Trong đó, Luật doanh nghiệp năm 2005 và Luật Chứng khoán năm 2006 là các văn bản pháp lý quan trọng nhất quy định việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động, giải thể và phá sản doanh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Như Phát
Hµ néi - 2008
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ
CÔNG TY VÀ QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT
10
1.1.2 Quản trị công ty theo thông lệ quốc tế 14 1.1.3 Khái niệm quản trị công ty tại Việt Nam 19 1.2 Khái niệm và đặc điểm công ty niêm yết tại Việt Nam 23 1.2.1 Khái niệm về chứng khoán, niêm yết chứng khoán 23 1.2.2 Khái niệm và đặc điểm công ty đại chúng 23 1.2.3 Khái niệm công ty niêm yết và các nguyên tắc quản trị
công ty niêm yết
Chương 2: KHUNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM
YẾT Ở VIỆT NAM
41
2.2 Khung pháp luật về quản trị công ty tại Việt Nam 45
2.2.1.2 Điều lệ công ty và Quy chế nội bộ về quản trị công ty 55 2.2.1.3 Những vấn đề liên quan đến cổ đông lớn 55 2.2.1.4 Họp Đại hội đồng cổ đông thường niên, bất thường 55
Trang 42.2.1.5 Báo cáo hoạt động của Hội đồng quản trị tại Đại hội đồng
cổ đông
57
2.2.1.6 Báo cáo hoạt động của Ban kiểm soát tại Đại hội đồng cổ đông 57 2.2.2 Hội đồng quản trị và thành viên Hội đồng quản trị 58 2.2.2.1 Ứng cử, đề cử thành viên Hội đồng quản trị 63 2.2.2.2 Tư cách thành viên Hội đồng quản trị 63
2.2.4 Ban kiểm soát và thành viên Ban kiểm soát 70
2.2.4.3 Quyền tiếp cận thông tin và tính độc lập của thành viên
Ban kiểm soát
71
2.2.4.4 Trách nhiệm và nghĩa vụ của Ban kiểm soát 71
2.2.5 Ngăn ngừa xung đột lợi ích và giao dịch với các bên có
quyền lợi liên quan đến công ty
72
2.2.5.1 Khái niệm "người có liên quan" 72
2.2.5.2 Ngăn ngừa xung đột lợi ích và giao dịch với các bên có
quyền lợi liên quan đến công ty niêm yết
74
Trang 52.2.6.2 Công bố thông tin về tình hình quản trị công ty 80
2.2.6.3 Công bố thông tin về các cổ đông lớn 81
2.2.6.5 Chế độ báo cáo, giám sát và xử lý vi phạm 82
Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUẢN TRỊ CÔNG TY
NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ
84
3.1 Thực trạng của việc tuân thủ các nguyên tắc quản trị công
ty niêm yết qua một số tình huống nghiên cứu cụ thể
84
3.1.1 Công ty cổ phần Phát triển đầu tư công nghệ FPT (Công
ty FPT)
84
3.1.2 Công ty cổ phần Vận tải Xăng dầu Vipco 87
3.2.1 Đảm bảo quyền lợi của cổ đông nói chung, cổ đông thiểu
số nói riêng
96
3.2.2 Mức độ công khai hóa chưa được tuân thủ 97
3.2.3 Chưa kiểm soát được các giao dịch của công ty với các bên
có liên quan
97
3.2.4 Kiểm soát nội bộ còn hình thức và kém hiệu quả 98
3.2.5 Bảo đảm vai trò và vị thế Hội đồng quản trị 100
3.3 Một số kiến nghị nhằm xây dựng một khung quản trị công
ty hiệu quả ở việt nam
104
3.3.1 Nâng cao nhận thức về sự can thiệp và ý nghĩa của khung
quản trị công ty
104
3.3.2 Nâng cao vai trò của Hội đồng quản trị phù hợp với địa vị
pháp lý và ý nghĩa thực tế của nó trong quản trị công ty
105
Trang 63.3.3 Hoàn thiện chế độ công khai hoá thông tin và mức độ minh
bạch trong quản trị công ty
107
3.3.4 Công khai hoá và giám sát có hiệu quả các giao dịch với
các bên có liên quan
109
3.3.5 Nâng cao tính độc lập, chuyên nghiệp và hiệu lực của Ban
kiểm soát
110
3.3.6 Một số ưu tiên khác nhằm tăng cường khung pháp luật về
quản trị tại Việt Nam
111
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
hình
1.1 Các nguyên tắc quản trị công ty của QECD (the oecd
principles of corporate governance)
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sau hơn 20 năm đổi mới kinh tế (1986 - 2006), hệ thống doanh nghiệp Việt Nam ta đã và đang từng bước hình thành và phát triển; đông đảo về số lượng,
đa dạng về loại hình và quy mô ngày càng lớn Doanh nghiệp tồn tại dưới hình thức công ty ngày càng trở lên phổ biến do môi trường kinh doanh đa dạng và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam để đạt mục tiêu đến năm 2010, cả nước có 500.000 doanh nghiệp (bao gồm cả các loại công ty và doanh nghiệp tư nhân)
Theo báo cáo tại Hội thảo "Giải pháp phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh", diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28/5/2007,
cả nước hiện có khoảng 260.000 doanh nghiệp ngoài quốc doanh
với tổng số vốn khoảng 600.000 tỷ đồng Loại hình công ty trách
nhiệm hữu hạn chiếm gần 47% số doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp tư nhận chiếm 36,4% và công ty cổ phần chiếm hơn 15% Sự phát triển của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên các lĩnh vực phát triển kinh tế, đặc biệt ở khu vực chế biến, bán lẻ và dịch
vụ thời gian qua đã góp phần không nhỏ trong GDP của cả nước Doanh nghiệp ngoài quốc doanh hiện đang chiếm 50% giá trị công nghiệp chế biến thủy sản, 30% giá trị ngành công nghiệp dệt may Khu vực này cũng là nơi thu hút hơn 90% số lao động mới hàng năm Tuy nhiên 75% số doanh nghiệp ngoài quốc doanh hiện có mức vốn dưới 2 tỷ đồng Công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp này còn lạc hậu và hoạt động chủ yếu ở lĩnh vực có giá trị thấp như chế biến và gia công Mục tiêu đến năm 2010, cả nước có 500.000 doanh nghiệp ngoài quốc doanh [61]
Công ty nói chung và công ty đại chúng/ niêm yết nói riêng đã và đang khẳng định được vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường và trở thành
Trang 9một nhân tố cơ bản thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội ở nước ta Theo số liệu thống kê, trong 8 năm hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam (7/2000-7/2008), đã có khoảng 1.015 Công ty cổ phần đăng ký là công ty đại chúng với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tại thời điểm 15/8/2008, với tổng vốn đăng ký là gần 39.665,9 tỷ VNĐ [58] Tại thời điểm 31/12/2007, có 249 công
ty niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán với giá trị vốn hoá toàn thị trường là 500.000 tỷ VNĐ, tương đương 31,25 tỷ USD (bằng khoảng 43,7% GDP của năm 2007), gấp đôi năm 2006 và gấp 15 lần so với năm 2005 Trong
đó, số công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) là 138 công ty và Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HASTC) là 111 công ty Năm 2007, các công ty niêm yết đã huy động được
số vốn hơn 90.000 tỷ VNĐ Hiện có hơn 300 công ty niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán tại thời điểm 15/8/2008, trong đó, số công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) là 146 công ty
và Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HASTC) là hơn 160 công ty [58]
Đạt được kết quả nói trên do nhiều nguyên nhân, trong đó, không thể không kể đến chủ trương đổi mới phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường và việc thể chế hóa một cách hợp lý chủ trương đó thành hệ
thống pháp luật về doanh nghiệp như Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Đầu tư năm 2005, Luật Chứng khoán năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành các Luật này Trong đó, Luật doanh nghiệp năm 2005 và Luật Chứng khoán năm 2006 là các văn bản pháp lý quan trọng nhất quy định việc thành
lập, tổ chức quản lý và hoạt động, giải thể và phá sản doanh nghiệp, trong đó
có phần quan trọng về quản trị công ty nói chung và quản trị công ty niêm yết nói riêng
Quản trị công ty đề cập đến các cơ cấu và quá trình cho việc định hướng và kiểm soát các công ty Quản trị công ty liên quan đến mối quan hệ giữa ban giám đốc, Hội đồng Quản trị, các cổ đông lớn, các cổ đông nhỏ và những bên có quyền lợi liên quan Quản trị công ty tốt góp phần vào phát
Trang 10triển kinh tế bền vững do cải thiện được hoạt động của các công ty và nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài của các công ty đó
Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD (Corporate Governance Principles of OECD) cung cấp một khuôn khổ cho công việc của nhóm Ngân
hàng Thế giới trong lĩnh vực này, xác định những vấn đề chính trong thực tiễn: quyền và việc được đối xử bình đẳng của các cổ đông và những bên có lợi ích tài chính liên quan, vai trò của những bên có lợi ích phi tài chính liên quan, việc công bố thông tin và tính minh bạch, trách nhiệm của Hội đồng quản trị
Đối với những quốc gia có nền kinh tế thị trường mới nổi như Việt Nam, việc tăng cường quản trị công ty có thể phục vụ cho rất nhiều các mục đích chính sách công quan trọng Quản trị công ty tốt giảm thiểu khả năng tổn thương trước các khủng hoảng tài chính, củng cố quyền sở hữu, giảm chi phí giao dịch và chi phí vốn, dẫn đến việc phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán Một khuôn khổ quản trị công ty yếu kém sẽ làm giảm mức độ tin tưởng của các nhà đầu tư, và không khuyến khích đầu tư từ bên ngoài Ngoài ra, khi các quỹ hưu trí tiếp tục đầu tư vào các thị trường chứng khoán, quản trị công ty tốt đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các khoản tiết kiệm hưu trí Trong vòng vài năm qua, tầm quan trọng của quản trị công ty đã được nhấn mạnh thể hiện ở số lượng các nghiên cứu ngày càng tăng lên Các nghiên cứu cho thấy các thực tiễn quản trị công ty tốt dẫn tới tăng trưởng mạnh đối với giá trị kinh tế gia tăng của các công ty, năng suất cao hơn và giảm rủi ro tài chính hệ thống cho các quốc gia [19]
Quản trị công ty tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế lành mạnh Quản trị công ty tạo ra một loạt các mối quan hệ giữa ban giám đốc công ty, hội đồng quản trị, các cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan tạo nên định hướng và sự kiểm soát công ty Mối quan hệ này được xác định một phần bởi luật pháp, lịch sử, văn hóa của quốc gia nơi công
ty đặt trụ sở Quản trị công ty tốt thúc đẩy hoạt động của công ty, tăng cường
Trang 11khả năng tiếp cận của công ty với các nguồn vốn bên ngoài ở mức chi phí thấp hơn Với việc tăng cường giá trị của công ty và quản lý rủi ro tốt hơn, quản trị công ty tốt góp phần vào việc tăng cường đầu tư và phát triển bền vững
Nâng cao hoạt động quản trị công ty đồng nghĩa với việc góp phần vào sự phát triển ổn định, bền vững do cải thiện được hoạt động và nâng cao khả năng tiếp cận được các nguồn vốn bên ngoài của các công ty đó Ngược lại, một khuôn khổ quản trị công ty yếu kém sẽ làm giảm độ tin tưởng của các nhà đầu tư, không đón nhận được nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài, giảm giá trị kinh tế của công ty và có thể dẫn tới các nguy cơ bị phá sản hoặc thôn tính, sáp nhập công ty, điều này sẽ làm tăng rủi ro đối với hệ thống kinh tế của quốc gia Như vậy, việc hoàn hiện và tăng cường hệ thống quản trị công ty đóng vai trò vô cùng quan trọng Quản trị công ty tốt sẽ giảm thiểu khả năng tổn thương đối với nền kinh tế trước các cuộc khủng hoảng tài chính, phục vụ cho việc hoạch định tốt các chính sách công của Đảng và Nhà nước Đối với các nhà đầu tư, quản trị công ty sẽ góp phần củng cố quyền sở hữu, giảm thiểu các chi phí giao dịch, chi phí vốn và đồng nghĩa với việc đầu tư có hiệu quả
Với ý nghĩa quan trọng đó, quản trị công ty đã được nhiều quốc gia quan tâm, trong đó có Việt Nam Trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay của nước ta, khuôn khổ pháp lý cho việc nâng cao hoạt động quản trị công ty
về cơ bản đã được đề cập trong Luật doanh nghiệp năm 2005, Luật chứng khoán năm 2006, Điều lệ Mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết (Quyết định
15/2007/QĐ-BTC, ngày 19/03/2007 của Bộ Tài chính) Riêng với công ty niêm yết, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/03/2007 về Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên
Sở Giao dịch Chứng khoán/ Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (sau đây gọi tắt là Quy chế quản trị công ty niêm yết)
Tuy nhiên, việc tuân thủ các nguyên tắc quản trị công ty trong các công ty niêm yết hiện nay chưa thực sự hiệu quả, hàng loạt các bất cập liên quan đến cơ cấu tổ chức, bảo bảo quyền và lợi ích của cổ đông, công khai hoá
Trang 12thông tin và các lợi ích có liên quan, các quy định về kế toán và kiểm toán đã nảy sinh làm ảnh hưởng đến hoạt động của nhiều công ty; các nhóm cổ đông
bị phân hoá quyền và lợi ích rất sâu sắc; quyền của cổ đông thiểu số bị lạm dụng, v.v Điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau, mà một trong các nguyên nhân chính là khung pháp lý về quản trị được ban hành và tuân thủ chưa đầy đủ làm cơ sở để bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông/ nhà đầu tư và ngăn ngừa các xung đột lợi ích một cách hiệu quả
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tác giả đã chọn đề tài "Quản trị công
ty niêm yết - những vấn đề lý luận và thực tiễn" để làm luận văn thạc sĩ luật
học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quản trị công ty đã được cộng đồng tài chính quốc tế công nhận là một trong 12 tiêu chuẩn cơ bản tốt nhất trong thực tiễn Ngân hàng Thế giới là
tổ chức đánh giá việc áp dụng các tiêu chuẩn của OECD về quản trị công ty
Các đánh giá này là một phần trong chương trình "Báo cáo về tình hình tuân thủ các tiêu chuẩn và chuẩn mực (ROSC)" của Ngân hàng Thế giới và Quỹ
Tiền tệ Quốc tế Mục tiêu của sáng kiến ROSC này là xác định những yếu kém có thể dẫn đến khả năng dễ bị tổn thương về kinh tế và tài chính của một quốc gia Mỗi đánh giá ROSC về quản trị công ty rà soát khuôn khổ pháp lý cũng như các thông lệ và việc tuân thủ của các công ty niêm yết, đồng thời đánh giá khuôn khổ quản trị công ty so với các chuẩn mực được quốc tế công nhận [19]
Cho đến thời điểm hiện nay, ngoài các bài báo và một số ấn phẩm có
đề cập hoặc nghiên cứu một số khía cạnh của vấn đề quản trị công ty nói chung thì ở Việt Nam hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập, đánh giá một cách hệ thống và đầy đủ nhất về vấn đề quản trị công ty niêm yết dựa trên cơ sở các quy định hiện hành tại Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết
Trang 13Nghiên cứu đáng chú ý nhất là "Báo cáo đánh giá tình hình quản trị công ty của Việt Nam" của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam (World Bank) được thực hiện vào tháng 6/2006 trong khuôn khổ của chương trình "Báo cáo
về tình hình tuân thủ các tiêu chuẩn và chuẩn mực (ROSC)" của Ngân hàng
Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam (World Bank in Vietnam-WBVN):
Khuôn khổ về quản trị công ty ở Việt Nam đang ở trong giai đoạn phát triển ban đầu, các luật và quy định liên quan đang được xây dựng Khu vực doanh nghiệp vẫn còn mang nhiều tính chất phi chính thức, trong đó thị trường chứng khoán không chính thức đang còn lớn hơn nhiều so với thị trường chính thức, và nhà nước vẫn duy trì việc nắm giữ một tỷ lệ đáng kể trong các doanh nghiệp cổ phần hóa Năng lực và nguồn lực của các cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm quản lý, cưỡng chế thực thi và phát triển thị trường còn hạn chế Một số vấn đề lớn khác bao gồm: chưa có sự bảo vệ đầy đủ cho nhà đầu tư, chưa tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực kế toán, và còn hạn chế công bố các thông tin có chất lượng [19]
Lý do cơ bản của việc còn có ít các nghiên cứu, đánh giá về tình hình quản trị công ty tại Việt Nam là:
Thứ nhất, nguyên tắc quản trị công ty là một vấn đề mới đối với hệ
thống pháp luật Việt Nam Trong khi Việt Nam mới chỉ tập trung cho mục tiêu xây dựng mô hình quản lý trong công ty thì vấn đề quản trị công ty nói chung và quản trị công ty niêm yết nói riêng chưa thực sự được quan tâm thoả đáng mặc dù trên thực tế chúng ta đã ghi nhận sự khuyến nghị của Tổ chức Hợp tác và phát triển Kinh tế (OECD) và Ngân hàng Thế giới (World Bank)
Thứ hai, mặc dù thị trường chứng khoán Việt Nam đã hoạt động được
8 năm (2000-2008), Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn đầu của việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật thị trường chứng khoán Theo đó, mục
Trang 14tiêu thu hút các công ty niêm yết, tạo ra nhiều hàng hóa cho thị trường đang là
ưu tiên của cơ quan quản lý thị trường chứng khoán (Chính phủ, Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước) Vì vậy, vấn đề quản trị công ty niêm yết chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức, mặc dù đã có khung pháp lý điều chỉnh và hiện có hơn 300 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Thứ ba, Quản trị công ty chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của
các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam là do: (i) các công
ty niêm yết hiện nay chủ yếu được thành lập từ quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước kết hợp với niêm yết - nơi mà cơ cấu quản trị chưa có nhiều khác biệt so với mô hình doanh nghiệp nhà nước trước đây; (ii) tại các công ty niêm yết này, cổ đông nhà nước vẫn nắm cổ phần chi phối (Tính đến 30/6/2008, có 3.786 doanh nghiệp đã được cổ phần hóa Tổng số vốn điều lệ
khi cổ phần hóa là 106 ngàn tỷ đồng, trong đó Nhà nước nắm giữ 50%, người lao động nắm giữ 11%, nhà đầu tư bên ngoài nắm giữ 39% vốn điều lệ Quá
trình cổ phần hóa, các doanh nghiệp nhà nước đã thu về khoảng 78 ngàn tỷ đồng cho Nhà nước và doanh nghiệp Trong đó, phần thu được do chênh lệch giữa giá bán cổ phiếu so với mệnh giá khoảng 54 ngàn tỷ đồng [64]); (iii) các công ty niêm yết là công ty gia đình- một mô hình khá phổ biến ở các quốc gia châu Á - nơi mà vấn đề quản trị vốn không được chú trọng hoặc dễ bị lạm dụng quyền hạn trong các vấn đề có liên quan đến cơ cấu tổ chức, công khai hóa thông tin, giao dịch tư lợi; (iv) khả năng nhận thức và bảo vệ lợi ích của các cổ đông, nhất là cổ đông thiểu số trong mô hình quản trị doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, tính khả thi thấp và sự chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật về quản trị công ty niêm yết
Tác giả hy vọng rằng, với sự đầu tư thời gian, kết quả nghiên cứu của
đề tài sẽ là một tài liệu tham khảo góp phần làm phong phú hơn việc nghiên cứu về quản trị công ty nói chung và quản trị công ty niêm yết nói riêng trong môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt Nam hiện nay
Trang 153 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ trên, luận văn đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu bao gồm:
Phương pháp phân tích, bình luận các quy định của khung pháp luật
hiện hành về quản trị công ty nói chung và quản trị công ty niêm yết nói
riêng Trong đó tập trung vào các quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật chứng khoán năm 2006, Điều lệ Mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết
(Quyết định 15/2007/QĐ-BTC, ngày 19/03/2007 của Bộ Tài chính); Quy chế quản trị công niêm yết (Quyết định 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/03/2007 của
Bộ Tài chính)
Phương pháp so sánh khi so sánh các quy định của khung pháp luật
Việt Nam về quản trị công ty nói chung và quản trị công ty niêm yết nói riêng với thông lệ quốc tế (Tổ chức Hợp tác và phát triển Kinh tế OECD) và Ngân hàng thế giới - World Bank) và các quy định về quản trị công ty trong luật pháp các nước Phương pháp này được sử dụng trong chương 2 khi phân tích
và đánh giá về tình hình quản trị công ty niêm yết tại Việt Nam
Bên cạnh các phương pháp nói trên, việc phân tích thực trạng tình hình quản trị công ty niêm yết tại Việt Nam thông qua việc nghiên cứu, đánh giá các tình huống nghiên cứu (Case study) về quản trị công ty của các công
ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua cũng được sử dụng như một phương pháp nghiên cứu nhằm đánh giá một cách khách quan hơn về thực trạng của tuân thủ các nguyên tắc quản trị công ty tại Việt Nam Trong bối cảnh Luật Chứng khoán có hiệu lực được hơn 1 năm (từ 1/1/2007), việc nghiên cứu các công ty niêm yết sẽ tập trung chủ yếu vào các quy định của Luật này
4 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Thực hiện bản luận văn này, mục tiêu của tác giả là tìm hiểu, phân tích
và làm rõ hàng loạt các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến quản trị
Trang 16công ty niêm yết; những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến việc tuân thủ các nguyên tắc quản trị công ty niêm yết tại Việt Nam, qua đó đưa ra được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị công ty niêm yết hiện nay
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung chủ yếu vào các công
ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, đặc biệt là từ khi Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Chứng khoán năm 2006 và Quy chế quản trị công ty niêm yết được ban hành và có hiệu lực pháp luật Luận văn không
thảo luận các vấn đề quản trị công ty của các công ty đại chúng nói chung cũng như các công ty có chứng khoán niêm yết trên thị trường chứng khoán phi chính thức (Black market) hay thị trường OTC (Over the Counter)
5 Giới hạn thời điểm nghiên cứu
Các số liệu phân tích và khung pháp luật về quản trị công ty niêm yết được luận văn nghiên cứu được cập nhật và có giá trị tại thời điểm 15/8/2008
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quản trị công ty và quản trị
công ty niêm yết
Chương 2: Khung pháp luật về quản trị công ty niêm yết ở Việt Nam Chương 3: Thực trạng của việc tuân thủ các nguyên tắc quản trị công
ty niêm yết ở Việt Nam và một số giải pháp kiến nghị
Trang 17Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY
VÀ QUẢN TRỊ CÔNG TY NIÊM YẾT
1.1 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY
Quản trị công ty (Corporate Governance) đã trở thành vấn đề cơ bản trong lĩnh vực Luật Công ty và Luật Chứng khoán ở nhiều nước trên thế giới Vấn đề quản trị công ty được đặc biệt coi trọng kể từ khi thế giới chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính tại Châu Á năm 1997 và sự sụp đổ của hàng loạt các công ty niêm yết tại hàng loạt các nước phát triển như Enron, Tyco, Adelphia và WorldCom (Mỹ); HIH và One Tel (Úc) v.v Quản trị công ty không chỉ thu hút sự quan tâm và chú ý của các nước, mà còn nhận được sự quan tâm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB), Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) Riêng Tổ chức các nước phát triển (Group of Seven-G7) còn ban hành Bộ nguyên tắc/Điều lệ tốt nhất về quản trị công ty và kế toán Quản trị công ty
"hiệu quả" ("good" corporate governance) được coi như nhân tố cơ bản cho
phát triển kinh tế và đổi mới quản trị công ty đang trở thành một mục tiêu tại tất cả các nước phát triển và đang phát triển trên thế giới
1.1.1 Khái niệm quản trị công ty
Quản trị công ty là một chủ đề rộng, mở rộng đến tất cả các khía cạnh
có liên quan đến các cổ đông, các nhà quản lý, các kiểm toán viên của một công
ty Định nghĩa về quản trị công ty có thể tìm thấy trong các Quy chế/Điều lệ
về quản trị công ty ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế John Farrar cho rằng, khái niệm quản trị công ty (corporate governance) được sử dụng lần đầu tiên khoảng 40 năm trước bởi tác giả Richard Eells trong sách "The Governance
of Corporations" John Farrar cho rằng, khái niệm quản trị-governance, là một thuật ngữ đến từ ngôn ngữ Latin "gubernare" và "gubernator" với nghĩa chỉ
Trang 18cho việc bánh lái một con tàu và thuyền trưởng của con tầu đó Tuy nhiên, một vài học giả khác cho rằng, vấn đề quản trị công ty được thảo luận từ những năm 1930 [46]
Về mặt ngôn ngữ, quản trị công ty có thể hiểu theo nghĩa rộng và hẹp Theo nghĩa hẹp, quản trị công ty thường quan tâm đến (i) Các vấn đề của cấu trúc quản lý của công ty, chẳng hạn như mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị
và Ban giám đốc; (ii) lợi ích hoặc các mục tiêu của các nhóm trong công ty Theo nghĩa rộng, quản trị công ty thiết lập một tổ hợp các mối quan hệ giữa các bên tham gia vào công ty và các mục tiêu đầy đủ của quản trị công ty đó
Theo nghĩa hẹp, Shleifer và Vishy cho rằng "quản trị công ty giải quyết những cách mà theo đó, các nhà cung cấp tài chính cho các công ty muốn rằng bản thân họ sẽ có những lợi ích trở lại với những khoản đầu tư của mình" [48] Trong khi đó, theo Tomasic, Bottomley và Mc Queen, quản
trị công ty lại được hiểu theo nghĩa rộng như là "việc kiểm soát chính thức và không chính thức và cách quản lý công ty bởi các cổ đông bên ngoài" [49]
Tuy nhiên, định nghĩa rộng nhất về quản trị công ty được nhiều nước vận dụng vào xây dựng hệ thống pháp luật về quản trị công ty là của Tổ chức
Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD trong ấn phẩm "Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD" (The OECD Principles of Corporate Governance)
được sửa đổi và ban hành lại vào năm 2004 Theo đó, OECD cho rằng:
Quản trị công ty bao gồm việc thiết lập các mối quan hệ giữa cơ cấu quản lý công ty, hội đồng quản lý công ty, các cổ đông
và các bên có quyền lợi liên quan khác Quản trị công ty cũng cung cấp cấu trúc mà thông qua đó các mục tiêu của công ty đựợc thực hiện và những biện pháp để đạt được những mục tiêu và khả năng giám sát là được xác định [39, tr 11]
Quản trị công ty tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế lành mạnh Quản trị công ty là một loạt các mối quan hệ giữa ban giám đốc công ty, hội đồng quản trị, các cổ đông và các bên có quyền lợi
Trang 19liên quan tạo nên định hướng và sự kiểm soát công ty Mối quan hệ này được xác định một phần bởi luật pháp, lịch sử, văn hóa của quốc gia nơi công ty đặt trụ sở Quản trị công ty tốt thúc đẩy hoạt động của công ty, tăng cường khả năng tiếp cận của công ty với các nguồn vốn bên ngoài ở mức chi phí thấp hơn Với việc tăng cường giá trị của công ty và quản lý rủi ro tốt hơn, quản trị công ty tốt góp phần vào việc tăng cường đầu tư và phát triển bền vững
Bên cạnh đó, cũng cần có sự phân biệt giữa khái niệm "quản trị công ty" và "quản lý doanh nghiệp" Cụ thể là:
- Khi đề cập đến quản lý doanh nghiệp thì người quản lý là chủ thể của nó; còn các nguồn lực khác (nhất là người lao động) là đối tượng quản lý Người quản lý thực hiện các chức năng quản lý của mình để tổ chức công việc cho người khác và thông qua chính công việc đó của họ để đạt được mục tiêu; tức là tối đa hoá được lợi nhuận trên cơ sở sử dụng có hiệu quả các nguồn lực có được
- Khi nói đến quản trị công ty, người ta chú ý nhiều đến mối quan hệ giữa chủ sở hữu, cổ đông và những người quản lý (gồm thành viên Hội đồng quản trị và các giám đốc điều hành) Do đó, khi công ty có quy mô chưa lớn, chưa có sự tách biệt giữa chủ sở hữu và người quản lý (chủ sở hữu vẫn trực tiếp quản lý kinh doanh của công ty), thì quản trị và quản lý có ý nghĩa và nội dung tương đồng Cùng với sự phát triển của một công ty, người chủ sở hữu, cổ đông dần rút khỏi vai trò quản lý, nhường chỗ lại cho đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, những người không nhất thiết là chủ sở hữu Từ đó, có sự tách biệt thực tế giữa
sở hữu và quản lý công ty Cũng từ đó, nội dung và ý nghĩa của quản trị công
ty mở rộng hơn so với quản lý; và trọng tâm của nó là giải quyết "vấn đề đại diện" giữa cổ đông và người quản lý Lúc này, chính những người quản lý chuyên nghiệp lại trở thành "đối tượng quản lý" trong quản trị công ty
Vấn đề đại diện ở các công ty xuất hiện khi có sự tách biệt thực tế giữa chủ sở hữu và người quản lý Chủ sở hữu hay một số hoặc tất cả cổ đông không trực tiếp quản lý công ty; mà công việc đó nằm trong tay đội ngũ những người quản lý chuyên nghiệp Cũng như trong các trường hợp khác,
Trang 20bản chất của vấn đề đại diện ở các công ty nằm ở sự bất đối xứng thông tin giữa chủ sở hữu, cổ đông và người quản lý Những người quản lý công ty có thông tin đầy đủ, kịp thời và chính xác hơn những người chủ sở hữu; và họ cũng có lợi ích không hoàn toàn trùng hợp, tương đồng với lợi ích của chủ sở hữu, cổ đông Do đó, những người quản lý có thể tận dụng lợi thế này để theo đuổi những lợi ích riêng của họ mà làm thiệt hại đến lợi ích của chủ sở hữu
Ví dụ, họ có thể trả lương cao, các khoản bổng lộc lớn, bảo đảm an toàn cho công việc của chính họ; họ có thể theo đuổi mục tiêu mở rộng quy mô, tăng doanh thu hơn là lợi nhuận của công ty; họ có thể mua sắm các phương tịên
xa xỉ, đắt tiền, tuyển dụng số lượng nhân viên quá mức để phục vụ họ; họ có thể chống lại những vụ sáp nhập làm tăng giá trị của công ty, nhưng tạo nguy
cơ làm họ mất việc làm Trọng tâm của quản trị công ty là giải quyết vấn đề đại diện ở công ty như trình bày trên đây; làm cho đội ngũ quản lý phải làm việc phục vụ tốt nhất có thể được cho lợi ích của các cổ đông, chủ sở hữu công ty Đó là việc làm không phải không tốn kém chi phí; khoản chi phí đó thường gọi là "chi phí, hay phí tổn đại diện"
Thiết lập khung quản trị công ty phù hợp và có hiệu quả nhằm các mục tiêu:
- Tạo điều kiện, thúc đẩy nâng cao hiệu quả chung của công ty bằng cách tạo và duy trì các đòn bẩy khuyến khích những người trong nội bộ công
ty tối đa hoá hiệu quả kinh doanh, tối đa hoá lợi tức/ tài sản, và nâng cao năng suất lao động;
- Hạn chế những người trong nội bộ công ty lạm dụng quyền lực đối với các nguồn lực của công ty dưới các hình thức như: tham ô, bòn rút nguồn lực của công ty sử dụng cho mục đích riêng, hoặc làm thất thoát nguồn lực do công ty kiểm soát
- Cung cấp các công cụ giám sát hành vi của người quản lý đảm bảo trách nhiệm giải trình, bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư, của xã hội trước những người quản lý nội bộ với chi phí hợp lý
Trang 21Theo Báo cáo đánh giá của World Bank:
Quản trị công ty đề cập đến các cơ cấu và quá trình cho việc định hướng và kiểm soát các công ty Quản trị công ty liên quan đến mối quan hệ giữa ban giám đốc, Hội đồng quản trị, các cổ đông lớn, các cổ đông nhỏ và những bên có quyền lợi liên quan Quản trị công ty tốt góp phần vào phát triển kinh tế bền vững do cải thiện được hoạt động của các công ty và nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài của các công ty đó [19, tr i]
1.1.2 Quản trị công ty theo thông lệ quốc tế
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), để đạt được mục tiêu chính là thu lợi nhuận kinh tế dài hạn, các công ty phải cố gắng có được lợi thế cạnh tranh bền vững Điều này đòi hỏi mỗi công ty cần có sự linh hoạt trong quản trị để đối phó với những rủi ro tất yếu nảy sinh khi thích ứng nhanh với các cơ hội và thách thức trong điều kiện môi trường kinh doanh thay đổi liên tục [57]
Mặc dù có nhiều tranh luận mang tích khoa học về ảnh hưởng của quản trị công ty tới hiệu quả kinh doanh của công ty; tuy nhiên đại đa số đều cho rằng quản trị công ty được cải thiện có thể tác dụng tích cực tới hiệu quả hoạt động của công ty nói chung, công ty niêm yết nói riêng Chẳng hạn, Ngân hàng Thế giới cũng nhận định rằng: "Các nghiên cứu cho thấy các thực tiễn quản trị công ty tốt dẫn tới tăng trưởng mạnh đối với giá trị kinh tế gia tăng của các công ty, năng suất cao hơn và giảm rủi ro tài chính hệ thống cho các quốc gia" [19, tr i]
Quản trị trong các công ty niêm yết tốt cho phép các công ty thu được nhiều lợi ích từ sự phát triển đồng thời vẫn đáp ứng được sự thích nghi nhạy cảm các vấn đề xã hội Thất bại trong việc duy trì hoạt động quản trị có hiệu quả có thể sẽ dẫn tới việc có ít cơ hội hơn cho công ty tiếp cận các thị trường vốn Các nhà cung cấp vốn ngày càng dựa vào hoạt động quản trị của công ty
Trang 22mà họ đầu tư hoặc cho vay để đưa ra các yêu cầu về trách nhiệm giải trình và nghĩa vụ thực tế của công ty đối với họ Tiếp đó, hoạt động quản trị công ty cần thích nghi, cải tiến và điều chỉnh liên tục Để có khả năng cạnh tranh, cả công ty
và nhà đầu tư phải thường xuyên đổi mới và điều chỉnh hoạt động quản trị cho phù hợp với bối cảnh kinh tế mới, phải nhìn nhận quản trị công ty là "công việc đang làm" (work in progress) chứ không phải là "mô hình phù hợp tất cả" (one-size-fits-all) Nói chung, việc đánh giá và xem xét các vấn đề về quản trị công ty hiệu quả phải được xác định thông qua các nội dung có bản sau:
Thứ nhất, xác định nhiệm vụ của công ty trong nền kinh tế hiện đại:
Cần tạo ra lợi nhuận kinh tế dài hạn để tăng giá trị của cổ đông (nhà đầu tư) nhằm thu hút vốn trong điều kiện cạnh tranh toàn cầu về vốn Trong dài hạn thông qua việc duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững thì lợi nhuận tạo ra sẽ làm tăng lợi ích của cổ đông do đó có thể thu hút thêm vốn cho tăng trưởng bền vững và duy trì lâu dài Hội đồng quản trị công ty lúc này đóng vai trò quan trọng trong việc thống nhất chiến lược và tổ chức quản lý để đạt được mục tiêu kể trên
Thứ hai, đảm bảo tính thích nghi của cơ cấu quản trị công ty: Vai trò
chủ yếu của nội dung này là đảm bảo hình thành một môi trường quản trị công ty phù hợp với các giá trị xã hội và tạo lợi nhuận kinh tế dài hạn Không thể khẳng định rằng một mô hình quản trị là thích hợp với công ty trong mọi giai đoạn khác nhau của quá trình phát triển Đối với các công ty năng động hoạt động trong một thế giới biến đổi nhanh chóng thì sự linh hoạt và thích nghi của quản trị công ty là điều kiện tiên quyết cho hoạt động ngày càng tốt hơn của công ty; tuy nhiên điều này cũng còn phụ thuộc nhiều vào vai trò của Chính phủ trong việc cung cấp một khuôn khổ pháp lý hiệu lực và hiệu quả cũng như việc nới rộng các quy định không bắt buộc để cho các công ty có thể có những lựa chọn mềm dẻo hơn trong quản trị công ty của mình Chẳng hạn, vào năm 1994 Pháp đã đưa ra một loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn mới - "Société par Actions Simplifiée" (S.A.S) có cơ cấu quản trị được nới
Trang 23lỏng quản lý hơn loại hình cổ điển "Société Anonyme" (S.A) So với S.A, những người sáng lập ra S.A.S có sự linh hoạt hơn về: Cơ cấu và thành phần của Hội đồng quản trị, cách thức tổ chức các cuộc họp (kể cả qua phương tiện thông tin liên lạc), các nguyên tắc họp đại hội đồng cổ đông, các thoả thuận của cổ đông trong Điều lệ và kể cả các phương tiện công khai hoá thông tin đến các cổ đông lựa chọn này cho phép công ty có thể thích ứng được thay đổi của môi trường kinh doanh, tận dụng tối đa các có hội cho phát triển Tương tự như vậy, năm 1997, Toà án tối cao Liên bang Đức đã cho một công
ty trách nhiệm hữu hạn (GmbH) trở thành một công ty hợp danh hữu hạn (KGaA), công ty này là sự liên kết giữa đặc điểm của một công ty cổ phần và công ty hợp danh truyền thống thành một công ty hợp danh có trách nhiệm hữu hạn với vốn cổ phần mà chỉ có các thành viên góp vốn chịu trách nhiệm
cá nhân đối với các khoản nợ của công ty hợp danh Loại hình công ty này làm tăng tính hấp dẫn của KGaA như một phương tiện duy trì quản lý đối với các công ty kiểu gia đình trong khi vẫn đáp ứng được nhu cầu về vốn của công ty thông qua phát hành cổ phiếu trên Thị trường chứng khoán Nhìn chung, nội dung này phản ánh những thông tin về cơ cấu sở hữu khác nhau, các phương tiện cung cấp vốn, quản trị, các quy trình và cơ cấu Hội đồng quản trị, ký kết hợp đồng và kế hoạch trả lương nên được đưa ra thảo luận rộng rãi và công khai
Thứ ba, bảo vệ quyền lợi của cổ đông: Đối với các công ty thu hút
vốn cổ phần, khuôn khổ quản trị công ty phải nhấn mạnh vào sự công bằng, minh bạch và khả năng giải trình Những điểm nhấn này cần tính đến sự gia tăng của những cổ đông không tham gia điều hành công ty, những người thuộc nhóm các nhà đầu tư có tổ chức Những nỗ lực hiện nay để bảo vệ cổ đông nên tập trung và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tiếp cận các thông tin liên quan đến hoạt động của công ty, thực hiện quyền bỏ phiếu và nâng cao tính năng động, độc lập của các thành viên không điều hành trong Hội đồng quản trị nhằm nâng cao chất lượng quản trị công ty Sự tách bạch sở hữu công
Trang 24ty khỏi điều hành và quản lý được coi là dấu hiệu tích cực của công ty cổ phần kiểu mới và làm nảy sinh những rủi ro được nhận thức từ lâu về sự khác nhau về lợi ích giữa các cổ đông với các mục tiêu quản lý Kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới đã cho ra đời nhiều thông lệ về hợp đồng tư lợi và các nguyên tắc pháp lý được thiết kế để bảo vệ cổ đông góp phần củng cố lòng tin của cổ đông và theo đó tăng nguồn vốn đầu tư cho lĩnh vực kinh doanh Nhìn chung, khi công ty coi những tiến bộ trong việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông là lợi ích của chính mình thì người ta hi vọng sự cạnh tranh về vốn sẽ có những ảnh hưởng tích cực
Các biện pháp bảo vệ cổ đông thường nhấn mạnh vào: Sự công bằng,
thông qua các quy định cấm các hành vi gian lận, giao dịch nội gián ở cấp
quản lý hoặc với cổ đông giữ vai trò kiểm soát; sự giải trình được, thông qua
việc xác định rõ vai trò và nhiệm vụ quản trị và chủ yếu dựa vào việc giám sát
cấp quản lý của Hội đồng quản trị; sự minh bạch, thông qua các quy định bắt
buộc công khai thông tin đối với các cổ đông và hạn chế việc khởi kiện -tránh coi việc khởi kiện là công cụ bảo vệ quyền lợi của cổ đông, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển của công ty nói chung, công ty niêm yết nói riêng
Như vậy, trong môi trường kinh doanh mới điểm mấu chốt nhất để nâng cao sự bảo vệ quyền của các cổ đông (cá nhân, tổ chức) là quyền tiếp cận thông tin liên quan đến hoạt động, sự tham gia của cổ đông (bỏ phiếu bằng tay chứ không phải bằng chân) trong các đại hội cổ đông hàng năm và phải coi đó là một tài sản quan trọng của nhà đầu tư cùng với một Hội đồng quản trị năng động, độc lập Chẳng hạn, tháng 7/1994, Bộ Lao động của Mỹ phát hành Tập san 94-2 nhấn mạnh rằng: Bỏ phiếu đại diện là một nghĩa vụ
uỷ thác của quản lý tài sản theo kế hoạch và cẩn trọng "ủy thác là nhiệm vụ
bỏ phiếu đại diện về những vấn đề có thể tác động đến giá trị của cổ phiếu trong cơ cấu đầu tư dự kiến Ủy thác đòi hỏi phải cân nhắc chi phí và lợi ích của việc bỏ phiếu vào các đề xuất liên quan đén cổ phiếu nước ngoài và đưa
ra quyết định về việc liệu bỏ phiếu về một đề xuất đại diện có phải là quá thận
Trang 25trọng và chỉ có lợi ích cho những người tham gia vào kế hoạch này và những người hưởng lợi"
Thứ tư, tính độc lập của Hội đồng quản trị và cơ chế kiểm soát: Trong
các công ty cổ phần, Hội đồng quản trị được các cổ đông bầu ra để giám sát
và quản lý công ty Trong một chừng mực thuộc thẩm quyền Hội đồng quản trị có trách nhiệm bảo vệ và chống lại sự lừa dối, lãng phí tài sản hay hoạt động kém hiệu quả của Ban giám đốc hoặc các cán bộ quản lý Sự duy trì các thành viên Hội đồng quản trị năng động và độc lập sẽ tạo ra tính chuyên nghiệp với những cá nhân thật sự tận tuỵ, am hiểu và năng động cho dù cấu trúc của Hội đồng quản trị có sự khác nhau ở các nước (Hội đồng quản trị một cấp hoặc Hội đồng quản trị giám sát - hai cấp) Ví dụ ở Nhật Bản, trong có cấu Hội đồng quản trị còn có Ban kiểm toán với các thành viên độc lập không điều hành theo sự giới thiệu của Keidanren (Liên đoàn các Tổ chức kinh tế Nhật Bản) Nhìn chung, việc phát sinh các giao dịch ngầm, giao dịch nội gián, thao túng công ty thường xuất hiện trong bộ máy đại diện do đó kéo theo sự xuất hiện các thành viên Hội đồng quản trị độc lập, không điều hành
Thứ năm, bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số: Quyền quan trọng
của cổ đông nhỏ trong khung quản trị công ty hiệu quả cần được bảo vệ thông qua quyền bỏ phiếu theo nguyên tắc đa số và việc công bố thông tin minh bạch
Thứ sáu, điều hoà lợi ích cổ đông và những người liên quan: Sự thành
công của khung quản trị hiệu quả gắn liền với khả năng điều hoà lợi ích giữa giám đốc, người quản lý, nhân viên với lợi ích của cổ đông Thù lao dựa trên hiệu quả lao động được coi là công cụ hữu ích để đạt được sự cân bằng này Các thành viên trong công ty đều phải tận tuỵ với công việc của mình và đều hướng tới mục đích xây dựng lợi thế cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động;
ở khía cạnh này thì vai trò quản trị công ty là nhằm tạo ra một khuôn khổ mang tính hợp đồng để tối đa hoá lợi nhuận bằng cách nâng cao năng lực, khuyến khích nỗ lực của nguồn lực chủ yếu của công ty Phải thừa nhận rằng đây là nhiệm vụ khó khăn và phức tạp trong khi các quy định của pháp luật
Trang 26"thành văn" chủ yếu điều chỉnh mối quan hệ công ty thì văn hoá kinh doanh làm cho các quan hệ giữa các bên liên quan có thêm yếu tố "bất thành văn"; tuy nhiên quy định của pháp luật cũng như văn hoá kinh doanh không nên hạn chế sự mềm dẻo trong việc điều hoà lợi ích giữa cổ đông và người hưởng lợi khác chẳng hạn như thiết lập thù lao bằng cổ phiếu và quyền chọn mua, bán
cổ phiếu và coi đó là một quyền ưu đãi mà họ cần được hưởng
Theo OECD, khung pháp luật về quản trị công ty bao gồm 6 nhóm nguyên tắc cơ bản, với 32 nguyên tắc cơ bản (xem Hình 1.1 - trang 43) Các nhóm nguyên tắc này được nhiều nước vận dụng và áp dụng để xây dựng nên Luật/Quy chế về quản trị công ty của mình Đây cũng là cơ sở/căn cứ (Benmark) để các tổ chức Quốc tế (World Bank, IMF) đánh giá tình hình quản trị công ty các nước.
1.1.3 Khái niệm quản trị công ty tại Việt Nam
Trên thực tế có sự nhầm lẫn khá phổ biến giữa các thuật ngữ/khái niệm "quản trị" và "quản lý" tại Việt Nam Khái niệm "quản lý" đã được sử dụng phổ biến ở nước ta từ nhiều năm nay trên hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống xã hội Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý mà theo đó:
(i) Quản lý là quá trình hoàn thành công việc một cách hiệu quả cùng với và thông qua những người khác;
(ii) Quản lý là quá trình đạt được mục tiêu của tổ chức kinh doanh bằng cách kết hợp một cách tối ưu các nguồn lực con người, vật chất và tài chính; hoặc
(iii) Quản lý là nghệ thuật dẫn dắt và chỉ đạo đặc trưng cho quá trình lãnh đạo và chỉ đạo toàn bộ hoặc một phần của tổ chức (thông thường là một doanh nghiệp) thông qua bố trí và sử dụng các nguồn lực tài chính, lao động, nguyên vật liệu, trí tuệ và các nguồn lực vô hình khác với việc thực hiện 5 chức năng để xác định và đạt được mục tiêu bao gồm: lập kế hoạch, tổ chức công việc, tuyển chọn nhân công, chỉ đạo và kiểm soát
Trang 28Nhìn chung quản lý được áp dụng phổ biến, đã và đang trở thành công
cụ khoa học phục vụ cho việc phân tích, đánh giá tình hình hoạt động, tổ chức trong doanh nghiệp để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh doanh Theo nghĩa này, quản lý doanh nghiệp có nghĩa là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của doanh nghiệp đó; và phải thực hiện được 6 nguyên tắc sau đây:
- Giá trị đối với khách hàng, tức là tạo ra được giá trị mới cho khách hàng; quản lý phải quyết định được doanh nghiệp sẽ sản xuất cái gì và sau đó
tổ chức được việc sản xuất nó một cách hợp lý;
- Có tổ chức, tức là quản lý phải chịu trách nhiệm về việc thiết lập và duy trì doanh nghiệp một cách có tổ chức Lực lượng lao động và các nguồn lực khác của doanh nghiệp phải được bố trí, sắp xếp một cách có tổ chức;
- Lợi thế cạnh tranh, tức là quản lý phải quyết định liệu doanh nghiệp
sẽ cạnh tranh trên cơ sở nào: chất lượng hay giá cả, hoặc dịch vụ hay sự tiện lợi của địa điểm kinh doanh;
- Kiểm tra, tức là sau khi đã quyết định cách thức tạo ra giá trị, cách thức tổ chức kinh doanh và thiết lập được một lợi thế cạnh tranh, thì quản lý phải kiểm tra lại toàn hệ thống xem liệu tất cả mọi người đã hiểu và nhận biết được về mục tiêu của doanh nghiệp, mỗi người đã được phân công rõ ràng về chức năng và nhiệm vụ và đảm bảo công việc của tất cả mọi người đều được thực hiện hướng tới mục tiêu của doanh nghiệp
- Lợi nhuận Doanh nghiệp được thành lập để làm ra tiền và phải tạo
ra được lợi nhuận trong quá trình hoạt động Và mục tiêu cơ bản nhất của quản lý là tạo ra được lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp Dù làm bất cứ gì thì lợi nhuận vẫn là mục tiêu cao nhất, quan trọng nhất của doanh nghiệp và của quản lý doanh nghiệp
- Thực hành các chuẩn mực đạo đức Quản lý nói chung và những người quản lý nói riêng phải tuân thủ các chuẩn mực đạo đức Bởi vì họ là những người có địa vị tín thác như là quản gia của công ty phục vụ cho lợi ích
Trang 29của cổ đông, của người lao động, người tiêu dùng và cộng đồng; người quản
lý có cơ hội tốt nhất để lạm dụng tự làm giàu cho mình mà làm hại đến đến lợi ích của cổ đông, người lao động, người tiêu dùng và cộng đồng; và người quản lý thiết lập tiêu chuẩn cho toàn bộ doanh nghiệp
Theo báo cáo đánh giá của World Bank:
Quản trị Công ty đề cập đến các cơ cấu và quá trình cho việc định hướng và kiểm soát các công ty Quản trị công ty liên quan đến mối quan hệ giữa ban giám đốc, Hội đồng Quản trị, các cổ đông lớn, các cổ đông nhỏ và những bên có quyền lợi liên quan Quản trị công ty tốt góp phần vào phát triển kinh tế bền vững do cải thiện được hoạt động của các công ty và nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài của các công ty đó [19, tr i]
Quy chế quản trị áp dụng với các công ty niêm yết quy định: "Quản trị công ty là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông
và những người liên quan đến công ty" [5, Điều 2] Các nguyên tắc quản trị
công ty bao gồm:
- Đảm bảo một cơ cấu quản trị hiệu quả;
- Đảm bảo quyền lợi của cổ đông;
- Đối xử công bằng giữa các cổ đông;
- Đảm bảo vai trò của những người có quyền lợi liên quan đến công ty;
- Minh bạch trong hoạt động của công ty;
- Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát lãnh đạo và kiểm soát công ty
có hiệu quả (Điều 2, khoản 1, mục a của Quy chế quản trị công ty niêm yết)
Theo đó, Quy chế quản trị công ty niêm yết được xây dựng theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Chứng khoán năm 2006 và vận dụng những thông lệ quốc tế tốt nhất về quản trị công ty phù hợp với điều
Trang 30kiện của Việt Nam, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán và góp phần lành mạnh hoá nền kinh tế Quy chế quy định những nguyên tắc cơ bản về quản trị công ty để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông, thiết lập những chuẩn mực về hành vi, đạo đức nghề nghiệp của các thành viên Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, Ban kiểm soát và cán bộ quản lý của các công ty niêm yết Quy chế cũng là cơ sở để đánh giá việc thực hiện quản trị công ty của các công ty niêm yết
1.2 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM
1.2.1 Khái niệm về chứng khoán, niêm yết chứng khoán
Luật Chứng khoán năm 2006 quy định:
Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp
pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ,
bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ
số chứng khoán [11, Điều 6, khoản 1]
Liên quan đến khái niệm "niêm yết chứng khoán", Luật Chứng khoán
năm 2006 quy định: "Niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán có
đủ điều kiện vào giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán" [11, Điều 6, khoản 17]
1.2.2 Khái niệm và đặc điểm công ty đại chúng
Quy định về công ty đại chúng được điều chỉnh tại Luật Chứng khoán năm 2006, theo đó Luật này đã dành hẳn một Chương quy định về công ty đại chúng (một điểm đáng lưu ý là mặc dù Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các loại hình doanh
Trang 31nghiệp (bao gồm cả nhóm công ty) Tuy nhiên, khái niệm "công ty đại chúng" lại không tìm thấy tại Luật này) Cụ thể là:
* Khái niệm về Công ty đại chúng: Công ty đại chúng là công ty cổ
phần thuộc một trong ba loại hình sau đây (Điều 25):
a Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng;
b Công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán;
c Công ty có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không
kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ mười
tỷ đồng Việt Nam trở lên
Theo Luật Chứng khoán năm 2006, Công ty cổ phần theo quy định tại điểm c này phải nộp hồ sơ công ty đại chúng quy định tại khoản 1 Điều 26 của Luật Chứng khoán cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày trở thành công ty đại chúng
* Hồ sơ công ty đại chúng: Hồ sơ công ty đại chúng bao gồm (Điều 26
Luật Chứng khoán năm 2006):
a) Điều lệ công ty;
b) Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của công ty;
c) Thông tin tóm tắt về mô hình tổ chức kinh doanh, bộ máy quản lý
và cơ cấu cổ đông;
d) Báo cáo tài chính năm gần nhất
Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước có trách nhiệm công bố tên, nội dung kinh doanh và các thông tin khác liên quan đến công ty đại chúng trên phương tiện thông tin của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
* Quyền và nghĩa vụ của công ty đại chúng: Công ty đại chúng có các
quyền theo quy định của Luật doanh nghiệp và các quy định khác của pháp
Trang 32luật có liên quan Công ty đại chúng có các nghĩa vụ sau đây (Điều 27 Luật Chứng khoán năm 2006):
a) Công bố thông tin theo quy định tại Điều 101 của Luật Chứng khoán; b) Tuân thủ các nguyên tắc quản trị công ty theo quy định tại Điều 28 của Luật Chứng khoán;
c) Thực hiện đăng ký, lưu ký chứng khoán tập trung tại Trung tâm lưu
ký chứng khoán theo quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Luật Chứng khoán;
d) Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp và các quy định khác của pháp luật có liên quan
Liên quan đến nguyên tắc quản trị công ty nói chung, Luật Chứng khoán đòi hỏi, công ty đại chúng phải tuân thủ các quy định của Luật doanh nghiệp
về quản trị công ty
* Báo cáo về sở hữu của cổ đông lớn (Điều 28 Luật Chứng khoán
năm 2006):
Tổ chức, cá nhân trở thành cổ đông lớn của công ty đại chúng phải báo cáo công ty đại chúng, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Sở Giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm Giao dịch chứng khoán nơi cổ phiếu của công ty đại chúng đó được niêm yết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày trở thành cổ đông lớn Báo cáo về sở hữu của cổ đông lớn bao gồm các nội dung sau đây:
a) Tên, địa chỉ, ngành, nghề kinh doanh đối với cổ đông lớn là tổ chức;
họ tên, tuổi, quốc tịch, nơi cư trú, nghề nghiệp đối với cổ đông lớn là cá nhân;
b) Số lượng và tỷ lệ phần trăm cổ phiếu do tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc cùng với tổ chức, cá nhân khác sở hữu trên tổng số cổ phiếu đang lưu hành
Khi có sự thay đổi quan trọng về thông tin nêu trong báo cáo quy định trên đây hoặc có thay đổi về số lượng cổ phiếu sở hữu vượt quá một phần trăm số lượng cổ phiếu cùng loại đang lưu hành, thì trong thời hạn bảy ngày
kể từ ngày có sự thay đổi trên, cổ đông lớn phải nộp báo cáo sửa đổi, bổ sung
Trang 33cho công ty đại chúng, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán nơi cổ phiếu được niêm yết Điểm lưu ý là, các quy định này cũng áp dụng đối với nhóm người có liên quan sở hữu từ năm phần trăm trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành
* Công ty đại chúng mua lại cổ phiếu của chính mình (Điều 29 Luật Chứng khoán năm 2006):
Công ty đại chúng không có cổ phiếu niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm Giao dịch chứng khoán khi mua lại cổ phiếu của chính mình phải thực hiện theo quy định tại các điều 90, 91 và 92 của Luật Doanh nghiệp năm 2005
Công ty đại chúng có cổ phiếu niêm yết tại Sở Siao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm Giao dịch chứng khoán khi mua lại cổ phiếu của chính mình phải công khai thông tin về việc mua lại chậm nhất là bảy ngày, trước ngày thực hiện việc mua lại Thông tin bao gồm các nội dung sau đây:
a) Mục đích mua lại;
b) Số lượng cổ phiếu được mua lại;
c) Nguồn vốn để mua lại;
d) Thời gian thực hiện
Việc công ty đại chúng mua lại cổ phiếu của chính mình, bán lại số cổ phiếu đã mua được thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính
* Thu hồi lợi nhuận đối với các giao dịch không công bằng (Điều 30 Luật Chứng khoán năm 2006):
Công ty đại chúng có quyền thu hồi mọi khoản lợi nhuận do thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc, người phụ trách tài chính, phụ trách kế toán và người quản lý khác trong bộ máy quản lý của công ty đại chúng thu được từ việc
Trang 34tiến hành mua và bán hoặc bán và mua chứng khoán của công ty trong thời hạn sáu tháng, kể từ ngày mua hoặc bán Công ty đại chúng hoặc cổ đông của công ty có quyền khởi kiện tại Toà án để thu hồi khoản lợi nhuận từ các giao dịch không công bằng quy định này
* Chào mua công khai (Điều 31 Luật Chứng khoán năm 2006):
Các trường hợp phải chào mua công khai:
a) Chào mua cổ phiếu có quyền biểu quyết dẫn đến việc sở hữu từ hai mươi lăm phần trăm trở lên số cổ phiếu đang lưu hành của một công ty đại chúng;
b) Chào mua mà đối tượng được chào mua bị bắt buộc phải bán cổ phiếu mà họ sở hữu
Tổ chức, cá nhân chào mua công khai cổ phiếu của công ty đại chúng phải gửi đăng ký chào mua đến Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được đăng ký chào mua, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước phải có ý kiến trả lời bằng văn bản; trường hợp không chấp thuận, thì phải nêu rõ lý do
Việc chào mua công khai chỉ được thực hiện sau khi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận và đã được tổ chức, cá nhân chào mua công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng trước thời điểm dự kiến thực hiện Bản đăng ký chào mua công khai bao gồm các thông tin sau đây: Tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân chào mua; loại cổ phiếu được chào mua; số lượng cổ phiếu được chào mua mà tổ chức, cá nhân đó hiện đang nắm giữ; số lượng cổ phiếu dự kiến chào mua; thời gian thực hiện chào mua; giá chào mua; các điều kiện chào mua
Trong quá trình chào mua công khai, tổ chức, cá nhân chào mua không được thực hiện các hành vi sau đây:
a) Trực tiếp hoặc gián tiếp mua hoặc cam kết mua cổ phiếu đang được chào mua bên ngoài đợt chào mua;
b) Bán hoặc cam kết bán cổ phiếu mà mình đang chào mua;
Trang 35c) Đối xử không công bằng với những người sở hữu cùng loại cổ phiếu đang được chào mua;
d) Cung cấp thông tin riêng cho một số cổ đông nhất định hoặc cung cấp thông tin cho cổ đông ở mức độ không giống nhau hoặc không cùng thời điểm Quy định này cũng được áp dụng đối với tổ chức bảo lãnh phát hành có
cổ phiếu là đối tượng chào mua
Thời gian thực hiện một đợt chào mua công khai không được ngắn hơn ba mươi ngày và không dài quá sáu mươi ngày, kể từ ngày công bố Việc chào mua bao gồm cả việc chào mua bổ sung hoặc có sự điều chỉnh so với đăng ký ban đầu Việc chào mua bổ sung hoặc có sự điều chỉnh so với đăng
ký ban đầu phải được thực hiện với các điều kiện ưu đãi không thấp hơn các đợt chào mua trước
Tổ chức, cá nhân sở hữu cổ phiếu đã đặt cọc cổ phiếu theo một đợt chào mua công khai có quyền rút cổ phiếu vào bất cứ thời điểm nào trong thời gian chào mua
Trường hợp số cổ phiếu chào mua nhỏ hơn số cổ phiếu đang lưu hành
của một công ty hoặc số cổ phiếu đặt bán lớn hơn số cổ phiếu chào mua thì cổ
phiếu được mua trên cơ sở tỷ lệ tương ứng
Sau khi thực hiện chào mua công khai, đối tượng chào mua nắm giữ
từ tám mươi phần trăm trở lên số cổ phiếu đang lưu hành của một công ty đại chúng phải mua tiếp trong thời hạn ba mươi ngày số cổ phiếu cùng loại do các
cổ đông còn lại nắm giữ theo giá chào mua đã công bố, nếu các cổ đông này
có yêu cầu
Công ty đại chúng có cổ phiếu được chào mua công khai phải công bố
ý kiến của công ty về việc chấp thuận hoặc từ chối việc chào mua Trường hợp từ chối, công ty phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do Văn bản trả lời của công ty phải có chữ ký của ít nhất hai phần ba số thành viên Hội đồng quản trị
Trang 36Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày kết thúc đợt chào mua công khai, tổ chức, cá nhân thực hiện chào mua phải báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước bằng văn bản về kết quả đợt chào mua
Theo số liệu thống kê của Ủy ban chứng khoán Nhà nước, tính đến 15/8/2008, hiện đã có 1.015 công ty đang ký làm công ty đại chúng với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo các quy định của pháp luật với tổng vốn đăng ký là gần 39.665,9 tỷ VNĐ [58] Theo quy định tại Luật Chứng khoán, việc đăng ký công ty đại chúng với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước là nhằm bảo về quyền và lợi ích của các cổ đông/nhà đầu tư, công khai hóa và minh bạch hóa thông tin theo các nguyên tắc quản trị công ty Bên cạnh đó, công ty
cổ phần đủ điều kiện để đăng ký là công ty đại chúng mà không thực hiện việc đăng ký sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính
1.2.3 Khái niệm công ty niêm yết và các nguyên tắc quản trị công
ty niêm yết
"Công ty niêm yết" là công ty cổ phần được chấp thuận niêm yết cổ phiếu trên Sở Giao dịch chứng khoán/ Trung tâm Giao dịch chứng khoán trên lãnh thổ Việt Nam (Điều 2 khoản 1 điểm b Quy chế Quản trị áp dụng cho các công ty niêm yết)
Như vậy từ khái niệm trên, chúng ta có thể đưa ra một số đặc điểm cơ bản của công ty niêm yết như sau:
Trang 37Điều lệ của công ty niêm yết phải tuân theo quy định của Bộ Tài chính về Điều lệ Mẫu áp dụng với công ty niêm yết (Quyết định 15/2007/QĐ-BTC) và Quy chế quản trị công ty niêm yết (Quyết định 12/2007/QĐ-BTC)
Các nguyên tắc quản trị công ty bao gồm:
Đảm bảo một cơ cấu quản trị hiệu quả;
Đảm bảo quyền lợi của cổ đông;
Đối xử công bằng giữa các cổ đông;
Đảm bảo vai trò của những người có quyền lợi liên quan đến công ty;
Minh bạch trong hoạt động của công ty;
Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát lãnh đạo và kiểm soát công ty có hiệu quả
Quy chế quản trị công ty công ty niêm yết quy định: Công ty niêm yết xây dựng Điều lệ Công ty theo Điều lệ mẫu do Bộ Tài chính quy định Công
ty niêm yết có trách nhiệm xây dựng và ban hành Quy chế nội bộ về quản trị công ty Quy chế nội bộ về quản trị công ty gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Trình tự, thủ tục về triệu tập và biểu quyết tại Đại hội đồng
Trang 38Quy chế nội bộ về quản trị công ty còn quy định: Công ty niêm yết có trách nhiệm xây dựng cơ cấu quản trị công ty hợp lý, xây dựng hệ thống liên lạc hiệu quả với các cổ đông để đảm bảo:
- Cổ đông thực hiện đầy đủ các quyền theo pháp luật và Điều lệ công
ty quy định;
- Cổ đông được đối xử công bằng [5, Điều 4, khoản 4]
Theo số liệu thống kê của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, tại thời điểm 15/8/2008, hiện có hơn 300 công ty niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Trung tâm giao dịch chứng khoán
Hà Nội với giá trị cổ phiếu niêm yết là 61.745 tỷ VNĐ, giá trị vốn hóa thị trường khoảng 200.000 tỷ VNĐ (giảm 60 %, tương đương với 300.0000 tỷ đồng so với thời điểm 31/12/2007) Trong đó, số công ty niêm yết tại HOSE
là 156 công ty (vốn niêm yết là 44.904 tỷ VNĐ), tại HASTC là 146 công ty (vốn niêm yết là 16.842 tỷ VNĐ) [58]
1.2.4 Cơ cấu tổ chức nội bộ của công ty niêm yết
Là một công ty cổ phần/ công ty đại chúng, công ty niêm yết trước hết
có đầy đủ các đặc điểm về cơ cấu tổ chức nội bộ quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2005 Theo đó:
- Công ty có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát
- Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty được quy định tại Điều lệ công ty Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường trú ở Việt Nam; trường hợp vắng mặt trên ba mươi ngày ở Việt Nam thì phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác theo quy định tại Điều lệ công ty để thực hiện các quyền và nhiệm vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty (Điều 95)
Trang 39Đại hội đồng cổ đông: Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có
quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần
Hội đồng quản trị: Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có
toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông
Chủ tịch Hội đồng quản trị: Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản
trị bầu Chủ tịch Hội đồng quản trị theo quy định tại Điều lệ công ty Trường hợp Hội đồng quản trị bầu Chủ tịch Hội đồng quản trị thì Chủ tịch được bầu trong số thành viên Hội đồng quản trị Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác
Giám đốc hoặc Tổng giám đốc: Hội đồng quản trị bổ nhiệm một
người trong số họ hoặc thuê người khác làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Trường hợp Điều lệ công ty không quy định Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật thì Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty; chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật
về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao
Ban kiểm soát: Ban kiểm soát có từ ba đến năm thành viên nếu Điều
lệ công ty không có quy định khác; nhiệm kỳ của Ban kiểm soát không quá năm năm; thành viên Ban kiểm soát có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế Các thành viên Ban kiểm soát bầu một người trong số họ làm Trưởng ban kiểm soát Quyền và nhiệm vụ của Trưởng ban kiểm soát do Điều lệ công
ty quy định Ban kiểm soát phải có hơn một nửa số thành viên thường trú ở Việt Nam và phải có ít nhất một thành viên là kế toán viên hoặc kiểm toán viên
Ngoài quy định trên, công ty niêm yết còn có:
Thư ký công ty: Để hỗ trợ cho hoạt động quản trị công ty được tiến
hành một cách có hiệu quả, Hội đồng quản trị phải chỉ định ít nhất một người
Trang 40làm thư ký công ty Thư ký công ty phải là người có hiểu biết về pháp luật Thư ký công ty không được đồng thời làm việc cho công ty kiểm toán hiện đang kiểm toán công ty
Các tiểu ban của Hội đồng quản trị: Hội đồng quản trị có thể thành
lập các tiểu ban để hỗ trợ hoạt động của Hội đồng quản trị, bao gồm tiểu ban chính sách phát triển, tiểu ban kiểm toán nội bộ, tiểu ban nhân sự, tiểu ban lương thưởng và các tiểu ban đặc biệt khác theo nghị quyết của Đại hội đồng
cổ đông Đối với tiểu ban kiểm toán phải có ít nhất một thành viên là người có chuyên môn về kế toán và không phải là người làm việc trong bộ phận kế toán tài chính của công ty Hội đồng quản trị quy định chi tiết về việc thành lập, trách nhiệm của các tiểu ban và trách nhiệm của từng thành viên Trường hợp các công ty không thành lập các tiểu ban thì Hội đồng quản trị cử người phụ trách riêng về từng vấn đề như kiểm toán, lương thưởng, nhân sự
Cơ cấu quản trị nội bộ của công ty niêm yết nêu trên đựợc thể hiện bằng sơ đồ sau (Hình 1.2):
Hình 1.2: Cơ cấu tổ chức nội bộ của Công ty niêm yết
Các tiểu ban của HĐQT:
Tiểu ban chính sách phát triển, Tiểu ban kiểm toán nội bộ, Tiểu ban nhân sự, Tiểu ban lương thưởng và các tiểu ban đặc biệt khác
Giám đốc/Tổng giám đốc (CEO)