3.8 Mối quan hệ giữa các biện pháp
3.4 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
2.2 Đối với UBND tỉnh và Sở GDDT Hưng Yên
2.3 Đối với TTGDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên
2.4 Đối với đội ngũ GV của TTGDTX
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trung tâm giáo dục thường xuyên TTGDTX
Trung tâm kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp TT KTTH - HN
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1-1: Sơ đồ các chức năng trong chu trình quản lý
Sơ đồ 1-2: Sơ đồ tam giác hướng nghiệp của K.K.Platônôp
Bảng
Bảng 2.1: Quy mô phát triển học viên của trung tâm
Bảng 2.2: Kết quả xếp loại hạnh kiểm và học lực của HV BTTHPT
Bảng 2.3: Kết quả thi tốt nghiệp THPT của HV trong 3 năm gần đây
Bảng 2.4: Thống kê GDPT huyện Yên Mỹ ( Năm học 2009 – 2012)
Bảng 2.5: Các nhân tố ảnh hưởng đến việc chọn nghề của HV
Bảng 2.6: Số lượng CBQL và GV của TTGDTX Phố Nối
Bảng 2.7: Tình hình đội ngũ cán bộ quản lí
Bảng 2.8: Số giáo viên từng môn của trung tâm
Bảng 2.9: Tình hình cơ sở vật chất của TTGDTX Phố Nối
Bảng 3.1: Kết quả trưng cầu ý kiến các biện pháp
Trang 8Mở đầu
I Lý do chọn đề tài
Thế giới đang có những thay đổi sâu sắc về mọi mặt Giáo dục thế giới đang xuất hiện những xu thế lớn và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến giáo dục Việt Nam: (1) Giáo dục mang tính đại chúng mạnh mẽ; (2) tăng cường tính nhân văn trong giáo dục; (3) giáo dục thế kỷ 21 là một nền “giáo dục suốt đời”; (4) Giáo dục được coi là sự nghiệp quốc gia hàng đầu, phát triển mạnh mẽ xã hội hóa giáo dục, thu hẹp bất bình đẳng trong giáo dục; (5) Chất lượng giáo dục hướng vào “phát triển người”, phát triển nguồn nhân lực, hình thành những năng lực cơ bản mà xã hội đòi hỏi phải có; (6) Sứ mạng mới của người thầy thay đổi căn bản, quan hệ mới giữa dạy và học đang xuất hiện Quá trình dạy học được coi là quá trình dạy – tự học; (7) Yêu cầu đổi mới mạnh mẽ QLGD đòi hỏi một văn hóa điều hành, văn hóa tự quản, tự chịu trách nhiệm, văn hóa đánh giá; (8) Xu hướng áp dụng rộng rãi và sáng tạo CNTT tạo ra sự đổi mới giáo dục hiệu quả
Trong thời đại toàn cầu hóa, cạnh tranh và hội nhập với những ưu thế đặc biệt của khoa học – công nghệ nói chung và CNTT nói riêng hiện nay để có được một nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự phát triển, nhất thiết phải làm tốt công tác GDHN, phân luồng HS phổ thông, đồng thời, nghiên cứu để đưa giáo dục nghề nghiệp vào trong nhà trường, giúp HS có được những “tiền đề nghề nghiệp” ban đầu, trong đó, cần quan tâm đến đối tượng HS theo các hệ đào tạo không chính quy, có những khó khăn nhất định trên con đường học vấn
GDHN cho HS là một hoạt động được hầu hết các nước trên thế giới quan tâm Mặc dù nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau nhưng xu thế chung của các nước đều coi việc giáo dục nghề nghiệp bao gồm cả giai đoạn “Tiền nghề nghiệp” ở phổ thông Hiện nay một số nước đã nghiên cứu đưa chương trình giáo dục nghề nghiệp triển khai song song với chương trình giáo dục phổ thông để góp phần phân luồng HS, kết hợp việc học nghề ngay trong quá trình học phổ
Trang 9thông sau khi đã thực hiện phân loại học sinh và định hướng cho các em lựa chọn nghề nghiệp
Đối với nước ta, nhiều công trình khoa học đã khẳng định: GDHN cho
HS thông qua các hoạt động lao động nghề nghiệp là rất cần thiết trong việc giúp cho các em làm quen với lao động, có hứng thú nghề nghiệp và những kỹ năng ban đầu đối với nghề mà các em được học Giáo dục và đào tạo cần quan tâm đến việc hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để tự tìm ra việc làm ngay khi rời ghế nhà trường
Những năm vừa qua, GDHN đã được nhà nước quan tâm và đã đạt được những kết quả ban đầu Đối tượng GDHN chủ yếu tập chung vào HS trong các
cơ sở giáo dục phổ thông chính quy, được giáo dục khá toàn diện với sự kết hợp hài hòa của một tổng thể các môn học Trong chương trình đó, nội dung hoạt động GDHN được phân bổ và tích hợp trong cả chương trình chính khóa và các hoạt động ngoại khóa, tạo cơ hội để HS có được các định hướng nghề nghiệp phù hợp với năng lực, sở trường và các yêu cầu về nhân lực của xã hội Do những lý do khác nhau, do đối tượng HS có những đặc điểm riêng về điều kiện
và môi trường học tập nên hoạt động GDHN chưa được triển khai một cách nề nếp đối với đối tượng HS trong các trung tâm GDTX
Khi vấn đề GDTX, học tập suốt đời đã trở thành xu thế nên GDHN cho
HS cần thiết phải được gắn với quan điểm xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để tất cả mọi người ở các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau đều “được học”
và có thể “ học được”, thì rất cần định hướng HS bổ túc văn hóa vào ngành nghề theo các nhu cầu xã hội và đặc điểm tâm sinh lý HS Vì vậy, cần phải đặt
ra vấn đề tổ chức tốt công tác GDHN cho HS ở các trung tâm GDTX Ngày 19/3/1981 Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định 126/CP về Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý HS các cấp PTCS và PTTH tốt nghiệp ra trường Ngày 17/11/1981, Bộ Giáo dục đã ra Thông tư số 31/TT hướng dẫn các cơ quan, trường học trong ngành thực hiện Sau đó, ngày
Trang 1027/4/1982 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Thông tư số 48/BT quy định rõ nhiệm vụ của các ngành, các cấp và Bộ Giáo dục trong việc thực hiện quyết định 126/CP Văn kiện Đại hội Đảng IX, Nghị quyết 40/2000/QH10, Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, Chỉ thị 33/2003/CT-BGD&ĐT và Luật Giáo dục năm 2005 đều nhấn mạnh đến yêu cầu tăng cường GDHN nhằm góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc phân luồng HS, chuẩn bị cho HS đi vào cuộc sống lao động hoặc tiếp tục đào tạo phù hợp với năng lực bản thân và nhu cầu về nhân lực của xã hội
Cùng với sự phát triển chung của cả nước, Hưng Yên phấn đấu đến năm
2015 cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp Hưng Yên là một tỉnh tuy nhỏ nhưng có nhiều các khu công nghiệp, cụm công nghiệp mới hình thành đang cần rất nhiều nhân lực đặc biệt là lao động kỹ thuật Song, nguồn nhân lực của tỉnh chưa đáp ứng cho tiến trình CNH - HĐH Nhiều lao động chưa qua đào tạo, còn thiếu trầm trọng lao động có chuyên môn kỹ thuật trình độ cao Trong khi
đó, HS phổ thông ở Hưng Yên hầu như chưa quan tâm đến nhu cầu lao động của địa phương Vì vậy, để định hướng nghề nghiệp cho HS tại các Trung tâm GDTX trong đó có Trung tâm GDTX Phố Nối phù hợp với nhu cầu lao động với nhu cầu lao động của toàn xã hội và của tỉnh Hưng Yên là việc làm rất quan trọng và cần thiết
Trung tâm GDTX Phố Nối tiền thân là Trung tâm GDTX Yên Mỹ Ngày 14/11/2006 trung tâm đã được UBND tỉnh phê duyệt và công nhận là trung tâm GDTX cấp tỉnh trực thuộc Sở GDĐT Trường Trung tâm GDTX Phố Nối nằm
ở trên địa phận xã Nghĩa Hiệp, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, giữa Trung tâm thương mại Phố Nối Trung tâm thuộc vùng trọng điểm kinh tế về giao thông phát triển rất thuận lợi là một khu vực phát triển nên đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao Do vậy mà sự quan tâm đầu tư của nhân dân cho con em được chú trọng Nằm trong khu công nghiệp, hằng năm Trung tâm GDTX Phố Nối thu hút khoảng 2.000 cán bộ công nhân trong vùng theo học với đầy đủ các ngành đào tạo
Trang 11Thực tế Trung tâm GDTX Phố Nối thực hiện công tác GDHN đã đạt được những kết quả bước đầu đáng được ghi nhận, song số lượng HS được hướng nghiệp còn nhiều hạn chế, chưa phát huy được vai trò trong việc phân luồng HS để đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cho tỉnh Có nguyên nhân khách quan do đây là lĩnh vực mới, phức tạp, song cũng có nguyên nhân chủ quan thuộc về công tác quản lý, trong đó các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục ở tỉnh chưa nhận thức đầy đủ về vấn đề GDHN, nên chưa thực sự quan tâm chỉ đạo Việc tổ chức GDHN chưa thực hiện đồng bộ trên địa bàn toàn tỉnh Trung tâm GDTX Phố Nối mới được thành lập nên công tác GDHN chưa có kinh nghiệm, cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu, kinh phí hoạt động hạn hẹp Chất lượng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán
bộ, giáo viên làm công tác HN còn nhiều hạn chế
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt
động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên” làm Luận văn với hy vọng đóng góp một phần rất nhỏ vào việc phát
triển nguồn nhân lực của tỉnh Hưng Yên
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên góp phần vào sự phát triển nguồn nhân lực của tỉnh
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động GDHN cho HS tại Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng
Yên
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên
Trang 124 Giả thuyết khoa học
Học sinh ở Trung tâm GDTX có những đặc điểm khác với HS THPT,
có nhu cầu lớn về tư vấn và chuẩn bị kỹ năng nghề nghiệp để có thể tạo được việc làm phù hợp hoặc tiếp tục học tập sau khi ra trường Hiện nay, GDHN cho đối tượng này vẫn chưa được sự quan tâm đúng mức của ngành GTĐT
Nếu đề xuất được các biện pháp tổ chức hoạt động GDHN phù hợp cho đối tượng HS này ở Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên thì nhận thức về nghề nghiệp của HS sẽ được nâng lên, các em lựa chọn được nghề phù hợp với bản thân, phù hợp với nhu cầu của địa phương và của xã hội; đồng thời có thể góp phần tích cực vào việc phân luồng HS sau khi tốt nghiệp THPT
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên các vấn đề lý luận về tổ chức hoạt động GDHN cho HS tại Trung tâm GDTX
5.2 Khảo sát và đánh giá hiện trạng tổ chức hoạt động GDHN tại Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên
5.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HS tại Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên Thử nghiệm các giải pháp đã đề xuất
6 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu công tác quản lý dưới góc độ quản lý hành chính nhà nước
về công tác GDHN cho HS tại Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên từ năm 2009 đến nay và đề ra các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp giai đoạn 2012 - 2020
7 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Cơ sở phương pháp luận cơ bản
7.1.1 Tiếp cận hệ thống
Trang 13Luận văn coi hoạt động GDHN là một hoạt động giáo dục của Trung tâm GDTX Phố Nối, vì vậy, việc tổ chức các hoạt động GDHN phải đặt trong một
hệ thống, gắn liền với việc xác định mục tiêu, nội dung, xây dựng chương trình, tài liệu, đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Các yếu tố này phải đáp ứng yêu cầu của định hướng phát triển nhân lực, phù hợp với đặc điểm của đối tượng được giáo dục và các điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ phục vụ cho công tác này
Tổ chức hoạt động GDHN trong Trung tâm GDTX Phố Nối bao gồm nhiều thành tố với những chức năng khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau trong một chỉnh thể thống nhất, được lồng ghép với giáo dục các bộ môn văn hóa và các hoạt động giáo dục khác, hướng tới mục tiêu giáo dục toàn diện
HS
7.1.2 Tiếp cận phức hợp
Tiếp cận phức hợp trong quá trình nghiên cứu được thể hiện ở việc áp dụng các lý thuyết ở nhiều ngành khoa học vào nghiên cứu một vấn đề khoa học Luận văn dựa vào nhiều lý thuyết khác nhau như Tâm lý học, Giáo dục học, Điều khiển học, Khoa học quản lý giáo dục, Lý thuyết phát triển nhân lực…, làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động GDHN phù hợp cho HS tại Trung tâm GDTX Phố Nối
7.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá các nguồn tài liệu lý luận, các văn bản và các công trình nghiên cứu về GDHN, QLGD bao gồm:
- Các tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, các văn kiện của Đảng, Nhà nước, Tư tưởng Hồ Chí Minh
- Các tác phẩm và các công trình nghiên cứu về tâm lý học, giáo dục học, khoa học quản lý giáo dục,… trong và ngoài nước có liên quan tới đề tài luận văn
Trang 14- Các công trình nghiên cứu khoa học QLGD của các nhà lý luận, các nhà QLGD, các nhà giáo… có liên quan đến đề tài như các luận án, các báo cáo khoa học, các chuyên khảo, các bài báo, tạp chí
Các tài liệu trên được phân tích, nhận xét, đánh giá và lựa chọn hợp lý, trực tiếp phục vụ cho việc giải quyết các nhiệm vụ của đề tài
7.2.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra viết bằng phiếu trưng cầu ý kiến
+ Tiến hành điều tra thống kê để nắm được thực trạng chất lượng đầu vào, số lượng, chất lượng, tỉ lệ phân luồng HS THPT sau khi tốt nghiệp tại Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên
+ Tiến hành điều tra bằng anket để khảo sát nhận thức về tầm quan trọng
và mục tiêu của hoạt động GDHN, các điều kiện và tình hình tổ chức hoạt động này tại Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên
Các khách thể được điều tra, khảo sát là GV, CBQL các Trung tâm GDTX các cơ quan QLGD thường xuyên bao gồm: Ngành GDĐT và chính quyền địa phương; các cơ sở đào tạo và tuyển dụng HS trung học phổ thông sau khi tốt nghiệp tại Trung tâm GDTX, cha mẹ HS và HS đã và đang học tập tại Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên
Kết quả điều tra, khảo sát được phân tích, so sánh, khái quát để tìm ra những thông tin cần thiết theo hướng nghiên cứu của luận án
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
+ Nghiên cứu hồ sơ quản lý, văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện hoạt động GDHN của các cấp quản lý giáo dục đối với đối tượng HS tại Trung tâm GDTX
+ Nghiên cứu các kế hoạch, quyết định, báo cáo của Sở GDĐT, Giám đốc Trung tâm GDTXPhố Nối, tỉnh Hưng Yên liên quan đến hoạt động GDHN cho HS
Trang 15+ Nghiên cứu, phân tích sự thay đổi về định hướng chọn nghề của học sinh Trung tâm GDTX sau khi thử nghiệm một số biện pháp
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tiến hành nghiên cứu, tiếp thu các kinh nghiệm tổ chức hoạt động GDHN cho HS THPT hệ chính quy; đúc rút kinh nghiệm vận dụng vào việc GDHN cho
HS tại Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên
- Phương pháp chuyên gia
Hỏi ý kiến chuyên gia bằng các phiếu hỏi, trao đổi hoặc xin ý kiến đóng góp, bao gồm :
- Các chuyên gia nghiên cứu về QLGD và GDHN;
- Các chuyên gia về giáo dục học, tâm lý học, QLGD,
- Các nhà QLGD, quản lý về lĩnh vực dạy nghề, tuyển dụng lao động;
- Các cán bộ lãnh đạo chính quyền địa phương;
Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu, từ khâu xây dựng đề cương, góp ý bộ công cụ điều tra, góp ý vào nhận định đánh giá thực trạng, việc đề xuất các biện pháp, tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp
- Phương pháp phỏng vấn, phỏng vấn sâu
Tiến hành phỏng vấn các chuyên gia, GV tại Trung tâm GDTX, cán bộ quản lý ở các trung tâm GDTX để tìm hiểu đánh giá của họ về thực tế tình hình hoạt động GDHN cho HS tại Trung tâm GDTX hiện nay nhằm thu thập những thông tin cần thiết bổ sung cho phương pháp điều tra khảo sát
7.2.3 Nhóm các phương pháp xử lý thông tin
Sử dụng thống kê toán học để xử lý các kết quả nghiên cứu về định lượng (lập bảng phân phối tần số, tính điểm trung bình cộng) và định tính
Trang 16Sử dụng sự trợ giúp của phần mềm máy tính (SPSS), Microsoft Excel để thống kê các số liệu điều tra, thu thập để phân tích vấn đề theo nhiều khía cạnh khác nhau; sử dụng các sơ đồ, đồ thị để minh hoạ
7.2.4 Phương pháp thử nghiệm
Thử nghiệm một số biện pháp do luận án đề xuất, qua đó, khẳng định tính khả thi của các biện pháp đã nêu Tiến trình thử nghiệm bao gồm: xác định mục đích, nội dung thử nghiệm, nghiệm thể, công việc và thời gian thử nghiệm, các tiêu chí đánh giá, cách tiến hành, thu thập và phân tích kết quả thử nghiệm.
8 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDHN cho HS
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động GDHN cho HS tại Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động GDHN cho HS tại Trung tâm GDTX Phố Nối, tỉnh Hưng Yên
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC
THƯỜNG XUYÊN PHỐ NỐI, TỈNH HƯNG YÊN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hoạt động giáo dục hướng nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển GDĐT, chuẩn bị đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế xã hội Vì vậy, vấn đề này đã và đang được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau:
Trang 171.1.1 Ở nước ngoài
Vấn đề GDHN đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ những năm giữa thế kỷ XIX
1.1.1.1 Ở các nước phương Tây:
- Năm 1848, cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề” xuất hiện ở Pháp đã
đề cập tới xu thế phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển của công nghiệp tạo nên và việc nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựa chọn nghề nghiệp Cuốn sách cũng đã khẳng định tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh thiếu niên, HS đi vào thế giới nghề nghiệp nhằm sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động trẻ Sau cải cách giáo dục 1975, GDHN trong trường học chú trọng đến việc dạy môn Công nghệ học; coi việc GDHN cho HS trong trường phổ thông là đào tạo "tiền nghề nghiệp", là cơ sở cho việc học tập liên tục và chuẩn
bị để bước vào cuộc sống
- Các tác giả Rolf Oberliesen, Helmut keim, Michaell Schumann, Gehart Duismamn… (Cộng hoà liên bang Đức) đã có những công trình nghiên cứu về phương thức tổ chức cho HS phổ thông thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp, các
cơ sở kinh doanh, dịch vụ Đức đã có những kinh nghiệm về tổ chức hệ thống trường phổ thông quán triệt nguyên tắc hướng nghiệp, chuẩn bị cho HS đi vào trường đào tạo nghề tùy theo trình độ và năng lực học tập của mỗi HS Quan điểm của họ là phải tiến hành phân loại HS dựa vào khả năng học tập của từng
em để định hướng cho học sinh đi học để trở thành công nhân lành nghề song song với việc học hết lớp 12 và tiếp tục phân loại cho HS khá giỏi học lên lớp
13 thi tú tài toàn phần, thi vào đại học và vì thế, HS có thể học nghề ngay khi đang học PT Bên cạnh đó, các nhà khoa học sư phạm ở Cộng hoà Dân chủ Đức (Heinz Frankiewiez, Bernd Rothe, B.Germer… đã nghiên cứu những vấn đề cơ
sở khoa học sư phạm của tổ chức hoạt động dạy học lao động nghề nghiệp cho
HS, trong đó quan tâm đến công tác phối hợp, cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm
GD kỹ thuật tổng hợp (KTTH) và các trường PT trong việc lập kế hoạch thực
Trang 18tập cho HS phổ thông Các tác giả đã chỉ ra sự cần thiết phải tổ chức cho HS thực tập thực tế tại các trung tâm hoặc các đơn vị sản xuất; tổ chức hoạt động lao động nghề nghiệp cho HS phổ thông bằng việc áp dụng phương thức phối hợp cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp và trường phổ thông trong việc lập kế hoạch thực tập cho học sinh phổ thông
- Dưới ánh của Chủ nghĩa Mác - Lênin, đã có nhiều nhà khoa học ở Liên
xô (cũ) phát triển lý luận về giáo dục N.K.Krupxkaia, A.V.Lunasatsky, M.I.Kalinin, N.O.Blonxkii, M.Z.Akmaliv, P.R.Atutov là những nhà khoa học
có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực giáo dục lao động KTTH trong những năm 70 của thế kỷ XX Các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu ý tưởng học tập kết hợp với lao động sản xuất để hình thành nhân cách toàn diện cho
HS, những ý tưởng đó có giá trị lớn cả mặt chính trị lẫn KT-XH Các nhà giáo dục Xô Viết đã làm nổi bật vai trò to lớn của giáo dục KTTH trong nhà trường nước Nga, coi đó là một trong những bộ phận quan trọng nhất của giáo dục Cộng sản chủ nghĩa, có tác dụng giúp HS tiếp nhận về mặt lý thuyết và thực tiễn về những nguyên lý cơ bản của nền sản xuất hiện đại, hình thành kỹ năng,
kỹ xảo lao động và HN cho HS, tạo khả năng lựa chọn có ý thức con đường lao động, xây dựng cơ sở cho việc đào tạo nghề về sau Đặc biệt, N.K.Krupxkaia đã phát triển nguyên lý giáo dục KTTH của V.I.Lênin, nhấn mạnh yêu cầu phải quán triệt nguyên lý này vào các môn học của nhà trường, giữa các môn học với nhau phải có sự quan hệ mật thiết, liên hệ với hoạt động thực tiễn và nhất là đối với học môn kỹ thuật
- Ở Mỹ chương trình “giáo dục nghề nghiệp” đã được đưa vào các cấp học phổ thông Chương trình này đã tạo điều kiện cho HS được tham gia vào các quá trình công nghệ để giải quyết các vấn đề thực tế của đất nước
- Allan Walker trong công trình khoa học "Một số vấn đề về quản lý GD
ở Australia" đã chỉ ra rằng, nhà trường hiện nay không chỉ là nơi dạy lý thuyết,
Trang 19mà phải cung cấp cho HS một khả năng chuyển đổi thật nhanh và có sự bình đẳng trong tất cả các HS, làm cho HS vừa có kỹ năng lao động, vừa có tri thức
1.1.1.2 Các nước Đông Nam Á
- Giáo dục Trung Quốc rất chú trọng đến giáo dục lao động kỹ thuật nghề nghiệp cho HS phổ thông HS cấp THCS và THPT được học môn kỹ thuật lao động và được thực hành ngay trong trường học một số nội dung như chế biến, gia công đồ gỗ, kim loại, lắp ráp điện, điện tử, các nghề thủ công truyền thống HS được tham gia lao động tại địa phương và các nhà máy, cơ
sở sản xuất dịch vụ Trong các nhà trường phổ thông có bộ phận chuyên môn làm công tác tư vấn tâm lý và tư vấn nghề cho HS, nhằm giúp các em khắc phục trở ngại về tâm lý trong quá trình học tập và định hướng chọn ngành nghề phù hợp với năng lực bản thân và thị trường lao động Đặc biệt, giáo dục nghề nghiệp đã được đưa vào loại hình trường THPT có dạy nghề khá sớm
HS vừa được trang bị học vấn phổ thông và có kỹ năng cần thiết để có thể học lên bậc đại học hoặc ra làm việc theo ngành nghề được đào tạo ngay từ khi còn học phổ thông Việc đưa giáo dục nghề nghiệp vào trường phổ thông vừa đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực của xã hội, vừa góp phần quan trọng vào việc phân luồng HS cấp THCS và THPT
- Ở Nhật Bản, một nước có tốc độ phát triển KHCN cao trên thế giới, Tác giả Magumi Nishino (Viện nghiên cứu Giáo dục Nhật Bản) đã nghiên cứu vấn
đề bồi dưỡng tri thức và những kỹ năng cơ bản cho HS trung học, đúc rút ra yêu cầu cần phải bồi dưỡng tri thức và kỹ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và khả năng lựa chọn ngành nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân Trong những năm 50 của thế kỷ
XX, giáo dục Nhật Bản đã quan tâm đến vấn đề hoàn thiện nội dung, hình thức dạy học kỹ thuật cung cấp tri thức rèn luyện kỹ năng lao động nghề nghiệp và phát triển tư duy sáng tạo cho HS, đã góp phần quan trọng cho hoạt động
GDHN ở trường phổ thông "Luật về duy trì hệ thống khuyến khích học tập suốt
Trang 20đời" được thông qua năm 1990 về xây dựng một xã hội học tập suốt đời đã thể
hiện một cách nhìn có tính bao quát rộng lớn về thế kỷ XXI của các nhà khoa học giáo dục Nhật Bản Trong tương lai mỗi người công dân Nhật Bản cần phải
có những kỹ năng đa dạng, phong phú, kỹ năng này không chỉ được học ở trường phổ thông, mà còn được luyện tập, thực hành hàng ngày và trong suốt cuộc đời
1.1.1.3 Nghiên cứu của UNESCO
- Với quan điểm coi học tập là quá trình liên tục kéo dài suốt cả cuộc đời, Tổ chức quốc tế UNESCO khuyến cáo phải nhìn nhận lại cả nội dung và cách tổ chức giáo dục trung học Sự phát triển vũ bão của KHKT và công nghệ đòi hỏi một thị trường lao động lớn, cần phải có những giải pháp tiên quyết và đồng bộ nhằm huy động các lực lượng xã hội tham gia vào công tác giáo dục, mà đặc biệt là GDHN để phân luồng HS từ đầu cấp THCS
- Chủ tịch Ủy ban Quốc tế độc lập về GD cho thế kỷ XXI của UNESCO (Jacques Delors) đã khẳng định vấn đề “Học làm việc” (Learning to do) là trụ cột thứ hai trong bốn trụ cột mà Uỷ ban đưa ra như là nền tảng của giáo dục Vấn đề học nghề của HS là một căn bản trong giáo dục để thông qua đó HS có thể phát triển năng lực của mình trong quá trình tham gia các hoạt động nghề nghiệp Theo Jacques Delors: Học để biết, học để làm việc, học để chung sống và học để tồn tại Đó là bốn cột trụ mà ủy ban đã trình bày và minh họa như những nền tảng giáo dục Tác giả đã nhấn mạnh: HS phổ thông cần phải chiếm lĩnh cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học
- Quan điểm chủ đạo của UNESCO là tạo điều kiện và cơ hội tốt nhất để mọi người đều có thể tham gia ở những loại hình học tập phù hợp, đặc biệt quan tâm đến các đối tượng có điều kiện, hoàn cảnh khó khăn Đồng thời, phải tạo ra nhiều chương trình học tập liên thông để mọi người có thể chia quá trình tích lũy kiến thức của mình ra làm nhiều giai đoạn (học tập suốt đời) và có cơ hội để
Trang 21thường xuyên cập nhật, bổ sung kiến thức về tất cả các lĩnh vực mà mình có nhu cầu tìm hiểu Theo quan điểm này, lực lượng lao động sẽ không ngừng được đào tạo ở tất cả mọi cấp độ, được giáo dục một cách toàn diện với những kiến thức, kỹ năng và tri thức khoa học luôn luôn được cập nhật, đáp ứng yêu cầu nhân lực của xã hội
Từ các nghiên cứu trên, có thể rút ra một số nhận xét khái quát như sau:
(1) Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và GDHN cho HS phổ thông là xu thế chung được nhiều nước trên thế giới quan tâm Tuy nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau nhưng xu thế hiện tại của các nước trên thế giới đều coi dạy nghề bao gồm cả giai đoạn "Tiền nghề nghiệp" ở trường phổ thông và có sự thống nhất đó là giáo dục lao động gắn liền với giáo dục công nghệ và GDHN theo tinh thần giáo dục KTTH
(2) Một số nước đã nghiên cứu đưa chương trình giáo dục nghề nghiệp triển khai song song với chương trình giáo dục phổ thông để góp phần phân luồng HS, đặt ra những yêu cầu cho việc giáo dục lao động cho HS, kết hợp việc học nghề ngay trong chương trình phổ thông sau khi đã thực hiện phân loại
HS và định hướng cho các em lựa chọn nghề nghiệp (Nga, Đức,…)
(3) UNESCO đã quan tâm đến việc tạo cơ hội học tập cho những đối tượng ít có điều kiện tham gia các hệ đào tạo chính quy, nêu rõ tầm quan trọng của các mục tiêu “học để biết, học để làm, học để làm người và học để chung sống cùng nhau” Hay nói cách khác, mọi người đều phải tự ý thức được việc trang bị cho mình những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho cuộc sống Đồng thời, khẳng định sự tất yếu của xu thế “học thường xuyên, học suốt đời và xây dựng một xã hội học tập” sẽ tạo điều kiện để tất cả mọi người có thể tham gia vào các vị trí khác nhau trong cơ cấu nhân lực mà nền kinh tế đòi hỏi, góp phần vào sự phát triển chung của xã hội và cải thiện cuộc sống của chính bản thân mình
Trang 22(4) Kinh nghiệm rút ra là: Trong thời đại toàn cầu hóa, cạnh tranh và hội nhập với những ưu thế đặc biệt của KHCN nói chung và CNTT nói riêng hiện nay, để có được một nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự phát triển, nhất thiết phải làm tốt công tác GDHN, phân luồng HS ở phổ thông, đồng thời, nghiên cứu để đưa giáo dục nghề nghiệp vào trong nhà trường, giúp cho HS có được những “tiền đề nghề nghiệp” ban đầu, trong đó, cần quan tâm đến đối tượng HS học theo các hệ đào tạo không chính quy, có những khó khăn nhất định trên con đường học vấn
1.1.2 Ở trong nước
Từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, các công trình khoa học của nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học đã tiếp cận nghiên cứu về GDHN cho
HS phổ thông ở những khía cạnh khác nhau:
- Ở khía cạnh giáo dục nghề nghiệp, tác giả Phạm Minh Hạc phân tích
tình hình GDĐT nước ta và xây dựng phương hướng đổi mới giáo dục từ việc xây dựng một nền giáo dục kỹ thuật, đó là nền giáo dục được chỉ đạo bằng tư tưởng phục vụ phát triển công nghệ Tác giả đã đưa ra quan điểm về con người trong công cuộc đổi mới, đó là ưu tiên đến việc giáo dục nghề nghiệp, đây cũng
là quan điểm của GDHN sau này
- Về hoạt động GDHN trong trường phổ thông:
+ Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra nhận xét về thực trạng hoạt động GDHN trong những năm qua và đề xuất những biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động GDHN trong giai đoạn hiện nay Mục tiêu và giải pháp điều chỉnh định hướng chọn nghề cho HS phù hợp với yêu cầu phát triển KT-
XH của đất nước đã được các tác giả Đặng Danh Ánh, Nguyễn Trọng Bảo, Đoàn Chi, Nguyễn Viết Sự, Nguyễn Toàn đề cập và giải quyết ở những góc
độ khác nhau Đặc biệt, tác giả Đặng Danh Ánh đã đi sâu nghiên cứu những cơ
sở lý luận và nhiệm vụ GDHN cho HS phổ thông, xây dựng nên sơ đồ GDHN cho HS từ khi các em học ở trường phổ thông cho đến khi tham gia lao động ở
Trang 23cơ sở sản xuất Tác giả cũng đi sâu nghiên cứu và đề xuất bản mô tả nghề phục
vụ GDHN và cách thức đổi mới phương pháp theo hướng dạy học tích cực để nâng cao chất lượng các hoạt động GDHN
Gần đây nhất, kết quả nghiên cứu đề tài KHCN cấp nhà nước KX – 05 –
09 “Giáo dục phổ thông và hướng nghiệp - nền tảng để phát triển nhân lực đi
vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” đã nghiên cứu thực trạng và đưa
ra một bức tranh tổng thể về hướng nghiệp cho HS phổ thông để phát triển nguồn nhân lực Đề tài đã tổng hợp khái quát những vấn đề lý luận về GD giáo dục và hướng nghiệp, mối quan hệ giữa hai hoạt động này trong nhà trường phổ thông, hướng tới việc chuẩn bị lực lượng tham gia vào quá trình đào tạo nhân lực phục vụ yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới
+ Các tác giả Phạm Tất Dong, Nguyễn Văn Hộ và nhiều nhà nghiên cứu
đã đề cập đến việc hình thành các luận chứng cho hệ thống GDHN phổ thông trong điều kiện phát triển KT-XH của đất nước và đề xuất một số hình thức phối hợp giữa nhà trường phổ thông với các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất trong việc hướng nghiệp - dạy nghề cho HS phổ thông
+ Các tác giả Phạm Huy Thụ, Nguyễn Duy Minh, Tô Bá Trọng, Lê Đức Phúc, Nguyễn Văn Lê… đã đi sâu nghiên cứu việc tiến hành công tác hướng nghiệp trong các trường phổ thông theo Thông tư 31-TT ngày 17/11/1982 của
Bộ GDĐT về Hướng dẫn thực hiện Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981 của Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và sử dụng hợp lý
HS tốt nghiệp THCS, THPT ra trường Các công trình nghiên cứu đề cập đến các hình thức GDHN, dạy nghề trong trường phổ thông và TT KTTH-HN, bao gồm: tổ chức lao động sản xuất cho HS phổ thông; tư vấn nghề nghiệp cho HS; các phương thức giáo dục kỹ thuậ kỹ thuật và hướng nghiệp
Nhìn chung, các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về hướng nghiệp, đồng thời, làm nổi bật vai trò quan trọng của hoạt động GDHN đối với việc chuẩn bị nguồn nhân lực cho CNH, HĐH ở Việt Nam trong
Trang 24giai đoạn 2001 - 2010 Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã phân tích cụ thể vai trò của quản lý nhà nước, vai trò của giáo dục nói chung và hướng nghiệp nói riêng trong việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo tỷ trọng thích hợp giữa công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong chiến lược phát triển KT - XH của đất nước, để từ đó có cơ sở chỉ đạo xây dựng nội dung GDHN phù hợp, làm cho con người có khả năng thích ứng với yêu cầu của thị trường và làm chủ công nghệ mới, khoa học - kỹ thuật hiện đại
Tóm lại, qua nghiên cứu, có thể rút ra một số nhận xét sau:
Một là, tuy nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau, cách khai thác, xây
dựng khác nhau nhưng các công trình khoa học đều có một mục tiêu chung nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục và hướng nghiệp, tạo nền tảng cho việc đào tạo nhân lực Các tác giả trong và ngoài nước đã quan tâm rất nhiều đến hoạt động GDHN, đặc biệt là hoạt động dạy học lao động chuẩn bị nghề nghiệp cho
HS phổ thông dưới các hình thức khác nhau nhằm chuẩn bị cho đa phần HS trung học sau khi tốt nghiệp dễ dàng hoà nhập với cuộc sống lao động nghề nghiệp trong nền kinh tế Các công trình khoa học chủ yếu tập trung quan tâm nhiều nhất đến khái niệm, nội dung, tính chất và các hình thức GDHN trong nhà trường phổ thông, vào việc đổi mới nội dung, phương pháp, sử dụng tối ưu cơ
sở vật chất kỹ thuật phục vụ GDHN
Hai là, các kết quả nghiên cứu đã khẳng định: vấn đề GDHN cho HS
thông qua các hoạt động lao động nghề nghiệp là có cơ sở khoa học và rất cần thiết trong việc giúp cho các em làm quen với lao động, có hứng thú nghề nghiệp
và những kỹ năng ban đầu đối với nghề mà các em được học Chính vì vậy, GDĐT cần quan tâm đến việc hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để tự tìm ra việc làm ngay khi rời ghế nhà trường
Ba là, đối tượng GDHN được các tác giả quan tâm chủ yếu tập trung vào
lực lượng HS trong các nhà trường chính quy, được giáo dục khá toàn diện với
sự kết hợp hài hòa của một tổng thể các môn học Trong chương trình đó, nội
Trang 25dung hoạt động GDHN được phân bổ và tích hợp trong cả chương trình chính khóa và các hoạt động ngoại khóa, tạo cơ hội tốt nhất để HS có được các định hướng nghề nghiệp phù hợp với năng lực, sở trường và các yêu cầu về nhân lực của xã hội
Bốn là, vấn đề GDTX, học tập suốt đời đã trở thành xu thế, GDHN cho
HS cần thiết phải được gắn với quan điểm xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để tất cả mọi người ở các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau đều “được học”
và có thể “học được”, tri thức và kỹ năng của mỗi cá nhân thường xuyên được
bổ sung, rèn luyện, đáp ứng yêu cầu phát triển
Năm là, đối tượng HS bổ túc trung học phổ thông có đặc điểm riêng về
phẩm chất, năng lực, được đào tạo trong môi trường học tập có nhiều hạn chế
và chương trình học tập rút gọn hơn so với HS hệ chính quy, rất cần đến việc định hướng và dẫn dắt các em vào nghề Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, chưa có các nghiên cứu của các nhà khoa học, các văn bản chỉ đạo từ cấp Bộ cho đến cấp cơ sở quan tâm đến GDHN cho HS BTTHPT Đây là một vấn đề cần được giải quyết
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Khái niệm: Trong quá trình hình thành và phát triển của lý luận quản lý,
khái niệm quản lý đó được các nhà nghiên cứu đưa ra theo nhiều cách khác nhau, tuỳ theo những cách tiếp cận khác nhau
Frederik Winslon Taylor (1856 – 1915), người Mỹ, được coi là “Cha đẻ của thuyết quản lý khoa học”, là một trong những người mở ra “Kỷ nguyên
vàng” trong quản lý đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình trong quản lý là:
“Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và đều phải quản lý chặt chẽ” Ông cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất.”
Trang 26Theo Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào
tiến hành trên qui mô tương đối lớn thì ít nhiều cùng đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ
sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khách quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” [4,tr1] Như vậy Mác đã lột tả được bản chất quản lý
là một hoạt động lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của loài người
Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [ 23, tr24]
Quản lý vừa là khoa học, vừa là một nghệ thuật chính vì vậy trong hoạt động quản lý người quản lý phải hết sức sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo để chỉ đạo hoạt động của tổ chức đi tới đích
Những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ tiếp cận nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản của khỏi niệm quản lý, các định nghĩa trên ta có thể hiểu:
Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý, nhằm
sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra
Chức năng quản lý: Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác
động có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý Ta
có thể hiểu chức năng quản lý là một nội dung cơ bản của quá trình quản lý, là nhiệm vụ không thể thiếu được của chủ thể quản lý
Về số lượng các chức năng quản lý nói chung, những tác giả nghiên cứu
về quản lý có ý kiến không giống nhau Tuy nhiên, hầu hết các tác giả đều đề
Trang 27cập tới bốn chức năng chủ yếu đó là: Kế hoạch hoá tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và trong đó thông tin vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để thực hiện chức năng quản lý
- Chức năng kế hoạch hoá: Để thực hiện chủ chương, chương trình, dự
án kế hoạch hoá là hành động đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các chức năng khác Đây được coi là chức năng chỉ lối làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch Trong quản lý đây là căn cứ mang tính pháp lý quy định hành động của cả tổ chức
- Chức năng tổ chức: Người quản lý phải hình thành bộ máy tổ chức là
cơ cấu các bộ phận (tuỳ theo tính chất công việc, có thể tiến hành phân công, phân nhiệm cho các cá nhân), quy định chức năng nhiệm vụ từng bộ phận, mối quan hệ giữa chúng
Như vậy thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ, liên hệ giữa con người với con người, giữa các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống hoạt động nhịp nhàng của một cơ thể thống nhất Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát huy được năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá
kế hoạch thành hiện thực, tổ chức tốt sẽ khơi nguồn cho các tiềm năng
- Chức năng chỉ đạo: Chức năng này đòi hỏi người quản lý phải vận
dụng khéo léo các PP và nghệ thuật quản lý Đây là quá trình tác động qua lại giũa chủ thể quản lý và mọi thành viên trong tổ chức nhằm gúp phần thực hiện hoá các mục tiêu đề ra Bản chất của chức năng chỉ đạo xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi dậy những tiềm năng của con người trong hệ thống quản lý, thực hiện tốt mối liên hệ giữa con người với con người và quá trình đó giải quyết những mối quan hệ đó để họ tự nguyện, tự giác và hăng hái phấn đấu trong công việc
- Chức năng kiểm tra: Chức năng kiểm tra nhằm đánh giá việc thực hiện
các mục tiêu đề ra, điều cần lưu ý là khi kiểm tra phải theo chuẩn Chuẩn phải xuất phát từ mục tiêu, là đòi hỏi bắt buộc đối với mọi thành viên của tổ chức
Trang 28Cuối cùng, tất cả các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin Thông
tin đầy đủ, kịp thời, cập nhật, chính xác là một căn cứ để hoạch định kế hoạch ; thông tin cũng cần cho các bộ phận trong cơ cấu tổ chức, là chất liệu tạo quan
hệ giữa các bộ phận trong tổ chức, thông tin truyền tải mệnh lệnh chỉ đạo (thông tin xuôi) và phản hồi (thông tin ngược) diễn tiến hoạt động của tổ chức
và thông tin từ kết quả hoạt động của tổ chức giúp cho người quản lý xem xét mức độ đạt mục tiêu của toàn tổ chức
Các chức năng nêu trên lập thành chu trình quản lý Chủ thể quản lý khi triển khai hoạt động quản lý đều thực hiện chu trình này
Sơ đồ các chức năng trong chu trình quản lý
Trang 29lý xã hội vào quản lý giáo dục, nên quản lý giáo dục thường được xếp trong lĩnh vực quản lý văn hoá tư tưởng Như vậy, quản lý giáo dục được coi là bộ phận nằm trong lĩnh vực quản lý văn hoá tinh thần
Ở Việt Nam, quản lý giáo dục cũng là một lĩnh vực được đặc biệt quan tâm Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
đã viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách
thể quản lý nhằm đưa ra hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [30, tr50]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, “Quản lý giáo dục thực chất là tác
động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất trường THPT xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới”[18, tr32]
Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện
pháp tổ chức, phương pháp giáo dục, kế hoạch hoá tài chính, cung tiêu… nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng, cũng như về chất lượng” [25, tr29]
Những định nghĩa nêu trên về quản lý giáo dục tuy có những cách diễn đạt khác nhau nhưng đều thể hiện một quan điểm chung về quản lý giáo dục đó
là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình dạy và học theo mục tiêu đào tạo
1.2.3 Giáo dục hướng nghiệp
1.2.3.1 Khái niệm giáo dục hướng nghiệp
Có nhiều khái niệm khác nhau về HN:
Trang 30Theo Từ điển Tiếng Việt (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1998) thì hướng
nghiệp được hiểu là “thi hành những biện pháp nhằm đảm bảo sự phân bố tối
ưu (có chú ý tới năng khiếu, năng lực, thể lực) nhân dân theo ngành và loại lao đồng” hoặc được hiểu với nghĩa “giúp đỡ lựa chọn hợp lý ngành nghề” Đây
có thể xem như là một khái niệm chung nhất về HN
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì HN là một hệ thống các biện pháp giáo dục nhằm chuẩn bị cho HS sớm có ý thức chọn ngành nghề vừa phù hợp với nguyện vọng cá nhân vừa phù hợp với sự phân công lao động xã hội ngay
từ khi còn học ở trường phổ thông Đây là một khái niệm về HN trên phương
diện giáo dục học
Quan tâm đến khía cạnh tác động của HN đối với sự phát triển KT-XH,
HN được hiểu là khái niệm chung của một trong những lĩnh vực văn hoá - xã hội, thực hiện dưới hình thức quan tâm của xã hội và tạo nghề cho thế hệ đang lớn lên, hỗ trợ và phát triển những thiên hướng và thực hiện đồng bộ các biện pháp chuyên môn tác động đến con người trong việc tự xác định nghề nghiệp
và chọn lựa hình thức tối ưu để có việc làm, có tính đến nhu cầu và năng lực của con người, kết hợp với hoàn cảnh KT-XH trong thị trường lao động
Về phương diện kinh tế học, GDHN được hiểu là hệ thống những biện pháp dẫn dắt, tổ chức thanh, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp nhằm sử dụng hợp lý tiềm năng lao động trẻ tuổi của đất nước GDHN góp phần tích cực vào quá trình phấn đấu nâng cao năng suất lao động xã hội
Xét ở khía cạnh quá trình thực hiện, GDHN được hiểu trong phạm vi rộng hơn, không phải là công việc chỉ làm một lần trong cuộc đời mỗi con người, đó là hoạt động có tính lặp lại: xuất phát từ việc định hướng để lựa chọn một nghề, thích ứng với nghề đó và kết quả là sự phù hợp trong quá trình hành nghề Tuy nhiên, do tác động của xã hội cũng như nhu cầu, hoàn cảnh của mỗi
cá nhân, mỗi con người đều có thể và cần phải thực hiện lại việc GDHN cho bản thân trước mỗi bước ngoặt trong cuộc đời nghề nghiệp của mình
Trang 31Xét ở góc độ giáo dục, hoạt động GDHN vừa là hoạt động dạy của giáo viên, vừa là hoạt động học của HS và kết quả cuối cùng của quá trình GDHN là sự
tự quyết định của HS trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai
Trong nhà trường phổ thông, hoạt động GDHN là một hệ thống các biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo, nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động theo những định hướng nhất định, giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội
về khả năng đóng góp của mỗi người vào cuộc sống lao động sản xuất, đem lại lợi ích cho cá nhân mỗi người và toàn xã hội Với đặc điểm của chương trình là phổ thông, cơ bản và HN, GDHN là một hình thức hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò
Xét ở khía cạnh hoạt động dạy của thầy, GDHN được coi như là công việc của toàn thể giáo viên, tập thể sư phạm (Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, cán bộ phụ trách Đoàn Thanh niên v.v ), nhằm mục đích giáo dục HS trong việc chọn nghề giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội Như vậy GDHN trong nhà trường phổ thông được thể hiện như một hệ thống tác động sư phạm nhằm làm cho HS chọn được nghề một cách phù hợp Khi xem xét GDHN là một trong những hình thức hoạt động học tập của HS, thông qua hoạt động HN, mỗi HS phải lĩnh hội được những thông tin về nghề nghiệp trong xã hội, đặc biệt là nghề nghiệp ở địa phương, phải nắm được hệ thống yêu cầu của từng nghề cụ thể mà mình muốn chọn, phải có kỹ năng tự đối chiếu những phẩm chất, những đặc điểm tâm - sinh lý của mình với hệ thống yêu cầu của nghề đang đặt ra cho người lao động, v.v
1.2.3.2 Các thành phần của hoạt động GDHN
GDHN là một hoạt động phức tạp bao gồm nhiều thành phần, chịu tác động của nhiều yếu tố, nằm trong mối quan hệ chặt chẽ giữa cá nhân người
Trang 32được HN với môi trường sống, môi trường lao động, môi trường giáo dục, tác động của thị trường lao động cũng như tác động nhiều mặt của tâm lý xã hội
Theo K.K Platônôp các thành phần của hoạt động GDHN được sơ đồ hóa thành tam giác HN thể hiện trên sơ đồ sau:
Mỗi hoạt động HN thuộc vào các góc của tam giác HN được dựa trên cơ
sở là hai yếu tố cơ bản là các cạnh tương ứng giao nhau tạo nên góc đó:
* Người làm HN căn cứ vào tình hình phân công lao động, cơ cấu lao động, nhu cầu nhân lực ở địa phương và xã hội và đặc điểm yêu cầu của các
Tuyên truyền định hướng
và xã hội
Tư vấn
nghề nghiệp
Tuyển chọn nghề
Đặc điểm về phẩm chất, nhân cách, tâm sinh lý của từng HS
Trang 33ngành nghề ở địa phương mà xã hội đang cần phát triển để tuyên truyền định hướng nghề nghiệp cho HS
- Tình hình phân công lao động, cơ cấu lao động, nhu cầu nhân lực ở địa phương và xã hội được phản ánh trong định hướng phát triển KT-XH của địa phương và của đất nước Trong quá trình phát triển, mỗi quốc gia, mỗi địa phương đều xác định cho mình những mục tiêu chiến lược về phát triển KT-XH trong 5 năm trước mắt và trong những mốc thời gian lâu dài hơn (10 năm, 15 năm, 20 năm…) Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế quyết định xu thế dịch chuyển cơ cấu lao động, đây chính là cơ sở để xác định chính sách đầu tư và nhu cầu nhân lực Để hạn chế thấp nhất sự thiếu hụt lao động, điều quan trọng
là phải xác định rõ được định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương, của vùng, miền, trên cơ sở đó để xác định được định hướng về nhu cầu nhân lực
- Bản mô tả nghề của từng nhóm nghề chính, những nét lớn về đặc điểm, yêu cầu của các ngành nghề mà xã hội, địa phương đang cần và nhu cầu nhân lực hàng năm của các ngành nghề đó là những thông tin quan trọng trong việc tuyên truyền định hướng nghề nghiệp cho HS Có thể nói, định hướng nghề chính là việc làm cho HS mở rộng hiểu biết về bức tranh nghề nghiệp, làm cơ
sở cho việc chọn nghề một cách đúng đắn, khoa học Tiến trình định hướng nghề nghiệp bao gồm các khâu: Liệt kê mục đích và giá trị cuộc sống của bản thân -> Xác định sở thích nghề nghiệp -> Xác định kỹ năng cần thiết cho công việc -> Liệt kê, lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, ưa thích Trong đó:
+ Mục đích cuộc sống là những điều mà bản thân muốn đạt được, những giá trị quan trọng nhất đối với con người Nghề nghiệp ưa thích phải mang lại những phương tiện để đạt được mục đích trong cuộc sống
+ Giá trị cuộc sống được lựa chọn trong các yếu tố mà mỗi cá nhân cho
là sẽ có tác động chính tới việc chọn nghề của họ
Trang 34+ Theo tiến sĩ John L.Holland - một nhà tâm lý học người Mỹ - sở thích nghề nghiệp tương ứng với các nhóm sở thích của mỗi cá nhân và thường được phân theo các nhóm như sau: 1 Người thuộc nhóm sở thích R (Realistic - thực tế) thường có khả năng về kỹ thuật, công nghệ, hệ thống; ưa thích làm việc với
đồ vật, máy móc, động, thực vật; thích làm các công việc ngoài trời; 2 Người
thuộc nhóm sở thích I (Investigate - tìm tòi) thường có khả năng về quan sát,
khám phá, phân tích đánh giá và giải quyết các vấn đề; 3 Người thuộc nhóm sở
thích A (Artistic - nghệ thuật) thường có khả năng về văn học, nghệ thuật, trực
giác nhạy bén, khả năng tưởng tượng cao, thích làm việc trong các môi trường
mang tính ngẫu hứng, không khuôn mẫu; 4 Người thuộc nhóm sở thích S
(Social - xã hội) thường có khả năng về ngôn ngữ, thích làm những việc như giảng giải, cung cấp thông tin, chăm sóc, giúp đỡ hoặc huấn luyện cho người
khác; 5 Người thuộc nhóm E (Enterprising - dám làm) thường có khả năng về
kinh doanh, mạnh bạo, dám nghĩ dám làm, có thể tác động, thuyết phục người
khác; có khả năng quản lý; 6 Người thuộc nhóm sở thích C (Conventional - quy
củ) thường có khả năng về số học, thích thực hiện những công việc chi tiết, có quy chuẩn cụ thể, làm theo chỉ dẫn của người khác; thích làm việc với dữ liệu hoặc các công việc văn phòng
+ Kỹ năng cần thiết cho công việc được xác định thông qua khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào hoạt động của mỗi cá nhân ở các môi trường khác nhau như: ở trường; trong gia đình; trong công việc
+ Nghề nghiệp phù hợp với giá trị, sở thích công việc, khả năng và kỹ năng của mỗi người đảm bảo đạt được các yêu cầu: giúp người lựa chọn đạt được mục đích của cuộc sống, phù hợp với các giá trị sống, có môi trường để sử dụng được sở trường của bản thân…
* Tư vấn nghề
Tư vấn nghề có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp các em HS tìm hiểu
và lựa chọn nghề đúng đắn
Trang 35- Theo ý kiến của K.K.Platônôv, tư vấn nghề là hệ thống những hình thức y học và những hình thức tác động đa dạng khác nhằm phát hiện và khám phá những khả năng tinh thần và thể lực của HS trong lựa chọn nghề Theo ông,
tư vấn nghề được thực hiện dựa trên hai cơ sở: đặc điểm, yêu cầu của ngành nghề ở địa phương mà xã hội đang cần phát triển và đặc điểm, phẩm chất, nhân cách, tâm lý của HS E.A Klimov cho rằng, tư vấn nghề là một trong những nhóm (mắt xích) chỉ đạo sư phạm bằng quá trình tự định hướng nghề của tuổi trẻ Còn theo P.A Savin thì, tư vấn nghề thực hiện chức năng liên kết, giúp cho học sinh đối chiếu hứng thú, sở thích và những khả năng vốn có của mình với nhu cầu của nền kinh tế quốc dân
- Theo Từ điển Tâm lý học của Đức, tư vấn nghề được hiểu là "hoạt động
tư vấn giúp các cá nhân, đặc biệt là những thanh niên trong quá trình định hướng, tìm chọn cũng như thay đổi nghề"
Tóm lại, tư vấn nghề được hiểu như một tổ hợp của các hoạt động bao gồm hai mặt, bằng những tác động của nhà tư vấn, làm bộc lộ ở cá nhân người được tư vấn những đặc điểm, phẩm chất, nhân cách, tâm lý của cá nhân, trên cơ
sở đó, nhà tư vấn đối chiếu với những yêu cầu, đòi hỏi và nhu cầu nghề nghiệp
để đưa ra những lời khuyên có cơ sở khoa học, giúp các em lựa chọn cho mình một con đường nghề nghiệp phù hợp
- Quá trình hai mặt của hoạt động tư vấn nghề được biểu thị như sau:
Mặt thứ nhất là tác động của các hoạt động bên ngoài đến mỗi HS, giúp
cho họ xác định được những đặc điểm về phẩm chất, nhân cách, tâm sinh lý của mình, hay nói cách khác là xác định xem mình có những gì để có thể bước vào thế giới nghề nghiệp, đồng thời, cung cấp cho các em những đặc điểm, yêu cầu của các ngành nghề ở địa phương mà xã hội đang cần phát triển
Mặt thứ hai là hoạt động của tự thân HS, dựa trên cơ sở những điều đã
biết, tự điều chỉnh việc chọn nghề của bản thân một cách phù hợp
Trang 36Để tạo điều kiện tốt nhất cho HS có thể thực hiện được mặt thứ hai của hoạt động tư vấn một cách hiệu quả, nhà trường cần tổ chức dạy tốt tất cả các môn học, tổ chức thực hiện tốt các hoạt động trong và ngoài nhà trường để làm bộc lộ ở HS các năng lực, sở trường, thiên hướng, đồng thời căn cứ vào các đặc điểm, yêu cầu của các ngành nghề để tư vấn nghề cho các em Các hoạt động để làm cơ sở cho việc tư vấn nghề bao gồm những biện pháp tâm lý, giáo dục và y học nhằm đánh giá toàn diện năng lực thể chất và trí tuệ của người được tư vấn
Có thể nói, tư vấn nghề thực tế là dựa trên một loạt các phép đo vào những thời điểm thích hợp nhằm tìm ra những đặc điểm tâm sinh lý của HS, đối chiếu với yêu cầu của hệ thống nghề nghiệp, đưa ra những lời khuyên lựa chọn nghề nghiệp một cách phù hợp nhất Mục đích của tư vấn nghề trong nhà trường phổ thông là người tư vấn phải đem đến cho các em những lời khuyên về chọn nghề phù hợp, tạo điều kiện cho các em phát huy những thiên tư, năng lực, trau dồi lý tưởng nghề nghiệp, có khả năng tạo nên năng suất, chất lượng sản phẩm và sự thành đạt trong nghề Tư vấn nghề làm cho HS biết được sở trường của mình,
để từ đó tạo điều kiện cho các em phát huy những tố chất tích cực trong quá trình tham gia các hoạt động giáo dục KTTH, dạy nghề cũng như trong các hoạt động nghề nghiệp trong tương lai Tư vấn nghề là một hoạt động xuất phát từ bản thân HS, hướng vào sự phù hợp nghề nghiệp của mỗi em trong mối quan hệ giữa người và nghề một cách khoa học
* Góp phần vào việc lựa chọn nghề nghiệp khi học sinh ra trường
- Khái niệm về lựa chọn nghề nghiệp được xem xét ở nhiều góc độ:
+ Lựa chọn nghề nghiệp được hiểu như là quá trình quyết định diễn ra tùy thuộc ở sự phát triển nhân cách của HS, ở đặc điểm giới tính, trình độ phát triển vật chất và tinh thần của xã hội vào một thời điểm phát triển lịch sử nào
đó, truyền thống gia đình, ảnh hưởng của bạn bè
+ Lựa chọn nghề nghiệp là sự thử nghiệm quyết định sẵn sàng đối với một hoạt động có ích cho xã hội
Trang 37+ A.E Gôlômstôc cho rằng, lựa chọn nghề có ý thức được dựa trên sự đối chiếu hiểu biết về lao động được lựa chọn với hiểu biết về chính bản thân mình Học sinh cần phải được chuẩn bị về mối quan hệ "cá nhân - nghề nghiệp", chúng cần biết yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp được đưa ra với người cán
bộ và biết đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động của mình cùng với tầm hiểu biết chính xác để thực hiện yêu cầu của nghề
Có thể nói, lựa chọn nghề nghiệp là một quá trình tìm hiểu, đối chiếu giữa những đặc điểm về thể chất và tâm lý của cá nhân với những yêu cầu của hoạt động lao động xã hội, trên cơ sở hình dung ra trước những hoạt động lao động của cá nhân trong hiện tại và tương lai, để từ đó tìm ra cho mình con đường để đạt được ước mơ nghề nghiệp Việc tìm câu trả lời cho bài toán chọn nghề phù hợp chính là giải quyết thỏa đáng mối quan hệ: xã hội - nghề nghiệp -
Qua việc liên hệ với các cơ quan chức năng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, nhà trường biết được chỉ tiêu tuyển sinh của các trường, lớp, biết được nhu cầu nhân lực của các loại ngành nghề ở địa phương, kết hợp với các kết quả tư vấn nghề để phối hợp với các cơ sở sản xuất, nhà máy, xí nghiệp, góp phần vào tuyển chọn nghề khi HS ra trường Công việc này thực chất là cầu nối
Trang 38giữa đào tạo và sử dụng Nếu nhà trường có mối liên hệ chặt chẽ với cơ sở đào tạo, cơ sở sản xuất, cơ quan tuyển dụng lao động thì những thông tin nhà trường
có được về phẩm chất, năng lực, đạo đức của HS trong quá trình các em học ở trường sẽ là thông tin tốt cho nhà tuyển dụng Đặc biệt, nếu HS được học nghề thì những gì các em được trang bị sẽ là một trong những yếu tố quan trọng trong việc tuyển chọn nghề sau khi HS ra trường
1.2.3.3 Các nhiệm vụ của hoạt động GDHN trong trường phổ thông
Trong nhà trường phổ thông, việc thực hiện các nội dung GDHN nói trên được cụ thể hoá thành các nhiệm vụ:
- Một là, hình thành ở HS những biểu tượng đúng đắn về những nghề cần phát triển, giúp cho các em được làm quen với những nghề cơ bản trong xã hội, những nghề có vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân, những nghề cần thiết phải phát triển ngay ở địa phương mình Trước hết, cần phải cho các em thấy được yêu cầu phải tạo cho mình nghề nghiệp trong tương lai Người lao động nghề nghiệp đã qua đào tạo sẽ được cung cấp trình độ tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo hành nghề, có thể làm ra sản phẩm và tạo ra thu nhập của chính
họ Đây là con đường để thực hiện lý tưởng nghề nghiệp của mỗi con người Để làm được điều này, yêu cầu người vào học nghề phải có trình độ học vấn, sức khỏe và yêu cầu tâm lý phù hợp với nghề và phải đạt được những tiêu chuẩn quốc gia về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo tay nghề theo mục tiêu xã hội đòi hỏi, có được những bằng cấp hay chứng chỉ về nghề Từ nhận thức đó, HS sẽ tự giác trong việc tìm hiểu bản mô tả nghề
- Hai là, phát hiện, hướng dẫn và phát triển hứng thú nghề nghiệp của các
em Trong quá trình giúp các em tìm hiểu nghề, người làm HN sẽ phát hiện và
hướng dẫn sự phát triển hứng thú của các em trên cơ sở phân tích những đặc
điểm, những điều kiện, hoàn cảnh riêng của từng em
- Ba là, tạo điều kiện để HS hình thành năng lực tương ứng với hứng thú
nghề nghiệp đã có thông qua hoạt động LĐSX kết hợp với dạy nghề Việc tổ
Trang 39chức các hoạt động dạy nghề ở đây phải được triển khai một cách khoa học, phù hợp với các đối tượng HS, các đặc điểm vùng miền mà các em đang sinh sống HS được thử sức trong các hoạt động nói trên sẽ làm nảy nở và phát triển
hệ trẻ bước vào thế giới nghề nghiệp nhằm tìm hiểu và dự kiến cho bản thân nghề nghiệp trong tương lai Các môn học góp phần vào việc gắn nội dung giảng dạy với công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, giáo dục nhân sinh quan cách mạng, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức của người lao động mới
Mặc dù mỗi môn học có những đặc thù riêng nhưng nếu giáo viên biết vận dụng một cách sáng tạo, có thể tìm thấy nhiều nội dung có thể lồng ghép những kiến thức về GDHN cho HS thông qua mỗi giờ dạy Chẳng hạn: bài dạy Sinh vật có thể cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản, cơ sở khoa học của việc chăm sóc cây trồng, con vật nuôi, liên hệ với thực tế phát triển nông - lâm nghiệp của địa phương Qua các định luật Vật lý, giáo viên có thể vận dụng thực tế những nguyên lý làm việc của một số máy móc, thiết bị cơ học, điện, điện tử và ứng dụng trong các lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể Các bài học Địa lý
sẽ cung cấp những kiến thức về tiềm năng về tự nhiên, tình hình và triển vọng phát triển kinh tế của từng vùng, viễn cảnh của sự mở rộng nghề nghiệp… Mỗi môn học đều tiềm ẩn một khả năng rất lớn về GDHN trong nó
Quá trình dạy và học bộ môn cũng chính là quá trình phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu và dẫn dắt HS phát triển năng khiếu của bản thân Trên cơ sở
đó, giáo viên định hướng cho HS có năng khiếu, khuyên bảo các em những lời khuyên về chọn nghề cho phù hợp với sự phát triển của bản thân
Trang 40b) Giáo dục hướng nghiệp qua dạy và học môn công nghệ, dạy nghề phổ thông và hoạt động lao động sản xuất
Với tư cách là môn khoa học ứng dụng, môn công nghệ cung cấp cho HS những nguyên lý kỹ thuật chung của các quá trình sản xuất chủ yếu, củng cố những nguyên lý khoa học và làm cho HS hiểu được những ứng dụng của chúng trong sản xuất, trong các hoạt động nghề nghiệp khác nhau Môn công nghệ thực sự là chiếc cầu nối giữa kiến thức khoa học tới sản xuất, là điều kiện
để phát triển cá nhân, phát triển năng lực cần thiết để HS học tập tốt một nghề; đồng thời, có ý nghĩa dẫn dắt HS tìm hiểu thế giới nghề nghiệp, làm cho các em biết định hướng trong hệ thống sản xuất xã hội, tự giác tìm hiểu nghề nghiệp và biết lựa chọn hướng học tập và nghề nghiệp mai sau một cách có ý thức Hiện nay, HS THPT được học môn công nghệ với thời lượng lớp 10: 1,5 tiết/ tuần, lớp 11: 1,5 tiết/ tuần, lớp 12: 1 tiết/ tuần; chương trình BTTHPT không có bộ môn Công nghệ
Lao động, học nghề của HS có tác dụng bồi dưỡng đạo đức, tác phong của người lao động mới, làm cho HS hiểu rõ vai trò hoạt động có ý thức của con người trong sự phát triển xã hội Tổ chức lao động và giáo dục nghề phổ thông làm cho HS thấy được sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, sự cần thiết phải hợp tác lao động, phải có trách nhiệm trước công việc, phải có phẩm chất và năng lực phù hợp với các đòi hỏi của nghề; trên cơ sở đó giáo dục HS có ý thức đúng đắn đối với nghề nghiệp, bồi dưỡng đạo đức, hình thành lý tưởng nghề nghiệp Trong quá trình học nghề, HS có những hiểu biết về các hoạt động của nghề, về vị trí, nhiệm vụ, điều kiện làm việc và những đòi hỏi về phẩm chất đạo đức năng lực chuyên môn, sức khỏe, có tác dụng định hướng HS vào những nghề đang học cũng như tạo điều kiện cho HS thử sức trong các dạng lao động khác nhau Đặc biệt là qua hoạt động giáo dục nghề phổ thông, HS có điều kiện
để hiểu một cách có hệ thống về vai trò, nhiệm vụ, tính chất, đặc điểm hoạt động của nghề, những đòi hỏi của nghề; trên cơ sở đó bồi dưỡng cho HS phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, phát triển hứng thú nghề nghiệp