1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 -1945 cho học sinh lớp 11

120 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống câu hỏi và bài tập này sẽ giúp cho các bạn học sinh phân tích sâu hơn tác phẩm, hiểu thấu đáo những nội dung trong các phần của sách giáo khoa… Làm những câu hỏi và bài tập này

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC - -

NGUYỄN THỊ LOAN

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN XUÔI LÃNG MẠN 1930 – 1945 CHO HỌC SINH LỚP 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC - -

NGUYỄN THỊ LOAN

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN XUÔI LÃNG

MẠN 1930 – 1945 CHO HỌC SINH LỚP 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

( BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60140111

HÀ NỘI – 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS.Tôn Quang Cường, đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường ĐH Giáo Dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy cô giáo cùng các em học sinh trường THPT Lương Thế Vinh đã tạo kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn

Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt là gia đình, những người luôn kịp thời động viên và giúp

đỡ tôi vượt qua những khó khăn trong cuộc sống và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 1 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Loan

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.7.1 Thang điểm đánh giá 70 Bảng 3.7.2.Kết quả bài kiểm tra lớp 11A1 70 Bảng 3.7.3 Kết quả bài kiểm tra lớp 11A2 ………… 70 Bảng 3.7.4 Kết quả bài thực nghiệm và bài đối chứng ở bài “ Hai đứa trẻ” ….70 Bảng 3.7.5 Kết quả bài thực nghiệm và bài đối chứng ở bài “Chữ người tử tù” 71

Trang 6

iv

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục viết tắt ii

Danh mục bảng iii

Mục lục iv

MỞ ĐẦU 1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Cấu trúc luận văn 8

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9

1.1 Cơ sở lý luận 9

1.1.1 Khái niệm câu hỏi nêu vấn đề 9

1.1.2 Đặc điểm và nguyên tắc xây dựng câu hỏi nêu vấn đề 10

1.1.3 Vai trò của câu hỏi nêu vấn đề 17

1.1.4 Phân loại hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong tác phẩm văn chương 19

1.1.5 Tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 -1945 ở lớp 11 với việc ứng dụng câu hỏi nêu vấn đề 23

1.1.6 Xu hướng tiếp cận liên môn trong dạy học 24

1.2 Cơ sở thực tiễn 28

1.2.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh THPT 28

1.2.2 Thực trạng áp dụng câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học hiện nay .32

1.2.3 Học sinh với việc vận dụng câu hỏi nêu vấn đề trong tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 -1945 ở lớp 11 34

Trang 7

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC TÁC

PHẨM VĂN XUÔI LÃNG MẠN 1930 – 1945 Ở LỚP 11 36

2.1 Phân tích mục tiêu dạy học các tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 - 1945 trong chương trình THPT 36

2.1.1 Mục tiêu dạy học môn Ngữ văn 36

2.1.2 Mục tiêu dạy học các tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 -1945 trong chương trình THPT 36

2.2 Cách xây dựng câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 – 1945 37

2.2.1 Dựa vào tình huống của tác phẩm và tính cách của nhân vật 37

2.2.2 Dựa vào đặc trưng sáng tạo trong kết cấu và nghệ thuật sử dụng chi tiết trong tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 – 1945 40

2.3 Những yêu cầu chính đối với câu hỏi nêu vấn đề trong giờ học các tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 – 1945 41

2.3.1 Câu hỏi nêu vấn đề trong tình huống có vấn đề 41

2.3.2 Câu hỏi nêu vấn đề phải bám sát giá trị nội dung, nghệ thuật 43

2.3.3 Câu hỏi nêu vấn đề phải dựa vào đặc điểm tâm lý tiếp nhận của học sinh 45

2.4 Khai thác các vấn đề trong quá trình phân tích tác phẩm “Hai đứa trẻ” và “ Chữ người tử tù” 46

2.4.1 Những tư tưởng, quan điểm của tác giả Nguyễn Tuân và Thạch Lam trước cách mạng tháng Tám – 1945 46

2.4.2 Sự sáng tạo trong phong cách nghệ thuật của Thạch Lam và Nguyễn Tuân 48

2.5 Các bước chuẩn bị cho việc xây dựng câu hỏi nêu vấn đề trong giờ học tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 – 1945 51

2.5.1 Xác định vấn đề, tình huống có vấn đề 51

2.5.2 Xây dựng tình huống có vấn đề 53

2.5.3 Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề 54

Trang 8

vi

2.6 Điều kiện để vận dụng câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học các tác

phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 -1945 59

2.6.1 Xây dựng môi trường học tập tạo tâm thế cho học sinh 59

2.6.2 Một số kỹ thuật sử dụng câu hỏi nêu vấn đề để kiểm tra, đánh giá 61

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM 63

3.1 Mục đích thực nghiệm 63

3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 63

3.3 Nội dung thực nghiệm 63

3.4 Chuẩn bị công việc thực nghiệm 63

3.5 Tiến trình thực nghiệm 64

3.5.1 Công việc thực nghiệm 64

3.5.2 Mô tả hoạt động triển khai dạy học thực nghiệm 64

3.6 Thuyết minh hệ thống câu hỏi trong bài thực nghiệm 66

3.7 Kết quả thực nghiệm và đánh giá 69

3.7.1 Đánh giá khả năng tiếp thu bài của học sinh bằng bài kiểm tra… …69

3.7.2 Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề bằng phương pháp quan sát……… ……… 72

3.7.3 Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề bằng phương pháp phỏng vấn……… 74

3.8 Thành công và hạn chế của thực nghiệm 74

3.8.1 Những thành công của thực nghiệm 74

3.8.2 Những vấn đề còn hạn chế 75

3.9 Một số điểm cần lưu ý khi sử dụng câu hỏi nêu vấn đề trong giờ học 76

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 83

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách PPDH ở nhà trường phổ thông

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy

và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập

đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một

số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này

Luật giáo dục (điều 28) yêu cầu: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem

Trang 10

có vấn đề trong giảng văn là tạo được một trạng thái tâm lí văn học cần thiết

để mở đầu cho quá trình giảng văn đạt được hiệu quả mong muốn Xây dựng được tình huống có vấn đề là một hoạt động sư phạm phù hợp với mục đích dạy học mới hiện nay, vừa thích ứng với quy luật cảm thụ văn học và đặc trưng của văn học

Tuy thế, trong một số năm gần đây, không khí và hiệu quả dạy- học Ngữ Văn ở nhiều Nhà trường thực sự không được như mong muốn của cả người dạy lẫn người học Không khí nhiều giờ đọc- hiểu trở nên tẻ nhạt, nặng

nề, “thiếu lửa” Nhiều giáo viên dạy cho hoàn thành nhiệm vụ còn học sinh thì thụ động, lười đọc, lười suy nghĩ, ngại phát biểu xây dựng bài hoặc nếu bị buộc phát biểu thì trả lời cho qua chuyện Khi làm văn, học sinh viết những câu văn, bài văn nghèo nàn, ngô nghê về ý tứ, lủng củng trong diễn đạt Hiệu quả dạy học Ngữ Văn vì thế bị ảnh hưởng nghiêm trọng Qua hoạt động dự giờ các đồng nghiệp tôi thấy là do nhiều nguyên nhân: Nhiều giáo viên văn chưa sử dụng được hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài đủ sức lôi cuốn học sinh tham gia giờ học với tinh thần chủ động, tích cực và say mê Cá biệt, có giáo viên thường xuyên nêu những câu hỏi không đạt yêu cầu về tính khoa

Trang 11

học, tính sư phạm khiến học sinh và đôi khi cả giáo viên dự giờ cũng không biết phải trả lời như thế nào, hay có những câu hỏi chỉ mang tính chất tái hiện kiến thức, không phong phú, đa dạng Thậm chí, có giáo viên chưa biết khai thác, tận dụng triệt để và linh hoạt các câu hỏi có sẵn trong SGK Ở trường THPT Lương Thế Vinh là một trường dân lập, chất lượng đầu vào của học sinh thấp nên việc sử dụng các câu hỏi nhằm phát huy sự sáng tạo, tích cực, chủ động trong giờ học của học sinh là một vấn đề cần chú trọng Việc sử dụng những câu hỏi yêu cầu học sinh phải dùng tri thức đã biết để tìm tòi phát hiện tri thức mới hoặc phải tổng hợp, bao quát tri thức trên nhiều lĩnh vực, phải trăn trở suy ngẫm để mở rộng, xoáy sâu vấn đề hoặc vận dụng, liên hệ VBVH vào thực tế xã hội, thực tiễn đời sống lại càng khiêm tốn

Để học sinh chủ động, tích cực, sôi nổi, hào hứng trong giờ học văn cũng như nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ Văn, tôi đã tích cực sử dụng câu hỏi nêu vấn đề trong đọc-hiểu VBVH Và đặc biệt hơn chúng tôi quan tâm tới việc giảng dạy tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 -

1945 bởi việc dạy các tác phẩm này đang gặp nhiều khó khăn do cách biệt về hoàn cảnh lịch sử, đời sống, quan điểm nghệ thuật giữa các nhà văn, giữa các thời đại khác nhau Bên cạnh đó, tình trạng thầy đọc trò chép, thầy giảng trò nghe là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh không hứng thú trong giờ học Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi nhằm kích thích sự suy nghĩ tìm tòi của học sinh, buộc các em phải vận dụng những thao tác tư duy khác nhau, phải sáng tạo, tìm tòi, phát hiện, giải thích, chứng minh và kết luận vấn đề Rõ ràng đây là dạng câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực và hoạt động tư duy của học sinh qua giờ học Vận dụng kiểu dạy học nêu vấn đề trong phân tích tác phẩm văn học ởbậc THPT đã được thực hiện từ khá lâu Thế nhưng không phải tiết dạy nàocũng thành công bởi cái khó nhất là làm thế nào nêu lên tình huống có vấn đềnhằm đưa học sinh (đối tượng trung tâm) vào quá trình tư duy Một bài văn,một tác phẩm văn chương, một số phận nhân vật chỉ trở thành đối tượng suytư của mỗi người khi chính người

Trang 12

và áp dụng lý thuyết đó vào việc “Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 – 1945 cho học sinh lớp 11” nhằm nâng cao hiệu quả của giờ học

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu vấn đề đặt câu hỏi trong dạy học không còn là vấn đề mới trên thế giới Ngay từ những năm trước Công nguyên vấn đề này đã gắn liền với tên tuổi của nhà triết học Socrát (470 - 390 TCN) Khổng Tử (551 - 479 TCN) cho rằng khi dạy học là đưa người học vào tình huống mâu thuẫn, tức

là đặt ra cho họ những câu hỏi bẫy để kích thích cho người học

Trong phương pháp luận dạy học văn của Z.Rez (Bản dịch của Nxb

GD – Hà Nội,1983).Tác giả đã trình bày khái niệm dạy học nêu vấn đề và câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm văn chương Tác giả cũng chỉ rõ: Câu hỏi nêu vấn đề là nhân tố tạo ra tình huống có vấn đề Câu hỏi phải đảm bảo tiêu chí: “có mâu thuẫn”, “phát hiện được bình diện thứ hai của sự kiện”, “phù hợp với bản chất của tác phẩm nghệ thuật và được học sinh quan tâm.”

Bàn về hệ thống câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa, V A Kôvalép cho rằng: Mỗi chương sách giáo khoa được kết thúc bằng một hệ thống câu hỏi và bài tập Hệ thống câu hỏi và bài tập này sẽ giúp cho các bạn học sinh phân tích sâu hơn tác phẩm, hiểu thấu đáo những nội dung trong các phần của sách giáo khoa… Làm những câu hỏi và bài tập này bạn sẽ nắm được tri thức một cách hệ thống Những câu hỏi và bài tập này được sắp xếp một cách có

Trang 13

thứ tự Mỗi câu hỏi mới lại phức tạp hơn, vì nó đều có lôgíc bắt nguồn từ các bài tập và câu hỏi trước đó

Qua ý kiến trên, V A Kôvalép chú ý tới hệ thống câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa với mục đích, yêu cầu, tác dụng và đặc điểm của nó

Khẳng định vai trò, tầm quan trọng của hệ thống câu hỏi, bài tập trong sách giáo khoa văn học, tác giả A.C.Acbaseva quan niệm: Những câu hỏi, bài tập xếp đặt trong sách giáo khoa văn học có thể góp phần kích thích và phát triển tình cảm, đạo đức của học sinh; hình thành phương pháp lịch sử văn học đối với các tác phẩm nghệ thuật; giúp đỡ học sinh phát triển và làm phong phú lời nói

Ở Liên Xô, các tài liệu đề cập đến phương pháp xây dựng và sử dụng câu hỏi trong dạy học của các tác giả như: P.B Gophman, O.Karlinxki, B.P.Exipop, M.A.Danilop, N.M.Veczilin Cũng đi sâu vào nghiên cứu và vấn

đề này còn có một số nhà giáo dục như: Skinner (Mỹ), Okon (Ba Lan) Gần

đây đáng chú ý có công trình Đặt câu hỏi có hiệu quả cao (HEO) cách thức

giúp học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động học tập của Ivan Hanel

Ở nước ta vấn đề nghiên cứu phương pháp xây dựng câu hỏi trong dạy

học môn văn được đề cập trong một số công trình như: “Phương pháp dạy

học Văn” của Phan Trọng Luận (Chủ biên), tác giả đề cập tới đặc điểm, vai

trò và nguyên tắc của việc xây dựng hệ thống câu hỏi gắn với phương pháp dạy học Tác giả bàn nhiều đến tiêu chí câu hỏi nêu vấn đề và điều đó có đóng góp đáng kể, làm phong phú thêm cho đề tài nghiên cứu

Trong cuốn “Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà

trường” (2009) của Nguyễn Viết Chữ Tác giả đề cập đến các loại câu hỏi

trong dạy học các thể loại như: tự sự, trữ tình, dân gian Tác giả cũng phân loại hệ thống câu hỏi cảm xúc vật chất, câu hỏi nội dung, câu hỏi tưởng tượng, sáng tạo

Đi sâu vào trình bày những biện pháp nhằm rèn luyện tư duy cho học sinh, tác giả Nguyễn Trọng Hoàn đã đưa ra cuốn “Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương” Tác giả có phân loại các loại câu hỏi trong dạy học Văn Theo tác giả, “Việc đặt câu hỏi đối với học sinh trong quá

Trang 14

6

trình tiếp nhận văn học có ý nghĩa làm thay đổi tình thái của giờ học, hay nói cách khác là mở tình huống “có vấn đề”, xác định tâm thế thực tại và đặt học sinh vào các yêu cầu của việc nhận thức”

Khi tiến hành biên soạn sách giáo khoa cải cách, nói về Phương hướng biên soạn sách giáo khoa cải cách lớp 10, Nguyễn Lộc đã đề cập đến vấn đề câu hỏi và bài tập: Tuyệt đối tránh những câu hỏi mà học sinh không cần nghiên cứu văn bản cũng có thể trả lời được đại khái, hay những câu hỏi chỉ chú trọng mặt đạo đức xã hội của tác phẩm mà hoàn toàn coi nhẹ giá trị thẩm mỹ của tác phẩm Phải nghiên cứu thật kỹ các văn bản giảng văn để nêu lên những câu hỏi cụ thể, gợi mở để học sinh có thể trả lời từng bước từ chi tiết đến khái quát Bám sát câu hỏi, học sinh tự mình phát hiện ra cái hay, cái đẹp của văn bản Ý kiến trên đã thể hiện quan niệm về vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa Văn học kể cả nội dung khoa học cũng như phương pháp sư phạm

Đi vào cụ thể hơn về vấn đề câu hỏi trong dạy học Văn là bài viết “Câu hỏi trong giảng văn” của Trương Dĩnh Tác giả đã phân tích khái niệm vấn đề, vấn đề trong học tập và vấn đề trong phân tích văn học Theo ông, để diễn đạt vấn đề hay đề ra nó, người ta dùng hình thức đặt câu hỏi Nội dung vấn đề và câu hỏi nêu vấn đề có quan hệ chặt chẽ với nhau Đặt ra được các vấn đề dưới dạng câu hỏi là một nghệ thuật của lao động sáng tạo trong phân tích nêu vấn đề Cùng với nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học, trường Đại học Giáo dục

đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo đề cập vấn đề dạy học với câu hỏi hiệu quả Hội thảo đã cung cấp nhiều bài nghiên cứu có giá trị về vấn đề này cũng như đưa ra những tiêu chí đánh giá câu hỏi có hiệu quả

Trên đây là một số khái quát về vai trò của câu hỏi và trong dạy học văn qua một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước Từ việc nghiên cứu trên có thể thấy việc xây dựng hệ thống câu hỏi trong giờ dạy học văn là vấn

đề không mới Nhưng các công trình chỉ dừng lại ở việc lý luận về câu hỏi Còn việc “xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 - 1945 cho học sinh lớp 11” thì chưa có công trình hay

Trang 15

bài viết nào Đây là một vấn đề hoàn toàn mới mà đề tài của chúng tôi quan tâm

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 - 1945 ở THPT

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc đặt câu hỏi nêu vấn đề

- Xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề cho hai tác phẩm: Chữ người tử tù

và Hai đứa trẻ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong giờ học tác phẩm: Chữ người tử tù

và Hai đứa trẻ

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Quá trình dạy học hai tác phẩm: Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu tài liệu lý luận có liên quan đến cơ sở phương pháp luận, cơ

sở lý luận của câu hỏi nêu vấn đề

- Đọc và phân tích các bài viết trên các tập có chuyên ngành và các luận

án, báo cáo khoa học, các tư liệu giáo trình… có liên quan tới đề tài Từ đó tổng hợp rút ra các kết luận cần thiết phục vụ cho tiến trình nghiên cứu

5.2 Phương pháp điều tra

- Thu thập những thông tin về việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề

- Thu thập những thông tin ngược của học sinh về việc học tác phẩm

Chữ người tử tù và Hai đứa trẻ

5.3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 16

8

Vận dụng câu hỏi nêu vấn đề để dạy tác phẩm: Chữ người tử tù và Hai đứa

trẻ

5.4 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng một số phương pháp như lập bảng, thống kê, kiểm định để đánh giá kết quả thực nghiệm

6 Cấu trúc luận văn:

Luận văn gồm phần: mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục Trong đó phần nội dung được trình bày

trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Xây dựng câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 - 1945 ở lớp 11

Chương 3: Thực nghiệm

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm câu hỏi nêu vấn đề

Phương pháp đặt câu hỏi nêu vấn đề trong phân tích tác phẩm văn học

đã được ra đời từ thế kỉ XIX ở phương Tây - khi chủ nghĩa tư bản phát triển Lúc đó, khoa học kĩ thuật và công nghệ tạo ra những bộ mặt mới về đời sống

xã hội trong xã hội tư bản Các nước đó đòi hỏi giáo dục phải tạo ra những học sinh có phẩm chất: thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ để đủ sức thực hiện nhiệm vụ của nền kinh tế xã hội Nó phê phán mạnh mẽ nền giáo dục phong kiến chỉ tạo ra những con người chỉ biết bắt chước, phục tùng mà không thích ứng được với xã hội mới

Trong cuốn “ Phương pháp dạy học văn” GS Phan Trọng Luận cho rằng: Câu hỏi nêu vấn đề là loại câu hỏi đặt ra cho chủ thể học sinh và được học sinh tiếp nhận một cách có ý thức, không phải từ ngoài dội vào mà là do nhu cầu khám phá tìm hiểu của bản thân và chính học sinh cũng đã có một số dữ kiện (tri thức kinh nghiệm kĩ năng) song không thể tìm được lời giải cũ bằng chính những hiểu biết cũ và theo phương thức hành động cũ

Trong bài viết “Vận dụng dạy học nêu vấn đề trong giảng văn THCS” của PGS.TS Vũ Song quan niệm: Câu hỏi nêu vấn đề không nhằm mục đích tái hiện kiến thức cũng không nhằm khơi gợi sự tự biểu hiện của học sinh khi đánh giá chi tiết hay toàn bộ các tác phẩm văn học Câu hỏi nêu vấn đề phải làm

rõ được vấn đề tiềm ẩn trong tác phẩm, phải gây hứng thú nhận thức cho học sinh, phải động viên, khuyến khích học sinh giải quyết vấn đề đã nêu

Có thể thấy rằng câu hỏi nêu vấn đề liên quan chặt chẽ đến vấn đề và tình huống có vấn đề Trong nhiều trường hợp khi đã xác định được vấn đề, nhờ câu hỏi mà giáo viên tạo được tình huống có vấn đề, tức là xác định được cái chưa biết, cuốn hút được sự quan tâm của học sinh, và tiên lượng trước khả năng giải quyết vấn đề của các em

Trang 18

10

“Câu hỏi nêu vấn đề đặt ra từ “vấn đề” của tác phẩm Là câu hỏi chứa đựng mâu thuẫn (giữa cái đã biết và cái chưa biết) nhằm tạo được tình huống có vấn đề, kích thích được tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong cảm thụ văn học của học sinh Câu hỏi phù hợp với tầm đón nhận của học sinh và được các em tiếp nhận một cách có ý thức” [33]

Trong đề tài, chúng tôi quan niệm “ câu hỏi nêu vấn đề là hệ thống cấu trúc ngôn ngữ để diễn đạt một yêu cầu, đòi hỏi, một mệnh lệnh mà người học cần giải quyết, được xác lập dựa trên những vấn đề đặt ra trong tác phẩm nhằm yêu cầu học sinh vận dụng cái đã biết, cái đã cho làm phương tiện để học sinh chủ động, tích cực giải quyết những yêu cầu đặt ra trong giờ học văn ”

1.1.2 Đặc điểm và nguyên tắc xây dựng câu hỏi nêu vấn đề

Đặc điểm của câu hỏi nêu vấn đề

Thứ nhất, Câu hỏi nêu vấn đề mang bản chất sáng tạo

Khác với câu hỏi tái hiện chỉ yêu cầu HS nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận Câu hỏi nêu vấn đề đòi hỏi học sinh phải vận dụng sáng tạo những kiến thức có sẵn để giải quyết tình huống mới Cách chiếm lĩnh tri thức từ tình huống là cách chiếm lĩnh riêng chỉ có thể có được khi

sử dụng câu hỏi nêu vấn đề Bởi vì, câu hỏi nêu vấn đề không dừng ở kiến thức

có sẵn trong tác phẩm văn học mà là cái mới, cái chưa có trong nhận thức của học sinh Kiến thức mới đó, không phải là kết quả tìm kiếm của một vài cách thức chiếm lĩnh quen thuộc, mà phải bằng sự tổng hợp của nhiều biện pháp tái hiện, tổng hợp, suy luận

Có thể nêu ra hai dạng câu hỏi khác nhau về một vấn đề để chúng ta thấy được bản chất của hai dạng câu hỏi này :

1 Dạng câu hỏi tái hiện: Bức tranh đời sống phố huyện nghèo lúc chiều tối trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam được tác giả miêu tả như thế nào ?

2 Dạng câu hỏi nêu vấn đề:Tại sao trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam hình ảnh ngọn đèn con của chị Tý “chiếu sáng một vùng đất nhỏ” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần ?

Trang 19

Ở câu hỏi số 1 học sinh chỉ cần nhớ lại kiến thức cũ để tái hiện lại bức tranh phố huyện lúc buổi chiều tà với những đường nét, màu sắc, hình khối mang đậm nét nông thôn Việt Nam Còn đối với câu hỏi số 2 đòi hỏi học sinh phải tư duy, sáng tạo vận dụng toàn bộ kiến thức của mình để lí giải : Hình ảnh ngọn đèn con của chị Tý có sức gợi tả đặc biệt Hình ảnh ấy có ý nghĩa như là biểu tượng về kiếp người nhỏ bé sống leo lét trong cái xã hội cũ không có hạnh phúc, không có tương lai Hình ảnh ấy cũng gợi nhịp sống đơn điệu, quẩn quanh,

bế tắc, buồn chán

Câu hỏi nêu vấn đề ở trên tuy chưa thể bao hàm đầy đủ những đặc điểm

cơ bản của câu hỏi nêu vấn đề nhưng nó đã đặt được học sinh vào một quá trình

vận động tâm lý, ý thức tích cực

Thứ hai, câu hỏi nêu vấn đề tạo ra tình huống có vấn đề - tình huống kích thích tính tích cực nhận thức ở học sinh

Câu hỏi nêu vấn đề đặt học sinh trước những mâu thuẫn về cái chưa biết

và cái đã biết, cái thông thường – cái bất thường, cái cũ – cái mới… Đó là điều kiện của câu hỏi và là cơ sở để chủ thể chấp nhận giải đáp câu hỏi Khi chủ thể chấp nhận thì câu hỏi mới trở thành tình huống có vấn đề Để tạo được tình huống có vấn đề, câu hỏi phải có mâu thuẫn hay có đủ điều kiện để nảy sinh nhu cầu nhận thức ở học sinh Tình huống sẽ khiến học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo vận dụng kiến thức có sẵn vào giải quyết tình huống mới Quá trình giải quyết tình huống là quá trình học sinh tự chiếm lĩnh tri thức mới một cách chủ động, sáng tạo

Ví dụ : Khi giảng bài Chí Phèo của Nam Cao (Ngữ văn 11 tập 1), GV có thể hỏi: Tại sao Nam Cao đã không mở đầu tác phẩm của mình bằng sự kiện Chí

ra đời ở cái lò gạch cũ mà mở đầu bằng hình ảnh của sự tha hoá - Chí uống rượu say vừa đi vừa chửi?

Đối với câu hỏi này GV hướng dẫn HS tìm hiểu những vấn đề cần giải quyết

Trang 20

12

Câu hỏi nêu vấn đề cho thấy được bản chất phức tạp về nội dung, chứa những băn khoăn, thắc mắc, những mâu thuẫn, những bế tắc mà học sinh gặp phải trên con đường nhận thức Nếu muốn nhận thức tiếp phải giải quyết vấn

Chí Phèo

Cách mở đầu tác phẩm

Tiếng chửi của Chí

Đối tượng chửi

Ý nghĩa tiếng chửi

Thái độ dân làng

Sáng tạo của Nam Cao

Sự tha hóa

Đảo trật tự thời gian

Kết cấu thu hẹp dần đối tượng chửi

Hình thái ngôn ngữ nửa trực tiếp

Giá trị tư tưởng

Giá trị nghệ thuật

Trang 21

chẫu chuộc như cô gái trong truyện thơ “Tiễn dặn người yêu” của đồng bào dân tộc Thái?

Ở câu hỏi nêu vấn đề này, yếu tố tạo ra sự bất ngờ cho học sinh đó là khi giáo viên đưa ra sự so sánh trong cách nghĩ của Mị và cô gái Thái Cô gái truyện thơ “Tiễn dặn người yêu” thân con bọ ngựa, con chẫu chuộc Còn Mị ví mình như con trâu, con ngựa Học sinh gặp phải câu hỏi này sẽ băn khoăn, suy nghĩ, thắc mắc, tìm tòi câu trả lời để lí giải điều đó: vì cô gái Thái quá đau khổ khi bị cha mẹ ép gả cho người mà cô không yêu thương và đang còn ở với cha mẹ, vì vậy cô chưa bị áp bức bóc lột sức lao động Còn Mị, với thân phận con dâu gạt

nợ cho nhà thống lí Pá Tra, cô phải việc quần quật suốt ngày, suốt tháng, suốt năm mà không được nghỉ ngơi Hình ảnh so sánh này vừa cho người đọc thấy

Mị bị bóc lột sức lao động thật tàn nhẫn, đồng thời tố cáo tội ác dã man của cường quyền phong kiến miền núi đối với người dân nơi đây

Nguyên tắc xây dựng câu hỏi nêu vấn đề

Thứ nhất, câu hỏi nêu vấn đề phải dựa vào đặc điểm tâm lý tiếp nhận của học sinh

Học sinh là người cộng sự trong tiến trình giảng dạy của giáo viên Học sinh vừa là đối tượng nhận thức, vừa là chủ thể tiếp nhận văn học Mọi hoạt động của giáo viên trong giờ giảng văn đều có liên quan đến học sinh Mọi phương pháp giáo viên vận dụng đều ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý nhận thức của học sinh Do đó giáo viên phải hiểu học sinh, nắm được đối tượng cộng sự với mình hay những người chịu sự tác động của phương pháp Hiểu học sinh là hiểu tâm lý nhận thức cũng như khả năng tư duy, trình độ văn hóa, vốn sống, kinh nghiệm, những điều kiện vật chất, tinh thần có ảnh hưởng đến học tập của học sinh Trong quá trình dạy học việc vận dụng câu hỏi nêu vấn

đề càng phải quan tâm tới sự tiếp nhận của học sinh Bởi đây là loại câu hỏi khái quát, tổng hợp, có tình huống yêu cầu học sinh động não, tư duy Nhưng nếu quá chú trọng đến câu hỏi nêu vấn đề, giáo viên dễ đặt ra những câu hỏi vượt khả năng giải mã của học sinh Và như thế, hậu quả ngoài mong muốn là

Trang 22

14

giáo viên đưa học sinh trở lại với không khí lạnh lùng, thờ ơ, của giờ giảng văn

Sự hứng thú của học sinh là một yếu tố quan trọng đến triển khai việc vận dụng câu hỏi nêu vấn đề Trên cơ sở nắm bắt được tâm lí và khả năng tiếp nhận của học sinh, giáo viên xây dựng câu hỏi cho phù hợp, tránh những câu hỏi quá dễ hoặc quá khó

Nguyên tắc thứ hai, câu hỏi phải gắn với vấn đề và tình huống có vấn đề

Đây là nguyên tắc đặc thù của việc xây dựng câu hỏi nêu vấn đề Nhà văn M.Gooki nhận xét: “Tác phẩm văn học nào cũng có vấn đề” [40] Vậy: Vấn đề trong tác phẩm là gì?

“Vấn đề trong tác phẩm văn học là nhân tố chính mà tác giả phản ánh, lý giải trong tác phẩm Vấn đề trong tác phẩm bao giờ cũng có liên quan đến đời sống hiện thực và nằm trong ý đồ sáng tác của nhà văn Vấn đề trong tác phẩm

vô cùng phong phú và đa dạng, song, tựu trung lại không ngoài hai lĩnh vực nội dung và hình thức nghệ thuật”[8]

Ở các nhà văn, nhà thơ lớn, vấn đề trong tác phẩm thường thể hiện được bản chất của đời sống, được phản ánh và lý giải trên quan điểm, lập trường chính trị và tài năng nghệ thuật riêng của tác giả

Theo định nghĩa của GS Đặng Vũ Hoạt và GS Phan Trọng Luận: “Tình huống có vấn đề là tình huống trong đó chủ thể nhận thức có trạng thái tâm lý đặc biệt: cảm thấy có cái “khó” trong nhận thức, hay nói cách khác, có mâu thuẫn nhận thức giữa cái đã biết và cái chưa biết, đồng thời chủ thể có phương thức hành động mới để đạt được hiểu biết mới” [20]

“Câu hỏi nêu vấn đề đặt ra từ “vấn đề” của tác phẩm Là câu hỏi chứa đựng mâu thuẫn (giữa cái đã biết và cái chưa biết) nhằm tạo được tình huống có vấn đề, kích thích được tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong cảm thụ văn học của học sinh Câu hỏi phù hợp với tầm đón nhận của học sinh và được các

em tiếp nhận một cách có ý thức” [33]

Về mặt hình thức thì cả ba đều chứa đựng yếu tố “vấn đề” “Vấn đề” trong tác phẩm văn chương nào cũng có Nếu hiểu như định nghĩa đã được chấp

Trang 23

nhận thì khi tìm hiểu một tác phẩm văn chương sẽ có thể có nhiều vấn đề Có vấn đề lớn bao gồm những vấn đề trung bình, và mỗi vấn đề trung bình lại gồm một số vấn đề nhỏ hơn, giản đơn hơn Trong dạy học, phát triển vấn đề đòi hỏi ở

GV một trình độ cao của sự phát triển trí tuệ và sự thành thục của kĩ năng

Như vậy, câu hỏi nêu vấn đề là cơ sở hình thành và xuất hiện tình huống

có vấn đề Có vấn đề và câu hỏi nêu vấn đề, mới có tình huống có vấn đề Câu hỏi nêu vấn đề chính là phương tiện quan trọng để người giáo viên đưa vấn đề vào tình huống có vấn đề

Trong giờ học tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn

Dữ, giáo viên đặt câu hỏi: “Vũ Nương là người thương yêu chồng con Vậy tại sao khi được giải oan, Vũ Nương lại không trở về?” Đây là câu hỏi chứa nhiều mâu thuẫn giữa tâm lý muốn trở về và hành động không trở về của Vũ Nương Ý muốn trở về là điều có sẵn trong thiên truyện, còn nguyên nhân khiến Vũ Nương không trở về là điều chưa biết, học sinh cần phải khám phá Trong tình huống này, học sinh phải vận dụng kiến thức tác phẩm, đồng thời, phải đặt ra nhiều giả thiết để lý giải Có thể sơ đồ hóa những lí giải, suy luận của học sinh như sau:

Nếu Vũ Nương trở

về

Sống trong

lễ giáo PK, liệu có hạnh phúc?

Còn ý nghĩa

tố cáo xã

hội PK?

Có phản ánh đúng bản chất xã hội PK?

Lễ giáo PK có cho người ấy quyền được sống không?

Trang 24

16

Kiến thức tác phẩm, kiến thức thời đại và hình thức suy luận không những giúp học sinh hiểu nguyên nhân Vũ Nương không trở về mà còn giúp học sinh thấy được ý nghĩa tố cáo xã hội phong kiến đương thời Đồng thời, tác phẩm là thể hiện tấm lòng thương cảm của nhà văn đối với những người phụ nữ sống trong xá hội bất công, vô nhân đạo đó Nắm bắt được ý nghĩa của tác phẩm và tấm lòng nhân hậu của nhà văn từ việc giải quyết tình huống có

vấn đề là cách chiếm lĩnh tri thức chủ động, sáng tạo của học sinh

Nguyên tắc thứ ba, câu hỏi phải mang tính hệ thống, liên tục Câu hỏi

nêu vấn đề nằm trong một hệ thống (không chỉ riêng hệ thống của những câu hỏi có vấn đề) có quan hệ chặt chẽ và như một tất yếu của mối quan hệ nguyên nhân – hệ quả được nảy sinh trong quá trình dạy học Đặt câu hỏi nêu vấn đề trong hệ thống các câu hỏi có sự liên quan đến nhau Câu hỏi tái hiện

là cơ sở để đặt ra câu hỏi tổng hợp, khái quát Câu hỏi tổng hợp, khái quát là tiền đề để xây dựng câu hỏi nêu vấn đề Nếu không có câu hỏi tái hiện, câu hỏi tổng hợp, giáo viên sẽ không xây dựng được câu hỏi nêu vấn đề Nói cách khác, câu hỏi nêu vấn đề chỉ có thể xây dựng trên nền tảng của câu hỏi tái hiện và câu hỏi tổng hợp, khái quát Học sinh có tái hiện lại kiến thức tác phẩm, đồng thời, biết tổng hợp và khái quát kiến thức, mới có cơ sở để giải quyết yêu cầu của câu hỏi nêu vấn đề

“Câu hỏi nêu vấn đề mang tính tổng hợp, có hệ thống, phức tạp về nội dung,…” [35] “Câu hỏi nêu vấn đề chứa đựng xâu chuỗi các vấn đề, chi tiết,

Trang 25

tháo gỡ những vướng mắc cho học sinh Tái tạo hỗ trợ đắc lực cho việc phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề Nghiên cứu là tiếp xúc với đối tượng, tập hợp các dữ kiện về đối tượng, vạch ra giả thiết, tìm kiếm cách chứng minh, khẳng định và đi đến kết luận vấn đề Rõ ràng mỗi phương pháp lại có một đặc điểm, vai trò riêng Vì vậy không thể tuyệt đối hóa hay cô lập hóa một phương pháp cũng như một hệ thống câu hỏi

Một nghịch lý đặt ra trong giờ dạy học tác phẩm văn chương là lượng thông tin trong tác phẩm lớn, nhưng thời gian tiếp nhận thông tin của học sinh lại có hạn Do đó, người giáo viên cần phải tính toán, vận dụng linh hoạt các phương pháp vào dạy học Nếu sa vào một phương pháp, lạm dụng một phương pháp đều bất lợi Sa vào tái hiện, học sinh dễ trở thành đối tượng thụ động Lạm dụng câu hỏi nêu vấn đề, không khí học nặng nề, tác phẩm bị cắt vụn…Bởi thế cần kết hợp linh hoạt các phương pháp và đặt trong mối tương quan với nhiều phương pháp Tính hợp lý của câu hỏi nêu vấn đề không chỉ thể hiện ở số lượng câu hỏi, mức độ nêu ra vấn đề, dung lượng kiến thức mà còn ở cách đặt câu hỏi đúng lúc, đúng chỗ khi có đủ điều kiện cho phép Giáo viên phải có sự tính toán để câu hỏi phát huy được sự chủ động, sáng tạo, tích

cực của học sinh Như vậy câu hỏi mới có tác dụng

1.1.3 Vai trò của câu hỏi nêu vấn đề

Đối với học sinh : Câu hỏi nêu vấn đề phát huy được tính tích cực chủ

động sáng tạo của học sinh

Tác phẩm văn chương là một bức tranh phản ánh đầy đủ và sinh động hiện thực cuộc sống xung quanh chúng ta Mỗi người có một cách cảm nhận riêng về tác phẩm văn học mà mình được tiếp xúc Học sinh khi tiếp xúc với tác phẩm văn chương, được học trong nhà trường cũng vậy Vì thế, trong giờ giảng văn cần phát huy hết năng lực tư duy, khả năng tìm tòi phát hiện cảm nhận theo những suy nghĩ riêng của HS Như vậy, tác phẩm văn học sẽ trở thành đối tượng của thầy trò trong quá trình dạy học Để giờ học tác phẩm văn chương trở nên sinh động, vai trò của học trò trong giờ học được khẳng định và mối liên hệ qua lại thường xuyên giữa thầy và trò được duy trì thì

Trang 26

18

không thể thiếu hệ thống câu hỏi Tuỳ vào điều kiện thực tế, tuỳ cách sáng tạo của mỗi giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi và tiến hành thực hiện cách hỏi nhằm định hướng và tổ chức điều khiển hoạt động của học sinh trong giờ giảng văn Khác với câu hỏi tái hiện nhằm yêu cầu học sinh diễn đạt lại những kiến thức đã nắm bắt được hoặc vận dụng những phương thức hành động cũ, những kinh nghiệm có sẵn ở học sinh mà không cần sáng tạo trong hoàn cảnh mới Câu hỏi nêu vấn đề nhằm yêu cầu học sinh phải phát huy những tư duy sáng tạo, làm rõ vấn đề hoặc đặt ra được vấn đề trong tác phẩm Câu hỏi nêu vấn đề không nhằm mục đích tái hiện kiến thức mà đòi hỏi học sinh phải vận dụng sáng tạo những kiến thức có sẵn để giải quyết tình huống mới Cách chiếm lĩnh tri thức từ tình huống là cách chiếm lĩnh riêng chỉ có thể có được khi sử dụng câu hỏi nêu vấn đề Bởi vì, câu hỏi nêu vấn đề không dừng ở kiến thức có sẵn trong tác phẩm văn học mà là cái mới, cái chưa có trong nhận thức của học sinh Kiến thức mới đó, không phải là kết quả tìm kiếm của một vài cách thức chiếm lĩnh quen thuộc, mà phải bằng sự tổng hợp của nhiều biện pháp tái hiện, tổng hợp, suy luận Chính vì vậy mà nó phát huy được tính tích cực, chủ động , sáng tạo của học sinh trong giờ học văn

Đối với giáo viên : Câu hỏi nêu vấn đề là phương tiện để giáo viên dạy

học tác phẩm văn chương

Giáo viên tài ba và giàu kinh nghiệm thường đoán được những tác phẩm văn học hoặc những hình tượng nhân vật nào, cảm xúc, giọng điệu ngôn ngữ nào sẽ gây được hứng thú đối với học sinh Và có bao nhiêu học sinh cảm thụ được tác phẩm, bao nhiêu học sinh còn lơ mơ, phân tích phiến diện hoặc không có khả năng phân tích … Không chỉ có vậy, giáo viên còn dự tính được những vấn đề nào của tác phẩm sẽ trở thành tình huống tiếp nhận của học sinh Vấn đề nào khi đưa ra sẽ gây cho học sinh nhiều tranh cãi, thắc mắc, và chiều hướng, mức độ giải quyết vấn đề của các em Mặt khác, giáo viên cũng

dự đoán được những câu hỏi nào sẽ kích thích được tâm lý tiếp nhận của học sinh; hỏi ở mức độ nào là quá khó hoặc vừa sức đối với các em Khi đã dự báo được những vấn đề thuộc tâm lý và khả năng tiếp nhận của học sinh, thấy

Trang 27

chiều hướng và mức độ giải quyết vấn đề của các em, giáo viên sẽ đặt ra được câu hỏi nêu vấn đề

Quan niệm mới về học sinh là quan niệm “Bạn đọc sáng tạo” Mục đích lớn nhất của giờ giảng văn là “dạy suy nghĩ, dạy tìm tòi sáng tạo” “Làm sao

để chủ thể học sinh dưới sự hướng dẫn của thầy tự mình cảm nhận, khám phá chiếm lĩnh được tác phẩm” Mục đích của giờ học là cơ sở dẫn tới sự thay đổi cách thức dạy - học của giáo viên và học sinh Trong quá trình dạy học, giáo viên phải “tạo điều kiện cho học sinh nói lên những cảm nghĩ của mình do tác phẩm gợi ra chứ không phải chỉ biết lặp lại theo ý người khác” [4]

Khi đã coi học sinh là chủ thể, mục đích dạy văn là dạy tìm tòi suy nghĩ, cách dạy của thầy là tổ chức hướng dẫn, cách học của trò là tự khám phá thì đó chính là những tiền đề quan trọng để sử dụng câu hỏi nêu vấn đề trong giờ học văn Câu hỏi sẽ là phương tiện để giáo viên tổ chức hướng dẫn học sinh học tập Câu hỏi cũng tạo điều kiện cho học sinh phát huy vai trò chủ thể Mặt

khác, câu hỏi là một hình thức rèn luyện học sinh biết tự chủ, độc lập suy nghĩ

1.1.4 Phân loại hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong tác phẩm văn chương

1.1.4.1 Câu hỏi mâu thuẫn

Là câu hỏi chứa đựng yếu tố không phù hợp giữa hình thức và nội dung, giữa nội dung này và nội dung khác hoặc giữa hình thức với hình thức trong một chỉnh thể tác phẩm văn học Rộng hơn có thể có cả mâu thuẫn trong cách đánh giá và tiếp nhận tác phẩm văn học đó

Ví dụ: Khi giảng bài Thương vợ của Tú Xương, GV có thể đặt câu hỏi mâu thuẫn như sau: Ấn tượng 2 câu kết của bài thơ là một tiếng chửi, theo mạch văn thì đó là tiếng chửi của ai? Trên thực tế thì có đúng không? Ý nghĩa của tiếng chửi này là gì?

Câu hỏi này đưa học sinh vào mâu thuẫn trong suy nghĩ: Có thể là tiếng chửi của bà Tú Bà Tú chửi, cũng là trách “thói đời”, con người bạc bẽo, lừa lọc, ông chồng “hờ hững” vô tình Có thể đấy là chút tâm sự riêng thầm kín của người phụ nữ trải qua nhiều gian truân, vất vả lúc bực bội trách cứ người này, người khác Và học sinh cũng có thể suy luận đây là tiếng chửi ông Tú

Trang 28

20

Là một cách Tú Xương bông đùa, trào lộng để tự phê phán mình, tự trách mình từng làm khổ vợ, từng “hờ hững”, vô tình, vô tâm với vợ Và rồi trước mâu thuẫn

đó học sinh sẽ lựa chọn cách nghĩ hợp lí nhất, đó là tiếng chửi của ông Tú Bởi Bà

Tú vốn là người đoan trang khiêm nhường nên tiếng chửi kia không phải là lời trực tiếp của bà

1.1.4.2 Câu hỏi bất ngờ

Khi phát hiện được một tín hiệu nội dung hay một tín hiệu nghệ thuật nào đó trong tác phẩm có tính chất kì lạ, bất bình thường, ta vận dụng câu hỏi bất ngờ để khơi gợi sự khám phá sáng tạo của học sinh

Ví dụ : Tại sao nhà văn Kim Lân không đặt nhan đề tác phẩm này là “Nhặt vợ” mà lại đặt là “Vợ nhặt”? Cách đặt nhan đề đó có ý nghĩa gì?

Cách đặt câu hỏi nêu vấn đề này tạo ra sự hứng thú cho học sinh, kích thích khả năng tư duy của học sinh trước cách đặt nhan đề của tác giả Từ đó học sinh tìm ra điểm khác biệt giữa “Vợ nhặt” và “Nhặt vợ”:

- Anh cu Tràng - đang ế vợ -là người

chủ động lợi dụng lúc miếng ăn bằng cả

sinh mệnh con người mà lấy được vợ

-> khinh thường người vợ nhặt

- Vừa có ý nghĩa hiện thực vừa có ý nghĩa nhân đạo rất lớn

+ Cái đói đã đẩy đến những cảnh bi hài kịch: mạng người trở nên rẻ rúng + Hoàn cảnh đói khát cần duy trì sự sống ->quên đi lễ nghĩa, bước qua thể diện để theo không về làm vợ người + Vẻ đẹp của tình người

1.1.4.3 Câu hỏi lựa chọn

Câu hỏi này đặt học sinh vào tình huống được lựa chọn những chi tiết, được bộc lộ những suy nghĩ cảm xúc riêng trước những vấn đề đặt ra Hoặc giáo viên có thể xây dựng hệ thống câu hỏi này khi có nhiều ý kiến khác nhau về một vấn đề buộc ta phải lựa chọn cách giải quyết hợp lý nhất, tối ưu nhất Người phát

Trang 29

hiện vấn đề và tạo ra tình huống bao giờ cũng phải gợi ra được một số khả năng

để người học chọn lựa

Ví dụ: Trong quá trình dạy học tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao, có đoạn Chí bị Thị Nở từ chối, hắn nói đi giết cô cháu Thị Nở nhưng hắn lại đến thẳng nhà Bá Kiến Trong tình huống này GV có thể đặt những câu hỏi tình huống sau:

- Tại sao khi bị Thị Nở từ chối, Chí Phèo nói là đi giết cô cháu Thị Nở, nhưng bước chân của hắn lại đến thẳng nhà Bá Kiến? Có phải do hắn say rượu không hay do sự thức tỉnh trong nhận thức của Chí ? Theo em là do nguyên nhân nào ? Vì sao ?

- Có ý kiến cho rằng: Hành động Chí đến thẳng nhà Bá Kiến là lúc hắn tỉnh táo nhất nhận ra rằng chính Bá Kiến là kẻ đẩy hắn vào tình cảnh này Theo em ý kiến trên là đúng hay sai? Giải thích?

- Khi bị cự tuyệt tình yêu, Chí đã nói đi giết cô cháu Thị Nở nhưng lại đến thẳng nhà Bá Kiến Vậy đó là hành động vô thức hay nhận thức? Lí giải?

Những câu hỏi này đòi hỏi HS phải tư duy, phải dựa vào hiểu biết về thực

tế, cuộc sống hay những trải nghiệm, kinh nghiệm cá nhân đưa ra câu trả lời Trong trường hợp này không có một câu trả lời đúng duy nhất

1.1.4.4 Câu hỏi phản bác

Xây dựng hệ thống câu hỏi này khi phải tranh luận, đấu tranh với những đánh giá, những nhận định hoặc quan điểm sai lệch Học sinh có cơ hội thể hiện kĩ năng thuyết trình, lập luận và đưa ra ý kiến chủ quan của mình

Ví dụ: Khi giảng bài thơ “Câu cá mùa thu ” của Nguyễn Khuyến, GV có thể đưa ra câu hỏi : Có ý kiến cho rằng cả bài thơ là sự tĩnh lặng tuyệt đối của bức tranh thu, theo em ý kiến đó có đúng không ?Vì sao ?

Với câu hỏi này HS sẽ chỉ ra được ý kiến đó không đúng bởi: Tường chừng như không gian lặng lẽ bao trùm cả bức tranh thu với những âm thanh khẽ khàng đến tĩnh lặng của gió thổi nhẹ nên “sóng biếc theo làn hơi gợn tí ”, của chiếc lá rụng “ trước gió khẽ đưa vèo” Nhưng thật bất ngờ khi tác giả lại nhắc đến một âm

Trang 30

22

thanh : Cá đâu đớp động dưới chân bèo –mang tính chất khẳng định, thể hiện nét đặc sắc của nghệ thuật phương Đông lấy động nói tĩnh

1.1.4.5 Câu hỏi giả định

Câu hỏi là một sự giả định để làm rõ vấn đề hay sự việc cần tìm hiểu đánh giá Câu hỏi này thường đặt ra một tình huống hoặc một ý kiến, giúp học sinh được biểu lộ năng lực thích ứng trong tình huống của cuộc sống Chẳng hạn đặt ra một tình huống giả định có nhiều luồng ý kiến khác nhau xung quanh một vấn đề,

từ đó học sinh là một “trọng tài” để đưa ra quyết định cuối cùng

Ví dụ: Gv có thể đưa ra câu hỏi: Nếu em là Liên trong “Hai đứa trẻ ” của nhà văn Thạch Lam, em có thức để đợi chuyến tàu đêm qua phố huyện không ? Vì sao ?

Đặt câu hỏi giả định khiến các em được rèn luyện cách ứng xử, thấy được hành vi cao đẹp của nhân vật văn học để tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, phát triển nhân cách Đó là nội dung quan trọng trong mục đích giáo dục nói chung và văn học nói riêng

Dựa vào việc phân loại hệ thống câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm văn chương, chúng tôi xin đưa ra sơ đồ như sau:

Sơ đồ : Phân loại câu hỏi nêu vấn đề

Câu hỏi nêu vấn đề

Câu hỏi mâu thuẫn

Sao không…

mà lại

Câu hỏi phản

bác Đưa ra ý kiến

sau đó hỏi: theo

Trang 31

1.1.5 Tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 -1945 ở lớp 11 với việc ứng dụng câu hỏi nêu vấn đề

Nhà văn M.Gooki nhận xét: “Tác phẩm văn học nào cũng có vấn đề”

[40] Vậy: Vấn đề trong tác phẩm là gì?

“Vấn đề trong tác phẩm văn học là nhân tố chính mà tác giả phản ánh, lý

giải trong tác phẩm Vấn đề trong tác phẩm bao giờ cũng có liên quan đến đời sống hiện thực và nằm trong ý đồ sáng tác của nhà văn Vấn đề trong tác phẩm

vô cùng phong phú và đa dạng, song, tựu trung lại không ngoài hai lĩnh vực nội dung và hình thức nghệ thuật”[8]

Ở các nhà văn, nhà thơ lớn, vấn đề trong tác phẩm thường thể hiện được bản chất của đời sống, được phản ánh và lý giải trên quan điểm, lập trường chính trị và tài năng nghệ thuật riêng của tác giả Vì điều này, nên “Vấn đề đặt ra trong tác phẩm thường thể hiện bản sắc tư duy, chiều sâu tư tưởng và khả năng thâm nhập vào đời sống của nhà văn” [8]

Vấn đề đặt ra trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” của nhà văn Thạch Lam đó là:

- Tình trạng cuộc sống âm u, mòn mỏi, bế tắc của người dân nghèo

- Tấm lòng thương xót bao la của tác giả với những kiếp sống tù mù Tác phẩm không đi sâu miêu tả những xung đột xã hội, xung đột giai cấp Ông cũng không để tâm miêu tả những bộ mặt gớm ghiếc của những kẻ bóc lột

và khuôn mặt bi thảm của những kẻ bị áp bức Ông phác họa bức tranh phố huyện nghèo, chân thật trong từng chi tiết và trong chiều sâu tinh thần của nó Qua bức tranh ảm đạm của phố huyện và qua hình ảnh của những con người bé nhỏ với chút hi vọng le lói và cảnh chờ đợi chuyến tàu đêm qua phố huyện của chị em Liên, ta thấy được mơ ước lớn của nhà văn muốn thay đổi cuộc sống ngột ngạt đó cho những con người lao động nghèo khổ

Trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân, ta lại thấy vấn đề đặt ra trong tác phẩm là:

- Tấm lòng hướng về cái thiện tâm

- Thể hiện một lòng yêu nước thầm kín

Trang 32

24

Hình tượng trung tâm của tác phẩm là hình tượng Huấn Cao, một nhân vật toát lên một vẻ lãng mạn, rực rỡ khác thường: tài hoa, khí phách, hiên ngang, nhân cách trong sáng Hình tượng Huấn Cao mang vẻ đẹp bi tráng, một vẻ đẹp

đã được lí tưởng hóa

Ca ngợi Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã thể hiện được khát vọng muốn vươn lên trên những cái xấu xa và đặt niềm tin bất diệt vào những giá trị cao quý của con người Qua đây cũng bộc lộ được cái tài, cái tâm của một nhà văn lớn

Cách đặt ra vấn đề và lý giải vấn đề của các nhà văn như vừa nêu đã chứng tỏ “vấn đề tác phẩm” thể hiện rõ tư tưởng, trình độ nhận thức và khả năng thâm nhập cuộc sống thực tế của nhà văn Song, bên cạnh vấn đề nội dung, ta thấy còn có “vấn đề” thuộc hình thức nghệ thuật Nói như Hà Minh Đức thì

“Vấn đề của tác phẩm không phải là chất liệu trực tiếp tạo thành tác phẩm Đó

là một nhân tố thuộc nội dung khái quát của tác phẩm Nó được thể hiện, được

cụ thể hóa qua chất liệu trực tiếp khác.” [8]

Rõ ràng, tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 -1945 luôn là những đề án thông tin có vấn đề Đây chính là một tiền đề cho việc ứng dụng câu hỏi nêu vấn

đề vào dạy các tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 -1945 nói chung, các tác phẩm

văn học lớp 11 nói riêng

1.1.6 Xu hướng tiếp cận liên môn trong dạy học

Trong dạy học, tích hợp có thể được coi là sự liên kết các đối tượng giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động để đảm bảo sự thống nhất, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học tốt nhất Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được, tác động một cách riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, tình huống Theo d’Hainaut (1977), có 4 quan điểm khác nhau đối với các môn học: Quan điểm đơn môn, quan điểm đa môn, quan điểm liên môn, quan điểm xuyên môn Trong đó nhu cầu của xã hội ngày nay đòi hỏi dạy học phải hướng tới quan điểm liên môn và quan điểm xuyên môn Trong đó quan điểm liên môn có vị trí quan trọng Bởi đối với bộ môn Ngữ văn

Trang 33

để giải quyết mọi tình huống mâu thuẫn và trả lời cho mọi vấn đề cần phải có

sự lí giải từ các môn học khác.Việc xác lập mối liên hệ những nội dung kiến thức của các bộ môn khác, phân môn khác để làm phương tiện, công cụ khai

thác

Quan điểm liên môn được hiểu là nội dung học tập được thiết kế thành một chuỗi vấn đề, tình huống, đòi hỏi muốn giải quyết học sinh phải huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của những môn học khác nhau Dạy học tích hợp làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn học tập với cuộc sống hàng ngày, vận dụng các kiến thức học được để xử lí các tình huống cụ thể, những tình huống có ý nghĩa, hòa nhập thế giới học đường, với cuộc sống

Tích hợp trong dạy học Ngữ văn được thể hiện trong mối quan hệ mật thiết giữa môn học này với các môn học khác Có thể thấy mối quan hệ gần gũi

về mặt nội dung kiến thức giữa môn Ngữ văn với các môn Lịch sử, Địa lý

Văn học còn là công cụ để diễn đạt ý tưởng cho mọi lĩnh vực khoa học, Ngược lại các lĩnh vực khoa học khác nhau cũng làm phong phú thêm năng lực diễn đạt ngôn ngữ Từ đó, giúp học sinh tiếp nhận và diễn đạt tốt các thông tin khoa học được giảng dạy trong nhà trường bởi để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập, học sinh trước hết phải nghiên cứu và rèn luyện năng lực tư duy bằng ngôn ngữ, diễn đạt

Tích hợp trong dạy học Ngữ văn còn phải gắn môn học với đời sống xã hội vì văn học bắt nguồn từ cuộc sống và trở về phục vụ cuộc sống Dạy văn là dạy từ cuộc đời, qua cuộc đời và cho cuộc đời

Qua việc vận dụng câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học Ngữ văn cho học sinh lớp 11 chúng tôi thấy việc vận dụng tích hợp vào dạy học Ngữ văn là điều hợp lý, khơi gợi được hứng thú, đam mê khám phá của học sinh, mang lại hiệu quả học tập cao

Trong bài “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam, GV có thể sử dụng tích hợp liên môn với các môn học khác như sau:

Trang 34

- Phố huyện Cẩm Giàng- Hải Dương

- Nhấn mạnh và giải thích rõ hơn địa danh mà tuổi thơ

và tuổi trẻ tác giả sống ở đó là yếu tố ảnh hưởng đến sáng tác của Thạch Lam

Văn học – Lịch sử

- Khi phân tích cuộc sống người dân phố huyện trước cảnh ngày tàn và khi màn đêm buông xuống, GV cần tích hợp kiến thức lịch sử giai đoạn trước CMT8 năm

1945 Khi dạy nội dung này, giáo viên cần tập trung làm rõ những yếu tố, hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ khiến cha của Liên mất việc chuyển về quê, cuộc sống nơi phố huyện trở nên nghèo nàn, đơn điệu, quẩn quanh, bế tắc Quá trình tích hợp Văn học – Lịch sử này khiến cho kiến thức lịch sử của học sinh được khắc sâu, hấp dẫn, các em thấy được mối liên hệ qua lại với nhau giữa văn học và lịch sử

Văn học – Văn hóa

Hội họa: Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn được vẽ

lên với hình ảnh, đường nét, màu sắc, hình khối, có giá trị tạo hình nhưng đượm buồn mang đầy linh hồn của nông thôn Việt Nam của làng mạc Việt Nam muôn đời

Thi ca: Khi miêu tả cảnh thiên nhiên, Thạch Lam đã

miêu tả bức tranh đậm chất thơ:

-Chiều, chiều rồi Một buổi chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào

- Vòm trời hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh, lẫn

Trang 35

với vệt sáng của những con đom đóm bay là là trên mặt đất hay len vào những cành cây

Chính ngôn ngữ giàu chất thơ đã tạo nên nét đặc trưng cho phong cách của Thạch Lam

Các bình diện văn hóa trên được Thạch Lam nhắc đến trong bài, nếu giáo viên tích hợp vào khi giảng dạy sẽ gây được hứng thú và khởi dậy được niềm đam mê khám phá, tìm tòi từ học sinh

Văn học – Giáo dục

công dân

GV tích hợp với môn GDCD để hướng học sinh hoàn thiện nhân cách bản thân, và có nghị lực vươn lên trong cuộc sống bằng cách lồng kiến thức đó vào ý nghĩa của việc đợi chuyến tàu đêm:

+ Cuộc vượt thoát tinh thần, khiến tâm hồn không bị tàn lụi

+ Luôn mong ước, khát khao một cuộc sống tươi sáng + Cuộc sống dù có khó khăn nhưng hãy tự tạo ra cho mình những niềm vui

Trong bài “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân, GV có thể sử dụng tích hợp với các môn như sau:

Trang 36

28

giữ tâm hồn trong sạch Từ đó GV dẫn dắt HS soi rọi vào tác phẩm khi phân tích hình tượng nhân vật Huấn Cao – một tên tử tù cầm đầu phản nghịch chống lại triều đình

Văn học – Giáo dục

công dân

Để hình thành ý thức, cách ứng xử của các nhân vật khi phân tích “Cảnh cho chữ” cuối cùng trong thiên truyện, đồng thời để học sinh liên hệ bản thân thì bài giảng còn tích hợp với môn Giáo dục công dân ở bài

“Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” và bài “Tự hoàn thiện bản thân” Nhằm giúp

HS nêu cao tinh thần yêu nước và giữ cho thiên lương luôn trong sáng, lành vững

Văn học – Văn hóa

Trong tác phẩm Nguyễn Tuân còn tỏ ra rất kinh nghiệm khi tung ra những hiểu biết về lĩnh vực văn hoá (nghệ thuật thư pháp), GV có thể dựa vào đó để giới thiệu cho HS về nghệ thuật thư pháp và nghệ thuật chơi chữ truyền thống

Chương trình Ngữ văn THPT lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo, tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa đòi hỏi giáo viên phải có những thay đổi về hình thức và phương pháp dạy học Có thể thấy đây

là mối quan hệ gần gũi về mặt nội dung kiến thức giữa môn Ngữ văn với các môn học khác Việc tích hợp liên môn trong môn Ngữ văn đòi hỏi sự công phu, trình độ, hiểu biết và sự sáng tạo của của giáo viên

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh THPT

Học sinh THPT còn gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu

từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Tuổi thanh niên được tính

từ 15 đến 25 tuổi Tuổi thanh niên cũng thể hiện tính chất phức tạp và nhiều mặt của hiện tượng, nó được giới hạn ở hai mặt: sinh lí và tâm lý Nhà tâm lý học

Trang 37

Macxit cho rằng: “Khi nghiên cứu tuổi thanh nên thì cần phải kết hợp với quan

điểm của tâm lý học xã hội và phải tính đến quy luật bên trong của sự phát triển lứa tuổi”

Việc phát triển tâm lý của tuổi thanh niên không chỉ phụ thuộc vào giới hạn lứa tuổi, mà trước hết là do điều kiện xã hội (vị trí của thanh niên trong xã hội; khối lượng tri thức, kỹ năng kỹ xảo mà họ nắm được và một loạt nhân tố khác…) có ảnh hưởng đến sự phát triển lứa tuổi

Vị trí học sinh trong nhà trường

Ở nhà trường, học tập vẫn là hoạt động chủ đạo nhưng tính chất và mức

độ thì phức tạp và cao hơn hẳn so với tuổi thiếu niên Đòi hỏi các em tự giác, tích cực độc lập hơn, phải biết cách vận dụng tri thức một cách sáng tạo Nhà trường lúc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nội dung học tập không chỉ nhằm trang bị tri thức và hoàn chỉnh tri thức mà còn có tác dụng hình thành thế giới quan và nhân sinh quan cho các em

Hoạt động học của học sinh

Hoạt động học tập vẫn là hoạt động chủ đạo đối với học sinh THPT nhưng yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính tích cực và độc lập trí tuệ của các em Muốn lĩnh hội được sâu sắc các môn học, các em phải có một trình độ tư duy khái niệm, tư duy khái quát phát triển đủ cao Những khó khăn trở ngại mà các em gặp thường gắn với sự thiếu kĩ năng học tập trong những điều kiện mới chứ không phải với sự không muốn học như nhiều người nghĩ Hứng thú học tập của các em ở lứa tuổi này gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp nên hứng thú mang tính đa dạng, sâu sắc và bền vững hơn Thái độ của các em đối với việc học tập cũng có những chuyển biến rõ rệt Học sinh đã lớn, kinh nghiệm của các

em đã được khái quát, các em ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời tự lập Thái độ có ý thức đối với việc học tập của các em được

tăng lên mạnh mẽ

Học tập mang ý nghĩa sống còn trực tiếp vì các em đã ý thức rõ ràng được rằng: cái vốn những tri thức, kĩ năng và kĩ xảo hiện có, kĩ năng độc lập tiếp thu

Trang 38

30

tri thức được hình thành trong nhà trường phổ thông là điều kiện cần thiết để tham gia có hiệu quả vào cuộc sống lao động của xã hội Điều này đã làm cho học sinh THPT bắt đầu đánh giá hoạt động chủ yếu theo quan điểm tương lai của mình Các em bắt đầu có thái độ lựa chọn đối với từng môn học Rất hiếm xảy ra trường hợp có thái độ như nhau với các môn học Do vậy, giáo viên phải làm cho các em học sinh hiểu ý nghĩa và chức năng giáo dục phổ thông đối với giáo dục nghề nghiệp và đối với sự phát triển nhân cách toàn diện của học sinh

Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ của học sinh

Lứa tuổi học sinh THPT là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển trí tuệ

Do cơ thể các em đã được hoàn thiện, đặc biệt là hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ

Cảm giác và tri giác của các em đã đạt tới mức độ của người lớn Quá trình quan sát gắn liền với tư duy và ngôn ngữ Khả năng quan sát một phẩm chất cá nhân cũng bắt đầu phát triển ở các em Tuy nhiên, sự quan sát ở các em thường phân tán, chưa tập trung cao vào một nhiệm vụ nhất định, trong khi quan sát một đối tượng vẫn còn mang tính đại khái, phiến diện đưa ra kết luận vội vàng không

có cơ sở thực tế

Trí nhớ của học sinh THPT cũng phát triển rõ rệt Trí nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Các em đã biết sắp xếp lại tài liệu học tập theo một trật tự mới, có biện pháp ghi nhớ một cách khoa học Có nghĩa là khi học bài các em đã biết rút ra những ý chính, đánh dấu lại những đoạn quan trọng, những ý trọng tâm, lập dàn ý tóm tắt, lập bảng đối chiếu, so sánh Nhưng

ở một số em còn ghi nhớ đại khái chung chung, cũng có những em có thái độ coi thường việc ghi nhớ máy móc và đánh giá thấp việc ôn lại bài

Các em có khả năng phán đoán và giải quyết vấn đề một cách rất nhanh Tuy nhiên, ở một số học sinh vẫn chưa phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính Vì vậy giáo viên cần hướng dẫn, giúp đỡ các em tư duy một cách tích cực độc lập để phân tích đánh giá sự

Trang 39

việc và tự rút ra kết luận cuối cùng Việc phát triển khả năng nhận thức của học sinh trong dạy học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên

Đặc điểm nhân cách của học sinh THPT

Sự tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của học sinh THPT, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này Biểu hiện của sự tự ý thức là nhu cầu tìm hiểu và tự đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo chuẩn mực đạo đức của xã hội, theo quan điểm về mục đích cuộc sống… Điều đó khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm

lý, những phẩm chất nhân cách và năng lực riêng Các em không chỉ nhận thức

về cái tôi hiện tại của mình mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội tương lai Các em không chỉ chú ý đến vẻ bên ngoài mà còn đặc biệt chú trọng tới phẩm chất bên trong Nhìn chung thanh niên mới lớn có thể tự đánh giá bản thân một cách sâu sắc nhưng đôi khi vẫn chưa đúng đắn nên các em vẫn cần sự giúp đỡ của người lớn Một mặt, người lớn phải lắng nghe ý kiến của em các, mặt khác phải giúp các em hình thành được biểu tượng khách quan về nhân cách của mình nhằm giúp cho sự tự đánh giá của các em được đúng đắn hơn, tránh những lệch lạc, phiến diện trong tự đánh giá Cần tổ chức hoạt động của tập thể cho các em có sự giúp đỡ, kiểm tra lẫn nhau để hoàn thiện nhân cách của bản

thân

Đặc điểm hoạt động giao tiếp của học sinh THPT

Nhu cầu giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi trong tập thể phát triển mạnh Trong tập thể, các em thấy được vị trí, trách nhiệm của mình và các em cũng cảm thấy mình cần cho tập thể Khi giao tiếp trong nhóm bạn sẽ xảy ra hiện tượng phân cực – có những người được nhiều người yêu mến và có những người

ít được bạn bè yêu mến Điều đó làm cho các em phải suy nghĩ về nhân cách của

mình và tìm cách điều chỉnh bản thân

Tình bạn đối với các em ở tuổi này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng Tình bạn thân thiết, chân thành sẽ cho phép các em đối chiếu được những thể nghiệm, ước mơ, lí tưởng, cho phép các em học được cách nhận xét, đánh giá về

Trang 40

32

mình Nhưng tình bạn ở các em còn mang màu sắc xúc cảm nhiều nên thường có biểu hiện lí tưởng hóa tình bạn Có nghĩa là các em thường đòi hỏi ở bạn mình phải có những cái mình muốn chứ không chú ý đến khả năng thực tế của bạn

Vì vậy, khi tiếp cận các tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 – 1945, một thực

tế phản ánh rõ nét nhất trong Văn học Việt Nam đó là học sinh hoàn toàn đầy đủ năng lực để tư duy giải quyết vấn đề khi phân tích tác phẩm và giải quyết vấn đề trong thực tiễn, cuộc sống

1.2.2 Thực trạng áp dụng câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học hiện nay

Như ta đã biết, mỗi tác phẩm văn học đều chứa đựng nhiều “vấn đề” Mỗi vấn đề lại có nhiều vấn đề nhỏ hơn Các vấn đề nhỏ hơn có mối quan hệ gắn bó với nhau theo một lôgic nhất định Dẫn dắt, khơi gợi học sinh và duy trì hứng thú, sự tìm tòi liên tục quả thật không đơn giản, nó đòi hỏi người giáo viên đã phải có một nghệ thuật sư phạm tổng hợp

Chỉ khi nào học sinh hứng thú, tích cực, chủ động tham gia vào giải quyết vấn đề thì giờ học mới đạt hiệu quả

Hiện nay, việc vận dụng câu hỏi nêu vấn đề vào giảng dạy tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1930 -1945 cho học sinh lớp 11 đã được người viết khảo sát ở trường THPT Lương Thế Vinh

Kết quả thu được như sau:

Thuận lợi:

Thứ nhất, sách giáo khoa Ngữ văn 11 nói chung, phần văn xuôi lãng mạn

1930 -1945 nói riêng, đã hướng học sinh tìm hiểu vấn đề bằng câu hỏi nêu vấn

đề từ phần hướng dẫn học sinh học bài

Thứ hai, giáo viên dạy văn chủ yếu còn trẻ, đa phần có trình độ đại học,

được đào tạo bài bản về kiểu dạy học nêu vấn đề Giáo viên cũng được tham gia thường xuyên vào các chu kỳ bồi dưỡng; Được tham dự sinh hoạt ở các chuyên

đề đổi mới phương pháp dạy học của Sở GD – ĐT, của cụm các nhà trường tổ chức Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cũng được đảm bảo các điều kiện về

dự giờ và rút kinh nghiệm

Ngày đăng: 26/09/2020, 00:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w