1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tội cưỡng đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk). Luận văn ThS. Luật Hình sự và tố tụng Hình sự: 60 38 01 04

108 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 911,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tăng cường công tác hướng dẫn, giải thích các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 trong tương quan với các văn bản pháp luật khác về tội cưỡng đoạt tài sản .... * Dưới góc độ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

Y PHI KBUÔR

TỘI CƢỠNG ĐOẠT TÀI SẢN

TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS TRỊNH TIẾN VIỆT

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các

số liệu thống kê, ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo đảm tính thực tiễn, chính xác, trung thực và tin cậy Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác và nếu có tham khảo đều được trích dẫn đầy đủ Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học theo chương trình và thực hiện tất cả các nghĩa vụ về tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Y Phi Kbuôr

Trang 4

TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 8

1.1 KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI

CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 8 1.1.1 Tài sản với tư cách là đối tượng tác động của các tội xâm phạm

sở hữu trong luật hình sự Việt Nam 8 1.1.2 Khái niệm tội cưỡng đoạt tài sản 9 1.1.3 Ý nghĩa của việc quy định tội cưỡng đoạt tài sản trong luật hình

sự Việt Nam 13 1.2 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN QUY

ĐỊNH VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN NAY 15 1.2.1 Giai đoạn từ khi sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công

đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự năm 1985 15 1.2.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước

pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự năm 1999 18 1.2.3 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay 21 1.3 QUY ĐỊNH VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT

HÌNH SỰ VIỆT NAM VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 28 1.3.1 Bộ luật hình sự Liên bang Nga 28 1.3.2 Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 31

Trang 5

1.3.3 Bộ luật hình sự Nhật Bản 31

1.3.4 Bộ luật hình sự một số nước ASEAN 33

CHƯƠNG 2: TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK GIAI ĐOẠN 2010 - 2015 36

2.1 CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ HÌNH SỰ CỦA TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN 36

2.1.1 Khách thể của tội cưỡng đoạt tài sản 37

2.1.2 Mặt khách quan của tội cưỡng đoạt tài sản 38

2.1.3 Chủ thể của tội cưỡng đoạt tài sản 40

2.1.4 Mặt chủ quan của tội cưỡng đoạt tài sản 41

2.2 HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN 42

2.2.1 Khoản 1 Điều 135 Bộ luật hình sự 42

2.2.2 Khoản 2 Điều 135 Bộ luật hình sự 42

2.2.3 Khoản 3 Điều 135 Bộ luật hình sự 46

2.2.4 Khoản 4 Điều Điều 135 Bộ luật hình sự 46

2.2.5 Hình phạt bổ sung 47

2.3 SO SÁNH TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN VỚI MỘT SỐ TỘI DANH KHÁC 47

2.3.1 So sánh với tội cướp tài sản quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999 47

2.3.2 So sánh với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 1999 48

2.4 THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK GIAI ĐOẠN 2010 - 2015 50

2.4.1 Khái quát điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 50

2.4.2 Thực tiễn xét xử tội cưỡng đoạt tài sản 54

2.4.3 Một số tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản 63

Trang 6

CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ TIẾP TỤC HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH

CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG 74

3.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC TIẾP TỤC HOÀN THIỆN BỘ

LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN 74 3.1.1 Về phương diện chính trị, xã hội 74 3.1.2 Về phương diện thực tiễn xét xử 76 3.1.3 Về phương diện lý luận và lập pháp hình sự 77 3.2 NỘI DUNG TIẾP TỤC HOÀN THIỆN BỘ LUẬT HÌNH SỰ

VIỆT NAM NĂM 2015 VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN 78 3.2.1 Nhận xét 78 3.2.2 Nội dung hoàn thiện cụ thể 79 3.3 CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ

LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN 81 3.3.1 Tăng cường công tác hướng dẫn, giải thích các quy định của Bộ

luật hình sự Việt Nam năm 2015 trong tương quan với các văn bản pháp luật khác về tội cưỡng đoạt tài sản 81 3.3.2 Tăng cường quan hệ phối hợp của các cơ quan tiến hành tố tụng

(Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) trên cơ sở thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan 83 3.3.3 Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về vũ khí, quan tâm giải

quyết các mâu thuẫn phát sinh trong cộng đồng dân cư ngay từ cơ sở 86 3.4 CÁC GIẢI PHÁP KHÁC 89 3.4.1 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân 89 3.4.2 Phối hợp các cơ quan, tổ chức với các cơ quan bảo vệ pháp luật và

Tòa án để phòng ngừa, ngăn chặn và xét xử nghiêm minh tội cưỡng đoạt tài sản 90

KẾT LUẬN 93 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.2 Tình hình công tác thụ lý, giải quyết án hình sự của Tòa án nhân

Bảng 2.3 Tình hình công tác thụ lý, giải quyết án hình sự về các tội

xâm phạm sở hữu của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk

Bảng 2.4 Kết quả xét xử về các tội xâm phạm sở hữu của Tòa án nhân

Bảng 2.5 Nhân thân bị cáo phạm các tội xâm phạm sở hữu của Tòa án nhân

Bảng 2.6 Tình hình công tác thụ lý, giải quyết án hình sự về tội cưỡng

đoạt tài sảncủa Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk trong

Bảng 2.7 Kết quả xét xử sơ thẩm về tội cưỡng đoạt tài sản của Tòa án nhân

Bảng 2.8 Nhân thân người phạm tội cưỡng đoạt tài sản của Tòa án nhân

Bảng 2.9 Kết quả xét xử phúc thẩm về tội cưỡng đoạt tài sản củaTòa

án nhân dân hai cấp tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 6 năm

Bảng 2.10 Tương quan tổng số vụ án và tổng số bị cáo bị Tòa án các

cấp đưa ra xét xử về các tội xâm phạm sở hữu và tội cưỡng đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 6 năm

Biểu đồ 2.1 Tổng số vụ án và tổng số bị cáo bị Tòa án các cấp đưa ra xét

xử về các tội phạm hình sự với các tội xâm phạm sở hữu và tội cưỡng đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trải qua 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn, quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, cùng với thành tựu chung đó là Hiến pháp và hệ thống pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự nước ta ngày càng tiến bộ, đầy đủ và đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới

Quyền sở hữu tài sản là quyền thiết thân quan trọng của mỗi cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ và được quy định tại Chương XIV Bộ luật hình

sự năm 1999 về “Các tội phạm xâm phạm sở hữu” và hiện nay là Chương

XVI Bộ luật hình sự năm 2015 nhưng chưa có hiệu thi hành Đây chính là hành lang pháp lý, căn cứ quan trọng để các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý những chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm quyền sở hữu tài sản nói chung, trong đó có tội cưỡng đoạt tài sản nói riêng

Trong những năm vừa qua, hòa cùng xu thế phát triển của xã hội các quyền sở hữu tài sản của công dân ngày càng được quan tâm, chú trọng bảo vệ

và được cụ thể hóa trong Chương XIV Bộ luật hình sự năm 1999 và Chương XIII Bộ luật dân sự năm 2015 Tuy nhiên, bên cạnh đó là sự phát sinh các hành

vi vi phạm quyền sở hữu ở các cấp độ và cao nhất là hành vi phạm tội, tác động trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, gây thiệt hại về tài sản, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an với hình thức đa dạng, tinh vi, tính chất ngày càng phức tạp, trong đó có các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội cưỡng đoạt tài sản nói riêng đòi hỏi phải có biện pháp phòng ngừa tội phạm kịp thời

Nhận thức và xem xét vấn đề quan trọng đó, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk không ngừng đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử các loại vụ án, phấn đấu không để xảy ra việc kết án oan người không có tội

Trang 9

và bỏ lọt tội phạm, hạn chế tới mức thấp nhất các bản án, quyết định bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán, bảo đảm các quyết định của Tòa án đúng pháp luật, đầy đủ, rõ ràng, dễ hiểu, có sức thuyết phục cao, có tính khả thi tốt

và được dư luận xã hội đồng tình, ủng hộ và tăng cường hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như giáo dục, cải tạo người phạm tội

Theo thống kê, năm 2010 tổng số vụ án và bị cáo phạm tội cưỡng đoạt tài sản được đưa ra giải quyết ở cấp sơ thẩm là 10 vụ án và 23 bị cáo; năm 2011

có 18 vụ án và 36 bị cáo; năm 2012 có 09 vụ án và 12 bị cáo; năm 2013 có 13

vụ án và 30 bị cáo; năm 2014 có 02 vụ án và 03 bị cáo và năm 2015 có 06 vụ

và 18 bị cáo [48] Như vậy, về cơ bản Tòa án nhân dân hai cấp (cấp sơ thẩm và phúc thẩm) của tỉnh Đắk Lắk đã áp dụng pháp luật trong việc định tội danh đúng và quyết định hình phạt chính xác, nhưng vẫn còn một vài trường hợp áp dụng không đúng, chưa xem xét đầy đủ tính chất, mức độ phạm tội nên dẫn đến việc định tội danh còn thiếu chính xác, hoặc phân hóa trách nhiệm hình sự chưa chính xác, qua đó, ít nhiều đã làm giảm hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, tội cưỡng đoạt tài sản nói riêng, giảm uy tín của Tòa

án cũng như chưa bảo đảm các quyền và lợi ích của công dân

Do đó, thực tiễn đã đòi hỏi cần có sự nghiên cứu cụ thể để có luận cứ khoa học, kiến nghị những giải pháp góp phần tiếp tục hoàn thiện hơn nữa và bảo đảm áp dụng quy định về tội cưỡng đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự Việt Nam Hơn nữa, việc đánh giá quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 vừa được Quốc hội thông qua để đưa ra kiến nghị giải pháp thi hành là yêu cầu quan

trọng Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Tội cưỡng đoạt tài sản trong luật

hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)” làm

đề tài luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu

Ở nước ta đã có các công trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp về

Trang 10

tội cưỡng đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam ở một số cấp độ khác nhau, chẳng hạn như:

* Dưới góc độ sách chuyên khảo, sách tham khảo, giáo trình… liên

quan đến vấn đề định tội danh về tội cưỡng đoạt tài sản, có thể kể đến các

công trình sau: 1) PGS.TS Trịnh Quốc Toản, Một số vấn đề lý luận về định

tội danh và hướng dẫn giải bài tập về định tội danh, Nxb Đại học Quốc gia

Hà Nội, 1999; 2) GS.TSKH Lê Văn Cảm, PGS.TS Trịnh Quốc Toản, Định

tội danh (Lý luận, Lời giải mẫu và 500 bài tập thực hành), Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội, 2011; 3) PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, Chương VI - Các tội

xâm phạm sở hữu, Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các

tội phạm), Tập thể tác giả do GS.TSKH Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc

gia Hà Nội, 2001, tái bản năm 2003, 2007; 4) ThS Đoàn Tấn Minh, Phương

pháp định tội danh và hướng dẫn định tội danh đối với các tội phạm trong Bộ luật hình sự hiện hành, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2010; 5) ThS Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Phần các tội phạm, Tập II - Các tội xâm phạm sở hữu, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 2002; v.v Gần đây nhất, cuốn

sách chuyên khảo của PGS.TS Cao Thị Oanh chủ biên, Các tội xâm phạm sở

hữu có tính chất chiếm đoạt, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2015 đã phân tích cả

nhóm tội phạm (trong đó có tội cưỡng đoạt tài sản) trong Bộ luật hình sự và đánh giá thực tiễn xét xử

* Dưới góc độ luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ luật học…, nói chung,

chỉ có một số công trình đề cập riêng lẽ đến vấn đề trách nhiệm hình sự, định tội danh hoặc về tội cưỡng đoạt tài sản hoặc đấu tranh phòng, chống tội phạm

này như: 1) Nguyễn Ngọc Chí, Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm

sở hữu, Luận án tiến sĩ luật học, Viện Nhà nước và pháp luật, Hà Nội, 2000;

2) Đặng Thúy Quỳnh, Đấu tranh phòng, chống tội cướp giật tài sản ở nước ta

hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học Xã hội, 2016; 3) Trần

Thị Phường, Định tội danh đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn

Trang 11

tỉnh Bình Định giai đoạn 2006-2010, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật,

Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011; 3) Nguyễn Bích Ngọc, Tội cưỡng đoạt tài

sản trong pháp luật hình sự Việt Nam (nghiên cứu thực tiễn giai đoạn 2012),Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013; v.v…

2008-* Dưới góc độ bài viết, đề tài khoa học…, hiện nay, trên Tạp chí Tòa án

nhân dân và một số tạp chí khác cũng đăng nhưng chỉ mang tính chất đơn lẻ

và phân tích các dấu hiệu pháp lý hình sự và hình phạt của tội phạm, cũng như định tội danh đối với từng vụ án cụ thể Ví dụ: 1) GS.TS Võ Khánh

Vinh, Về khái niệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản công dân

theo luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 3/1986; 2) TS Phan Anh

Tuấn, Định tội danh trong trường hợp một hành vi thỏa mãn dấu hiệu của

nhiều cấu thành tội phạm, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2001; 3) Trần Văn

Hậu,Đặc điểm người bị hại trong các vụ phạm tội cưỡng đoạt tài sản dưới

hình thức “Đòi nợ thuê”, Tạp chí Cảnh sát nhân dân, số 10/2014; v.v…

Như vậy, nghiên cứu cho thấy chỉ có một số công trình đề cập riêng lẽ đến vấn đề trách nhiệm hình sự, phân tích dấu hiệu pháp lý hình sự và hình phạt; việc định tội danh hoặc về tội cưỡng đoạt tài sản hoặc đấu tranh phòng, chống tội phạm này chứ chưa có công trình nào đề cập trực tiếp đến tội cưỡng đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam và trên một địa bàn cụ thể có vị trí quan trọng về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội là tỉnh Đắk Lắk Do đó, việc nghiên cứu tội cưỡng đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 6 năm (2010 - 2015), đề xuất kiến nghị tiếp tục hoàn thiện Bộ luật hình sự nước ta về tội phạm này, cũng như các giải pháp bảo đảm thi hành (áp dụng) là cần thiết

3 Đối tƣợng, phạm vi và mục đích nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận, pháp lý và quy định của Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật có liên quan

Trang 12

đến tội cưỡng đoạt tài sản Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng pháp luật, Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới và thực tiễn xét xử tội cưỡng đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 6 năm (2010 - 2015), chỉ ra một số tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản, từ đó, đề xuất kiến nghị tiếp tục hoàn thiện Bộ luật hình sự năm 2015 và một số giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật được thống nhất, qua đó, nâng cao hiệu quả, chất lượng xét xử của Tòa án, cũng như góp phần trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm này trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề lý luận, pháp lý về tội cưỡng đoạt tài sản trong luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, có so sánh với Bộ luật hình sự năm 2015 và thực tiễn xét xử tội cưỡng đoạt tài sản của Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 6 năm (2010 - 2015)

4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, định hướng của Đảng về chính sách hình sự; quan điểm, đường lối xử lý các tội xâm phạm sở hữu nói chung, tội cưỡng đoạt tài sản nói riêng

4.2 Các phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp số liệu dựa trên những bản

án, quyết định, số liệu thống kê, báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk để phân tích các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn

đề tương ứng được nghiên cứu

Trang 13

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

5.1 Ý nghĩa khoa học

Hiện nay, để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân, cũng như phục vụ Hiến pháp năm 2013 và các văn kiện của Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, triển khai thi hành Bộ luật hình sự năm 2015, quá trình thi hành Bộ luật hình sự năm 1999 thì việc nghiên cứu để làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, pháp lý; quy định trong Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới về tội cưỡng đoạt tài sản và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk góp phần bổ sung vào kho tàng lý luận về tội phạm và hình phạt trong luật hình sự Việt Nam nói chung, các tội xâm phạm sở hữu nói riêng, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khỏe của con người, cũng như bảo đảm trật tự, an toàn xã hội nói riêng

vụ án hình sự

Đặc biệt, luận văn còn là tài liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật hình sự - tố tụng hình sự và Tội phạm học tại các cơ sở đào tạo luật trên cả nước

Trang 14

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề chung về tội cưỡng đoạt tài sản trong luật

hình sự Việt Nam

Chương 2: Tội cưỡng đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự Việt Nam và

thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2010 - 2015

Chương 3: Kiến nghị tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự

Việt Nam về tội cưỡng đoạt tài sản và các giải pháp bảo đảm áp dụng

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN

TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI CƯỠNG

ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1.1 Tài sản với tư cách là đối tượng tác động của các tội xâm

phạm sở hữu trong luật hình sự Việt Nam

Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 thì "tài sản" được hiểu bao gồm

"vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản" [37, Điều 163], trong đó

"quyền tài sản" là các "quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao

trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ" [37, Điều 181] Đến Bộ

luật dân sự năm 2015 vừa được Quốc hội thông qua có hiệu lực từ ngày

01/01/2017 thì cả hai khái niệm "tài sản" và "quyền tài sản" vẫn được định

nghĩa như vậy [39, Điều 105, 115]

Trong khi đó, đối với các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, trong đó có tội cưỡng đoạt tài sản thì không phải lúc nào tài sản theo quan niệm như trên của Bộ luật dân sự cũng được coi là đối tượng tác động của tội phạm này Lý do không phải tài sản nào người phạm tội cũng có thể chiếm đoạt được từ chủ tài sản Tài sản là đối tượng tác động của các tội phạm xâm phạm

sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói chung và của tội cưỡng đoạt tài sản nói riêng, phải thỏa mãn ba đặc trưng cơ bản sau đây [13, tr.245-247]

* Tài sản phải được thể hiện dưới dạng vật chất, có giá trị và giá trị

sử dụng Theo đó, tài sản này là thước đo giá trị lao động của con người

được kết tinh, đồng thời phải thỏa mãn được các nhu cầu về vật chất hoặc tinh thần của con người

* Tài sản phải có chủ sở hữu cụ thể với các quy định có tính chất pháp

Trang 16

lý thể hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản Vì thế, nếu hành vi

phạm tội khi xâm phạm sở hữu phải tác động tới các tài sản đã được xác lập quyền sở hữu bằng những quy định pháp lý đối với một chủ sở hữu nhất định (có thể là tổ chức, pháp nhân hoặc cá nhân) nên chỉ tài sản nào có chủ sở hữu

cụ thể mới là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu, còn tài sản vô chủ không phải là đối tượng tác động của các tội phạm này

* Tài sản phải có khả năng chuyển hóa được giữa các chủ sở hữu với nhau Tương tự, nếu không có khả năng này thì tài sản không thuộc đối tượng

tác động của các tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội cưỡng đoạt tài sản nói riêng Lưu ý, nếu tài sản là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu

là tài sản có tính chất đặc biệt hoặc Nhà nước cấm tư nhân mua bán trao đổi

sẽ là đối tượng tác động của các tội phạm khác quy định trong Bộ luật hình sự trên những cơ sở chung

1.1.2 Khái niệm tội cƣỡng đoạt tài sản

Như vậy, trên cơ sở đặc điểm tài sản là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản, để đưa ra khái niệm tội cưỡng đoạt tài sản cần nghiên cứu, phân tích và làm rõ một số khái niệm và đặc điểm của hành vi chiếm đoạt

Thuật ngữ "chiếm đoạt", theo nghĩa Hán Việt, chiếm là "lấy làm của mình";

"chiếm đoạt" là "dùng sức mạnh, thế lực mà lấy làm của mình" [14, tr.142]; chiếm là: "giữ lấy làm của mình", đoạt là cướp lấy, chiếm đoạt là "cướp lấy bằng

võ lực hay quyền thế" [14, tr.142]; chiếm đoạt còn được hiểu là "chiếm của người khác bằng cách dựa vào quyền hành, sức mạnh vũ lực" [69, tr.1483]

Dưới góc độ pháp lý hình sự, cụm từ "chiếm đoạt tài sản" là hành vi cố ý

chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài

sản của mình [53, tr.366]; hoặc "hành vi cố ý chuyển biến một cách trái pháp

luật tài sản của người khác thành tài sản của mình hoặc của một nhóm người

Trang 17

hoặc cho người khác mà mình quan tâm" [3, tr.230] Ở đây, khái niệm "quản lý"

có thể hiểu là "trông coi, giữ gìn và theo dõi việc gì" [69, tr.1363], "chủ tài sản"

được hiểu bao gồm chủ sở hữu tài sản hoặc người được giao quản lý tài sản

đó (thông qua giao dịch dân sự hoặc theo quy định của pháp luật được giao nhiệm vụ quản lý tài sản)

Hành vi chiếm đoạt tài sản có những đặc điểm chính sau đây:

* Về mặt khách quan, hành vi chiếm đoạt là hành vi làm cho chủ tài sản

(người là chủ sở hữu tài sản hoặc người có quyền quản lý tài sản) mất hẳn khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình và tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trái pháp luật tài sản đó Như vậy, chiếm đoạt xét về mặt thực tế là quá trình vừa làm cho chủ tài sản mất tài sản vừa tạo cho người chiếm đoạt có tài sản đó, quá trình này xét về mặt pháp lý không làm cho chủ sở hữu mất quyền

sở hữu của mình mà chỉ làm mất khả năng thực tế thực hiện các quyền cụ thể của quyền sở hữu

Bên cạnh đó, tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt đòi

hỏi phải có đặc điểm là vẫn còn nằm trong sự chiếm hữu, sự quản lý, kiểm soát của chủ tài sản Nếu tài sản đã thoát ly khỏi sự chiếm hữu, sự quản lý, kiểm soát của chủ tài sản (bị thất lạc) thì không còn là đối tượng của hành vi chiếm đoạt Chỉ khi tài sản còn đang do chủ tài sản chiếm hữu thì mới có thể

có hành vi chiếm đoạt, cũng như mới có hành vi làm mất khả năng chiếm hữu của chủ tài sản

* Về mặt chủ quan, chiếm đoạt là hành vi được người phạm tội thực

hiện có mục đích nên ở đây, lỗi của người có hành vi chiếm đoạt là lỗi cố ý trực tiếp Người thực hiện hành vi chiếm đoạt biết tài sản chiếm đoạt là tài sản đang có người quản lý nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình Những trường hợp lầm tưởng là tài sản của mình hoặc tài sản không có người quản lý đều không phải là trường hợp có hành vi chiếm đoạt

Trang 18

Trong khi đó, "cưỡng đoạt", theo Từ điển tiếng Việt định nghĩa là

"chiếm đoạt bằng lối cưỡng bức"; "cưỡng bức" là "dùng vũ lực hoặc thủ

đoạn dồn người khác vào thế bắt buộc phải làm, dù không muốn cũng không được" [14, tr.142]; v.v

Còn trong khoa học luật hình sự Việt Nam, tuy có nhiều cách thể hiện khác nhau, song về cơ bản các quan điểm đều thống nhất về xác định nội hàm của hành vi cưỡng đoạt tài sản

TS Phạm Văn Beo định nghĩa: "Cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa

dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản" [3, tr.159]

ThS Đinh Văn Quế tiếp cận dưới góc độ thực tiễn xét xử quan niệm:

"Cưỡng đoạt tài sản là tìm mọi cách làm cho người có tài sản hoặc người có trách nhiệm về tài sản sợ hãi phải giao tài sản cho người phạm tội” Như vậy, hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác mà người phạm tội thực hiện là nhằm chiếm đoạt tài sản.Nếu hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhưng không nhằm chiếm đoạt tài sản thì không phải là tội cưỡng đoạt tài sản, mà tùy từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi phạm các tội như: bức tử; cưỡng dâm hoặc cưỡng dâm trẻ em; cưỡng ép hôn nhân, [33, tr.121]

Còn Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì tội phạm này được định nghĩa như sau: "Tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản" [53, tr.378]

Đặc biệt, PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí viết: "Tội cưỡng đoạt tài sản là

việc người phạm tội với mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn uy hiếp tinh thần của chủ sở hữu người quản lý tài sản hoặc người khác có liên quan" [13, tr.248]; v.v

Trang 19

Như vậy, có thể nhận thấy, tuy có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng hành vi cưỡng đoạt tài sản thường được hiểu là hành vi đe dọa sẽ dùng

vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản Mặc dù vậy, vẫn còn có quan điểm mới chỉ đề cập đến dấu hiệu pháp

lý hình sự và hành vi khách quan, chứ chưa đề cập đến dấu hiệu chủ thể của tội phạm (độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và năng lực trách nhiệm hình sự hoặc yếu tố khách thể của tội phạm)

Như vậy, tội cưỡng đoạt tài sản thực chất là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản Hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác với mục đích bắt người có tài sản lo sợ và phải tự nguyện chuyển giao tài sản cho người cưỡng đoạt Đặc trưng cơ bản của tội cưỡng đoạt tài sản là người phạm tội đã

có hành vi uy hiếp tinh thần của người có trách nhiệm về tài sản bằng những thủ đoạn đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác làm cho người có trách nhiệm về tài sản lo sợ mà phải miễn cưỡng giao tài sản cho người phạm tội Ngoài ra, thực tiễn cho thấy, sau khi người có tài sản bị đe dọa sẽ dùng vũ lực

và các thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần thì người có tài sản do lo sợ sẽ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm nên sẽ tự nguyện chuyển giao tài sản cho người cưỡng đoạt nên dễ chuyển sang thành giao dịch dân sự nếu người bị cưỡng đoạt tài sản không tố giác

Tóm lại, dưới góc độ khoa học luật hình sự Việt Nam, khái niệm đang

nghiên cứu được định nghĩa như sau: Tội cưỡng đoạt tài sản là một tội phạm

được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình

sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản người khác bằng các hành vi đe dọa sẽ dùng

vũ lực hoặc thủ đoạn uy hiếp tinh thần của chủ sở hữu, người quản lý tài sản hoặc người khác có liên quan nhằm chiếm đoạt tài sản

Trang 20

1.1.3 Ý nghĩa của việc quy định tội cƣỡng đoạt tài sản trong luật

hình sự Việt Nam

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tình hình tội phạm cũng diễn ra hết sức phức tạp, đặc biệt là đối với các nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt Chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước ta vì thế cũng có những thay đổi để phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội Vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật hình sự là hai phạm trù tuy khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau Chỉ trên cơ sở xử lý các hành vi vi phạm pháp luật một cách nghiêm minh, đúng đắn, chính xác, khách quan, phù hợp với pháp luật thì mới đảo đảm công bằng xã hội Nếu việc xử lý hành vi vi phạm không nghiêm minh, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm sẽ tạo tâm lý coi thường chế tài, nhờn pháp luật hoặc bi quan, chán nản, mất niềm tin vào công lý, khi đó mục đích của hình phạt không những không đạt được mà còn phản tác dụng Do vậy, ý nghĩa của việc quy định tội cưỡng đoạt tài sản được thể hiện qua các phương diện chính sau đây:

* Góp phần bảo đảm pháp chế và xử lý nghiêm minh, kịp thời, công minh và đúng pháp luật hành vi cưỡng đoạt tài sản, xâm phạm quyền sở hữu

Luật hình sự là một ngành trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm

hệ thống quy phạm pháp luật, xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội

là tội phạm; quy định trách nhiệm hình sự thông qua loại và mức hình phạt áp dụng đối với từng tội phạm cụ thể

Ngoài ra, luật hình sự còn là công cụ quan trọng để bảo vệ những thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc gia và trật

tự, an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng và chống mọi hành vi phạm tội, trong đó có hành vi xâm phạm sở hữu của công dân, qua đó, bảo đảm sự ổn định và bền vững của chế độ sở hữu

Trang 21

* Góp phần thực hiện tốt nguyên tắc công bằng, bình đẳng trong luật hình sự Việt Nam

Với việc quy định xử lý trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội

cưỡng đoạt tài sản, qua đó để bảo đảm nguyên tắc công bằng "ở việc không

thoát khỏi trách nhiệm và sự tương xứng của trách nhiệm đối với hành vi vi phạm" [65, tr.45] Ở đây, khi một người thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu

với mức độ nguy hiểm cho xã hội đến thế nào thì có chế tài cụ thể và mức độ trách nhiệm hình sự tương ứng Từ đây, góp phần bảo đảm nguyên tắc công bằng, bình đẳng trong luật hình sự Việt Nam thể hiện tinh thần chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống mọi tội phạm và thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục, cảm hóa, cải tạo người phạm tội trở thành người lương thiện; qua đó, bồi dưỡng cho mọi công dân tinh thần, ý thức làm chủ xã hội, ý thức tuân theo pháp luật, chủ động tham gia phòng ngừa tội phạm

* Xác định rõ ranh giới giữa tội phạm với hành vi vi phạm pháp luật khác và với các hành vi không phải là tội phạm

Để làm cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi

cưỡng đoạt tài sản theo nguyên tắc chung - "Chỉ người nào phạm một tội đã

được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự" Do đó, về

ý nghĩa pháp lý, thì việc quy định trách nhiệm hình sự đối với tội cưỡng đoạt tài sản là cơ sở pháp lý để xử lý người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm đến các quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân Ngoài ra, thông qua

việc "quy định trong luật" về các hình thức cưỡng chế đối với người thực hiện

hành vi xâm phạm này sẽ tác động đến ý thức của nhân dân Từ đó tác động tới tâm lý nhân dân tạo hiệu quả trong cảnh báo và răn đe nếu ai đó thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu Nói một cách khác, đối với tội cưỡng đoạt tài sản phải bảo đảm nguyên tắc mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời,

xử lý nhanh chóng, công minh theo pháp luật; không chỉ nhằm trừng trị người

Trang 22

phạm tội, mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; qua đó giáo dục ý thức tuân thủ và tôn trọng pháp luật của người khác; đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

1.2 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN QUY

ĐỊNH VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN NAY

1.2.1 Giai đoạn từ khi sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất -Bộ luật hình sự năm 1985

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước công nông non trẻ đã tích cực tiến hành công tác lập pháp nói chung và luật pháp hình sự nói riêng nhằm tăng cường việc quản lý Nhà nước bằng pháp luật, bảo vệ các thành quả của Cách mạng Cùng với việc ban hành các Sắc lệnh về chống các loại tội phạm khác, đối với các tội xâm phạm sở hữu, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản như:

- Sắc lệnh số 26/SL ngày 25/02/1946 quy định về trừng trị tội phá hủy công sản;

- Sắc lệnh số 233/SL ngày 17/01/1946 về trừng trị tội phù lạm, biển thủ công quỹ;

- Thông tư số 442/TTg ngày 19/01/1955 của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn các Tòa án trừng trị một số tội phạm xâm phạm sở hữu như trộm cắp, cướp của, lừa gạt, bội tín

Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật thời kỳ này cho thấy việc quy định tội cưỡng đoạt tài sản chưa được đề cập đến với tư cách là một tội phạm độc lập

Ngày 15/6/1956, Chủ tịch nước ký Sắc lệnh số 267/SL trừng trị những

âm mưu hoạt động phá hoại tài sản của Nhà nước, hợp tác xã và của nhân

Trang 23

dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch xây dựng kinh tế và văn hóa Trong nội dung của Sắc lệnh này tuy chưa quy định tội cưỡng đoạt tài sản thành một tội phạm cụ thể, nhưng các hành vi khách quan của tội phạm này đã được đề cập và hướng dẫn về đường lối xử lý tương tự tội cướp tài sản

và tội cướp giật tài sản

Do đó, để từng bước hoàn thiện pháp luật, đáp ứng yêu cầu quản lý đất nước và cụ thể hóa công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm xâm phạm sở hữu trong tình hình mới, ngày 21/10/1970, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa

và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân [49, tr.220] Nội dung của hai Pháp lệnh này một mặt khẳng định nguyên tắc Nhà nước kiên quyết bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, đồng thời bảo hộ tài sản riêng của công dân, chống lại mọi hành vi xâm hại đến tài sản của Nhà nước cũng như tài sản của công dân

Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa quy định

cụ thể về tội cưỡng đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 9), như sau:

1 Kẻ nào đe dọa dùng bạo lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người có trách nhiệm về tài sản xã hội chủ nghĩa nhằm chiếm đoạt tài sản đó thì bị phạt tù từ 1 năm đến 7 năm

2 Phạm tội trong những trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ

Trang 24

1 Kẻ nào đe dọa dùng bạo lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người công dân nhằm chiếm đoạt tài sản riêng của người đó thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm

2 Phạm tội trong những trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ

2 năm đến 10 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm; b) Chiếm đoạt một số lớn tài sản hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác [49, tr.455]

Có thể nhận thấy, lần đầu tiên pháp luật Nhà nước ta ghi nhận các tội xâm phạm quyền sở hữu là những tội phạm độc lập Trong hai Pháp lệnh nói trên, tội cưỡng đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa và tội cưỡng đoạt tài sản của công dân quy định về cơ bản đều có hành vi khách quan giống nhau Trong

đó, mức hình phạt đối với hành vi cưỡng đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa nặng hơn so với hành vi cưỡng đoạt tài sản riêng công dân Trong giai đoạn này,

mặc dù chưa có hướng dẫn cụ thể về các vấn đề như "số lượng lớn", "tài sản

có giá trị đặc biệt"hay "gây hậu quả nghiêm trọng khác", nhưng việc quy

định các tình tiết này cũng đã phần nào đáp ứng được việc đấu tranh với loại tội phạm này

Ngoài ra, để giúp cho các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án vận dụng đúng đắn các quy định của Pháp lệnh nêu trên; ngày 09/12/1970, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 185-CT/TW về tăng cường bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa [49, tr.214] đã hướng dẫn áp dụng pháp luật đối với một số tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa; tội cưỡng đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 9) được hiểu như sau:

"Cưỡng đoạt tài sản thông thường được hiểu là dùng mọi cách uy hiếp

về tinh thần, dọa nạt sẽ làm hại đến quyền lợi của người giữ tài sản về mặt nhân thân, danh dự, tài sản (như đòi phải giao tài sản nếu không sẽ dùng bạo

Trang 25

lực, sẽ tung tin xấu, sẽ tố cáo một hành vi phạm pháp nào đó ), khiến người này vì sợ một điều gì hay sẽ xảy ra cho mình mà phải miễn cưỡng để cho lấy tài sản [49, tr.223]

Mức uy hiếp cao nhất là "đe dọa dùng bạo lực" với đặc điểm khác so

với tội cướp là ở chỗ tinh chất ít mãnh liệt hơn nhiều vì kẻ phạm tội không có

ý định thực hiện ngay tức khắc lời đe dọa này: người bị hại biết rằng có thể không đưa ngay tài sản mà không nguy hại trực tiếp ngay đến tính mạng, sức khỏe của mình

Trường hợp kẻ phạm tội dùng uy thế uy quyền thực sự của chức vụ trong quan hệ đối với người giữ tài sản xã hội chủ nghĩa để đe dọa mà chiếm đoạt tài sản là tình tiết tăng nặng chuyển khung (khoản 2 điểm b) [49, tr.223]

Như vậy, có thể khẳng định rằng, cùng với nhóm các tội phản cách mạng được ban hành trong Pháp lệnh ngày 30/10/1967 về trừng trị các tội phản cách mạng [49, tr.193], tội cưỡng đoạt tài sản là một trong các tội xâm phạm sở hữu được ghi nhận sớm trong hệ thống pháp luật nước ta để bảo vệ tài sản, chế độ sở hữu của Nhà nước, của xã hội và của công dân, cũng như

giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội

1.2.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự năm 1999

Năm 1975, sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng…, nhưng cũng gặp phải nhiều khó khăn, trở ngại trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, pháp luật Cùng với các lĩnh vực khác, trong lĩnh vực lập pháp hình sự, hệ thống văn bản luật hình sự đơn hành đã không đủ cơ sở pháp lý vững chắc cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức

và công dân Điều này cũng là dễ lý giải vì pháp luật hình sự là công cụ có

Trang 26

hiệu quả cao nhất để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tự do và an ninh của con người, cũng như chế độ sở hữu của tài sản của công dân Trên cơ sở kế thừa thành tựu lập pháp của lịch sử cũng như học tập kinh nghiệm nước ngoài, nhất là kinh nghiệm của các nước như Liên Xô cũ (nay là Liên bang Nga), Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và một số nước xã hội chủ nghĩa khác; sau một thời gian tập hợp, nghiên cứu, soạn thảo, ngày 27/6/1985, Bộ luật hình sự đầu tiên của Nhà nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời Theo đó, lần đầu tiên, vấn đề quyền sở hữu

và nhiều quyền khác của con người, của công dân đã được ghi nhận, tôn trọng

và bảo vệ một cách có hệ thống và rõ ràng trong một văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao, đó là Bộ luật hình sự

Ngày 27/6/1985, tại kỳ họp thứ IX, Quốc hội khóa VII đã thông qua

Bộ luật hình sự, có hiệu lực từ ngày 01/01/1986 (sau đây viết tắt là Bộ luật hình sự năm 1985) trên cơ sở pháp điển hóa những nguyên tắc, chế định pháp luật hình sự của nước ta trước đây Đánh giá về vị trí, vai trò và hiệu quả của Bộ luật hình sự năm 1985, TS Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng

Bộ Tư pháp cho rằng:

Bộ luật hình sự năm 1985 đã phát huy vai trò, tác dụng to lớn trong công cuộc bảo vệ những thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần giáo dục mọi người nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, nâng cao ý thức phòng ngừa và chống tội phạm [1, tr.13]

Về việc phòng, chống các tội xâm phạm sở hữu, Bộ luật hình sự năm

1985 đã kế thừa và kế thừa cơ bản, hầu hết các quy định của hai Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân Bộ luật hình sự năm 1985 quy định

Trang 27

tội cưỡng đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 130) thuộc Chương IV "Các tội

xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa" và tội cưỡng đoạt tài sản của công dân

(Điều 153) thuộc Chương VI "Các tội xâm phạm sở hữu của công dân"

Bộ luật hình sự năm 1985 quy định về tội cưỡng đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, như sau:

1 Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người có trách nhiệm về tài sản xã hội chủ nghĩa nhằm chiếm đoạt tài sản đó thì bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 3 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Tái phạm nguy hiểm

3 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm [35, Điều 130]

Còn Bộ luật hình sự năm 1985 quy định về tội cưỡng đoạt tài sản riêng của công dân, như sau:

1 Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản thì bị phạt tù từ

b) Tái phạm nguy hiểm [35, Điều 153]

Nguyên tắc chung về xử lý loại tội phạm này quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985 nói chung không có gì thay đổi so với hai Pháp lệnh năm

Trang 28

1970, hành vi khách quan giống nhau nhưng hình phạt đối với tội cưỡng đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa nặng hơn

Nhìn chung, quy định về tội cưỡng đoạt tài sản trong pháp luật hình sự thời kỳ này tương đối ổn định Qua các lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự vào ngày 12/8/1991, ngày 22/12/1992 và ngày 10/5/1997 thì tội cưỡng đoạt tài sản trong luật hình sự nước ta không có thay đổi

1.2.3 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay

Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã giành được nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực Thực hiện chủ trương tiến hành đổi mới toàn diện trên mọi mặt của đời sống xã hội, đất nước ta đã chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở cửa hội nhập với các nước khác trong khu vực và quốc tế Đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa,

xã hội của đất nước đã có nhiều khởi sắc, được nhân dân và bạn bè quốc tế đánh giá cao

Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi cơ chế, bên cạnh những mặt tích cực, mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực, trong đó tình hình tội phạm diễn biến hết sức phức tạp Trong tình hình mới, Bộ luật hình sự năm 1985, mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung 4 lần, cũng đã bộc lộ những hạn chế như kết cấu một số chương, điều chưa phù hợp, khung hình phạt quá rộng nên dễ dẫn đến tùy tiện, không đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định tội danh Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự chỉ là biện pháp tình thế, Bộ luật hình sự cần phải được sửa đổi, hoàn thiện hơn nữa để góp phần giữ vững trật tự, an ninh xã hội trong thời kỳ này

Xuất phát từ yêu cầu của xã hội, cùng sự gia tăng với tốc độ nhanh chóng của tội phạm khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều

Trang 29

thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều thành phần kinh tế được xác lập với nhiều hình thức sở hữu khác nhau Do đó, để bảo đảm sự bình đẳng của các thành phần kinh tế đòi hỏi Nhà nước ta phải có quan niệm bình đẳng về vấn đề sở hữu chung và sở hữu riêng Việc phân định hai hình thức sở hữu để quy định thành hai khách thể bảo vệ độc lập là tài sản thuộc sở hữu xã hội chủ nghĩa và tài sản thuộc sở hữu công dân dẫn đến việc xác định chính xác tội danh là rất khó khăn, thiếu chính xác [29, tr.40] Trong trường hợp người phạm tội chỉ

có một hành vi chiếm đoạt duy nhất nhưng tài sản bị xâm hại lại bao gồm nhiều hình thức sở hữu đan xen, khi đó nên xử một tội hay nhiều tội đều không phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như quy định của pháp luật

Hơn nữa, về dấu hiệu pháp lý hình sự, các tội đó tuy nằm ở hai chương khác nhau nhưng đều có cùng đặc điểm, tính chất, có chăng sự khác biệt chỉ là khách thể và đối tượng là tài sản chịu sự tác động của tội phạm thuộc sở hữu Nhà nước hay của công dân và trong nhiều trường hợp, không phải lúc nào người phạm tội cũng có thể xác định được tài sản đó là của Nhà nước hay công dân

Trước yêu cầu đó, ngày 21/12/1999, tại kỳ họp thứ VI, Quốc hội khóa X

đã thông qua Bộ luật hình sự mới thay thế Bộ luật hình sự năm 1985, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2000 Bộ luật hình sự năm 1999 ra đời đánh dấu một bước phát triển trong quá trình xây dựng pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật hình sự nói riêng Đây là sự đúc kết thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, thể hiện đường lối, chính sách hình sự của Đảng ta trong giai đoạn phát triển mới của đất nước cũng như đòi hỏi của xã hội trước xu thế hội nhập quốc tế Tại đây, lần đầu tiên Nhà nước ta đã xóa bỏ ranh giới giữa sở hữu Nhà nước và sở hữu của công dân trong chính sách hình sự của mình

Trang 30

Bộ luật hình sự năm 1999 đã nhập hai khách thể riêng được quy định tại Chương IV và Chương VI Bộ luật hình sự năm 1985 thành một chương (Chương XIV) trong Bộ luật hình sự năm 1999 với 13 tội danh Trong đó, tội cưỡng đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa và tội cưỡng đoạt tài sản của công dân được gộp vào quy định chung là tội cưỡng đoạt tài sản được quy định tại Điều

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 200 triệu đồng đến dưới

500 triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng

4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500 đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng [36, Điều 135]

Trang 31

Về hình phạt bổ sung: Bộ luật hình sự năm 1999 quy định áp dụng hình

phạt bổ sung đối với người thực hiện hành vi phạm tội này như sau: "5 Người

phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản" [36, Điều 135]

Theo đó, so với Bộ luật hình sự năm 1985 thì tội cưỡng đoạt tài sản không có gì khác biệt về hành vi khách quan và cấu thành cơ bản của tội phạm Về hình phạt, Điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999 so với tội phạm quy định tại Điều 130 Bộ luật hình sự năm 1985 là tương đương nhưng so với Điều 153 Bộ luật hình sự năm 1985 thì nặng hơn (mức cao nhất là 20 năm tù, trong khi đó Điều 153 là 10 năm tù)

Như vậy, có thể thấy tội cưỡng đoạt tài sản là một trong số các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự trên cơ sở ghép hai tội phạm đã được quy định tại Điều 130 (Tội cưỡng đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa) và Điều 153 (Tội cưỡng đoạt tài sản của công dân) trong Bộ luật hình

sự năm 1985 So với Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 135 Bộ luật hình sự hiện hành có nhiều sửa đổi, bổ sung, nhất là đối với các tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, quy định cụ thể hơn, dễ áp dụng hơn Bộ luật hình sự năm

1985 quy định hai tội danh khác nhau về cùng một hành vi cưỡng đoạt tài sản

Bộ luật hình sự năm 1999 quy định thành một tội cưỡng đoạt tài sản, không phân biệt tài sản xã hội chủ nghĩa hay tài sản công dân cũng nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn mới

Một vấn đề mấu chốt trong việc áp dụng quy định của Bộ luật hình sự

năm 1999 về tội cưỡng đoạt tài sản là việc xác định như thế nào là "Gây hậu

quả nghiêm trọng","Gây hậu quả rất nghiêm trọng"và"Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" cũng như việc xác định phạm tội trong trường hợp nào thì bị

coi là phạm tội"Có tính chất chuyên nghiệp".Để giải quyết các vấn đề nêu

trên, ngày 25/12/2001, liên ngành Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát

Trang 32

nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP về việc hướng dẫn áp dụng

một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật

hình sự năm 1999

Thông tư liên tịch (đã nêu) hướng dẫn khi áp dụng các tình tiết trên (từ Điều 133 đến Điều 140, Điều 142 và Điều 143 Bộ luật hình sự) thì cần chú ý: Hậu quả phải do hành vi phạm tội gây ra (có mối quan hệ nhân quả giữa hành

vi phạm tội và hậu quả) Hậu quả đó có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản hoặc hậu quả phi vật chất (gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội)

Do đó, để xem xét trong trường hợp nào hành vi phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, trong trường hợp nào hành vi phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng và trong trường hợp nào hành vi phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về nguyên tắc chung phải đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ các hậu quả (thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và các thiệt hại phi vật chất) Nếu gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản thì được

xác định như sau:

a) Nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây là gây hậu quả nghiêm trọng: a.1) Làm chết 1 người;a.2) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 1 đến 2 người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên;a.3) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 3 đến 4 người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%;a.4) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 61% đến 100%, nếu không thuộc các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm a.2 và a.3 trên đây; a.5) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật từ 31 % đến 60% và còn gây

Trang 33

thiệt hại về tài sản có giá trị từ 30 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng;a.6) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng

b) Nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây là gây hậu quả rất nghiêm trọng: b.1) Làm chết 2 người;b.2) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 3 đến 4 người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61 % trở lên;b.3) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 5 đến 7 người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%;b.4) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 101% đến 200%, nếu không thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm b.2 và b.3 trên đây; b.5) Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ 500 triệu đồng; b.6) Gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản mà hậu quả thuộc hai đến ba điểm từ điểm a.1 đến điểm a.6 tiểu mục 3.4 này

c) Nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng:c.1) Làm chết 3 người trở lên;c.2) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 5 người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên;c.3) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 8 người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31 % đến 60%;c.4) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 201% trở lên, nếu không thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm c.2 và c.3 trên đây; c.5) Gây thiệt hại

về tài sản có giá trị từ 1 tỷ 500 triệu đồng trở lên; c.6) Gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản mà hậu quả thuộc bốn điểm trở lên từ điểm a.1 đến điểm a.6 tiểu mục 3.4 này;c.7) Gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản

mà hậu quả thuộc hai điểm trở lên từ điểm b.1 đến điểm b.6 tiểu mục 3.4 này

Ngoài các thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản, thì thực tiễn cho thấy có thể còn có hậu quả phi vật chất, như ảnh hưởng xấu đến việc thực

Trang 34

hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, gây ảnh hưởng về an ninh, trật tự, an toàn xã hội Trong các trường hợp này phải tùy vào từng trường hợp cụ thể để đánh giá mức độ của hậu quả do tội phạm gây ra là nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng

Bên cạnh đó, đối với việc xác định phạm tội thuộc trường hợp "Có tính

chất chuyên nghiệp" thì cũng giống như các tội xâm phạm sở hữu khác, hành

vi này được xác định là người phạm tội chủ yếu lấy việc cưỡng đoạt tài sản làm nguồn sống chính theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.Trong lần sửa đổi Bộ luật hình sự vào năm 2009, các quy định về tội cưỡng đoạt tài sản không có gì thay đổi so với quy định hiện hành

Năm 2015, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015 đã ban hành Bộ luật hình sự mới thay thế Bộ luật hình sự năm 1999 Điểm mới cơ bản của Điều luật này

so với trước đây:

- Bổ sung thêm tình tiết định khung hình phạt:

Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ (điểm c) và Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội (điểm đ khoản 2); Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh (điểm b khoản 3); Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp [41, Điều 170, Khoản 4];

- Bỏ các tình tiết "gây hậu quả nghiêm trọng"; "gây hậu quả rất nghiêm

trọng" và "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" vì đã có các tình tiết lượng hóa

giá trị thiệt hại về tài sản trong nội dung Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015

Như vậy,tội cưỡng đoạt tài sản quy định tại Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015 đã khắc phục được một số bất cập, vướng mắc trong tội cưỡng đoạt tài sản quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999

Trang 35

1.3 QUY ĐỊNH VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN TRONG BỘ

LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỚI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Nếu như việc điều chỉnh pháp luật trong nước để tương thích với các chuẩn mực pháp luật quốc tế đề ra bởi Hiến chương và các Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc là nghĩa vụ của các quốc gia thành viên thì việc học tập kinh nghiệm, đánh giá tương thích với pháp luật để hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia Do đó, việc nghiên cứu quy định về tội cưỡng đoạt tài sản trong

Bộ luật hình sự Việt Nam với một số nước trên thế giới (Liên bang Nga, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Nhật Bản và một số nước ASEAN) không nằm ngoài mục đích đó

1.3.1 Bộ luật hình sự Liên bang Nga

Bộ luật hình sự Liên bang Nga được Đuma Quốc gia (Hạ viện) thông qua ngày 24/11/1995, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/1996 Bộ luật hình

sự năm 1995 không phải là sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1960 mà là

Bộ luật hình sự mới, có nhiều điểm khác biệt so với Bộ luật hình sự năm

1960 Bộ luật hình sự năm 1995 bao gồm Phần chung và Phần các tội phạm được sắp xếp trong 12 phần, 34 Chương và 352 điều Năm 2010, Bộ luật hình sự Liên bang Nga đã được sửa đổi, bổ sung nhiều vấn đề và hiện nay sửa đổi là 360 điều

Bộ luật hình sự Liên bang Nga, trong đó khẳng định dứt khoát ngay các nhiệm vụ của Bộ luật này:

Nhiệm vụ của Bộ luật hình sự này bao gồm: bảo vệ các quyền và tự do của con người và công dân, chế độ sở hữu, trật tự và an toàn môi trường, chế

độ hiến pháp Liên bang Nga trước sự xâm hại của các hành vi phạm tội (khoản 1 Điều 2) Ngoài ra, để thực hiện cho các nhiệm vụ trên, Bộ luật hình

sự này xác định những hành vi nào gây nguy hiểm cho cá nhân, xã hội hoặc Nhà nước bị coi là tội phạm… (khoản 2 Điều 2) [55, tr.18]

Trang 36

Đây là một điểm tiến bộ trong việc ghi nhận, tôn trọng và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của con người và của công dân, đồng thời được bảo

đảm bằng Bộ luật hình sự, thông qua việc quy định “các loại hình phạt và

những biện pháp mang tính chất pháp luật hình sự khác đối với việc thực hiện hành vi phạm tội…” (khoản 2 Điều 2) [55, tr.18]

Xét riêng đối với tội cưỡng đoạt tài sản, trong Bộ luật hình sự Liên bang Nga, các tội xâm phạm chế độ sở hữu (Chương 21) được quy định trong Phần VIII - Các tội phạm trong lĩnh vực kinh tế cùng với các tội xâm phạm lĩnh vực hoạt động kinh tế (Chương 22) và các tội xâm phạm quyền lợi tổ chức thương mại và tổ chức dịch vụ khác (Chương 23) Về các tội xâm phạm sở hữu, Bộ luật không phân biệt sở hữu hay sở hữu công dân như trước đây (Bộ luật hình sự năm 1960 quy định các tội xâm phạm sở hữu có hai hình thức sở hữu với chính sách xử lý khác nhau) Đối với tất cả các tội xâm phạm sở hữu thì hình phạt tiền được áp dụng rộng rãi với tính cách là hình phạt chính, được lựa chọn với hình phạt khác như lao động bắt buộc, lao động cải tạo hoặc phạt tù Nhìn chung, hình phạt đối với các tội phạm kinh tế chủ yếu là hình phạt tiền, hình phạt tù ít được áp dụng và nếu có thì mức hình phạt cũng nhẹ

Tội cưỡng đoạt tài sản được quy định tại Điều 163 của Chương 21 về

"Các tội xâm phạm sở hữu" Điều luật quy định cụ thể như sau:

1 Cưỡng đoạt tài sản có nghĩa là bắt người khác chuyển nhượng tài sản hoặc các quyền sở hữu đối với tài sản hoặc thực hiện các hành vi khác mang tính chất vật chất kèm theo đe dọa sử dụng vũ lực hoặc hủy hoại hay làm hư hỏng tài sản của người khác, hoặc đe dọa loan truyền thông tin làm nhục cá nhân hoặc thân nhân người bị hại, hoặc các thông tin khác có thể gây tổn hại đáng kể cho các quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân hoặc người

Trang 37

thân người bị hại thì bị hạn chế tự do đến 4 năm hoặc bị phạt giam đến 6 tháng hoặc phạt tù đến 4 năm có hoặc kèm theo phạt tiền đến 80 nghìn rúp hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến 6 tháng

2 Cưỡng đoạt tài sản được thực hiện:

a) Do một nhóm người có bàn bạc từ trước;

b) Kèm theo sử dụng vũ lực;

c) Ở mức độ nghiêm trọng thì bị phạt từ 3 năm đến 7 năm, có hoặc không kèm theo bị phạt tiền đến 500 nghìn rúp hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến 3 năm có hoặc không kèm theo bị hạn chế tự do đến 2 năm

3 Cưỡng đoạt tài sản được thực hiện:

a) Bởi một nhóm có tổ chức thực hiện;

b) Nhằm mục đích lấy được tài sản ở mức độ đặc biệt lớn; c) Gây tổn hại nghiêm trọng cho sức khỏe của người bị hại; d) Nhằm mục đích thu tài sản với số lượng lớn thì bị phạt

từ 7 năm đến 15 năm có hoặc không kèm theo bị phạt tiền đến 1 triệu rúp hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến 5 năm có hoặc không kèm theo bị hạn chế tự do đến 2 năm [55, tr.268-272]

Như vậy, nghiên cứu quy định về tội cưỡng đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự Liên bang Nga có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

Một là, Bộ luật hình sự Liên bang Nga quy định khá đầy đủ, chi tiết

khái niệm tội cưỡng đoạt tài sản và các hành vi bị coi là cưỡng đoạt tài sản, qua đó, tạo điều kiện thuận lợi khi xử lý hành vi phạm tội; cũng như tăng nặng trường hợp cưỡng đoạt tài sản được thực hiện:a) Do một nhóm người có bàn bạc từ trước; b) Kèm theo sử dụng vũ lực; c) Ở mức độ nghiêm trọng;

Trang 38

Hai là, Bộ luật hình sự Liên bang Nga có quy định cụ thể về nhóm có

tổ chức thực hiện hành vi này;

Ba là, mức hình phạt cao nhất là đến 15 năm và có hình phạt kèm theo

hình phạt tiền trong trường hợp cụ thể do luật định

1.3.2 Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Bộ luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được Quốc hội (Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc) khóa V, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 01/7/1979, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1980 và được sửa đổi, bổ sung vào năm 1982 và năm 1987 Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gồm hai phần là Phần chung và Phần các tội phạm và có tổng số

- Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 266);

- Hành vi cướp giật tài sản (Điều 268);

- Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản Tuy nhiên, chỉ mô tả hành vi phạm tội trong nội dung điều luật, chứ không đặt tên tội danh của điều luật [18, tr.168-175]

Ngoài ra, các quy định tại Chương V - Tội xâm phạm tài sản cũng không thấy nêu hành vi nào là hành vi cưỡng đoạt tài sản hoặc hành vi tương

tự hành vi cưỡng đoạt tài sản như Bộ luật hình sự Việt Nam

1.3.3 Bộ luật hình sự Nhật Bản

Bộ luật hình sự Nhật Bản được công bố ngày 24/04/1907 và có hiệu lực ngày 01/10/1908 Đây là một trong những bộ pháp điển cơ bản được cấu thành từ 06 văn bản luật Bộ luật hình sự của Nhật Bản hiện hành được sửa

đổi và bổ sung gần đây nhất là vào ngày 24/6/2011 [20, tr.2]

Trang 39

Bộ luật hình sự Nhật Bản gồm có 40 Chương và 264 điều khoản cụ thể

Bộ luật hình sự Nhật Bản không đưa ra các khái niệm tội phạm cũng như không phân loại tội phạm theo hành vi nguy hiểm của nó Hình phạt chỉ được

áp dụng đối với hành vi phạm tội do lỗi cố ý, trừ trường hợp pháp luật có những quy định riêng về vô ý phạm tội

Trong Phần 2 Bộ luật hình sự nhiều nước khác, tội phạm ở Nhật Bản không phân theo nhóm mà phân theo chương Đối với các tội xâm phạm sở hữu, Bộ luật hình sự Nhật Bản phân chia thành các chương như Chương 36 - Tội trộm cắp và cướp tài sản; Chương 37 - Tội lừa đảo và hăm dọa; Chương

38 - Tội tham ô; Chương 39 - Tội liên quan đến vật bị trộm cắp…

Trong Chương 37 - Tội lừa đảo và hăm dọa, quy định về "Tội hăm

dọa" (tương tự như tội cưỡng đoạt tài sản) tại Điều 249 với nội dung cụ thể

như sau:“1 Người nào hăm dọa người khác để tống tiền thì bị phạt tù khổ sai

đến mười năm; 2 Người nào bằng phương pháp của khoản trước mà thủ đắc lợi ích về mặt tài sản, hay nhờ người khác thủ đắc thì cũng bị phạt như khoản trước” [20, tr.39]

Như vậy, về cơ bản, trong Bộ luật hình sự Nhật Bản cũng chỉ quy định việc xử lý đối với hành vi hăm dọa Không có điều luật nào quy định về khái niệm tội danh cũng như giải thích chi tiết các về định lượng hay định khung hình phạt Bộ luật hình sự Nhật Bản cũng quy định đầy đủ và chặt chẽ các hành vi xâm phạm sở hữu và cũng có một số tội phạm giống và tương đồng với Bộ luật hình sự của Việt Nam Tuy nhiên, so với Bộ luật hình sự Việt Nam cũng có một số điểm khác như sau:

Một là, trong Bộ luật hình sự Nhật Bản, tất cả những hành vi phạm tội

nói chung và xâm phạm sở hữu nói riêng không được các nhà làm luật đặt tên tội (tội danh) như trong Bộ luật hình sự Việt Nam, mà chỉ mô tả hành vi phạm tội trong nội dung điều luật;

Trang 40

Hai là, không có các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt như trong

Bộ luật hình sự Việt Nam; khung hình phạt tối đa cho các tội phạm về chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự Nhật Bản cơ bản nghiêm khắc hơn Bộ luật hình sự nước ta;

Ba là, có một số tội phạm đặc trưng khác trong Bộ luật hình sự Nhật

Bản với Bộ luật hình sự Việt Nam có thể để các nhà làm luật nước ta tham khảo khi sửa đổi, bổ sung và tiếp tục hoàn thiện Bộ luật này, ví dụ: quy định

về điện năng, quy định đặc biệt về tội phạm giữa những người trong thân tộc được quy định nay trong Chương tội trộm cắp và cướp tài sản hay Chương tội lừa đảo và hăm dọa; v.v

1.3.4 Bộ luật hình sự một số nước ASEAN

Nghiên cứu Bộ luật hình sự của một số nước ASEAN (Indonesia năm

1918, sửa đổi năm 1948; Malaixia và Singapo năm 1936, sửa đổi năm 1957; Thái Lan năm 1956; Philipins năm 1930 và các nước đều có sửa đổi, bổ sung những năm gần đây) [75]

Về các tội xâm phạm sở hữu và tội cưỡng đoạt tài sản, nói chung các tội xâm phạm sở hữu đều được Bộ luật hình sự một số nước ASEAN quy định thành một Chương riêng hoặc một điều luật, còn tội cưỡng đoạt tài sản có nước quy định, có nước không, cụ thể như sau [28, tr.154]:

- Bộ luật hình sự Thái Lan quy định tội trộm cắp (Điều 334) và các trường hợp phạm tội khác nhau; tội cướp giật (Điều 336) và các trường hợp phạm tội khác nhau; tội cướp tài sản (Điều 339) và các trường hợp phạm tội khác nhau; các trường hợp phạm tội theo băng, nhóm; tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 342) và các trường hợp phạm tội; tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 352) và các trường hợp phạm tội; v.v… nhưng không thấy quy định tội cưỡng đoạt tài sản Trong đó, phạm tội cướp tài sản và phạm tội theo băng, nhóm gây thương tích… có mức hình phạt cao nhất là đến chung thân, tử hình

Ngày đăng: 26/09/2020, 00:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm