1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Địa vị pháp lý của Chính phủ theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) - xu hướng phát triển và hoàn thiện : Luận văn ThS. Luật: 60 38 01

102 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 912,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp mới đạt mục đích là tăng cường trách nhiệm của Chính phủ trước cơ quan cao nhất của quyền lực Nhà nước mà chưa thể hiện được tính độc lập tương đối vốn có

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

- -

HOÀNG THỊ QUỲNH MAI

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CHÍNH PHỦ THEO HIẾN PHÁP

1992 (SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2001) – XU HƯỚNG PHÁT

TRIỂN VÀ HOÀN THIỆN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

- -

HOÀNG THỊ QUỲNH MAI

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CHÍNH PHỦ THEO HIẾN PHÁP

1992 (SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2001) – XU HƯỚNG PHÁT

TRIỂN VÀ HOÀN THIỆN

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Mã số: 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN ĐĂNG DUNG

HÀ NỘI - 2012

Trang 3

MỤC LỤCLỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn 4

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CHÍNH

1.1 Đôi nét về sự ra đời của thiết chế Chính phủ 7 1.2 Tổng quan về địa vị pháp lý của Chính phủ qua các mô hình

Trang 4

2.3 Tổ chức Chính phủ Việt Nam theo Hiến pháp 1980 34 2.4 Tổ chức Chính phủ Việt Nam theo Hiến pháp 1992 38

Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN VỀ

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CHÍNH PHỦ THEO HIẾN PHÁP 1992

(SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2001)

44

3.1.1 Các quy định Hiến pháp về Chính phủ đã từng bước thể hiện

bước chuyển sang xây dựng nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa 45

3.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ đã được quy định khá

3.2.2.1 Về thẩm quyền của Thủ tướng và tập thể Chính phủ 52 3.2.2.2 Hiện nay có sự lẫn lộn giữa khái niệm “Bộ” hoặc “Tập thể

3.2.2.3 Về quan hệ với chính quyền địa phương 53

3.2.2.4 Quy định về quan hệ báo cáo không rõ ràng 53

3.2.2.5 Về hình thức trách nhiệm đối với Chính phủ 54 3.2.2.6 Về hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật của

Trang 5

3.2.3 Về cơ cấu, tổ chức Chính phủ 56 3.2.3.1 Cần xem xét lại chức danh Phó Thủ tướng Chính phủ 56

3.2.4 Các hình thức hoạt động của Chính phủ 57 3.2.5 Tình trạng tham nhũng còn xảy ra tràn lan 60

Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐỂ NÂNG

4.1 Một số yêu cầu và quan điểm hoàn thiện Hiến pháp 1992 về chế

4.1.1 Các quan điểm hoàn thiện chế định Chính phủ phải dựa trên

cơ sở các nguyên tắc áp dụng chung cho toàn bộ bộ máy nhà nước 64 4.1.2 Cần làm rõ chủ thể thực hiện quyền Hành pháp 64 4.1.3 Cần có sự phân biệt về nhiệm vụ, quyền hạn của các chức

4.1.4 Cần hoàn thiện các quy định Hiến pháp về hình thức trách

4.1.5 Hoàn thiện Hiến pháp 1992 về chế định Chính phủ cần dựa

trên cơ sở tổng kết, đánh giá quá trình thực hiện Hiến pháp 66 4.2 Một số giải pháp hoàn thiện để nâng cao địa vị pháp lý của

4.2.1 Về vị trí, tính chất pháp lý của Chính phủ 67 4.2.2 Về nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ 69 4.2.2.1 Về nhiệm vụ và quyền hạn của tập thể Chính phủ 69

4.2.2.2 Về nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ 72 4.2.2.3 Về nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ trưởng – thành viên

Trang 6

4.2.3 Cơ cấu tổ chức của Chính phủ 76

4.2.5 Về mối quan hệ của Chính phủ với Quốc hội 78 4.2.6 Về mối quan hệ của Chính phủ với Tòa án nhân dân 83 4.2.7 Về mối quan hệ của Chính phủ với Viện kiểm sát nhân dân 84 4.2.8 Hiến pháp và vấn đề phòng, chống tham nhũng 85 4.2.9 Địa vị pháp lý của Chính phủ theo quy định của dự thảo sửa

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, địa vị pháp lý của Chính phủ được quy định trong Hiến pháp

1992 (sửa đổi, bổ sung 2001), Luật tổ chức Chính phủ năm 2001, và các văn bản khác có liên quan Những văn bản này là cơ sở pháp lý quan trọng cho tổ chức và hoạt động của các cơ quan thuộc hệ thống hành pháp Các văn bản được ban hành gần đây đã thể hiện tư tưởng tăng cường hiệu quả của bộ máy hành pháp như tinh thần cải cách hành chính; phân công và phân cấp quản lý Nhà nước; tăng cường chế độ trách nhiệm của các chủ thể quản lý nhà nước [27, tr.343] Và đặc biệt, Hiến pháp 1992 đã tạo lập cơ sở pháp lý cao nhất cho việc hình thành một thiết chế mới của hệ thống hành chính nhà nước, đó

là thiết chế Thủ tướng Chính phủ Thiết chế này cùng với thiết chế Chính phủ thay thế cho thiết chế Hội đồng Bộ trưởng trước đó theo Hiến pháp 1980 Đây

là bước cải cách có ý nghĩa rất quan trọng đối với hành pháp và hành chính nhà nước nhằm thúc đẩy và nâng cao tính linh hoạt, nhạy bén trong quản lý, điều hành của bộ máy hành chính, thích ứng với yêu cầu của quá trình chuyển đổi cơ chế từ tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Tuy nhiên, các văn bản chủ đạo là căn cứ cho hoạt động của Chính Phủ còn bộc lộ nhiều hạn chế Một số quy định của Hiến pháp 1992 (được sửa đổi,

bổ sung 2001) thiếu toàn diện và thiếu sự thuyết phục dưới góc độ khoa học Liên quan đến Chính phủ, Điều 2 của đạo luật cơ bản có nhắc tới “quyền hành pháp” Tuy nhiên, các quy định tiếp theo của Hiến pháp hoàn toàn thoát ly với thuật ngữ nói trên Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp mới đạt mục đích là tăng cường trách nhiệm của Chính phủ trước cơ quan cao nhất của quyền lực Nhà nước mà chưa thể hiện được tính độc lập tương đối vốn có của “quyền hành pháp” Về Luật tổ chức Chính phủ, tương tự như Hiến pháp, ngoài những

Trang 8

điểm có tính cải cách và tiến bộ, Luật tổ chức Chính phủ 2001 còn bộc lộ rõ một số lúng túng trong cách quy định Đây là kết quả của sự nóng vội và sự thiếu đầy đủ của luận cứ khoa học về quản lý hành chính Nhà nước

Hiện nay, nước ta đã và đang xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam

xã hội chủ nghĩa và đang từng bước hội nhập mạnh mẽ vào “sân chơi chung” toàn cầu Với việc xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập Quốc tế, càng ngày càng đòi hỏi phải nhận thức rõ tầm quan trọng của Chính phủ trong cơ cấu tổ chức nhà nước hiện đại Đổi mới, điều chỉnh vai trò, chức năng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ là vấn đề lớn, có phần phức tạp, không chỉ đòi hỏi phải có nhận thức, tư duy mới trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và tham khảo kinh nghiệm các nước mà còn đòi hỏi phải có quyết tâm chính trị rất cao của các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước Những đổi mới và điều chỉnh đề cập trên đây đòi hỏi phải nghiên cứu sửa đổi những nội dung liên quan của Hiến pháp để tạo cơ sở cho việc sửa đổi cơ bản, toàn diện Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001 Hòa chung với không khí bàn luận sôi nổi về việc sửa đổi Hiến pháp hiện hành; và với mong muốn góp một tiếng nói thiết thực vào việc sửa đổi Hiến pháp lần này, tôi đã mạnh dạn chọn

“Địa vị pháp lý của Chính phủ theo hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) – xu hướng phát triển và hoàn thiện” để làm đề tài cho Luận văn của

mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Chính phủ là một chế định quan trọng trong hệ thống các cơ quan nhà nước ta, được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và được đề cập đến trong nhiều bài viết trên các báo, tạp chí chuyên ngành Luật, giáo trình, sách chuyên khảo, các đề tài nghiên cứu khoa học Ngoài một số giáo trình có liên

quan như: giáo trình “Luật Hiến pháp Việt Nam” của Đại học Luật Hà Nội, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, giáo trình “Hiến pháp và Luật tổ chức bộ

Trang 9

máy Nhà nước” của Học viện Hành chính, thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh; giáo trình Luật Hành chính; giáo trình “Sự hạn chế quyền lực nhà nước”; giáo trình “Luật Hiến pháp các nước tư bản”, sách chuyên khảo: “Hình thức nhà nước đương đại”, “Chính phủ trong nhà nước pháp quyền” của GS TS Nguyễn Đăng Dung; Đề tài khoa học cấp Bộ:

“Chính phủ trong xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” Học viện

Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh năm 2009 của PGS TS Vũ

Đức Đán; Sách chuyên khảo “Hiến pháp: những vấn đề lý luận và thực tiễn”

(2011), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội;…còn có rất nhiều bài viết tiếp cận ở

các góc độ khác nhau về Chính phủ, như bài “Về vị trí, tính chất của Chính phủ trong bộ máy nhà nước ở nước ta” của TS Vũ Hồng Anh; “Nâng cao chất lượng xây dựng các dự án Luật, Pháp lệnh do Chính phủ soạn thảo” và

“Tiếp tục cải thiện phương thức hoạt động của Chính phủ” của TS Phạm Tuấn Khải; “Cơ chế vận hành bộ máy hành chính – kinh nghiệm một số nước” của TS Văn Tất Thu; “Yêu cầu cải cách khu vực công và vai trò của một Chính phủ tốt” của ThS Trần Thị Thanh Thủy; “Các mô hình Chính phủ" của GS TS Nguyễn Đăng Dung; “Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Chính phủ” của PGS TS Bùi Xuân Đức…Liên quan đến cơ chế trách nhiệm của Chính phủ, có những bài viết như: “Hoàn thiện cơ chế trách nhiệm của Chính phủ và các thành viên của Chính phủ” của PGS TS Bùi Xuân Đức;

“Trách nhiệm của Hiến pháp” của ThS Bùi Ngọc Sơn…

Qua đó, chúng ta thấy các nghiên cứu trên thường chỉ tiếp cận ở góc độ chế định Chính phủ chuyên sâu về từng vấn đề khác nhau, mà chưa có tính hệ thống về địa vị pháp lý của Chính phủ theo hiến pháp hiện hành (Hiến pháp

1992, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001)

Chính vì vậy, cần có sự nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống

về địa vị pháp lý của Chính phủ theo hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm

Trang 10

2001), tìm ra xu hướng phát triển và nhằm hoàn thiện để nâng cao hiệu quả hoạt động của Chính phủ, đáp ứng các đòi hỏi thực tiễn và yêu cầu của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn

Luận văn có mục đích tổng quát là nghiên cứu Địa vị pháp lý của Chính phủ theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001): Vị trí, tính chất pháp lý của Chính phủ; Nhiệm vụ quyền hạn; Cơ cấu tổ chức; và các hình thức hoạt động của Chính phủ Từ thực trạng hoạt động của Chính phủ để tìm

ra các ưu, nhược điểm, xu hướng phát triển, từ đó đưa ra những giải pháp để hoàn thiện và nâng cao địa vị pháp lý của Chính phủ của nước ta hiện nay Với mục đích nêu trên, Luận văn có những nhiệm vụ cơ bản sau:

Trước hết, nghiên cứu tổng quan về địa vị pháp lý của Chính phủ qua các mô hình Chính thể trên thế giới để tác giả có được một cái nhìn tổng quát, thấy được sự giống, khác nhau trên các phương diện để tìm ra được lời lý giải cho các vấn đề liên quan;

Thứ hai, nghiên cứu về địa vị pháp lý của Chính phủ qua các bản Hiến pháp Việt Nam: Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001);

Thứ ba, từ các quy định pháp luật của nước ta hiện hành về địa vị pháp

lý của Chính phủ, so sánh với thực trạng hoạt động của Chính phủ để tìm ra các ưu, nhược điểm, xu hướng phát triển, từ đó đưa ra những giải pháp để hoàn thiện và nâng cao địa vị pháp lý của Chính phủ ở nước ta hiện nay

4 Giới hạn nghiên cứu của Luận văn

Địa vị pháp lý của Chính phủ là vấn đề có phạm vi rộng và có phần phức tạp Với thời lượng hạn chế, trong khuôn khổ của Luận văn tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định trong Hiến pháp của nước ta hiện hành

về địa vị pháp lý của Chính phủ để tìm ra các ưu, nhược điểm Bên cạnh đó,

Trang 11

nghiên cứu tổng quan về địa vị pháp lý của Chính phủ qua các mô hình Chính thể trên thế giới để tác giả có được một cái nhìn tổng quát, thấy được sự giống, khác nhau trên các phương diện để tìm ra lời lý giải cho các vấn đề liên quan; từ đó thấy được xu hướng phát triển, đưa ra những giải pháp để hoàn thiện và nâng cao địa vị pháp lý của Chính phủ ở nước ta hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu của Luận văn

Trong quá trình viết và hoàn thiện Luận văn này, tác giả đã cố gắng dày công học hỏi, nghiên cứu, thu thập tài liệu để lấy thông tin và các kiến thức cần thiết giúp cho việc hoàn thiện đề tài Và trong khi viết, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu, đó là phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh

Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để tổng hợp, phân tích các thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu

Việc sử dụng phương pháp so sánh sẽ giúp ta có được một cái nhìn tổng quát, thấy được sự giống, khác nhau trên các phương diện để tìm ra được lời lý giải cho các vấn đề liên quan như: Địa vị pháp lý của Chính phủ qua các

mô hình Chính thể trên thế giới; Thiết chế Chính phủ qua các bản Hiến pháp Việt Nam; Từ các quy định pháp luật của nước ta hiện hành về địa vị pháp lý của Chính phủ, so sánh với thực trạng hoạt động của Chính phủ để tìm ra các

ưu, nhược điểm, xu hướng phát triển, từ đó đưa ra những giải pháp để hoàn thiện và nâng cao địa vị pháp lý của Chính phủ của nước ta hiện nay

6 Ý nghĩa của Luận văn

Những kiến thức khoa học trong Luận văn có ý nghĩa thiết thực, bổ ích, cần thiết, là tài liệu tham khảo phục vụ cho việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại các cơ sở đào tạo Luật ở Việt Nam Luận văn nêu ra những vướng mắc, bất cập trong các quy định về địa vị pháp lý của Chính phủ theo Hiến pháp Việt Nam hiện hành, từ đó đưa ra những giải pháp để hoàn thiện và

Trang 12

nâng cao địa vị pháp lý của Chính phủ của nước ta hiện nay Xu hướng phát triển và giải pháp hoàn thiện mà tác giả nêu ra trong Luận văn là ý kiến đóng góp để các nhà khoa học, các nhà quản lý, các thành viên trong ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp của Quốc hội khóa XIII tham khảo, phục vụ cho việc sửa đổi Hiến pháp hiện hành

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, lời cảm ơn, lời cam đoan, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 4 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về địa vị pháp lý của Chính phủ qua các mô hình chính thể trên thế giới;

Chương 2: Sự hình thành và phát triển về tổ chức của Chính phủ Việt Nam từ 1945 đến nay qua các bản Hiến pháp;

Chương 3: Thực trạng và xu hướng phát triển về Địa vị pháp lý của Chính phủ theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001);

Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện để nâng cao Địa vị pháp lý của Chính phủ

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CHÍNH PHỦ QUA CÁC MÔ HÌNH CHÍNH THỂ TRÊN THẾ GIỚI

1.1 Đôi nét về sự ra đời của thiết chế Chính phủ

Nhiều định chế quyền lực có gốc tích ở Anh quốc Nội các - Chính phủ cũng có nguồn gốc từ xứ sở này [8, tr.439]

Vào khoảng thế kỷ thứ XV - XVI, để giúp các nhà Vua trị nước, an dân

có nhiều quan lại gọi là nhưng bậc quần thần thượng thư phụ tá Nhà vua thường triệu hồi các bậc quần thần này để lấy ý kiến của họ về những vấn đề quan trọng Đến thế kỷ XVII dựa trên cơ sở các bậc quần thần này, một cơ quan được thiết lập với tên gọi Viện Cơ mật Đó là cơ quan tối cao giúp nhà vua thảo luận, quyết định những vấn đề trọng đại và bí mật Đến đầu Thế kỷ XVIII, năm 1714, khi George lên ngôi, vị vua Anh này mang dòng máu Đức, không biết rành rọt tiếng Anh, không thích thú với công việc làm Vua nước Anh, rất chểnh mảng việc dự các phiên họp của Viện Cơ mật nói trên, mà chỉ quan tâm đến dòng họ Hanauver bên Đức Dần dần công việc cai trị đất nước nhà vua uỷ thác hoàn toàn cho Viện Cơ mật Không có nhà Vua chủ trì, Viện

Cơ mật buộc phải tìm ra trong số quần thần một vị thượng thư thứ nhất chủ trì các phiên họp

Sau này các thượng thư được chuyển đổi tên gọi là các bộ trưởng, hội nghị trên thành nội các Vị thượng thư thứ nhất điều khiển gọi là thủ tướng như ngày nay Các bộ trưởng càng ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong công việc cai trị quốc gia, thường họp thành nội các nhưng không có mặt vua Nội các dần dần trở thành một tập thể thống nhất hành động dưới quyền chủ toạ của thủ tướng, liên đới chịu trách nhiệm trước quốc hội Vua vắng mặt, các vị thượng thư càng thấy dễ dàng hơn và yên ổn hơn khi chống đối các ý kiến của vua, đồng thời họ củng cố lẫn nhau bằng cách chịu trách

Trang 14

nhiệm chung về các quyết định Vua George III, vốn sinh trưởng ở Anh, mặc

dù thành thạo tiếng Anh, tìm cách phục hồi quyền lực Nhưng ông đã bị thất bại năm 1776 Vào những năm trị vì cuối cùng, vua bị điên, nên uy thế của nội các đối với việc cai trị nhà nước càng vững thêm [2, tr 277, 279]

Theo tiến trình của dân chủ, thế lực của vương triều ngày càng giảm sút, những phiên họp Quốc hội do nhà Vua điều hành ngày càng trở nên hình thức, trong khi đó công việc thực sự của Quốc hội là công lao của hai viện họp riêng Ưu thế của Quốc hội đã bắt nhà Vua cai trị qua các vị bộ trưởng có chân ở trong Quốc hội Trong các cuộc chiến tranh chống Pháp, nhà Vua William đã vấp phải rất nhiều khó khăn trong việc điều hành đất nước thông qua các vị bộ trưởng chỉ có chân đơn thuần trong Quốc hội, mà không có uy tín trong Quốc hội Từ năm 1693- 1696 nhà Vua giải tán đảng Tories và giao phó các chức vụ bộ trưởng (thượng thư) cho đảng Whigs, chiếm đa số tại Hạ Nghị viện, thái độ cứng rắn trước kia của Quốc hội đã trở nên mềm dẻo

Làm như vậy có lợi cho nhà Vua vì hoàn cảnh chính trị đã bó buộc các

vị quân vương chỉ thu dụng làm Bộ trưởng những vị nghị sỹ có thế lực tại Hạ Nghị viện Nếu được Hạ Nghị viện tín nhiệm, các vị đó có thể kiểm soát được

cơ quan này Nhờ hoàn cảnh đó mà phát sinh ra thủ tục chọn vị Thủ tướng Chính phủ - người đứng đầu hành pháp, phải là thủ lĩnh của Đảng cầm quyền

Tiếp theo thủ tục chọn Chính phủ trong đảng chiếm đa số ở Hạ nghị viện là thủ tục Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội

Cũng vì không biết tiếng Anh một cách rành rọt, nhà Vua cũng không

dự các phiên họp của Hạ nghị viện Để nhà Vua nắm được tình hình, vị Bộ trưởng đứng đầu Nội các (Cơ Mật viện) sau mỗi phiên họp phải tâu trình chi tiết cuộc thảo luận hay những quyết nghị của Nghị viện

Thời Walpole làm Bộ trưởng đứng đầu Nội các, lại không biết tiếng Đức, thành thử vua tôi chỉ trao đổi với nhau bằng tiếng La tinh, vì người nào

Trang 15

cũng biết được chút ít thứ ngôn ngữ cổ này Như thế ông Bộ trưởng đứng đầu Nội các mặc nhiên dần dần làm nhiệm vụ như của Thủ tướng Chính phủ hiện nay Lâu dần thành thói quen, khi Walpole được gánh vác trách nhiệm đó, ông độc đoán, nhưng lại vì ông có tài nên được mọi người khâm phục Do đó quyền hành của Walpole mỗi ngày một tăng, Nội các trở thành một cơ quan thống nhất do chính ông lựa chọn và điều khiển

Walpole chấp nhận và lập luận rằng, ông có quyền đó là do sự nhất trí của đa số trong Viện Dân biểu, và khác với các vị tiền nhiệm, ông tuyên bố sẽ

từ chức nếu Viện Dân biểu không còn tín nhiệm ông.[16, tr 246 – 247]

Năm 1742, khi không được Hạ nghị viện tín nhiệm, ông Wapole từ chức Năm 1782 tương tự như vậy ông Lord North, cũng không được Hạ nghị viện tín nhiệm, ông từ chức

Nhưng sự từ chức của Lord North lại kéo theo cả Nội các từ chức Thủ tục trách nhiệm tập thể của Nội các dần dần được hình thành Kể từ thời gian này, Nội các tượng trưng cho hoạt động tập thể và liên đới chịu trách nhiệm

về chính trị và cả hành chính Nếu Hạ nghị viện bất tín nhiệm một nhân viên của nội các hay chính thức điều khiển việc nước, có nghĩa là Hạ nghị viện bất tín nhiệm toàn bộ Nội các Khái niệm trách nhiệm chung được coi như là một bảo đảm chống lại sự lạm dụng quyền lực của nhà Vua Nếu như các vị Bộ trưởng xung đột với nhau, nhà Vua sẽ tìm các cố vấn khác Trách nhiệm chung là biện pháp để duy trì sự duy nhất và sức mạnh của đảng phái - chẳng qua là những phe nhóm được hình thành trong quá trình sinh hoạt của Nghị viện

Lãnh đạo chính trị xuất phát từ Quốc hội và nhất là từ Hạ nghị viện, những chức vụ chính trị do đảng chính trị chiếm đa số tại Hạ nghị viện đề cử Các vị lãnh đạo này không chỉ chịu trách nhiệm trước Hạ nghị viện về chính

Trang 16

sách chính trị mà họ vạch ra mà cả về công việc hành chính hàng ngày trong nước

Đảng chiếm đa số tại Hạ nghị viện có quyền ấn định chính sách và lập trường của nhà Vua Vì vậy, các vị Bộ trưởng như là một Uỷ ban của Hạ viện Các vị Bộ trưởng này phải có trách nhiệm về những văn kiện do nhà Vua ký,

vì họ phải phó thự văn kiện đó Chế định "phó thự" sinh ra từ đây Chế định này quy định sự chịu trách nhiệm của các bộ trưởng cho đến Thủ tướng Chính phủ, khi họ trình các văn kiện cho nhà Vua ký, hay còn được gọi là chế định chữ ký kèm theo trong văn bản và phải chịu trách nhiệm thi hành về văn bản

đó Nhà Vua ký theo thỉnh cầu của Chính phủ, nên không chịu trách nhiệm

Vì những lẽ đó nên nhà Vua chỉ bổ nhiệm những vị Thủ tướng là thủ lĩnh của đảng cầm quyền Hay nói một cách khác nhà Vua hay Nữ hoàng không thể bổ nhiệm một người nào đó khác hơn nếu như, người đó không là thủ lĩnh của đảng chiếm đa số trong Hạ nghị viện

Những tiến triển kể trên đã dẫn đến thủ tục trách nhiệm của Nội các - Chính phủ hình thành Nội các phải được Hạ nghị viện tín nhiệm, hay phải từ chức, trừ trường hợp giải tán Hạ nghị viện và thiết lập các cuộc tuyển cử mới

Trong khoa học pháp lý và chính trị học, Hành chính và Hành pháp là không phân biệt Hành chính và Hành pháp đều là cai trị, với bộ máy chuyên nghiệp, được khái quát thành một bộ máy ăn bám, đứng trên nhân dân Vì vậy, tất cả các cuộc cách mạng xã hội, bộ máy này đều bị lên án, nhất là của chế độ phong kiến – độc tài và chuyên chế Để lật đổ chế độ nhà nước hiện hành, không còn một cách nào khác hơn là phải loại trừ chúng và cùng với việc đó là tăng cường quyền hạn cho những chế định có sự gắn bó mật thiết với nhân dân Đó là Nghị viện – Quốc hội Trong các chính thể, Nghị viện bao giờ cũng được dành nhiều ưu ái nhất Nhất là trong trường hợp cách

Trang 17

mạng xã hội vừa giành được thành công, chế độ chính trị mới đang được hình thành

Vì vậy, về nguyên tắc trong mọi chế độ dân chủ hiện nay, Nghị viện bao giờ cũng được đề cao đến mức độ điển hình như của Nghị viện Anh quốc

“Nghị viện được quyền làm tất cả trừ cái việc biến đàn ông thành đàn bà”- là thành ngữ của người Anh thể hiện tính tối cao của nghị viện Đây cũng là nguyên nhân chính cho việc Anh quốc cho đến bây giờ vẫn không có Hiến pháp thành văn Hôm nay Quốc hội có thể thông qua một bản Hiến văn này, ngày mai Quốc hội có thể thông qua bản Hiến văn khác Cái đó hoàn toàn thuộc về quyền của Nghị viện, không ai có quyền can thiệp

Nhưng điều đáng cần phải được lưu ý ở đây là, cho dù bị lật đổ trong mọi cuộc cách mạng xã hội, giai cấp cầm quyền mới lên vẫn phải tổ chức ra một Chính phủ - Hành pháp, về nguyên tắc phải hoàn bị hơn, thậm chí trong nhiều trường hợp còn phải dùng cả những cơ cấu của Chính phủ - Hành pháp

cũ, nhất là những bộ phận bên dưới cấu thành của nó và cả các thành phần công chức cũ (các bộ phận hành chính) Nhưng dần dần, chẳng được bao lâu, Chính phủ - Hành pháp lại vẫn trở thành trung tâm của bộ máy nhà nước Mọi hoạt động của Chính phủ - Hành pháp vẫn quyết định đến vận mệnh phát triển của mỗi Quốc gia

Chính phủ tiếng Pháp là “Government” có nghĩa là “cai trị” Danh từ

“Chính phủ” có nhiều nghĩa, khi thì chỉ định tất cả các cơ quan nhà nước bao gồm cả Lập pháp lẫn Hành pháp là toàn thể các cơ quan thi hành quyền lực nhà nước Còn theo nghĩa hẹp được dùng trong quy định của Hiến pháp,

“Chính phủ” có nghĩa là Nội các, hay là thành phần của Chính phủ tương đương với Nội các, ở những nước không có chế định Nội các

Một quan điểm khác đang hiện hành hiện nay là giữa Hành pháp và Hành chính có sự phân biệt một cách rõ rệt Tức là những người này không

Trang 18

dùng Hành pháp trùng với Hành chính Thuật ngữ Hành pháp dùng để chỉ những chức sắc từ hàm Bộ trưởng đổ lên, Hành pháp là tổ chức thực thi luật, Hành pháp chính trị có trách nhiệm phải đẻ ra các chính sách Còn Hành chính là chỉ bộ phận công chức nằn dưới Hành pháp và chịu sự chỉ đạo của Hành pháp Sau mỗi một cuộc bầu cử, Hành pháp thì có thể phải ra đi nếu như không trúng cử, còn Hành chính thì phải ở lại, Hành chính không tham gia chính trị

Có thể nói Hành pháp cộng với Hành chính là bộ máy nhà nước với đầy đủ ý nghĩa cổ điển nhất của nó theo định nghĩa của V.I.Lênin: Nhà nước

là một bộ máy cai trị, ăn lương chuyên trách, quan liêu và tách khỏi nhân dân Chính phủ thời mới ra đời của cách mạng tư sản chỉ gắn bó hạn hẹp với việc Hành pháp, hay chấp hành (thi hành) một cách đơn thuần những luật do lập pháp ban ra, đúng như thuyết phân quyền của J Locke trong tác phẩm nổi tiếng “Hai luận thuyết về Chính phủ,” và cũng như của Montesquieu trong tác phẩm “Tinh thần của pháp luật.” Khi sinh thời học thuyết chỉ có một mong muốn tách các hoạt động Hành pháp ra khỏi Lập pháp để làm cơ sở cho việc lật đổ chế độ phong kiến đã lỗi thời, đang vi phạm nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân

Giai cấp tư sản Anh, Pháp tranh giành chính quyền đều bắt đầu ở nghị viện, coi nghị viện là thế lực phải dựa vào để đấu tranh với các thế lực phong kiến bảo thủ Từ đó, các nước Anh, Pháp đều nhấn mạnh nguyên tắc Hành chính phải dựa vào luật, họ đã đưa ra nguyên tắc “không có luật tức là không

có hành chính”, quyền Hành chính phải tuyệt đối phục tùng và tuân thủ pháp luật của Nghị viện

Mọi bản Hiến pháp của các nhà nước sau Cách mạng tư sản và cho đến hiện nay đều dựa vào tinh thần của học thuyết Phân quyền mà quy định cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước Nhưng trong ba ngành quyền lực nói trên, so

Trang 19

với Lập pháp và Tư pháp, thì “Hành pháp” được định danh khó nhất và cơ cấu, hoạt động của Hành pháp cũng được quy định trong Hiến pháp và luật pháp rất khác xa so với thực tế nhất

Thiết chế Chính phủ - Hành pháp cổ điển nhất của thế giới được hình thành trong lịch sử nước Anh, mà không có một bản văn nào quy định, ngoại trừ một bản văn quy định về lương bổng của các vị Bộ trưởng, mà mãi tới năm 1937 mới được Quốc hội thông qua [23, tr.384-385] Bản Hiến pháp

thành văn lâu năm nhất của thế giới chỉ có một lời văn ngắn gọn rằng: “Quyền lực hành pháp sẽ được trao cho Tổng thống của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ”

Nhưng quyền Hành pháp bao gồm những gì và cơ cấu của nó ra sao không được bản Hiến pháp này quy định Chính cách quy định trừu tượng và mang tính chất tổng quát này đã giúp cho Tổng thống Mỹ hiện nay có rất nhiều khả năng cho việc điều hành, cũng như ứng phó với nhiều điều kiện hoàn cảnh thay đổi của tình hình trong và ngoài nước Cách quy định được nhiều người cho rằng, cách quy định “vô tiền nhưng rất khoáng hậu,” này lại không ngờ rất phù hợp với chức năng điều hành một đất nước giàu có vào bậc nhất thế giới hiện nay

1.2 Tổng quan về địa vị pháp lý của Chính phủ qua các mô hình chính thể trên thế giới

Là thiết chế trung tâm của bộ máy nhà nước, bộ phận chủ yếu thực hiện quyền Hành pháp, có chức năng quản lý điều hành toàn diện các quá trình kinh tế - xã hội theo định hướng nhất định, Chính phủ luôn được quan tâm từ khâu tổ chức đến hoạt động, dù nhà nước đó được thiết kế theo chính thể nào: cộng hòa hay quân chủ [12, tr.42]

Trong lịch sử phát triển của Nhà nước Pháp quyền, đã và đang tồn tại những mô hình tổ chức chính phủ khác nhau ở các nước được tổ chức theo các chính thể khác nhau, do đặc điểm truyền thống, thể chế chính trị mang

Trang 20

tính đặc trưng của từng nước Đồng thời, cũng xuất phát từ đặc trưng của từng nước, có thể trong cùng chính thể, tổ chức Chính phủ có những biến thể khác nhau Hiện tại, trên thế giới, tổ chức nhà nước của các nước tồn tại hai loại chính thể: Chính thể Quân chủ và chính thể Cộng hòa Chính thể Quân chủ thường được tổ chức thành Quân chủ tuyệt đối của nhà nước hoàn toàn theo chế độ phong kiến và Quân chủ hạn chế (quân chủ Lập hiến/ quân chủ Đại nghị) là mô hình tiến bộ hơn Chính thể Cộng hòa có các biến thể cộng hòa Đại nghị, cộng hòa Tổng thống và cộng hòa Lưỡng tính Cùng với những biến thể khác nhau về tổ chức, các bộ phận cấu thành tối cao của bộ máy nhà nước

có mối quan hệ đặc trưng với nhau và với dân chúng Chính phủ trong các chính thể này được thành lập theo cách thức khác nhau, các mối quan hệ của Chính phủ với các bộ phận còn lại và với nhân dân tùy thuộc vào cơ chế thành lập với đặc trưng riêng có của mỗi nước

1.2.1 Chính phủ trong nhà nước theo chính thể Quân chủ Đại nghị

Hiện nay trên thế giới, chính thể quân chủ Đại nghị còn tồn tại ở nhiều nước như ở Vương quốc Anh, Nhật Bản, các nước Bắc Âu, Ốt – xtrây – li – a,

Ca na đa, Thái Lan… Trong số các nước theo chính thể này, đặc biệt phải kể tới Vương quốc Anh – nơi khởi nguồn của các thiết chế dân chủ

Mô hình Chính phủ của Anh Quốc còn gọi là mô hình nội các (hành pháp hai đầu: Hành pháp tượng trưng của nguyên thủ quốc gia; và Hành pháp thực quyền của Thủ tướng Chính phủ) [9, tr.300] Mô hình này được hình thành ngay từ những thời gian đầu của cách mạng tư sản Hoạt động của Chính phủ - hành pháp do một tập thể thực hiện

Nguyên thủ quốc gia do thế tập truyền ngôi, là biểu tượng của sự

thống nhất quốc gia Ở chính thể này, nguyên thủ quốc gia là các vị Hoàng đế (được truyền ngôi cho con), còn Chính phủ - bộ máy hành pháp được thành lập và được hoạt động khi nào vẫn còn sự tín nhiệm của Hạ nghị viện Các bộ

Trang 21

trưởng và người đứng đầu hành pháp phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện (Hạ viện) Trên thực tế, việc thành lập và hoạt động của các chính phủ đều nằm trong tay đảng chiếm đa số ghế trong Hạ viện Nhà vua hầu như không tham gia vào giải quyết các công việc của nhà nước, theo một loạt những nguyên tắc, mà sau này đã trở thành những thành ngữ dân gian:

"Nhà vua trị vì nhưng không cai trị"

"Nhà vua không bao giờ làm sai"

"Nhà vua không hại ai cả"

"Nhà vua không chịu trách nhiệm gì"

"Nhà vua không có quyền nên không gánh vác trách nhiệm"

Nhà vua được tuyệt đối hoá trở thành một nhân vật siêu phàm, tượng trưng cho sự độc lập vĩnh hằng của dân tộc Nhà vua hay nữ hoàng bị tước bỏ

dần dần mọi quyền năng Lúc đầu thì phải nhường quyền năng Lập pháp cho Quốc hội, sau đó dần dần lại phải nhường tiếp quyền điều hành đất nước cho Hành pháp (Chính phủ), mà đứng đầu là Thủ tướng Nhà vua hay nữ hoàng chỉ còn lại một phần của quyền Hành pháp Đó là Hành pháp tượng trưng Sự nhường quyền dần dần này của nhà vua hay nữ hoàng hoàn toàn phụ thuộc vào sự thắng lợi của Cách mạng Tư sản

Về mặt tổ chức và hoạt động của Chính phủ bao gồm Thủ tướng – người đứng đầu Chính phủ và các thành viên Chính phủ Chính phủ do Nghị viện thành lập và phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện Chính phủ hoạt động theo sự tín nhiệm của Nghị viện Trong trường hợp không còn tín nhiệm, Chính phủ phải từ chức để Nghị viện thành lập Chính phủ mới Thực chất hiện nay, ở các nước có chế độ đa đảng, Chính phủ được thành lập trên cơ sở của đảng chiếm đa số trong Hạ viện (đa số tuyệt đối hay liên minh với các Đảng khác); lãnh tụ của đảng đó, thường sẽ được chỉ định để thành lập chính phủ, trình Nghị viện biểu quyết thông qua Như vậy, về thực chất, Chính phủ

Trang 22

phải chịu trách nhiệm trước Nhà vua (Nữ hoàng) chỉ là hình thức, mặc dù Nhà vua có quyền bổ nhiệm Thủ tướng – người đứng đầu Chính phủ Việc Chính phủ chịu trách nhiệm trước Nghị viện chính là chịu trách nhiệm trước nhân dân theo chế độ đại diện Điều này thể hiện tính hợp pháp của Chính phủ

1.2.2 Chính phủ trong chính thể Cộng hòa

Chính thể cộng hòa là loại hình thức nhà nước được tổ chức theo chế

độ dân chủ, ở đó quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Đây là chế độ nhà nước đoạn tuyệt với mọi dấu ấn của nhà nước quân chủ chuyên chế Chính thể cộng hòa là hình thức nhà nước Hiến định, trong đó những người nắm quyền lực nhà nước do công dân lựa chọn; các cơ quan nhà nước được pháp luật quy định về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận cấu thành và với xã hội Chính thể cộng hòa gồm hai loại chủ yếu là cộng hòa Đại nghị và cộng hòa Tổng thống Ngoài ra, còn có hình thức thứ ba

là sự kết hợp giữa hai hình thức trên gọi là cộng hòa Lưỡng tính

1.2.2.1 Chính phủ trong chính thể Cộng hòa Đại nghị

Hình thức chính thể Cộng hòa Đại nghị được thành lập ở các nước như Italia, Cộng hòa Liên bang Đức, cộng hòa Ấn Độ,…Trong chính thể Cộng hòa Đại nghị, cơ cấu bộ máy nhà nước ở Trung ương có Nghị viện bao gồm những đại diện của các tầng lớp dân cư, các đảng phái chính trị do nhân dân bầu chọn bằng phổ thông đầu phiếu; Nguyên thủ Quốc gia – Tổng thống do Nghị viện bầu ra; Chính phủ do Nghị viện quyết định thông qua trên cơ sở đề nghị của Thủ tướng – người đứng đầu chính phủ lựa chọn các thành viên và Tòa án

Nhìn chung, chính thể Cộng hòa Đại nghị có nhiều điểm tương đồng với chính thể quân chủ Đại nghị, chỉ khác nhau ở chế định Nguyên thủ Quốc gia – Vua được hình thành theo chế độ thế tập – cha truyền con nối, còn Tổng thống trong chính thể Cộng hòa Đại nghị được bầu cử theo nhiệm kỳ trên cơ

Trang 23

sở Nghị viện Nhà vua hay Tổng thống trong các chính thể trên, mặc dù có thể được Hiến pháp quy định nhiều quyền hạn, nhưng trên thực tế không trực tiếp tham gia vào việc giải quyết các công việc của nhà nước [8, tr.136] và không phải là người đứng đầu hành pháp, cũng không là thành viên của hành pháp

và cũng không phải trách nhiệm Điều 90, Hiến pháp Italia ghi nhận: “Tổng thống nước cộng hòa không chịu trách nhiệm các hoạt động của mình trong thời gian đảm nhiệm chức vụ, trừ trường hợp phản bội tổ quốc hoặc hành động xâm phạm tới Hiến pháp” Hiến pháp của Hy lạp cũng quy định một điều khoản tương tự (khoản 1, điều 49)

Chính phủ trong chính thể Cộng hòa Đại nghị cũng giống trong chính thể quân chủ Đại nghị, được thành lập trên cơ sở Nghị viện và phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện, hoạt động trên cơ sở tín nhiệm của Nghị viện Đây là đặc điểm chính yếu của chính thể Đại nghị kể cả cộng hòa lẫn Quân chủ Xuất phát từ nguyên tắc Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện đã làm

cơ sở cho việc Nghị viện có thể lật đổ Chính phủ, và người đứng đầu Chính phủ có quyền hoặc yêu cầu Nguyên thủ Quốc gia giải tán Nghị viện

Song nhiều nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, ưu điểm lớn của chính thể Cộng hòa Đại nghị là quan hệ giữa hai thiết chế lập pháp và hành pháp ít có khả năng xảy ra rạn nứt Điều này có liên quan đến vai trò của Đảng cầm quyền Bản thân Nghị viện được thành lập trên cơ sở các đại biểu do các đảng phái giới thiệu tranh cử tại các kỳ bầu cử thành viên Nghị viện Đảng chiếm

đa số ghế trong Nghị viện được quyền thành lập Chính phủ Tổng thống có quyền chỉ định người đứng ra thành lập Chính phủ sau kỳ bầu cử Tuy nhiên, Tổng thống không thể chỉ định ai khác ngoài đại diện của Đảng hoặc liên minh các Đảng thắng cử Thông thường người đó là lãnh tụ của Đảng chiếm

đa số trong Nghị viện và trở thành Thủ tướng Thủ tướng lựa chọn thành viên Chính phủ là những đảng viên trong Đảng và các Đảng thuộc liên minh, với

Trang 24

sự thỏa thuận, thống nhất của các Đảng Chính phủ sẽ được Nghị viện xem xét, thông qua Hoạt động của Chính phủ được đặt dưới sự giám sát của Nghị viện, thực chất là giám sát của Đảng cầm quyền và các Đảng đối lập khác Như vậy, việc Chính phủ chịu trách nhiệm trước Nghị viện chính là chịu trách nhiệm trước Đảng cầm quyền Trong trường hợp này, quyền lập pháp và quyền hành pháp có sự thống nhất, bởi lẽ Nghị viện và Chính phủ đều cùng một Đảng hoặc liên minh, vì thế ít có khả năng xảy ra rạn nứt trong quan hệ giữa hai thiết chế này [31, tr.40 – 41]

Trong Chính phủ, Thủ tướng là người thay mặt đảng cầm quyền chịu trách nhiệm trước Hạ viện Thủ tướng phải lên tiếng trong các cuộc tranh luận

về chính sách của Chính phủ tại Nghị viện, phải giải trình trước các chất vấn của Nghị viện, thay mặt nội các bảo vệ các quan điểm của Chính phủ thể hiện

ở các chính sách của hành pháp

Nói tóm lại, ở loại hình chính thể Cộng hòa Đại nghị có nhiều đặc điểm

cơ bản như của chính thể quân chủ Đại nghị, chỉ khác chính thể quân chủ ở chỗ, nguyên thủ quốc gia không do thế tập truyền ngôi, mà do Nghị viện hoặc dựa trên cơ sở Nghị viện bầu ra, mặc dù được Hiến pháp quy định có một quyền hạn hết sức rộng rãi, nhưng mọi hoạt động của nguyên thủ đều có sự đề nghị, yêu cầu từ phía hành pháp Hành pháp với người đứng đầu hành pháp, càng ngày càng trở thành cơ quan trung tâm thực hiện chủ yếu quyền lực nhà nước tư sản [5, tr.88], được thành lập dựa trên cơ sở của Nghị viện, và phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện; Chính phủ - hành pháp chỉ được hoạt động khi vẫn còn sự tín nhiệm của Nghị viện Khi không còn sự tín nhiệm của Nghị viện, thì Chính phủ có thể bị lật đổ và kèm theo đó, Nghị viện có thể bị giải tán Đó cũng là những dấu hiệu quan trọng của chế độ quân chủ đại nghị

Trang 25

1.2.2.2 Mô hình Chính phủ một người của chế độ Tổng thống

Hình thức chính thể cộng hòa Tổng thống xuất hiện muộn hơn so với cộng hòa Đại nghị Đầu tiên hình thức nhà nước này được thành lập ở Mỹ, sau đó nhanh chóng xuất hiện ở các nước Mỹ la tinh và một số nước ở Châu

Á

Mô hình Chính phủ này còn được gọi là hành pháp một đầu [9, tr.302]

do Tổng thống không những là nguyên thủ quốc gia, đảm nhiệm các chức năng hành pháp tượng trưng, mà còn trực tiếp lãnh đạo và điều hành Chính phủ

Đặc điểm nổi bật nhất của mô hình Chính phủ trong chính thể Tổng thống cộng hòa là việc Hiến pháp không quy định rõ định chế Chính phủ bao gồm Thủ tướng và các Bộ trưởng như ở chế độ Đại nghị, mà tất cả quyền hành pháp của Chính phủ được Hiến pháp quy định trực tiếp cho Tổng thống Trong hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ không có thuật ngữ Chính phủ, cũng như các Bộ trưởng Điểm cần chú ý ở đây là mặc dù Hiến pháp không quy định, nhưng hình hài của Nội các vẫn hiện diện trên thực tế Vì vậy, có thể nhận định rằng, Nội các của Mỹ được coi là một thiết chế có yếu tố tập quán nhiều hơn là được quy định trong luật pháp Khoản 2, điều 2, của Hiến pháp Mỹ đưa ra một số quy định về vấn đề này Đó là việc Hiến pháp quy định: tổng thống có quyền hỏi ý kiến các người đứng đầu các bộ bằng văn bản

về bất cứ vấn đề gì liên quan đến trách nhiệm của bộ đó Lịch sử hình thành nội các của Hoa Kỳ có ngay từ thời đầu tiên của việc thành lập ra nhà nước Hoa Kỳ của Tổng thống đầu tiên của họ Sau khi Quốc hội khóa I lập ra Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính, Bộ Chiến tranh và Văn phòng Tổng chưởng lý thì Tổng thống Washington đã chỉ định người đứng đầu còn được gọi là Bộ trưởng của các cơ quan hành pháp ngày nay, và sau đó Tổng thống đã nhận thấy ngay sự hiện hữu của các bộ trưởng này Nội các cứ thế hình thành cho

Trang 26

đến ngày nay, nhưng về nguyên tắc nội các ở Mỹ quốc chỉ được hình thành như là một nhóm cố vấn hàng đầu của Tổng thống Nhưng càng ngày ở Mỹ càng có xu hướng theo thể chế nội các trên thực tế Trong tác phẩm chuyên

khảo về nền hành chính công với tiêu đề Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh, S chiavo-Campo và P.S.A Sundaram viết: “Nước Mỹ nhận thấy cần phải chuyển hóa phương thức hoạt động theo mô hình nội các để điều phối chính sách trong lĩnh vực an ninh quốc gia, gần đây là chính sách kinh tế.” [32, tr.94]

Các Bộ trưởng có nghĩa vụ hoạch định chính sách và điều hành đối với ngành, lĩnh vực được phân công Trong quá trình hoạt động, tất cả các Bộ trưởng chịu sự điều hành thống nhất và chỉ phải chịu trách nhiệm trước Tổng thống chứ không phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện như trong chính thể Đại nghị Bản thân Tổng thống, trong quá trình thực thi quyền lực, với tư cách người lãnh đạo Chính phủ, không phải chịu trách nhiệm cá nhân trước Nghị viện; tập thể Chính phủ cũng không phải chịu trách nhiệm tập thể trước Nghị viện Tổng thống chỉ chịu trách nhiệm trước cử tri – nhân dân, những người

đã trực tiếp bầu ra Tổng thống Điều này khác với chế độ trách nhiệm trong chính thể Đại nghị ở sự rõ ràng, chặt chẽ về trách nhiệm của người đứng đầu hành pháp Như vậy, trong chính thể Tổng thống cộng hòa, Nghị viện nhận sự

ủy thác của nhân dân thực hiện quyền lập pháp, còn Tổng thống thực hiện quyền hành pháp cũng xuất phát từ sự ủy quyền trực tiếp từ nhân dân Các cơ quan này hoạt động độc lập với nhau, không chịu trách nhiệm trước nhau, do

đó, nghị viện không có quyền lật đổ Tổng thống và Tổng thống không có quyền giải tán Nghị viện, giống như trong Chính thể đại nghị Tuy nhiên, trong thực tế, dù là quyền lập pháp hay quyền hành pháp đều xuất phát từ nhân dân; việc thực hiện các quyền này đều phục vụ cho sự phát triển đất nước, nhân dân một cách tốt nhất Các cơ quan này, khi hoạt động đều chịu sự

Trang 27

kiểm tra chặt chẽ từ phía nhân dân – cụ thể hơn là các cử tri, những người có quyền bầu lên hay phế bỏ họ Vì vậy, để thực hiện các quyền có hiệu quả, giữa lập pháp và hành pháp phải kết hợp với nhau Lập pháp không thể thực hiện được ý chí của mình nếu bị hành pháp luôn chống đối, ngược lại Tổng thống không thể điều hành được đất nước nếu thiếu sự thỏa thuận của Nghị viện, bởi lẽ Nghị viện là người ban hành luật, chuẩn chi ngân sách nhà nước hoặc sắc thuế

1.2.2.3 Chính phủ trong Cộng hòa Lƣỡng tính

Hình thức chính thể cộng hòa Lưỡng tính ra đời muộn hơn các hình thức nhà nước cộng hòa khác Sự xuất hiện của loại chính thể này là hiện tượng khá thú vị trong thực tiễn chính trị các nước trên thế giới Theo các nhà

khoa học, “chính thể cộng hòa lưỡng tính là chính thể mà ở đó việc tổ chức nhà nước vừa có đặc điểm của cộng hòa đại nghị, vừa có những đặc điểm của cộng hòa tổng thống” [4, tr.135] Hiện nay, trên thế giới có hơn 50 quốc gia

thuộc chính thể cộng hòa Lưỡng tính [11] Do đó, phải thừa nhận rằng, mô hình chính thể cộng hòa lưỡng tính đang là một xu thế trên thế giới Pháp (nền Cộng hoà thứ V của Hiến pháp 1958) và Nga là hai nước tiêu biểu nhất cho

mô hình chính thể này

Chính thể cộng hòa Lưỡng tính có tổ chức bộ máy nhà nước vừa mang đặc điểm của cộng hòa Tổng thống và vừa có đặc điểm của cộng hòa Đại

nghị Tính Tổng thống thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, Tổng thống do nhân dân bầu

lên và Tổng thống không chịu trách nhiệm trước Nghị viện; Thứ hai, Tổng thống vừa là Nguyên thủ Quốc gia vừa là người đứng đầu nhánh quyền hành

pháp Tính đại nghị được đặc trưng bởi: Thứ nhất, Chính phủ được thành lập

ít nhiều có ảnh hưởng của Nghị viện; Thứ hai, Chính phủ ít nhiều phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện; Thứ ba, Nghị viện, Chính phủ, có thể bị giải tán bởi Nguyên thủ quốc gia (Tổng thống)

Trang 28

Về cách thức thành lập Tổng thống và Chính phủ

Tổng thống do nhân dân trực tiếp bầu lên thông qua phổ thông đầu phiếu, có nhiệm kì nhất định (phổ biến nhất là 5 năm như ở Pháp, hoặc như ở Nga là 4 năm, ở Kazakhstan là 7 năm) Sự thành lập này giống như các nước cộng hòa Tổng thống

Cách thức thành lập Chính phủ: Theo tinh thần của hiến pháp các nước

theo chính thể Lưỡng tính, sự thành lập Chính phủ giống như chính thể Đại nghị - tức Chính phủ thành lập trên cơ sở của Hạ viện (Tổng thống buộc phải

bổ nhiệm thủ lĩnh của đảng chiếm đa số trong Hạ viện làm Thủ tướng)

Tại Pháp, “Tổng thống bổ nhiệm Thủ tướng, Tổng thống chấm dứt nhiệm vụ của Thủ tướng khi Thủ tướng đệ trình đơn từ chức của Chính phủ Tổng thống bổ nhiệm và chấm dứt các thành viên của Chính phủ theo đề nghị của Thủ tướng” (Điều 8 Hiến pháp) Theo điều 8 thì có thể hiểu Tổng thống

Pháp có toàn quyền trong việc bổ nhiệm Thủ tướng Tuy nhiên, Hiến pháp (Điều 20,49,50) cũng quy định Chính phủ chịu trách nhiệm trước Hạ viện và phải từ chức nếu Hạ viện bất tín nhiệm Do đó, trên thực tế, Tổng thống không thể bổ nhiệm ai khác làm Thủ tướng ngoài thủ lĩnh của Đảng chiếm đa

số trong Hạ viện Như vậy, sự thành lập Chính phủ Pháp cũng giống như các nước theo chính thể đại nghị

Chính thể cộng hòa Lưỡng tính thể hiện rõ nét nhất tính “hành pháp hai đầu” Tổng thống và Chính phủ cùng san sẻ quyền hành pháp [25, tr.172]

Tổng thống chủ toạ các phiên họp của Chính phủ và đề ra các chính sách quan trọng về đối nội, đối ngoại Đây là một thẩm quyền đặc biệt, làm nổi bật vai trò của Tổng thống trong việc thực thi quyền Hành pháp Ở các nước cộng hoà Tổng thống, Tổng thống đứng đầu Chính phủ nên nắm quyền hành pháp là đương nhiên; ở các nước cộng hoà Đại nghị, Vua hay Tổng thống không có quyền tham gia các phiên họp Chính phủ Còn ở Pháp và

Trang 29

Nga, tuy trong Hiến pháp không hề ghi nhận quyền Hành pháp của Tổng thống nhưng khi Tổng thống có thẩm quyền chủ toạ các phiên họp của Chính phủ thì đã gián tiếp ghi nhận Tổng thống đứng đầu hành pháp (Hiến pháp

Pháp, điều 9: “Tổng thống chủ toạ Hội đồng Bộ trưởng”; Điều 13: “Tổng thống kí sắc lệnh và lệnh được biểu quyết tại Hội đồng bộ trưởng” Hiến pháp Nga, điều 83: “Tổng thống chủ toạ các phiên họp của Chính phủ”; Điều 80:

“Tổng thống căn cứ vào Hiến pháp và luật để xác định những phương hướng

cơ bản của chính sách đối nội và đối ngoại của Nhà nước”)

Như vậy, có thể thấy trong lĩnh vực hành pháp ở Pháp và Nga, Tổng thống đề ra các chính sách đối nội và đối ngoại còn Chính phủ thực thi các chính sách này Đây có lẽ đó là sự phân chia thẩm quyền giữa Tổng thống và Thủ tướng trong hành pháp Thủ tướng điều hành Chính phủ để thực hiện các chính sách mà Tổng thống đưa ra

Chính phủ chịu trách nhiệm trước Hạ Nghị viện

Điều 20 Hiến pháp Pháp quy định rõ: “Chính phủ chịu trách nhiệm trước Hạ viện theo các điều kiện và thủ tục quy định trong điều khoản 49, 50” Các Nghị sĩ có thể chất vấn Chính phủ, Nghị viện có thể thành lập các

Uỷ ban điều tra nhằm tìm kiếm thông tin về hoạt động của Chính phủ trong

một vụ việc nhất định Theo điều 50 thì “Nếu Hạ viện thông qua một sự chỉ trích hay không chấp nhận chương trình hoạt động của Chính phủ, thì Thủ tướng phải đệ đơn từ chức lên Tổng thống” Sau đó thì “Tổng thống chấm dứt nhiệm vụ của Thủ tướng và theo đề nghị của Thủ tướng, Tổng thống chấm dứt nhiệm vụ của các vị đó ” (các Bộ trưởng) (Điều 8) Quy định của Hiến pháp là

như vậy nhưng trong thực tiễn, Hạ viện chỉ một lần duy nhất bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ (Năm 1962, Hạ viện đã thông qua cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ của Thủ tướng George Pompidou Tuy nhiên, sau đó chính

Trang 30

Hạ viện lại bị Tổng thống De Gaulle giải tán) Điều đó cho thấy, trách nhiệm của Chính phủ trước Hạ viện cũng rất mờ nhạt

Sự buộc tội hoặc phế truất Tổng thống khi Tổng thống phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

Cũng như ở chính thể Tổng thống, Tổng thống Pháp và Nga do nhân dân trực tiếp bầu lên và về cơ bản không chịu trách nhiệm trước Nghị viện Tuy nhiên suy cho cùng Tổng thống vẫn chịu trách nhiệm trước Nghị viện thể hiện ở chế định phế truất Tổng thống Với tư cách là Nguyên thủ quốc gia, Tổng thống được hưởng quyền miễn trừ trong mọi lĩnh vực Tuy nhiên, khi Tổng thống phạm một tội đặc biệt nghiêm trọng thì Nghị viện có thể nêu vấn

đề phế truất

Điều 68 Hiến pháp Pháp: “Tổng thống không phải chịu trách nhiệm trước những hành động nhằm thực thi nhiệm vụ trừ trường hợp phạm tội phản quốc” Trong trường hợp đó, tuy không có quyền phế truất Tổng thống

nhưng Nghị viện đóng một vai trò quan trọng trong chu trình dẫn đến việc hạ

bệ Tổng thống

Trong các chính thể Đại nghị, đi liền với việc bất tín nhiệm Chính phủ thì thường gặp cơ chế phản bất tín nhiệm tức là Chính phủ có thể giải tán ngược đối với Hạ viện

Pháp và Nga đều quy định hình thức Tổng thống có quyền giải tán Hạ viện Nếu như ở các nước có chính thể đại nghị Nguyên thủ quốc gia chỉ có thể giải tán Hạ Nghị viện theo đề nghị của Thủ tướng và ở các nước có chính thể tổng thống Nguyên thủ quốc gia không có thẩm quyền giải tán Hạ Nghị viện, thì ở Pháp và Nga, Tổng thống tự quyết định giải tán Hạ Nghị viện Có thể thấy rằng thẩm quyền giải tán Hạ Nghị viện của Tổng thống Pháp và Nga

là biểu hiện của tính đại nghị trong chính thể hỗn hợp

Trang 31

Theo điều 12 Hiến pháp Pháp: “Sau khi tham khảo ý kiến của Thủ tướng và Chủ tịch hai Viện, Tổng thống có thể giải tán Hạ Nghị viện Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức ít nhất 20 ngày và nhiều nhất 40 ngày sau khi bị giải tán” Cũng tại điều này cũng hạn chế bớt khả năng giải tán Hạ Nghị viện của Tổng thống: “Tổng thống không thể giải tán Hạ Nghị viện trong một năm sau khi cuộc tổng tuyển cử được tổ chức” Và điều 16 cũng quy định : “Hạ Nghị viện không bị giải tán khi Tổng thống sử dụng những biện pháp đặc biệt”

Như vậy, về mặt lý thuyết, mục đích của chính thể Lưỡng tính là thiết lập một quyền hành pháp mạnh (một tổng thống đứng đầu hành pháp có thực quyền để quyết định nhanh chóng) đồng thời hạn chế sự chuyên quyền (quyền Hành pháp được chia cho Tổng thống và Thủ tướng) Lý do cơ bản nhất khiến các nước trên theo mô hình này là họ muốn xây dựng một chính thể hỗn hợp

để khắc phục những nhược điểm của chính thể Đại nghị và Tổng thống Chính thể Đại nghị có nhược điểm là chính phủ dễ sụp đổ nếu trong nghị viện

có nhiều đảng phái mà không có đảng chiếm đa số Chính thể Tổng thống thì

dễ dẫn tới sự chuyên quyền, độc đoán của tổng thống Lịch sử cho thấy ngoại trừ Hoa Kỳ, các chính thể Tổng thống khác đều không mấy thành công

Kết luận chương 1

Tóm lại, trong cả chính thể Quân chủ và Cộng hòa, mô hình tổ chức nhà nước nói chung và của Chính phủ nói riêng có những biến thể khác nhau, song chính thể Tổng thống cộng hòa là ít biến dạng nhất Hay nói một cách khác hơn các quy định của Hiến pháp trong chế độ Tổng thống có nhiều tính thực tế hơn Tuy có sự khác nhau nhưng tổ chức bộ máy nhà nước nói chung

và của chính phủ nói riêng cũng có những điểm chung nhất định Điểm chung

đó thể hiện ở vai trò của nhân dân liên quan đến tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước Còn những đặc điểm riêng của từng loại hình chính thể phụ thuộc

Trang 32

vào hoàn cảnh cụ thể của từng nước về mối tương quan giữa các lực lượng chính trị trong nước; quan điểm xây dựng bộ máy của lực lượng cầm quyền Trong bất kỳ chính thể nào, thì Chính phủ bao giờ cũng giữ vị trí trung tâm trong hoạch định chính sách quốc gia cũng như điều hành hoạt động của đất nước; sự phát triển đất nước ở những trình độ khác nhau phụ thuộc vào các hoạt động của Chính phủ Trong quá trình hoạt động, ở các chính thể khác nhau, Chính phủ có cách thức khác nhau về vấn đề chịu trách nhiệm trước nhân dân, có thể là gián tiếp (trước Nghị viện trong chính thể cộng hòa Đại nghị, quân chủ Đại nghị) hoặc trực tiếp (trong chính thể Tổng thống) hoặc vừa trực tiếp vừa gián tiếp (trong chính thể cộng hòa Lưỡng tính) Và một điểm cuối cần nhấn mạnh rằng, mọi nhà nước phát triển đều có xu hướng tăng quyền lực cho người đứng đầu Hành pháp Trong ba ngành quyền lực: Lập pháp, Hành pháp, và Tư pháp, ngành quyền lực Hành pháp chiếm một vị trí rất đặc biệt, thậm chí nó bị thay đổi theo thời gian không còn đúng với nghĩa chỉ là tổ chức thực hiện các văn bản luật của lập pháp, theo đúng vị trí, vai trò của nó được nêu trong học thuyết phân quyền, nền tảng hiến pháp của các nhà nước phát triển So với Lập pháp và Tư pháp, thì Hành pháp luôn là ngành quyền lực quan trọng, và là trung tâm của mọi nhà nước

Trang 33

CHƯƠNG 2: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN VỀ TỔ CHỨC CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NAY QUA CÁC BẢN HIẾN

PHÁP

Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, nhân dân Việt Nam đã đổ bao xương máu, hy sinh chống đế quốc, thực dân và bè lũ tay sai cướp nước và bán nước, tiến hành cuộc cách mạng tháng Tám thành công Ngày 2 tháng 9 năm 1945,

Hồ chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tiếp đó, cuộc tổng tuyển cử toàn quốc ngày 06/01/1946 đã bầu ra Quốc hội Tại phiên họp Quốc hội, ngày 09/11/1946, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Hiến pháp 1946 chưa kịp thực hiện, nhân dân Việt Nam lại tiếp tục kháng chiến để bảo vệ nền độc lập của tổ quốc Cuộc kháng chiến kéo dài 9 năm, tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơ – ne – vơ đã được ký kết, một nửa đất nước đã được giải phóng, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới: miền Bắc tiến hành cách mạng XHCN; miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc

Để phù hợp với tình hình, nhiệm vụ cách mạng mới, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thông qua bản Hiến pháp thứ hai: Hiến pháp

1959 (ngày 31/12/1959)

Cuộc đấu tranh gian khổ, anh hùng của đồng bào, chiến sỹ miền Nam được hậu phương lớn miền Bắc cổ vũ, ủng hộ, giúp đỡ, đất nước ta hoàn toàn được giải phóng, cả nước bước vào thời kỳ mới: thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội Ngày 18/12/1980, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp thứ ba: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980

Từ năm 1986, công cuộc đổi mới đất nước do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã diễn ra với nhiều chuyển biến và tốt đẹp, Quốc hội

Trang 34

đã ban hành bản Hiến pháp thứ tư, cho phù hợp với tình hình mới: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Qua gần 10 năm thực hiện, Hiến pháp 1992 cần được sửa đổi, bổ sung một số nội dung Vì thế, tại

kỳ họp lần thứ 10, quốc hội khóa X (họp ngày 20/11 đến 25/12/2001) đã ban hành Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 Như vậy, mỗi bản Hiến pháp đều có ý nghĩa đánh dấu một giai đoạn phát triển và trưởng thành của đất nước của dân tộc Đặc biệt các bản Hiến pháp sau ban hành đều dựa trên sự kế thừa có chọn lọc những giá trị tinh túy của các bản Hiến pháp trước nó, đồng thời thể hiện được bản chất của Hiến pháp – đạo luật cơ bản của nhà nước có hiệu lực pháp lý cao nhất

Sau đây Luận văn xin giới thiệu về tổ chức của Chính phủ Việt Nam qua các Hiến pháp

2.1 Tổ chức Chính phủ Việt Nam theo Hiến pháp 1946

Ngày 9 tháng 11 năm 1946, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam – Hiến pháp năm

1946 Sự kiện này đã đi vào lịch sử nước nhà như một mốc son chói lọi, đánh dấu bước mở đầu cho lịch sử lập hiến Việt Nam Đây cũng là bản Hiến pháp dân chủ và tiến bộ đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á Gần bảy mươi năm qua,

kể từ ngày bản Hiến pháp đầu tiên ra đời đến nay (1946 – 2012), cách mạng Việt Nam đã trải qua những giai đoạn lịch sử hào hùng và đạt được nhiều thành tựu vẻ vang Lịch sử lập Hiến Việt Nam gắn liền với những thay đổi lớn lao của đất nước Đến nay, nhà nước ta đã ban hành bốn bản Hiến pháp (Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992) Mỗi bản Hiến pháp đều in đậm dấu ấn chặng đường và những thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã đạt được Mỗi thời kỳ gắn với những hoàn cảnh lịch sử trong nước, tình hình quốc tế nhất định, và có những yêu cầu chính trị - kinh tế - xã hội khác nhau; nhưng chân lý mà Hiến pháp 1946 đã đặt nền móng thì chỉ có một:

Trang 35

xây dựng một “nhà nước của dân, do dân, vì dân”, một nhà nước có một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực và hiệu quả

Chế định Chính phủ được quy định tại chương IV, từ điều 43 đến điều

56 của Hiến pháp 1946 Về quyền Hành pháp, Hiến pháp quy định: Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc

Nét đặc sắc của Hiến pháp 1946 là: “Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, phó Chủ tịch và Nội các Nội các có Thủ tướng, các

Bộ trưởng, thứ trưởng, có thể có phó Thủ tướng”

Hiến pháp nước ta không thiết kế theo mô hình chế độ Tổng thống, cũng không phải là chế độ Đại nghị, mà nó là một mô hình độc đáo, vừa có những yếu tố của chế độ Tổng thống (Chủ tịch nước đứng đầu Chính phủ, nắm quyền hành pháp), vừa có những yếu tố của chế độ Đại nghị [17, tr.311] (Nội các từ Thủ tướng đến các thành viên do Nghị viện biểu quyết, chịu trách

nhiệm trước Nghị viện): “Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chọn trong Nghị viện nhân dân và phải được hai phần ba tổng số Nghị viện bỏ phiếu thuận Chủ tịch nước được bầu trong thời hạn 5 năm và có thể được bầu lại”; “Chủ tịch nước chọn Thủ tướng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết Nếu được Nghị viện tín nhiệm, Thủ tướng chọn các Bộ trưởng trong Nghị viện đưa ra Nghị viện biểu quyết toàn bộ danh sách Thứ trưởng

có thể chọn ngoài Nghị viện, do Thủ tướng đề cử ra Hội đồng Chính phủ duyệt y” “Thủ tướng phải chịu trách nhiệm về con đường chính trị của Nội các Nhưng Nghị viện chỉ có thể biểu quyết về vấn đề tín nhiệm khi Thủ tướng, Ban thường vụ hoặc một phần tư tổng số Nghị viện nêu vấn đề ấy ra”

Chủ tịch nước vừa là người đứng đầu nhà nước (nguyên thủ Quốc gia), vừa là người đứng đầu cơ quan hành chính Nhà nước, tức là quyền hành pháp, phân biệt rõ với quyền lập pháp thuộc Nghị viện nhân dân Vì vậy, quyền hạn của Chủ tịch nước rất lớn như: thay mặt cho nhà nước, bổ nhiệm Thủ tướng,

Trang 36

thành viên nội các, tổng chỉ huy quân đội, Chủ tọa Hội đồng Chính phủ, đặc

biệt “không phải chịu trách nhiệm nào, trừ khi phạm tội phản quốc” Chủ tịch nước có trách nhiệm “thi hành các đạo luật và quyết nghị của Nghị viện”, tức

là thực thi quyền hành pháp, còn quản lý cụ thể nền hành chính Nhà nước lại

là Chính phủ Thiết chế độc đáo này người ta còn gọi là chế độ hành pháp hai đầu là xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của nước ta lúc bấy giờ Thời đó, Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ hai phải thông qua Hiến pháp ngày 9 tháng 11 năm

1946 trong tình hình chính quyền cách mạng non trẻ phải đương đầu với một nguy cơ cực kỳ to lớn: ở miền Nam thì đã xảy ra chiến tranh chống thực dân Pháp trở lại, ở miền Bắc thì quân đội Pháp đang ráo riết lấn tới chuẩn bị đánh

đổ Chính phủ Hồ Chí Minh Có thể nói, Hiến pháp 1946 ra đời trong tình thế

“một thùng thuốc súng sắp nổ” Trong tình hình đó, Hiến pháp phải định ra một thiết chế không phải xây dựng đất nước trong hòa bình, mà là chuẩn bị cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp Nó đòi hỏi phải có một thiết chế quyền lực thích ứng, một nhà nước dân chủ mạnh, một bộ máy thực thi quyền lực mạnh, tập trung đủ quyền lực, cụ thể là quyền hành chính nhà nước, tức quyền quản lý thường xuyên của Nhà nước vào tay một Chính phủ mạnh Một thiết chế quyền lực như vậy phải là một thiết chế mà Chủ tịch nước (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh) phải là người đứng đầu Chính phủ, “cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc” Cũng do đó, Chính phủ có quyền hạn được quy đinh tại Điều thứ 52, Hiến pháp 1946:

“Điều thứ 52

Quyền hạn của Chính phủ:

a) Thi hành các đạo luật và quyết nghị của Nghị viện

b) Đề nghị những dự án luật ra trước Nghị viện

c) Đề nghị những dự án sắc luật ra trước Ban thường vụ, trong lúc Nghị viện không họp mà gặp trường hợp đặc biệt

Trang 37

d) Bãi bỏ những mệnh lệnh và nghị quyết của cơ quan cấp dưới, nếu cần

đ) Bổ nhiệm hoặc cách chức các nhân viên trong các cơ quan hành chính hoặc chuyên môn

e) Thi hành luật động viên và mọi phương sách cần thiết để giữ gìn đất nước

g) Lập dự án ngân sách hàng năm”

Hiến pháp 1946 cũng đã có quy định về tính chịu trách nhiệm của Chính phủ Và chế định này được quy định rất giống của chính thể Đại nghị

cả Quân chủ lẫn Cộng hòa tại điều thứ 54; nhưng lại khác với quy tắc chung

của chính thể Cộng hòa Đại nghị ở chỗ, toàn thể Nội các không phải chịu

trách nhiệm liên đới về hành vi của một Bộ trưởng Điều thứ 54, Hiến pháp 1946:

“Bộ trưởng nào không được Nghị viên tín nhiệm thì phải từ chức

Toàn thể Nội các không phải chịu liên đới trách nhiệm về hành vi một

Bộ trưởng

Thủ tướng phải chịu trách nhiệm về con đường chính trị của Nội các Nhưng Nghị viện chỉ có thể biểu quyết về vấn đề tín nhiệm khi Thủ tướng, Ban thường vụ hoặc một phần tư tổng số Nghị viện nêu vấn đề ấy ra

Trong hạn 24 giờ sau khi Nghị viện biểu quyết không tín nhiệm Nội các thì Chủ tịch nước Việt Nam có quyền đưa vấn đề tín nhiệm ra Nghị viện thảo luận lại Cuộc thảo luận lần thứ hai phải cách cuộc thảo luận lần thứ nhất

là 48 giờ Sau cuộc biểu quyết này, Nội các mất tín nhiệm phải từ chức”

2.2 Tổ chức Chính phủ Việt Nam theo Hiến pháp 1959

Hiến pháp 1959 ra đời trong hoàn cảnh miền Bắc đã được giải phóng

và đi lên chủ nghĩa xã hội; cho nên có một thay đổi về thiết chế quyền lực”

Chủ tịch nước vẫn là “Người thay mặt cho nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Trang 38

về đối nội và đối ngoại”, nhưng không phải là người đứng đầu Chính phủ, điều hành Chính phủ, mà chỉ “có quyền tham dự và chủ tọa các phiên họp của Hội đồng Chính phủ khi xét thấy cần thiết” Chính phủ Việt Nam theo Hiến

pháp 1959 được gọi là Hội đồng Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

“Hội đồng Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, và là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà” Hội đồng Chính phủ chịu trách nhiệm và báo

cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội

Về cơ cấu, tổ chức: “Hội đồng Chính phủ gồm có: Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng, các Chủ nhiệm các Uỷ ban Nhà nước, Tổng giám đốc ngân hàng Nhà nước Tổ chức của Hội đồng Chính phủ do luật định”

(Điều 72)

Hội đồng Chính phủ căn cứ vào Hiến pháp, pháp luật và pháp lệnh mà quy định những biện pháp hành chính, ban bố những nghị định, nghị quyết, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những nghị định, nghị quyết và chỉ thị ấy (Điều 73)

Về nhiệm vụ quyền hạn, Hội đồng Chính phủ có những quyền hạn sau đây:

- Trình dự án luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác ra trước Quốc hội

và Uỷ ban thường vụ Quốc hội

- Thống nhất lãnh đạo công tác của các Bộ và các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ

- Thống nhất lãnh đạo công tác của Uỷ ban hành chính các cấp

Trang 39

- Sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định không thích đáng của các Bộ, các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ; sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định không thích đáng của Uỷ ban hành chính các cấp

- Đình chỉ việc thi hành những nghị quyết không thích đáng của Hội đồng nhân dân tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương và đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết ấy

- Chấp hành kế hoạch kinh tế và ngân sách Nhà nước

- Quản lý nội thương và ngoại thương

- Quản lý công tác văn hoá, xã hội

- Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, duy trì trật tự công cộng, bảo hộ quyền lợi của công dân

- Lãnh đạo việc xây dựng lực lượng vũ trang của Nhà nước

- Quản lý công tác đối ngoại

- Quản lý công tác dân tộc

- Phê chuẩn sự phân vạch địa giới của các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh

- Thi hành lệnh động viên, lệnh giới nghiêm và mọi biện pháp cần thiết

“Thủ tướng Chính phủ chủ toạ phiên họp của Hội đồng Chính phủ và lãnh đạo công tác của Hội đồng Chính phủ Các Phó thủ tướng giúp thủ tướng, có thể được uỷ nhiệm thay Thủ tướng khi Thủ tướng vắng mặt” (Điều 75)

Trang 40

Các Bộ trưởng và thủ trưởng các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ

lãnh đạo công tác của ngành mình dưới sự lãnh đạo thống nhất của Hội đồng Chính phủ

Trong phạm vi quyền hạn của mình, trên cơ sở và để thi hành pháp luật

và các nghị định, nghị quyết, chỉ thị của Hội đồng Chính phủ, các Bộ trưởng

và thủ trưởng các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ ra những thông tư, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các thông tư, chỉ thị ấy

Trong khi thi hành chức vụ, các thành viên của Hội đồng Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi trái với Hiến pháp và pháp luật gây thiệt hại cho Nhà nước hay là cho nhân dân

2.3 Tổ chức Chính phủ Việt Nam theo Hiến pháp 1980

Theo Hiến pháp 1980, Chính phủ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Hội đồng Bộ trưởng, là cơ quan chấp hành và hành chính nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Hội đồng Bộ trưởng

là Chính phủ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan chấp hành và hành chính Nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất Hội đồng bộ trưởng chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng Nhà nước

Như vậy, khác với hai Hiến pháp trước, Chính phủ không chỉ là cơ quan chấp hành của Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, mà còn

là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất – Quốc hội Sự thay đổi đó hàm nghĩa là không nêu lên sự phân biệt giữa ba quyền, đặc biệt là giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp, và quyền hành pháp là của Quốc hội Có thể nói, có dáng dấp cua một thiết chế “hỗn hợp các quyền”, tức là Quốc hội không chỉ là cơ quan thống nhất quyền lực cao nhất, mà còn là cơ quan nắm và thực thi quyền hành pháp

Ngày đăng: 26/09/2020, 00:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w