Cùng với việc tăng cường đầu tư CSVC, TBDH là sự khuyến khích mạnh mẽ CBGV thiết kế và sử dụng giáo án điện tử, coi đây là yếu tố then chốt trong việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâ
Trang 1MỤC LỤC Trang
Chương 1 : Cơ sở lý luận về quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo
1.2.3 Quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường 15
Chương 2 : Thực trạng về quản lý việc thiết kế và sử dụng Giáo án
Trang 22.2 Đặc điểm tình hình Trung tâm Ngoại ngữ-Tin học Bắc Giang 32
2.2.2 Số lượng và chất lượng giáo dục-đào tạo ở đơn vị 34 2.2.3 Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học 37 2.3 Thực trạng quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án điện tử 39 2.3.1 Thực trạng việc soạn và sử dụng giáo án dạy học tích cực của GV 39 2.3.2 Nhận thức của giáo viên đối với việc thiết kế và sử dụng giáo án
2.3.3 Thực trạng việc thiết kế và sử dụng giáo án điện tử của giáo viên 42 2.3.4 Công tác quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án điện tử 46
Chương 3 : Một số biện pháp quản lý việc thiết kế
3.1.1 Các văn kiện của Đảng, Nhà nước và ngành GD-ĐT về ứng dụng
3.1.2 Quan điểm chỉ đạo phát triển GD-ĐT của tỉnh Bắc Giang và định
hướng phát triển Trung tâm NN-TH Bắc Giang giai đoạn 2005-2010 52 3.2 Những nguyên tắc trong việc đề xuất các biện pháp 53
3.3 Một số biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án điện tử
nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở Trung tâm NN-TH Bắc Giang 54 3.3.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên và khuyến
khích họ sử dụng giáo án điện tử trong quá trình dạy học 54 3.3.2 Biện pháp 2 : Bồi dưỡng trình độ tin học cơ bản và phát triển kỹ
năng thiết kế và sử dụng giáo án điện tử cho CBGV 56 3.3.3 Biện pháp 3: Xây dựng quy trình và chỉ đạo việc thực hiện quy trình
Trang 33.3.4 Biện pháp 4: Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hiện
3.4 Kết quả khảo sát đánh giá về mức độ cấp thiết và mức độ khả thi 76
Trang 4CNTT và TT Công nghệ thông tin và truyền thông
CNH-HĐH Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá
Trang 51 Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỷ 21, loài người đã và đang bước vào kỷ nguyên của công nghệ thông tin cùng với nền kinh tế tri thức, trong xu thế toàn cầu hoá Điều đó ảnh hưởng sâu sắc đến mọi hoạt động của đời sống xã hội ở tất cả các quốc gia trên thế giới, đòi hỏi con người phải có nhiều kỹ năng đặc thù và thái độ tích cực để tiếp nhận và làm chủ tri thức, làm chủ thông tin một cách sáng tạo Vì vậy, đổi mới giáo dục và đào tạo đang diễn ra trên qui mô toàn cầu, tạo nên những biến đổi sâu sắc trong nền giáo dục thế giới
đó là vấn đề đổi mới nội dung dạy học, phương pháp dạy học theo hướng hiện đại hoá, công nghệ hoá Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng cuộc cách mạng về phương pháp dạy học đang diễn ra theo ba xu hướng chính : Tích cực hoá, cá biệt hoá và công nghệ hoá nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học
Trong “Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010” của Chính phủ đã nhận định: “Sự đổi mới và phát triển giáo dục đang diễn ra ở qui mô toàn cầu tạo cơ hội tốt để giáo dục Việt Nam nhanh chóng tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những cơ sở lý luận, phương thức tổ chức, nội dung giảng dạy hiện đại và tận dụng các kinh nghiệm quốc tế để đổi mới và phát triển” [5] Chỉ thị số 58-CT/TW của Bộ Chính trị ( Khoá VIII ) khẳng định : “Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin là nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước Mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng đều phải ứng dụng CNTT để phát triển“ [2] Chỉ thị số 29/2001/CT-BGD&ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2001 -2005 nêu rõ : “CNTT và đa phương tiện sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong
hệ thống quản lý giáo dục, trong chuyển tải nội dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương pháp dạy và học“ [3]
Trang 6Trong những năm qua, ngành giáo dục- đào tạo tỉnh Bắc Giang đã rất quan tâm đến công tác đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học, đặc biệt
là sự đầu tư về nhân lực, vật lực và tài lực cho việc ứng dụng CNTT trong Dạy - Học và trong công tác quản lý giáo dục Sở GD-ĐT đã thành lập trang WEB riêng của ngành, đã có cơ chế chính sách thu hút nhiều sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành CNTT có trình độ khá, giỏi về công tác Đi đôi với công tác này việc bồi dưỡng đội ngũ, đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học tương đối đồng bộ và hiệu quả Công tác khuyến khích giáo viên ở tất cả các bậc học, ngành học sử dụng giáo án điện tử, phương tiện dạy học hiện đại được chú trọng do đó đã tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức
và được CBGV, học sinh và phụ huynh đồng tình, ủng hộ
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã nảy sinh nhiều vấn đề cần có những biện pháp khắc phục kịp thời như trình độ tin học cơ bản của đội ngũ CBGV còn hạn chế; công tác quản lý trang thiết bị còn nhiều bất cập; điều kiện ứng dụng CNTT trong dạy học của các đơn vị không đồng nhất
do vị trí địa lý, điều kiện kinh tế xã hội vv Đặc biệt công tác quản lý của các cấp quản lý giáo dục trong việc thiết kế, sử dụng giáo án điện tử còn nhiều hạn chế Thực tế hiện nay chúng ta mới chỉ khuyến khích CBGV tích cực ứng dụng CNTT trong dạy học mà chưa có cơ chế, cách thức quản lý chỉ đạo một cách thống nhất, đồng bộ mang tính pháp quy Do đó, việc thiết kế, sử dụng giáo án điện tử còn mang tính tự phát, thử nghiệm và chất lượng phụ thuộc chủ yếu vào trình độ tin học của bản thân giáo viên Có nhiều cán bộ quản lý giáo dục do không có điều kiện tiếp cận với kiến thức
và kỹ năng tin học nên rất khó khăn trong chỉ đạo dẫn tới buông lỏng việc quản lý hoặc không có những đánh giá, nhận xét khách quan chính xác và chấn chỉnh, xử lý kịp thời
Trung tâm Ngoại ngữ-Tin học tỉnh Bắc Giang là một đơn vị trực thuộc Sở GD-ĐT Bắc Giang Ngoài những chức năng, nhiệm vụ chính là đào tạo, bồi dưỡng về tin học, ngoại ngữ nhằm nâng cao chất lượng cán bộ
Trang 7công chức, viên chức, nâng cao dân trí cho nhân dân, tạo nguồn nhân lực cho địa phương, Trung tâm còn được giao nhiệm vụ tham mưu cho Sở về mọi vấn đề liên quan đến CNTT Chính vì vậy, Trung tâm NN-TH tỉnh Bắc Giang là cơ sở đi đầu ngành GD-ĐT Bắc Giang trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học và phải là nhân tố điển hình trong lĩnh vực này
Để hỗ trợ cho việc cải tiến phương pháp giảng dạy, nhiều năm qua Trung tâm NN-TH tỉnh Bắc Giang bằng huy động nhiều nguồn đã đầu tư kinh phí mua sắm phương tiện dạy học hiện đại Hiện nay, đơn vị là cơ sở
có hệ thống CSVC, trang thiết bị về CNTT đứng đầu ngành GD- ĐT Bắc Giang về mọi phương diện Cùng với việc tăng cường đầu tư CSVC, TBDH là sự khuyến khích mạnh mẽ CBGV thiết kế và sử dụng giáo án điện tử, coi đây là yếu tố then chốt trong việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.Tuy nhiên, vì đang ở giai đoạn thử nghiệm vừa làm, vừa rút kinh nghiệm nên đơn vị còn nhiều lúng túng, bị động trong quá trình quản lý việc ứng dụng CNTT và TT trong dạy học Đặc biệt, chưa có biện pháp quản lý hiệu quả việc thiết kế và sử dụng GAĐT trong quá trình dạy học tích cực
Nhận thức rõ được những vấn đề nêu trên, với mục đích tìm ra những biện pháp để quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án điện tử nhằm nâng
cao chất lượng dạy học tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Một số biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án điện tử ở Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học tỉnh Bắc Giang”
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án điện tử nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở Trung tâm NN-TH tỉnh Bắc Giang
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
- Thiết kế và sử dụng giáo án điện tử
Trang 8- Quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án điện tử
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án điện tử ở Trung tâm NN-TH Bắc Giang
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được một số biện pháp khả thi để quản lý việc thiết kế
và sử dụng hiệu quả giáo án điện tử thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở Trung tâm NN-TH tỉnh Bắc Giang
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra một số nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án điện
tử nhằm nâng cao chất lượng dạy học
- Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án điện tử của Trung tâm NN-TH tỉnh Bắc Giang
- Đề xuất một số biện pháp mang tính khả thi để quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án điện tử nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở Trung tâm NN-
TH tỉnh Bắc Giang
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Do thời gian có hạn, nên đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu tìm ra một số
biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng GAĐT trong giảng dạy ở một số khối, lớp thuộc chương trình đào tạo, bồi dưỡng cấp chứng chỉ và hệ BT THPT tại Trung tâm NN-TH tỉnh Bắc Giang
7 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài đã kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau :
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu Luật Giáo dục, các văn kiện của Đảng và Nhà nước về định hướng phát triển giáo dục- đào tạo và phát triển ứng dụng CNTT và TT trong dạy học
- Nghiên cứu các văn bản pháp quy của Bộ GD-ĐT, Sở GD-ĐT Bắc Giang
Trang 9- Nghiên cứu các tài liệu sư phạm, tài liệu quản lý, báo cáo khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát sư phạm
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
- Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm
7.3 Những phương pháp hỗ trợ khác
- Phân tích, thống kê, xử lý số liệu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án
điện tử
Chương 2: Thực trạng về quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án
điện tử ở Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học Bắc Giang
Chương 3: Một số biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo
án điện tử ở Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học Bắc Giang
Trang 10Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ
DỤNG GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Ở nước ta ứng dụng công nghệ dạy học được đề cập vào những năm
90 và hiện đang tiếp tục được nghiên cứu, ứng dụng trong giảng dạy ở mọi cấp học của hệ thống giáo dục Đã có một số đề tài nghiên cứu về ứng dụng CNTT và TT trong giảng dạy, bước đầu thu được những kết quả hết sức khả quan Đề cập đến việc phát triển GAĐT tác giả Ngô Quang Sơn có viết
:'' Trong hệ thống các loại hình thiết bị dạy học bộ môn hiện nay ở nước ta
và các nước khác, giáo án điện tử được coi là một loại hình trong 12 loại hình thiết bị dạy học bộ môn Giáo án điện tử vừa là giáo án vừa là một loại hình TBDH hiện đại - TBDH có ứng dụng CNTT và TT Các giáo viên phổ thông, giảng viên đại học, cao đẳng cần nghiên cứu việc thiết kế và sử dụng hiệu quả giáo án điện tử trong môi trường dạy học đa phương tiện '' [
- Năm 2002, sinh viên Nguyễn Huyền Trang đã nghiên cứu việc sử dụng phương pháp dạy học chương trình hoá trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học với đề tài: “ Nghiên cứu việc sử dụng phương pháp dạy học chương trình hoá với sự hỗ trợ của phần mềm PowerPoint thông qua môn Tiếng Việt ở Tiểu học.”
- Tiếp tục nghiên cứu theo hướng này, năm 2004, học viên cao học Bùi Thị Hải Yến đã bảo vệ thành công đề tài: “Sử dụng phương pháp dạy học
Trang 11chương trình hoá với sự hỗ trợ của phần mềm PowerPoint thông qua phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học ”
- Năm 2006, sinh viên Nguyễn Văn Dũng đã bảo vệ thành công luận văn tốt nghiệp đại học chuyên ngành QLGD với đề tài : “ Một số biện pháp quản lý việc thiết kế và sử dụng giáo án điện tử nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở Trường Tiểu học Quỳnh Thắng A”
Ứng dụng CNTT và TT vào dạy học ở các nước phát triển trên thế giới là điều không còn mới lạ Tuy nhiên, ở Việt Nam mới được đề cập và phát triển trong vòng chục năm trở lại đây Đặc biệt, công tác quản lý chỉ đạo việc ứng dụng CNTT và TT nói chung; thiết kế và sử dụng GAĐT nói riêng còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng Hơn nữa, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này Hiện nay, ngành GD-ĐT tỉnh Bắc Giang vẫn chỉ đạo công tác này trên cơ sở vừa làm, vừa học hỏi và rút kinh nghiệm Do vâỵ, không tránh khỏi những bất cập đòi hỏi phải có những biện pháp khắc phục
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, từ khi có sự phân công lao động đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là tổ chức, điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định Dạng lao động mang tính đặc thù đó được gọi là hoạt động quản lý
Khái niệm “quản lý” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau, vừa là khoa học vừa là nghệ thuật đang là vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm Sau đây là một số định nghĩa về “quản lý ”:
- Theo F.W.Tay lor (nhà quản lý người Mỹ 1856 - 1915) người có học
thuyết chú trọng vào nhiệm vụ cho rằng “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó bằng phương pháp tốt nhất và
rẻ nhất”
Trang 12- Theo H.Fayol (1841-1925), kỹ sư người Pháp - Ông quan niệm:
“Quản lý hành chính là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” Trong học thuyết quản lý của mình H.Fayol đưa ra 5 chức năng cần thiết của một nhà quản lý là:
Dự báo và lập kế hoạch; Tổ chức; Điều khiển; Phối hợp; Kiểm tra
Theo Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ trong “Những vấn đề cốt yếu trong
quản lý”: Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu quản
Môi trường bên ngoài
Sơ đồ 1.1: Bản chất quá trình quản lý Như vậy, đối với mỗi hệ thống hoạt động, quản lý có thể chia ra 3 nội dung lớn: Lập kế hoạch; Tổ chức và lãnh đạo việc thực hiện kế hoạch; Kiểm tra, đánh giá các hoạt động và việc thực hiện các mục tiêu đề ra Trong những điều kiện cần thiết có thể điều chỉnh lại kế hoạch, hoặc mục tiêu, hoặc các hoạt động cụ thể hoặc đồng thời có thể điều chỉnh cả 2 hoặc
3 thành tố cho phù hợp
Trang 13Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường Với khái niệm trên, quản lý bao gồm các điều kiện sau:
- Phải có một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động, và một đối tượng bị quản lý phải tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý tạo ra Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần
- Phải có một mục tiêu đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động
- Chủ thể có thể là một người, nhiều người, một thiết bị Còn đối tượng có thể là con người (một hoặc nhiều người) hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết bị, đất đai, thông tin, hầm mỏ v.v…) hoặc giới sinh vật (vật nuôi, cây trồng)
Sơ đồ 1.2 Mô hình quản lý
1.2.1.1 Cơ sở tâm lý học quản lý
Bản thân mỗi một con người đều là một cá thể tâm lý nhất định Do vậy trước mỗi một tình huống, một vấn đề thì mỗi người thường có những thái độ, phản ứng và đưa ra những nhận xét, quyết định hành động theo những cách khác nhau Chính những '' lăng kính tâm lý '' đó đã tạo lên những bất đồng ý kiến (thường được gọi là xung đột) đôi khi là giữa cá nhân với cá nhân hoặc giữa cá nhân với tập thể và ngược lại Đặc biệt, khi
có hình thức lao động mới được đưa vào một tổ chức thì hiện tượng này xảy ra là khó tránh khỏi Nó có thể mang đến những kết quả tiêu cực hoặc
Chủ thể quản lý
Đối tượng
bị quản lý
Mục tiêu
Trang 14tích cực phụ thuộc vào bản chất và cường độ của xung đột được thể hiện qua sơ đồ mô phỏng sau :
K.quả Tích cực
K.quả Trung tính
K.quả Tiêu cực
Quá ít xung đột
Xung đột thích hợp
Quá nhiều xung đột
Thấp Vừa phải Cao
Sơ đồ 1.3 Cường độ xung đột
Nguồn : [ 16 ]
Lúc này, vai trò của người quản lý là phải làm sao tạo được sự đồng thuận cao nhất, lôi cuốn được mọi thành viên cùng quyết tâm thực hiện để đạt được mục tiêu cho ý tưởng mới Theo tài liệu bài giảng cao học chuyên
đề Tâm lý học quản lý của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì có tám chiến thuật gây ảnh hưởng trong tổ chức để đưa thành viên của tổ chức vào công việc Đó là :
+ Tư vấn : Lôi cuốn, khuyến khích mọi thành viên tham gia, góp ý kiến
vào việc ra quyết định và biến đổi Chiến thuật này sẽ tạo tâm lý tích cực
Trang 15cho các thành viên vì họ đều cảm thấy được tôn trọng, được phát huy tính dân chủ
+ Thuyết phục, lôi kéo duy lý : Cố gắng thuyết phục các thành viên bằng lý
lẽ, lô gíc và sự kiện Chiến thuật này đòi hỏi người quản lý phải có tư duy sắc bén, hiểu sâu sắc vấn đề và có tài hùng biện
+ Kêu gọi ( khơi gợi ) khéo léo : Cố gắng làm cho các thành viên nhiệt tình
ủng hộ và tham gia bằng cách khơi gợi cảm xúc, lý tưởng, giá trị của họ
+ Chiến thuật khôn khéo : Tạo cho các thành viên đạt đến trạng thái tinh
thần tốt nhất, phấn chấn nhất trước khi thực hiện một yêu cầu nào đó
+ Chiến thuật tạo đồng minh: Lôi cuốn sự ủng hộ, giúp đỡ của một thành
viên để thuyết phục các thành viên khác
+ Chiến thuật gây áp lực : Yêu cầu sự phục tùng hoặc sử dụng các biện
pháp đe doạ, răn đe
+ Chiến thuật tạo sức ép từ bên trên : Cố gắng thuyết phục các thành viên
- Tạo nên sự tôn trọng lẫn nhau
- Tạo được niềm tin, uy tín
- Tạo điều kiện cùng có lợi
- Hợp tác trên tinh thần cởi mở, chân thành
Tuy nhiên, kết quả đạt được ngoài sự cam kết, phục tùng, ủng hộ đôi khi người quản lý còn gặp phải những phản kháng hoặc chống đối mà không lường trước được sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý
1.2.1.2 Cơ sở khoa học quản lý
Trang 16Bất cứ một tổ chức nào, cho dù cơ cấu và qui mô hoạt động ra sao đều phải có sự quản lý và có người quản lý thì mới đạt được mục đích tồn tại và phát triển của tổ chức đó Vậy hoạt động quản lý (Management) là gì ? Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc trong tài liệu bài
giảng cao học Cơ sở khoa học quản lý thì : Đó là tác động có định hướng,
có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.[ 15 ]
Nói cách khác hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra Người quản lý (Manager) là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích
Cũng theo tác giả Nguyễn Quốc Chí- Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì quản
lý có bốn chức năng chủ yếu, cơ bản: Kế hoạch hóa (Planning), tổ chức (Organizing), chỉ đạo - lãnh đạo (Leading) và kiểm tra (Controlling)
- Kế hoạch hóa: Đó là xác định mục tiêu, mục đích cho những hoạt động trong tương lai của tổ chức và xác định các biện pháp, cách thức để đạt được mục đích đó
- Tổ chức: Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hóa những ý tưởng ấy thành những hoạt động hiện thực.Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Người quản lý phải phối hợp, điều phối tốt các nguồn nhân lực của tổ chức
- Lãnh đạo (Chỉ đạo) - Leading :
Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự
đã được tuyển dụng thì phải có người đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức Đó
Trang 17là quá trình liên kết, liên hệ với người khác, hướng dẫn và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức Tất nhiên việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết
kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó xuyên suốt trong hoạt động quản lý
- Kiểm tra (Controlling): Đây là hoạt động theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết
1.2.2 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.2.1 Quản lý giáo dục
Khoa học quản lý là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn: Tâm lý học, Xã hội học, Triết học,…
Khoa học quản lý giáo dục là một chuyên ngành của khoa học quản
lý nói chung, đồng thời cũng là bộ phận của khoa học giáo dục, nhưng là một khoa học tương đối độc lập
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, khái niệm quản lý giáo dục là khái niệm đa cấp (bao hàm cả quản lý hệ giáo dục quốc gia, quản lý các phân hệ của nó, đặc biệt là quản lý trường học)
“Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa việt nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [20]
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy học Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản
lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [11]
Trang 18Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội
Khái quát lại, nội hàm của khái niệm quản lý giáo dục chứa đựng những nhân tố đặc trưng bản chất sau: Phải có chủ thể quản lý giáo dục, ở tầm vĩ mô là quản lý của nhà nước mà cơ quan trực tiếp quản lý là Bộ, Sở, Phòng Giáo dục, ở tầm vi mô là quản lý của hiệu trưởng nhà trường
Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục, trong đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tượng quản lý quan trọng nhất
1.2.2.2 Quản lý nhà trường
Vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường vì nhà trường
là cơ sở giáo dục, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục Khi nghiên cứu
về nội dung khái niệm quản lý giáo dục, khái niệm trường học được hiểu là
tổ chức cơ sở mang tính Nhà nước - Xã hội trực tiếp làm công tác giáo dục- đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai của đất nước
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý trường học (nhà trường) là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn
tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và
kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới" [21]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là lao động của các cơ quan quản lý, nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [32]
Trang 19Tóm lại: Quản lý trường học là thực hiện đường lối giáo dục của
Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và với từng học sinh
Bản chất của hoạt động quản lý trong nhà trường là quản lý hoạt động dạy học, tức là làm sao đưa hoạt động đó dần tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo
Quản lý trường học là phải quản lý toàn diện, nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả Thành công hay thất bại của nhiệm vụ đổi mới nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhà
trường phụ thuộc rất lớn vào điều kiện cụ thể của nhà trường Vì vậy, muốn
thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục, người quản lý phải xem xét đến những điều kiện đặc thù của nhà trường, phải chú trọng tới việc cải tiến công tác quản lý giáo dục để quản lý có hiệu quả các hoạt động trong nhà trường
1.2.3 Quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường
Mục tiêu quản lý trường học là quản lý chất lượng sản phẩm giáo dục Muốn có sản phẩm giáo dục đạt chất lượng, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội thì trước hết nhà trường phải tổ chức, điều khiển
và kiểm soát tốt quá trình tổ chức hoạt động dạy và học, vì hoạt động dạy
và học là hoạt động trung tâm của nhà trường nhằm hình thành và phát triển nhân cách của học sinh - sản phẩm giáo dục của nhà trường
Hoạt động dạy là hoạt động đặc trưng cho bất kỳ loại hình hoạt động nhà trường nào, vì vậy nó là con đường giáo dục tiêu biểu nhất Với nội dung
và tính chất của nó dạy học là con đường tốt nhất giúp cho người học với tư cách là chủ thể nhận thức có thể lĩnh hội mọi hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo chuyển thành phẩm chất và năng lực của bản thân” “Các tổ chức xã
hội cần đảm bảo cho mọi người học nhận thức sự nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe, sự hỗ trợ chung cho thể chất và tình cảm mà người học cần để có thể
Trang 20tham gia một cách tích cực vào quá trình giáo dục và tận hưởng được lợi ích của giáo dục”, Tuyên bố thế giới về giáo dục cho mọi người, Hội nghị Jomtien, Thái Lan 1990
Quản lý hoạt động dạy học là quản lý quá trình truyền thụ kiến thức của đội ngũ giáo viên và quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh và quản lý các điều kiện vật chất, kỹ thuật, phương tiện phục vụ hoạt động dạy học Quản lý hoạt động dạy học là quản lý việc thực hiện chương trình, nội dung dạy học, quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá quá trình lĩnh hội kiến thức của học sinh
Như vậy, biện pháp quản lý là việc người quản lý sử dụng các chức năng quản lý, công cụ quản lý một cách phù hợp cho từng tình huống vào đối tượng mà mình quản lý để đưa đối tượng, đơn vị mình quản lý đạt được mục tiêu mà chủ thể quản lý xây dựng, đưa chất lượng quản lý lên một vị trí mới, tình trạng mới tốt hơn hiện tại
Do vậy đòi hỏi ở người quản lý phải có kiến thức sâu rộng, có kinh nghiệm để gắn kết những biện pháp với nhau, giải quyết các mâu thuẫn giữa các biện pháp, biết tiên liệu trước các hoàn cảnh, tình huống mà đối tượng quản lý đặt ra
1.2.5 Chất lượng dạy học
Trang 21- Chất lượng
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam "Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật chỉ rõ nó là cái gì? Tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với sự vật khác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật Chất lượng được biểu thị ra bên ngoài qua các thuộc tính Nó là sự liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó các sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó Sự thay đổi về chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng có sự thống nhất của số lượng và chất lượng" [ 30 ]
"Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, sự việc Đó là tổng thể những thuộc tính cơ bản khẳng định sự tồn tại của một sự vật, phân biệt nó với sự vật khác" [ 22 ]
- Chất lượng giáo dục
Chất lượng giáo dục được nhìn dưới góc độ nguồn lực và các loại đầu vào khác (số liệu nguồn lực vật chất, số lượng và trình độ giáo viên, tình hình trang thiết bị)
Chất lượng giáo dục nhìn từ góc độ nội dung, biểu hiện qua các thuộc tính (khối lượng kiến thức, trình độ học vấn, kỹ năng, những thông tin cần có trong giáo dục)
Chất lượng giáo dục nhìn từ góc độ đầu ra hoặc từ kết quả cuối cùng (dựa vào các tiêu chí thành tích về học tập, tỷ lệ lên lớp, tốt nghiệp, thu nhập và tình trạng việc làm)
Chất lượng giáo dục nhìn từ góc độ là sự gia tăng thêm (ảnh hưởng của nhà trường, hệ thống giáo dục đối với học sinh)
Trang 22Vậy chất lượng giáo dục là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục Chất lượng giáo dục gắn liền với sự hoàn thiện của tri thức - kỹ năng - thái độ của sản phẩm giáo dục đào tạo và sự đáp ứng yêu cầu đa dạng của nền kinh tế xã hội của nó trước mắt cũng như trong quá trình phát triển Chất lượng giáo dục
có tính không gian, thời gian và phù hợp với sự phát triển Quản lý chất lượng dạy học không đơn thuần chỉ là quản lý các hoạt động dạy học mà phải quản lý quá trình tác động tới tất cả thành tố hoạt động sư phạm có tác dụng hỗ trợ, giúp đỡ phục vụ cho hoạt động dạy học của thầy và trò
- Chất lượng dạy học
Chất lượng dạy học: Chất lượng dạy học chính là chất lượng của
người học hay tri thức phổ thông mà người học lĩnh hội được, vốn học vấn phổ thông, toàn diện và vững chắc ở mỗi người là chất lượng đích thực của dạy học
Chất lượng dạy học là chất lượng của việc dạy và việc học, sự phát huy tối đa nội lực dạy của thầy và năng lực học của học sinh, để sau khi ra trường các em có đủ phẩm chất và năng lực, đáp ứng được yêu cầu của xã hội, của thực tế cuộc sống lao động
Chất lượng dạy bao gồm các công việc của người thầy như là chuẩn bị giáo án, lên lớp thực hiện giáo án, đánh giá kết quả và điều chỉnh phương pháp dạy học
Chất lượng học là kết quả học tập của học sinh trong nhà trường như chuẩn bị bài ở nhà, tiếp thu kiến thức ở trên lớp, tự đánh giá kết quả và tự điều chỉnh phương pháp học
CLDH ở nhà trường phổ thông được đánh giá chủ yếu về hai mặt là hạnh kiểm và học lực của người học, chất lượng dạy học liên quan chặt chẽ đến yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Sản phẩm của dạy học được xem là có chất lượng cao nếu nó đáp ứng tốt nhất mục tiêu giáo dục
mà yêu cầu kinh tế - xã hội đặt ra đối với giáo dục phổ thông
Trang 23CLDH là một bộ phận quan trọng hợp thành của chất lượng giáo dục
và được quan tâm như là kết quả giảng dạy và học tập
Vậy CLDH chính là chất lượng của người học, hay kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp mà người học lĩnh hội được
- Hiệu quả dạy học:
Hiệu quả: Theo Từ điển Tiếng việt: "Hiệu quả là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại"
Hay "Hiệu quả là tỷ lệ kết quả đạt được trên chi phí sức lực, của cải thời gian " [ 30 ]
Xét theo chức năng, nhiệm vụ chung của giáo dục thì hiệu quả giáo
dục hiện nay được thể hiện ở khả năng đáp ứng tích cực những yêu cầu về
dân trí, nhân lực, nhân tài trong công cuộc CNH - HĐH đất nước
Hiệu quả dạy học có thể hiểu là mức độ thực hiện mục tiêu dạy học, liên quan đến việc sử dụng các nguồn lực được huy động Một hệ thống có hiệu quả là một hệ thống thực hiện được những mục tiêu của mình, đối với việc sử dụng tối thiểu các nguồn lực để đạt được một trình độ chất lượng đã định trước Theo quan điểm hệ thống, hiệu quả giáo dục bao gồm hiệu quả trong
và hiệu quả ngoài Hiệu quả trong là hiệu quả được đánh giá trong phạm vi ngành giáo dục Hiệu quả ngoài là hiệu quả được đánh giá cả phía ngoài giáo dục, nhà trường và cá nhân của những học sinh đã tốt nghiệp Đối với những học sinh đã tốt nghiệp đó là sự thành đạt để tiếp tục học lên cấp học cao hơn, hoặc đi vào cuộc sống, học nghề, học chuyên nghiệp, có đầy đủ những kỹ năng cần thiết mà xã hội yêu cầu Đối với nhà trường đó là ảnh hưởng tích cực, sự đóng góp đối với từng cá nhân, cộng đồng và xã hội Như vậy có thể khẳng định việc đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy học phải quán triệt được mục tiêu, nội dung, phương pháp cũng như cách thức
tổ chức quá trình dạy học, đồng thời cần đổi mới quan niệm, phương pháp kiểm tra, đánh giá thi cử hiện nay
Trang 241.2.6 Dạy học tích cực
1.2.6.1 Phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp tích cực (PPTC), là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước, để chỉ những phương pháp giáo dục / dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
PPTC hướng tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực (TTC) của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy TTC của người dạy, đành rằng để dạy học theo PPTC thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động
1.2.6.2 Những dấu hiệu đặc trưng của dạy học tích cực
Có thể nêu 4 dấu hiệu đặc trưng cơ bản sau đây của dạy học tích cực:
a Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS
Trong PPTC, người học - đối tượng của hoạt động “dạy” , đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do
GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó vừa nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
Dạy theo cách này thì GV không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động Chương trình dạy học phải giúp cho từng HS biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng
b Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
PPTC xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học
Trang 25Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì không thể nhồi nhét vào đầu óc trẻ khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho trẻ phương pháp học ngay từ bậc tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải đợc chú trọng
Trong PP học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho
người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo
cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt
hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong
trờng phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của GV
c Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của HS không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng PPTC buộc phải chấp nhận sự phân hoá
về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập
Áp dụng PPTC ở trình độ càng cao thì sự phân hoá này càng lớn Việc
sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hoá hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi HS
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi HS và của cả lớp chứ không phải chỉ dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy
Trang 26Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tácđược tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội
d Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
Trong PPTC, GV phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá
để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS
Theo hướng phát triển các PPTC để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế
Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với GV, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học Trong dạy học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là
người truyền đạt kiến thức, mà trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn
Trang 27các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để HS tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, HS hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với cách dạy và học thụ động mới có thể
thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của
HS Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của HS mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên
1.2.6.3 Hướng thực hiện dạy học tích cực
Thực hiện dạy học tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các PPDH truyền thống Trong hệ thống các PPDH quen thuộc, được đào tạo trong các trư-ờng sư phạm nước ta từ mấy thập kỷ gần đây cũng đã có nhiều PPTC Các sách lý luận dạy học đã chỉ rõ, về mặt hoạt động nhận thức, thì các phương pháp thực hành là “tích cực” hơn các phương pháp trực quan, các phương pháp trực quan là “tích cực” hơn các phương pháp dùng lời
Trong đổi mới PPDH cần kế thừa, phát triển những mặt tích cực trong hệ thống PPDH đã quen thuộc, đồng thời phải học hỏi, vận dụng một số PPDH mới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học ở nước ta để từng bước tiến lên vững chắc
1.3 Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học
1.3.1 Một số khái niệm
- Tin học:
Tin học là ngành khoa học nghiên cứu các phương pháp công nghệ
và các kĩ thuật xử lý thông tin một cách tự động
- Công nghệ thông tin:
Trang 28Công nghệ thông tin là một tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội
- Công nghệ thông tin và truyền thông (Information and Communication
đã giúp con người xử lý thông tin một cách tự động và nhanh chóng, điều
đó đã tiết kiệm rất nhiều thời gian và công sức của con người
Toàn bộ các thiết bị điện tử và cơ khí của máy tính được gọi chung
là phần cứng
Các chương trình chạy trên máy tính được gọi là phần mềm
- Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học : Là quá
trình ứng dụng ICTs vào hoạt động dạy học một cách hợp lý Trong đó có
sử dụng các loại hình TBDH :
Phim đèn chiếu
Bản trong dùng cho máy chiếu qua đầu
Băng, đĩa ghi âm
Băng hình, đĩa hình
Phần mềm dạy học
Giáo án điện tử, Bài giảng điện tử, Giáo án kỹ thuật số
Trang Web học tập, Phòng thí nghiệm ảo…
1.3.2 Môi trường học tập đa phương tiện
Thuật ngữ Multimedia là một thuật ngữ mới được đưa vào sử dụng trong khoảng hơn 10 năm gần đây
Trang 29Multimedia có nghĩa là tổ hợp của nhiều phương tiện gộp lại.Từ Multimedia trong từ điển Anh – Việt được dịch là đa phương tiện truyền thông, từ này gồm hai thành phần ghép lại: Multi với nghĩa là đa chiều, nhiều và Media với nghĩa là phương tiện truyền thông
Bốn thành tố cơ bản của quá trình dạy học là: Mục tiêu, Nội dung, Phương pháp và thiết bị giáo dục
Sơ đồ 1.4 Multimedia trong mô hình dạy học
* Môi trường học tập đa phương tiện
Môi trường học tập đa phương tiện là môi trường học tập được trang
bị, lắp đặt các phương tiện truyền thông (Multimedia) và các điều kiện đảm bảo cho các phương tiện đó hoạt động tốt
Ở đó diễn ra tương tác đa chiều:
Tương tác hai chiều giữa giáo viên – học sinh ;
Tương tác hai chiều giữa phương tiện – học sinh ;
Tương tác hai chiều giữa giáo viên – phương tiện
Chiều thứ ba bao gồm: những tác động qua lại giữa giáo viên và mối quan hệ học sinh – phương tiện, giữa học sinh và mối quan hệ giáo viên – phương tiện, giữa phương tiện với mối quan hệ giáo viên – học sinh
Nội dung
Phương pháp
như thế nào
để làm gì
Mục tiêu
Trang 30Mỗi hệ thống thiết bị dạy học đa phương tiện bao gồm: Khối mang thông tin và khối chuyển tải thông tin tương ứng
Khối mang thông tin Khối chuyển tải thông tin tương ứng Phim Slide, phim chiếu bóng > Máy chiếu Slide, máy chiếu phim Bản trong > Máy chiếu qua đầu
Băng, đĩa ghi âm > Radio Cassette, Đầu đĩa CD, Máy tính Băng, đĩa ghi hình > Video, Đầu đĩa hình, Máy tính, Máy
chiếu đa năng, Màn chiếu
Phần mềm dạy học > Máy tính, Máy chiếu đa năng, Màn chiếu, Bảng kỹ thuật số
Giáo án điện tử, Bài giảng
điện tử, Giáo án kỹ thuật số,
Trang Web học tập > Máy tính, Máy chiếu đa năng, Màn chiếu, Bảng kỹ thuật số
Phòng thí nghiệm ảo
Cơ sở của việc cải tiến PPDH là sự lựa chọn nội dung bài học thích hợp, sau đó là việc nghiên cứu áp dụng những phương pháp và phương tiện thích hợp để dạy và học
- Sử dụng ĐPT trong dạy học mang lại cho chúng ta nguồn thông tin phong phú và sinh động, bài giảng trở nên trực quan hơn, giảm bớt tính trừu tượng, bài giảng sống động hơn, thu hút sự tập trung, niềm say mê hứng thú của người học, làm cho người học dễ hiểu và nhớ lâu
- Đa phương tiện góp phần chống dạy chay và học chay trong điều kiện cơ sở vật chất, và trang thiết bị phòng thí nghiệm, phòng thực hành còn thiếu thốn và lạc hậu như hiện nay
- Đa phương tiện giúp người thày có thể truyền đạt bằng nhiều con đường khác nhau những lượng thông tin cần thiết giúp cho việc tiếp thu bài học của học sinh Việc tiếp thu kiến thức có hiệu quả cao khi học sinh nhận
Trang 31được lượng tin từ nhiều nguồn tri giác khác nhau và trong hoạt động riêng của mình, tổng hợp và chọn lọc những nguồn tin đó
Trong dân gian đã có câu “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm”, để nói lên tác dụng khác nhau của các giác quan trong quá trình truyền thụ kiến thức
Theo cuốn sách “Phương tiện dạy học” của Tô Xuân Giáp, NXB Giáo dục,1997, mức độ ảnh hưởng của các giác quan trong quá trình truyền thông:
- Sự tiếp thu tri thức khi học đạt được là: 1,0 % qua nếm
Ở Ấn Độ, tổng kết quá trình dạy học người ta cũng nói:
Tôi nghe - tôi quên
Tôi nhìn - tôi nhớ
Tôi làm - tôi hiểu
Ngày nay, ứng dụng CNTT và TT trong môi trường dạy học ĐPT đã thành một yếu tố quan trọng, là một công cụ hữu hiệu để đổi mới PPDH nhằm nâng cao chất lượng DH Nó làm tăng tính tích cực, chủ động của người học trong quá trình tư duy lĩnh hội tri thức mới
1.3.3 Giáo án điện tử
1.3.3.1 Giáo án
Trang 32Giáo án- kế hoạch dạy học ( Lesson Plan ) là dàn ý lên lớp của giáo viên bao gồm đề bài của giờ lên lớp, mục đích giáo dục và giáo dưỡng, nội dung, phương pháp, thiết bị, những hoạt động cụ thể của thầy và trò, khâu kiểm tra đánh giá…tất cả được ghi ngắn gọn theo trình tự thực tế sẽ diễn ra trong giờ lên lớp Giáo án được thầy giáo biên soạn trong giai đoạn chuẩn
bị lên lớp và quyết định phần lớn sự thành công của bài học” (Từ điển bách khoa Việt Nam, quyển II NXBTĐBK HN- 2002, trang 119)
Giáo án là kế hoạch lên lớp của giáo viên
Lập kế hoạch bài học là công việc của thầy trước khi lên lớp, là xây dựng một bản kế hoạch chi tiết cho mỗi giờ lên lớp Kết quả của công việc này được gọi là kế hoạch bài học hay “bài soạn”
Thiết kế nội dung cách thức dạy học và giáo dục là khâu quan trọng của quá trình sư phạm Là yếu tố khiến giáo viên làm việc có kế hoạch, xác định rõ ràng trước khi dạy học những điều sau: Học sinh cần học cái gì ? Vì sao phải học? Học lúc nào? Học như thế nào?
+ Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động chỉ đạo lập kế hoạch bài học:
Lập kế hoạch bài giảng là công việc thường xuyên đòi hỏi nhiều công sức nhất của người giáo viên, là khâu đầu tiên trong lao động sư phạm chịu
sự tác động của nhiều yếu tố Cụ thể gồm các yếu tố chính sau:
- Nội dung bài học: Đây là những đơn vị kiến thức cơ sở đã được lựa
chọn, sắp xếp theo một chương trình SGK nhằm đạt được mục tiêu dạy học
đã đề ra Từ mục tiêu quy định nội dung, phương pháp hình thức tổ chức dạy học Do đó việc soạn bài cho mỗi tiết học, bài học phải căn cứ vào nội dung với những mục đích yêu cầu tương ứng Để lập kế hoạch cho bài dạy đòi hỏi người giáo viên phải nắm vững nội dung chương trình, SGK của cả cấp học cho đến từng bài học cụ thể
- Đối tượng người học : Để có một giáo án tốt, đảm bảo phù hợp với
đối tượng học sinh, giáo viên phải hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý người học ở
Trang 33nhiều lứa tuổi khác nhau, hiểu được hoàn cảnh gia đình của học sinh lớp mình phụ trách (chỉ có hiểu học sinh tốt mới biết được học sinh cần gì, mong muốn gì và thực hiện nó như thế nào ) Cùng với nó là điều kiện cơ
sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học Tuy nhiên, cùng một chương trình thống nhất trong cả nước, nhưng các địa phương lại có điều kiện kinh tế-xã hội khác nhau, do đó tuỳ thuộc vào điều kiện của trường mình, mỗi giáo viên sẽ thiết kế bài học theo trình độ khác nhau cho phù hợp và tối ưu với từng đối tượng học sinh của trường mình và lớp mình
- Ý thức nghề nghiệp : Một bài soạn có chất lượng còn phù thuộc rất
nhiều vào cá nhân giáo viên Đó là ý thức nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm với công việc, phù thuộc vào trình độ năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên
Với những giáo viên có trình độ, năng lực chuyên môn vững vàng với
bề dày kinh nghiệm, có tinh thần trách nhiệm cao, nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ thì việc soạn bài không có gì là khó khăn, đó là những công việc làm thường xuyên và được in sâu, trở thành thói quen, kỹ năng, kỹ xảo Song trong thực tế người giáo viên không thể dạy mãi bằng vốn kiến thức
cũ trong khi đối tượng dạy học biến đổi và phát triển không ngừng về mọi mặt Do vậy, để đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của xã hội cũng như mục tiêu của ngành giáo dục đề ra, thì việc lập kế hoạch bài học không đơn thuần lặp đi lặp lại cái cũ mà phải luôn có sự biến đổi, phát triển cho phù hợp Hiện nay việc đổi mới chương trình SGK và phương pháp dạy học đòi hỏi giáo viên phải giảng dạy thông qua các hoạt động tổ chức hướng dẫn người học tự khám phá, tự phát hiện tri thức mới và phát huy tối đa vai trò chủ động sáng tạo của họ Đổi mới phương pháp dạy học thực chất là đổi mới cách thức hoạt động của người dạy và người học
1.3.3.2 Giáo án dạy học tích cực
Theo tác giả Ngô Quang Sơn : '' Giáo án dạy học tích cực là giáo án (kế hoạch bài học) được thiết kế theo hướng tích cực hóa quá trình dạy
Trang 34học; biến quá trình dạy học thành quá trình dạy học tích cực; tích cực hóa quá trình nhận thức, quá trình tư duy của học sinh " [ 23 ]
Có hai yêu cầu cơ bản của một bài soạn thể hiện dạy học tích cực đó là :
- Bài soạn phải chỉ rõ hoạt động học tập của học sinh và phải đảm bảo rằng trình tự các hoạt động đó là phù hợp với lôgíc nhận thức của học sinh khi học một bài học cụ thể
- Bài soạn phải chỉ rõ mức độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của học sinh cần đạt được sau bài học đó
Cấu trúc của một giáo án dạy học tích cực bao gồm :
* Mục đích, yêu cầu theo kiến thức , kỹ năng , thái độ
* Chuẩn bị thiết bị giáo dục : Thiết bị giáo dục truyền thống hoặc thiết bị giáo dục có ứng dụng CNTT (thiết bị dạy học hiện đại, hay thiết bị dạy học nghe nhìn)
* Những phương pháp biện pháp sẽ được phối hợp sử dụng trong quá trình giảng dạy
*Tiến trình dạy học : giải quyết các nhiệm vụ nhận thức, tư duy Chia thành các hoạt động để lĩnh hội các kiến thức cơ bản
Hoạt động nhận thức 1: Nhiệm vụ nhận thức 1
- Thao tác định hướng của giáo viên:
- Thao tác thi công của HS:
- Thao tác định hướng của giáo viên:
- Thao tác thi công của HS:
Cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ nhận thức 1 này
Hoạt động nhận thức 2: Nhiệm vụ nhận thức 2
- Thao tác định hướng của giáo viên:
- Thao tác thi công của HS:
- Thao tác định hướng của giáo viên:
Trang 35- Thao tác thi công của HS:
Cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ nhận thức 2 này
1.3.3.3 Giáo án điện tử ( E- Lesson Plan )
Chuyên gia công nghệ thông tin của UNESCO BANGKOK cho rằng : Giáo án điện tử là một thuật ngữ dùng để mô tả việc thiết kế và thực hiện giáo án trước và trong quá trình dạy học dựa trên CNTT và TT Các giáo án điện tử đều có những điểm chung sau :
+ Dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông Cụ thể hơn là công nghệ mạng, kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, kỹ thuật liên kết + Về một số mặt, hiệu qủa của GAĐT cao hơn so với giáo án dạy học truyền thống do nó có tính tương tác cao dựa trên công nghệ Multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người
GAĐT (giáo án dạy học tích cực được nhúng trong môi trường CNTT và TT) sẽ trở thành xu thế tất yếu trong giáo dục hiện đại Hiện nay, giáo án điện tử đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nước trên thế giới Có nhiều quan điểm đưa ra về “Giáo án điện tử”, nhìn
chung có thể hiểu: Giáo án điện tử là giáo án được thiết kế qua máy vi tính
chạy trên nền (hoặc được sự hỗ trợ) của một số phần mềm công cụ nào đó
và được trình chiếu nội dung cho học sinh thông qua hệ thống dạy học đa phương tiện (máy tính – máy chiếu đa năng – màn chiếu; đầu chạy đĩa CD – vô tuyến truyền hình)
Để tránh lạm dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình dạy học tích cực, thể hiện việc thiết kế và trình bày một giáo án điện
tử qua sơ đồ sau:
Trang 36Giáo án điện tử = Giáo án dạy học tích cực (Kế hoạch dạy học tích cực) + Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học
Nguồn : [ 23 ]
Trang 37Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ
DỤNG GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ Ở TRUNG TÂM NGOẠI NGỮ - TIN HỌC BẮC GIANG
2.1 Đặc điểm tình hình địa phương
Bắc Giang là một tỉnh miền núi phía bắc, cách thủ đô Hà Nội khoảng
50 km về phía bắc; dân số hơn 1,5 triệu người với 26 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 12% Tỉnh có 09 huyện và 01 thành phố, 229 xã, phường; trong đó có 07 huyện, 169 xã miền núi, 44 xã đặc biệt khó khăn, 28 xã nghèo; thu ngân sách nhà nước năm 2005 đạt ~
500 tỷ VNĐ Tuy là một tỉnh còn nhiều khó khăn về phát triển kinh tế, song Bắc Giang là vùng đất có bề dày lịch sử, nhân dân các dân tộc trong tỉnh giầu truyền thống yêu nước và hiếu học
"Trong thời gian qua, thực hiện các Nghị quyết của Đảng về giáo dục- đào tạo, đặc biệt là từ khi có NQ Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng lần hai khoá 8, sự nghiệp giáo dục-đào tạo của tỉnh nhà đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ Hệ thống mạng lưới quy mô các loại hình trường lớp được mở rộng, cân đối, hợp lý giữa các cấp học, bậc học, ngành học,
cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân Đội ngũ giáo viên và cán
bộ quản lý giáo dục được chăm lo, tăng về số lượng, chất lượng từng bước
đã được nâng lên '' [ 27 ] Công tác xã hội hoá giáo dục có nhiều chuyển
biến, tiến bộ Năm 2004 tỉnh Bắc Giang đã đạt phổ cập THCS và hiện nay đang tiến hành chương trình phổ cập THPT Đặc biệt ngành GD-ĐT Bắc Giang rất chú trọng công tác đổi mới phương pháp dạy học, đưa CNTT và
TT vào giảng dạy, khuyến khích giáo viên tích cực thiết kế và giảng dạy bằng GAĐT Đi đôi với công tác này là việc đẩy mạnh đầu tư CSVC, trang thiết bị dạy học hiện đại như máy chiếu qua đầu (Overhead), máy chiếu đa năng (Multi Projector), xây dựng phòng học đa năng Ngày 28 tháng 11 năm 2005 Sở GD-ĐT đã có công văn số 1350/SGD&ĐT-KHTC chỉ đạo các cơ sở giáo dục đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác quản lý giáo
Trang 38dục và đổi mới phương pháp giảng dạy Trong kỳ thi giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh năm 2006, Sở GD-ĐT đã quy định mỗi giáo viên tham gia thi giảng phải có ít nhất một giờ dạy có ứng dụng CNTT và tất nhiên giáo viên phải thiết kế GAĐT và sử dụng trong bài giảng của mình
2.2 Đặc điểm tình hình Trung tâm Ngoại ngữ-Tin học tỉnh Bắc Giang
Trung tâm Ngoại ngữ-Tin học Bắc Giang là một cơ sở giáo dục nằm trong hệ thống các Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Bắc Giang, trực thuộc Sở GD-ĐT Được thành lập theo Quyết định số 27/UB ngày 01 tháng
4 năm 1995 của UBND tỉnh Hà Bắc ( nay là Bắc Giang ), với chức năng, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ về ngoại ngữ , tin học từ cấp độ A đến CĐ, ĐH và các loại hình đào tạo không chính quy cho cán bộ
và nhân dân trong tỉnh phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá, chính trị của địa phương trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước và hội nhập quốc tế Nằm ở giữa trung tâm Thành Phố Bắc Giang, trong hơn 10 năm tổ chức và hoạt động, Trung tâm đã là địa chỉ tin cậy của cán bộ, nhân dân trong tỉnh trong việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nhân lực tri thức Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Chính quyền và các Sở, Ban, Ngành địa phương đơn vị đã được đầu tư xây dựng CSVC khang trang, trang thiết bị dạy học hiện đại Hiện nay Trung tâm đã liên kết với 10 trường đại học tổ chức đào tạo hệ đại học vừa học vừa làm với số lớp hằng năm từ 18 đến 20 lớp, số học viên dao động trên dưới 1.000 người Ngoài ra, hằng năm Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng hàng chục lớp hệ BTTHPT, hệ bồi dưỡng chuyên đề, hệ ngắn hạn hoặc cấp chứng chỉ A, B,
C cho hàng nghìn lượt người học Trung tâm liên tục đạt danh hiệu đơn vị tiến tiến, xuất sắc cấp tỉnh, các tổ chức đảng, đoàn thể được công nhận trong sạch, vững mạnh Năm 2004, đơn vị đạt danh hiệu lá cờ đầu ngành GDTX tỉnh Bắc Giang, được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen Năm
2006 đơn vị vinh dự được Nhà nước phong tặng huân chương lao động hạng ba
Trang 392.2.1 Đội ngũ cán bộ giáo viên
Do chức năng, nhiệm vụ của một đơn vị GDTX, Trung tâm có số lượng CBGV trong biên chế không nhiều, 16 người Số giáo viên trực tiếp giảng dạy tập trung vào 02 môn ngoại ngữ và tin học Tuy nhiên, để hoàn thành các nhiệm vụ được giao, đơn vị luôn có một đội ngũ đông đảo giáo viên hợp đồng theo năm học hoặc theo từng thời điểm để giảng dạy các bộ môn văn hoá và tham gia một số công việc khác Giáo viên thuộc biên chế của đơn
vị và do đơn vị hợp đồng chỉ tham gia giảng dạy các lớp hệ BTTHPT, hệ đào tạo , bồi dưỡng ngắn hạn và cấp chứng chỉ Các khối lớp hệ đại học do các trường đại học cử giảng viên lên giảng dạy, Trung tâm chỉ phối kết hợp với các trường đại học tổ chức tuyển sinh, quản lý đào tạo, theo dõi chương trình
và chuẩn bị các điều kiện về CSVC, trang thiết bị cho dạy và học
Biên chế
Hợp đồng
Trình độ đào tạo
Chư
a đạt
Đạt chuẩn ( ĐH )
Trên chuẩn Thạc
GV có chuyên môn khá
GV có chuyên môn đạt yêu cầu
GV có chuyên môn chưa đạt yêu cầu
Trang 40(Nguồn : Báo cáo Sơ kết- tổng kết các năm học của Trung tâm NN-TH Bắc Giang)
Qua số liệu thống kê ở trên cho thấy Trung tâm có số lượng giáo viên dạy giỏi các cấp ngày càng nhiều hơn, trong đó có một số GV đạt trình độ nghiệp vụ cao
Hơn nữa, ta thấy tuổi đời và tuổi nghề của CBGV trong nhà trường là khá trẻ, số trong biên chế hầu hết sinh sống tại thành phố nên khoảng cách đến cơ quan là không xa, có điều kiện kinh tế ổn định, có rất nhiều thuận lợi cho việc học tập nâng cao trình độ Tuy nhiên, có một số giáo viên tuổi tương đối cao ( chủ yếu là số GV hợp đồng dạy hệ BTTHPT), có 4 người trên 50 tuổi, sức khoẻ không tốt Mặc dù có bề dày kinh nghiệm song sự nhiệt tình trong các phong trào bị hạn chế do tuổi tác nhất là trong việc đổi mới PPDH, họ rất ngại khi ứng dụng CNTT và TT vào giảng dạy
Về trình độ đội ngũ giáo viên hiện nay, 100% đạt chuẩn và vượt chuẩn Nhìn vào bảng thống kê chúng ta thấy chất lượng đội ngũ ngày một đi lên,
số giáo viên khá giỏi chiếm tỷ lệ khá cao, thể hiện trình độ của tập thể sư phạm vững vàng Đây là nhân tố đóng vai trò chủ đạo trong việc nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục trong nhà trường
2.2.2 Số lượng và chất lượng giáo dục-đào tạo
Trong 10 năm tổ chức và hoạt động, Trung tâm NN-TH Bắc Giang liên tục phát triển về số lớp và các loại hình đào tạo, bồi dưỡng Đi đôi với công tác phát triển số lượng, đơn vị luôn chú trọng cải tiến công tác quản lý, phương pháp giảng dạy, đầu tư CSVC để nâng cao chất lượng đào tạo
2.2.2.1 Số lượng đào tạo ( tính đến thời điểm tháng 12 năm 2006 )
Số lớp Số học viên hiện có Ghi chú
Bảng 2.3: Thống kê số liệu hệ BTTHPT