hình thức tổ chức giáo dục trong và ngoài lớp học, trong và ngoài nhà trường; cân đối giữa dạy học và hoạt động giáo dục, giữa hoạt động tập thể, nhóm nhỏ và cá nhân, giữa dạy học bắt bu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
KIỀU THỊ HUẾ
THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
KIỀU THỊ HUẾ
THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thanh Huyền
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện luận văn, dưới sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của giảng viên hướng dẫn và được phía khoa Sư phạm cũng như nhà trường tạo điều kiện thuận lợi, tôi đã có một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và học tập nghiên cứu để hoàn thành luận văn Kết quả thu được không chỉ do nỗ lực của
cá nhân tôi mà còn nhờ sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô, gia đình và các bạn
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Tiến sĩ Lê Thanh Huyền - Khoa Sư phạm, trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội
Cô là giảng viên nhiệt tình, giàu kinh nghiệm trong hướng dẫn nghiên cứu khoa học Cô đã hướng dẫn, hỗ trợ, động viên khuyến khích tôi hoàn thành tốt
đề tài về phương pháp, lý luận và nội dung trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tôi cũng xin được cảm ơn tất cả các thầy cô, các cán bộ trong khoa Sư phạm – trường Đại học Giáo dục đã tạo điều kiện thuận lợi để giúp tôi học tập
và nghiên cứu
Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, thử thách tôi vẫn luôn nỗ lực hết sức mình Tuy vậy trong quá trình thực hiện và trình bày luận văn không thể tránh khỏi những sai sót và hạn chế, do vậy tôi rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét, phản biện của quý thầy cô và các bạn
Kính chúc quý thầy cô và các bạn sức khỏe!
Học viên
Kiều Thị Huế
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DHNGLL : Dạy học ngoài giờ lên lớp
HĐGDNGLL : Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp HĐNGLL : Hoạt động ngoài giờ lên lớp
HĐTNST : Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
THPT : Trung học phổ thông
Trang 5MỤC ỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục từ viết tắt ii
ục lục iii
Danh mục ảng v
Danh mục sơ đ , iểu đ vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8
1.1 Hệ thống các khái niệm 8
1.1.1 Quá trình dạy học 8
1.1.2 Các quan điểm tiếp cận dạy học theo xu hướng mới hiện nay: dạy học tích cực, dạy học theo tiếp cận năng lực 10
1.2 Các hình thức tổ chức dạy học phổ biến hiện nay ở THPT 17
1.2.1 Giờ lên lớp thuyết giảng 17
1.2.2 Giờ thực hành làm bài tập 18
1.2.3 Giờ ngoại khóa 20
1.3 Quan niệm về hoạt động ngoài giờ lên lớp 22
1.3.1 Vai trò, ý nghĩa hoạt động ngoài giờ lên lớp 22
1.3.2 Nguyên tắc thiết kế, triển khai hoạt động ngoài giờ lên lớp 23
1.3.3 Khả năng tích hợp hoạt động ngoài giờ lên lớp trong việc thực thi chương trình nhà trường 26
Tiểu kết chương 1 28
CHƯƠNG 2 : TÍCH HỢP CÁC HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN 11 29
2.1 Phân tích mục tiêu, nội dung chương trình Ngữ văn 11 29
2.1.1 Mục tiêu 29
2.1.2 Hệ thống các bài (loại thể, chủ đề) 32
2.2 Thực trạng tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường THPT hiện nay 37
Trang 62.2.1 Đặc điểm tổ chức quá trình dạy học Ngữ văn 11 37
2.2.2 Các hình thức dạy học, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá hiện nay 39
2.3 Tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp chương trình Ngữ văn 11 43
2.3.1 Nguyên tắc thực hiện 43
2.3.2 Đề xuất một số hoạt động ngoài giờ lên lớp 45
Tiểu kết chương 2: 61
CHƯƠNG 3 : THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 62
3.1 ục đích thực nghiệm 62
3.2 Đối tượng thực nghiệm 62
3.3 Nội dung, quá trình triển khai thực nghiệm 64
3.3.1 Cách thực nghiệm 64
3.3.2 Kiểm tra đánh giá 65
3 Kết quả thực nghiệm 65
3.4.1 Nhận xét chung về kết quả thực nghiệm 65
3.4.2 Kết quả cụ thể 66
3.5 Bàn luận về kết quả thực nghiệm 68
Tiểu kết chương 3 69
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 70
1 Kết luận 70
2 Khuyến nghị 70
TÀ Ệ TH M HẢ 72
PHỤ LỤC 74
Trang 7D NH MỤC ẢNG
Bảng 3.1 So sánh trình độ HS trước khi thực nghiệm 63
Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra đánh giá mức độ nhận thức của HS 66
sau thực nghiệm 66
Bảng 3.3 Kết quả khảo sát mức độ hứng thú của HS sau thực nghiệm 67
Trang 8D NH MỤC SƠ Đ Đ
Sơ đ 1.1 : Quy trình dạy học giờ lí thuyết 17
Sơ đ 2.1 : Quy trình tổ chức hoạt động tìm kiếm tư liệu, tự nghiên cứu, tìm tòi khám phá 46
Sơ đ 2.2 : Quy trình tổ chức hoạt động thực hiện bài tập nhóm 50
Biểu đ 2.1 : Mức độ sử dụng các hình thức tổ chức dạy học 40
Biểu đ 2.2: Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học 41
Biểu đ 2.3: Đánh giá của HS về ưu thế của DHNGLL 42
Biểu đ 3.1 So sánh kết quả trước khi thực nghiệm 63
Biểu đ 3.2 So sánh kết quả nhận thức của HS sau thực nghiệm 67
Biểu đ 3.3 So sánh kết quả khảo sát mức độ hứng thú của HS sau thực nghiệm 68
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo ngu n nhân lực Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn ản, toàn diện GD
và ĐT nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ
sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Giáo dục phổ thông
nước ta đang từng ước chuyển từ định hướng nội dung sang tiếp cận năng lực, môn Ngữ văn cũng không nằm ngoài xu hướng vận động đó Việc đổi mới đa dạng hóa các hình thức phương pháp dạy học là nhiệm vụ cấp ách để đáp ứng yêu cầu của giáo dục trong giai đoạn mới
HĐNGLL là một phần quan trọng trong tổng thể quá trình giáo dục Điều 26, Điều lệ trường THSC, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học ( ban hành kèm theo Quyết định số 07/2007/QĐ – Bộ GD và ĐT ngày
02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT) nêu: “Nhà trường phối hợp với các tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục ngoài nhà trường thực hiện các HĐGDNGLL [7, 22] HĐNGLL có khả năng góp phần đào tạo người học toàn
diện vừa có lí luận vừa có thực hành, vừa có kiến thức vừa có kĩ năng, vừa
có văn hóa nhà trường vừa có tri thức về đời sống xã hội
Định hướng xây dựng chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015
đã chỉ rõ khả năng tích hợp của hoạt động ngoài giờ lên lớp trong tổng thể quá trình dạy học PGS.TS Đỗ Ngọc Thống trong bài Định hướng giáo dục
chương trình phổ thông Việt Nam sau 2015 đã nhấn mạnh “Đa dạng hóa các
Trang 10hình thức tổ chức giáo dục trong và ngoài lớp học, trong và ngoài nhà trường; cân đối giữa dạy học và hoạt động giáo dục, giữa hoạt động tập thể, nhóm nhỏ và cá nhân, giữa dạy học bắt buộc và dạy học tự chọn,… để đảm bảo vừa phát triển các năng lực cá nhân, vừa nâng cao chất lượng giáo dục cho mọi học sinh.”
Trên thực thế việc dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông hiện nay chủ yếu chỉ được thực hiện trong các giờ thực học trên lớp Các HĐNGLL phần lớn là những buổi ngoại khóa mang tính thời điểm và thiên về các hoạt động văn – thể - mĩ Quá trình dạy học vẫn mang nặng tính thuyết giảng, truyền thụ kiến thức một chiều; GV luôn chịu áp lực rất lớn để hình thành ở HS một hệ thống các kiến thức, kĩ năng trong khoảng thời gian hạn hẹp trên lớp Vì vậy, các giờ học Ngữ văn hiện nay còn khá nặng nề, chưa tạo được động cơ hứng thú và đặc biệt là chưa chú trọng đến việc hình thành và phát triển năng lực cho người học
Với mong muốn thiết kế HĐNGLL trong chương trình Ngữ văn 11 để hình thành, phát huy những năng lực đ ng thời tạo hứng thú cho người học đối với bộ
môn này, chúng tôi lựa chọn đề tài “Thiết kế hoạt động ngoài giờ lên lớp trong dạy học Ngữ văn 11”
2 Gi h h học
Nếu hệ thống các HĐNGLL trong chương trình Ngữ văn 11 được thiết
kế và tổ chức hiệu quả thì quá trình dạy học Ngữ văn ở trường THPT sẽ tạo nhiều cơ hội thúc đẩy sự chủ động, sáng tạo của học sinh, đáp ứng yêu cầu đổi
mới của Giáo dục Việt Nam sau 2015
3 M đ h nghi n
Luận văn thiết kế mô hình hoạt động ngoài giờ lên lớp cho một số nội dung trong chương trình Ngữ văn 11 Thông qua đó, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo; phát triển kĩ năng, hình thành năng lực của người học trong việc tiếp nhận và lĩnh hội tri thức
4 Đối ư ng nghi n h h h nghi n đối ư ng h
Trang 114.1 Đối tượng nghiên cứu: Tính khả thi, hiệu quả của việc tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp trong dạy học Ngữ văn 11
4.2 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Ngữ văn 11 ở trường THPT
4.3 Đối tượng khảo sát:
Chương trình trong SGK Ngữ văn THPT
+ BGH, GV, HS lớp 11 ở trường THP Đinh Chương Dương – Huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa
5 Nhi nghi n
- Tổng quan các tài liệu, lí luận có liên quan đến đề tài
- Khảo sát thực trạng tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp môn Ngữ văn tại trường THPT Đinh Chương Dương – Huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa
- Thiết kế một số hoạt động ngoài giờ lên lớp cho một số nội dung cụ thể trong Chương trình Ngữ văn 11
- Tổ chức thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi của đề xuất và rút ra một số kết luận cần thiết
6 Phư ng h nghi n
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Đọc, phân tích tài liệu, văn ản để tìm hiểu các khái niệm và vấn đề lý luận có liên quan
- Phương pháp nghiên cứu thực ti n: Quan sát, tọa đàm, hỏi ý kiến chuyên gia
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Phân tích kinh nghiệm để đề xuất các iện pháp tổ chức hoạt động ph hợp với từng địa phương, từng trường
- Phương pháp thực nghiệm: Tổ chức dạy học thực nghiệm và đối chứng tại các trường phổ thông, sau đó tiến hành tổng hợp, đối chiếu kết quả giữa các lớp thực nghiệm và các lớp đối chứng để rút ra kết luận chung
7 Lịch sử vấn đề
Tư tưởng giáo dục trong nhà trường kết hợp với ngoài nhà trường, kết hợp giáo dục với lao động sản xuất đã được nhiều nhà giáo dục vĩ đại trên thế giới đề cập và thử nghiệm thành công
J.A Cômenxki – “Ông tổ của nề sư phạm hiện đại” đã đặt biệt quan tâm
Trang 12đến việc kết hợp học tập trên lớp và hoạt động ngoài lớp nhằm giải phóng hình thức học tập “giam hãm trong ốn bức tường” của hệ thống nhà trường giáo hội thời trung cổ Ông khẳng định “học tập không phải là lĩnh hội kiến thức trong sách vở mà còn lĩnh hội kiến thức từ mặt trời, mặt đất, cây s i, cây dẻ” [29, 4]
Thomas More (1478 – 1535) – nhà giáo dục Không tưởng nổi tiếng trong lịch sử đã đánh giá rất cao vai trò của lao động đối với con người và xã hội Giáo dục con người phải được kết hợp giáo dục nhà trường và giáo dục ngoài nhà trường, trong lao động và hoạt động xã hội
Petxtalozi (1746 – 1827) – nhà giáo dục lớn của Thụy Sĩ và thế giới thế
kỉ XIX đã đưa ra con đường giáo dục qua thực nghiệm Ông đã từng dựng trại
để trẻ em vừa được học tập vừa được lao động ( tr ng cây thiên thảo, sản xuất thuốc nhuộm vải…) Theo ông hoạt động ngoài lớp không những tạo ra của cải vật chất mà là con đường để giáo dục toàn diện HS HĐNGLL là một hình thức học tập bổ ích và lí thú
Tại các nước phát triển trên thế giới và trong khu vực (Mỹ, Hàn Quốc, Singapor v.v.) các HĐNGLL là một phần không thể thiếu trong chương trình đào tạo Mục tiêu cuối cùng của giáo dục là nhằm phát triển toàn diện nhân cách được giáo dục bao g m thể chất, tâm trí và năng lực thực ti n
Tại Việt Nam, trong khoảng 20 năm trở lại đây, vấn đề HĐNGLL đã
được chú ý nghiên cứu trên cả bình diện lý thuyết và thực hành Giáo trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp- NXB Đại học Sư phạm Hà Nội là một
trong những tài liệu cung cấp cho riêng sinh viên nhà trường những kiến thức liên quan đến vị trí, vai trò, mục tiêu, nội dung, các hình thức tổ chức của HĐGDNGLL, vai trò chủ thể của học sinh, các biện pháp quản lí, sự phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường để tổ chức tốt HĐGDNGLL cho học sinh
Các tác giả Nguy n Dục Quang- Lê Thanh Sử- Nguy n Hữu Hợp đã xuất
bản các cuốn sách Hướng dẫn thực hiện hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Trang 13dành cho mỗi lớp của bậc THCS; nhóm các tác giả B i Sĩ Tụng- Nguy n Dục
Quang- Nguy n Phi Long- Trần Quốc Thành với các cuốn Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp dành cho mỗi lớp của bậc THPT Đây là các tài liệu giới
thiệu về chương trình HĐGDNGLL tương ứng với từng khối lớp và hướng dẫn giáo viên thiết kế, tổ chức các hoạt động phù hợp với các chủ điểm của chương trình
Tác giả Hà Nhật Thăng trong cuốn “Thực hành tổ chức hoạt động giáo dục” đã đề cập đến sự cần thiết về mục tiêu, nội dung, một số nguyên tắc, hệ
thống kĩ năng, phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục của GV chủ nhiệm lớp
Tác giả Nguy n Dục Quang đã đề cập đến vấn đề đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức HĐGDNGLL, giáo dục quốc tế cho HS qua các hoạt động giáo dục trong nhiều công trình nghiên cứu
Trong công trình “Tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh lớp 6”, tác giả Phạm Hoàng Gia cho rằng cần phải có những tác động tới cha mẹ
HS, các lực lượng giáo dục về định hướng giá trị và coi trọng hơn nữa kết quả học tập
ột số ài áo: Những hình thức tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp hấp dẫn- Ngô Thị Lý ( áo Giáo dục thời đại số ra ngày 16 tháng 11 năm 2014), Đa dạng hình thức hoạt động và đổi mới phương pháp giáo dục ngoài giờ lên lớp- Trần Lượng (cập nhật trên trang we của Sở Giáo dục đào tạo tỉnh
Cà au ngày 7 tháng 10 năm 201 )… đã nhấn mạnh nhu cầu tổ chức và đổi mới hình thức các HĐGDNGLL cho học sinh trong xã hội hiện đại Bên cạnh
đó, có rất nhiều công trình nghiên cứu về thực trạng tổ chức HĐNGLL như
Nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông dân tộc bán trú tỉnh Lào Cai của tác giả Trần Thị Yên; Về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở một số trường tiểu học tỉnh Thái Nguyên - Hà Thị
Kim Linh (Tạp chí Giáo dục số 219 năm 2009)
Trang 14Trên cơ sở phân tích các tài liệu liên quan đến vấn đề của đề tài, quan sát các hoạt động dạy học và giáo dục trong thực ti n phổ thông, chúng tôi nhận thấy:
- Những nhà nghiên cứu đi trước quan tâm đến nhiều khía cạnh khác nhau về HĐNGLL : xác định vai trò, vị trí, nguyên tắc tổ chức (tích hợp, ph hợp tâm lý lứa tuổi ), cách tổ chức một số loại hình HĐNGLL
- Cách tiếp cận và giải quyết vấn đề HĐNGLL được bàn luận trong các nghiên cứu trước đây chưa có đề xuất thành hệ thống phương pháp dạy học đặc trưng Vai trò, vị trí của HĐNGLL trong tổng thể quá trình giáo dục nói chung, dạy học nói riêng chưa thực sự tương xứng
- Những chuyên luận công phu, đã đề xuất được một số quy trình tổ chức HĐNGLL cụ thể nhưng thực nghiệm còn hạn chế, thiếu phản h i từ nhiều phía, rút kinh nghiệm, điều chỉnh đề xuất chưa được đầu tư khâu kiểm tra đánh gia để đo đếm hiệu quả của đề xuất, chưa phát huy được tính chủ động của học sinh, sáng tạo và hình thành năng lực cho người học
- Việc nâng cao hiệu quả của HĐNGLL trong quá trình giáo dục chưa được àn tới nhiều và chưa được nghiên cứu có hệ thống
- Các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu về HĐGDNGLL trên phương diện bên cạnh, song song mà chưa chú trọng đến việc tích hợp với các hoạt động dạy học trên lớp
Môn Ngữ văn trong trường THPT gần đây có nhiều thay đổi qua các đợt cải cách SGK Sự thay đổi này là xu thế tất yếu và sẽ còn tiếp tục di n ra trong tương lai Điều đó đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn từ phía GV trong viêc lựa chọn các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học Việc tích hợp các HĐNGLL nếu được tổ chức hợp lý sẽ có tác dụng tạo hứng thú, giúp học sinh được khám phá, tự rèn luyện và học tốt hơn môn học Tuy nhiên, vấn đề thiết kế các HĐNGLL trong dạy học Ngữ văn chưa nhận được nhiều sự quan tâm và nghiên cứu có hệ thống
8 Cấ luận ăn
Trang 15Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo luaận ăn có cấu trúc g m 3 chương:
Chư ng 1 C lí luận và thực tiễn đề i
Chư ng 2: Tích h p các hoạ động ngoài giờ lên lớp trong dạy học Ngữ ăn 11
Chư ng 3 Thự nghi ư hạm
Trang 16Khổng Tử - học giả đầu tiên về giáo dục trong lịch sử văn hóa phương
Đông đã từng cho rằng “dạy học là gợi mở để người học suy nghĩ chứ không phải giảng giải nhiều lời” [25]
GS Nguy n Ngọc Quang trong công trình Bản chất của quá trình dạy học cho rằng “học là quá trình tự giác, tích cực chiếm lĩnh nội dung học dưới
sự điều khiển của GV” [25] tương ứng với đó “dạy là sự điều khiển tối ưu hóa quá trình người học chiếm lĩnh nội dung học, trong và bằng cách đó phát triển
và hình thành nhân cách” [25]
Bách khoa Giáo dục học định nghĩa về quá trình dạy học như sau:
“Dạy học là quá trình hoạt động hai mặt do thầy giáo (dạy) và HS (học) nhằm thực hiện các mục đích dạy học Nhiệm vụ dạy học trong nhà trường không chỉ đảm bảo một trình độ học vấn nhất định mà còn góp phần hình thành nhân cách con người của xã hội cộng sản chủ nghĩa”.[25](Bách khoa Giáo dục học
Trang 17Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm quá trình dạy học
của PGS.TS Nguy n Văn Hộ “quá trình dạy học là một quá trình tương tác giữa thầy và trò, trong đó thầy chủ đạo như: hoạt động tổ chức, lãnh đạo, điều chỉnh hoạt động nhận thức của học sinh, còn trò tự giác, tích cực, chủ động thông qua việc tự tổ chức, tự điều chỉnh hoạt động nhận thức của bản thân nhằm đạt tới mục đích dạy học”[11] Theo quan niệm này, dạy
học là một quá trình mang tính định hướng, mục đích lâu dài trải qua các trạng thái khác nhau, vận động nhờ tác động của những điều kiện bên trong
và bên ngoài tuân theo những quy luật khách quan và biểu hiện thông qua những hoạt động của các chủ thể tham gia vào quá trình dạy học Trong quá trình dạy học, GV giữ vai trò tổ chức, điều chỉnh, chỉ đạo và học sinh với hoạt động học tập, giữ vai trò chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển quá trình nhận thức của bản thân nhằm đạt tới mục đích dạy học
Bản chất quá trình dạy học là quá trình nhận thức đặc biệt của học sinh do GV tổ chức, điều khiển nhằm chiếm lĩnh nội dung học vấn phổ thông Nói cách khác, dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh dưới vai trò chủ đạo của GV nhằm thực hiện tới mục đích, nhiệm vụ dạy học GV là chủ thể của hoạt động dạy đ ng thời giữ vai trò định hướng, chỉ đạo; HS là chủ thể của hoạt động học, giữ vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo trong các hoạt động học tập Lí luận dạy học hiện đại nhấn mạnh đến quan điểm “lấy người học là trung tâm” Dạy học Ngữ văn cũng không nằm ngoài bản chất, quy luật vận động của quá trình dạy học nói chung Ngữ văn là môn học công cụ, mang tính nhân văn ôn Ngữ văn giúp HS phát triển các năng lực và phẩm chất tổng quát và đặc thù, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường phổ thông nói chung
- ục đích dạy học: thực hiện mục đích giáo dục tổng thể trong việc hình thành một kiểu nhân cách cho người học phù hợp với những nhu cầu đòi hỏi của phát triển xã hội, nhu cầu về phát triển nhân cách của mỗi cá nhân
Trang 18- Chủ thể dạy học: là giáo viên trong hoạt động dạy; là học sinh trong hoạt động học
- Đối tượng dạy học: là học sinh với tư cách vừa là những cá nhân, vừa
là những nhân cách với những đặc điểm phát triển, trình độ phát triển tâm sinh lí, trình độ nhận thức rất đa dạng và phức tạp
- Nội dung dạy học: Nội dung dạy học Ngữ văn ở trường THPT hướng tới trang bị cho HS kiến thức về văn học và tiếng Việt
- Phương pháp dạy học: là các con đường, là cách thức vận động của nội dung dạy học phù hợp với quy luật phát triển tâm lí, sinh lí và trình độ nhận thức của người học, là các biện pháp tổ chức hợp tác giữa giáo viên
và trò nhằm giúp cho trò chiếm lĩnh được nội dung dạy học một cách vững chắc
- Hình thức tổ chức dạy học: là các hình thức tổ chức hoạt động dạy
và hoạt động học của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện phương pháp giáo dục và chiếm lĩnh nội dung dạy học
- Phương tiện dạy học: là những vật thể mang nội dung và phương pháp dạy học, là phương tiện tác động tới hoạt động dạy và hoạt động học
- Điều kiện dạy học: bao g m những điều kiện bên trong nhà trường (về cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật, vệ sinh học đường, đạo đức thẩm mĩ
v.v ) và những điều kiện bên ngoài nhà trường (môi trường kinh tế - xã hội,
địa phương và đất nước)
- Kết quả dạy học: là kết quả của hoạt động dạy và hoạt động học thông
qua kiểm tra, đánh giá, trở thành yếu tố kích thích, điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học
1.1.2 Các quan điểm tiếp cận dạy học theo xu hướng mới hiện nay: dạy học tích cực, dạy học theo tiếp cận năng lực
Vấn đề phát huy tính tích cực, chủ động học tập của HS đã được đặt ra trong ngành giáo dục Việt Nam từ những năm 1960 Ở thời điểm này, các trường Sư phạm đã có khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự
Trang 19đào tạo” Trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai, năm 1980, phát huy tính tích cực đã là một trong các phương hướng cải cách, nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo, làm chủ đất nước
Theo quan điểm tiếp cận của lí luận dạy học hiện đại, dạy học tích cực có những khác biệt cơ ản so với dạy học truyền thống về mục đích, nội dung, phương pháp, người dạy, người học Dạy học tích cực nhấn mạnh vai trò chủ động, tích cực của người học, chú ý đến sự hứng thú và vốn kinh nghiệm của
HS Đặc trưng của dạy học tích cực là:
- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động của HS
Theo quan điểm tiếp cận dạy học tích cực thì đối tượng của hoạt động dạy,
đ ng thời là chủ thể của hoạt động học được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự học khám phá những điều mà mình chưa rõ chứ không thụ động tiếp thu những điều đã được GV xếp đặt
HS được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức, phương pháp tìm ra kiến thức kỹ năng đó, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo Dạy theo cách này thì
GV không chỉ đơn giản truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn HS hoạt động Chương trình dạy học phải giúp cho HS biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đ ng
- Dạy và học coi trọng phương pháp tự học
Việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một phương pháp nâng cao công hiệu dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học Trong sự phát triển của xã hội hiện đại với những thành tựu nổi bật về khoa học , kĩ thuật , công nghệ như hiện nay thì quá trình dạy học không thể chỉ tập trung vào việc truyền thụ khối lượng kiến thức ngày càng nhiều cho
HS mà bên cạnh đó còn phải quan tâm dạy cho học sinh phương pháp học tập.Tự học được xem là phương pháp học tập hiệu quả trong quá trình kiến tạo kiến thứ của HS Phương pháp tự học có thể khơi dậy ở HS tạo lòng ham học,
Trang 20nội lực vốn có trong mỗi con người Đó là tiền đề quan trọng để nâng cao hiệu quả, chất lượng học tập của HS Lí luận dạy học hiện đại nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ
động sang tự học chủ động
- Tăng cường học tập cá thể với học tập hợp tác:
Trong một lớp trình độ, khả năng tư duy của HS không đ ng đều nhau vì vậy trong quá trình dạy học GV cũng không thể áp dụng tuyệt đối, đ ng loạt một phương pháp nhất đinh GV phải tìm con đường, cơ hội để cả những HS còn yếu kém có cơ hội để phát triển vươn lên Để phát huy tính tích cực của người học đòi hỏi phải có sự phân hóa về trình độ, cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập Tăng cường cá thể hoá hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh là nhiệm vụ cần thiết Các bài học được thiết kế thành một chuỗi nhiệm vụ phù hợp với khả năng nhận thức của từng đối tượng HS Như vậy học tập cá thể đáp ứng được trình độ của người học, phù hợp với phong cách học của mỗi cá nhân Qua đó người học rèn luyện ý thức tự lực, ý thức trách nhiệm với kết quả học tập của mình
Tuy vậy, trong không gian lớp học với sự tác động qua lại giữa thầy- trò, trò - trò tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức.Thông qua thảo luận, tranh luận trong nhóm, ý kiến mỗi
cá nhân được ộc lộ và được chia sẻ HS không chỉ có điều kiện học tập với nhau mà còn học tập lẫn nhau Kiến thức mà người học thu được là sự đóng góp của nhiều người Đ ng thời qua học tập hợp tác, các kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thuyết phục, kĩ năng lắng nghe tích cực, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ được rèn luyện và phát triển
- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong những năm gần đây, song song với việc đổi mới nội dung, chương trình, Bộ Giáo dục và đào tạo đã tiến hành việc đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới đánh giá kết quả HS theo định hướng tích cực hóa hoạt động học tập của người học Kiểm tra đánh giá là khâu quan
Trang 21trọng của quá trình dạy học với mục đích xem xét kết quả học tập có đạt được mục tiêu đề ra hay không? Đ ng thời cũng lấy đó làm căn cứ để điều chỉnh cách dạy của thầy và cách học của trò
Trong dạy học thụ động, GV giữ độc quyền đánh giá HS Theo quan điểm tiếp cận dạy học tích cực, HS được tạo điều kiện phát triển kỹ năng
tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau để điều chỉnh cách học Tự đánh giá và
tự điều chỉnh hành vi, hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang ị cho HS Để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kỹ năng đã học mà cần khuyến khích phát triển trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế
Bên cạnh quan điểm dạy học tích cực, thì dạy học theo hướng tiếp cận năng lực cũng đang nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học giáo dục hiện nay
Quan điểm dạy học theo tiếp cận năng lực có thể coi là một tên gọi khác
hay một mô hình cụ thể hoá của chương trình định hướng kết quả đầu
ra, một công cụ để thực hiện giáo dục định hướng điều khiển đầu ra Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, mục tiêu dạy học của môn học được mô tả thông qua các nhóm năng lực
A.G.Côvaliôp cho rằng: “Năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu lao động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao”
Theo Xavier Roegiers : “Năng lực là sự tích hợp các kỹ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loạt tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do tình huống này đặt ra”
Tác giả Nguy n Ngọc Bích cho rằng: “Năng lực là tổ hợp những thuộc tính tâm lý phù hợp với yêu cầu một loại hoạt động nhằm làm cho hoạt động đó đạt được kết quả”
Trang 22Mặc dù các tác giả có nhiều cách tiếp cận và di n đạt khác nhau, nhưng
có thể thấy các tác giả đều thống nhất rằng:
- Năng lực t n tại và phát triển thông qua hoạt động
- Năng lực biểu hiện và quan sát được trong hoạt động, nó gắn liền với tính sáng tạo tuy có khác nhau về mức độ
- Năng lực chỉ có thể rèn luyện mới phát triển được
- Có nhiều năng lực khác nhau, mỗi cá nhân khác nhau có năng lực khác nhau
- Nói đến năng lực là nói đến mặt hiệu quả của tác động?
Dự thảo Đề án đổi mới chương trình và SGK giáo dục phổ thông sau
2015 quan niệm năng lực :“là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,…nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định”[6]
Như vậy khái niệm năng lực trong quá trình dạy học được xem xét trên những khía cạnh sau:
- Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu dạy học: mục tiêu dạy học của môn học được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành;
- Trong các môn học, những nội dung và hoạt động cơ bản được liên kết với nhau nhằm hình thành các năng lực;
- Năng lực là sự kết hợp của tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn ;
- Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động và hoạt động dạy học về mặt phương pháp;
- Năng lực mô tả việc giải quyết những nhiệm vụ trong các tình huống: ví dụ như đọc một văn bản cụ thể Nắm vững và vận dụng được các phép tính cơ bản ;
- Các năng lực chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành
Trang 23cơ sở chung trong việc giáo dục và dạy học;
- Mức độ đối với sự phát triển năng lực có thể được xác định trong các chuẩn: Đến một thời điểm nhất định nào đó, HS có thể, cần phải đạt được những gì?
Dự thảo Chương trình Giáo dục tổng thể 2015 đã đưa ra 2 nhóm năng lực
mà người học cần hình thành được trong quá trình giáo dục đó là năng lực chung
và năng lực đặc th Năng lực chung là năng lực cơ ản, thiết yếu mà bất kỳ một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc Các hoạt động giáo dục (bao
g m các môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo), với khả năng khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các năng lực chung của học sinh Năng lực đặc thù môn học (của môn học nào) là năng lực mà môn học (đó) có ưu thế hình thành và phát triển (do đặc điểm của môn học đó) Một năng lực có thể là năng lực đặc thù của nhiều môn học khác nhau
Có thể thấy rằng, quan điểm tiếp cận chi phối đến toàn bộ quá trình giáo dục nói chung và dạy học nói riêng Dạy học tích cực và dạy học theo tiếp cận năng lực đều là những quan điểm mới và đang từng ước được thực thi trong quá trình dạy học hiện nay Có một vài điểm khác biệt cơ ản giữa hai quan điểm này so với cách tiếp cận dạy học truyền thống cụ thể như sau:
Quan
ni
Học là quá trình tiếp
thu và lĩnh hội, qua đó hình
thành kiến thức, kĩ năng, tư
Trang 24Dạ họ ền hống Các hướng i ận dạ họ ới
M i
thức, kĩ năng, kĩ xảo Học
để đối phó với thi cử Sau
khi thi xong những điều đã
học thường ị ỏ quên
hoặc ít d ng đến
lực (năng lực chung và năng lực
pháp và kĩ thuật lao động khoa học,
dạy cách học Học để đáp ứng
những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai Những điều đã học cần thiết, ổ ích cho ản thân học sinh và cho sự phát triển xã hội
Từ nhiều ngu n khác nhau: SGK,
GV, các tài liệu khoa học ph hợp, thí nghiệm, ảng tàng, thực tế…:
gắn với:
- Vốn hiểu iết, kinh nghiệm và nhu cầu của HS
- Tình huống thực tế, ối cảnh và môi trường địa phương
- Những vấn đề học sinh quan tâm
Các phương pháp tìm tòi, điều tra,
giải quyết vấn đề dạy học tương
tác, dạy học qua trải nghiệm
Quan điểm dạy học tích cực và dạy học theo hướng tiến cận năng lực đang trở thành định hướng cho sự thay đổi về xây dựng chương trình, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức và kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học
Trang 25hiện nay Đó là những chuyển biến cần thiết để giáo duc có thể đáp ứng được nhu cầu đào tạo ngu n nhân lực cho xã hội hiện đại
1.2 Các hình th c tổ ch c dạy học phổ bi n hi n nay THPT
1.2.1 Giờ lên lớp thuyết giảng
Giờ lên lớp thuyết giảng (lí thuyết) là hình thức dạy học được triển khai trên lớp với mục tiêu truyền đạt kiến thức lí thuyết để người học lĩnh hội được tính logic, hệ thống của vấn đề thông qua phần giảng giải, trình bày, phân tích, chứng minh, biện luận… của GV
Nhiệm vụ của giờ lí thuyết là:
- Cung cấp cho HS những vấn đề khái quát nhất mang tính hệ thống về nội dung môn học, các phương pháp học tập, tiếp cận vấn đề;
- Giúp HS có những định hướng và công cụ trong việc tự nghiên cứu, giải quyết vấn đề;
- Kích thích người học mở rộng, tìm kiếm, khai thác những vấn đề mới Giờ lí thuyết được sử dụng phổ biến trong thực tế và là một phần quan trọng trong toàn bộ quá trình dạy học Đối với hình thức dạy học này, GV luôn phải đảm bảo tính chính xác, khoa học, nội dung kiến thức phải logic, hệ thống Nhiệm vụ của giờ lí thuyết để học sinh hình thành được kiến thức mới
đó là nền tảng, cơ sở của quá trình dạy học
Các phương pháp thường được GV sử dụng trong giờ lí thuyết bao
g m: thuyết trình, giảng giải, vấn đáp… Nhìn chung các phương pháp này ên cạnh những ưu điểm thì vẫn còn rất nhiều hạn chế trong việc phát huy tính chủ động, tích cực của HS trong quá trình dạy học Quy trình tổ chức dạy học chủ yếu được thực hiện theo hướng truyền thụ một chiều:
GV Nội dung kiến thức HS
Sơ đồ 1.1 : Quy trình dạy học giờ lí thuyết
Trang 26HS tiếp nhận kiến thức thụ động theo sự thuyết giảng của GV Vì lí do
đó mà các giờ học lí thuyết lâu nay vẫn bị xem là nặng nề, căng thẳng, áp lực… không khí giờ học có phần bị nhàm chán Đặc trưng của hình thức dạy học này bị giới hạn về không gian, thời gian và phần nào đó cả phương pháp dạy học Thực tế, với thời lượng một tiết học 45 phút mà GV phải hướng dẫn
HS lĩnh hội rất nhiều kiến thức cho một nội dung/ bài học thì rất khó để GV có
cơ hội vận dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực Hầu hết các GV đều lựa chọn những phương pháp an toàn để đảm bảo tiến độ bài học Điều đó dẫn đến mục tiêu dạy học đôi khi không hoàn thành HS vẫn cảm thấy khó khăn khi phải nhớ một khái niệm, định nghĩa…
Giờ học lí thuyết rất quan trọng, vì vậy cải thiện, nâng cao hiệu quả của hình thức dạy học này cần phải đặt lên hàng đầu Trong mỗi giờ học lí thuyết,
GV phải lưu ý giảm áp lực về trọng lượng kiến thức, áp dụng linh hoạt các hình thức, phương pháp dạy học tích cực như thảo luận, semina… hướng dẫn
HS tìm đường tự khám phá chân lí GV cần tránh lối truyền thụ một chiều, tích cực hóa hoạt động HS trong quá trình kiến tạo tri thức
Theo chúng tôi, giờ thực hành là hình thức dạy học nhằm giúp HS củng
cố, ôn tập lại kiến thức lí thuyết đ ng thời GV hướng dẫn HS vận dụng những kiến thức lí thuyết đã học vào những tình huống thực tế Thông qua đó HS được rèn luyện những kĩ năng, kĩ xảo nhất định
Vị trí, vai trò của giờ thực hành:
Giờ thực hành có vai trò hết sức quan trọng trong tổng thể quá trình dạy học Từ xưa tới nay, triết lí “Học đi đôi với hành” vẫn luôn được xem trọng
Trang 27Các nhà nghiên cứu Anderson, Reder và Simon đã khẳng định “chối bỏ vai trò thiết yếu của thực hành có nghĩa là không cho trẻ có được cái mà chúng cần
để đạt được năng lực thực sự” [22, 77].Thực hành là cần thiết đối với việc học
bất kì một loại kiến thực nào kể cả là Khoa học tự nhiên hay Khoa học xã hội
Để thông thạo một kĩ năng đòi hỏi người học phải thực hành có trọng điểm với một thời lượng nhất định Theo các nhà nghiên cứu tâm lí học về nhận thức
Anderson, Newell và Rosen loom thì “để thực hiện kĩ năng một cách hoàn hảo HS phải thực hành tới hơn 100 lần”.[21,87]
Giờ thực hành có thể được tổ chức ở trên lớp, phòng thí nghiệm hoặc ngoài lớp học Giờ thực hành thường được tổ chức sau giờ dạy lí thuyết, với mục đích củng cố, ôn tập lại kiến thức và rèn luyện cho HS khả năng vận dụng
lí thuyết vào thực ti n
Nhiệm vụ của giờ thực hành bao g m:
- Củng cố kiến thức đã học (có thể là kiến thức trong một bài hoặc một nhóm bài có nội dung liên quan đã học);
- HS biết và thực hiện được các thao tác cơ ản trong quá trình thực hành;
- HS có khả năng vận dụng những kiến thức đã học vào thực ti n đời sống sảnh xuất của địa phương, xã hội;
- Tao động cơ, hứng thú học tập cho HS, kích thích khả năng tự tìm tòi, nghiên cứu và phát huy tinh thần sáng tạo cho HS
Để đạt được yêu cầu của một giờ thực hành, GV cần lưu ý một số vấn
đề như:
- Chuẩn bị kĩ nội dung thực hành trong thiết kế bài giảng
- Tìm hiểu rõ đối tượng HS, GV phải nắm được trình độ, khả năng, tâm sinh lí của HS từ đó có những hướng tiếp cận, phương pháp tổ chức phù hợp hiệu quả
- Quá trình thực hành, GV phải tuân thủ các ước: nêu mục đích, hướng dẫn và thao tác mẫu, HS thực hiện, kiểm tra đánh giá, rút kinh nghiệm
Trang 28Thời lượng dành cho các giờ thực hành được quy định cụ thể trong chương trình môn học Ngoài ra trong các giờ dạy lí thuyết, GV cũng có thể sử dụng các phương pháp thực hành mà cụ thể là phần luyện tập hoặc giao bài tập về nhà Trong thực ti n giáo dục nước ta hiện nay, thời gian dành cho giờ thực hành chưa nhiều, đặc biệt là các môn Khoa học xã hội Bên cạnh đó, nhiều giờ thực hành được tổ chức chưa thực sự hợp lí, nhiều GV vẫn xem thực hành như một sự luyện tập đơn giản, trong đó HS thực hiện các ước đã được ghi nhớ một cách máy móc Những t n tại này tạo một ước rào cản rất lớn đến chất lượng đào tạo, mục tiêu đầu ra Một giờ thực hành đúng nghĩa là khi
GV không chỉ đơn giản buông lỏng kiến thức cho HS trong các hoạt động mà phải thiết kế các bài thực hành kèm theo hướng dẫn có cấu trúc tốt Nói một cách khác, giờ thực hành có hiệu quả không phải là sự thực hiện không suy nghĩ một chuỗi các ước mà trái lại nó là sự hình thành dần dần một quy trình hướng dẫn của GV Nói như vậy là để nhấn mạnh vai trò tổ chức của GV trong giờ thực hành
Giờ thực hành là một hình thức dạy học góp phần gia tăng hiệu quả học tập trong nhà trường và tạo cơ hội tổng hợp, mở rộng kiến thức, hiểu biết của mình ngoài xã hội Vì thế GV cần phải nhận thức rõ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của thực hành để có những phương pháp, cách thức tổ chức dạy học hiệu
quả nhất
1.2.3 Giờ ngoại khóa
Theo từ điển Tiếng Việt, ngoại khóa là: “môn học hoặc hoạt động giáo dục ngoài giờ, ngoài chương trình chính thức (nói khái quát); phân biệt với nội khóa” [25,66] Cách cắt nghĩa này chưa khái quát được vị trí, vai trò cũng
như mối quan hệ của ngoại khóa với chính khóa Trên thực tế, ngoại khóa không t n tại đơn thuần như là những giờ học, hoạt động học tập độc lập với chính khóa mà giữa chúng có mối quan hệ khăng khít và bổ trợ cho nhau Ngoại khóa là một hình thức hoạt động giáo dục đào tạo nằm trong những phạm vi quy phạm của giáo dục nhà trường Đó là những hoạt động ngoài thời
Trang 29gian lên lớp, có hoặc không có sự chỉ đạo hay hướng dẫn của GV, đối tượng tham gia là HS; có nội dung liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trường dạy và mang tính giáo dục cao Theo chúng tôi, giờ ngoại khóa là một hình thức tổ chức dạy học, trong đó các hoạt động nằm ngoài chương trình học chính khóa, kết hợp việc dạy học với vui chơi, nhằm mục đích gắn kết việc giảng dạy, học tập trong nhà trường với thực tế đời sống Với yêu cầu của xã hội hiện đại thì người có học vấn không chỉ có khả năng lấy tri thức từ dạng
có sẵn trong trí nhớ mà phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng tri thức một cách độc lập; khả năng đánh giá các sự kiện, các tư tưởng, hiện tượng mới một cách thông minh, sáng suốt khi gặp vấn đề trong cuộc sống và trong các mối quan
hệ xã hội Nội dung kiến thức được hình thành trong quá trình dạy học ở nhà trường phải góp phần quan trọng để góp phần phát triển hứng thú và năng lực nhận thức HS; cung cấp cho HS những kĩ năng cần thiết cho việc tự học và tự giáo dục sau này
Trong giờ ngoại khóa, năng lực hoạt động học tập của HS được phát huy Các em tìm hiểu, nghiên cứu, suy nghĩ và tự mình khám phá những kiến thức GV không còn giữ vị trí là người lên lớp truyền thụ, giảng bài Có thể nói giờ ngoại khóa là cầu nối giúp HS vận dụng kiến thức vào đời sống linh hoạt Giờ ngoại khóa không chỉ nhằm mục đích phục vụ cho chính khóa như
bổ sung, nâng cao, đào sâu kiến thức mà còn có tác dụng tốt đối với việc giảng dạy hiệu quả của GV, củng cố mối quan hệ giữa thầy và trò Đối với GV, giờ ngoại khóa là điều kiện thuận lợi để gần gũi, hiểu tâm lí HS, phát hiện được những khả năng của các em, đó là những phản h i rất tích cực để điều chỉnh phương pháp dạy học phù hợp, hiệu quả đ ng thời cũng có thêm những trải nghiệm thực tế để bài giảng phong phú hơn
Giờ ngoại khóa là hình thức dạy học mang tính tích hợp cao, có tác dụng phát triển kiến thức, rèn luyện kĩ năng toàn diện cho người học, là một trong những con đường để phát triển năng lực trong mỗi cá nhân; tạo môi
Trang 30trường thuận lợi để HS phát triển tư duy ổ sung nhân cách, kinh nghiệm cho người học
1.3 Quan ni m về hoạ động ngoài giờ lên lớp
1.3.1 Vai trò, ý nghĩa hoạt động ngoài giờ lên lớp
“Hoạt động giáo dục” theo nghĩa rộng bao g m hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp (hoạt động dạy học) và HĐGDNGLL, theo nghĩa hẹp khái niệm này d ng để chỉ riêng các HĐGDNGLL (hoạt động tập thể, hoạt động giáo dục theo chủ đề, hoạt động hướng nghiệp, hoạt động giáo dục nghề phổ thông…) với mục đích tạo điều kiện kiện gắn bó các kiến thức môn học với đời sống, địa phương, cộng đ ng, đất nước, góp phần hình thành, phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kĩ năng sống và những năng lực chung cần có ở con người trong xã hội hiện đại, nhất là trách nhiệm với bản thân, cộng đ ng, đất nước, môi trường tự nhiên; tính tự lập, tự tin, tự chủ; các năng lực sáng tạo, hợp tác, giao tiếp, tự quản lí bản thân…
HĐNGLL là một bộ phận thống nhất của quá trình giáo dục toàn diện trong nhà trường HĐNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn trên lớp; là sự tiếp nối của hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lí thuyết với thực ti n, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động
Trong Điều lệ trường trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường
phổ thông có nhiều cấp học đã xác định rõ vị trí vai trò của HĐNGLL: “Các hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trong giờ lên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động
và sáng tạo, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động.”[7]
HĐNGLL tạo điều kiện tốt nhất để HS phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực chủ động trong quá trình học tập và rèn luyện Hoạt động ngoài giờ lên lớp vừa củng cố, bổ sung mở rộng kiến thức đã học lại vừa phát triển kĩ
Trang 31năng, năng lực cơ ản của HS phù hợp với yêu cầu, mục tiêu của giáo dục và nhu cầu của xã hội Bên cạnh đó HĐNGLL còn là cơ hội để thu hút và phát huy tiềm năng của các lực lượng giáo dục góp phần quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường HĐNGLL là con đường để phát triển toàn diện và hài hòa nhân cách thế hệ trẻ
HĐNGLL được tổ chức với thời gian linh hoạt, không gian tự do, sử dụng nhiều loại hình hoạt động trong xã hội do đó có khả năng tác động đến nhiều mặt nhân cách HS Tham gia vào HĐNGLL, HS được trải nghiệm trong các mối quan hệ xã hội, độc lập ứng xử, chịu trách nhiệm về các mối quan hệ
và công việc mình đảm nhiệm Qua đó HS có cơ hội được củng cố, mở rộng tri thức, rèn luyện các kĩ năng để hình thành những năng lực cơ ản như: tổ chức hoạt động, giao tiếp, giải quyết vấn đề, xây dựng quan hệ cá nhân…
Ngoài vai trò tăng cường tính tích cực cho người học, HĐNGLL còn có khả năng góp phần hoàn thiện khả năng chuyên môn và kĩ năng sư phạm của người thầy trong quá trình chuẩn bị và đ ng hành với người học khám phá kiến thức mới
HĐNGLL là con đường quan trọng thực hiện mục tiêu giáo dục trong nhà trường Tổ chức có hiệu quả HĐNGLL ở nhà trường phổ thông sẽ gắn liền nhà trường với đời sống xã hội; giúp HS gắn lí thuyết với thực ti n tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động góp phần hình thành tình cảm, niềm tin, hành vi, thói quen, kĩ năng sống cho HS
HĐNGLL thực sự là một bộ phận hữu cơ của hệ thống giáo dục ở trường phổ thông, cùng với hoạt động dạy học trên lớp, HĐNGLL là một quá trình gắn bó, thống nhất nhằm thực hiện mục tiêu chung của mỗi cấp học
1.3.2 Nguyên tắc thiết kế, triển khai hoạt động ngoài giờ lên lớp
HĐNGLL là sự tiếp nối hoạt động trên lớp là con đường thực hiện mục tiêu giáo dục Hoạt động ngoài giờ lên lớp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố chủ quan, khách quan như: mục tiêu, nội dung, lực lượng tổ chức, chủ thể hoạt động, các điều kiện tổ chức Bởi vậy, khi thiết kế, triển khai HĐNGLL cần
Trang 32phải dựa trên những nguyên tắc chung của lí luận dạy học, đặc trưng ộ môn, phù hợp với đặc điểm tâm lí và khả năng nhận thức của HS THPT
Thứ nhất: Phù hợp với đặc điểm tâm lí và khả năng nhận thức của HS THPT
Một trong những đặc điểm tâm lí nổi bật của học sinh trong độ tuổi này
là sự nảy sinh cảm nhận về “tính chất người lớn” của bản thân Theo các tác
giả Đinh Thị Kim Thoa- Nguy n Thị Mỹ Lộc- Trần Văn Tính trong Tâm lý học phát triển thì chính do đặc điểm tâm lý này mà mối quan hệ giữa trẻ và
cha mẹ trở nên bất bình ổn, tần số tiếp xúc giữa cha mẹ và con cái giảm xuống thay vào đó là nhu cầu giao tiếp của họ với bạn bè cùng trang lứa Những nghiên cứu về tính cách thanh niên bẳng các trắc nghiệm TAT và Rorschach
đã chỉ ra rằng: ở lứa tuổi này, các biểu hiện rối loạn nhân cách tăng lên rõ rệt
và trong phần lớn các trường hợp, chúng có ngu n gốc sâu xa trong các quan
hệ gia đình và đặc biệt là quan hệ thầy- trò không thuận lợi
Cũng ở độ tuổi này, các chức năng tâm lí của các em có nhiều thay đổi, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển trí tuệ hay khả năng tư duy- hoạt động tư duy rất tích cực và có tính độc lập, tư duy lý luận phát triển mạnh Ở lứa tuổi này, học sinh THPT đánh giá sự thông minh của bạn mình không dựa vào điểm số đạt được mà dựa vào cách thức giải bài tập Cũng vì vậy mà các em
có chiều hướng đánh giá cao các thầy cô có phương pháp giảng dạy tích cực, tôn trọng những suy nghĩ độc lập của học sinh, phê phán sự gò ép, máy móc trong phương pháp giảng dạy của thầy cô
Ở lứa tuổi này, ý thức về cái “tôi” của bản thân trở nên rõ ràng và đầy
đủ hơn làm cho thanh niên có khả năng tự lựa chọn con đường tiếp theo, đặt ra vấn đề khẳng định, tìm ra vị trí cho riêng mình trong đời sống
Ngoài ra, ý thức học tập gắn với định hướng nghề nghiệp cũng là đặc điểm quan trọng trong sự phát triển tâm lí của học sinh THPT Thực tế thì không nhiều học sinh có định hướng nghề nghiệp đúng đắn, hợp lí cho bản thân mình Việc giúp cho học sinh nhận thức đúng và có thể lựa chọn nghề
Trang 33phù hợp là một trong các nhiệm vụ của người giáo viên trường THPT Bởi xu hướng chọn nghề sẽ ảnh hưởng đến việc học tập của các em và học sinh sẽ thường dành ưu tiên hơn cho các môn học có liên quan đến ngành nghề tương lai
Như vậy, tâm lí của học sinh lứa tuổi THPT có rất nhiều biến đổi so với các giai đoạn trước đó Do đó tổ chức các HĐNGLL cần phải dựa trên cơ sở tâm lí lứa tuổi để xác định phương pháp giáo dục có hiệu quả Nội dung, tính chất của hoạt động họa tập của HS THPT đòi hỏi tính năng động, độc lập ở mức độ cao, nắm bắt chương trình một cách sâu sắc
Thứ hai: Đảm bảo sự hứng thú và sáng tạo trong học tập cho HS
Mục tiêu của HĐNGLL không dừng lại ở trang bị, củng cố kiến thức
mà còn hướng HS đến những hành động cụ thể, thiết thực nhằm rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực đáp ứng đòi hỏi của xã hội HĐNGLL phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống khác nhau trong thực ti n, tạo hứng thú trong học tập HĐNGLL phải được xem là một quá trình học kiến tạo, ở đó HS tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác xử lí thông tin qua đó hình thành năng lực và phẩm chất cá nhân Hoạt động dạy học trên lớp không đủ điều kiện thời gian để HS hình thành được những kĩ năng này Trong HĐNGLL, vai trò chủ thể được trao hoàn toàn cho HS, người học trở thành trung tâm của mọi hoạt động trong quá trình giáo dục Thay vào đó, GV là người giữ vai trò định hướng dẫn đường để HS tự khám phá và tìm ra con đường đến với tri thức Nhà sư phạm
Roger Galles đã cho rằng: “Cần làm sao để có thể đòi hỏi HS một sự cố gắng sáng tạo cá nhân…để làm sao giáo viên đưa học sinh đến sự khám phá độc lập những tình huống khác nhau để khơi gợi ở trẻ tinh thần tự nghiên cứu”
[29, 46] Kiến thức thu nhận được từ con đường tự tìm tòi tự khám phá là kiến thức vững chắc nhất Thông qua các HĐNGLL, HS có điều kiện thuận lợi để bộc lộ năng lực tự tiếp nhận, tự lĩnh hội khám phá tri thức theo quy luật
Trang 34“chuyển vào trong” Bản chất đó là quá trình hình thành năng lực tư duy Đối với môn Ngữ văn, mục tiêu chung mà môn học hướng tới là hình thành ở người học các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học Tất cả những mục tiêu đó không thể được rèn luyện, hình thành chỉ bởi khối lượng kiến thức đ sộ được truyền thụ từ bên ngoài mà cần phải được phát triển cả về phương pháp, nhận thức khách quan và tự nhận thức Vì vậy khi thiết kế, tổ chức HĐNGLL, GV cần phải tạo động cơ, kích thích hứng thú học tập, tinh thần tự nguyện, hăng say, chủ động tham gia của HS Nói một cách khác là GV cần phải chú ý để hoạt động nhận thức của HS được chuyển thành quá trình tự nhận thức
Thứ ba: Đảm bảo tích hợp nội dung dạy học ở trường THPT
Như đã trình ày ở trên, HĐNGLL nằm trong quá trình giáo dục tổng thể ở nhà trường phổ thông HĐNGLL có tác dụng bổ sung, củng cố, mở rộng kiến thức và kĩ năng môn học sau hoạt động dạy học tiến hành trên lớp HĐNGLL đáp ứng được yêu cầu đa dạng hóa các hình thức học tập, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện tư duy sáng tạo, phát triển kiến thức
và giáo dục HS một cách toàn diện Có thể nói rằng HĐNGLL có khả năng tích hợp cao vì nó tổng hợp được nhiều mặt: nhiều kĩ năng trong một giờ dạy, tích hợp kiến thức ở nhiều bài học trong chương trình, tích hợp giữa kiến thức
lí thuyết (trên lớp) với kiến thức thực hành vận dụng trong thực ti n đời sống HĐNGLL cũng tạo cơ sở đề giảm bớt phương pháp thuyết giảng dài dòng, mở đường để GV có thể chủ động đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nói chung HĐNGLL phải đảm bảo nguyên tắc tích hợp
để giúp HS mổ rộng, đào sâu kiến thức, vận dụng kiến thức vào thực ti n thông qua những hoạt động thực hành ở cả trong và ngoài nhà trường
1.3.3 Khả năng tích hợp hoạt động ngoài giờ lên lớp trong việc thực thi chương trình nhà trường
Như đã trình ày ở trên, HĐNGLL là một bộ phận trong tổng thể quá trình giáo dục HĐNGLL không t n tại biệt lập mà có mối quan hệ khăng
Trang 35khít, bổ trợ cho hoạt động dạy học trên lớp nhằm hướng đến mục tiêu giáo
dục toàn diện HS
Trong CTGD phổ thông hiện hành, kế hoạch giáo dục ao g m các môn học và hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) Các hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) g m:
- Hoạt động tập thể (sinh hoạt lớp, sinh hoạt trường, sinh hoạt Đội Thiếu niên Tiền phong H Chí inh, sinh hoạt Đoàn Thanh niên Cộng sản H Chí Minh)
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được tổ chức theo các chủ đề giáo dục
- Hoạt động giáo dục hướng nghiệp giúp HS tìm hiểu để định hướng tiếp tục học tập và định hướng nghề nghiệp
- Hoạt động giáo dục nghề phổ thông giúp HS hiểu được một số kiến thức cơ ản về công cụ, kĩ thuật, quy trình công nghệ, an toàn lao động, vệ sinh môi trường đối với một số nghề phổ thông đã học hình thành và phát triển kĩ năng vận dụng những kiến thức vào thực ti n có một số kĩ năng sử dụng công cụ, thực hành kĩ thuật theo quy trình công nghệ để làm ra sản phẩm đơn giản
HĐNGLL đã được quan tâm và thực thi trong nhà trường nhiều năm nay, tuy nhiên nội dung phạm vi các hoạt động mới chỉ dừng lại ở HĐGDNGLL mà chưa đề cập nhiều đến việc tích hợp các HĐNGLL với hoạt động các môn học Hình thức tổ chức giáo dục chủ yếu là dạy học trên lớp, chưa coi trọng việc tổ chức các hoạt động xã hội, hoạt động trải nghiệm Phương pháp giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục nhìn chung còn lạc hậu, chưa chú trọng dạy cách học và phát huy tính chủ động, khả năng sáng tạo của học sinh Để nâng cao chất lượng đào tạo nhà trường thì việc đổi mới hình thức, các phương pháp dạy học là yêu cầu rất cấp thiết Bên cạnh đó, định hướng chương trình giáo dục sau 2015 đang nhấn mạnh đến vấn đề năng lực người học HS sẽ làm được gì sau khi hoàn thành một nội dung/môn học, vận
Trang 36dụng kiến thức đã học như thế nào để giải quyết các vấn đề thực ti n đặt ra?
Đó là những thách thức rất lớn đối với thời gian, không gian học tập trên lớp Trong thực thi chương trình phổ thông hiện hành Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã khuyến khích các đơn vị trường học tổ nhóm chuyên môn có thể tự thiết kế chương trình dạy học theo chủ đề, mỗi chủ đề có thể thực hiện ở nhiều tiết học, mỗi tiết có thể chỉ thực hiện một hoặc một số ước trong tiến trình sư phạm của bài học Công văn số 4099/ Bộ GD và ĐT về thực hiện nhiệm vụ
năm học 2014 – 2015 đã nhấn mạnh “ các nhiệm vụ học tập có thể được thực hiện trong hoặc ngoài lớp; ngoài việc tổ chức cho HS thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trên lớp thì cần phải chú trọng giao nhiệm vụ học tập cho HS ở ngoài lớp và ở nhà” [3] Như vậy, quá trình dạy học sẽ không chỉ di n ra
thuần túy 45 phút/ 1 tiết học trong nhà trường mà đã được mở rộng cả ngoài giờ lên lớp bằng những nhiệm vụ cụ thể của mỗi chủ đề học tập
Việc tích hợp HĐNGLL vào thực thi chương trình nhà trường sẽ tạo điều kiện để HS có thêm cơ hội trải nghiệm gắn kết kiến thức trong nhà trường với thực ti n địa phương và xã hội Qua đó HS hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kỹ năng sống và những năng lực chung cần có ở con người trong xã hội hiện đại
Ti u k hư ng 1
Đa dạng hóa, vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học là một trong những con đường để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, nâng cao hiệu quả quá trình dạy học, đáp ứng yêu cầu xu hướng đổi mới, phát triển của giáo dục trong bối cảnh hiện nay
HĐNGLL có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong tổng thể quá trình giáo dục ở nhà trường phổ thông Việc tích hợp HĐNGLL trong thực thi chương trình phổ thông có thể xem là hướng đi khả quan mở rộng phạm vi của quá trình dạy học, tạo cơ hội để rèn luyện, hình thành kĩ năng, năng lực cần thiết của con người Việt Nam hiện đại
Trang 37CHƯƠNG 2 TÍCH HỢP CÁC HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP TRONG DẠY
HỌC NGỮ VĂN 11 2.1 Phân tích m c tiêu, nội d ng hư ng ình Ngữ ăn 11
2.1.1 Mục tiêu
Chương trình Ngữ văn hiện hành nêu lên 3 mục tiêu tổng quát:
ột là: Cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ (trọng tâm là tiếng Việt) và văn học (trọng tâm là văn học Việt Nam), phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo ngu n nhân lực trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Hai là: hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng tiếng Việt, tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mĩ; phương pháp học tập, tư duy, đặc biệt là phương pháp tự học; năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống
Ba là: b i dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hoá; tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước; lòng tự hào dân tộc; ý chí tự lập, tự cường; lí tưởng xã hội chủ nghĩa; tinh thần dân chủ, nhân văn; giáo dục cho học sinh trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị và hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc và nhân loại
Ở cấp độ vi mô, mục tiêu dạy học được cụ thể hóa cho từng cấp học, bài học, đơn vị kiến thức Năm học 2009 – 2010, Bộ Giáo dục và đào tạo ban
hành tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông, theo đó toàn ộ mục tiêu, nội dung dạy học được
quy định rất rõ ràng Chuẩn kiến thức kĩ năng trong dạy học hiện nay được hiểu là các yêu cầu cơ ản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của bài học/môn học mà HS phải đạt được sau khi học xong bài học/ môn học đó Mục tiêu
của chương trình Ngữ văn 11 cũng được giới hạn trong tài liệu Chuẩn kiến thức kĩ năng Ngữ văn 11 Trong tài liệu này có đưa ra 3 nội dung chính cho
Trang 38mỗi bài học bao g m: Mức độ cần đạt, trọng tâm kiến thức kĩ năng và hướng dẫn thực hiện Nghiên cứu tài liệu, chúng tôi thấy về cơ ản mục tiêu của chương trình Ngữ văn 11 có những vấn đề sau:
Về Đọc văn : Mục tiêu trọng tâm là trang bị cho HS những kiến thức
về lịch sử văn học Việt Nam ở hai thời kì: Văn học trung đại từ thế kỉ XVIII đến cuối thế kỉ XIX, Văn học hiên đại từ đầu thế kỉ XX đến 1945; cảm nhận được giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo, cảm hứng thế sự, tinh thần lãng mạn, tài năng của nhà văn qua mỗi tác phẩm/ đoạn trích Ở phần lí luận văn học, mục tiêu cần đạt được xác định là HS biết, hiểu và phân biệt được hai khái niệm “loại” và “thể”
Về Tiếng Việt: HS nhận biết được tri thức về loại hình tiếng Việt, chức năng của ngôn ngữ, tính hệ thống của ngôn ngữ những nội dung có quan hệ trực tiếp đến hoạt động giao tiếp của tiếng Việt, đến ngôn ngữ nghệ thuật, đến cách nói và cách viết của học sinh: từ vựng và cú pháp, ngữ nghĩa của phát ngôn trong tiếng Việt tri thức về phong cách ngôn ngữ, loại hình văn ản Bên cạnh đó, mục tiêu mà chương trình Tiếng Việt 11, tập 1 hướng tới là hình thành, rèn luyện các kĩ năng cần rèn luyện cho học sinh như: kĩ năng lĩnh hội ngôn ản, kĩ năng sản sinh ngôn ản thích hợp với mục đích giao tiếp và các điều kiện giao tiếp
Ở phần Làm văn: Rèn luyện kĩ năng làm ài văn nghị luận mà trọng tâm là các thao tác lập luận
Về cơ ản mục tiêu của chương trình Ngữ văn 11 vẫn còn nặng về trang ị kiến thức cho HS mà chưa thực sự chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng, hình thành những năng lực cần thiết Triết lí giáo dục trong giai đoạn hiện nay được định hướng là “học để iết, học để làm, học để c ng chung sống” ục tiêu sau c ng của dạy học hướng đến là người học sẽ làm được gì chứ không dừng lại ở việc người hoc iết gì Theo PGS.TS B i ạnh H ng, mục tiêu của việc dạy học Ngữ văn cần phải được thay đổi theo hướng phát
triển năng lực tư duy cho HS “Rèn luyện kĩ năng giao tiếp, thu thập, xử lí
Trang 39thông tin để triển khai những bài biết hay bài nghiên cứu nhỏ; Thông qua những tác phẩm văn học đặc sắc giúp HS phát triển năng lực thẩm mĩ, khám phá bản thân và thế giới xung quanh, thấu hiểu giá trị nhân bản và thân phận con người; phát triển năng lực tư duy: phản biện, tự tin, tự lập và tinh thần cộng đồng”[12] Với thời gian hạn hẹp trên lớp, để hướng tới mục tiêu theo
xu hướng dạy học hiện đại với một hệ thống năng lực cần đạt là điều vô cùng khó khăn Phần lớn thời gian dạy học trên lớp chỉ đủ để GV hướng dẫn HS hình thành kiến thức theo chuẩn ( mức tối thiểu HS phải iết) được quy định trong chương trình mà chưa có điều kiện để phát huy năng lực cá nhân, rèn luyện các kĩ năng cần thiết cho HS Việc tích hợp các HĐNGLL cho phép GV
có điều kiện tổ chức, rèn luyện cho HS vận dụng những kiến thức đã học vào thực ti n, HS có cơ hội được trải nghiệm, thành thạo các kĩ năng, hình thành năng lực
Văn học Trung đại Việt Nam Văn học Việt Nam hiện đại đầu thế kỉ XX đến năm 19 5 Văn học nước ngoài
Các thể loại thơ, nghị luận, kịch, truyện
- HS iết liên hệ tác phẩm văn chương với đời sống xã hội hiện tại
- HS phân tích, đánh giá được tác phẩm văn chương theo nhiều khía cạnh khác nhau
- HS iết hình thành thói quen đọc độc lập, iếp đào sâu các lớp nghĩa và tham gia sáng tạo văn chương
Trang 40Ti ng Vi - Cung cấp cho HS những tri
thực về tiếng Việt (ngữ pháp, đặc điểm loại hình, phong cách ngôn ngữ…)
- Hình thành, rèn luyện cho HS năng lực sử dụng tiếng Việt ( lựa chọn, sử dụng các thành phần câu thành ngữ, điển cố…)
- HS vận dụng được những tri thức tiếng Việt để giao tiếp
- Hình thành cho HS kĩ năng giao tiếp, ứng xử ph hợp với ngữ cảnh, đối tượng giao tiếp
- B i dưỡng tinh thần yêu tiếng Việt cho HS
ăn - Cung cấp cho HS những tri
thức về kiểu văn ản các kĩ năng, thao tác tạo lập văn ản (văn ản nghị luận các thao tác lập luận, phân tích, so sánh, ác ỏ…)
- Rèn luyện cho HS các kĩ năng tạo lập văn ản
- Rèn luyện cho HS kĩ năng đọc, hiểu, nhận xét, đánh giá và thực thi văn ản
- Hình thành cho HS kĩ năng viết đúng văn phạm, hay và có tính nghệ thuật
2.1.2 Hệ thống các bài (loại thể, chủ đề)
Chương trình khung Ngữ văn 11, Ban cơ ản, Bộ GD và ĐT an hành
g m có 123 tiết trên tổng số 35 tuần, trong đó: