1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tác động của hỗ trợ xã hội và bạo lực đối với phụ nữ đối với mối liên hệ giữa SKTT của người mẹ và SKTT của trẻ

83 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bạo lực đối với phụ nữ cũng có liên quan đến các vấn đề trầm cảm, rối loạn stress sau sang chấn, và liên quan đến mức độ thấp của các hỗ trợ xã hội [35].. Như vậy các hỗ trợ xã hội và tì

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

T

: TS Amie Pollack

T T

HÀ N I- 2016

Trang 3

Ờ Đ N

Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ “ T Đ NG TR

Ạ Đ Ụ N Đ N G

T T N NGƯỜ T T N TR ”

là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu trong luận văn là số liệu

trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, 2016

Nguyễ ă ạnh

Trang 4

Ờ Ả ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN, tới các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy, các cán bộ quản lý đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin gửi đến giáo viên hướng dẫn là TS Amie Pollack – Đại học Giáo dục, và BSCKII Lâm Tứ Trung, Giám đốc Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng, lời biết ơn sâu sắc và sự kính trọng về tinh thần nghiêm túc trong nghiên cứu khoa học và những định hướng quan trọng để tôi có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ này

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Vicky Ngô, tập đoàn RAND, Hoa Kỳ, quản lý dự án LIFE-DM, PGS.TS Đặng Hoàng Minh, Trường Đại học Giáo dục, vì đã có những đóng góp rất giá trị cho nghiên cứu của tôi Chân thành cảm

ơn ThS Nguyễn Thanh Tâm, quản lý chương trình của BasicNeeds tại Việt Nam, đã hỗ trợ để tôi có thể hoàn thành khóa học trong thời gian làm việc tại tổ chức Cảm ơn cử nhân tâm lý Ngô Hoàng Anh, cán bộ tâm lý khoa Tâm thần Nhi của Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng đã hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu cho nghiên cứu này tại Đà Nẵng

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến những phụ nữ đã tham gia trả lời câu hỏi cho nghiên cứu này, cảm ơn sự hợp tác tuyệt vời của các chị

Cuối cùng, tôi xin dành tặng lời cảm ơn sâu sắc nhất đến những người thân yêu trong gia đình vì đã luôn ở bên, động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2016

Tác giả

Nguyễ ă ạnh

Trang 5

Đại học Giáo dục Đại học Quốc gia Hà Nội Generalize Health Questionnaires Hội phụ nữ

Institutional Review Board Livelihoods integration for effective depression management Patient Health Questionnaire-9

Post-traumatic Stress Disorder Rối loạn tâm thần

Strength and Difficulty Questionnaires Sức khỏe tâm thần

Years lived with disability Youth Self Report

Trạm Y tế Trung học cơ sở Trung học phổ thông Vietnam Veterans of America Foundation

Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 2.1 Đặc điểm nhân khẩu học của người mẹ tham gia nghiên

Bảng 2.2 Điểm trung bình và độ lệch chuẩn của PHQ-9 và GAD-7

Bảng 3.1 Phân loại mức độ biểu hiện trầm cảm và lo âu của người

Bảng 3.2 Điểm trung bình và độ lệch chuẩn của PHQ-9 và GAD-7

Bảng 3.3 Phân loại mức độ biểu hiện trầm cảm và lo âu của người

Bảng 3.4 Thông tin chung về trẻ là con của các người mẹ tham gia

Bảng 3.5 Điểm trung bình các vấn đề SKTT ở trẻ trong vòng 6

Bảng 3.6 Tương quan giữa tình trạng SKTT của người mẹ ở thời

Bảng 3.8 Nguồn hỗ trợ xã hội cho người mẹ tham gia nghiên cứu 44 Bảng 3.9 Các hỗ trợ xã hội dành cho phụ nữ ở thời điểm sau 6

Bảng 3.10 Nguồn hỗ trợ xã hội cho người mẹ tham gia nghiên cứu

Bảng 3.11 Nguồn hỗ trợ xã hội cho người mẹ tham gia nghiên cứu

Bảng 3.12 Tình trạng bạo lực đối với người mẹ tại thời điểm sau 6 48

Trang 7

tháng

Bảng 3.13 Mối tương quan giữa hỗ trợ xã hội và SKTT của người

Bảng 3.14 Mối tương quan giữa hỗ trợ xã hội và SKTT của người

Bảng 3.15 Tương quan giữa tình trạng bạo lực và SKTT của người

Bảng 3.16 Tình trạng SKTT của người mẹ được bị bạo lực so với

Bảng 3.17 Tương quan giữa tình trạng bạo lực và SKTT của người

Bảng 3.18 Tình trạng SKTT của người mẹ được bị bạo lực so với

Bảng 3.19 Tình trạng SKTT của người mẹ được nhận hỗ trợ xã hội

và người mẹ không được nhận hỗ trợ xã hội ở thời điểm ban đầu 54 Bảng 3.20 Tình trạng SKTT của người mẹ được nhận hỗ trợ xã hội

và người mẹ không được nhận hỗ trợ xã hội ở thời điểm sau 6 tháng 54 Bảng 3.21 Tình trạng SKTT của trẻ là con của người mẹ được nhận

hỗ trợ xã hội và trẻ là con của người mẹ không được nhận hỗ trợ xã

Bảng 3.22 Tình trạng SKTT của trẻ là con của người mẹ bị bạo lực

Trang 8

D N Ụ ỂU ĐỒ

Trang Biểu đồ 1: So sánh tình trạng SKTT của người mẹ ở thời điểm ban

Biểu đồ 2: So sánh mức độ biểu hiện trầm cảm và lo âu của người mẹ

Biểu đồ 3: Mức độ của các hỗ trợ xã hội cho các người mẹ ở thời

Biểu đồ 4: Mức độ của các hỗ trợ xã hội cho các người mẹ ở thời

Biểu đồ 5: So sánh các hỗ trợ xã hội cho người mẹ ở thời điểm ban

Biểu đồ 6: So sánh tình trạng bạo lực đối với người mẹ ở thời điểm

Trang 9

MỤC LỤC

Ờ Đ N .i

LỜI CẢ ƠN ii

DANH MỤC CÁC KÝ HI U, CÁC CH VIÊT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi

MỞ Đ U 1

1 Lý do chọ ề tài 1

2 Mục c c u 4

3 Nhiệm vụ nghiên c u 5

3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận 5

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn 5

4 Khách th v t ợng nghiên c u 5

4.1 Khách thể nghiên cứu 5

4.2 Đối tượng nghiên cứu 6

4.3 Giới hạn đề tài 6

4.3.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu 6

4.3.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu 6

4.3.3 Giới hạn về chọn mẫu 6

5 Câu hỏi nghiên c u 6

6 Giả thuyết nghiên c u 7

6.1 Giả thuyết 1 7

6.2 Giả thuyết 2 7

6.3 Giả thuyết 3 7

6.4 Giả thuyết 4 7

6.5 Giả thuyết 5 7

7 Cấ t úc ề tài 8

ƯƠNG 1: Ơ Ở LÝ LUẬN 9

1.1 Đ m luận các công trình nghiên c u vấ ề 10

Trang 10

1.1.1 Các nghiên cứu về mối liên quan giữa SKTT của người mẹ và SKTT của

trẻ em 10

1.1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 10

1.1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 11

1.1.2 Các nghiên cứu về tác động của hỗ trợ xã hội đối với SKTT của phụ nữ 12 1.1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới 12

1.1.2.1 Các nghiên cứu ở Việt Nam 13

1.1.3 Các nghiên cứu về tác động của tình trạng bạo lực đối với phụ nữ đối với SKTT của phụ nữ và trẻ em 14

1.1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới 14

1.1.3.1 Các nghiên cứu ở Việt Nam 15

1.2 M t s vấ ề lý luận 16

1.2.1 Sức khỏe tâm thần 16

1.2.2 Rối loạn tâm thần 17

1.2.2.1 Vấn đề SKTT ở phụ nữ 18

1.2.2.2 Vấn đề SKTT ở trẻ em 19

1.2.3 Hỗ trợ xã hội 20

1.2.4 Tình trạng bạo lực đối với phụ nữ 21

1.2.5 SKTT và các vấn đề liên quan 24

1.2.5.1 SKTT và các vấn đề kinh tế xã hội 24

1.2.5.2 SKTT và vấn đề giới 26

ƯƠNG 2: TỔ CH ƯƠNG NG N U 27

2.1 Chọn m u nghiên c u 27

2.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của người mẹ tham gia nghiên cứu 27

2.1.2 Đặc điểm nhân khẩu học của trẻ 29

2 2 Địa bàn nghiên c u: 30

2 3 ơ p p c u 30

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 30

2.3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 31

Trang 11

2.3.3 Phương pháp thống kê toán học 33

3 Đó óp của ề tài 34

4 Đ tin cậ v hiệu lực của c c t a o 34

4.1 Độ tin cậy 34

4.2 Độ hiệu lực 35

5 Đạo c nghiên c u 36

ƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN C U 38

3 1 Đặc m về tình trạng SKTT của ời mẹ tại thờ a ầu 38

3.2 Đặc m về tình trạng SKTT của ời mẹ tại thờ m sau 6 tháng so v i thời a ầu 39

3.3 Đặc m về tình trạng SKTT của trẻ 41

3.4 M i liên hệ giữa SKTT của ời mẹ và SKTT của trẻ 42

3.4.1 Mối liên hệ giữa tình trạng SKTT của người mẹ ở thời điểm ban đầu với các vấn đề SKTT của trẻ 42

3.4.2 Mối liên hệ giữa tình trạng SKTT của người mẹ ở thời điểm sau 6 tháng với các vấn đề SKTT của trẻ 43

3.5 Các hỗ trợ xã h i và tình trạng bạo lực i v i phụ nữ 43

3.5.1 Các hỗ trợ xã hội dành cho phụ nữ tại thời điểm ban đầu 43

3.5.2 Các hỗ trợ xã hội dành cho các người mẹ tại thời điểm sau 6 tháng 45

3.5.3 Tình trạng bạo lực đối với phụ nữ tại thời điểm ban đầu 47

3.5.4 Tình trạng bạo lực đối với người mẹ tại thời điểm sau 6 tháng 48

3.6 M t ơ q a ữa các hỗ trợ xã h i và tình trạng SKTT của ời mẹ 49

3.6.1 Mối tương quan giữa hỗ trợ xã hội và tình trạng SKTT của người mẹ tại thời điểm ban đầu 49

3.6.2 Mối tương quan giữa hỗ trợ xã hội và tình trạng SKTT của người mẹ tại thời điểm sau 6 tháng 50

3.7 M t ơ q a ữa tình trạng bạo lực i v i SKTT của ời mẹ 51

Trang 12

3.7.1 Mối tương quan giữa tình trạng bạo lực và SKTT của người mẹ thời điểm

ban đầu 51

3.7.2 Mối tương quan giữa tình trạng bạo lực và SKTT của người mẹ ở thời điểm sau 6 tháng 52

3.8 So sánh tình trạng SKTT của ời mẹ ợc nhận hỗ trợ xã h i v i ời mẹ k ô ợc nhận hỗ trợ xã h i 54

3.8.1 Tình trạng SKTT của người mẹ được nhận hỗ trợ xã hội và người mẹ không được nhận hỗ trợ xã hội ở thời điểm ban đầu 54

3.8.2 Tình trạng SKTT của người mẹ được nhận hỗ trợ xã hội và người mẹ không được nhận hỗ trợ xã hội ở thời điểm sau 6 tháng 54

3.9 So sánh tình trạng SKTT của trẻ là con của ời mẹ ở các nhóm nhận ợc hỗ trợ xã h i và không nhậ ợc hỗ trợ xã h , ó ời mẹ bị bạo lực v ời mẹ không bị bạo lực 55

3.9.1 Tình trạng SKTT của trẻ là con của người mẹ được nhận hỗ trợ xã hội và trẻ là con của người mẹ không được nhận hỗ trợ xã hội 55

3.9.2 Tình trạng SKTT của trẻ là con của người mẹ bị bạo lực với trẻ là con của người mẹ không bị bạo lực 56

4 Bàn luận về kết quả nghiên c u 56

5 Hạn chế của ề tài 58

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGH 60

1 Kết luận 60

2 Khuyến nghị 60

TÀI LI U THAM KHẢO 62

Tài liệu tiếng Việt 62

Tài liệu tiếng Anh 62

Các phụ lục: 67

Trang 13

Ở Đ U

1 ý o c ọ ề t

Các rối loạn tâm thần (RLTT) là một trong những vấn đề y tế công cộng đang được quan tâm vì nó gây ra những tổn thất đáng kể và tước đi nhiều khả năng ở người lớn và trẻ em trên toàn thế giới Hiện nay, các RLTT chiếm khoảng 13% gánh nặng bệnh tật toàn cầu và con số này có xu hướng tiếp tục tăng lên trong những năm tới Các RLTT phổ biến như trầm cảm và lo âu là các RLTT thường gặp trong cộng đồng, đặc biệt là ở phụ nữ Một nghiên cứu ở Úc

đã chỉ ra cứ 1 trong 3 phụ nữ (khoảng 34,8%) báo cáo họ đã từng có rối loạn trầm cảm và/hoặc lo âu ở một thời điểm nào đó trong cuộc đời [33, tr 250 – 255] Sức khỏe tâm thần (SKTT) ở phụ nữ đã và đang được quan tâm vì có thể dẫn đến các vấn đề trong gia đình và có ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển của trẻ em Sức khỏe của người mẹ nói chung và SKTT của người mẹ nói riêng có tác động đến sức khỏe, SKTT và các hoạt động chức năng của con trẻ Trong các nền văn hóa truyền thống phương Đông như ở Việt Nam, nơi mà người mẹ có vai trò quan trọng và chủ yếu trong việc chăm sóc và nuôi dạy con cái trong gia đình, thì những thay đổi về sức khỏe của người mẹ có tác động lớn đến những thay đổi về sức khỏe ở trẻ bao gồm cả SKTT Các nghiên cứu đã chỉ

ra rằng SKTT của người mẹ, như trầm cảm ở người mẹ, có liên quan đến các vấn đề trong gia đình như phong cách làm cha mẹ bị khiếm khuyết, mức độ xung đột trong gia đình cao, trẻ có khó khăn về cảm xúc và các chức năng xã hội, kết quả học tập của trẻ bị suy giảm [8]

Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về mối tương quan giữa SKTT của người mẹ với SKTT của trẻ em Một nghiên cứu điều tra về tỷ lệ trầm cảm và lo âu ở trẻ trước độ tuổi đi học và mối quan hệ giữa SKTT của trẻ và SKTT của người mẹ cho thấy có mối tương quan đáng kể giữa SKTT của người

mẹ với các vấn đề trầm cảm và lo âu ở trẻ em [28, tr 61-70] Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Mennen, Ferol E và cộng sự (2014) tìm hiểu về mối

Trang 14

liên hệ giữa trầm cảm của người mẹ và SKTT của trẻ và sự đáp ứng với can thiệp ở trẻ có vấn đề về cảm xúc và hành vi thì phát hiện thấy rằng những trẻ có

mẹ bị trầm cảm thường có vấn đề về hành vi cao hơn, hoặc phát triển kém hơn

so với trẻ có mẹ không bị trầm cảm và kết quả điều trị ở những trẻ có mẹ bị trầm cảm tiến triển chậm hơn so với kết quả điều trị của những trẻ có mẹ không bị trầm cảm [19] Như vậy, các kết quả của các nghiên cứu trên đã cho thấy tình trạng SKTT của người mẹ, như là trầm cảm, có liên quan và tác động tiêu cực đến SKTT của trẻ em

Các nghiên cứu trên thế giới cũng tìm hiểu về nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến mối liên hệ giữa SKTT của người mẹ và các vấn đề SKTT của trẻ em Trong nghiên cứu của mình, tác giả Cho Sun Mi (2006) đã tìm hiểu về tác động của trầm cảm đối với hành vi làm cha mẹ ở phụ nữ Hàn Quốc So với những người mẹ không có trầm cảm, các người mẹ bị trầm cảm thường ít thể hiện những yêu thương, ít hỗ trợ tình cảm và đáp ứng không nhất quán đối với các nhu cầu cảm xúc và hàng ngày của trẻ [10] Khả năng đáp ứng của người mẹ đối với các nhu cầu hàng ngày của trẻ có thể lý giải cho mối quan hệ giữa SKTT của mẹ và SKTT của trẻ Như vậy tình trạng SKTT kém của người mẹ có ảnh hưởng trực tiếp và tiêu cực đến phong cách nuôi dạy trẻ và hành vi làm cha mẹ

Các nguyên nhân khác có thể ảnh hưởng hoặc tác động đến mối quan hệ này như các nguồn hỗ trợ xã hội dành cho người mẹ và tình trạng bạo lực gia đình đối với người mẹ Một số nghiên cứu đã tìm hiểu về tác động của các hỗ trợ xã hội đối với vấn đề SKTT cho thấy hỗ trợ xã hội có tác động bảo vệ đáng

kể đối với việc hình thành và duy trì các vấn đề SKTT [14] Các hỗ trợ xã hội được định nghĩa là các nguồn lực bao gồm: hỗ trợ về vật chất, cảm xúc và hỗ trợ thông tin được cung cấp bởi người này cho người khác để họ có thể đối phó với các căng thẳng trong cuộc sống [36] Đối với phụ nữ, hỗ trợ xã hội có tác động tích cực đến sức khỏe và sự thoải mái tinh thần ví dụ như nhận được hỗ trợ

từ chồng, các thành viên trong gia đình và cộng đồng khi bị ốm hoặc nhận được thông tin và có thể tiếp cận với các nguồn lực xã hội có thể giúp họ tránh khỏi

Trang 15

hoặc giảm thiểu các nguy cơ phát triển các vấn đề SKTT hoặc giúp họ có kỹ năng ứng phó với các vấn đề SKTT hiệu quả và dễ dàng hồi phục hơn, từ đó có khả năng chăm sóc con trẻ tốt hơn

Trong khi hỗ trợ xã hội có tác động tích cực đối với SKTT của phụ nữ thì việc bạo lực và lạm dụng đối với phụ nữ lại có tác động tiêu cực đến SKTT của

họ Một nghiên cứu cho thấy bạo lực đối với phụ nữ có mối tương quan đáng kể với các biểu hiện của lo âu, trầm cảm và ý tưởng tự sát [11, tr 149-163.] Bạo lực đối với phụ nữ cũng có liên quan đến các vấn đề trầm cảm, rối loạn stress sau sang chấn, và liên quan đến mức độ thấp của các hỗ trợ xã hội [35] Bạo lực đối với phụ nữ về thể chất, tinh thần, tình dục hay kinh tế là những sự kiện sang chấn tiềm ẩn và có thể là rào cản lớn đối với phụ nữ trong việc tiếp cận các hỗ trợ xã hội Tình trạng bạo lực làm cho phụ nữ bị cô lập, hạn chế và thu rút khỏi các hoạt động tương tác xã hội Bạo lực cũng là rào cản lớn đối với phụ nữ trong việc tìm kiếm các dịch vụ hỗ trợ về SKTT Phụ nữ bị bạo lực cảm thấy khó tin tưởng và khó hình thành được liên minh trị liệu với người cung cấp dịch vụ SKTT phù hợp [35] Do vậy, bạo lực làm cho phụ nữ có nguy cơ cao đối với các vấn đề SKTT và tác động đến khả năng tiếp cận và nhận các hỗ trợ xã hội của

họ

Bạo lực đối với phụ nữ không chỉ tác động đến bản thân người mẹ mà còn

có ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe và sự phát triển của trẻ em Một nghiên cứu

đã chỉ ra rằng việc người mẹ bị bạo lực thể chất có liên quan đến các triệu chứng trầm cảm sau sinh, từ đó có liên quan đến các vấn đề hướng nội ở trẻ Tác giả kết luận rằng người mẹ bị bạo lực thể chất là yếu tố nguy cơ liên quan đến tình trạng SKTT kém, đó là yếu tố dự báo cho các vấn đề hành vi của cha mẹ và vấn

đề hướng nội ở trẻ sau này [17] Như vậy các hỗ trợ xã hội và tình trạng bạo lực đối với phụ nữ cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa SKTT của người mẹ và SKTT của trẻ

Tại Việt Nam, các nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra rằng có một số lượng đáng kể người dân chịu tác động bởi các vấn đề SKTT Trần Văn Cường và

Trang 16

cộng sự (2006) đã tìm hiểu về tỷ lệ của các RLTT phổ biến ở 7 tỉnh của Việt Nam và kết luận rằng có 3,2% người lớn bị trầm cảm [1] Tác giả Đặng Hoàng Minh, Bahr Weiss và Nguyễn Cao Minh (2013) tìm ra tỷ lệ 13,2% trẻ em có vấn

đề SKTT (bằng công cụ SDQ) và 11,9% (bằng công cụ CBCL-VN) Ở những trẻ lớn hơn, có 10,7% trẻ có vấn đề SKTT (công cụ SDQ) và 12,4% (công cụ YSR) Trong các vấn đề SKTT, các vấn đề hướng nội có tỷ lệ cao hơn các vấn

đề hướng ngoại Vấn đề bạn bè, vấn đề tình cảm (theo SDQ), lo âu/trầm cảm, phàn nàn cơ thể (theo CBCL-VN/YSR) có tỷ lệ trên mức bình thường cao nhất [2, tr 106] Như vậy, các RLTT thường gặp như trầm cảm và lo âu là phổ biến trong cộng đồng và có ảnh hưởng tiêu cực đến cả người lớn và trẻ em Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu cụ thể nào tập trung vào mối quan hệ giữa SKTT của người mẹ và SKTT của trẻ cũng như tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ này Chỉ có một chương trình SKTT cộng đồng là “Thực hiện mô hình chăm sóc SKTT và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại Đà Nẵng và Khánh Hòa” tìm thấy mối liên hệ giữa SKTT của trẻ em và người trưởng thành dựa vào dữ liệu thu thập tại thời điểm ban đầu của dự án, đó là việc gia đình có người bị RLTT là một trong hai yếu tố góp phần tăng tỷ lệ mắc các RLTT ở trẻ

em Trẻ sống trong những gia đình có người lớn mắc RLTT có nguy cơ cao hơn gần 5 lần (ở Khánh Hòa) và 14 lần (ở Đà Nẵng) được chẩn đoán có RLTT so với những trẻ sống trong gia đình không có người lớn mắc RLTT Các con số này là

có ý nghĩa thống kê [29, tr 2]

Với thực trạng chưa có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về mối quan hệ giữa SKTT của người mẹ và SKTT của trẻ và các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ trên như nguồn hỗ trợ xã hội và tình trạng bạo lực đối với phụ nữ, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu: “T c của ỗ t ợ x v ạo lực v p ụ ữ

v l ệ ữa TT của ờ ẹ v TT của t ẻ”

2 ục c c

Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa SKTT ở người mẹ và SKTT ở trẻ từ 6 đến 18 tuổi, và xem xét các hỗ trợ xã hội cũng như

Trang 17

vấn đề bạo lực đối với phụ nữ tác động như thế nào đến mối quan hệ này, từ đó đưa ra các khuyến nghị để cải thiện tình trạng SKTT của người mẹ và SKTT của trẻ

3 N ệ vụ c

3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu tìm hiểu các đề tài, công trình khoa học trên thế giới và ở Việt Nam về chủ đề mối liên hệ giữa SKTT của người mẹ và SKTT của trẻ và các yêu tố ảnh hưởng đến mối liên hệ này như hỗ trợ xã hội và tình trạng bạo lực đối với phụ nữ

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với các nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu mối liên quan giữa SKTT của người mẹ và SKTT của trẻ tại 4 phường của TP Đà Nẵng

- Tìm hiểu mối liên quan của hỗ trợ xã hội và tình trạng bạo lực đối với SKTT của người mẹ

- Tìm hiểu các ảnh hưởng của các hỗ trợ xã hội và tình trạng bạo lực đến mối quan hệ giữa SKTT của người mẹ và SKTT của trẻ

4 c t v t ợ c

4.1 Khách thể nghiên cứu

92 phụ nữ nghèo, có biểu hiện trầm cảm mức độ nhẹ và trung bình, độ tuổi từ 18 đến 55, tham gia trong chương trình “Lồng ghép sinh kế để quản lý trầm cảm hiệu quả” (LIFE-DM) do tập đoàn RAND, Hoa Kỳ, kết hợp với tổ chức BasicNeeds tại Việt Nam, Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng, HLHPN thành phố Đà Nẵng thực hiện tại 4 phường là: Hòa Minh, Hòa Cường Nam, Hòa Cường Bắc và Hòa Hiệp Nam của thành phố Đà Nẵng Những phụ nữ này có con trong độ tuổi từ 6 đến 18 Họ trả lời các câu hỏi về tình trạng SKTT của một người con trong độ tuổi đó, nếu họ có nhiều hơn một con trong độ tuổi 6 – 18 thì

họ chọn trẻ nào có chữ cái đầu trong tên gọi xuất hiện trước trong bảng chữ cái A,B,C

Trang 18

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Mối liên quan giữa SKTT của người mẹ và SKTT của trẻ, và xem xét các

hỗ trợ xã hội, tình trạng bạo lực đối với phụ nữ ảnh hưởng đến mối quan hệ này như thế nào

4.3 Giới hạn đề tài

4.3.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa SKTT của người mẹ và SKTT của trẻ và từ đó tìm hiểu tác động của các hỗ trợ xã hội, tình trạng bạo lực đối với phụ nữ ảnh hưởng đến mối quan hệ này

Trong các vấn đề SKTT của người mẹ, chúng tôi chỉ hạn chế tìm hiểu về các biểu hiện trầm cảm và lo âu, còn vấn đề SKTT trẻ em chỉ hạn chế ở 9 nhóm triệu chứng là: nhóm triệu chứng trầm cảm lo âu, nhóm triệu chứng thu mình, nhóm các vấn đề than phiền cơ thể, nhóm các vấn đề xã hội, nhóm các vấn đề tư duy, nhóm các vấn đề chú ý, nhóm các hành vi không vâng lời, nhóm các hành

vi gây hấn, nhóm các vấn đề về tình dục

4.3.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu

Địa bàn khảo sát: Nghiên cứu được thiện trên địa bàn 4 phường là: Hòa Minh, Hòa Cường Nam, Hòa Cường Bắc và Hòa Hiệp Nam của thành phố Đà Nẵng

- SKTT của người mẹ có liên quan như thế nào đến SKTT của trẻ em?

- Các hỗ trợ xã hội liên quan đến SKTT của người mẹ như thế nào?

- Tình trạng bạo lực đối với phụ nữ có liên quan đến SKTT của người mẹ như thế nào?

Trang 19

- SKTT của người mẹ nhận được hỗ trợ xã hội khác như thế nào so với SKTT của người mẹ không nhận được hỗ trợ xã hội? Từ đó dẫn đến tình trạng SKTT của trẻ là con của người mẹ nhận được hỗ trợ xã hội khác như thế nào so với trẻ là con của người mẹ không nhận được hỗ trợ xã hội?

- SKTT của người mẹ bị bạo lực khác như thế nào so với SKTT của người

mẹ không bị bạo lực? Từ đó dẫn đến tình trạng SKTT của trẻ là con của người mẹ bị bạo lực khác như thế nào so với trẻ là con của người mẹ không bị bạo lực?

SKTT của người mẹ có tương quan thuận, trực tiếp với các hỗ trợ xã hội

như mức hỗ trợ xã hội cho người mẹ cao thì SKTT của người mẹ sẽ tốt hơn

6.5 Giả thuyết 5

Những người mẹ bị bạo lực sẽ có SKTT kém hơn so với những người mẹ không bị bạo lực Từ đó dẫn đến kết quả trẻ là con của người mẹ bị bạo lực có nhiều vấn đề SKTT hơn trẻ là con của người mẹ không bị baọ lực

Trang 20

7 ấ t úc ề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương nội dung chính như sau:

- Chương 1: Cơ sở lý luận

- Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

- Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trang 21

ƯƠNG 1

Ơ Ở UẬN

Vấn đề SKTT có tác động lớn đến người dân ở các quốc gia trên thế giới Các RLTT có thể dẫn đến tàn tật, ảnh hưởng đến sự tham gia xã hội đầy đủ và hiệu quả của bệnh nhân Các RLTT thường đi kèm với các bệnh không lây nhiễm và một loạt các vấn đề sức khỏe bao gồm sức khỏe người mẹ trẻ em, bạo lực và chấn thương Các RLTT thường tồn tại cùng với các yếu tố xã hội như nghèo đói, bạo lực gia đình và lạm dụng chất [25]

Có hàng triệu người trên thế giới bị ảnh hưởng bởi các rối loạn tâm thần Trong năm 2004, các rối loạn tâm thần chiếm 13% gánh nặng bệnh tật toàn cầu [25] Trong gánh nặng bệnh tật, nếu chỉ tính riêng về tàn tật thì các RLTT chiếm 25.3% và 33.5% của YLDs (Years lived with disability – số năm sống với tàn tật) ở các nước thu nhập thấp và trung bình Năm 2010, các RLTT và lạm dụng chất là nguyên nhân hàng đầu của YLDs trên toàn thế giới, gánh nặng của các

RLTT và lạm dụng chất đã tăng 37,6% trong giai đoạn 1990 – 2010 [13] Có thể

thấy vấn đề SKTT có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống và ngày càng trở nên trầm trọng

Trong các RLTT, trầm cảm và lo âu rất phổ biến và có tác động tiêu cực đến cả phụ nữ và nam giới, trong đó phụ nữ chịu ảnh hưởng nhiều hơn do các đặc thù về văn hóa xã hội Tỷ lệ trầm cảm trong suốt cuộc đời ở nữ là 11,7%, còn nam giới là 5,6% Theo Tổ chức Y tế Thế giới, trầm cảm là một trong ba nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2004 [38]

Với tầm ảnh hưởng lớn và trên diện rộng của các vấn đề SKTT, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã và đang nỗ lực nghiên cứu tìm các bằng chứng để kêu gọi sự quan tâm, đầu tư ở cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu

Trang 22

1.1 Đ l ậ c c cô t ì c vấ ề

1.1.1 Các nghiên cứu về mối liên quan giữa SKTT của người mẹ và SKTT của trẻ em

1.1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiểu mối liên quan giữa SKTT của người mẹ và SKTT của trẻ Nghiên cứu “Mối quan hệ giữa sức khỏe tâm thần người mẹ và tỷ lệ trầm cảm và lo âu ở trẻ trước độ tuổi

đi học sau chiến tranh ở dải Gaza” của tác giả Thabet Abdel Aziz Mousa và cộng sự, đã điều tra về tỷ lệ trầm cảm và lo âu ở trẻ trước độ tuổi đi học và mối quan hệ với sức khỏe tâm thần của người mẹ 380 trẻ độ tuổi từ 4 đến 6 và mẹ của chúng đã được lựa chọn từ các nhà trẻ ở dải Gaza Trẻ được đánh giá thông qua báo cáo của mẹ về vấn đề trầm cảm và lo âu, còn người mẹ được đánh giá bằng bảng hỏi sức khỏe GHQ, 28 câu Kết quả cho thấy có mối tương quan đáng

kể giữa vấn đề sức khỏe tâm thần của người mẹ với các vấn đề trầm cảm và lo

âu ở trẻ [28, tr 61-70]

Một nghiên cứu khác tìm hiểu về mối liên quan giữa các căng thẳng tâm

lý ở 54 người mẹ Mỹ, gốc Latin (do mẹ tự báo cáo) với các vấn đề hướng nội và hướng ngoại ở 54 trẻ vị thành niên là con của những phụ nữ này (28 nam và 26

nữ, do trẻ tự báo cáo) và tìm hiểu vai trò của hai yếu tố trung gian là sự gắn kết gia đình và quan hệ với bạn bè ảnh hưởng đến mối quan hệ này Kết quả cho thấy các triệu chứng SKTT của người mẹ có tương quan đáng kể với các vấn đề hướng nội ở trẻ gái và các yếu tố như sự gắn kết gia đình và quan hệ bạn bè có vai trò trung gian trong mối quan hệ này [21, tr 103-112]

Một nghiên cứu khác xem xét mối quan hệ giữa các triệu chứng của trầm cảm, lo âu sau sinh ở người mẹ và sự khởi phát của các vấn đề cảm xúc và hành

vi ở trẻ, có cân nhắc đến tác động của các triệu chứng SKTT của người mẹ sau này Mẫu nghiên cứu bao gồm 2891 phụ nữ và trẻ em Nghiên cứu sử dụng công

cụ đánh giá trầm cảm sau sinh Edinburgh Postnatal Depression Scale và thang đánh giá lo âu Crown Crisp Experiential Index ở các giai đoạn của thai kỳ Mẹ

Trang 23

và giáo viên đánh giá sự khởi phát các vấn đề cảm xúc và hành vi ở trẻ bằng công cụ SDQ khi trẻ được 10 – 11 tuổi Nghiên cứu kết luận rằng việc phơi nhiễm với các triệu chứng trầm cảm và/hoặc lo âu trong quá trình thai nghén có tương quan với việc tăng tổng số lần khởi phát các vấn đề cảm xúc và hành vi, thậm chí ngay cả khi kiểm soát các biến về đặc điểm nhân khẩu, tâm lý xã hội của người mẹ [16, tr 161-171]

Trong một nghiên cứu của tác giả Sirian Lisa M về các yếu tố liên quan giữa trầm cảm ở người mẹ và các ảnh hưởng tiêu cực ở trẻ, tác giả đã chỉ ra rằng trẻ là con của những phụ nữ bị trầm cảm thường có nhiều ảnh hưởng tiêu cực hơn trẻ là con của những phụ nữ không bị trầm cảm, bao gồm tăng các vấn đề về hành vi và tâm bệnh [24] Tác giả Weissman, Myrna M khi thực hiện một cuộc

rà soát các nghiên cứu về trầm cảm ở phụ nữ thì đã đưa ra hai kết luận như sau: trầm cảm gây ra những căng thẳng trong hôn nhân và trẻ em thì bị tổn thương do tình trạng trầm cảm của người mẹ [32, tr 19 – 25] Như vậy, ta có thể thấy trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng SKTT của người mẹ có liên quan chặt chẽ đến các vấn đề SKTT của trẻ

1.1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu trong lĩnh vực SKTT chưa nhiều và mới chỉ điều tra tỷ lệ mắc của các rối loạn tâm thần trong cộng đồng Các nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra rằng có một số lượng đáng kể người dân chịu tác động bởi các vấn đề SKTT Trần Văn Cường và cộng sự (2006) đã tìm hiểu về tỷ lệ của các RLTT phổ biến ở 7 tỉnh của Việt Nam và kết luận rằng tỷ lệ mắc các RLTT

là 12,5%, tỷ lệ trầm cảm là 3,2%, tỷ lệ lo âu là 2,27% dân số [1] Theo Nguyễn Văn Siêm (2010) nghiên cứu tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Tây, tỷ

lệ mắc rối loạn trầm cảm là 8,35% dân số > 15 tuổi, tỷ lệ bệnh nhân nữ/nam là 5/1 [4, tr 71-74] Năm 2000, Trần Viết Nghị và cộng sự đã điều tra dịch tễ 10 bệnh tâm thần tại phường Gia Sàng, thành phố Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ rối loạn trầm cảm là 2,6%, tỷ lệ rối loạn lo âu là 2,98% [3, tr 76 - 83] Tác giả Đặng Hoàng Minh, Bahr Weiss và Nguyễn Cao Minh (2013) tìm ra tỷ lệ 13,2% trẻ em

Trang 24

có vấn đề SKTT (bằng công cụ SDQ) và 11,9% (bằng công cụ CBCL-VN) Ở những trẻ lớn hơn, có 10,7% trẻ có vấn đề SKTT (công cụ SDQ) và 12,4% (công cụ YSR) [2, tr 106.] Như vậy theo các kết quả nghiên cứu trên thì các RLTT là phổ biến trong cộng đồng và có ảnh hưởng tiêu cực đến cả người lớn

và trẻ em

Tuy nhiên chưa có nghiên cứu, đề tài khoa học nào tìm hiểu về mối liên quan giữa SKTT của người mẹ và SKTT của trẻ Chỉ có duy nhất một chương trình SKTT cộng đồng là “Thực hiện mô hình chăm sóc SKTT và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại Đà Nẵng và Khánh Hòa” của Quỹ Cựu chiến binh

Mỹ (VVAF) tìm thấy mối liên hệ giữa SKTT của trẻ em và người trưởng thành dựa vào dữ liệu thu thập tại thời điểm ban đầu của dự án, đó là việc trong gia đình có người bị RLTT và khiếm khuyết về chức năng thì có ảnh hưởng lớn đến SKTT ở trẻ [29, tr 2.] Như vậy, có thể thấy tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về mối liên hệ giữa SKTT của người mẹ và SKTT của trẻ

1.1.2 Các nghiên cứu về tác động của hỗ trợ xã hội đối với SKTT của phụ nữ

1.1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Mối liên hệ giữa hệ giữa hỗ trợ xã hội và SKTT của phụ nữ là một chủ đề quan trọng và thú vị, đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới thực hiện như nghiên cứu của tác giả Reid Keishia và cộng sự, tìm hiểu mối liên hệ giữa hỗ trợ

xã hội, căng thẳng và trầm cảm sau sinh ở người mẹ Nghiên cứu chỉ ra rằng những hỗ trợ về vật chất và tinh thần từ người chồng là yếu tố bảo vệ phụ nữ khỏi nguy cơ trầm cảm sau sinh Các hỗ trợ từ bạn bè và gia đình của người phụ

nữ có tác dụng giảm thiểu các tác động của căng thẳng Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những người hỗ trợ khác nhau trong mạng lưới xã hội của phụ nữ cũng rất quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh cấu trúc gia đình, sự hỗ trợ từ chồng là yếu

tố bảo vệ đáng kể cho hôn nhân [22] Hay trong nghiên cứu: “Việc nhận hỗ trợ

từ chồng trong quá trình mang thai dự báo mức độ căng thẳng thấp ở người mẹ

và trẻ sơ sinh” năm 2012 của tác giả Stapleton và cộng sự, tác giả tìm hiểu về mối quan hệ của phụ nữ với chồng trong quá trình mang thai và kiểm nghiệm

Trang 25

giả thiết nghiên cứu rằng việc nhận được hỗ trợ từ chồng trước khi sinh là một yếu tố dự báo đáng kể về thay đổi cảm xúc căng thẳng ở người mẹ từ giai đoạn giữa thai kỳ cho đến sau khi sinh 277 phụ nữ có thai đã được phỏng vấn và kết quả cho thấy những phụ nữ nhận được hỗ trợ mạnh mẽ từ chồng thì có mức độ căng thẳng thấp hơn và con của họ cũng được báo cáo là ít căng thẳng hơn Mối quan hệ hỗ trợ, có chất lượng trong quá trình mang thai có thể góp phần cải thiện tình trạng thoải mái của người mẹ và trẻ sau khi sinh, chỉ ra vai trò quan trọng của các mối quan hệ vợ chồng trong việc can thiệp các vấn đề SKTT, mang lại lợi ích cho cả mẹ và con [26, tr 453-463] Trong nghiên cứu “Vai trò của hỗ trợ xã hội và các yếu tố bảo vệ khác”, năm 2002, tác giả Carlson và cộng

sự đã tìm hiểu vai trò của hỗ trợ xã hội và các yếu tố bảo vệ khác như giáo dục, việc làm, lòng tự trọng, sức khỏe, không có khó khăn về tài chính đối với trầm cảm, lo âu và tình trạng bạo lực tại các thời điểm: hiện tại, quá khứ và thời thơ

ấu Nghiên cứu đã phỏng vấn 557 phụ nữ tuổi từ 18 đến 44, những người đã được can sàng lọc vấn đề bạo lực gia đình ở cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu Kết quả cho thấy so với nhóm phụ nữ không bị bạo lực, những phụ nữ bị bạo lực

ở thời điểm sau 6 tháng ít nhận được hỗ trợ từ chồng cũng như từ những người khác Các yếu tố bảo vệ nêu trên có tác dụng trong việc hạn chế phát triển các vấn đề như trầm cảm và lo âu [7, tr 720-745]

1.1.2.1 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Tại Việt Nam, chúng tôi không tìm được nhiều nghiên cứu chuyên về hỗ trợ xã hội đối với SKTT của phụ nữ Nhóm tác giả Leggett Amanda và cộng sự

có đăng tải nghiên cứu “Ảnh hưởng của hỗ trợ xã hội và sức khỏe đến các triệu chứng trầm cảm và lo âu trên nhóm người cao tuổi Việt Nam” trên tạp chí Sức khỏe tâm thần và Tuổi già, năm 2012 Nghiên cứu tìm hiểu về tần suất và sự tương quan của 2 nhóm triệu chứng trầm cảm và lo âu ở 600 người từ 55 tuổi trở lên trên địa bàn Đà Nẵng Kết quả nghiên cứu cho thấy người cao tuổi có biểu hiện trầm cảm và lo âu rất cao, đặc biệt là những phụ nữ học vấn thấp hoặc có khó khăn về tài chính Tình trạng sức khỏe khi về già, sự hỗ trợ về vật chất và

Trang 26

tinh thần là các yếu tố dự báo các triệu chứng trầm cảm và lo âu Nghiên cứu gợi ý cần lồng ghép việc sàng lọc các vấn đề SKTT cho người cao tuổi trong hệ thống chăm sóc sức khỏe Việt Nam và chú ý đến các yếu tố liên quan với trầm cảm và lo âu như khó khăn về tài chính, các vấn đề sức khỏe, thiếu các hỗ trợ tinh thần để giảm thiểu các triệu chứng của trầm cảm và lo âu [15, tr 780-786] Một nghiên cứu khác về “Vốn xã hội của người mẹ và tình trạng sức khỏe trẻ

em ở Việt Nam” của tác giả Harpham và cộng sự, năm 2006, tìm hiểu về mối tương quan giữa vốn xã hội của người mẹ và tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần của trẻ em ở Việt Nam Nghiên cứu mô tả cắt ngang, đo lường cấu trúc vốn

xã hội của người mẹ (bao gồm là hội viên của nhóm, quyền công dân và các hỗ trợ xã hội) và các vấn đề sức khỏe thể chất và tinh thần ở trẻ Kết quả cho thấy mức vốn xã hội cao của người mẹ tương quan với nguy cơ các vấn đề sức khỏe thấp ở trẻ [12, tr 865-871]

1.1.3 Các nghiên cứu về tác động của tình trạng bạo lực đối với phụ nữ đối với SKTT của phụ nữ và trẻ em

1.1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Vấn đề bạo lực đối với phụ nữ đã được các nhà xã hội học, y tế công cộng trên thế giới tìm hiểu sâu sắc, cặn kẽ Liên quan đến SKTT, nhiều tác giả cũng

đã nghiên cứu vấn đề này như Ribeiro Wagner và cộng sự đã tiến hành một cuộc

rà soát các nghiên cứu về việc bị bạo lực và các vấn đề SKTT ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình, năm 2009 Mục tiêu của nghiên cứu là tìm kiếm các bằng chứng dịch tễ học về tỷ lệ bị bạo lực và mối quan hệ với các vấn

đề SKTT ở các nước thu nhập thấp và trung bình Kết quả cho thấy, vấn đề bạo lực đối với phụ nữ là khá phổ biến và có liên quan đáng kể đến các vấn đề SKTT Đối với trẻ em, tương quan giữa bạo lực với các vấn đề hướng ngoại, ý định tự tử và lạm dụng tình dục là cao nhất Đối với phụ nữ, có sự tương quan giữa các triệu chứng trầm cảm/lo âu với bạo lực tinh thần và bạo lực tình dục Trong cộng đồng dân cư nói chung, tỷ lệ rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) tương quan cao với bạo lực tình dục, bắt cóc, và tiếp xúc liên tục với các sự kiện

Trang 27

căng thẳng Bạo lực cũng liên quan đến các rối loạn tâm thần phổ biến [23] Trong một nghiên cứu khác về tiền sử bị bạo lực, trầm cảm sau sinh và phong cách làm cha mẹ liên quan với các vấn đề hướng nội ở trẻ trước tuổi đi học, kết quả cho thấy người mẹ bị bạo lực thể chất có liên quan đến các triệu chứng trầm cảm sau sinh, từ đó liên quan đến các vấn đề hướng nội ở trẻ Vì vậy, việc người

mẹ bị bạo lực về thể chất là yếu tố nguy cơ cho tình trạng SKTT kém [17] Tác giả Peltzer Karl thực hiện nghiên cứu các hậu quả SKTT do bạo lực gây ra đối với phụ nữ ở Quận Vhembe, Nam Phi, năm 2013 Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá hậu quả của các hình thức bạo lực (bạo lực thể chất, tình dục, tinh thần) với các triệu chứng của PTSD và trầm cảm 268 phụ nữ từ 18 tuổi trở lên được phỏng vấn và kết quả cho thấy hai loại bạo lực là bạo lực thể chất và tình dục có mối tương quan đáng kể với các triệu chứng của PTSD, trong khi đó bạo lực tinh thần có mức tương quan trung bình với các triệu chứng của trầm cảm Các hình thức bạo lực đối với phụ nữ được cho là góp phần gây ra tình trạng SKTT kém [20, tr 545-550] Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu khác đã cho thấy tình trạng bạo lực còn là rào cản tìm kiếm các dịch vụ chăm sóc SKTT của phụ nữ, ảnh hưởng đến chất lượng công việc, chất lượng cuộc sống của họ Yếu tố bạo lực còn tương tác với tình trạng nghèo đói ảnh hưởng trầm trọng đến không chỉ SKTT của người phụ nữ mà còn ảnh hưởng đến SKTT của cả nam giới và trẻ

em trong gia đình

1.1.3.1 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu xã hội học về chủ đề bạo lực gia đình như các hình thức bạo lực, nguyên nhân của bạo lực, hậu quả của bạo lực… đối với phụ nữ Tuy nhiên, các hậu quả về mặt SKTT còn chưa được nghiên cứu

kỹ lưỡng, bài bản Một số nghiên cứu tiêu biểu như nghiên cứu của tác giả Đỗ Ngọc Khanh – Viện Tâm lý học, tìm hiểu về các niềm tin văn hóa, vấn đề bạo lực đối và SKTT của phụ nữ Việt Nam, năm 2013 Mục đích của nghiên cứu là đánh giá mối liên quan giữa tình trạng bạo lực, các triệu chứng SKTT và các niềm tin văn hóa ở phụ nữ Việt Nam Kết quả nghiên cứu này cũng nhất quán

Trang 28

với các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, rằng bạo lực đối với phụ

nữ có mối tương quan đáng kể đối với các triệu chứng lo âu, trầm cảm và ý tưởng tự sát [11, tr 149-163] Tác giả Nguyễn Đăng Vững, trường Đại học Y Hà Nội, và cộng sự thực hiện nghiên cứu “Bạo lực đối với phụ nữ, hậu quả về sức khỏe và hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở nông thôn Việt Nam” năm 2009 883 phụ nữ tại Huyện Ba Vì, Hà Tây, được lựa chọn ngẫu nhiên để tiến hành phỏng vấn Kết quả cho thấy phụ nữ bị bạo lực thì có nguy cơ ảnh hưởng đến trí nhớ, đau nhức khó chịu, buồn, trầm cảm và có suy nghĩ tự sát cao hơn so với những phụ nữ không bị bạo lực Nghiên cứu kết luận rằng bạo lực thể chất và/hoặc bạo lực tình dục là phổ biến ở Việt Nam, và có mối tương quan với đau nhức, chấn thương và các vấn đề SKTT ở phụ nữ nạn nhân [30, tr 178-182]

1 2 t vấ ề lý l ậ

1.2.1 Sức khỏe tâm thần

Sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần thường được thảo luận theo cách thức cho rằng chúng hoàn toàn tách biệt với nhau nhưng trên thực tế chúng giống như hai mặt của một đồng xu Nếu một trong hai thứ bị ảnh hưởng bằng bất cứ cách nào thì thứ còn lại chắc chắn bị ảnh hưởng Chỉ cần cơ thể mệt mỏi thì tinh thần cũng rơi vào trạng thái như vậy

Theo WHO, SKTT được định nghĩa là “trạng thái lành mạnh mà trong đó

cá nhân nhận ra những năng lực của chính mình để có thể đương đầu với các stress thông thường của cuộc sống, có thể làm việc năng suất và hiệu quả và có thể tạo ra những đóng góp cho chính cộng đồng của mình” [38]

Theo từ điển tâm lý học, SKTT là một trạng thái thoải mái, dễ chịu về tinh thần, không có các biểu hiện rối loạn về tâm thần, một trạng thái đảm bảo cho sự điều khiển hành vi, hoạt động phù hợp với môi trường [Vũ Dũng, 208, 719]

Như vậy theo định nghĩa của WHO, SKTT là một trạng thái sức khỏe mà mỗi cá nhân có thể nhận biết và phát huy được tiềm năng của bản thân để vượt qua những khó khăn trong cuộc sống và tạo ra được của cải vật chất đóng góp cho bản thân, gia đình và xã hội Định nghĩa của WHO chú trọng đến cả kết quả

Trang 29

đầu ra của SKTT, chứ không chỉ đơn thuần là không có biểu hiện rối loạn tâm thần và hành vi phù hợp với tình huống như trong định nghĩa của từ điểm tâm lý học

Theo một tài liệu của Trung tâm kiểm soát và phòng chống dịch bệnh Hoa

Kỳ (CDC) các chỉ số về SKTT bao gồm 3 lĩnh vực như sau:

- Thoải mái về cảm xúc: như có được sự thỏa mãn, hạnh phúc, vui vẻ, bình

an

- Thoải mái về tâm lý: như tự chấp nhận bản thân, tự phát triển bản thân bằng việc cởi mở học hỏi những điều mới, lạc quan, hy vọng, có mục đích sống, có định hướng tương lai, có các mối quan hệ tích cực, thoải mái về tinh thần

- Thoải mái về xã hội: được xã hội chấp nhận, có niềm tin vào tiềm năng của cá nhân và xã hội, có giá trị cá nhân và có ích với xã hội, có cảm giác kết nối với cộng đồng [39]

1.2.2 Rối loạn tâm thần

Trái ngược với tình trạng SKTT lành mạnh là các RLTT Theo WHO, RLTT bao gồm một loạt các vấn đề với các triệu chứng khác nhau Tuy nhiên các triệu chứng thường đặc trưng bởi sự kết hợp của các suy nghĩ, cảm xúc, hành vi, và các mối quan hệ kỳ lạ

Còn theo CDC, RLTT được định nghĩa là các vấn đề sức khỏe gây ra bởi

sự thay đổi về suy nghĩ, cảm xúc hoặc hành vi (hoặc kết hợp các yếu tố đó) dẫn đến sự đau khổ và/hoặc giảm/mất các chức năng sống

Có hai điểm quan trọng để hình thành cơ sở nắm bắt về RLTT, đó là:

- Đã có những tiến bộ vượt bậc trong hiểu biết về nguyên nhân và cách điều trị các RLTT Hầu hết các biện pháp điều trị có thể được thực hiện một cách hiệu quả

- RLTT bao gồm một phạm vi rộng lớn về các vấn đề sức khỏe Với đa số mọi người, RLTT đi kèm với các rối loạn hành vi như bạo lực, kích động Hầu hết đây là các RLTT nặng Tuy vậy, đa số những người có RLTT có

Trang 30

cách cư xử và bề ngoài không khác gì so với người bình thường Vấn đề SKTT nói chung bao gồm cả rối loạn trầm cảm, lo âu, nghiện chất và bạo lực gia đình

Nguyên nhân của các RLTT bao gồm các yếu tố tâm lý, xã hội và sinh học Các yếu tố này xác định mức độ SKTT của cá nhân tại mỗi thời điểm, VD tình trạng căng thẳng kéo dài kết hợp với khó khăn về tài chính, học vấn thấp được coi là yếu tố nguy cơ đối với SKTT của mỗi cá nhân và cộng đồng Tình trạng SKTT kém thường đi kèm với căng thẳng tại nơi làm việc, phân biệt đối

xử đối với phụ nữ, sự tẩy chay của xã hội, lối sống không lành mạnh, tình trạng bạo lực, các bệnh về thể chất và sự vi phạm nhân quyền Các yếu tố tâm lý và tính cách cũng góp phần tăng nguy cơ đối với các RLTT Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng đó là nguyên nhân sinh học bao gồm các yếu tố về gen dẫn đến việc mất cân bằng các chất hóa học trong não bộ

xã hội thì yếu tố giới quy định quyền lực và sự kiểm soát khác nhau ở nam và nữ

về vị trí xã hội, tình trạng sức khỏe, tình trạng phơi nhiễm với các nguy cơ cụ thể của RLTT Việc giảm các tỷ lệ RLTT ở phụ nữ sẽ góp phần đáng kể giảm gánh nặng bệnh tật gây ra bởi các RLTT

Các yếu tố nguy cơ cụ thể đối với SKTT của phụ nữ bao gồm bất bình đẳng giới, bạo lực đối với phụ nữ, những bất lợi về kinh tế, xã hội, giáo dục của phụ nữ, bất bình đẳng trong thu nhập, vị trí thấp trong xã hội, trách nhiệm cao trong việc chăm sóc các thành viên trong gia đình… Các yếu tố này tác tác động đơn lẻ hoặc kết hợp với nhau gây ra tình trạng SKTT kém cho phụ nữ

Trang 31

Có khoảng 20% bệnh nhân đến các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu ở các nước đang phát triển có các vấn đề lo âu, trầm cảm (WHO) Tại các cơ sở này, các dấu hiệu của RLTT không được phát hiện sớm dẫn tới việc không được điều trị Giao tiếp giữa nhân viên y tế và bệnh nhân thường mang tính “chỉ đạo” làm cho phụ nữ khó bộc bạch các vấn đề về cảm xúc, tâm lý Khi phụ nữ nói ra vấn đề của mình, cán bộ y tế thường có định kiến giới dẫn đến việc phụ nữ được điều trị quá ít hoặc quá nhiều so với nhu cầu thực của họ

Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng có 3 yếu tố chính góp phần bảo vệ SKTT ở phụ nữ, đặc biệt là trầm cảm, đó là:

- Có quyền tự chủ để đáp ứng trong các tình huống khó khăn

- Có thể tiếp cận các nguồn lực mà ở đó họ được phép lựa chọn và ra quyết định

- Có sự hỗ trợ tinh thần từ các thành viên trong gia đình, bạn bè hoặc nhân viên y tế

Trong luận văn này, các vấn đề SKTT của người mẹ được sử dụng để phân tích chỉ bao gồm là các biểu hiện trầm cảm và lo âu lan tỏa, mà không bao gồm bất kỳ biểu hiện của một rối loạn tâm thần nào khác

sự phát triển của trẻ, khả năng học tập, cơ hội phát triển các tiềm năng trong

Trang 32

tương lai Trẻ em có RLTT phải đối mặt với các thách thức lớn như sự kỳ thị, phân biệt đối xử, cô lập, thiếu khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe

và giáo dục

RLTT ở trẻ em bao gồm tất cả các RLTT có thể được chẩn đoán và bắt đầu từ lứa tuổi nhỏ Các RLTT ở trẻ là những thay đổi đáng kể trong cách mà trẻ học tập, cư xử hoặc đối mặt với cảm xúc của chính mình Một số RLTT phổ biến ở trẻ bao gồm rối loạn tăng động giảm chú ý, rối loạn hành vi, rối loạn trầm cảm và lo âu… Các RLTT ở trẻ có thể quản lý và điều trị được Việc chẩn đoán

và điều trị sớm các RLTT ở trẻ góp phần quan trọng trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống ở trẻ sau này

1.2.3 Hỗ trợ xã hội

Hỗ trợ xã hội được định nghĩa là các nguồn lực bao gồm hỗ trợ vật chất, tâm lý xã hội và hỗ trợ thông tin, được cung cấp bởi người này cho người khác

để giúp họ đối phó với các căng thẳng trong cuộc sống [36]

Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ định nghĩa hỗ trợ xã hội là một mạng lưới gia đình, bạn bè, hàng xóm và các thành viên trong cộng đồng có mặt khi cần thiết để giúp đỡ về tinh thần, vật chất và tài chính [40]

Theo Albrecht và Adelman (1987) (Linking Health Communication with Social Support), thì hỗ trợ xã hội được định nghĩa là giao tiếp bằng lời hoặc không lời giữa người nhận và người truyền để giảm sự bất an về tình huống, về bản thân hoặc về các mối quan hệ và cải thiện nhận thức về kiểm soát bản thân trong các tình huống cuộc sống

Gottlieb (2000) định nghĩa hỗ trợ xã hội bao quát hơn, đó là một quá trình tương tác trong các mối quan hệ mà cải thiện khả năng ứng phó, sự quý trọng,

sở hữu thông qua sự trao đổi các nguồn lực về vật chất, tâm lý xã hội

Schaefer, Coyne và Lazarus (1981) đã mô tả các hình thức hỗ trợ xã hội, bao gồm 5 loại:

- Hỗ trợ cảm xúc: là sự giao tiếp mà đáp ứng được nhu cầu về cảm xúc của mỗi cá nhân

Trang 33

- Hỗ trợ lòng tự trọng: là sự giao tiếp mà giúp cá nhân tin tưởng vào khả năng của bản thân rằng họ có thể giải quyết vấn đề hoặc có thể làm được một nhiệm vụ được giao

- Hỗ trợ mạng lưới: là sự giao tiếp mà khẳng định rằng cá nhân thuộc về một nhóm nào đó và lưu ý nhóm sẵn sàng hỗ trợ

- Hỗ trợ thông tin: cung cấp những thông tin hữu ích và cần thiết

- Hỗ trợ hành động thiết thực: bất kỳ sự hỗ trợ nào về vật chất

Nguồn hỗ trợ xã hội bao gồm từ gia đình, bạn bè, thầy cô giáo, nhân viên

y tế hay các tổ chức trong cộng đồng Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng các hỗ trợ

từ vợ/chồng có thể điều tiết các ảnh hưởng tiêu cực từ căng thẳng trong công việc, các hỗ trợ từ bạn bè có tác dụng giải tỏa những căng thẳng trong hôn nhân… Các hỗ trợ xã hội không chỉ có ảnh hưởng tích cực đến SKTT của người trưởng thành mà còn góp phần giúp trẻ phát triển các năng lực xã hội sau này

Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy, phụ nữ thường cung cấp các hỗ trợ

xã hội cho người khác nhiều hơn và hay tham gia vào các mạng lưới xã hội, đồng thời phụ nữ cũng có xu hướng tìm kiếm các hỗ trợ xã hội để đối mặt với các căng thẳng, đặc biệt là căng thẳng trong hôn nhân nhiều hơn Hỗ trợ xã hội không chỉ giúp người ta cảm thấy tốt hơn mà còn giúp người ta đối mặt với những thách thức, dẫn đến cải thiện tình trạng sức khỏe bao gồm cả sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần

Trong luận văn này, hỗ trợ xã hội cho người mẹ được xác định bao gồm các hình thức như: được giúp đỡ việc nhà khi bị ốm, người mẹ được giãi bày các khó khăn, người mẹ được cung cấp các thông tin cần thiết, người mẹ được giúp

đỡ khi bị ốm nặng phải nằm một chỗ, người mẹ được đưa đến bác sỹ khám bệnh

1.2.4 Tình trạng bạo lực đối với phụ nữ

Trang 34

Liên Hiệp Quốc định nghĩa bạo lực đối với phụ nữ là bất kỳ hành động nào dẫn đến các tổn thương về thể chất, tinh thần, tình dục hoặc gây ra đau khổ cho phụ nữ xảy ra ở nơi công cộng hay trong cuộc sống riêng tư

Theo một tài liệu của CDC, bạo lực đối với phụ nữ là một vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng và có thể ngăn ngừa được Thuật ngữ bạo lực đối với phụ nữ bao gồm bạo lực thể chất, tình dục, quấy nhiễu và gây hấn về tâm lý (bao gồm cả hành vi cưỡng ép) gây ra bởi chồng/người yêu/bạn tình hiện tại hoặc trước đây

Bạo lực đối với phụ nữ có thể khác nhau về tần suất và mức độ, nó có thể kéo dài liên tục, gây ra những tác động lâu dài và các bệnh mạn tính

Có 4 hình thức bạo lực chính:

- Bạo lực về thể chất: là hành vi sử dụng sức lực có chủ ý có thể dẫn đến thương tật, tử vong cho người khác Bạo lực thể chất bao gồm cào, đẩy, ném, tóm, cắn, bóp cổ, giật tóc, tát, đấm, đánh, đốt, sử dụng các vũ khí, hoặc trói buộc cơ thể… Bạo lực thể chất cũng bao gồm việc cưỡng ép người khác thực hiện các hành vi trên

- Bạo lực tình dục: được chia thành 5 nhóm, bất kỳ hành vi nào sau đây đều cấu thành bạo lực tình dục, cho dù là mới thử hay đã thực hiện Thêm vào

đó tất cả hành vi này xảy ra mà không có sự đồng ý của nạn nhân, bao gồm cả những trường hợp nạn nhân không có khả năng đồng ý do trong tình trạng say sỉn (VD bất lực, không tỉnh táo, không nhận thức được) do

sử dụng hoặc bị ép sử dụng rượu hoặc ma túy

o Cưỡng hiếp: Bao gồm cả việc có ý định hoặc đã thực hiện hành vi này, cưỡng ép hoặc dùng rượu/ma túy để có quan hệ tình dục (đường âm đạo, miệng, hoặc hậu môn) Cưỡng hiếp xảy ra khi thủ phạm sử dụng sức để tấn công nạn nhân hoặc đe dọa làm tổn thương nạn nhân

o Nạn nhân bị ép thực hiện quan hệ tình dục với người khác: Bao gồm cả việc có ý định hoặc đã thực hiện hành vi này, cưỡng ép

Trang 35

hoặc dùng rượu/ma túy dẫn đến việc nạn nhân bị ép quan hệ tình dục với thủ phạm hoặc với ai đó mà không có sự đồng ý của nạn nhân

o Dùng lời nói ép quan hệ tình dục: Bao gồm những tình huống mà nạn nhân bị gây sức ép hoặc hăm dọa hoặc lạm dụng quyền lực để nạn nhân phải đồng ý quan hệ tình dục

o Quan hệ tình dục không mong muốn: Bao gồm việc đụng chạm có chủ đích đến nạn nhân hoặc làm cho nạn nhân phải đụng chạm vào thủ phạm vào các bộ phận sinh dục, hậu môn, háng, ngực, đùi, hoặc mông mà không có sự đồng ý của nạn nhân

o Trải qua những tình huống liên quan đến tình dục không mong muốn: Bao gồm những tình huống liên quan đến tình dục như tiếp xúc với các tình huống khiêu dâm, quấy rối tình dục bằng lời nói hoặc hành động, đe dọa bạo lực tình dục, quay phim, chụp ảnh quan hệ tình dục rồi phát tán

- Quấy nhiễu: có đặc điểm lặp đi lặp lại, không mong muốn dẫn đến sợ hãi hoặc lo lắng về sự an toàn của bản thân hoặc của người thân trong gia đình hoặc bạn bè VD như gọi điện thoại liên tục, email hoặc nhắn tin liên tục, gửi thiếp, gửi thư, gửi hoa hoặc các đồ vật khác mà nạn nhân không muốn, theo dõi, do thám, tiếp cận hoặc xuất hiện ở những nơi nạn nhân không muốn, đột nhập vào nhà hoặc vào xe của nạn nhân, phá hoại các đồ đạc của nạn nhân, làm tổn thương hoặc đe dọa thú nuôi, đe họa vể thể chất đối với nạn nhân

- Gây hấn về tâm lý: là việc sử dụng lời nói hoặc hành động với ý định làm tổn thương cảm xúc, tinh thần và/hoặc kiểm soát người khác Hành vi gây hấn tâm lý có thể bao gồm thể hiện sự giận dữ (gọi tên, làm nhục), cưỡng

ép kiểm soát (hạn chế tiếp cận với các phương tiện giao thông, tiền bạc, bạn bè, gia đình, kiểm soát quá mức việc đi đâu, làm gì), đe dọa bạo lực thể chất hoặc tình dục, kiểm soát sức khỏe sinh sản/tình dục (VD từ chối

Trang 36

sử dụng biện pháp tránh thai, ép phá thai), lợi dụng điểm yếu của nạn nhân (VD nạn nhân khuyết tật, nạn nhân nhập cư), cung cấp thông tin sai

lệch cho nạn nhân để họ nghi ngờ chính bản thân họ (trò chơi trí não)

[41]

Theo báo cáo của WHO dựa trên số liệu sẵn có của 80 quốc gia thì có khoảng 35% phụ nữ bị bạo lực thể chất hoặc bạo lực tình dục, ở một số khu vực, con số này còn cao hơn Các yếu tố nguy cơ của tình trạng bạo lực bao gồm:

- Trình độ học vấn thấp

- Chứng kiến bạo lực gia đình khi còn bé

- Nhân cách chống đối xã hội

- Lạm dụng rượu bia

- Thái độ chấp nhận bạo lực và sự bất bình đẳng giới của người dân trong cộng đồng

- Không thỏa mãn trong hôn nhân

- Khó khăn trong giao tiếp giữa vợ và chồng

Các hậu quả của bạo lực đối với phụ nữ bao gồm hậu quả về thể chất, tâm thần ngắn và dài hạn cho nạn nhân như:

- Tự tử

- Nguy cơ mắc trầm cảm, rối loạn PTSD, rối loạn giấc ngủ…

- Chấn thương

- Các vấn đề thực thể như đau đầu, đau lưng, rối loạn tiêu hóa…

- Các vấn đề sức khỏe sinh sản như mang thai ngoài ý muốn, đẻ non, chết chu sinh…

Đối với trẻ em, tình trạng bạo lực cũng có những ảnh hưởng nặng nề như:

- Rối loạn cảm xúc và hành vi, điều này có thể dẫn đến việc lặp lại các hành

vi bạo lực ở trẻ sau này

- Các vấn đề về sức khỏe thể chất như suy dinh dưỡng, tiêu hóa

1.2.5 SKTT và các vấn đề liên quan

1.2.5.1 SKTT và các vấn đề kinh tế xã hội

Trang 37

Đói nghèo là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến SKTT Ở các nước đã và đang phát triển thì đói nghèo vừa là nguyên nhân, vừa là hậu quả của các RLTT Các nhóm đối tượng có hoàn cảnh khó khăn phải đối mặt với gánh nặng về khả năng dễ bị tổn thương bởi RLTT Các nhóm này bao gồm phụ

nữ, trẻ em

Người nghèo thường phải trải qua khó khăn về tâm lý, môi trường khiến cho những tổn thương của họ từ RLTT ngày càng tăng lên Những người có RLTT, đặc biệt là các rối loạn mạn tính thường có nguy cơ thất nghiệp, vô gia

cư, đối mặt với sự kỳ thị của xã hội Những yếu tố này, ngược lại, làm tăng nguy

cơ của đói nghèo Những người nghèo phải đối mặt với những trở ngại đáng kể khi tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc SKTT, có thể là không có khả năng chi trả, không sẵn có hoặc không đáp ứng được nhu cầu của họ

Bên cạnh yếu tố nghèo đói, SKTT còn liên quan đến giáo dục, khủng hoảng kinh tế xã hội, những xung đột và thảm họa, yếu tố môi trường và gia đình, yếu tố hỗ trợ xã hội:

- Trong các nghiên cứu ở các quốc gia đang phát triển thì giáo dục là một trong những yếu tố dự báo về RLTT Giáo dục có thể cung cấp phương tiện để thoát nghèo và những cách khác nhau để giải quyết vấn đề

- Những khủng hoảng và trục trặc về kinh tế xã hội dẫn đến những thay đổi nhanh chóng và sự suy giảm tiêu chuẩn sống, ảnh hưởng đến tình trạng SKTT của con người

- Những thảm họa tự nhiên như động đất, song thần, bão lũ… gây ra những ảnh hưởng nặng nề về thể chất và tâm thần cho con người Hầu hết, người sống ở các nước đang phát triển có kỹ năng hạn chế để xử lý những vấn

đề này Kết quả thường thấy là các rối loạn PTSD

- Yếu tố môi trường, gia đình có thể ảnh hưởng đến sự bắt đầu, quá trình phát triển và kết quả của các RLTT Người ta quan sát thấy có sự tích lũy các sự kiện cuộc sống ngay trước khi bắt đầu các RLTT Các sự kiện lớn

Trang 38

trong cuộc sống đóng vai trò như những tác nhân gây ra căng thẳng, xảy

ra nhanh chóng và liên tục làm tăng nguy cơ mắc các RLTT

- Tình trạng kinh tế xã hội thấp có thể làm giảm khả năng tham gia vào các hoạt động xã hội của một người Thiếu trợ giúp xã hội và sự suy giảm các quan hệ thân thuộc là yếu tố gây căng thẳng chủ yếu đối với người di cư

1.2.5.2 SKTT và vấn đề giới

Một đánh giá của WHO chỉ ra rằng: “Sức khỏe phụ nữ không thể tách khỏi địa vị của họ trong xã hội Sức khỏe phụ nữ được hưởng lợi từ sự bình đẳng bị tác động bởi kỳ thị” Vấn đề giới ảnh hưởng đến tình trạng SKTT ở mọi mức độ - cá nhân, nhóm và môi trường Yếu tố giới có thể tương tác với các yếu

tố khác như tuổi, cấu trúc gia đình, giáo dục, nghề nghiệp, thu nhập và hỗ trợ xã hội để quyết định tình trạng SKTT của mỗi cá nhân Bất bình đẳng giới không chỉ tồn tại ở tính nhạy cảm và khả năng bị tác động bởi các rủi ro khác nhau mà còn ở việc bất bình đẳng trong quản lý cuộc sống và kiểm soát vấn đề sức khỏe

Sự bất bình đẳng đó tạo nên, duy trì và tăng thêm những yếu tố rủi ro đe dọa SKTT của phụ nữ

Trang 39

ƯƠNG 2

TỔ ƯƠNG NG N U

2 1 ọ c

Chúng tôi chọn tất cả 92 phụ nữ nghèo bị trầm cảm từ mức độ nhẹ đến trung bình tham gia vào dự án LIFE-DM tại 4 phường: Hòa Minh, Hòa Cường Nam, Hòa Cường Bắc, Hòa Hiệp Bắc của Thành phố Đà Nẵng Các phụ nữ này

có ít nhất một con trong độ tuổi từ 6 đến 18 Các phụ nữ này trả lời các câu hỏi trong bảng CBCL-VN về một người con của họ Nếu trường hợp phụ nữ có nhiều hơn một con trong độ tuổi 6 - 18 thì người mẹ được hướng dẫn để chọn một trẻ mà có chữ đầu tiên trong tên gọi của trẻ xuất hiện trước trong bảng chữ cái A,B,C

92 phụ nữ này được dự án LIFE-DM chia làm 2 nhóm, nhóm can thiệp và nhóm đối chứng Tất cả phụ nữ được lựa chọn tham gia nghiên cứu đều phải đảm bảo đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn như sau:

- Không có loạn thần, hưng cảm, liên quan đến rượu, hoặc các rối loạn khác

- Không có nguy cơ tự sát

Phụ nữ trong nhóm can thiệp (Số lượng 53 người mẹ ở phường Hòa Minh

và Hòa Cường Nam) được cung cấp các dịch vụ từ dự án như sinh hoạt nhóm trầm cảm, vay vốn làm sinh kế Còn phụ nữ trong nhóm can thiệp (Số lượng 39 người mẹ ở phường Hòa Hiệp Nam và Hòa Cường Bắc) thì không nhận được các dịch vụ từ dự án

2.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của người mẹ tham gia nghiên cứu

Trang 40

Thông tin về các đặc điểm nhân khẩu của người mẹ tham gia nghiên cứu như sau:

Bảng 2.1 Đặc điểm nhân khẩu học của người mẹ tham gia nghiên cứu

Ngày đăng: 26/09/2020, 00:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w