Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các Thầy, Cô giáo và học sinh của trường THPT Thành Đông, các học viên lớp Cao học lí luận và phương pháp giảng dạy môn Hóa học khóa 7 trường Đại
Trang 3iii
LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cám ơn PGS.TS
Đặng Thị Oanh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến
* PGS.TS Trần Trung Ninh –Khoa Hóa học trường Đại học sư phạm Hà Nội;
* TS Phạm Trung Thanh – Phó Hiệu trưởng trường Đại học Thành Đông – Thành phố Hải Dương;
* TS Phạm Hồng Quân – Thanh tra Hóa học - Sở GD&ĐT Hải Dương;
* Th.S Nguyễn Thế Mạnh – phó phòng công nghệ- thạc sỹ Khoa học môi trường - Trung tâm quan trắc và phân tích môi trường và các cán bộ Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Hải Dương
đã cung cấp tư liệu và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các Thầy, Cô giáo và học sinh của trường THPT Thành Đông, các học viên lớp Cao học lí luận và phương pháp giảng dạy môn Hóa học khóa 7 trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thiện đề tài nghiên cứu này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Hà Nội, tháng 11 năm 2013
Tác giả
Phạm Thị Thủy
Trang 5v
MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Mục lục
Dang mục các bảng, hình vẽ, sơ đồ
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ DẠY HỌC THEO DỰ ÁN VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA HỌC SINH THPT
1.1 Thực trạng và định hướng đổi mới dạy học hiện nay
1.2 Cơ sở lí luận của dạy học theo dự án
1.2.1 Định nghĩa dạy học theo dự án
1.2.2 Đặc điểm của dạy học theo dự án
1.2.3 Quy trình tổ chức cho học sinh học theo dự án
1.2.4 Ưu điểm và hạn chế của dạy học theo dự án
1.2.5 Điều kiện để thực hiện có hiệu quả
1.2.6 Các kỹ năng được phát triển
1.2.7 Nguyên tắc lựa chọn các bài để thiết kế dự án
1.2.8 Quy trình thiết kế dự án
1.3 Cơ sở lí luận của công tác nghiên cứu khoa học
1.3.1 Đại cương về nghiên cứu khoa học
1.3.2 Trình tự logic của nghiên cứu khoa học
1.3.3 Thu thập và xử lý thông tin
1.3.4 Trình bày luận điểm khoa học
1.3.5 Đạo đức khoa học
1.4 Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học cho học sinh THPT
1.4.1 Hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT
1.4.2 Vai trò của hoạt động NCKH trong giáo dục trung học
1.4.3 Quy trình nghiên cứu khoa học của học sinh trung học
1.4.4 Hướng dẫn học sinh THPT nghiên cứu khoa học
1.5 Thực trạng của DHTDA và NCKH của HS ở một số trường THPT
i
ii iii
vi
1
7
7
7
7
8
8
10
10
10
10
11
11
11
12
13
15
15
15
15
18
19
23
25
Trang 6vi
1.5.1 Thực trạng của dạy học dự án
1.5.2 Thực trạng của hoạt động NCKH ở một số trường trung học
CHƯƠNG 2: KẾT HỢP DẠY HỌC DỰ ÁN VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHO HỌC SINH LỚP 12 PHẦN HÓA HỌC HỮU CƠ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2.1 Mục tiêu, cấu trúc phần hóa học hữu cơ lớp 12 Trung học phổ thông 2.1.1 Mục tiêu
2.1.2 Cấu trúc của chương trình
2.2 Một số dự án dạy học hóa học hữu cơ lớp 12 Trung học phổ thông
2.3 Cơ sở khoa học của việc hướng dẫn HS THPT nghiên cứu khoa học 2.3.1 Nguyên tắc của hoạt động hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học 2.3.2 Quy trình triển khai công tác hướng dẫn HS NCKH
2.4 Kết hợp DHTDA và NCKH cho học sinh THPT
2.4.1 So sánh DHTDA và hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh
2.4.2 Ý nghĩa của việc kết hợp NCKH và DHTDA trong giảng dạy
2.4.3 Vai trò của GV và HS trong việc kết hợp DHTDA và NCKH
2.4.4 Điều kiện để thực hiện có hiệu quả
2.5 Xây dựng một số đề tài NCKH và cách hướng dẫn học sinh thực hiện
2.5.1 Những vấn đề liên quan đến Este – Lipit
2.5.2 Những vấn đề liên quan đến cacbohidrat
2.5.3 Những vấn đề liên quan đến Amin-Aminoaxit- Protein
2.5.4 Những vấn đề liên quan đến Polime
2.5.5 Một số đề tài khác
2.5.6 Một số đề tài đã tham gia Hội thi KHKT dành cho HS trung học
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm
3.1.1 Mục đích của thực nghiệm
3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm
3.2 Kế hoạch và kết quả thực nghiệm sư phạm của tổ chức DHTDA
3.2.1 Chọn đối tượng và địa bàn thực nghiệm
3.2.2 Tiến hành thực nghiệm
25
27
32
32
32
32
32
39
39
39
45
45
49
50
51
53
53
53
54
54
55
55
93
93
93
93
93
93
94
Trang 7vii
3.2.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm tổ chức dạy học theo dự án
3.2.4 Kết quả từ phiếu thăm dò ý kiến của học sinh
3.3 Kế hoạch và kết quả thực nghiệm sư phạm của hoạt động NCKH
3.3.1 Chọn đối tượng và địa bàn thực nghiệm
3.3.2 Đánh giá đề tài
3.3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm về hoạt động NCKH
3.4 Kết quả phỏng vấn
3.5 Một số kinh nghiệm khi triển khai DHTDA kết hợp hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1 Kết luận chung
2 Khuyến nghị
3 Hướng phát triển của đề tài
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
94
95
97
97
97
103
105
107
109
109
110
111
112
115
Trang 8viii
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1 Một số dự án trong chương trình hoá học hữu cơ lớp 12 THPT 33
Bảng 2.2 So sánh dạy học theo dự án và hoạt động NCKH của học sinh 46
Bảng 2.3 Các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến este-lipit 52
Bảng 2.4 Các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến cacbohidrat 52
Bảng 2.5 Các đề tài NCKH liên quan đến Amin-Aminoaxit- Protein 53
Bảng 2.6 Các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến Polime 53
Bảng 2.7 Các đề tài nghiên cứu khoa học khác 54
Bảng 2.8 Kế hoạch triển khai dự án 1 58
Bảng 2.9 Kế hoạch triển khai dự án 2 74
Bảng 3.1 Kết quả bài kiểm tra của HS 94
Bảng 3.2 Phân loại kết quả học tập của HS 94
Bảng 3.3 Đánh giá dự án khoa học 98
Bảng 3.4 Đánh giá dự án kĩ thuật 100
Hình 3.1 Biểu đồ kết quả bài kiểm tra “Glucozo”của cặp TN- ĐC 95
Sơ đồ 1.1 Quy trình tổ chức cho học sinh học theo dự án 9
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ quy trình thực hiện dự án khoa học 20
Sơ đồ 1.3 Sơ đồ quy trình thực hiện dự án kĩ thuật 21
Sơ đồ 2.1 Quy trình hướng dẫn HS NCKH 45
Sơ đồ 2.2 Mối quan hệ giữa DHTDA và NCKH 50
Trang 9cá nhân và tập thể ở mỗi lĩnh vực hoạt động khác nhau, đặc biệt là từ thế hệ trẻ Cùng với đó là mong mỏi ở một nền giáo dục ưu tú tập trung vào việc truyền cảm
hứng, khơi dậy tài năng và giải phóng tiềm năng sáng tạo của người học bởi “Nghệ
thuật tuyệt đỉnh của giáo dục là khơi dậy niềm hạnh phúc được học tập và sáng tạo” - A Einstein
Luật Giáo dục (2005- Điều 28 Mục 2) của nước ta nhấn mạnh: “Phương
pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp
tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”[18]
Để thực hiện được chủ trương đó một trong những nhiệm vụ trọng yếu là thực hiện cuộc cách mạng về phương pháp giảng dạy và học tập theo hướng phát huy cao
độ tinh thần chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng tri thức, phát huy tiềm năng ẩn chứa trong mỗi con người, đặc biệt là đào tạo bồi dưỡng thế hệ trẻ để các em có thể phát huy tối đa năng lực và tri thức của mình, biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước Trong các PPDH tích cực hiện nay thì PPDHTDA đáp ứng tương đối tốt các yêu cầu đổi mới PPDH theo định hướng trên Theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo khi HS Việt Nam tham gia Hội thi khoa học kỹ thuật cho HS Trung học quốc tế thì “Bằng việc cho HS tham gia vào NCKH góp phần vào đổi mới phương pháp giáo dục và dạy học trong nhà trường; góp phần hình thành tính năng động, sáng tạo, khả năng vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực tế của HS; góp phần hình thành khả năng sáng tạo của HS” Nói một cách cụ thể là bản chất của sự đổi mới PPGD bằng cách làm cho HS từng bước tiếp cận với phương pháp NCKH để biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo [22] Nhưng làm thế nào để HS trong nhà trường phổ thông nhận thức đúng đắn
về hoạt động NCKH, có những hiểu biết về lí luận NCKH, vận dụng các phương
Trang 102
pháp để tiến hành nghiên cứu một đề tài khoa học? Không thể thiếu vai trò hướng dẫn, tổ chức, định hướng của GV cũng như sự phối hợp giữa nhà trường phổ thông gắn với các trường đại học, các viện nghiên cứu để giúp các em nghiên cứu, để đào tạo các em dần trở thành nhà khoa học Cũng từ hoạt động này GV có thể thay đổi cách dạy học, bản thân cũng tự thấy phải năng động hơn, tìm tòi đổi mới cách thức dạy học cũng như hướng dẫn HS NCKH
Chính vì vậy nghiên cứu đề tài: “Kết hợp dạy học và nghiên cứu khoa học
cho học sinh lớp 12 phần Hóa học hữu cơ Trung học phổ thông” là cần thiết, có
ý nghĩa khoa học và thực tiễn, phù hợp với định hướng đổi mới PPDH hiện nay, dẫn dắt các em HS vào con đường NCKH chân chính và sáng tạo
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu về dạy học theo dự án
Đầu thế kỷ 20, các nhà sư phạm Mỹ (Woodward; Richard; J.Dewey; W.Kilpatrick) đã xây dựng cơ sơ lý luận cho PPDHTDA và coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm[12] Với ưu điểm vượt trội, DHTDA đã và đang thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, một
số bài viết và công trình nghiên cứu chúng tôi trình bày trong phần sau đây:
1 Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học (2012) là
cuốn sách được biên soạn trong dự án Việt Bỉ Tài liệu giới thiệu một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực nhằm phát huy tính tích cực của HS như phương pháp học theo gốc, học theo hợp đồng đặc biệt trình bày khá sâu về PPDHTDA
đang rất được quan tâm.[12]
2 “Vận dụng dạy học theo dự án trong dạy học hóa học phần hóa học hữu
cơ ở trường THPT nhằm phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh” của
Ngô Lan Phương (2011), Khóa 20, Trường ĐHSP TPHCM [20]
Tác giả đã trình bày tương đối đầy đủ cơ sở lí luận của PPDHTDA; sưu tầm được nhiều tư liệu bổ ích trong dạy học phần Hóa hữu cơ đặc biệt chương trình lớp
11, mang tính thực tiễn cao có thể vận dụng trong DHTDA
3 Luận văn thạc sĩ giáo dục học: “Phát triển năng lực chủ động tích cực học tập của học sinh trong dạy học hoá học thông qua hình thức dạy học dự án” của
Đặng Thị Minh Thu (2009), ĐHSP Hà Nội [23]
Trang 113
Trong luận văn, tác giả xây dựng được các dự án (chủ đề) hóa học gắn bài học với những vấn đề liên quan đến thực tiễn đời sống, đưa các dự án đó vào trực tiếp dạy học trong chương trình hóa học THPT và đánh giá hiệu quả của việc sử dụng PPDHTDA Tiếp theo, tác giả đã khảo sát và đánh giá năng lực được phát triển ở học sinh thông qua quá trình học tập theo dự án
Qua các đề tài chúng ta cũng đã có được phần nào đầy đủ những nghiên cứu
về cơ sở lí luận của DHTDA, những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng DHTDA và tính khả thi của hình thức dạy học này ở Việt Nam
2.2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu khoa học
Trên Thế giới, Intel ISEF là hội thi khoa học lớn nhất thế giới dành cho học
sinh phổ thông từ lớp 9 – 12, ở 17 lĩnh vực nghiên cứu khoa học khác nhau nhằm tăng cường hiệu quả và sáng kiến sử dụng công nghệ trong dạy và học, sự thông thạo và kỹ năng giải quyết vấn đề ở giới trẻ, thúc đẩy sự tiến bộ trong dạy và học các môn khoa học, toán học, kỹ thuật, v.v… [34]
Ở Việt Nam, nghiên cứu các vấn đề về lí luận công tác NCKH từ trước đến
nay đã có nhiều sách tham khảo hoặc giáo trình cho các GV và sinh viên như:
1 PGS.TS Vũ Cao Đàm (2011), Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu
khoa học Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam [13]
2 PGS.TS.Phạm Viết Vượng (2001), Phương pháp luận nghiên cứu khoa
học Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội [30]
3 TS Phạm Trung Thanh, Th.S Nguyễn Thị Lý (2000), Phương pháp thực
hiện đề tài nghiên cứu khoa học trong sinh viên NXB khoa học và kỹ thuật [22] Các tài liệu trên về cơ bản đều đã chỉ ra cơ sở lý luận về công tác NCKH nói
chung, cách thực hiện và trình bày một đề tài NCKH nhưng lại hầu hết là tập trung hướng dẫn sinh viên NCKH Còn với đối tượng là HS THPT, qua thành công của Việt Nam tại Hội thi KHKT đặc biệt từ năm 2012 càng khẳng định khả năng sáng tạo của HS Việt Nam với nhiều dự án rất sáng tạo và độc đáo Để đạt được kết quả như vậy không thể thiếu vai trò hướng dẫn, tổ chức của GV, các nhà khoa học Bộ Giáo dục và đào tạo đã tiến hành tập huấn giáo viên các trường THPT thông qua:
1.“Hội thảo – Tập huấn :Tổ chức cuộc thi khoa học kĩ thuật cấp quốc gia
dành cho học sinh trung học ” do TS Vũ Đình Chuẩn – Vụ trưởng Vụ trung học Bộ
Trang 124
GD&ĐT thực hiện với nội dung chủ yếu là thảo luận thống nhất về các tiêu chí chấm các dự án dự thi của thí sinh và công tác tổ chức cuộc thi KHKT cấp tỉnh/ thành phố và cấp quốc gia dành cho học sinh trung học năm học 2012-2013 [6]
2 TS.Vũ Anh Tuấn “Giới thiệu khung nghiên cứu và hướng dẫn học sinh
trung học nghiên cứu khoa học kĩ thuật” tháng 12 năm 2012 tại Hà Nội trong đó
nêu mục đích, hình thức tổ chức, nội dung, tiến trình thực hiện đề tài NCKH [28] Nhưng thực tế, ngay bản thân một số GV vẫn còn rất mơ hồ về lí luận công tác NCKH dẫn đến lúng túng khi triển khai hướng dẫn HS thực hiện đề tài, áp dụng còn máy móc, thực sự chưa hiểu sâu bản chất và ý nghĩa của công tác NCKH của HS
Nhận xét chung
Mặc dù DHTDA trong những năm gần đây đã được quan tâm nghiên cứu nhưng các công trình nghiên cứu này trong hoá học còn rất ít mới chỉ xuất hiện trong thời gian gần đây Đặc biệt là công tác NCKH của HS chỉ thực sự được chú trọng từ khi Việt Nam tham gia Hội thi KHKT dành cho HS trung học Thế giới Vấn đề quan trọng hơn nữa là việc kết hợp giữa DHTDA và NCKH là một hướng mới cần được nghiên cứu sâu sắc cả về cơ sở lý luận và thực tiễn bởi DHTDA và NCKH có nhiều điểm chung, điểm tương đồng nên khi được kết hợp với nhau sẽ hỗ trợ nhau, làm sâu sắc nhau đem lại hiệu quả học tập, phát triển khả năng sáng tạo, hình thành các kĩ năng, thao tác tư duy cho học sinh
3 Mục tiêu nghiên cƣ́u
Kết hợp DHTDA và tổ chức hướng dẫn NCKH cho học sinh lớp 12 phần Hóa học hữu cơ Trung học phổ thông nhằm góp phần rèn luyện kĩ năng NCKH, vận dụng kiến thức lí thuyết vào thực tiễn cho HS, phát triển năng lực sáng tạo qua đó nâng cao chất lượng dạy học hóa học trong các trường THPT
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài cần thực hiê ̣n nhiê ̣m vu ̣ sau:
(1) Nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, quy trình tổ chức, ưu điểm, hạn chế, các điều kiện thực hiện dạy học theo dự án
- Nghiên cứu thực trạng DHTDA ở một số trường THPT
(2) Nghiên cứu tổng quan cơ sở lí luâ ̣n của công tác nghiên cứu khoa học
Trang 135
- Nghiên cứu m ục đích, yêu cầu, nội dung, hình thức, tiến trình thực hiện công tác hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học
- Nghiên cứu thực trạng công tác nghiên cứu khoa học của HS THPT
(3) Nghiên cứu nô ̣i dung ,cấu trúc chương trình và sách giáo khoa hóa ho ̣c 12 phần Hóa học hữu cơ để xây dựng nguyên tắc, quy trình triển khai, tuyển cho ̣n thực hiện
dự án học tập và đề tài hóa học có liên quan đến việc NCKH của học sinh
(4) Tổ chức hướng dẫn HS lớp 12 thực hiện dự án/ đề tài liên quan đến kiến thức phần Hóa học hữu cơ nhằm xác đi ̣nh tính khả thi, tính phù hợp và hiệu quả của đề tài (5) Tiến hành quay video, chụp ảnh quá trình thực hiện và trao đổi với GV, HS đã tham gia các dự án, đề tài và ý kiến nhận xét của Ban giám hiệu nhà trường
5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn hóa học ở trường trung học phổ thông
5.2 Đối tượng nghiên cứu
Kết hợp dạy học dự án và nghiên cứu khoa học cho học sinh lớp 12 THPT
5.3 Phạm vi nghiên cứu
Phần hóa học hữu cơ lớp 12 chương trình nâng cao THPT
6 Câu hỏi nghiên cứu
Làm thế nào để kết hợp thực hiện dạy học theo dự án với nghiên cứu khoa học cho học sinh và từ đó thực hiện đề tài nghiên cứu ?
7 Giả thuyết khoa học
Nếu kết hợp DHTDA với tổ chức tốt tập huấn cho HS về phương pháp NCKH, đồng thời với sự hướng dẫn của GV trong quá trình tiến hành đề tài nghiên cứu thì sẽ góp phần rèn luyện kĩ năng NCKH, vận dụng kiến thức lí thuyết vào thực tiễn cho HS, phát triển năng lực sáng tạo qua đó nâng cao chất lượng dạy học hóa học trong các trường THPT
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phân tích các nguồn tư liệu, số liệu sẵn có về DHTDA, NCKH nói chung, công tác NCKH của HS THPT nói riêng và đặc biệt là cách GV hướng dẫn HS NCKH và thực hiện dự án học tập
Trang 146
8.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra bảng hỏi: Tiến hành điều tra GV giảng dạy môn Hóa học một số trường về DHTDA, về công tác NCKH của HS và công tác hướng dẫn HS NCKH Điều tra HS đã tham gia học tập dự án và NCKH
- Phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn một số GV đã tham gia hướng dẫn HS NCKH; HS đã tham gia trong Hội thi Intel ISEF vừa qua để biết được phương pháp hướng dẫn HS NCKH, việc áp dụng trong thực tế có những khó khăn thuận lợi gì
- Phương pháp quan sát và tổng kết thực tiễn
8.3 Phương pháp xử lý thông tin
- Sử dụng toán thống kê xác xuất để phân tích và xử lý các kết quả thực nghiệm sư phạm
9 Đóng góp mới của đề tài
- Tổng quan và làm sáng tỏ về phương diện lý luận trong việc kết hợp DHTDA và NCKH cho HS THPT đồng thời chỉ rõ tầm quan trọng của công tác này
trong giáo dục ở nhà trường phổ thông hiện nay
- Điều tra đánh giá thực trạng việc vận dụng DHTDA và việc triển khai NCKH cho HS ở một số trường THPT thuộc tỉnh Hải Dương, Hà Nội, Hải Phòng
- Đề xuất nguyên tắc lựa chọn nội dung, xây dựng và triển khai dự án trong học tập thuộc phần hữu cơ lớp 12 THPT
- Đề xuất một số đề tài NCKH trong chương trình hóa học hữu cơ lớp 12 Áp dụng quy trình nghiên cứu, tổ chức tập huấn phương pháp NCKH và hướng dẫn 2
đề tài cho HS lớp 12
10.Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu , kết luâ ̣n, khuyến nghi ̣, tài liệu tham khảo , phụ lục, nô ̣i dung chính của luâ ̣n văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1 Cơ sở lí luâ ̣n và thực tiễn của vấn đề dạy học theo dự án và nghiên cứu khoa học của học sinh THPT
Chương 2 Kết hợp dạy học dự án và nghiên cứu khoa học cho học sinh lớp
12 phần Hóa học hữu cơ trung học phổ thông
Chương 3 Thực nghiê ̣m sư pha ̣m
Trang 157
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ DẠY HỌC THEO DỰ ÁN
VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA HỌC SINH THPT
1.1 Thực trạng và định hướng đổi mới dạy học hiện nay
Chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông bước đầu thể hiện được quan điểm dạy học phân hóa, tích hợp và tính liên thông, có nhiều tiến bộ về nội dung và hình thức trình bày Đầu tư cho giáo dục được ưu tiên, cơ sở vật chất của nhà trường từng bước được cải thiện, xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh Tuy nhiên, chất lượng giáo dục phổ thông nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được mục tiêu giáo dục cũng như yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kì hội nhập Hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay còn “thiếu hơi thở của thời đại và hơi thở của thực tiễn” chất lượng giáo dục thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu xã hội [45] Giáo dục kiến thức về xã hội, kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin, trình độ ngoại ngữ, kĩ năng thực hành lập kế hoạch, làm việc nhóm còn kém, chưa phát huy khả năng tự học, tính chủ động sáng tạo của người học
Để thực hiện mục tiêu đổi mới giáo dục toàn diện trước hết nội dung chương trình phải đổi mới theo hướng phân hóa HS, tích hợp, giảm lí thuyết, tăng cường thực tiễn; đổi mới mạnh mẽ từ nhà trường khép kín sang giáo dục xã hội, đưa nhà trường thâm nhập vào cuộc sống PPDH phải đổi mới theo hướng phân hóa, dạy theo hướng tương tác đa chiều, không dừng lại ở lí thuyết mà vươn tới hoạt động thực hành, trải nghiệm HS thích thú, chủ động và tích cực tìm tòi học tập, nâng cao năng lực tự học, tạo ra môi trường học tập ở đó HS được trải nghiệm, được giải quyết các bài toán thực tế, được phát triển mọi kĩ năng cần thiết.[44] Một trong những PPDH đáp ứng được định hướng trên đó là dạy học theo dự án và tổ chức cho học sinh NCKH
1.2 Cơ sở lí luận của dạy học theo dự án
1.2.1 Định nghĩa dạy học theo dự án
Theo định nghĩa của Bộ Giáo dục Singapore “Dạy học theo dự án là hoạt
động học tập nhằm tạo cơ hội cho HS tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập
và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống” [12, tr.125]
Trang 168
1.2.2 Đặc điểm của dạy học theo dự án
Chủ đề của dự án gắn với thực tiễn, kết quả dự án phải có ý nghĩa thực tiễn
xã hội, thu hút người học vào những dự án phức tạp trong thực tiễn xã hội, góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống xã hội
Chủ đề của dự án phù hợp với hứng thú của người học, tăng cường năng lực hoàn thành những công việc quan trọng và mong muốn được đánh giá Cơ hội cộng tác với các bạn cùng lớp, tham gia tích cực, sáng tạo và nghiêm túc Kết quả của dự
án có thể là bài báo, bài trình bày, các mô hình, thí nghiệm …[12, tr.125]
1.2.3 Quy trình tổ chức cho học sinh học theo dự án
1.2.3.2.Bước 2: Thực hiện dự án
1).Thu thập thông tin: Theo nhiệm vụ đã được phân công, các thành viên trong nhóm thu thập thông tin từ sách báo, internet, làm thực nghiệm, điều tra, phỏng vấn Các phương tiện hỗ trợ cần sử dụng như: phiếu phỏng vấn, phiếu ghi
dữ liệu, phiếu thiết kế các hoạt động thực nghiệm, máy ghi âm, máy ảnh,
2) Xử lí thông tin
Sau khi đã thu thập được các dữ liệu cần tiến hành xử lí dữ liệu bằng bảng, biểu đồ, sơ đồ, so sánh, đối chiếu Trong nhóm thường xuyên trao đổi thảo luận để
Trang 172) Trình bày báo cáo sản phẩm
GV tổ chức cho HS trình bày các sản phẩm đã làm Không nên để một HS phụ trách báo cáo mà nên chia nhỏ để nhiều thành viên cùng được có cơ hội thể hiện khả năng của mình Trong buổi này, GV nên kêu gọi các chuyên gia liên quan đến dự án, ban giám hiệu tham gia và đặt câu hỏi, cũng như đưa ý kiến nhận xét, góp phần làm cho buổi báo cáo thêm sinh động, hấp dẫn và thiết thực
3) Đánh giá rút kinh nghiệm
GV thiết kế cho các nhóm tự chấm điểm và chấm điểm lẫn nhau, đánh giá sản phẩm của từng nhóm GV tổng kết các phiếu tự đánh giá của các nhóm, nhận xét, cho điểm từng nhóm và rút kinh nghiệm [12, tr 132-140]
Sơ đồ 1.1: Quy trình tổ chức cho học sinh học theo dự án
Xây dựng bản kế hoạch dạy học dự án
Trang 1810
1.2.4 Ưu điểm và hạn chế của dạy học theo dự án
Các đặc điểm của DHTDA đã thể hiện những ưu điểm của PPDH này đó là: Gắn lý thuyết với thực hành, phát triển kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề cho người học, kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học
Tuy nhiên, DHTDA cũng có những hạn chế và thách thức nhất định như DHTDA không phù hợp trong việc truyền thụ tri thức lý thuyết mang tính hệ thống cũng như rèn luyện hệ thống kỹ năng cơ bản, mất nhiều thời gian, đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp, yêu cầu GV phải có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, tích cực, yêu nghề [12, tr.150]
1.2.5 Điều kiện để thực hiện có hiệu quả
Bài học được thiết kế cẩn thận, lôi cuốn HS vào những nhiệm vụ mở và có tính thực tiễn cao GV giữ vai trò người hỗ trợ, hướng dẫn HS hợp tác làm việc với nhau trong các nhóm, phát huy tối đa năng lực cá nhân khi đảm nhận những vai trò khác nhau Dự án có các mục tiêu rõ ràng và tập trung vào những hiểu biết của HS sau quá trình học Dự án phải gắn với đời sống thực tế của HS [12, tr.150]
1.2.6 Các kỹ năng được phát triển
Kỹ năng thu thập và xử lý thông tin: bao hàm những khả năng rút ra những
thông tin từ một tư liệu và ghi chép từ một thông báo hay bài phát biểu
Kỹ năng giao tiếp: như vấn đáp, lắng nghe tích cực, tiếp nhận và phản hồi
thông tin, xử lý tình huống, giải quyết mâu thuẫn, hợp tác và hỗ trợ trong nhóm
Kỹ năng tư duy sáng tạo: Thông qua những sản phẩm tư duy của HS như:
các cuộc thảo luận, các bảng biểu, sơ đồ, và những ghi chép, GV có thể biết được nhiều điều về quá trình tư duy của HS, lựa chọn PPDH phù hợp cho đối mỗi tượng
là cá nhân hay nhóm HS
Kỹ năng trình bày: Tạo ra một bài thuyết trình là một nghệ thuật Đó là khả
năng của những người thuyết trình trong quá trình truyền đạt thông tin một cách hấp dẫn và cách dẫn dắt nội dung thông tin nhằm thu hút nhiều người nghe hơn và trình bày thông tin đầy đủ và chính xác trong một khoảng thời gian ngắn [23, tr.25-28]
1.2.7 Nguyên tắc lựa chọn các bài để thiết kế dự án
- Các bài để thiết kế dự án phải nằm trong nội dung chương trình
- Làm cho các em quan tâm, khơi gợi được hứng thú của các em
Trang 1911
- Phải có ý nghĩa thực tiễn nhất định, có liên hệ với thực tế, môi trường, xã hội
- Phải vừa sức, phù hợp với năng lực học sinh và không tạo áp lực nặng nề về thời gian cho các em
- Các sản phẩm của dự án có thể thực hiện được và rõ ràng
1.2.8 Quy trình thiết kế dự án
Bước 1: Xác định mục tiêu học tập
Để đảm bảo dự án thiết kế đạt được các chuẩn học tập được yêu cầu trong quá trình giảng dạy, GV cần làm những việc sau đây:
- Tìm và đọc lại chuẩn kiến thức và kĩ năng trong bài dạy
- Đưa ra ý tưởng dự án phù hợp với một số kiến thức và kĩ năng cụ thể
- Phát triển một ý tưởng dự án vừa hướng đến những kiến thức và kĩ năng vừa
có thể kết nối với thực tế cuộc sống
- Ghi lại ý tưởng dự án và các chuẩn kiến thức và kĩ năng có liên quan
Bước 2: Lập kế hoạch đánh giá
Các tiêu chuẩn đánh giá gồm: đánh giá quá trình học tập, đánh giá sản phẩm,
kỹ năng của HS, đánh giá nhóm
Bước 3: Tổ chức cho học sinh học theo dự án
Các hoạt động trong buổi 1 (buổi lập kế hoạch): Tổ chức cho HS lựa chọn chủ đề, xậy dựng tiểu chủ đề, lập kế hoạch các nhiệm vụ học tập
Các hoạt động thực hiện dự án: Thu thập, xử lí và tổng hợp thông tin, xây dựng sản phẩm
Các hoạt động trong buổi 2 (buổi tổng hợp báo cáo sản phẩm): Báo cáo trình bày sản phẩm, đánh giá và tổng kết dự án
1.3 Cơ sở lí luận của công tác nghiên cứu khoa học
1.3.1 Đại cương về nghiên cứu khoa học
Khái niệm khoa học: Khoa học là hệ thống tri thức của sự vật, hiện tượng,
quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy, mà những tri thức trong hệ thống này có được dựa trên những NCKH (chứ không phải dựa trên những kinh nghiệm) Khoa học còn bao gồm hệ thống tri thức về những biện pháp tác động đến thế giới xung quanh làm biến đổi thế giới đó phục vụ cho lợi ích của con người [24, tr.36]
Trang 2012
Nghiên cứu khoa học là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức
khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người [13,tr.35]
Phương pháp nghiên cứu khoa học là con đường, cách thức nghiên cứu để
đặt ra câu hỏi khoa học, giải quyết vấn đề thông qua quan sát và thực nghiệm [24,tr.37]
1.3.2 Trình tự logic của nghiên cứu khoa học
NCKH, bất kể trong NCKH tự nhiên, khoa học xã hội hoặc khoa học công nghệ đều tuân theo một trật tự lôgic xác định, bao gồm các bước sau:
1 Lựa chọn chủ đề nghiên cứu và đặt tên đề tài
2 Xác định mục tiêu nghiên cứu
3 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu
4 Chứng minh giả thuyết
5 Lựa chọn phương pháp chứng minh giả thuyết [13,tr.47]
1.3.2.1 Lựa chọn chủ đề và đặt tên đề tài
(1) Ý tưởng nghiên cứu
Ý tưởng nghiên cứu thường được hình thành trong các tình huống như: Trong giải quyết công việc hàng ngày, qua đọc sách báo, trong các buổi tranh luận hoặc các câu hỏi đặt ra của người khác
(2) Lựa chọn đề tài
Từ các ý tưởng đó sẽ hướng người nghiên cứu đến lựa chọn đề tài Việc lựa chọn đề tài có một ý nghĩa rất quan trọng Có thể xem xét việc lựa chọn đề tài theo một số tiêu chí sau: Đề tài có ý nghĩa khoa học không? có ý nghĩa thực tiễn không?
có cấp thiết phải nghiên cứu không? có phù hợp với sở thích không?
(3) Đặt tên đề tài
Tên đề tài phải phản ánh cô đọng nhất nội dung nghiên cứu của đề tài Tên
đề tài phải thể hiện được mục tiêu nghiên cứu, có thể ghi rõ phương tiện thực hiện,
có thể chỉ rõ môi trường thực hiện
Trang 2113
1.3.2.2 Xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu là những nội dung cần được xem xét và làm rõ trong nghiên cứu Mục tiêu trả lời câu hỏi “nghiên cứu cái gì?”
Nhiệm vụ nghiên cứu: Nhiệm vụ nghiên cứu chính là công việc phải làm, được cụ thể hóa từ mục tiêu và đối tượng nghiên cứu Mỗi nhiệm vụ phải giải quyết được một vấn đề nào đó nằm trong mục tiêu nghiên cứu của đề tài và các nhiệm vụ luôn có quan hệ hữu cơ với nhau
1.3.2.3 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết là câu trả lời ướm thử cho câu hỏi nghiên cứu Một giả thuyết có thể đặt ra đúng với bản chất sự vật, song giả thuyết cũng có thể sai và bị bác bỏ
1.3.2.4 Chứng minh giả thuyết
Để chứng minh giả thuyết, người nghiên cứu cần có các luận cứ khoa học Luận cứ là bằng chứng để khẳng định giả thuyết của tác giả đặt ra là đúng Trong khoa học có hai loại luận cứ: luận cứ lý thuyết và luận cứ thực tế [13,tr.49-63]
1.3.2.5 Lựa chọn phương pháp chứng minh giả thuyết
Trong nghiên cứu các phương pháp được chia thành 2 nhóm chính:
-Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Gồm có phương pháp nghiên cứu tài liệu, thống kê toán học
-Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Gồm có phương pháp quan sát, thực nghiệm khoa học, điều tra, khảo sát thực địa, phỏng vấn, thực nghiệm
Phương pháp nghiên cứu là công cụ NCKH trong thực hiện nhiệm vụ đề tài Phương pháp NCKH do mục tiêu và đối tượng nghiên cứu quyết định bởi “phương pháp là sự vận động của nội dung” nói theo ngôn từ triết học Điều đó có nghĩa là ứng với những đề tài khác nhau phải có phương pháp khác nhau Chọn phương pháp nào cho thích hợp đó là công việc của người nghiên cứu [22,tr.65-66]
1.3.3 Thu thập và xử lý thông tin
1.3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin
(1) Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nguồn tài liệu rất đa dạng như: tạp chí và báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, sách giáo khoa, tài liệu lưu trữ, số liệu thống kê, thông tin đại chúng Sau đó
Trang 2214
người nghiên cứu tổng hợp tài liệu: bổ túc, lựa chọn, sắp xếp tài liệu, làm tái hiện quy luật, giải thích quy luật
(2) Phương pháp khảo sát thực địa
Khảo sát thực địa là một phương pháp quan sát để lấy được các thông tin phục vụ cho việc trình bày luận cứ thực tế Có thể sử dụng các phương tiện ghi âm, ghi hình hoặc sử dụng các phương tiện đo lường
(3) Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn là đưa ra những câu hỏi với người đối thoại để thu thập thông tin Cách đặt câu hỏi là điều cần đặc biệt coi trọng vì nó có ảnh hưởng quyết định tới kết quả phỏng vấn
(4) Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Điều tra là đưa những câu hỏi in sẵn trong giấy, gửi trước đến những người được phỏng vấn để nhận được ý kiến trả lời theo những câu hỏi mà người nghiên cứu đặt ra Sau đó phải xử lý kết quả điều tra dựa trên cơ sở thống kê toán [13,tr.67-93]
(5) Phương pháp thực nghiệm khoa học
Phương pháp thực nghiệm khoa học là một trong các phương pháp cơ bản,
có vai trò hết sức quan trọng trong NCKH, được sử dụng triệt để trong nhiều lĩnh vực khoa học, đặc biệt là các khoa học tự nhiên Thực nghiệm chỉ được sử dụng khi
và chỉ khi đặt ra bài toán làm sáng tỏ các mối liên hệ, sự phụ thuộc giữa các hiện tượng nghiên cứu và sự thể hiện các giải định, kiểm định các giả thuyết
Phương pháp thực nghiệm thường chia thành hai loại chính là thực nghiệm
tự nhiên và thực nghiệm trong phòng thí nghiệm Trong một thực nghiệm thường có
3 yếu tố biến đổi (gọi là biến) gồm biến độc lập, biến phụ thuộc, biến kiểm soát [24, tr.55-59]
1.3.3.2 Phương pháp xử lý thông tin
Xử lý toán học đối với các thông tin định lượng: Sử dụng phương pháp thống
kê toán sau đó trình bày dưới dạng bảng số liệu, biểu đồ, đồ thị
Xử lý logic đối với các thông tin định tính: Đưa ra những phán đoán về bản chất các sự kiện, đồng thời thể hiện những liên hệ logic của sự kiện [13,tr.99]
Trang 2315
1.3.4 Trình bày luận điểm khoa học
Kết quả nghiên cứu có thể được trình bày dưới dạng bài báo khoa học, tổng
luận khoa học, tác phẩm khoa học nhằm nhiều mục đích như công bố một ý tưởng
khoa học hoặc cung cấp thông tin tóm tắt về hoạt động và thành tựu
Người thuyết trình luôn phải lưu ý rằng mỗi bản thuyết trình phải trả lời được câu hỏi: Tác giả định chứng minh điều gì? Chứng minh bằng cái gì? Bản thuyết trình phong phú nhờ luận cứ Người nghiên cứu càng đưa được nhiều luận
cứ thì luận điểm càng có sức thuyết phục [13,tr.106]
1.3.5 Đạo đức khoa học
Bên cạnh việc trang bị những nội dung về kĩ năng nghiên cứu, những nhà nghiên cứu cần được trang bị những kiến thức về đạo đức khoa học, đó là tính trung thực với bản thân và trung thực với tài sản khoa học chung của cộng đồng, đạo đức trong sử dụng kết quả nghiên cứu [13,tr.133]
1.4 Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học cho học sinh THPT
1.4.1 Hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT
1.4.1.1 Mục đích của hoạt động NCKH ở trường trung học
Mục đích của việc tổ chức triển khai hoạt động NCKH của HS trung học nói chung và của cuộc thi KHKT nói riêng đã được xác định rõ ràng trong Thông tư số 38/2012/TT-BGDĐT, ngày 02/11/2012 của Bộ trưởng Bộ GDĐT
- Góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, thúc đẩy đổi mới hình thức tổ chức
và PPDH; đổi mới hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập; phát triển năng lực HS; nâng cao chất lượng dạy học các cơ sở giáo dục trung học;
- Giúp HS tiếp cận và vận dụng các phương pháp NCKH, khuyến khích HS trung học nghiên cứu, sáng tạo khoa học, vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống; tạo cơ hội để HS giới thiệu kết quả nghiên cứu, sáng tạo khoa học của mình;
- Tăng cường trao đổi, giao lưu văn hóa, giáo dục giữa HS và GV các địa phương trong cả nước và hội nhập quốc tế [24,tr.68]
1.4.1.2 Yêu cầu trong công tác nghiên cứu khoa học của học sinh
- Phù hợp với khả năng và nguyện vọng của HS
Trang 2416
- Phù hợp với chương trình, nội dung dạy học trong nhà trường và đòi hỏi thực tiễn của xã hội, phù hợp với định hướng giáo dục của các trường trung học
- Không ảnh hưởng đến việc học tập chính khóa của HS
- Đối với cuộc thi KHKT dành cho HS trung học yêu cầu đối tượng tham gia: HS có hạnh kiểm, học lực học kỳ từ khá trở lên [28]
1.4.1.3 Nội dung nghiên cứu khoa học của học sinh
của trường trung học có liên quan đến việc áp dụng vào thực tiễn [28]
1.4.1.4 Trách nhiệm và quyền lợi của học sinh khi tham gia NCKH
(1) Trách nhiệm của học sinh
Tích cực hưởng ứng và thực hiện đề tài NCKH đã đăng ký Cần có sự giám sát, hướng dẫn trong quá trình làm đề tài, phải có người bảo trợ khi tham gia NCKH (có thể là GV, cán bộ nghiên cứu, nhà khoa học ) Trung thực trong NCKH; không gian lận, sao chép trái phép, giả mạo; không sử dụng, trình bày nội dung, kết quả nghiên cứu của người khác như là của mình Chấp hành các quy định hiện hành về hoạt động khoa học và công nghệ của trường Không được tham gia nghiên cứu dự
án nghiên cứu mầm bệnh, hóa chất độc hại hoặc ảnh hưởng đến môi trường
(2) Quyền lợi của học sinh
Được tạo điều kiện sử dụng các thiết bị sẵn có của cơ sở để tiến hành NCKH; được tham gia các Hội thi KHKT Kết quả NCKH của HS có thể được công bố trên các kỷ yếu, tạp chí và các phương tiện thông tin khác [28]
1.4.1.5 Thuận lợi và khó khăn
(1) Thuận lợi
Thực hiện chủ trương đổi mới giáo dục, GV đã thực hiện tích hợp nhiều PPDH tích cực như dạy học theo dự án, dạy học nhóm, dạy học sử dụng công nghệ thông tin,… để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống, kích thích tính chủ động và đề cao tinh thần tự chủ, sáng tạo của các em Nội dung giảng dạy theo hướng gợi mở, giới thiệu những vấn đề mới, cập nhật những kiến thức và thông tin thời sự về mặt khoa học cho HS Qua đó đã rèn luyện
kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói, viết, làm việc nhóm và hình thành năng lực NCKH cho HS Điều này cũng giúp các em trong việc lựa chọn đề tài nghiên
Trang 2517
cứu, làm quen dần với phương pháp nghiên cứu Sự cải thiện về cơ sở vật chất của trường như thư viện, tài liệu tham khảo, phòng máy, internet… cũng tạo điều kiện cho các em NCKH cả về vật chất lẫn tinh thần trong phạm vi có thể Việc tổ chức Hội thi KHKT dành cho HS trung học là cơ hội tốt cổ vũ, phát động công tác NCKH trong nhà trường và HS trung học
HS nhận được sự hỗ trợ về nhiều mặt, đặc biệt là về chuyên môn, phương pháp NCKH của các GV, giảng viên, cán bộ khoa học hoặc sự hỗ trợ của các Viện, các trường Đại học GV còn hướng dẫn HS cách tự khám phá, tìm hiểu, nghiên cứu cuộc sống xung quanh; tạo sự ham muốn khám phá, say mê khoa học của các em
Điều quan trọng là thông qua NCKH sẽ khơi nguồn cho những sáng tạo và đánh thức những khả năng tiềm ẩn của mỗi HS, phát huy tối đa tính trẻ, khả năng tư duy đó là những ý tưởng khoa học mạnh dạn và táo bạo nhưng cũng không thiếu tính hiệu quả và khả thi cao
(2) Khó khăn
Bên cạnh đó, hoạt động này trong quá trình triển khai cũng gặp phải không ít
khó khăn: Việc triển khai NCKH đối với HS là rất mới với các trường trung học nên
nhiều trường vẫn còn rất bỡ ngỡ trong công tác hướng dẫn, quản lý cũng như việc tổ chức công tác NCKH Về nhận thức của phụ huynh, nhiều người vẫn cho rằng đề ra việc NCKH đối với HS phổ thông là quá xa vời, các em chỉ cần nắm vững kiến thức
và kỹ năng ở chương trình giáo dục phổ thông, vượt qua kỳ thi tốt nghiệp và tuyển sinh ĐH là đạt yêu cầu, nên sẽ khó khăn để nhận được sự ủng hộ về vật chất, tinh thần của phụ huynh và của chính các em
Về phía GV, cán bộ hướng dẫn, hầu hết các GV chỉ chú trọng đầu tư cho chuyên môn nên kinh nghiệm NCKH vẫn còn hạn chế Mặt khác GV, giảng viên gặp không ít khó khăn vì bị động về mặt thời gian
Về phía HS, khi tổ chức cho HS tham gia NCKH thì việc NCKH của HS thực chất là bước đầu tập NCKH Bản thân HS lại có vốn kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế Một áp lực không nhỏ với HS khi tham gia NCKH là vấn đề thời gian Chương trình học thường khá nặng với rất nhiều môn học cũng là một khó khăn không nhỏ khi HS muốn tham gia NCKH Các đề tài nghiên cứu đòi hỏi phải
có kiến thức chuyên ngành nên HS lớp 10,11 còn hạn chế tham gia HS lớp 12 đã có
Trang 2618
thể vận dụng kiến thức chuyên ngành vào nghiên cứu thì lại gặp khó khăn về thời gian, vì đây là thời điểm học tập căng thẳng, thời gian biểu học tập trên lớp dày đặc lại thêm chạy đua học thêm với các kỳ thi Điều này rất khó tránh khỏi, nên việc dành thời gian để nghiên cứu lại càng eo hẹp, khó có thể tập trung cho NCKH Các
đề tài nghiên cứu do đó thường không đúng tiến độ hoặc chất lượng không như mong muốn Trong quá trình làm đề tài, còn gặp nhiều khó khăn như việc thu thập
số liệu do không xác định được địa bàn thu thập đồng thời một số trường hợp còn bị ngăn cản; quá trình phát triển mô hình còn sơ sài, thiếu thiết bị,kĩ thuật, tay nghề lắp ráp còn hạn chế nên việc làm ra một mô hình như đã thiết kế là rất khó
Vấn đề tài chính cũng là bài toán nan giải đối với việc NCKH của HS hiện nay Việc tìm kiếm những tài liệu quan trọng và mang tính thực tế hay điều tra, thiết
kế mô hình thì rất khó khăn, tốn kém vượt quá khả năng kinh phí của các em Nếu không được gia đình, nhà trường, các cơ quan quan tâm, ủng hộ về tài chính thì HS không thể thực hiện được đề tài nghiên cứu
Nguồn lực tài chính ít ỏi, cơ sở vật chất, trang thiết bị thí nghiệm hiện đại cho công tác này ở nhiều trường còn thiếu, chưa thực sự phong phú chủ yếu các em phải tìm trên báo chí, tạp chí, phương tiện thông tin, internet [8], [32], [35], [37]
1.4.2 Vai trò của hoạt động NCKH trong giáo dục trung học
NCKH ở trường trung học là một hoạt động giáo dục: NCKH được sử dụng
như là một hoạt động giáo dục nhằm rèn luyện tư duy, tác phong làm việc khoa học của HS, gắn liền kiến thức trong nhà trường với thực tiễn đời sống, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trung học Hoạt động NCKH có mục đích chính là phát triển năng lực, rèn luyện cách nghĩ, cách làm việc khoa học cho HS
NCKH góp phần đổi mới hình thức tổ chức dạy học, PPDH và phương pháp đánh giá kết quả học tập: Trong NCKH, HS được tự đề xuất vấn đề nghiên cứu, tự
lập kế hoạch và triển khai kế hoạch nghiên cứu, tìm tòi, khám phá HS được tiếp xúc, trao đổi, thảo luận với thầy cô, bạn bè và các nhà khoa học Đó là điều kiện thuận lợi để HS không chỉ nâng cao, mở rộng kiến thức mà còn rèn luyện kĩ năng ứng xử, giao tiếp xã hội; qua tự học, tự tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu chuyên môn hay qua thảo luận NCKH còn là hoạt động giáo dục mà ở đó HS được cá thể
Trang 2719
hóa quá trình học tập phù hợp với sở trường, sở thích và điều kiện của bản thân từ
đó thúc đẩy động cơ học tập, khuyến khích HS tự giác học tập, nghiên cứu
Mối liên hệ giữa hoạt động NCKH và các hoạt động giáo dục khác đang triển khai: Việc triển khai đổi mới PPDH như áp dụng PPDHTDA, PPDH bàn tay
nặn bột, tổ chức cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn, cuộc thi dạy học theo chủ đề tích hợp sẽ góp phần triển khai rộng rãi và nâng cao chất lượng các dự án NCKH
NCKH và dạy học định hướng phát triển năng lực của HS: Khi HS làm quen
với NCKH sẽ học được phương pháp làm việc khoa học, phương pháp tự học, tự tìm kiếm tri thức thông qua nhiều nguồn tư liệu khác nhau Khi đó, các em sẽ bước vào học tập với một tinh thần mới, một ý thức học tập mới Và khi có phương pháp làm việc khoa học, các em cũng sẽ học tập dễ dàng, chủ động hơn
NCKH góp phần nâng cao năng lực của GV: Trước hết là GV trực tiếp
hướng dẫn HS NCKH, phải đào sâu nghiên cứu, mở rộng kiến thức của mình để không trở nên tụt hậu so với HS Đây cũng là một “cú hích” quan trọng để GV phải thay đổi PPDH của mình, không còn là người áp đặt kiến thức mà trở thành người khơi gợi kiến thức, hướng dẫn, định hướng HS phương pháp tìm tòi tri thức mới, hỗ trợ HS giải đáp thắc mắc và quan trọng là giúp HS phát huy tối đa khả năng chủ động, sáng tạo của mình trong việc thu nhận kiến thức Từ đó giúp nâng cao chất lượng các đề tài nghiên cứu sư phạm ứng dụng, sáng kiến cải tiến; hỗ trợ đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng tăng cường trao đổi, thảo luận về dự án nghiên cứu của HS, những vướng mắc khó khăn cần tháo gỡ, giải quyết
NCKH phát huy nguồn lực ngoài trường trung học hỗ trợ giáo dục trung học: Để triển khai sâu rộng, có chất lượng luôn cần sự hưởng ứng, hỗ trợ tích cực
của các cơ sở giáo dục ĐH-CĐ về chuyên môn, nghiệp vụ, cơ sở vật chất cũng như hình thức động viên khuyến khích HS, GV có thành tích trong NCKH [24,tr.69-74]
1.4.3 Quy trình nghiên cứu khoa học của học sinh trung học
Trong khuôn khổ cuộc thi KHKT cho HS trung học, hai loại đề tài (còn gọi
là dự án) được nghiên cứu nhiều đó là dự án khoa học và dự án kĩ thuật Việc tiến hành nghiên cứu với hai loại dự án trên được tiến hành với quy trình khác nhau
Kết quả của dự án khoa học là những phát minh, phát hiện Kết quả của dự
án kĩ thuật là những sáng chế
Trang 2820
1.4.3.1 Quy trình thực hiện dự án khoa học
Dưới đây là quy trình thực hiện dự án khoa học đã được sơ đồ hóa:
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ quy trình thực hiện dự án khoa học
Quy trình này gồm các giai đoạn sau:
(1) Đặt câu hỏi
Hoạt động NCKH thực sự chỉ và luôn bắt đầu bằng việc đặt câu hỏi về một điều gì đó người nghiên cứu quan sát được Việc đặt câu hỏi nghiên cứu phụ thuộc vào sự am hiểu của người nghiên cứu đến chủ đề quan tâm, vào tư duy phản biện,
sự say mê khoa học của người nghiên cứu Câu hỏi thường xuất hiện trong quá trình học tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tham khảo thông tin khoa học từ các nguồn khác nhau, quan sát các hiện tượng trong tự nhiên, xã hội hoặc ở các thí nghiệm Các dạng câu hỏi: Như thế nào, Cái gì, Khi nào, Ai, Tại sao, Ở đâu
(2) Nghiên cứu tổng quan
Phương pháp được sử dụng chủ yếu là nghiên cứu tài liệu liên quan Nội dung này cần tìm hiểu và xem xét các kiến thức cơ bản liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, các công trình nghiên cứu thông qua việc tìm hiểu thông tin tại thư viện, trên Internet Qua đó sẽ tránh được những sai lầm và biết được hướng nghiên cứu có cần, có khả thi không, xem xét ý nghĩa của câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra
(3) Xây dựng giả thuyết
Trang 2921
Giả thuyết dược xem như câu trả lời dự kiến cho câu hỏi nghiên cứu Giả thuyết cần được xây dựng dựa trên những cơ sở lý thuyết và căn cứ khoa học và dễ dàng cho việc đánh giá và kiểm chứng
(4) Kiểm chứng giả thuyết bằng thực nghiệm
Để kiểm chứng một giả thuyết là đúng hay sai, cần phải sử dụng thực nghiệm Một thực nghiệm sẽ được thiết kế và thực hiện một cách đúng đắn nhất, cần đảm bảo thực nghiệm được tiến hành với sự thay đổi của một yếu tố trong khi các yếu tố khác được giữ nguyên Cũng cần tiến hành thực nghiệm một vài lần hoặc theo những cách thức khác nhau để đảm bảo kết quả thu được là ổn định và chính xác nhất (không phải là ngẫu nhiên)
(5) Phân tích kết quả và kết luận
Sau khi hoàn thành thí nghiệm, các dữ liệu thu được sẽ được phân tích và tổng hợp để khẳng định tính đúng, sai của giả thuyết Kết quả có thể được phân tích trên cả hai phương diện định tính và định lượng Giả thuyết có thể sai, khi đó, cần xây dựng giả thuyết mới và tiếp tục kiểm chứng giả thuyết mới bằng thực nghiệm Ngay cả khi giả thuyết đúng, người nghiên cứu có thể sử dụng cách khác để kiểm chứng lại nhằm tăng độ tin cậy của kết luận
(6) Báo cáo kết quả
Để kết thúc dự án khoa học, kết quả nghiên cứu cần được trình bày, thảo luận, công bố hay tham gia dự thi Bản báo cáo phải nêu bật được ý nghĩa, tính mới của đề tài cũng như thể hiện được phương pháp nghiên cứu mang tính khoa học, hợp lí, cách phân tích, xử lý số liệu là khoa học để từ đó khẳng định được kết luận rút ra là khách quan, chính xác và tin cậy
1.4.3.2 Quy trình thực hiện dự án kĩ thuật
Trang 30(2) Nghiên cứu tổng quan
Có hai vấn đề chính cần tìm hiểu và nghiên cứu trong giai đoạn này là: ý kiến của người sử dụng và các ưu nhược điểm của các quy trình, giải pháp kĩ thuật hay thiết bị, sản phẩm đã có
(3) Xác định yêu cầu
Nội dung của giai đoạn này là đề xuất những yêu cầu, tiêu chí thiết kế cần phải đạt được Một trong những cách đề xuất tiêu chí là dựa vào sự phân tích các quy trình, giải pháp hay các sản phẩm đang có Yêu cầu, tiêu chí cần được xác định, phát biểu rõ ràng
(4) Đề xuất các giải pháp
Với yêu cầu và tiêu chí đã đặt ra, luôn luôn có nhiều giải pháp tốt để giải quyết Nếu chỉ tập trung vào một giải pháp, rất có thể đã bỏ qua các giải pháp tốt hơn Do vậy, trong giai đoạn này, người nghiên cứu tìm cách đề xuất số lượng tối
đa các giải pháp có thể, bám sát với yêu cầu, tiêu chí đã nêu
(5) Lựa chọn giải pháp
Trên cơ sở các giải pháp đã đề xuất ở bước 4, cần xem xét và đánh giá một cách toàn diện về mức độ phù hợp với yêu cầu, tiêu chí đã đặt ra cho sản phẩm ở
Trang 3123
bước 3 Trên cơ sở đó, lựa chọn giải pháp tốt nhất và phù hợp nhất với yêu cầu đặt
ra Việc lựa chọn giải pháp cũng cần căn cứ vào bối cảnh về điều kiện kinh tế, công nghệ, trang thiết bị và nhân lực thực hiện dự án kĩ thuật
(6) Hoàn thiện giải pháp
Mặc dù đã được chọn, giải pháp thực hiện cũng cần xem xét lại để cải tiến, hoàn thiện Đây là một quan trọng và cần được xem xét thường xuyên
(7) Xây dựng mẫu
Mẫu sản phẩm được xem như là phiên bản “hoạt động” dựa trên giải pháp Mẫu này sẽ được xem xét, đánh giá, kiểm tra có đáp ứng các yêu cầu, tiêu chí đã đặt
ra cho sản phẩm hay chưa
(8) Đánh giá và hoàn thiện thiết kế
Quá trình hoàn thiện thiết kế liên quan đến các hoạt động có tính lặp lại hướng tới việc có một sản phẩm tốt nhất Đánh giá giải pháp – tìm kiếm lỗi và thay đổi – Đánh giá giải pháp mới – tìm kiếm lỗi mới và thay đổi , trước khi kết luận về bản thiết kế cuối cùng [24,tr.38-46]
1.4.4 Hướng dẫn học sinh THPT nghiên cứu khoa học
1.4.4.1 Yêu cầu trong công tác hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học
Các cấp Quản lí cùng GV, cán bộ hướng dẫn tổ chức tập huấn phương pháp NCKH cho HS, đồng hành cùng các em ngay từ những giai đoạn đầu GV thường xuyên động viên, khích lệ, giúp đỡ, định hướng cho HS Tuyệt đối không ép buộc
mà cần khơi dậy niềm đam mê khoa học, sức sáng tạo của HS Sự giúp đỡ của GV chỉ dừng lại ở mức độ gợi ý, GV không thể làm thay HS và đảm bảo đề tài của HS
phải là đề tài mới, ý tưởng mới, cách tiếp cận mới [8], [28]
1.4.4.2 Trách nhiệm của giáo viên, cán bộ hướng dẫn, Ban Giám hiệu
(1) Trách nhiệm của giáo viên, cán bộ hướng dẫn
Giáo viên, giảng viên, cán bộ nghiên cứu có trách nhiệm tham gia hướng dẫn học sinh NCKH cần có thái độ tích cực, thân thiện với HS Cán bộ hướng dẫn có thành tích xuất sắc sẽ được xem xét khen thưởng đột xuất và hàng năm
(2) Trách nhiệm của Ban Giám hiệu các trường cơ sở
Ban Giám hiệu các trường cơ sở xây dựng văn bản hướng dẫn thực hiện quy chế về NCKH để phù hợp với mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo và điều kiện
Trang 3224
NCKH của cơ sở Hiệu trưởng căn cứ vào kết quả NCKH của HS để vận dụng các chế độ chính sách nhằm khuyến khích GV trong việc hướng dẫn NCKH Xem xét, lựa chọn các công trình đưa vào ứng dụng, các biện pháp triển khai và quy định cụ thể chế độ đãi ngộ đối với HS cũng như những người đã đóng góp trong việc ứng dụng thành công kết quả công trình NCKH của HS vào thực tiễn trong phạm vi cho phép của cơ sở Chủ trì phối hợp với Đoàn thanh niên, các tổ chuyên môn và các tổ chức, đoàn thể khác tích cực tham gia trong công tác NCKH của HS
Trường hợp phát hiện thấy công trình NCKH của HS thiếu tính trung thực, thủ trưởng các cơ sở tuỳ thuộc vào mức độ vi phạm để thi hành các hình thức kỷ luật khác nhau [8], [28]
1.4.4.3 Những yếu tố làm nên sự thành công trong NCKH của HS
Đưa hoạt động NCKH thành một bộ phận của chương trình học phổ thông trung học, thường xuyên đổi mới PPDH, cách kiểm tra đánh giá
Tổ chức hô ̣i thảo , tâ ̣p huấn bồi dưỡng cho cán b ộ quản lí, GV, HS về phương pháp NCKH; về tổ chức hoa ̣t đô ̣ng NCKH Chỉ đạo tổ chức tuyên truyền r ộng rãi mục đích, ý nghĩa, nô ̣i dung hoạt động NCKH của HS đến cán b ộ quản lí, GV, HS, CMHS và cô ̣ng đồng xã h ội bằng nhiều hình thức như: xem hình ảnh Hội thi KHKT, lồng ghép triển khai hội nghị chuyên môn, sử dụng công nghệ thông tin để tuyên truyền về đề tài dự thi GV tổ chức trao đổi, thảo luận trong giờ sinh hoa ̣t lớp, chào cờ, ngoại khóa để định hướng hình thành ý tưởng về dự án nghiên cứu cho HS
GV đưa nội dung triển khai NCKH của HS vào sinh hoạt của tổ bộ môn
Hãy đặt niềm tin đến với khả năng của HS, khơi dậy tính trẻ và niềm đam mê
khoa học; tạo hứng thú, động cơ trong học tập cũng như trong NCKH Bản thân HS
phải nhiệt tình trong công tác nghiên cứu Chọn nội dung đề tài phù hợp với khả năng của HS Sổ ghi chép dữ liệu công trình là tác phẩm quý giá nhất mà GV cần hướng dẫn HS HS cầ ghi chú cẩn thận tiến độ công việc, viết nhật ký, chụp ảnh tiến
độ công việc trong suốt quá trình thực hiện
Cần phải được hướng dẫn bởi GV có kinh nghiệm NCKH hoặc cán bộ đã qua đào tạo và cần phải được giám sát bởi một cố vấn khoa học của nhà trường GV phải nắm vững phương pháp luận NCKH; đọc nhiều tài liệu khoa học; rèn luyện khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề; làm việc có kế hoạch khoa học; tận dụng
Trang 3325
được sự ủng hộ của BGH, của CMHS; đặc biệt phải theo sát quá trình thực hiện của
HS, thường xuyên nhắc nhở, động viên, sát sao tiến độ thực hiện, tháo gỡ những khó khăn cho các em Tạo điều kiện để triển khai áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn Có chế độ ưu tiên, khuyến khích phù hợp cho GV, HS tham gia
Phối hợp với cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, các Viện, trung tâm NCKH, Sở khoa học và công nghệ, Đoàn thanh niên, các nhà khoa ho ̣c , CMHS, các doanh nghiệp và các nhà tài trợ…để hỗ trợ điều kiện hoạt động NCKH và tổ chức các Cuộc thi cấp cơ sở
Gắn kết với các cuộ c thi ý tưởng sáng tạo, thi hùng biện tiếng Anh, thi sáng tạo, thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống thực tiễn, thi thí nghiệm, thực hành Qua đó tạo ra sân chơi trí tuệ, vui tươi, đảm bảo tính khoa học, công bằng; phát huy khả năng sáng tạo của HS, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ của phong trào NCKH tới đông đảo HS [8], [24], [28], [32]
1.5 Thực trạng của dạy học dự án và NCKH của HS ở một số trường THPT
1.5.1 Thực trạng của dạy học dự án
1.5.1.1 Mục đích điều tra
Tìm hiểu mức độ biết, hiểu và vận dụng DHTDA của một số GV THPT Tìm hiểu ý kiến của GV về những thuận lợi, khó khăn khi sử dụng PPDH này
1.5.1.2 Đối tượng điều tra
Chúng tôi đã tiến hành điều tra 16 GV thuộc các trường khác nhau trong lớp Cao học lí luận và phương pháp giảng dạy trường Đại học Giáo dục khóa 7 bao gồm các tỉnh và thành phố như Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên,
Chúng tôi cũng tiến hành điều tra 10 GV Hóa học ở các trường Thành Đông, Hồng Quang, Nguyễn Bỉnh Khiêm của thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
1.5.1.3 Kết quả điều tra
Câu 1 Mức độ biết phương pháp DHTDA của các giáo viên
Câu 2 Mức độ áp dụng PPDHTDA trong giảng dạy Hoá học
Mức độ Thường xuyên Thỉnh thoảng Rất ít Không bao giờ
Trang 3426
Như vậy, qua kết quả điều tra chúng tôi nhận thấy, ở các trường phổ thông
GV đều đã biết đến PPDHTDA và đã tích cực trong việc đổi mới PPDH, cụ thể đã
cố gắng triển khai áp dụng các PPDH tích cực nhằm đạt được kết quả cao nhưng vẫn ở mức độ chưa thường xuyên, và một số GV lại chưa dám triển khai PPDH còn mới như PPDHTDA
Câu 3 Những khó khăn khi áp dụng PPDHTDA vào dạy học
Mức độ khó khăn giảm (số phiếu)
1 2 3 4 5
Dự án tốn nhiều thời gian và công sức để
Tâm lý quen với cách dạy thường ngày,
Bản thân lúng túng trong việc chọn đề tài,
Nội dung bài học dài, cần dạy nhanh để kịp
Cơ sở vật chất thiếu thốn không đáp ứng
Trong số các nguyên nhân thì hai nguyên nhân “Dự án tốn nhiều thời gian và công sức để đầu tư thiết kế” và “Cơ sở vật chất thiếu thốn không đáp ứng cho phương pháp này” có phần trăm cao hơn các nguyên nhân khác Hai nguyên nhân này hoàn toàn có thể khắc phục được và nó không phải là các nguyên nhân bản chất liên quan tới việc áp dụng PPDHTDA Bên cạnh đó nguyên nhân “Bản thân lúng
túng trong việc chọn đề tài, thiết kế và triển khai dự án” cũng có % khá cao điều
này có nghĩa là nhiều GV vẫn chưa hiểu rõ bản chất và các công việc cần phải làm
nên sinh ra tâm lí lúng túng khi thực hiện
Nhận xét: Như vậy, hầu hết các GV đã biết đến PPDHTDA nhưng việc áp
dụng vào thực tế dạy học vẫn chưa thường xuyên Khi thực hiện GV vẫn còn nhiều
Trang 3527
lúng túng, thiếu tự tin dẫn đến hiệu quả giờ học không cao, tạo tâm lý không tốt cho
GV trong các bài giảng tiếp theo Từ đó cho thấy việc xây dựng quy trình thực hiện, thiết kế một số dự án tiêu biểu là cần thiết và có ý nghĩa thiết thực
1.5.2 Thực trạng của hoạt động nghiên cứu khoa học ở một số trường trung học
1.5.2.1 Mục đích điều tra
Tìm hiểu mức độ biết, hiểu, vận dụng quy trình NCKH và công tác hướng
dẫn học sinh trung học NCKH
Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn của GV, HS khi tiến hành NCKH
1.5.2.2 Đối tượng điều tra
Chúng tôi đã tiến hành điều tra 16 GV thuộc các trường khác nhau trong lớp Cao học lí luận và phương pháp giảng dạy trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội - khóa 7 bao gồm các tỉnh và thành phố như Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Ninh Bình
Chúng tôi cũng tiến hành điều tra 6 GV đã hướng dẫn HS NCKH và 49 HS
đã tham gia NCKH và có sản phẩm dự thi Cuộc thi KHKT dành cho HS trung học khu vực phía Bắc được tổ chức tại trường THPT Chu Văn An vào cuối tháng 3 năm
2013 đến từ nhiều tỉnh thành như Hà Nội, Hải Dương, Bắc Giang, Vĩnh Phúc,v.v
1.5.2.3 Kết quả điều tra
(1) Kết quả điều tra giáo viên
Tổng số 22 GV được điều tra
Câu 1 Đánh giá về việc triển khai hoạt động HS THPT tham gia NCKH
Nhiều GV đã rất tin tưởng vào khả năng và sự sáng tạo của các em HS khi tham gia NCKH, nhưng cũng không nhỏ GV cho rằng HS chưa từng được học, được trang bị phương pháp nghiên cứu, các kĩ năng nghiên cứu cần thiết nên việc tham gia nghiên cứu sẽ rất khó thành công
Câu 2 Vai trò của GV trong NCKH của HS
Trang 3628
Số ý kiến Tỉ lệ %
Câu 3 Đánh giá mức độ quan tâm của GV đối với các lợi ích của mình khi hướng
dẫn HS tham gia NCKH
Mức độ giảm dần (số phiếu)
1 2 3 4 5
Vấn đề GV quan tâm nhất khi hướng dẫn HS đó là “Giúp GV nắm vững phương pháp NCKH” vì bản thân GV phải hiểu và vận dụng tốt các phương pháp thì mới có thể hướng dẫn HS được Và qua đó nâng cao năng lực, trách nhiệm, niềm say mê khoa học của GV, cuốn hút theo HS cùng NCKH, được gặp gỡ nhiều nhà khoa học, học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp
Câu 4 GV gặp khó khăn khi triển khai cho học sinh NCKH
Số ý kiến Tỉ lệ %
Chỉ thuận lợi đối với các tỉnh, thành phố lớn, còn ở các
Việc triển khai NCKH đối với HS là rất mới, kinh nghiệm
Theo điều tra nhận thấy khó khăn lớn nhất gặp phải đó là “Gia đình không
tạo điều kiện chỉ cần con thi ĐH-CĐ” và “Mất nhiều thời gian, công sức của GV và
Trang 3729
HS” do đó cần làm tốt công tác tuyên truyền phổ biến về mục đích, ý nghĩa của hoạt
động NCKH đến các bậc phụ huynh Từ đó gia đình sẽ tạo mọi điều kiện hỗ trợ cả
về vật chất và tinh thần cho các em nghiên cứu
Kết luận: Cái mới luôn đi kèm với cái khó NCKH là một hoạt động mới mẻ
đối với HS các trường phổ thông, vì vậy còn nhiều lúng túng trong khâu tổ chức và triển khai thực hiện Ham muốn tham gia NCKH là khá cao ở các em HS trung học Tuy nhiên, điều kiện để thực hiện các hoạt động nghiên cứu là chưa tốt, vì vậy, cơ hội để các em HS được tham gia thực hiện các hoạt động NCKH là không nhiều Cùng với những khó khăn về vật chất, các em mới chỉ dừng lại ở ý thích NCKH
mà chưa thể vươn xa hơn được Nhưng với sự quan tâm, động viên và định hướng của các thầy cô cộng với nắm vững và vận dụng tốt các phương pháp nghiên cứu
sẽ biến ý tưởng của các em thành hiện thực
(2) Kết quả điều tra học sinh đã tham gia Hội thi khoa học kĩ thuật dành cho học sinh trung học khu vực phía Bắc năm 2013
Tổng số phiếu điều tra là 49 phiếu
Câu 1 Suy nghĩ của học sinh THPT về hoạt động NCKH
Số ý kiến Tỉ lệ %
Hầu hết các em đều rất tự tin vào bản thân, các em đều khẳng định được mình có đủ khả năng sáng tạo và sản phẩm của các em đã khẳng định điều đó Nhưng cũng thấy những trở ngại khi các em tham gia thực hiện đề tài như mất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến học tập Mặt khác chưa được trang bị kiến thức về NCKH cũng là khó khăn lớn cho các em
Câu 2 Điều kiện để một đề tài NCKH thành công
Trang 38về cuộc sống xung quanh, về các vấn đề thời sự cũng giúp cho các em hình thành ý tưởng, mong muốn tìm câu trả lời và như vậy con đường đến với khoa học của các
em rất gần, chạm đến thành công là điều hoàn toàn có thể
Câu 3 Khi em tham gia vào nhóm NCKH thì gia đình em
Nhận thấy rất nhiều gia đình ủng hộ (61%) không chỉ động viên, giúp đỡ mà
có nhiều gia đình còn ủng hộ kinh phí giúp các em thực hiện đề tài Như vậy muốn nhân rộng NCKH trong HS này thì cần phải tuyên truyền phổ biến rộng rãi về ý nghĩa, mục đích của hoạt động này đến các bậc phụ huynh, đó cũng là cách gắn kết gia đình - nhà trường – xã hội, giúp huy động nguồn xã hội hóa giáo dục
Câu 4 Đánh giá mức độ quan tâm lợi ích của học sinh khi tham gia NCKH
Mức độ quan tâm giảm
“Giúp HS tăng hứng thú học tập”, “Tự tin hơn vào bản thân” và “Vận dụng
lý thuyết vào thực tế” là 3 lợi ích mà các em quan tâm nhiều nhất Mặc dù đã đến
Trang 3931
được với vòng chung khảo của cuộc thi nhưng mục tiêu dành phần thưởng hay học bổng với các em không phải là quan trọng nhất mà qua cuộc thi này các em được làm quen với NCKH, được gặp gỡ nhiều bạn bè cùng yêu thích khoa học, tự tin hơn vào bản thân Có thể thấy rõ hơn qua những lời chia sẻ của nhóm HS Trường THPT Chuyên Hà Nội - Amsterdam những người vừa đạt giải Tư Hội thi KHKT Quốc tế Intel ISEF 2013 với đề tài “Nghiên cứu khả năng lọc vi khuẩn trong nước
của màng vỏ trứng gà”: “Trong quá trình nghiên cứu khoa học, chúng em được làm
quen với những kĩ thuật cũng như công nghệ mà vốn chỉ học được trên sách vở Điều này giúp chúng em hiểu biết cụ thể hơn về một số kiến thức được học trên lớp Ngoài ra, chúng em cũng học được cách vận dụng các kiến thức vào thực tiễn, một điều rất cần thiết trong phương thức học tập hiện đại Đồng thời, trong quá trình làm đề tài, các thầy cô và các học sinh có nhiều thời gian gắn bó hơn, hiểu nhau hơn và qua đó, hiệu quả công việc cũng được cải thiện Dĩ nhiên, làm nghiên cứu mất nhiều thời gian và công sức, do đó chúng em gặp nhiều khó khăn cân bằng giữa học tập trên lớp và thực hiện đề tài Qua thời gian, hi vọng những cải cách mới sẽ tạo thêm điều kiện cho các bạn HS theo đuổi các công trình khoa học”.[36]
Tiểu kết chương 1
Trên cơ sở định hướng đổi mới giáo dục hiện nay, chúng tôi đã tập trung trình bày cơ sở lý luận của PPDHTDA, của hoạt động NCKH nói chung, áp dụng vào công tác NCKH của HS Chúng tôi cũng đã nêu mục đích, nguyên tắc, những thuận lợi, khó khăn cũng như trách nhiệm, quyền lợi của GV- HS và những yếu tố góp phần tạo nên sự thành công của đề tài
Từ việc thăm dò, khảo sát, tổng hợp số liệu và phân tích thực trạng của việc
áp dụng PPDHTDA trong giảng dạy và NCKH của HS ở các trường THPT để làm
cơ sở thực tiễn cho các đề xuất về giải pháp trong chương 2
Trang 4032
CHƯƠNG 2 KẾT HỢP DẠY HỌC DỰ ÁN VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHO HỌC SINH LỚP 12 PHẦN HÓA HỌC HỮU CƠ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2.1 Mục tiêu, cấu trúc phần hóa học hữu cơ lớp 12 Trung học phổ thông
2.1.1 Mục tiêu
2.1.1.1 Về kiến thức
Vâ ̣n dụng các lí thuyết chủ đạo đã h ọc ở lớp 11 để nghiên cứu các hợp chất hữu cơ tiêu biểu có nhiều ứng du ̣ng gần gũi trong đời sống sản xuất : este, lipit, xà phòng, chất giặt rửa, glucozơ, saccarozơ, tinh bô ̣t , xenlulozơ, amin, aminoaxit, protein, polime và vâ ̣t liê ̣u polime
2.1.1.2 Về kĩ năng
Hình thành và phát triển các kĩ năng bộ môn hoá học , kĩ năng giải quyết vấn
đề để phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động cho học sinh như : quan sát thí nghiê ̣m, phân tích, dự đoán, kết luâ ̣n và kiểm tra kết quả ; biết làm mô ̣t số thí nghiê ̣m đô ̣c lâ ̣p và theo nhóm nhỏ ; biết lâ ̣p kế hoa ̣ch giải mô ̣t bài tâ ̣p hoá ho ̣c ; biết
vâ ̣n du ̣ng để giải quyết mô ̣t vấn đề đơn giản trong cuô ̣c s ống có liên quan đến hoá học thông qua hệ thống lý thuyết, bài tập và các câu hỏi trong quá trình học tập
2.1.1.3 Về thái độ
Hình thành và phát triển ở HS thái độ tích cực như hứng thú học tập bộ môn hoá học và ni ềm say mê khoa học; có ý thức vận dụng những kiến thức đã học để giải quyết một số vấn đề có liên quan đến hoá học trong cuộc sống và sản xuất Qua
đó rèn luyện tính cẩn thận , nhìn nhận và giải quyết vấn đề một cách khách quan , trung thực trên cơ sở phân tích khoa ho ̣c, tinh thần NCKH nghiêm túc
2.1.2 Cấu trúc của chương trình
Chương 1 Este-Lipit -Khái niệm về xà phòng và chất giặt rửa tổng hợp (4 tiết) Chương 2 Cacbohidrat: Glucozơ, saccarozơ, tinh bột và xenlulozơ (7 tiết) Chương 3 Amin-amino axit và protein (6 tiết) Chương 4 Polime và vật liệu polime (7 tiết)
2.2 Một số dự án dạy học hóa học hữu cơ lớp 12 Trung học phổ thông
Chúng tôi đề xuất một số nội dung có thể thực hiện được PPDHTDA trong phần hoá học hữu cơ lớp 12 THPT như sau: