ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ THÙY LINH TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CỤM BÀI VỀ PHONG CÁCH NGÔN NGỮ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ TH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THÙY LINH
TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CỤM BÀI VỀ PHONG CÁCH NGÔN NGỮ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THÙY LINH
TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC CỤM BÀI VỀ PHONG CÁCH NGÔN NGỮ
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Ban, người đã trực tiếp hướng dẫn, cung cấp tư liệu và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trường Đại học Giáo Dục đã tạo điều kiện tốt nhất cho chúng em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và học sinh trường THPT Hồng Thái và trường THPT Đan Phượng đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn này, tôi còn nhận được sự quan tâm, động viên rất lớn từ gia đình, bạn bè Một lần nữa tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất!
Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Thùy Linh
Trang 4TTC Tính tích cực
THPT Trung học phổ thông
Trang 5ngữ đã học 29 Bảng 1.4 Khảo sát mức độ nhớ của học sinh về các đặc trưng của từng
loại Phong cách ngôn ngữ 29 Bảng 1.5 Khảo sát học sinh về các phương pháp dạy học mà các thầy/cô
đã áp dụng 30 Bảng 1.6 Khảo sát học sinh về các phương pháp kiểm tra đánh giá mà
thầy/cô áp dụng 30 Bảng 1.7 Khảo sát mức độ mong muốn được thay đổi cách học của
học sinh 30 Bảng 1.8 Khảo sát mức độ nhận biết của học sinh qua bài tập 31 Bảng 1.9 Khảo sát mức độ hiểu biết của giáo viên về phương pháp dạy
học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh 31 Bảng 1.10 Khảo sát mức độ áp dụng các phương pháp dạy học theo
hướng tích cực hóa hoạt động học tập của giáo viên 32 Bảng 1.11 Khảo sát giáo viên về việc yêu cầu học sinh chuẩn bị bài 32 Bảng 1.12 Khảo sát những phương pháp dạy học mà giáo viên thường
áp dụng 32 Bảng 1.13 Khảo sát những phương pháp kiểm tra đánh giá mà giáo
viên thường áp dụng 33 Bảng 1.14 Khảo sát giáo viên về những khó khăn khi áp dụng phương
pháp dạy học theo hướng tích cực 33 Bảng 3.1 Lớp thực nghiệm và lớp đối chứng khi thực nghiệm 80
Trang 6iv
Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối
chứng ở trường trung học phổ thông Hồng Thái 94 Bảng 3.3 Kết quả kiểm tra của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối
chứng ở trường trung học phổ thông Đan Phượng 95 Bảng 3.4 Khảo sát học sinh về mức độ hứng thú đối với việc đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập 96 Bảng 3.5 Khảo sát học sinh về những lợi ích nhận được khi thực hiện
tích cực hóa hoạt động học tập 96 Bảng 3.6 Khảo sát học sinh về những khó khăn gặp phải trong quá trình
học tập 97 Bảng 3.7 Khảo sát học sinh về mức độ mong muốn được thầy cô áp
dụng các phương pháp dạy học tích cực 97
Trang 7v
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
MỤC LỤC v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 9
1.1 Những vấn đề chung về tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh 9
1.1.1 Khái niệm tính tích cực và tính tích cực học tập 9
1.1.2 Tích cực hóa hoạt động học tập 11
1.1.3 Sự hình thành tính tích cực học tập 12
1.1.4 Những biểu hiện của tính tích cực học tập 14
1.1.5 Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh 15
1.1.6 Tích cực hóa hoạt động của học sinh trong dạy học tiếng Việt 17
1.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông 18
1.2.1 Về nhận thức 18
1.2.2 Về thái độ học tập 19
1.3 Về cụm bài Phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông 20
1.3.1 Vị trí, mục tiêu của cụm bài Phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông 20
1.3.2 Phân tích nội dung dạy học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ 22
1.4 Thực trạng việc dạy - học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ ở trường trung học phổ thông 28
1.4.1 Thực trạng việc học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ ở trường trung học phổ thông 28
Trang 8vi
1.4.2 Thực trạng việc dạy cụm bài về Phong cách ngôn ngữ ở trường trung học phổ
thông hiện nay 31
Tiểu kết chương 1 37
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CỤM BÀI VỀ PHONG CÁCH NGÔN NGỮ Ở TRƯỜNG THPT 39
2.1 Các nguyên tắc cơ bản khi tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy học 39
2.1.1 Bám sát mục tiêu giáo dục, nội dung dạy học và đặc trưng của môn học 39
2.1.2 Phù hợp với các đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh 39
2.1.3 Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học sinh 40 2.1.4 Chú trọng dạy học theo hướng cá thể hóa hóa và phát triển tư duy cho học sinh 40
2.1.5 Thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều 41
2.2 Biện pháp tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ ở trường THPT 41
2.2.1 Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong khâu chuẩn bị bài 41
2.2.2 Tích cực hóa hoạt động học tập của HS trong khâu tổ chức các hoạt động dạy học 46
2.2.3 Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong khâu kiểm tra, đánh giá 70 2.3 Một số lưu ý khi thực hiện các biện pháp 76
Tiểu kết chương 2 78
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 80
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 80
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 80
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 80
3.2 Đối tượng và phương pháp thực nghiệm 80
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 80
Trang 9vii
3.2.2 Địa bàn và thời gian thực nghiệm 81
3.3 Nội dung và tiến trình thực nghiệm 81
3.3.1 Nội dung thực nghiệm 81
3.3.2 Tiến trình thực nghiệm 82
3.4 Giáo án thực nghiệm 82
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 94
3.5.1 Kết quả bài kiểm tra mức độ nhận thức của học sinh 94
3.5.2 Kết quả khảo sát học sinh tại lớp thực nghiệm 96
3.5 Đánh giá chung 98
Tiểu kết chương 3 100
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 PHỤ LỤC
Trang 10Từ trước đến nay, việc dạy học môn Ngữ văn thường được thực hiện theo phương pháp truyền thống nặng về lí thuyết, thầy cô giáo soạn bài giảng, truyền thụ một chiều đến học sinh, học sinh tiếp thu một cách thụ động kiến thức ấy sau đó ghi nhớ và vận dụng vào bài kiểm tra Trong môi trường giáo dục ngày một đổi mới và hiện đại thì phương pháp truyền thống ấy đã bộc lộ không ít nhược điểm như: HS thụ động, tiếp nhận một chiều, chỉ biết nghe-chép chứ không tự nghiên cứu, tìm hiểu bài học; ỷ lại vào thầy cô, dần dần mất đi năng lực tư duy, năng lực sáng tạo của từng cá nhân
Những năm gần đây, ngành giáo dục đã có nhiều cải cách quan trọng trên nhiều phương diện, thể hiện rõ nhất là về chương trình, sách giáo khoa và đặc biệt là việc đổi mới các PPDH Hầu hết các trường phổ thông vẫn đang từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến kết hợp với phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy – học nhưng tính hiệu quả và sự đồng bộ của việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực vẫn còn nhiều hạn chế, chưa mang lại hiệu quả như mong muốn Bởi vậy muốn khắc phục tình trạng trên bản thân người dạy cần cần xây dựng cho mình những biện pháp cụ thể, rõ ràng nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của HS, lấy HS làm trung tâm, giữ vai trò chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập
Trang 112
Phân môn tiếng Việt nhằm cung cấp cho HS các tri thức về ngôn ngữ như các lớp từ vựng, các quy tắc sử dụng ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp trong đời sống Những tri thức đó giúp HS biết cách sử dụng ngôn ngữ cho phù hợp với nội dung cần trình bày Dạy tiếng Việt là dạy cho HS các phương tiện cần thiết để thực hiện quá trình giao tiếp; xuất phát từ thực tiễn đời sống, việc giao tiếp bằng ngôn ngữ đóng một vai trò rất quan trọng
Giao tiếp luôn được phân biệt theo từng lĩnh vực và mỗi lĩnh vực lại có cách thức thể hiện riêng Các cách thức thể hiện tập hợp thành những kiểu phương tiện ngôn ngữ hay chính là phong cách ngôn ngữ Do vậy, mục đích hướng tới của việc dạy học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ là hướng dẫn
HS cách giao tiếp như thế nào cho phù hợp với từng phong cách ngôn ngữ, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cũng như thể hiện được những phẩm chất, năng lực của HS
Tuy nhiên, phần tiếng Việt nói chung và cụm bài Phong cách ngôn ngữ nói riêng được biên soạn trong chương trình THPT hiện hành còn mang tính chất khô khan, nặng về lý thuyết nên khó tiếp cận đối với học sinh Hơn nữa, trong thực tế, một số GV khi dạy cụm bài này thường chỉ chú trọng đến kiến thức chuyên môn, dạy một cách máy móc cho đủ bài, đủ tiết mà không chú trọng đến việc kết hơp các PPDH nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, rèn luyện cho HS khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống Vì thế chất lượng dạy và học chưa thực sự đạt hiệu quả so với mục tiêu đã đề ra
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tích cực hóa
hoạt động học tập của học sinh trong dạy học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ ở trường trung học phổ thông” để nghiên cứu như một sự đòi hỏi hỏi
cấp thiết từ bản thân trước thực tế đổi mới phương pháp dạy học Văn hiện nay, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu tính tích cực học tập của học sinh
Trang 123
Vấn đề tổ chức hoạt động học tập của học sinh đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm ở nhiều góc độ Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước đều đề cập, nhấn mạnh đến việc cần tổ chức hoạt động
tự học, tự nghiên cứu cho mọi đối tượng ở mọi cấp học, bậc học một cách thường xuyên
Ở nước ngoài, một số công trình nghiên cứu đã đưa ra phương pháp giảng dạy văn theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh như:
I.F.Kharlamov bàn đến: “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào?” Tác giả đề cập đến những biện pháp kích thích hoạt động của học sinh
khi củng cố kiến thức, khi trình bày bài mới và khi ôn tập Công trình nghiên
cứu “Phương pháp luận dạy văn học” xuất bản năm 1977 của một tập thể tác
giả do Z.Ya.Rex làm chủ biên cũng bàn luận khá nhiều đến biện pháp dạy học
tích cực Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu khác như cuốn Phương pháp dạy và học hiệu quả của Carl Rogers - một nhà giáo dục học, tâm lí học người Mỹ do Cao Đình Quát dịch hay cuốn Học tập hợp lí do R.Retzke (Đức)
chủ biên, nhóm tác giả đã đề cập đến vấn đề bồi dưỡng năng lực tự nghiên cứu cho học sinh mới vào trường
Ở nước ta, ngay từ những năm 1960 - 1970 cho đến nay, các hội nghị chuyên đề liên tiếp được mở ra nhằm cải tiến, đổi mới các PPDH Thủ tướng
Phạm Văn Đồng có đưa ra ý kiến trong bài viết Một phương pháp cực kì quý báu đăng trên báo Nhân dân ngày 18/11/1994 đó là: “Phương pháp dạy học
mà các đồng chí nêu ra nói gọn lại là lấy HS làm trung tâm Người ta phải đặt
ra những câu hỏi, đưa ra những câu chuyện có tính hấp dẫn, đòi hỏi người nghe người đọc dẫu là người suy nghĩ kém cỏi cũng phải chịu khó suy nghĩ, tìm tòi PPDH tích cực này có khả năng phát triển được những năng lực đang ngủ yên ở mỗi con người Phương pháp này giúp người ta phát huy năng lực
tự học và ham học” [7] Với bài viết này ta thấy được thủ tướng đã nêu ra điểm căn bản, cốt lõi trong quá trình đổi mới PPDH, đó được coi là kim chỉ
Trang 134
nam cho toàn ngành giáo dục
Nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo Trần Hồng Quân đã đưa ra
quan điểm trong bài Cách mạng về phương pháp sẽ đem lại bộ mặt mới, sức sống mới cho giáo dục ở thời đại mới đăng trên tạp chí Nghiên cứu Giáo dục
số 1/1995 rằng: “Muốn đào tạo con người khi bước vào đời là con người tự chủ, năng động và sáng tạo thì phương pháp giáo dục cũng phải hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện phát triển khả năng nghĩ và làm một cách tự chủ, năng động và sáng tạo HS tự tìm hiểu, phân tích, tập xử lí tình huống và giải quyết vấn đề, khám phá ra những cái chưa biết Nhiệm vụ của người thầy là phải chuẩn bị cho HS thật nhiểu tình huống chứ không phải nhồi nhét thật nhiều kiến thức vào đầu HS” [25] Quan điểm này của tác giả định hướng nền giáo dục chú trọng đầu tư, phát triển những năng lực cần thiết của HS để đào tạo ra những con người năng động, sáng tạo phù hợp với xu thế hiện đại
Nhà giáo Trần Bá Hoành cũng có một loạt các bài viết về việc dạy học
lấy HS làm trung tâm đăng trên tạp chí Nghiên cứu Giáo dục như: Dạy học lấy HS làm trung tâm (số 1/1994), Phương pháp tích cực (số 3/1996), Phát triển trí sáng tạo của HS và vai trò của giáo viên (số 9/1999) Tác giả đã chỉ
rõ đặc trưng của các PPDH tích cực là dạy học lấy HS làm trung tâm, dạy học bằng việc tổ chức các hoạt động học tập cho HS, dạy học cá thể kết hợp với dạy học hợp tác qua đó HS cũng được rèn luyện phương pháp tự học, được dạy cách đánh giá và tự đánh giá Trong quá trình dạy học GV phải hình thành và kích thích được khả năng tư duy, chủ động, sáng tạo cho HS Muốn được như vậy GV cần thay đổi cách thức kiểm tra đánh giá, khuyến khích cách học thông minh, sáng tạo bằng việc đưa ra các bài tập thử thách tư duy
HS
Ngoài các tác giả đã nêu trên, có thể kể đến các công trình nghiên cứu của các nhà lí luận dạy học Việt Nam về vấn đề tích cực hóa hoạt động học tập của HS như Phan Trọng Luận, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Ngọc
Trang 145
Quang, Nguyễn Cảnh Toàn, Đặng Thành Hưng, Nguyễn Ngọc Quang… và nhiều công trình luận án tiến sĩ của các nhà khoa học khác đã được giới thiệu trên các báo, tạp chí Giáo dục và trong các tài liệu bồi dưỡng GV
Tuy việc nghiên cứu, tìm hiểu PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của HS ở nước ta còn chậm hơn so với thế giới nhưng ta thấy rằng các tác giả đã ý thức được vai trò quan trọng của PPDH tích cực đối với việc rèn luyện và phát triển HS toàn diện ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường nhằm phát huy mọi khả năng tiềm ẩn của mỗi cá nhân, cung cấp một lực lượng lao động chất lượng đáp ứng được những yêu cầu mới trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2.2 Tình hình nghiên cứu việc dạy học cụm bài Phong cách ngôn ngữ
Về việc dạy học cụm bài Phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn THPT đòi hỏi GV Ngữ văn phải có những kiến thức hiểu biết nhất định về phong cách ngôn ngữ học Trước hết phải kể đến một số cuốn sách chuyên sâu
về phong cách học như Phong cách học và đặc điểm tu từ của tiếng Việt của tác giả Cù Đình Tú; Dẫn luận phong cách học của tác giả Nguyễn Thái Hòa; Phong cách học tiếng Việt do tác giả Đinh Trọng Lạc chủ biên hoặc Phân tích phong cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn học của hai tác giả Nguyễn Thị Ngân Hoa và
Đỗ Việt Hùng Đó là những cuốn sách về lí luận, có giá trị rất lớn trong công tác nghiên cứu phong cách ngôn ngữ nhưng lại hạn chế về mặt thực tiễn Tuy vậy có thể nói đó là những cuốn sách quan trọng, nghiên cứu những kiến thức chuyên sâu về phong cách ngôn ngữ, góp phần cung cấp cho GV những kiến thức lí luận
cơ bản nhất về phong cách ngôn ngữ học
Bên cạnh đó phải kể đến những cuốn sách liên quan trực tiếp đến những phương pháp dạy học phân môn tiếng Việt nói chung và cụm bài về
Phong cách ngôn ngữ nói riêng trong nhà trường như cuốn Mấy vấn đề lí luận
và phương pháp dạy học từ ngữ tiếng Việt trong nhà trường của tác giả
Nguyễn Đức Tồn, trong cuốn này tác giả đề cập đến những vấn đề lí thuyết
Trang 156
chung về tiếng Việt và ngôn ngữ, đặc biệt là vấn đề dạy học từ ngữ Tác giả
Bùi Minh Toán trong cuốn Tiếng Việt ở trung học phổ thông đã hệ thống lại
toàn bộ các chủ đề trong phân môn tiếng Viêt THPT bao gồm các kiến thực
cơ bản, kiến thức mở rộng sau đó là các bài tập thực hành kèm theo đáp án gợi ý Có thể nói đó là cuốn sách gần gũi và rất thiết thực đối với HS Ngoài
ra còn phải kể đến cuốn sách Phương pháp dạy học tiếng Việt của các tác giả
Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán cung cấp cho người đọc những cấn đề lí luận chung về phương pháp dạy học tiếng Việt và phương pháp dạy học các hợp phần tiếng Việt ở THPT, trong đó nội dung dạy học cụm bài phong cách ngôn ngữ được trình bày rất khoa học, cụ thể Có thể nói những cuốn sách này sẽ hỗ trợ trực tiếp cho việc dạy học của GV từ khâu bao quát kiến đến khâu thiết kế giáo án, phương pháp dạy học hiệu quả
Việc dạy học tiếng Việt nói chung và dạy học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ nói riêng ở THPT đã được các nhà nghiên cứu và nhiều GV quan tâm Trong mỗi công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã có những đóng góp cần thiết, bổ ích cho GV trong quá trình dạy học Tuy nhiên vì các lí do khác nhau mà các nhà nghiên cứu vẫn chưa có điều kiện để bàn kĩ đến việc làm cách nào để phát huy tính tích cực của HS trong quá trình dạy học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ Nghiên cứu đề tài này chúng tôi muốn đi sâu vào việc dạy học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ theo quan điểm tích cực hóa hoạt động học tập của HS
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn về tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy học, từ đó chúng tôi đề xuất các biện pháp tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ ở trường THPT nhằm phát triển tư duy, tạo hứng thú học tập cho
HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy- học cụm bài Phong cách ngôn ngữ
Trang 167
nói riêng và nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về tích cực hóa hoạt động của học sinh trong dạy học nói chung và trong dạy học tiếng Việt nói riêng
- Tìm hiểu thực trạng dạy học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ ở trường THPT
- Đề xuất những biện pháp nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ ở trường THPT
- Tiến hành thực nghiệm thông qua việc thiết kế giáo án, đánh giá nhận xét và rút ra kết luận chung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung chủ yếu nghiên cứu các vấn đề lí luận và một số biện pháp nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ ở trường THPT
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề tích cực
hóa hoạt động học tập cho HS trong dạy học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ (ban cơ bản) ở trường THPT
- Phạm vi khảo sát: Trường THPT Hồng Thái – Đan Phượng – Hà Nội
và trường THPT Đan Phượng – Đan Phượng – Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Tham khảo và nghiên cứu bài viết
trên các sách, báo, tạp chí chuyên ngành, các tài liệu lí luận, các văn bản nghị quyết có liên quan đến cơ sở lí luận của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Tìm hiểu thực trạng dạy-học cụm
bài về Phong cách ngôn ngữ ở một số trường THPT hiện nay nhằm đánh giá chất lượng tiếp thu bài của học sinh, giờ dạy và PPDH của giáo viên
Trang 178
+ Phương pháp điều tra, khảo sát: Thiết kế phiếu điều tra khảo sát,
phân tích kết quả khảo sát để đưa ra những đánh giá sơ bộ tình hình dạy và học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ
+ Phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp toán thống kê vào xử lí
số liệu thu thập được qua việc khảo sát
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Hiện thực hoá các biện pháp tích
cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong dạy học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ qua việc thiết kế giáo án, tổ chức các hoạt động dạy học So sánh và phân tích kết quả học tập của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng để đánh giá tính khả thi của đề tài, từ đó rút ra kết luận
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mục lục; mở đầu;kết luận; Tài liệu tham khảo thì luận văn bao gồm có ba chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
- Chương 2: Một số biện pháp tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong dạy học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ ở trường THPT
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 189
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Những vấn đề chung về tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
1.1.1 Khái niệm tính tích cực và tính tích cực học tập
Về khái niệm tính tích cực
Tính tích cực (TTC) là phẩm chất vốn có của con người trong đời sống
xã hội vì con người luôn phải chủ động, tích cực để tồn tại và phát triển Vậy nên hình thành TTC là một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục
Có rất nhiều những quan điểm khác nhau về TTC:
- Từ điển tiếng Việt giải thích TTC theo ba nghĩa: Một là, có ý nghĩa,
có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển, trái với tiêu cực Hai là, tỏ ra chủ động, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo chiều hướng phát triển Ba là, đem hết khả năng và tâm trí vào việc làm [28, tr.981]
- Chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng TTC là phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Không giống với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những thứ sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất, làm ra của cải vật chất để phục vụ cuộc sống, sáng tạo ra nền văn hóa, chủ động cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội TTC thể hiện ở việc con người tự chinh phục, cải tạo thế giới tự nhiên, xã hội và cải tạo chính bản thân mình Giáo dục có nhiệm vụ hình thành và phát triển TTC xã hội cho con người và
có thể xem TTC là một điều kiện, một kết quả của sự phát triển nhân cách HS trong quá trình giáo dục
- Kharlamop quan niệm “TTC là trạng thái hoạt động của chủ thể, nghĩa là của người hành động” [17, tr.43]
- Các nhà tâm lí học Việt Nam như Phạm Minh Hạc, Bùi Văn Huệ, Ngô Công Hoàn, Trần Trọng Thủy,… cho rằng TTC là một thuộc tính của nhân cách bao gồm các yếu tố tâm lí như nhu cầu, động cơ, hứng thú, niềm
Trang 1910
tin, lí tưởng Luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố này
Như vậy, TTC là trạng thái hoạt động của chủ thể bao hàm tính chủ động, sáng tạo, tính có ý thức của chủ thể trong hoạt động Hình thành và phát triển TTC của HS là một trong các nhiệm vụ quan trọng của giáo dục nhằm góp phần phát triển cộng đồng TTC vừa là điều kiện đồng thời cũng là kết quả về sự phát triển nhân cách trong giáo dục
Về khái niệm tính tích cực học tập
Hoạt động nhận thức của con người và hoạt động học tập của HS có nét tương đồng với nhau Bởi nó đều là quá trình phản ánh thế giới nhằm chiếm lĩnh các quy luật,thuộc tính, đặc điểm của sự vật, hiện tượng xung quanh để cải tạo thế giới đồng thời nhận thức, cải tạo chính bản thân mình Điểm khác biệt giữa hai hoạt động này đó là hoạt động học tập của HS cần có sự hướng dẫn của GV để giúp cho việc nhận thức thế giới xung quanh nhanh, ngắn gọn
và hiệu quả
Tính tích cực học tập về thực chất là tích cực về nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng và nghị lực cao trí tuệ trong quá trình chiếm lĩnh tri thức của chủ thể HS
Kharlamop xem “TTC nhận thức là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức” [17, tr.43]
Theo Trần Bá Hoành: TTC của con người biểu hiện trong hành động, đặc biệt trong những hoạt động chủ động của chủ thể TTC trong hoạt đông học tập thực chất là TTC nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng
và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức
Như vậy, có thể thấy học tập là một trường hợp riêng của nhận thức cho nên nói tới TTC học tập thực chất là nói tới TTC nhận thức Quá trình nhận thức nhằm lĩnh hội những tri thức mà con người đã tích lũy được TTC học tập của HS là sự tự ý thức, tự giác của HS về mục đích học tập, từ đó HS
Trang 20R.Singh (1991) cho rằng trong dạy học lấy HS làm trung tâm, GV không chỉ là người truyền thụ những kiến thức riêng rẽ GV giúp cho HS thường xuyên tiếp xúc những lĩnh vực học tập ngày càng rộng lớn hơn GV đồng thời là người hướng dẫn, người cố vấn, người mẫu mực cho HS GV không phải là chuyên gia ngành hẹp mà là một cán bộ tri thức, là HS hỏi suốt đời Trong việc thực hiện quá trình dạy học, người dạy và HS cùng nhau tìm tòi khám phá Như vậy theo quan niệm của R.Singh thì vai trò của người GV
là người thiết lập, hướng dẫn, cố vấn cho HS trong các hoạt động học tập, định hướng tạo động cơ đúng đắn, tạo động lực nhằm kích thích hứng thú học tập cho HS Vậy nên về thực chất, tích cực hóa là một tập hợp các hoạt động học tập nhằm chuyển HS từ vị trí thụ động sang vị trí chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể kiếm tìm tri thức từ đó nâng cao hiệu quả học
Trang 2112
tập HS từ vai trò là người thu nhận thông tin (nghe, ghi, học thuộc lòng…) sang vai trò chủ thể trong học tập, chủ động, tích cực tham gia tìm kiếm tri thức (tìm tòi, trao đổi, tự nghiên cứu,…)
Vậy có thể hiểu tích cực hóa hoạt động học tập là sự nỗ lực của HS khi tương tác với đối tượng trong quá trình học tập, nghiên cứu; thể hiện sự nỗ lực của hoạt động trí tuệ, huy động các chức năng tâm lý ở mức độ cao nhằm đạt được mục đích đặt ra nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập
1.1.3 Sự hình thành tính tích cực học tập
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành tính tích cực học tập cho
HS, trong đó ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành TTC học tập bao gồm hai yếu tố đó là động cơ học tập và hứng thú học tập Động cơ sẽ tạo ra hứng thú và hứng thú chính là tiền đề của sự tự giác Hai yếu tố tâm lý đó sẽ tạo nên TTC
*Động cơ học tập
Theo từ điển tiếng Việt: Động cơ là cái tác dụng chi phối, thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động [28, tr.345]
Theo V Ôkôn: Động cơ là sự kích thích bên trong đối với hành động,
là nguyện vọng thỏa mãn một nhu cầu nhất định Động cơ được chia làm hai loại: động cơ sơ cấp (không được trau dồi) và động cơ thứ cấp (động cơ được trau dồi) [29] Do vậy, động cơ học tập chính là động cơ thứ cấp do cá nhân ý thức, trau dồi, có tác dụng thúc đẩy, kích thích cá nhân trong quá trình học tập
và luôn gắn liền với nhu cầu
Động cơ của con người phải sinh ra đã có sẵn mà được hình thành trong quá trình vận động, phát triển của con người Vậy nên động cơ học tập của HS không có sẵn mà hình thành trong quá trình học tập, tiếp xúc với thầy
cô, bạn bè, trong quá trình đi sâu tìm hiểu, chiếm lĩnh đối tượng học tập dưới
sự dẫn dắt, điều khiển của GV
Để phân loại động cơ của con người, nhiều nhà tâm lí học nước ngoài như Bozovic, Markova và một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam chia động cơ
Trang 2213
thành hai loại là động cơ bên trong và động cơ bên ngoài
Động cơ bên trong được hình thành từ mục đích học tập, từ nhu cầu hiểu biết của HS và chính nhu cầu đó là nguồn tích cực bên trong khiến HS luôn có tâm lí thoải mái tiếp nhận kiến thức và điều đó sẽ tạo ra hứng thú học tập và giúp việc học tập đạt kết quả tốt nhất
Động cơ bên ngoài là những yếu tố nằm bên ngoài cấu trúc hoạt động,
có liên quan tới mối quan hệ giữa hai chiều của HS với môi trường xung quanh Động cơ bên ngoài hình thành do những kích thích nằm bên ngoài việc học như :thưởng, phạt, đe dọa, yêu cầu, thi đua,…
Động cơ học tập sẽ dẫn tới động lực học tập, động lực là cái thúc đẩy làm cho con người phát triển Có động cơ học tập đúng đắn thì HS sẽ tự tìm thấy động lực cho mình Tuy nhiên động cơ nào cũng có hai mặt tích cực và tiêu cực nên việc giáo dục HS có động cơ học tập đúng đắn chính là nhiệm vụ của nhà trường mà cụ thể là của người GV Việc tạo động lực thường xuyên cho HS (khen thưởng, cung cấp nhiều kiến thức thực tế bổ ích, PPDH hấp dẫn,…) sẽ kích thích được HS Khi HS được tự làm, tự trình bày, được khám phá cái mới các em sẽ tự tin, sẽ thấy hứng thú hơn trong học tập Đó chính là cách chuyển hóa động cơ học tập bên ngoài thành động cơ học tập bên trong của HS Ngoài ra, động cơ học tập cũng đòi hỏi phải được nuôi dưỡng thường xuyên để tạo ra hiệu quả học tập bền vững, lâu dài
*Hứng thú học tập
Theo Từ điển tiếng Việt: “Hứng thú là sự ham thích” [28,tr.473]
Theo quan niệm của các nhà tâm lí học: Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, có ý nghĩa đối với cuộc sống và mang lại sự khoái cảm trong quá trình hoạt động Hứng thú biểu hiện ở việc tập trung cao độ, say mê, hấp dẫn bởi nội dung hoạt động Hứng thú sẽ sinh ra khát vọng hành động, tăng hiệu quả hoạt động nhận thức, tăng sức làm việc
Dựa vào khái niệm về hứng thú có thể suy ra khái niệm hứng thú học
Trang 2314
tập: Hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của HS với đối tượng của hoạt động học tập vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong đời sống cá nhân
Hứng thú học tập đặc biệt quan trọng trong quá trình học tập của HS Tuy nhiên hứng thú học tập không phải tự nhiên sinh ra đã có mà nó được hình thành trong quá tình tổ chức hoạt động nhận thức của HS Hứng thú học tập thể hiện ở sự say mê, tập trung cao độ của HS trong quá trình tìm tòi kiến thức Khi HS có hứng thú sẽ đưa ra được những sáng kiến mang tính khám phá, sáng tạo Hứng thú là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển trong dạy học và sự phát triển toàn diện, hình thành nhân cách của HS
Nói tóm lại, động cơ và hứng thú là hai yếu tố quan trọng tạo nên TTC trong học tập của HS Muốn tạo ra hứng thú phải hình thành, giáo dục, định hướng được động cơ, nhu cầu học tập đúng đắn Ngược lại, muốn có được động cơ học tập đúng đắn thì trước hết phải khơi dậy ở các em sự hứng thú, nhu cầu nhận thức, nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng học tập vì hứng thú chính là khơi nguồn của tính tự giác, tính tích cực học tập
1.1.4 Những biểu hiện của tính tích cực học tập
Tính tích cực học tập biểu hiện rất đa dạng trong quá trình học tập: ở mặt cảm xúc (tìm thấy niềm vui, niềm say mê đối với việc học tập); ở mặt thái
độ (chú ý nghe giảng, hăng hái phát biểu ý kiến, đóng góp,trao đổi ý kiến với bạn, kiên trì hoàn thành các bài tập được giao); ở mặt hoạt động (thực hiện các yêu cầu của GV đầy đủ, biết thắc mắc, đặt câu hỏi để GV phải trả lời, vận dụng những kiến thức đã học để nhận thức vấn đề mới, biết vạch ra mục tiêu,
kế hoạch học tập, kĩ năng thực hành tốt,…) Đối với các tác phẩm văn chương, tính tích cực còn thể hiện ở việc khám phá ra những tầng ý nghĩa sâu bên trong của tác phẩm, huy động tối đa sức liên tưởng, tưởng tượng để tìm hiểu thế giới hình tượng trong tác phẩm, sưu tầm tài liệu từ các kênh thông tin khác nhau,… Có như vậy giờ học môn Ngữ văn mới đạt được hiệu quả cao
Trang 24PPDH theo hướng tích cực có một số đặc trưng cơ bản sau:
Dạy học thông qua các hoạt động của HS: PPDH theo hướng tích
cực cho thấy dạy học không đơn thuần là cung cấp tri thức mà còn phải hướng dẫn hành động Chương trình và nội dung dạy học phải hướng cho HS biết cách hành động và tích cực tham gia vào các chương trình hành động của cộng đồng
Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học: PPDH theo
hướng tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS là mục tiêu
để dạy học Yếu tố quan trọng trong học tập và nghiên cứu khoa học đó là khả năng tự phát hiện và giải quyết vấn đề gặp phải của HS Nếu HS được rèn luyện các kĩ năng, phương pháp, thói quen tự học sẽ biết cách vận dụng những điều đã học được vào những tình huống mới HS tự phát hiện và giải quyết vấn đề sẽ khơi dậy lòng ham học và tiềm năng vốn có của mỗi các em
Từ đó HS có thể dễ dàng thích ứng với cuộc sống trong xã hội
Dạy học cá thể và dạy học hợp tác: PPDH theo hướng tích cực đòi
hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực ở mỗi cá nhân HS Năng lực và ý chí của mỗi HS trong lớp không thể đồng nhất, vì vậy sẽ có sự phân hóa về cường độ
và tiến độ trong việc hình thành kiến thức mới
Tuy nhiên trong học tập không phải lúc nào mọi tri thức, kĩ năng, thái
độ đều được hình thành và phát triển bằng con đường hoạt động độc lập cá nhân thuần túy Lớp học là một môi trường giao tiếp tạo nên những mối quan
hệ hợp tác giữa các cá nhân với nhau để đạt được các mục tiêu học tập, rèn
Trang 2516
luyện Với lối dạy học thụ động như trước kia, GV là người giữ vai trò quan trọng trong việc truyền thụ kiến thức một chiều đến HS, HS chỉ nghe và chép bài Còn với lối dạy học tích cực, giao tiếp GV và HS là quan hệ hai chiều có
sự tương tác, ngoài ra còn có quan hệ giao tiếp giữa HS – HS Hoạt động tập thể sẽ làm cho HS thích ứng dần với sự phân công hợp tác, đặc biệt là lúc cần
sự phối hợp giữa các cá nhân để giải quyết những vấn đề gay cấn Trong hoạt động tập thể, tính cách, phẩm chất và năng lực của mỗi cá nhân sẽ dần được bộc lộ, uốn nắn và qua đó HS sẽ phát triển ý thức tổ chức kỉ luật, tương trợ lẫn nhau trong cộng đồng
Đánh giá và tự đánh giá: PPDH theo hướng tích cực coi trọng vai
trò chủ động của HS, coi việc rèn luyện phương pháp tự học để trang bị cho
HS năng lực tự học suốt đời như một mục tiêu giáo dục Để làm được điều đó thì GV phải phát triển kĩ năng tự đánh giá và điều chỉnh cách học của HS
Việc kiểm tra, đánh giá không đơn thuần chỉ là tái hiện lại các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã được học mà quan trọng hơn người GV phải khuyến khích
óc tư duy sáng tạo, phát hiện sự chuyển biến thái độ và hành vi của HS trước những vấn đề của đời sống, gia đình và cộng đồng, rèn luyện cho HS khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề trong tình huống thực tiễn
Như vậy, tích cực hóa hoạt động học tập của HS có thể được thực hiện
ở tất cả các khâu trong quá trình dạy học từ khâu chuẩn bị bài, tổ chức các hoạt động dạy học cho đến khâu kiểm tra đánh giá GV không còn giữ vai trò
đơn thuần là người truyền đạt kiến thức mà trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập trên lớp hoặc ở nhà Các hoạt động có thể
được thực hiện độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để HS tự chiếm lĩnh tri thức, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trong quá trình dạy học trên lớp, HS hoạt động là chủ yếu, GV có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi lập kế hoạch dạy học, GV phải đầu tư công sức, thời gian nhiều hơn đáng kể so với kiểu dạy và học thụ động như trước
Trang 261.1.6 Tích cực hóa hoạt động của học sinh trong dạy học tiếng Việt
Nội dung dạy học tiếng Việt trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn nhằm hình thành cho HS những kiến thức cơ bản về ngôn ngữ nói chung và về tiếng Việt nói riêng Thông qua những đơn vị kiến thức này,
HS được rèn luyện các kĩ năng về sử dụng ngôn ngữ
Để rèn luyện kĩ năng về sử dụng ngôn ngữ cho HS trong dạy và học tiếng Việt trước hết GV phải lựa chọn được một hệ thống ngữ liệu có khả năng đáp ứng các yêu cầu rèn luyện, đồng thời GV cũng phải chuẩn bị tốt hệ thống các câu hỏi cho HS tìm hiểu với các cấp độ từ thấp đến cao gồm: câu hỏi định hướng, câu hỏi phân tích, câu hỏi so sánh đối chiếu, câu hỏi tổng hợp, câu hỏi khái quát hoá Hệ thống câu hỏi và bài tập cũng nên gắn với tình huống giao tiếp thực của đời sống để tạo tính hấp dẫn, hứng thú đối với
HS Từ đó HS mới thấy được giá trị của các đơn vị ngôn ngữ trong hệ thống tiếng Việt, hiểu được ý nghĩa của chúng, gắn chúng với nội dung hiện thực được phản ánh; ngoài ra HS còn biết vận dụng các phương pháp, các thao tác
tư duy để đưa các đơn vị này vào trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, thực hiện những hoạt động giao tiếp một cách hữu hiệu
GV cần phải đưa ra các nhiệm vụ học tập để HS học một cách chủ động, tự học, tự nghiên cứu Các nhiệm vụ cần bám sát nhu cầu của HS như trải nghiệm của bản thân, khám phá kiến thức mới, thực hành để hiểu rõ hơn kiến thức mới trong những tình huống quen thuộc, vận dụng kiến thức mới vào giải quyết những vấn đề trong tình huống mới,… thông qua những hình thức học tập như học tập cá nhân, học tập hợp tác, học ở trường, học ở bối cảnh thực của đời sống nhằm tích cực hóa hoạt động HS, phát triển tư duy
Trang 2718
sáng tạo thể hiện khả năng tư duy độc lập của cá nhân
Trong khâu kiểm tra, đánh giá HS trong quá trình học, GV cần sử dụng các công cụ đánh giá để hỗ trợ việc học của HS (đánh giá vì việc học) để HS thấy được những kết quả đã đạt được hoặc những kiến thức còn thiếu hổng chứ không đơn thuần chỉ nhìn vào điểm số để đánh giá Đối tượng đánh giá cũng không chỉ
bó hẹp theo cách truyền thống là chỉ GV mới được đánh giá HS mà nên tăng cường cơ hội để HS tự đánh giá bản thân và đánh giá những bạn cùng lớp
Nhìn chung, việc dạy học Tiếng Việt theo hướng tích cực hóa hoạt động HS tức là GV cần biết sử dụng linh hoạt các PPDH và công cụ hỗ trợ để qua đó thiết kế các hoạt động học tập hướng dẫn HS tiếp nhận và chiếm lĩnh tri thức, tạo sự hứng thú, tích cực trong quá trình học tập của HS
1.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông
1.2.1 Về nhận thức
Tâm lý lứa tuổi chia các giai đoạn tâm lý của học sinh ra làm ba thời kì: Thời kì tuổi nhi đồng từ 6 – 11, 12 tuổi; thời kì tuổi thiếu niên từ 11 – 12 tuổi đến 14,15 tuổi; thời kì đầu tuổi thanh niên từ 14,15 tuổi đến 16,17 tuổi Mỗi thời kì có sự phát triển tâm lí đặc trưng riêng Dựa trên sự phân chia tâm lý lứa tuổi, HS ở THPT là độ tuổi đầu thanh niên, trong độ tuổi này các em có sự thay đổi rõ rệt về thể xác và tâm hồn Bên cạnh sự phát triển về thể chất và nhận thức và ý thức về quyền lợi của bản thân thì sự phát triển trí tuệ của HS cũng dần dần được nâng cao
Cùng với mối quan hệ ngày càng được mở rộng, HS tích lũy thêm được những kinh nghiệm sống, khả năng giao tiếp ửng xử xã hội cũng trở nên phong phú, nhạy cảm hơn Vì vậy thái độ, ý thức của các em đối với việc học tập và rèn luyện nhân cách ngày càng sâu sắc hơn Tâm lý học sư phạm và tâm lý học lứa tuổi đã nghiên cứu cho thấy sự phát triển và hoàn thiện dần hệ thần kinh ở học sinh THPT còn diễn ra những thay đổi lớn về đặc điểm phát triển của trí tuệ HS
đã biết lắng nghe, biết bảo vệ ý kiến đúng và phản bác lại ý kiến mình cho là
Trang 2819
không đúng, thẳng thắn thể hiện quan điểm của mình Nhận thức của các em không chỉ còn ở mức cảm tính mà phát triển lên một bậc cao hơn HS tự tạo sự phân hóa trong trí nhớ, biết lựa chọn những thông tin quan trọng cần nhớ, cần hiểu Vì thế hoạt động tư duy trong học tập của HS cũng có những thay đổi quan trọng, các em có khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng sáng tạo, độc lập Những đặc điểm đó tạo điều kiện cho HS THPT thực hiện các thao tác lôgic, tư duy phức tạp, phân tích nội dung cơ bản của các khái niệm trừu tượng và nhận thức được các mối quan hệ trong tự nhiên và xã hội Ngoài ra, HS đòi hỏi những vấn đề phải có lập luận, căn cứ xác thực, lôgic chặt chẽ hơn để từ đó phát triển năng lực phân tích, đánh giá, kết quả của vấn đề
Đối với môn Ngữ văn, sự phát triển về trí tuệ, vốn sống cùng với thái
độ, ý thức về nhân cách phong phú hơn là một điều kiện thuân lợi giúp HS toàn diện Sự phát triển về năng lực văn học, phát triển tư duy và năng lực sử dụng ngôn ngữ của các em cũng được nâng lên một cấp độ mới Ở lứa tuổi này HS có nhu cầu khẳng định mình rất cao, các em có sự nhanh nhạy trước những cái hay cái đẹp của một tác phẩm văn chương hay một sự vật, hiện tượng trong đời sống Các em muốn khám phá thể giới quan vượt ra ngoài khả năng và sự hiểu biết của mình, muốn tìm hiểu và lí giải những vấn đề trong cuộc sống bằng những kinh nghiệm của mình
1.2.2 Về thái độ học tập
Thái độ của HS THPT đối với việc học tập cũng có những chuyển biến
rõ rệt Kinh nghiệm của HS THPT dần dần được tích lũy, các em ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc sống tự lập Do vậy, thái độ của các em đối với việc học tập được tăng lên mạnh mẽ Các em đã ý thức rõ ràng được kiến thức, kĩ năng hiện có được hình thành trong nhà trường phổ thông để từ những điều đã tri nhận được tham gia vào cuộc sống lao động của
xã hội một cách hiệu quả Điều này đã làm cho học sinh THPT bắt đầu đánh giá hoạt động chủ yếu theo quan điểm tương lai của mình Do vậy, GV phải
Trang 29Nhận xét: Với những đặc điểm của tâm lý học lứa tuổi, ta có thể nhận
thấy học sinh THPT có nhu cầu nhận thức, khả năng về trí tuệ và thái độ học tập của các em ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn Tuy nhiên hiện nay số
HS đạt được mức tư duy theo đặc trưng lứa tuổi còn hạn chế Điều đó cho thấy không phải HS do không có khả năng phát triển mà cái chính do là các
em chưa có điều kiện để phát huy hết khả năng vốn có và năng lực của bản thân mình, làm cho quá trình học tập và rèn luyện năng lực, phẩm chất của các em chưa đạt được kết quả như mong muốn
HS vốn là chủ thể tích cực, năng động, sáng tạo và tự giác nên cần huy động vậy nên HS không chỉ nhận thức mà còn biết đánh giá, thưởng thức văn học và sử dụng ngôn ngữ phù hợpvới tư cách là một cá thể độc lập, sáng tạo
Đó chính là đích đến của việc đổi mới phương pháp nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, nâng cao hiệu quả dạy và học
1.3 Về cụm bài Phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông
1.3.1 Vị trí, mục tiêu của cụm bài Phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông
1.3.1.1 Vị trí
Trong chương trình dạy học cũng như trong sách giáo khoa ở nhà trường phổ thông bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông, học sinh đã
Trang 3021
được làm quen với cá khái niệm như “phong cách ngôn ngữ” Ở đây phong cách học được hiểu là “một bộ môn khoa học nghiên cứu những nguyên tắc lựa chọn và sử dụng các phương tiện ngôn ngữ để truyền đạt một nội dung, tư tưởng tình cảm nhất định nhằm đạt được những hiệu quả thực tiễn, cụ thể trong những điều kiện giao tiếp cụ thể” [1, tr.160]
Ngay từ bậc cơ sở, HS được cung cấp những kiến thức cơ bản, mang tính sơ lược, khái quát về các vấn đề tu từ học, phong cách học SGK Ngữ văn lớp 6, 7, 8 tập trung vào các vấn đề tu từ học, còn SGK lớp 9 đã bắt đầu định hướng cho HS tiếp xúc những kiến thức về phong cách học Lên bậc THPT các vấn đề này tiêos tục được đề cập ở mức độ cao hợn cả về nội dung
và chất lượng Trong cả ba lớp 10, 11, 12, HS được làm quen và tìm hiểu cụ thể sáu loại phong cách ngôn ngữ ở các khía cạnh: khái niệm, đặc trưng về mặt ngôn ngữ và phương tiện tu từ
Có thể thấy rằng phần phong cách ngôn ngữ khép lại toàn bộ chương trình tiếng Việt ở nhà trường phổ thông Điều này cho ta thấy việc học tiếng của HS không thể chỉ dừng lại ở từ, ở câu mà còn tiến tới giúp HS biết cách tổ chức giao tiếp, tổ chức văn bản Văn bản bao giờ cũng thuộc về một phong cách nhất định, bởi vậy phần phong cách ngôn ngữ kết thúc chương trình tiếng Việt THPT đã một phần nào đó bộc lộ được mối quan hệ khăng khít giữa phong cách giữa phong cách ngôn ngữ học với tất cả các phần kiến thức khác về tiếng Việt mà HS đã được học ở các lớp trước
1.3.1.2 Mục tiêu
Chúng ta khó có thể tách một cách rạch ròi mục tiêu riêng của phần phong cách ngôn ngữ ra khỏi mục tiêu chung của việc giảng dạy tiếng Việt Bởi vậy có thể nói một cách chung nhất mục tiêu của việc giảng dạy và học
tập phong cách học ở nhà trường THPT hiện nay là: cung cấp cho HS những tri thức về phong cách học đã được hệ thống hóa, được nâng cao so với các lớp dưới, đảm bải cho các em có cơ sở lí thuyết cần thiết để rèn luyện kĩ năng
Trang 31Mục tiêu giáo dục của nhà nước ta từ sau năm 2015 là tập trung phát triển năng lực giao tiếp cho HS, đó là một trong tám năng lực được Bộ Giáo dục đề cập và triển khai Cụm bài phong cách ngôn ngữ sẽ góp phần tích cực trong quá trình hình thành và phát triển năng lực giao tiếp cho HS HS không chỉ nắm vững được chuẩn mực ngôn ngữ mà còn phải biết cách giao tiếp, tạo lập văn bản theo từng phong cách nhất định
1.3.2 Phân tích nội dung dạy học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ
1.3.2.1 Nội dung phân phối cụm bài về Phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn THPT năm học 2018 – 2019
Bảng 1.1 Nội dung phân phối cụm bài về Phong cách ngôn ngữ
10 Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt 2
Tiết 35 Tiết 36
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật 1 Tiết 86
Tiết 47 Tiết 48
Phong cách ngôn ngữ chính luận 2 Tiết 105
Trang 321.3.2.2 Phân tích nội dung dạy học cụm bài Phong cách ngôn ngữ
a Về nội dung dạy học cụm bài Phong cách ngôn ngữ
Theo chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THPT, các bài học tiếng Việt nói chung và cụm bài Phong cách ngôn ngữ nói chung được chia thành hai loại: bài hình thành kiến thức và bài luyện tập Bài hình thành kiến thức thường có cấu tạo 3 phần: phân tích ngữ liệu được cung cấp, rút ra nhận xét/ ghi nhớ và luyện tập Phần phân tích ngữ liệu được tổ chức với các nhiệm vụ
cụ thể như đọc ngữ liệu, trả lời các câu hỏi nhằm hình thành kiến thức mới Phần rút ra nhận xét, ghi nhớ là phần chốt lại những kiến thức quan trọng, HS
đã hiểu rõ sau khi phân tích ngữ liệu Phần luyện tập là những câu hỏi, bài tập nhằm củng cố, mở rộng và nâng cao kiến thức đã học
Quy trình này có thể khái quát thành các hoạt động sau:
- Hoạt động khởi động: Mục đích của hoạt động này là giúp HS huy
động kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm về mặt ngôn ngữ/ tiếng Việt mà HS đã được học để có thể kết nối với kiến thức mới trong bài học đồng thời tạo tâm
lí tích cực giúp HS sẵn sàng các nhiệm vụ mới của bài học
Trang 3324
- Hoạt động hình thành kiến thức: Mục đích của hoạt động này là giúp
HS từng bước chiếm lĩnh kiến thức mới dựa trên những kiến thức, kĩ năng kinh nghiệm đã có về ngôn ngữ tiếng Việt để đọc, phân tích, xử lí các ngữ liệu có liên quan Hoạt động này gồm những nhiệm vụ cụ thể:
+ Phân tích ngữ liệu: GV hướng dẫn HS đọc và phân tích ngữ liệu theo yêu cầu của các câu hỏi và bài tập theo các hình thức học tập khác nhau (cá nhân, cặp đôi, nhóm)
+ HS báo cáo kết quả (có thể báo cáo trực tiếp với GV, báo cáo nhóm, báo cáo trước lớp hoặc làm vào phiếu học tập,…)
+ GV và HS cùng trao đổi nhận xét, sửa lỗi sau đó GV chốt lại những nội dung cần lưu ý là những đơn vị kiến thức mới cần hình thành
- Hoạt động thực hành, luyện tập: Mục đích của hoạt động này là
giúp HS củng cố kiến thức đã hình thành thông qua việc vận dụng kiến thức đó để giải quyết các câu hỏi, bài tập, tình huống cụ thể của từng phong cách ngôn ngữ
b Về đặc trưng cơ bản của các phong cách ngôn ngữ
Khái niệm phong cách ngôn ngữ
Phong cách ngôn ngữ là toàn bộ những đặc điểm về cách thức diễn đạt tạo thành kiểu diễn đạt trong mỗi loại văn bản nhất định
Phân loại các phong cách ngôn ngữ
Căn cứ vào lĩnh vực giao tiếp trong những hoạt động thực tiễn, người ta chia ra sáu loại phong cách ngôn ngữ sau:
Ngôn ngữ sinh hoạt
Ngôn ngữ sinh hoạt chủ yếu thể hiện ở dạng nói hoặc có thể ở dạng viết Trong văn bản văn học, lời thoại của nhân vật là dạng tái hiện, mô phỏng lại ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày.[21]
Ngôn ngữ nghệ thuật
Trang 3425
Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ dùng chủ yếu trong các tác phẩm văn chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người Ngôn ngữ nghệ thuật được tổ chức, xếp đặt, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật – thẩm mĩ cao.[21]
Ngôn ngữ báo chí
Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ được dùng để thông báo tin tức thời sự trong nước và quốc tế, phản ánh chính kiến của tờ báo và dư luận quần chúng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội Ngôn ngữ báo chí thường được sử dụng
ở những thể loại tiêu biểu là bản tin, phóng sự, tiểu phẩm…[22]
Ngôn ngữ chính luận
Ngôn ngữ chính luận là ngôn ngữ được dùng trong các văn bản chính luận hoặc lời nói miệng (khẩu ngữ) trong các buổi hội nghị, hội thảo,…nhằm trình bày, bình luận, đánh giá những sự kiện, vấn đề về chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng…theo một quan điểm chính trị nhất định.[22]
Ngôn ngữ khoa học
Ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ được dùng trong phạm vi giao tiếp thuộc lĩnh vực khoa học
- Dạng viết : sử dụng từ ngữ khoa học và các kí hiệu, công thức, sơ đồ…
- Dạng nói : yêu cầu về phát âm và diễn đạt trên cơ sở một đề cương [23]
Đặc trưng cơ bản của các phong cách ngôn ngữ
Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
Trang 35ai, thậm chí đoán biết được tuổi tác, giới tính, cá tính, địa phương…của họ.[21]
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
-Tính hình tượng: Là khả năng tạo ra những hình tượng nhờ cách diễn
đạt ngôn ngữ có hình ảnh, màu sắc, âm thanh, và người đọc dùng tri thức vốn sống của mình để liên tưởng và suy nghĩ
-Tính truyền cảm: Thể hiện ở chỗ ngôn ngữ nghệ thuật làm cho người nghe (đọc) cùng vui, buồn, yêu thích…như chính người nói (viết) Ngôn ngữ nghệ thuật là tạo ra sự hòa đồng, giao cảm, cuốn hút, gợi cảm xúc cho người đọc
-Tính cá thể hóa: Ngôn ngữ là phương tiện diễn đạt chung của cộng đồng nhưng khi được các nhà văn nhà thơ sử dụng thì mỗi người lại có khả năng thể hiện một giọng riêng, một phong cách riêng Sự khác nhau về ngôn ngữ là ở cách dùng từ, đặt câu và cách sử dụng hình ảnh, bắt nguồn từ cá tính sáng tạo của người viết Tính cá thể hóa còn được thể hiện ở trong lời nói của từng nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật; ở nét riêng trong cách diễn đạt từng
sự việc, từng hình ảnh, từng tình huống trong tác phẩm.Tính cá thể hóa tạo cho ngôn ngữ nghệ thuật những sáng tạo mới lạ, không bị trùng lặp [21]
Phong cách ngôn ngữ báo chí
- Tính thông tin- thời sự: Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ thông tin thời
sự cập nhật, truyền bá những tin tức nóng hổi hằng ngày trên mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội Để đảm bảo chất lượng thông tin, ngôn ngữ phải chính
Trang 3627
xác, nhất là những thông tin về thời gian, địa điểm, sự kiện, nhân vật
-Tính ngắn gọn: Văn báo chí là lối văn ngắn gọn, lượng thông tin đủ -Tính sinh động, hấp dẫn: Muốn thu hút sự chú ý của người đọc, ngôn ngữ báo chí phải kích thích được sự tò mò, hiểu biết của họ Điều đó thể hiện
ở cách dùng từ và đặt câu, nhưng trước hết tính hấp dẫn phải được thể hiện ở tiêu đề của bài báo [22]
Phong cách ngôn ngữ chính luận
-Tính công khai về quan điểm chính trị: Ngôn từ chính luận không chỉ
có chức năng thông tin mà phải thể hiện đường lối, quan điểm, thái độ chính trị của người viết (hay người nói) một cách công khai, dứt khoát
-Tính chặt chẽ trong diễn đạt và suy luận
-Tính truyền cảm, thuyết phục:Ngôn ngữ chính luận là công cụ để trình bày, thuyết phục, tạo nên sức hấp dẫn, lôi cuốn người đọc(người nghe) [22]
Phong cách ngôn ngữ khoa học
- Tính khái quát, trừu tượng: Ngôn ngữ khoa học dùng nhiều thuật ngữ
khoa học Đó là lớp từ chuyên dùng trong từng ngành khoa học và chỉ dùng
để biểu hiện khái niệm khoa học Từ ngữ trong văn bản khoa học chỉ dùng với một nghĩa, không dùng các phép tu từ Kết hợp sử dụng các kí hiệu, chữ số,
những sơ đồ, bảng biểu, công thức
- Tính lí trí, lôgic: Tính lí trí, lôgíc của ngôn ngữ khoa học thể hiện ở nhiều phương tiện ngôn ngữ Ngoài lớp từ ngữ thể hiện khái niệm và tư duy khoa học, thì câu văn khoa học là câu văn chặt chẽ, mạch lạc, là một đơn vị thông tin có cú pháp chuẩn.Câu văn liên kết thành đoạn văn và phục vụ cho lập luận khoa học Cả văn bản cũng được tổ chức mạch lạc để cho lập luận logic
- Tính khách quan, phi cá thể: Ngôn ngữ khoa học không mang sắc thái
cá nhân.Từ ngữ, câu văn, kết cấu văn bản trong ngôn ngữ khoa học thiên về tính khái quát, trí tuệ, lôgíc [23]
Phong cách ngôn ngữ hành chính
Trang 37+ Phần chính: nội dung văn bản
+ Phần cuối: chức vụ, chữ kí và họ tên của người kí văn bản, dấu cơ quan, nơi nhận…
- Tính minh xác: Mỗi từ chỉ có một nghĩa, mỗi câu chỉ có một ý, không dùng lối biểu đạt hàm ý hoặc các phép tu từ
- Tính công vụ: Những biểu đạt tình cảm của cá nhân bị hạn chế ở mức tối đa Các từ ngữ biểu cảm nếu dùng chỉ mang tính khuôn mẫu, ước lệ [23]
1.4 Thực trạng việc dạy - học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ ở trường trung học phổ thông
1.4.1 Thực trạng việc học cụm bài về Phong cách ngôn ngữ ở trường trung học phổ thông
Đối tượng khảo sát
Chúng tôi đã đưa ra phiếu điều tra tình hình học cụm bài về PCNN của
HS theo hướng tích cực tại các trường THPT Chúng tôi tiến hành phát 160 phiếu cho 160 HS (HS ban cơ bản) thuộc 4 lớp tại 2 trường THPT gồm:
+ 80 HS lớp 11a1 và 11a12 tại trường THPT Hồng Thái – huyện Đan Phượng – Hà Nội
+ 80 HS lớp 11a1 và 11a12 tại trường THPT Đan Phượng – huyện Đan Phượng – Hà Nội
Nội dung khảo sát:
- Khảo sát tình hình học tập và nhận thức của HS khi học cụm bài về PCNN
- Hình thức: Phát phiếu điều tra HS
Kết quả sau khi khảo sát:
Trang 38Câu 2: Em có thể kể tên các PCNN mà em đã được học?
Bảng 1.3 Khảo sát mức độ nhớ của học sinh về các phong cách ngôn ngữ
Trang 39Phương pháp/ hình thức dạy học khác: dự án, dạy học
giải quyết vấn đề, sơ đồ tư duy,… 00/160 0%
Câu 5: Sau khi học xong về cụm bài PCNN thấy/cố thường kiểm tra, đánh giá bằng những phương pháp nào?
Bảng 1.6 Khảo sát học sinh về các phương pháp kiểm tra đánh giá mà
thầy/cô áp dụng
Phương pháp kiểm tra, đánh giá Số lượng
HS
Tỉ lệ (%)
Bảng 1.7 Khảo sát mức độ mong muốn được thay đổi cách học của học sinh
Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ
Trang 4031
Câu 7: Kiểm tra mức độ nhận biết về PCNN của HS qua một bài tập:
Bảng 1.8 Khảo sát mức độ nhận biết của học sinh qua bài tập
HS làm đúng với đáp án HS làm sai với đáp án
Số lượng HS Tỉ lệ (%) Số lượng HS Tỉ lệ (%)
1.4.2 Thực trạng việc dạy cụm bài về Phong cách ngôn ngữ ở trường trung học phổ thông hiện nay
Đối tượng khảo sát
Chúng tôi đã đưa ra phiếu điều tra để khảo sát tình hình dạy học cụm bài PCNN của GV theo hướng tích cực tại các trường THPT Chúng tôi tiến hành phát 19 phiếu cho 19 GV dạy Ngữ văn tại 2 trường THPT gồm:
+9 GV tại trường THPT Hồng Thái - Huyện Đan Phượng – Hà Nội + 10 GV trường THPT Đan Phượng – Huyện Đan Phượng – Hà Nội
Nội dung khảo sát
- Khảo sát thầy/cô về tình hình áp dụng các PPDH theo hướng tích cực
và việc giảng dạy cụm bài về PCNN
- Hình thức: Phát phiếu điều tra, xem giáo án trao đổi phỏng vấn với GV
Kết quả sau khi khảo sát:
Câu 1: Mức độ hiểu biết của thầy/cô về PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS?
Bảng 1.9 Khảo sát mức độ hiểu biết của giáo viên về phương pháp dạy học
theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh