Tính cấp thiết của đề tài Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa CHXHCN Việt Nam, thực hiện xét xử các vụ án hình sự, dân sự,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ CÔNG GIAO
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy, tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét
để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Hồ Thị Minh Hạnh
Trang 4NHÂN DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM 7 1.1 Lý luận về vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt
động xét xử của Toà án nhân dân ở Việt Nam 7
1.1.1 Khái niệm Hội thẩm nhân dân 7 1.1.2 Nguồn gốc, ý nghĩa của chế định Hội thẩm trong hoạt động xét xử
của Toà án nhân dân ở Việt Nam 9
1.2 Pháp luật về vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt
động xét xử của Toà án nhân dân ở Việt Nam từ trước tới nay 12
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển quy định về Hội thẩm nhân dân
trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân ở Việt Nam 12 1.2.2 Vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân theo pháp luật hiện hành của
Việt Nam 16
1.3 So sánh chế định Hội thẩm nhân dân của Việt Nam với chế độ
Bồi thẩm đoàn ở các nước theo hệ thống thông luật, mà đặc trưng là Hoa Kỳ 33 Tiểu kết chương 1 37 Chương 2: THỰC TRẠNG VỊ TRÍ, VAI TRÕ CỦA HỘI THẨM NHÂN
DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA 38
Trang 52.1 Khái quát cơ cấu tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân
tỉnh Thanh Hoá 38
2.2 Thực trạng công tác Hội thẩm nhân dân ở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa 44
2.2.1 Về công tác lựa chọn và bầu Hội thẩm 44
2.2.2 Về tổ chức 45
2.2.3 Về công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ 47
2.2.4 Về thực hiện chế độ với Hội thẩm nhân dân 49
2.2.5 Về công tác tư tưởng 50
2.2.6 Về công tác khen thưởng 51
2.2.7 Về chế độ họp và báo cáo của Hội thẩm nhân dân 52
2.2.8 Về hoạt động xét xử 54
2.3 Đánh giá chung về vị trí, vai trò của Hội thẩm trong hoạt động xét xử ở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa 59
Tiểu kết chương 2 63
Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ TỪ THỰC TIỄN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ 64
3.1 Quan điểm bảo đảm vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án 64
3.1.1 Bảo đảm vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân cần phải gắn với nội dung của Chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN 64
3.1.2 Bảo đảm vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân là trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp 65
3.1.3 Bảo đảm vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương 66
3.1.4 Bảo đảm vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân phải vừa kế thừa truyền thống pháp lý của Việt Nam, vừa phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế 66
Trang 63.1.5 Bảo đảm vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân phải kết hợp các
giải pháp có tính toàn diện, hệ thống 67
3.2 Các giải pháp bảo đảm vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân đối với hoạt động xét xử của Tòa án 67
3.2.1 Giải pháp nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của HTND 68
3.2.2 Giải pháp về hoàn thiện pháp luật 68
3.2.3 Giải pháp về tăng cường tiêu chuẩn lựa chọn Hội thẩm 70
3.2.4 Giải pháp nâng cao độ đãi ngộ đối với HTND 72
3.2.5 Giải pháp về quản lý, đánh giá, giám sát đối với Hội thẩm 73
Tiểu kết chương 3 77
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
HĐXX: Hội đồng xét xử HĐND: Hội đồng nhân dân HTND: Hội thẩm nhân dân TAND: Tòa án nhân dân
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam, thực hiện xét xử các
vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật Xét
về thủ tục tố tụng, Tòa án thực hiện chế độ xét xử sơ thẩm bắt buộc phải có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân (HTND)
Ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó chỉ rõ Tòa án là trung tâm của cải cách tư pháp, mà trọng tâm là hoạt động xét xử phải được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, với chủ nghĩa xã hội, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống XHCN, phòng ngừa và chống các tội phạm và các việc làm vi phạm pháp luật, xây dựng con người mới XHCN Do vậy, việc phát huy tốt vai trò của HTND trong hoạt động xét xử của Tòa án là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án trong quá trình cải cách tư pháp, cải cách pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Thực hiện chủ trương cải cách tư pháp của Đảng, Nhà nước, trong thời gian qua, HTND trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã không ngừng được tăng cường về số lượng, nâng cao về chất lượng, góp phần tích cực trong việc nâng cao hiệu quả xét xử của các tòa án trong tỉnh Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy,
Trang 92
trong hoạt động xét xử của tòa án các cấp tỉnh và huyện ở Thanh Hóa thời gian qua, đội ngũ HTND cũng bộc lộ những hạn chế về trình độ hiểu biết pháp luật, trách nhiệm và kỹ năng khi tham gia phiên tòa Chất lượng của đội ngũ HTND vẫn chưa thực sự ngang tầm với nhiệm vụ chính trị được giao Những hạn chế của đội ngũ HTND là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng xét xử của các cấp tòa án tỉnh Thanh Hoá
Cùng với quá trình hội nhập, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, các quan hệ xã hội trên thực tế ngày càng tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến tranh chấp, các vụ án ngày càng trở nên phức tạp, khó giải quyết, vì vậy, nếu thẩm phán, HTND không có tư duy pháp lý vững chắc, không được đào tạo bài bản thì khó có thể đáp ứng được yêu cầu chuyên môn ngày càng cao trong việc xét xử Những thách thức này mang tính khách quan, đòi hỏi hệ thống toà án phải đổi mới cả về tổ chức và nhân sự để có thể thích ứng với tình hình mới Tuy nhiên, trong thực tế sự thích ứng của các toà án ở nước ta còn chậm, thể hiện ở năng lực của đội ngũ thẩm phán và hội thẩm còn hạn chế, dẫn tới hậu quả là có không ít bản án, quyết định của Tòa án oan sai hoặc chưa thấu tình đạt lý, làm ảnh hưởng tiêu cực đến quyền, lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức Hệ thống toà án của tỉnh Thanh Hóa cũng không nằm ngoài thực trạng chung đó Điều này đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu tìm ra các giải pháp khắc phục tình hình, trong
đó việc nâng cao năng lực của HTND trong hoạt động xét xử là một trong những vấn đề rất quan trọng
Trước bối cảnh trên, là một cán bộ đang làm việc trong hệ thống toà
án của tỉnh Thanh Hóa, học viên quyết định chọn đề tài “Vị trí, vai trò của
Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử - từ thực tiễn TAND tỉnh Thanh Hóa” để thực hiện luận văn thạc sĩ, với mong muốn góp phần tìm
ra các giải pháp nâng cao năng lực của đội ngũ HTND ở quê hương mình trong thời gian tới
Trang 103
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến chế định HTND, trong thời gian qua ở nước ta đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Một số công trình có thể kể như:
Luận văn “Nguyên tắc khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự” của Trần Thị Nhung San, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1995; Luận văn “Nguyên tắc thẩm phán, HTND độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” của Hoàng Hồng Phương, Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011; Luận văn “Chế định HTND trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” của Hoàng Trí Lý, Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015; Luận văn “Nâng cao vai trò của thẩm phán và HTND của TAND địa phương trong xét xử vụ án hình sự ” của Bùi Thị Huệ, Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015; Các luận án tiến sĩ: “Đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam” của Trần Huy Liệu, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2003; “Đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” của Lê Thành Dương, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội, 2002; “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về cải cách hệ thống Tòa án Việt Nam theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền” của Đỗ Thị Ngọc Tuyết, Khoa Luật- Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2006 Các bài viết “Bảo đảm nguyên tắc khi xét xử thẩm phán và HTND độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” của Trần Văn Kiểm, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 1(186), 2011; “Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động của tòa án” của Đỗ Thị Phương, Đề tài
nghiên cứu khoa học, Viện khoa học xét xử- TAND Tối cao năm 2012
Những công trình nghiên cứu kể trên đã cung cấp một khối lượng kiến thức, thông tin lớn về đề tài Đây là nguồn tài liệu tham khảo quý báu cho học viên thực hiện luận văn này Mặc dù vậy, hầu hết các công trình nghiên cứu
Trang 114
đã nêu đều chưa cập nhật những đổi mới trong pháp luật và thực tiễn về vai trò của HTND trong hoạt động tố tụng trong thời gian gần đây Thêm vào đó, chưa có công trình nào đề cập riêng về thực trạng vị trí, vai trò của HTND trong hoạt động xét xử ở TAND tỉnh Thanh Hóa Vì vậy, luận văn này vẫn cần thiết và có giá trị về lý luận và thực tiễn
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là phân tích thực trạng vị trí, vai trò của HTND trong thực tiễn hoạt động xét xử của TAND tỉnh Thanh Hóa, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về HTND ở nước ta đáp ứng các yêu cầu về xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, các nhiệm vụ của luận văn là:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý về vị trí, vai trò của HTND trong hoạt động xét xử ở nước ta
- Khảo sát, phân tích thực trạng vị trí, vai trò của HTND trong thực tiễn hoạt động xét xử của TAND tỉnh Thanh Hóa trong khoảng 5 năm trở lại đây, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về HTND ở nước ta đáp ứng các yêu cầu về xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế từ thực tiễn xét xử của TAND tỉnh Thanh Hoá
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận, pháp lý về
vị trí, vai trò của HTND từ thực tiễn hoạt động xét xử của TAND tỉnh Thanh Hóa
Trang 125
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp lý
và thực tiễn liên quan đến vị trí, vai trò của HTND trong thực tiễn hoạt động xét xử của TAND, không đi sâu nghiên cứu các vấn đề khác về HTND, cũng như về các chức danh tư pháp khác của TAND (thẩm phán, thư ký toà án )
Về không gian, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng vị trí, vai trò của HTND trong thực tiễn hoạt động xét xử của TAND tỉnh Thanh Hóa, không mở rộng đến các cấp toà án khác ở Thanh Hoá cũng như đến TAND ở các địa phương khác
Về thời gian, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng vị trí, vai trò của HTND trong thực tiễn hoạt động xét xử của TAND tỉnh Thanh Hóa trong khoảng 5 năm trở lại đây
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tổ chức và hoạt động của TAND Tác giả đồng thời vận dụng một số lý thuyết về pháp quyền, kiểm soát quyền lực, độc lập tư pháp và nhân quyền để làm cơ sở cho việc phân tích, giải quyết các câu hỏi nghiên cứu của đề tài
Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến của khoa học xã hội để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra Cụ thể:
- Các phương pháp tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứu hiện
có và các tài liệu khác để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp lý liên quan đến vị trí, vai trò của HTND trong thực tiễn hoạt động xét xử của TAND ở nước ta hiện nay (ở Chương I)
- Các phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh các tài liệu, báo cáo chuyên môn của TAND Tối cao, TAND tỉnh Thanh Hoá và phương pháp quan sát thực tế để đánh giá thực trạng vị trí, vai trò của HTND trong
Trang 136 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về vị trí, vai trò của HTND trong hoạt động xét xử của TAND được thực hiện ở tỉnh Thanh Hoá từ trước tới nay Luận văn cũng là một trong số không nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện từ thực tiễn cơ sở về chủ đề này đã được thực hiện ở nước ta Vì vậy, luận văn cung cấp những kiến thức, thông tin, luận điểm và
đề xuất mới có giá trị tham khảo với việc nâng cao hiệu quả hoạt động của HTND ở tỉnh Thanh Hoá và hoàn thiện các quy định pháp luật về HTND ở nước ta trong thời gian tới
Bên cạnh đó, luận văn có thể được sử dụng là nguồn tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành luật hiến pháp và luật hành chính ở Khoa Luật ĐHQG Hà Nội và các cơ sở đào tạo khác của nước ta
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về vị trí, vai trò của Hội thẩm Nhân dân
trong hoạt động xét xử của TAND ở Việt Nam hiện nay
- Chương 2: Thực trạng vị trí, vai trò của Hội thẩm Nhân dân trong
hoạt động xét xử của TAND tỉnh Thanh Hoá
- Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm vị trí, vai trò của Hội thẩm
Nhân dân trong hoạt động xét xử từ thực tiễn TAND tỉnh Thanh Hoá
Trang 147
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÕ CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA
TOÀ ÁN NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM
1.1 Lý luận về vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân ở Việt Nam
1.1.1 Khái niệm Hội thẩm nhân dân
HTND là một vị trí có vai trò quan trọng trong hoạt động xét xử của hệ thống Tòa án của Việt Nam Để làm rõ các vấn đề lý luận về HTND, trước tiên cần nhận diện khái niệm HTND
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Hội thẩm nhân dân” là “người do Hội đồng nhân dân bầu ra trong một thời gian nhất định cùng với Thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử các vụ án xảy ra ở địa phương” [39, tr.159] Khái niệm này
cho thấy cơ chế pháp lý để hình thành nên HTND (thông qua hình thức bầu), thời gian thực hiện thẩm quyền của HTND (không kéo dài vĩnh viễn mà chỉ trong một thời hạn nhất định) và chức năng của HTND (cùng với Thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử) Tuy nhiên, khái niệm này vẫn chưa thực sự toàn diện, chưa bao quát tất cả các thuộc tính của HTND, cụ thể là: Về cơ chế hình thành HTND, ngoài thông qua cơ chế “bầu” thì HTND còn được xác lập thông qua cơ chế “cử”; Về chủ thể trao quyền cho HTND, không chỉ có Hội đồng nhân dân, mà còn có thể được thực hiện bởi cơ quan nhà nước khác (thông qua cơ chế cử)…
Văn bản pháp luật đầu tiên quy định riêng về thẩm phán và hội thẩm TAND là Pháp lệnh số 02/2002/PL-UBTVQH ngày 04 tháng 10 năm 2002 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Tiếp theo đó, ngày 19/02/2011, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 14/2011/UBNTVQH12 sửa đổi,
Trang 158
bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thẩm phán và HTND số UBTVQH11 Ngày 18/12/2013, Văn phòng Quốc hội ban hành Văn bản hợp nhất 22/VBHN-VPQH hợp nhất Pháp lệnh Thẩm phán và HTND Theo quy định tại Khoản 2 Điều 1 Văn bản số 22/VBHN-VPQH ngày 18/12/2013 của
02/2002/PL-Văn phòng Quốc hội thì: “Hội thẩm là người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án” Trong thực tế, thuật ngữ “Hội thẩm” theo Văn bản số 22/VBHN-VPQH
ngày 18/12/2013 của Văn phòng Quốc hội bao gồm cả “HTND” và “Hội thẩm quân nhân”, tuy nhiên trong văn bản chưa nêu được đặc điểm riêng biệt của “HTND” và “Hội thẩm quân nhân”
Luật Tổ chức TAND năm 2014 có hiệu lực từ ngày 01/6/2015 đã thay thế Pháp lệnh số 14/2011/UBNTVQH12 ngày 19/02/2011 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thẩm phán
và HTND và cả Văn bản hợp nhất số 22/VBHN-VPQH ngày 18/12/2013 của Văn phòng Quốc hội, theo đó khái niệm HTND cũng được quy định rõ ràng hơn Luật Tổ chức TAND năm 2015 quy định:
Chế độ bầu HTND được thực hiện đối với các TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương Chế độ cử Hội thẩm quân nhân được thực hiện đối với các Tòa án quân sự quân khu và tương đương, các Tòa án quân sự khu vực [25, Điều 7]
HTND thuộc hệ thống TAND được hiểu là người được bầu theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của TAND Hội thẩm quân nhân được hiểu là người được cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự Như vậy, cùng tham gia hoạt động xét xử nhưng HTND và Hội thẩm quân nhân khác nhau về chế độ bầu và cử (HTND được bầu để
Trang 169
tham gia hoạt động xét xử tại TAND, Hội thẩm quân nhân được đề cử để tham gia hoạt động xét xử tại Tòa án quân sự) Trong phạm vi luận văn của mình, tác giả chỉ nghiên cứu về vị trí, vai trò của HTND đối với hoạt động xét
xử của TAND theo quy định của pháp luật hiện hành
Việc cụm từ “HTND” được quy định tại Điều 7 Luật Tổ chức TAND năm 2014 thay thế cụm từ “Hội thẩm” được quy định tại Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm và các văn bản trước đây đã thể hiện được nội hàm của khái niệm “HTND”, nhằm phân biệt HTND không phải là người thuộc biên chế Tòa án mà là người được bầu ra thông qua Hội đồng nhân dân
Từ các phân tích trên, có thể đưa ra một khái niệm khái quát đó là:
HTND là chức danh được bầu theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án
1.1.2 Nguồn gốc, ý nghĩa của chế định Hội thẩm trong hoạt động xét
xử của Toà án nhân dân ở Việt Nam
HTND là một chế định có vai trò quan trọng trong hoạt động xét xử của
TAND ở Việt Nam Chế định này bắt nguồn từ và là sự thể hiện tư tưởng “lấy dân làm gốc, nhằm bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án” [3, tr.16] Sự hiện diện của HTND trong
hoạt động xét xử của Tòa án thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân thông qua việc khẳng định rằng, Nhân dân phải có tiếng nói của mình trong hoạt động tư pháp Khi tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án, HTND - đại diện của các giới, các ngành, các tổ chức xã hội nghề nghiệp trong nhân dân – giúp phản ánh một cách khách quan suy nghĩ, tâm tư của quần chúng nhân dân về
vụ việc HTND khi tham gia xét xử sẽ đưa những tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân vào trong mỗi bản án để có được phán quyết vừa đúng pháp luật, vừa được xã hội đồng tình ủng hộ
Như vậy, nhìn từ góc độ bản chất Nhà nước, hoạt động xét xử không
Trang 1710
phải là hoạt động của một cá nhân mà là hoạt động của tập thể, không chỉ là hoạt động của cá nhân Thẩm phán mà còn có sự tham gia, giám sát của nhân dân thông qua những người đại diện cho họ, đó là HTND Chế định HTND,
vì vậy, thể hiện bản chất nhà nước là nhà nước của dân, do dân, vì dân, trong
đó nhân dân làm chủ nhà nước, nắm quyền lực nhà nước, nhân dân được tham gia vào các hoạt động của nhà nước, trong đó có hoạt động xét xử
Ở khía cạnh nhân quyền và dân chủ, chế định Hội thẩm là một bảo đảm
để các quyền cơ bản của công dân được tôn trọng khi đại diện của họ được tham gia vào các hoạt động của Nhà nước, trong đó có hoạt động xét xử của
Tòa án, qua đó “đưa tiếng nói từ phía xã hội vào trong quá trình xét xử của Tòa án” [6] Chế định HTND không chỉ giúp nhân dân tham gia có hiệu quả
vào hoạt động xét xử mà còn giúp nhân dân kiểm tra hoạt động áp dụng pháp luật và đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống Trong công tác xét xử, muốn việc áp dụng pháp luật được đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của quần chúng nhân dân thì các thành viên của Hội đồng xét xử không chỉ là người có trình độ cao về pháp luật mà còn phải có kiến thức và kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã hội sâu sắc HTND đáp ứng được yêu cầu đó do họ là những người làm trong mọi ngành nghề, đại diện của các giới, các ngành, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, là những người sống và làm việc tại cơ sở, có uy tín trong xã hội, được quần chúng tín nhiệm Không những vậy, trong nhiều trường hợp, HTND còn có kiến thức sâu về một số lĩnh vực như y học, tâm lý xã hội, quản
lý kinh tế Với vốn hiểu biết thực tế, kinh nghiệm trong cuộc sống, với sự
am hiểu về phong tục tập quán ở địa phương, Hội thẩm sẽ bổ sung các kiến thức thực tiễn cho Thẩm phán, giúp cho quá trình xét xử đúng đắn và hiệu quả Hội thẩm có đời sống gần gũi, có mối quan hệ mật thiết với nhân dân nên
có nhiều vụ án, họ hiểu rõ tình hình, hoàn cảnh cũng như nguyên nhân vụ án HTND sẽ thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, họ sẽ đưa tiếng nói từ
Trang 1811
phía xã hội vào quá trình xét xử, giúp cho việc xét xử chính xác, khách quan, phù hợp với quyền lợi và nguyện vọng của nhân dân Mặt khác, xuất phát từ việc tiếp xúc và thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân, nắm bắt được dư luận xã hội, thông qua công tác tuyên truyền, hòa giải, HTND góp phần đưa pháp luật đi vào thực tiễn, có sức sống trong thực tiễn
Thông qua việc tham gia xét xử, HTND còn góp phần tăng cường mối quan hệ giữa Tòa án với nhân dân Tại hội nghị học tập của cán bộ ngành tư
pháp năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Trong công tác xét xử phải công bằng, liêm khiết, trong sạch Như thế cũng chưa đủ Không chỉ giới hạn hoạt động của mình trong khung Tòa án mà phải gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân…” Thông qua Hội thẩm, công tác xét xử của Tòa án đến với
nhân dân, vì thế nhân dân hiểu và thông cảm với công tác của Tòa án Cũng thông qua hoạt động tham gia xét xử của HTND sẽ giúp phản ánh khách quan cách nhìn nhận về sự kiện, vụ việc từ suy nghĩ, tâm tư của quần chúng nhân dân, từ đó Tòa án có thể nắm bắt được những vướng mắc, suy nghĩ, tình cảm của quần chúng nhân dân Một phán quyết của Tòa án có thể sẽ nhận được sự đồng tình của dư luận nhưng cũng có thể sẽ bị phản ứng, thắc mắc của dư luận Như vậy, thông qua chế định HTND, công tác xét xử của Tòa án vừa góp phần nâng cao tinh thần tự giác, tôn trọng và bảo vệ pháp luật của nhân dân, lại vừa chịu sự giám sát của nhân dân
Qua việc trực tiếp tham gia xét xử, HTND cũng sẽ giúp Tòa án thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong nhân dân Là những người trực tiếp tham gia quá trình giải quyết vụ án, HTND giúp Tòa án tuyên truyền về kết quả xét xử, phân tích rõ cơ sở áp dụng pháp luật về việc giải quyết vụ án, từ đó góp phần vào việc phổ biến, giáo dục ý thức pháp luật của công dân vào đóng vai trò to lớn trong công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân Trong thực tế, với kiến thức, kinh
Trang 191.2 Pháp luật về vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân ở Việt Nam từ trước tới nay
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển quy định về Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân ở Việt Nam
1.2.1.1 Giai đoạn 1945 đến 1975
Cách mạng tháng Tám thành công, 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra một Nhà nước kiểu mới- Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở Việt Nam Trong nhà nước
kiểu mới đó, tòa án- cơ quan thực hiện quyền xét xử - được xác định là “một
cơ quan trọng yếu của chính quyền” [6]
Văn bản pháp luật đầu tiên ghi nhận sự tham gia của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án ở Việt Nam (có tên gọi là Phụ thẩm nhân dân) là Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 Điều thứ 17- Mục B- Sắc lệnh này quy định:
“Về dân sự và thương sự, Chánh án xử một mình Những khi xử các việc tiểu hình phải có thêm hai viên Phụ thẩm nhân dân góp ý kiến” Sắc lệnh cũng có những quy định về quyền và nghĩa vụ của Phụ thẩm nhân dân khi tham gia hoạt động xét xử Mặc dù vậy, trong Sắc lệnh này, Phụ thẩm nhân dân mới chỉ có quyền biểu quyết những việc tiểu hình mà không được tham gia giải quyết các việc dân sự và thương sự Các Phụ thẩm nhân dân cũng không được xem hồ sơ trước khi phiên tòa Mặc dù được Chánh án hỏi ý kiến về tội trạng của các phạm nhân và về hình phạt, nhưng Chánh án vẫn là người tự quyết định vụ việc, ý kiến của Phụ thẩm nhân dân chỉ là tham khảo Nói tóm lại, vai
Trang 20hiến định Cụ thể, Điều thứ 65 Hiến pháp 1946 quy định: “Trong khi xử việc hình thì phải có phụ thẩm nhân dân để hoặc tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết định với thẩm phán nếu là việc đại hình”
Năm 1950, với sự ra đời của một loạt văn bản như Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng, Sắc lệnh số 151/SL ngày 17/11/1950 về đặt thể lệ chỉ định các HTND và định thành phần TAND liên khu trong trường hợp đặc biệt, Sắc lệnh số 156/SL ngày 22/01/1950 về tổ chức TAND liên khu… đã hoàn thiện thêm chế độ HTND Đặc biệt là Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng mà đã sửa đổi cơ bản Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 Với Sắc lệnh này, Tòa án sơ cấp được đổi tên thành TAND huyện, Tòa án đệ nhị cấp được đổi tên thành TAND tỉnh - đã thể hiện sự đổi mới về chất của công tác
tư pháp trong việc hình thành cơ chế mang tính nhân dân, thể hiện bản chất nhân dân của nhà nước, đó là chế định HTND thay thế chế định Phụ thẩm nhân dân Tại Điều 3 Sắc lệnh số 85 ngày 22/5/1950 quy định: Để xử việc hình và việc hộ, TAND huyện và TAND tỉnh gồm một Thẩm phán và hai HTND; Tòa phúc thẩm gồm hai Thẩm phán và ba HTND Như vậy, chế định HTND đã thay thế chế định Phụ thẩm nhân dân tại Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 HTND do HĐND bầu và có quyền xem hồ sơ, có quyền biểu quyết, được hưởng đặc quyền tài phán như các Thẩm phán Theo nghĩa đó,
Trang 2114
HTND có quyền ngang bằng với thẩm phán Mục tiêu của cuộc cải cách tư pháp là làm dân chủ hóa bộ máy tư pháp, làm cho Tòa án thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Với mục tiêu này, Sắc lệnh quy định khi xét
xử thành phần HTND phải chiếm đa số trong HĐXX Ngoài ra, HTND trước đây chỉ tham gia xét xử các vụ án hình sự thì giờ đây tham gia xét xử cả hình
sự và dân sự và có quyền biểu quyết bình đẳng với Thẩm phán, được tham gia quyết định về mọi vấn đề của vụ án
Hiến pháp năm 1959 ra đời nhằm đáp ứng nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà Hiến pháp năm 1959 đã xác định lại vị trí của TAND trong hệ thống bộ máy nhà nước TAND không còn trực thuộc Hội đồng Chính phủ
mà trực tiếp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Đồng thời, Hiến pháp năm 1959 quy định hệ thống cơ quan xét xử của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm có: TAND Tối cao, TAND địa phương (gồm TAND tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, TAND huyện và thành phố thuộc tỉnh, các Tòa án quân sự và trong trường hợp xét xử những vụ án đặc biệt Quốc hội có thể thành lập Tòa án đặc biệt (Điều 97) Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 1959 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960, ở các địa phương được thành lập các Tòa án địa phương Theo đó, địa vị pháp lý của HTND tiếp tục được quy định một cách hoàn thiện hơn, được ghi nhận trong Hiến pháp 1959, Luật Tổ chức TAND năm 1960 và các văn bản pháp luật khác Hiến pháp 1959 đã ghi nhận các nguyên tắc như: nguyên tắc xét xử cơ HTND tham gia (Điều 90), nguyên tắc Tòa án xét xử độc lập (Điều 100) Địa vị pháp lý của HTND đã được nâng lên ngang quyền với Thẩm phán trong hoạt động xét xử (Điều 11 Luật Tổ chức TAND năm 1960) Khác với cơ quan quyền lực nhà nước khác, các Tòa án về mặt tổ chức không hợp thành một hệ thống theo kiểu “ngành dọc” từ trung
Trang 2215
ương đến địa phương mà theo những cấp xét xử, khi xét xử các HĐXX hoàn toàn độc lập trên cơ sở pháp luật và ý thức pháp luật của Thẩm phán và HTND Việc tham gia xét xử của HTND cũng được áp dụng theo cấp xét xử HTND chủ yếu tham gia xét xử ở cấp sơ thẩm, còn ở cấp phúc thẩm, HTND chỉ tham gia trong những trường hợp đặc biệt Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai HTND, trường hợp xử những vụ án nhỏ, đơn giản thì TAND có thể xử không có HTND Khi xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán, trong trường hợp đặc biệt có thể có thêm hai HTND
1.2.1.2 Giai đoạn 1976 đến 1988
Sau khi đất nước độc lập, thống nhất, cả nước bước vào giai đoạn mới, với những yêu cầu mới đặt ra về cải cách toàn diện kinh tế, chính trị, xã hội nhằm khắc phục hậu quả sau nhiều năm chiến tranh, phát triển kinh tế tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong bối cảnh đó, cần phải nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước đồng thời phát huy quyền làm chủ của nhân dân, trong đó bao gồm việc tăng cường tính nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án Hiến pháp 1980 và Luật Tổ chức TAND năm 1981 tiếp tục ghi nhận một số nguyên tắc thể hiện rõ việc tham gia xét xử của HTND như: HTND ngang quyền với Thẩm phán (Điều 130 Hiến pháp 1980 và Luật Tổ chức TAND năm 1981), xét xử tập thể và quyết định theo đa số (Điều 132 Hiến pháp 1980 và Điều 7 Luật Tổ chức TAND năm 1981) So với Hiến pháp
1959, Hiến pháp năm 1980 và Luật Tổ chức TAND năm 1981 đã xác định rõ chủ thể của hoạt động xét xử là Thẩm phán và HTND
Tiêu chuẩn lựa chọn HTND ở giai đoạn này khá đơn giản với quy định
là “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, có quan
hệ tốt với nhân dân” Về hình thức bầu chọn HTND ở mỗi cấp khác nhau: HTND ở mỗi cấp tòa có quy định khác nhau: HTND TAND tối cao do Hội đồng Nhà nước cử, theo sự giới thiệu của Đoàn Chủ tịch Ủy ban mặt trận Tổ
Trang 231.2.1.3 Giai đoạn 1989 đến trước Hiến pháp 2013
Trong giai đoạn này, tòa án có quyền xét xử mọi hành vi vi phạm pháp luật và mọi tranh chấp phát sinh trong xã hội, từ những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, hành chính và các lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật Nhiều văn bản quy định về vị trí, vai trò của HTND trong từng lĩnh vực theo thẩm quyền của Tòa án đã được ban hành như: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1998 (được sửa đổi năm 2000, 2003), Pháp lệnh Thẩm phán và HTND năm 2002 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011), Luật
Tổ chức TAND năm 2002, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (được sửa đổi,
bổ sung năm 2011), Luật Tố tụng hành chính năm 2010, Quy chế tổ chức và hoạt động của HTND năm 2005
1.2.2 Vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân theo pháp luật hiện hành của Việt Nam
1.2.2.1 Vị trí, vai trò nói chung của Hội thẩm nhân dân
Theo nghĩa rộng, vị trí, vai trò của HTND được thể hiện thông qua hầu hết các nội dung của chế định pháp luật về chức danh tư pháp này Từ cách tiếp cận đó, có thể xác định vị trí, vai trò nói chung của HTND theo pháp luật hiện hành của Việt Nam từ những khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, tiêu chuẩn của HTND
Trang 24vệ công lý, liêm khiết và trung thực; (ii) Có kiến thức pháp luật; (iii) Có hiểu biết
xã hội và (iv) Có sức khỏe bảo đảm hòa thành nhiệm vụ được giao
Quy định HTND phải là công dân Việt Nam thể hiện ý nghĩa là công dân Việt Nam mới ý thức được trách nhiệm lớn lao, mới thực sự nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân để đại diện cho nhân dân tham gia vào công tác xét xử Tiêu chuẩn phải trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vì HTND tham gia HĐXX vừa nhân danh Nhà nước, vừa thay mặt nhân dân thực hiện việc xét
xử, vì thế phải trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp là đạo luật gốc, đạo luật
cơ bản để khi tham gia Hội đồng xét xử góp phần đưa ra bản án đúng với quy định của Hiến pháp và pháp luật
Quy định HTND phải có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị
vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết
và trung thực để bảo đảm HTND không bị lung lay, dao động trước mọi cám
dỗ làm phương hại đến lợi ích của Nhà nước, của Nhân dân Quy định HTND phải có uy tín trong cộng đồng dân cư vì họ là những người sống và làm việc tại cơ sở, là đại diện cho nhân dân nên khi họ có uy tín trong cộng đồng dân cư, họ sẽ thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong nhân dân Những người trực tiếp tham gia quá trình giải quyết vụ án, Hội thẩm sẽ là người giúp Tòa án tuyên truyền về kết quả xét
xử, phân tích rõ cơ sở áp dụng pháp luật về việc giải quyết vụ án, từ đó góp phần vào việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức pháp luật của công dân vào đóng vai trò to lớn trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và chú trọng đến công
Trang 2518
tác hòa giải đối với các mâu thuẫn, tranh chấp của công dân tại nơi Hội thẩm làm việc và sinh sống Bằng vai trò cá nhân, HTND đóng góp nhất định trong việc giữ gìn “tình làng nghĩa xóm”, ổn định xã hội, phòng chống tội phạm ở các khu dân cư
Quy định HTND phải có kiến thức pháp luật: Nếu như tiêu chuẩn của Thẩm phán là phải có trình độ cử nhân luật trở lên, đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử, có thời gian làm công tác thực tiễn pháp luật (Điều 67 Luật Tổ chức TAND) thì HTND chỉ cần có kiến thức pháp luật Có quy định khác nhau như vậy vì Thẩm phán thể hiện tính chuyên môn, còn Hội thẩm thể hiện tính dân
chủ trong Hội đồng xét xử Tuy nhiên, theo nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” [23] và “TAND xét xử tập thể
và quyết định theo đa số” [23] nên để đảm bảo cho chất lượng xét xử, đòi hỏi
Hội thẩm cũng phải có kiến thức pháp luật
Tuy nhiên, trong thực tế HTND được tuyển chọn từ các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau như giáo dục, y tế, Mặt trận…Kiến thức pháp lý của Hội thẩm tùy thuộc vào trình độ chuyên môn, ngành nghề, lĩnh vực công tác nên giữa các Hội thẩm có kiến thức pháp luật không đồng đều Việc quy định Hội thẩm cần có kiến thức pháp luật nhưng chưa quy định một tiêu chuẩn cụ thể, trong khi xét xử cùng với họ là những thẩm phán có trình độ chuyên môn, kỹ năng xét xử nên rất khó để HTND độc lập và tuân theo pháp luật khi xét xử
Vì vậy, việc trang bị cho Hội thẩm những kiến thức pháp lý cần thiết phục vụ cho công tác xét xử thông qua việc tổ chức các đợt tập huấn là rất cần thiết
Pháp luật cũng quy định HTND phải có sức khỏe để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao Sức khỏe ở đây được hiểu là sức khỏe về thể chất
và tinh thần Về thể chất, phải là người có sức khỏe, không bị dị tật, khiếm khuyết, về tinh thần phải có tinh thần minh mẫn, không bị các bệnh về tâm thần Quy định này phù hợp với vị trí, vai trò của HTND trong hoạt động xét
Trang 2619
xử của Tòa án, vì nếu không có sự tham gia của Hội thẩm thì hoạt động xét
xử của Tòa án không thể thực hiện được nên Hội thẩm phải có sức khỏe để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao
Thứ hai, thủ tục bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm và nhiệm kỳ của HTND
Thủ tục bầu HTND được quy định tại Luật tổ chức TAND năm
2014, đó là:
TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương đề xuất nhu cầu
về số lượng, cơ cấu thành phần Hội thẩm đề nghị Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cùng cấp lựa chọn và giới thiệu người đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 85 của Luật này để Hội đồng nhân dân
có thẩm quyền theo luật định bầu HTND [25, Điều 86]
Theo quy định trên, xuất phát từ nhu cầu về số lượng, cơ cấu thành phần Hội thẩm mà Tòa án các cấp (TAND cấp tỉnh và TAND cấp huyện) đề xuất với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp lựa chọn, giới thiệu người đủ tiêu chuẩn để HĐND có thẩm quyền bầu HTND
Thẩm quyền bầu HTND thuộc HĐND các cấp Quy định này là hợp lý
vì HĐND là cơ quan quyền lực đại diện cho nhân dân ở địa phương, hoạt động của Tòa án địa phương cấp nào đặt dưới sự giám sát của HĐND cấp đó nên HTND thực hiện việc xét xử của TAND cấp nào thì phải do HĐND cấp
đó bầu Để việc bầu Hội thẩm của HĐND chính xác, bầu những người đủ tiêu chuẩn thay mặt nhân dân thực hiện chức năng xét xử, giám sát hoạt động của Tòa án thì Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp là tổ chức chính trị -
xã hội ở địa phương, là nơi tập trung các tổ chức quần chúng giới thiệu, lựa chọn những người có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín trong cộng đồng dân
cư, được nhân dân tin yêu, tín nhiệm, lập danh sách để Hội đồng nhân dân (HĐND) bầu làm Hội thẩm, tham gia xét xử tại Tòa án địa phương các cấp
Trang 2720
Nhiệm kỳ của Hội thẩm, theo Luật Tổ chức TAND 2014 quy định
“Nhiệm kỳ của HTND theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân đã bầu ra HTND Khi Hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ, HTND tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Hội đồng nhân dân khóa mới bầu ra HTND mới” [25, Điều 87]
Theo quy định nêu trên, HTND có thể được bầu lại trong trường hợp tiếp tục được tín nhiệm hoặc có thể không được bầu lại nếu quá trình tham gia xét xử tại Tòa án trong nhiệm kỳ không đạt kết quả, không đảm bảo chất lượng, không được tín nhiệm Khi HĐND hết nhiệm kỳ, HTND vẫn tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cho đến khi HĐND khóa mới bầu được HTND mới, quy định này nhằm bảo đảm cho hoạt động xét xử của Tòa án được liên tục, không bị
gián đoạn vì theo nguyên tắc “Thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp theo thủ tục rút gọn”
Về miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm, Luật Tổ chức TAND 2014 quy
định: “miễn nhiệm là trường hợp Hội thẩm vì lý do sức khỏe hoặc lý do chính đáng khác” (Khoản 1 Điều 90) và “bãi nhiệm là trường hợp Hội thẩm có vi phạm về phẩm chất đạo đức hoặc có hành vi vi phạm pháp luật không còn xứng đáng làm Hội thẩm” (Khoản 2 Điều 90)
Thứ ba, trách nhiệm, quyền hạn của HTND
Về trách nhiệm, Điều 89 Luật Tổ chức TAND 2014 quy định Hội thẩm chịu sự phân công của Chánh án Tòa án, nghĩa là xét về mặt quản lý hành chính thì Hội thẩm chịu sự quản lý, phân công của Chánh án Tòa án địa phương nơi Hội thẩm được bầu tham gia xét xử Khi được Chánh án phân công, Hội thẩm không được từ chối, trừ trường hợp có lý do chính đáng hoặc
do luật tố tụng quy định Lý do chính đáng ở đây có thể là vì ốm, vì lý do sức khỏe không bảo đảm cho việc xét xử Quy định này có ý nghĩa trong việc nâng cao trách nhiệm của Hội thẩm đối với công tác xét xử, khắc phục tình trạng tùy tiện từ chối tham gia xét xử của Hội thẩm nhằm đảm bảo sự đại diện của nhân dân trong hoạt động xét xử
Trang 2821
Độc lập, vô tư, khách quan trong xét xử cũng chính là việc tuân theo
nguyên tắc hiến định “Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” để góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền
công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân Đây là nhiệm vụ chung của Tòa án, được quy định tại Hiến pháp nên đòi hỏi Hội thẩm phải
“Tích cực học tập để nâng cao kiến thức pháp luật và nghiệp vụ xét xử”
HTND phải chịu trách nhiệm đối với hoạt động xét xử; nếu có hành vi
vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật bãi nhiệm hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật
Về quyền hạn, Hội thẩm được bồi dưỡng về nghiệp vụ, tham gia hội nghị tổng kết công tác xét xử của Tòa án Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ và
tổ chức hội nghị công tác xét xử là nhiệm vụ của TAND phải được thực hiện hàng năm nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, trang bị kiến thức pháp luật cho Hội thẩm, đồng thời thông qua hội nghị tổng kết công tác xét xử của Tòa án, các Hội thẩm cũng sẽ đánh giá được những kết quả đã đạt được khi tham gia xét xử, cũng như các hạn chế trong công tác xét xử Đây cũng là dịp để các Hội thẩm nêu lên những ý kiến, vấn đề còn vướng mắc, khó khăn khi tham gia xét xử tại Tòa án để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ mà nhân dân giao phó, xứng đáng là đại diện cho nhân dân khi tham gia vào công tác xét xử của Tòa án
Hội thẩm được cấp trang phục, giấy chứng minh Hội thẩm do Chánh án TAND Tối cao trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định Khi làm nhiệm
vụ xét xử, Hội thẩm được hưởng phụ cấp theo quy định của pháp luật Hiện nay, mức bồi dưỡng đối với Hội thẩm là 90.000đ/ngày nghiên cứu hồ sơ, xét
xử Mức bồi dưỡng này được cho là quá thấp, không kích thích sự nhiệt tình của HTND trong hoạt động xét xử Trong một năm mà Hội thẩm không được
Trang 2922
Chánh án Tòa án phân công làm nhiệm vụ xét xử thì có quyền yêu cầu Chánh
án Tòa án cho biết lý do Quy định này xuất phát từ vai trò của Hội thẩm là người đại diện cho nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án nên Hội thẩm
có quyền tham gia xét xử tất cả các vụ án của Tòa án theo quy định của pháp luật, vì vậy Chánh án Tòa án phải bảo đảm cho Hội thẩm thực hiện quyền tham gia xét xử của mình Mặc dù có nhiều Hội thẩm nhưng phải đảm bảo tất
cả các Hội thẩm đều được tham gia xét xử các vụ án tại Tòa án, tránh trường hợp có Hội thẩm tham gia xét xử nhiều, có Hội thẩm tham gia xét xử ít, tránh trường hợp phân biệt đối xử của Chánh án trong việc phân công xét xử cửa các Hội thẩm Điều này cũng bảo đảm quyền bình đẳng của các Hội thẩm trong việc thực hiện quyền tham gia xét xử
1.2.2.2 Vị trí, vai trò của Hội thẩm nhân dân trong quá trình xét xử của toà án
Trong quá trình xét xử, vị trí, vai trò của HTND được thể hiện cụ thể qua các quyền sau đây:
Thứ nhất, quyền nghiên cứu hồ sơ được bắt đầu sau khi có quyết định
đưa vụ án ra xét xử của Tòa án Nghĩa là kể từ thời điểm ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, Hội thẩm chính thức trở thành thành viên của Hội đồng xét xử (HĐXX) và theo sự sắp xếp, bố trí của Thư ký được phân công, Hội thẩm tham gia đọc, nghiên cứu hồ sơ Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án tạo điều kiện cho Hội thẩm hiểu rõ nội dung vụ án, nắm bắt được các vấn đề đang đặt
ra cần phải giải quyết của vụ án Việc nghiên cứu hồ sơ trước khi mở phiên tòa tạo điều kiện cho Hội thẩm, với tư cách là thành viên của HĐXX, có sự chuẩn bị tốt cho công tác xét xử công khai tại phiên tòa, có những đánh giá, những quan điểm, những nhìn nhận về chứng cứ, cơ sở pháp lý, về nội dung
vụ án cụ thể Qua việc nghiên cứu hồ sơ, Hội thẩm cũng có thể trao đổi với Thẩm phán về việc đánh giá, nhìn nhận các chứng cứ, tài liệu để làm cơ sở cho việc ban hành các quyết định phù hợp với pháp luật
Trang 3023
Thứ hai, quyền trong việc thực hiện các thủ tục tại phiên tòa: thủ tục
hỏi (đối với án dân sự nói chung, án hành chính), xét hỏi (án hình sự) và nghị
án Hội thẩm có quyền hỏi các đương sự, xét hỏi các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác để làm sáng tỏ nội dung vụ án, qua đó đánh giá đúng các chứng cứ để cùng Thẩm phán đưa ra phán quyết về việc giải quyết vụ án Trong phần nghị án, Hội thẩm và Thẩm phán cùng thảo luận tại phòng nghị
án và biểu quyết về các vấn đề của vụ án được ghi lại một cách trung thực, khách quan trong biên bản nghị án, biên bản nghị án phải có đầy đủ chữ ký của các thành viên HĐXX Trường hợp cần bảo lưu ý kiến thì được trình bày bằng văn bản và lưu trong hồ sơ vụ án
Theo quy định của pháp luật hiện hành, HTND chủ yếu xét xử ở cấp sơ thẩm, còn ở cấp phúc thẩm, HTND có thể tham gia trong trường hợp cần thiết Trước năm 1993, trong các TAND của nước ta chỉ có Tòa hình sự và Tòa dân sự, còn hiện nay ngoài các vụ án dân sự, hình sự, TAND còn xét xử nhiều loại án khác như án lao động, hành chính, kinh doanh thương mại…nên HTND tham gia xét xử tất cả các loại án theo thẩm quyền của Tòa án
Cụ thể hơn, vị trí, vai trò của của HTND còn được thể hiện qua một số
nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xét xử của TAND, trong đó bao gồm:
a)Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp theo thủ tục rút gọn
Nguyên tắc này lần đầu tiên được ghi nhận và quy định tại Điều 65
Hiến pháp năm 1946, theo đó “trong xét xử việc hình thì phải có phụ thẩm nhân dân để hoặc tham gia ý kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết định với thẩm phán nếu là việc đại hình” [18] Tuy nhiên, do bối cảnh lịch sử nên
quy định này chỉ mới mang tính chất ghi nhận trong Hiến pháp mà chưa được quy định rõ ràng trong các văn bản về tổ chức, hoạt động của Tòa án Tiếp đó,
Điều 65 Hiến pháp năm 1980 quy định “Việc xét xử của TAND có HTND
Trang 31quy định này, chế định HTND đã được tiếp cận theo hướng không phải mọi phiên tòa đều có sự tham gia của HTND, đồng thời Hiến pháp năm 2013 cũng
đã bỏ quy định “khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán” của Điều
129 Hiến pháp năm 1992 Những sửa đổi nêu trên một mặt tiếp tục khẳng định vai trò, ý nghĩa của Hội thẩm trong hoạt động xét xử, mặt khác tạo cơ sở
để có những điều chỉnh thích hợp về vị trí, vai trò của Hội thẩm nhằm giải quyết những tồn tại, hạn chế của Hội thẩm trong thực tiễn xét xử hiện nay Chính việc đặt Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán trong xét xử cùng cách thức lựa chọn, chất lượng và sự tham gia của Hội thẩm trước đây vô hình trung làm cho Hội thẩm không phát huy được vai trò, thậm chí trở nên rất hình thức Điều này là rất đáng lo ngại khi số lượng Hội thẩm chiếm đa
số trong thành phần Hội đồng xét xử Do vậy, việc cải cách mô hình tham gia phù hợp của Hội thẩm là cần thiết nhằm phát huy vai trò thực chất của Hội thẩm trong xét xử
Lần đầu tiên Hiến pháp năm 2013 quy định về thủ tục rút gọn, theo đó thủ tục rút gọn được áp dụng đối với những vụ án có đủ điều kiện do Bộ luật
Tố tụng hình sự và Bộ luật Tố tụng dân sự quy định nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời Đây là thủ tục tố tụng được rút ngắn về thời gian và đơn giản hóa một số thủ tục tố tụng Ví dụ, thủ tục rút gọn trong tố tụng hình
Trang 32về thủ tục xét xử đối với một số vụ việc
Sự tham gia xét xử của các HTND tại Tòa án bảo đảm để Tòa án khi xét xử phải tính đến những đặc điểm, phong tục tập quán và nguyện vọng của nhân dân, để các quyết định của Tòa án không chỉ đảm bảo tính hợp lý mà còn hợp tình và có tác dụng giáo dục cao
b) Nguyên tắc khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Sự ra đời của Tòa án gắn liền với hoạt động xét xử Tòa án với chức năng xét xử là cơ quan thực hiện quyền tư pháp Kết quả xét xử thể hiện mức
độ tiến bộ của cơ chế bảo đảm công lý, thể hiện chất lượng hoạt động và uy tín của hệ thống tư pháp Xét xử là hoạt động trọng tâm, đòi hỏi việc xét xử phái bảo đảm tính độc lập, vì vậy, nguyên tắc độc lập xét xử là bảo đảm quan trọng cho việc xét xử được bình đẳng, dân chủ, khách quan Vần đề này lần
đầu tiên được quy định tại Điều 100 Hiến pháp năm 1959: “Khi xét xử, TAND
có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” Tuy nhiên, Hiến pháp 1959 chỉ
mới quy định chung với chủ thể là TAND, chưa quy định cụ thể là Thẩm phán và Hội thẩm Đến Hiến pháp năm 1980 đã quy định cụ thể hơn đó là:
“Khi xét xử, Thẩm phán và HTND độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” (Điều
131) Hiến pháp năm 1992 tiếp tục ghi nhận nội dung trên tại Điều 130 Tiếp
Trang 3326
tục phát triển tư tưởng hiến định trong các bản Hiến pháp trước, khoản 2 Điều
103 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Thẩm phán, HTND xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” So với Hiến pháp năm 1992, quy định này
của Hiến pháp năm 2013 đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng, đó là:
Thứ nhất, cụm từ “khi xét xử” ở đầu câu theo Hiến pháp năm 1992 đã
được thay thế và chuyển đổi phù hợp với hàm ý mới, đó là: Thẩm phán, Hội thẩm độc lập trong mọi hoạt động tố tụng của mình theo quy định của pháp luật tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi kết thúc phiên tòa xét xử, chứ không chỉ giới hạn bởi “khi xét xử” Quy định “khi xét xử” như Hiến pháp năm 1992 được hiểu là chỉ trong lúc xét xử tại phiên tòa
Thứ hai, Hiến pháp năm 2013 bổ sung quy định “nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” [23, Điều 103, khoản 2] Quy định này thể hiện rõ ràng, dứt khoát
quan điểm ngăn ngừa sự can thiệp của mọi tổ chức, cá nhân, kể cả cơ quan Đảng, Nhà nước vào hoạt động xét xử ở Việt Nam Đây cũng là quy định thể hiện nội dung cải cách tư pháp trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Sự độc lập trong xét xử của Tòa án là tất yếu khách quan trong xã hội tiến bộ, trong nhà nước pháp quyền và trở thành nguyên tắc hiến định Sự độc lập của Tòa án cũng như của Thẩm phán, Hội thẩm phải dựa trên cơ sở và trong khuôn khổ pháp luật Nhà nước và xã hội tôn trọng và bảo đảm để tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm độc lập khi xét xử [15, tr 80-81]
Vấn đề nêu trên cũng đã được cụ thể trong các Bộ luật, luật có liên quan như: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định:
Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét
Trang 3427
xử của Thẩm phán, Hội thẩm (Điều 23) Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Thẩm phán, HTND xét xử vụ án dân sự … độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, HTND… dưới bất
kỳ hình thức nào (Điều 12) hoặc Luật Tố tụng hành chính năm
2010 quy định: Khi xét xử vụ án hành chính, Thẩm phán và HTND độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Nghiêm cấm mọi hành vi can thiệp, cản trở Thẩm phán, HTND thực hiện nhiệm vụ (Điều 14)
Từ những quy định pháp luật nêu trên, có thể hiểu sự độc lập ở các khía cạnh như: (i) Thẩm phán và Hội thẩm độc lập với sự can thiệp của lập pháp, hành pháp; (ii) Thẩm phán và Hội thẩm độc lập với sự can thiệp của cá nhân hay tổ chức trong nội bộ cơ quan tư pháp; (iii) Thẩm phán và Hội thẩm độc lập với sự can thiệp trong nội bộ ngành Tòa án Tòa án cấp trên hướng dẫn Tòa án cấp dưới về áp dụng thống nhất pháp luật, nhưng Tòa án cấp trên không được quyết định trước về chủ trương xét xử cụ thể một vụ án buộc Tòa
án cấp dưới phải tuân theo
Tuy nhiên, sự độc lập của thẩm phán và hội thẩm không thể có được nếu
chỉ đơn thuần ở khâu xét xử, vì “không thể có sự độc lập của khâu xét xử nếu các công đoạn khác của quy trình tố tụng không được tuyên bố là độc lập, nhất
là trong cuộc sống của thẩm phán và hội thẩm vẫn còn phục thuộc vào lập pháp, vào hành pháp, vào các chủ thể nắm quyền lực khác của nhà nước” [9, tr.558]
Tính độc lập của Thẩm phán và HTND thể hiện ở việc Hội đồng xét xử có quyền quyết định các vụ việc một cách vô tư, không thiên vị, dựa trên bản chất của sự việc và theo pháp luật, không chịu những hạn chế, tác động hay ảnh hưởng không phù hợp, hoặc sự dụ dỗ, sức ép, đe dọa hay can thiệp sai trái một cách trực tiếp hay gián tiếp, từ bất cứ chủ thể nào, với bất cứ lý do nào Nguyên tắc khi xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật hỏi không
Trang 35án được thực hiện một cách độc lập giữa các thành viên trong Hội đồng xét
xử, giữa Thẩm phán và HTND Thẩm phán không được phép chỉ đạo, định hướng đối với Hội thẩm trong việc xác định tội danh, quyết định mức hình phạt (đối với vụ án hình sự), đường lối giải quyết đối với các vụ án dân sự nói chung, các vụ án hành chính Hội thẩm cũng không được ỷ lại Thẩm phán mà phải chủ động trong việc nghiên cứu hồ sơ, nội dung, các tình tiết của vụ án, đưa ra ý kiến cá nhân về tội danh cũng như mức hình phạt đối với các bị cáo trong vụ án hình sự, đưa ra quan điểm giải quyết đối với các vụ án dân sự nói chung và vụ án hành chính Là những người có chuyên môn nghiệp vụ, Thẩm phán chỉ có thể cung cấp và hướng dẫn các Hội thẩm xem những văn bản, tài liệu liên quan đến việc giải quyết vụ án Độc lập ở đây là độc lập trong suy nghĩ, phán xét Hội đồng làm việc theo nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số
Tuy nhiên vấn đề đặt ra là việc quy định Thẩm phán và HTND độc lập xét xử, độc lập đến mức nào, có phải độc lập đến mức có thể làm bất cứ điều
gì, trong đó có cả những quyết định sai? Ở đây, Thẩm phán và Hội thẩm “độc lập” nhưng phải “tuân theo pháp luật” “Độc lập” và “tuân theo pháp luật” là hai nội dung có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó “độc lập” là điều kiện cần thiết để Thẩm phán và HTND khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật, còn
“tuân theo pháp luật” là cơ sở không thể thiếu để Thẩm phán và Hội thẩm
độc lập khi xét xử Nếu chỉ “độc lập”, mà không “tuân theo pháp luật” thì sẽ dẫn đến việc xét xử tùy tiện, chủ quan, độc đoán Sự độc lập của Tòa án phụ thuộc rất lớn vào trách nhiệm và năng lực thực thi quyền xét xử của Thẩm
Trang 3629
phán và HTND Rõ ràng độc lập và trách nhiệm là hai mặt của cùng một vấn
đề Độc lập giúp Thẩm phán cũng như Hội thẩm không bị ảnh hưởng tác động của bên ngoài nhưng lại không cho phép Thâm phán và Hội thẩm xét xử một cách tùy tiện, làm tổn hại công lý và quyền lợi của các bên Tính trách nhiệm
chính là giải pháp khắc phục tính tùy tiện “Mặc dù tính độc lập của tòa án giúp tòa không bị ảnh hưởng tác động của bên ngoài nhưng nó không cho phép tòa án hành xử một cách tùy tiện, vô lương tâm, hại cho công lý và quyền lợi đáng ra được hưởng của các bên” [38, tr.4]
Cũng cần hiểu rằng sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm không có nghĩa là việc xét xử của họ không chịu sự kiểm tra, giám sát Theo quy định của pháp luật, Tòa án cấp trên có quyền xem xét những bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới, có quyền sửa hoặc hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới theo quy định Vấn đề đặt ra là khi bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới bị Tòa án cấp trên sửa, hủy theo quy định thì người chịu trách nhiệm
là Thẩm phán, trong khi Hội đồng xét xử có sự tham gia của cả Hội thẩm Trách nhiệm của Thẩm phán trong việc có án bị sửa, hủy thể hiện ở việc họ gặp khó khăn trong việc được xem xét tái nhiệm Hiện nay, Tòa án Tối cao đang ban hành dự thảo quy chế xử lý đối với các chức danh tư pháp, trong đó
có quy định trách nhiệm đối với những Thẩm phán có án bị sửa, hủy, mà hình thức cao nhất là không xem xét tái nhiệm đối với Thẩm phán, tuy nhiên trách nhiệm của Hội thẩm như thế nào thì chưa có văn bản quy định
c) Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số
Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 chưa quy định nguyên tắc
này, tuy nhiên, Hiến pháp năm 1980 quy định “TAND xét xử tập thể và quyết định theo đa số” (Điều 132) và Điều 131 Hiến pháp năm 1992 quy định
“TAND xét xử tập thể và quyết định theo đa số” Khoản 4 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định “TAND xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn”
Trang 3730
Như đã phân tích ở nguyên tắc xét xử có Hội thẩm tham gia, lần đầu tiên Hiến pháp năm 2013 quy định về thủ tục rút gọn Với quy định về nguyên tắc này, việc xét xử các vụ án theo thủ tục rút gọn được thực hiện bởi một Thẩm phán, không có sự tham gia của Hội thẩm nên không có việc xét xử tập thể và quyết định theo quyết định đa số như các vụ án thông thường Vấn đề này được quy định cụ thể tại các văn bản như: Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015 quy định “Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn do Bộ luật này quy định” (Điều 24) và “Tòa án xét
xử tập thể vụ án dân sự, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn” (Điều 12) Luật Tố tụng hành chính năm 2010 quy định “Tòa án xét xử tập thể vụ án hành chính và quyết định theo đa số” (Điều 16), vì án hành chính không có quy định về thủ tục rút gọn
Bản chất của nguyên tắc nêu trên thể hiện ở việc bảo đảm tính toàn diện, đầy đủ, khách quan của việc nghiên cứu giải quyết các vụ án và bảo đảm tính đúng đắn, khách quan của các bản án và quyết định của Tòa án, tránh được tính chủ quan, độc đoán và tùy tiện trong hoạt động xét xử Theo nguyên tắc này, việc xét xử các vụ án ở các cấp đều do Hội đồng xét
xử được thành lập theo quy định của pháp luật thực hiện, trừ trường hợp vụ
án được tiến hành theo thủ tục rút gọn hoặc một số việc dân sự do Thẩm phán giải quyết
Đối với vụ án hình sự: Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm Trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì HĐXX sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm (Điều
185 BLTTHS năm 2003) Trong trường hợp HĐXX sơ thẩm chỉ có một Thẩm phán và hai Hội thẩm thì khi phát biểu (hoặc biểu quyết) các Hội thẩm phát biểu (hoặc biểu quyết) trước, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phát biểu (hoặc biểu quyết) sau Trong trường hợp HĐXX sơ thẩm có hai Thẩm phán và ba
Trang 3831
Hội thẩm thì các Hội thẩm phát biểu (hoặc biểu quyết) trước, đến Thẩm phán không phải là chủ tọa phiên tòa và sau cùng là Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phát biểu (hoặc biểu quyết) Thành viên của HĐXX có ý kiến thiểu số thì có quyền (không phải là nghĩa vụ) trình bày ý kiến của mình bằng văn bản riêng
và được đưa vào hồ sơ Trong biên bản nghị án phải ghi lại đầy đủ các ý kiến
đã thảo luận về từng vấn đề một và quyết định theo đa số của Hội đồng xét xử
về từng vấn đề đó (NQ số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003)
Theo Bộ luật Tố tụng dân sự, HTND chỉ tham gia xét xử các vụ án dân
sự, còn đối với việc dân sự HTND không tham gia Điều đó hoàn toàn phù hợp bởi tính chất của vụ án dân sự là các tranh chấp, mâu thuẫn thường mang tính phức tạp nên sự tham gia của HTND là đảm bảo sự tham gia của người dân vào việc xét xử của Tòa án, tăng cường tính công khai, minh bạch Đối với án dân sự nói chung, thành phần HĐXX sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và hai HTND, trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba HTND (Khoản 2 Điều 52 BLTTDS năm 2015) Việc xét xử vụ án hình sự, dân sự nói chung và án hành chính do tập thể các thành viên trong HĐXX cùng thực hiện, trừ trường hợp tiến hành xét xử các vụ án theo thủ tục rút gọn chỉ có một Thẩm phán thực hiện, đó là các vụ án đơn giản, các tình tiết vụ án rõ ràng, không cần thiết phải thành lập HĐXX cũng có thể giải quyết vụ án một cách dễ dàng, khách quan
Quyết định theo đa số được hiểu là trong quá trình giải quyết vụ án, khi quyết định các vấn đề của vụ án phải dựa trên kết quả biểu quyết của đa số các thành viên HĐXX Từ trước đến nay chúng ta vẫn hiểu việc quyết định theo đa số của HĐXX là quyết định về tội danh, điều luật, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp, án phí (vụ án hình sự); về việc chấp
Trang 3932
nhận toàn bộ, một phần các yêu cầu của nguyên đơn, của người khởi kiện, yêu cầu phản tố của bị đơn, của người bị kiện; yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hoặc không chấp nhận toàn bộ, một phần các yêu cầu của các đương sự hay chưa, nếu đã đủ căn cứ để chấp nhận thì theo điểm, khoản, điều luật nào của văn bản quy phạm pháp luật tương ứng và án phí (vụ án dân sự và hành chính) Tuy nhiên, thực tế cần hiểu việc quyết định theo đa số của HĐXX còn được đặt ra trong trường hợp hoãn phiên tòa, tạm đình chỉ vụ án (đối với các loại án) hay trong trường hợp yêu cầu điều tra bổ sung (đối với vụ án hình sự)
Xét xử tập thể và quyết định theo đa số là hai nội dung trong cùng một vấn đề nhưng không có mâu thuẫn với nhau mà ngược lại có ý nghĩa bổ trợ cho nhau Nếu xét xử tập thể mà kết quả giải quyết vụ án lại dựa trên quan điểm, ý kiến của một cá nhân trong HĐXX hoặc lấy ý kiến của thiểu số thì có
lẽ không cần thiết phải quy định việc thành lập HĐXX, quyết định theo đa số phải là kết quả của quá trình xét xử tập thể (của tất cả các thành viên trong HĐXX), quyết định theo đa số là lý do tồn tại của việc xét xử tập thể Ngược lại, quyết định theo đa số mà lại không xét xử tập thể thì quyết định theo đa số không còn ý nghĩa gì Xét xử tập thể và quyết định theo đa số là hai nội dung trong cùng một vấn đề không thể tách rời nhau
Các vấn đề của vụ án chỉ được thông qua bằng cách biểu quyết theo đa
số, nghĩa là phải có sự đồng thuận đa số của các thành viên, đảm bảo việc giải quyết vụ án được sự nhất trí cao Nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo
đa số có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện tính dân chủ trong quá trình giải quyết vụ án, tránh những yếu tố cá nhân, chủ quan trong, tình cảm riêng tư trong việc xét xử và đưa ra các quyết định giải quyết vụ án Quy định xét xử tập thể và quyết định theo đa số đảm bảo các bản án, quyết định của Tòa án được khách quan, chính xác, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con
Trang 40Xét xử theo thủ tục bồi thẩm đoàn trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ được thực hiện bởi 3 loại: Đại Bồi thẩm đoàn, Tiểu Bồi thẩm đoàn xét xử án hình sự và Tiểu Bồi thẩm đoàn xét xử án dân sự Việc xét xử của các Bồi thẩm đoàn tại các Tòa án của Liên bang và của các bang được bảo đảm bởi Hiến pháp Hoa Kỳ Theo đó, việc xét xử mọi loại tội phạm, trừ những tội nghiêm trọng do các quan chức dân sự của Chính phủ vi phạm trong khi thực hiện công vụ có thể do Bồi thẩm đoàn xét xử
Đại Bồi thẩm đoàn thông thường gồm 23 thành viên và số lượng này có thể khác nhau theo quy định của pháp luật của từng bang Tiểu Bồi thẩm đoàn bao gồm 12 thành viên và đôi khi trong các vụ việc dân sự chỉ có 6 thành viên Các Bồi thẩm được trao quyền quyết định rất lớn, cho phép họ thực hiện việc xem xét thận trọng, kín đáo và đưa ra những phán xét cuối cùng của mình mà không cần nêu rõ căn cứ, sau khi thời gian thực hiện nhất thời cho chính quyền họ được yêu cầu giải thể và trở về cuộc sống riêng tư
Bồi thẩm đoàn hình sự và dân sự phản ánh những khác biệt giữa pháp luật hình sự và dân sự Đối với các vụ việc phải đưa ra Tòa xét xử không phải trong mọi trường hợp đương sự đều có quyền xét xử bởi Bồi thẩm đoàn Bị