Các đóng góp của luận văn Với việc nghiên cứu đề tài “Một số qui định của pháp luật Hoa Kỳ về hàng hoá nhập khẩu: Những bài học thực tiễn đặt ra cho Việt Nam”, luận văn đạt được kết quả
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HOA KỲ VỀ HÀNG HOÁ NHẬP KHẨU: NHỮNG BÀI HỌC THỰC TIỄN ĐẶT RA
CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI- NĂM 2004
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nửa sau của thế kỷ XX, nền thương mại thế giới có những bước phát triển nhảy vọt mà nguyên nhân là do các quốc gia trên thế giới đã hợp tác chặt chẽ trong việc loại dần chế độ bảo hộ mậu dịch, đồng thời xúc tiến tự do trao đổi hàng hoá Kết quả của những nỗ lực hợp tác này, trước hết là Hiệp định chung
về thuế quan và mậu dịch (GATT) với những cơ sở pháp lý làm nền tảng cho chế độ tự do mậu dịch quốc tế của GATT (như quy chế tối huệ quốc, quy chế sự đãi ngộ quốc gia, nguyên tắc sự minh bạch các chính sách lập pháp liên quan đến hoạt động thương mại, nguyên tắc về nguồn gốc hàng hoá nhập khẩu…) Thứ hai là việc hình thành vòng đàm phán Uruguay (1986-1994) và sự ra đời của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) với hàng loạt các quy tắc pháp lý áp dụng cho những biện pháp loại trừ dần những rào cản thuế quan và phi thuế quan tại mỗi quốc gia thành viên cũng như các quy tắc pháp lý áp dụng để kiểm soát hàng nhập khẩu Tự do hoá thương mại trở thành xu hướng tất yếu của nền kinh tế thế giới
Trải qua thời gian chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã có nhiều động thái tích cực nhằm hội nhập với nền kinh tế thế giới, mở rộng quan hệ với các nước khác, trong đó có Hoa Kỳ- một thành viên quan trọng của WTO
Từ năm 1993, Việt Nam đã chủ động từng bước bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ và ngày 03/02/1994, Hoa Kỳ đã xoá bỏ cấm vận kinh tế chống Việt Nam Ngày 12/07/1995, hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ Từ tháng 9 năm 1996, hai bên bắt đầu xúc tiến đàm phán Hiệp định thương mại Ngày 13/07/2000, Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ đã được ký chính thức Song song với tiến trình phát triển của quan hệ chính trị- ngoại giao, lượng hàng xuất nhập khẩu vào cả hai thị trường này ngày càng tăng
Chúng ta nhận định rằng đối tác kinh tế quan trọng mà Việt Nam không thể không tiếp cận là Hoa Kỳ và để hoạt động xuất khẩu vào thị trường này được
Trang 3thuận lợi, việc nghiên cứu pháp luật về hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ là điều cần thiết
Tuy nhiên, các vướng mắc liên quan đến việc nhập khẩu hàng hoá vào Hoa
Kỳ xuất hiện ngày càng nhiều, nhất là những vướng mắc về mặt pháp lý mà một trong các nguyên nhân là sự khác biệt trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ và hệ thống pháp luật Việt Nam “Pháp luật Hoa Kỳ thuộc dòng thông luật (Common Law) và về lĩnh vực thương mại, là một hệ thống pháp luật khá phát triển, năng động và phức tạp Trong khi đó, pháp luật Việt Nam thuộc hệ thống pháp luật
Xã hội chủ nghĩa, với những dấu hiệu của hệ thống luật lục địa khác biệt căn bản với thông luật và đang còn ở trình độ thấp về nhiều phương diện so với thế giới.” [2, tr 9]
Hơn nữa, Hoa Kỳ là một thành viên quan trọng của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Nước này có ảnh hưởng lớn đến pháp luật của WTO Mặt khác, pháp luật Hoa Kỳ cũng phản ánh khá rõ những nguyên tắc về tự do thương mại của tổ chức quốc tế này Vì vậy, nghiên cứu pháp luật Hoa Kỳ về hàng hoá nhập khẩu không chỉ giúp các doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập thị trường Hoa Kỳ được thuận lợi mà còn giúp cho các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam từng bước tiếp cận đến hệ thống pháp luật của WTO Điều này là vô cùng quan trọng trong lộ trình gia nhập WTO của Việt Nam
Xuất phát từ thực tế đó, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật Hoa
Kỳ về hàng hoá nhập khẩu để thông qua đó tìm các giải pháp về mặt pháp lý giúp Việt Nam xuất khẩu hàng hoá sang thị trường này một cách an toàn trong điều kiện hiện nay là điều cần thiết và cấp bách
Với những lý do nêu trên, học viên đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Một số quy định của pháp luật Hoa Kỳ về hàng hoá nhập khẩu: Những bài học thực tiễn đặt ra cho Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Cao học Luật của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong các năm qua, hệ thống pháp luật Hoa Kỳ nói chung và các quy định của pháp luật Hoa Kỳ về hàng hoá nhập khẩu nói riêng đã trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều công trình khoa học có giá trị Nói chung, các công trình
Trang 4này chủ yếu tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật thương mại của Hoa Kỳ; hoặc nghiên cứu Hiệp định thương mại Việt- Mỹ; hoặc chỉ nghiên cứu về một vấn đề cụ thể liên quan đến hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ Có thể dẫn chứng
một số công trình như: Bước đầu tìm hiểu pháp luật thương mại Mỹ của Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật – Nxb Khoa học xã hội năm 2002; Tìm hiểu pháp luật Hoa Kỳ trong điều kiện Việt nam hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
do TS Phạm Duy Nghĩa chủ biên- Nxb Chính trị quốc gia năm 2001; Về việc thực thi Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ do TS Nguyễn Bá Diến chủ biên- Nxb Chính trị quốc gia năm 2002; Tìm hiểu Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ và quy chế thương mại đa phương của tác giả Phạm Minh- Nxb Thống kê năm 2001; Vụ cá ba sa nhìn từ góc độ pháp lý của tác giả Nguyễn
Khánh Ngọc- tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 3/2003…
Ngoài ra, có khá nhiều sách tham khảo dành cho doanh nghiệp liên quan
đến các nghiệp vụ nhập khẩu hàng vào Hoa Kỳ như Hướng dẫn tiếp cận thị trường Hoa Kỳ của Bộ Thương mại- Trung tâm thông tin thương mại Việt Nam; Cẩm nang về thâm nhập thị trường Mỹ của TS Hồ Sỹ Hưng và Nguyễn Việt Hưng- Nxb Thống kê năm 2003; Những quy định về nhập khẩu hàng vào Mỹ (Importing into the United State) do Trần Thanh Quang dịch…
Có thể nhận thấy các công trình khoa học hay những bài viết, sách tham khảo nói trên đã ít nhiều tiếp cận từ góc độ phân tích pháp luật Hoa Kỳ về điều chỉnh hoạt động nhập khẩu Tuy nhiên, nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến việc điều chỉnh hoạt động nhập khẩu này hoặc còn đang bị bỏ ngỏ; hoặc cần được nghiên cứu, luận giải một cách sâu sắc và toàn diện hơn nữa Trong khuôn khổ của một công trình khoa học pháp lý ở cấp độ luận văn thạc sỹ, việc nghiên cứu một cách sâu sắc những vấn đề lý luận về điều chỉnh hoạt động nhập khẩu của pháp luật Hoa Kỳ; tiến hành phân tích, đánh giá một cách khách quan về một số quy định của pháp luật Hoa Kỳ liên quan đến hoạt động nhập khẩu để trên cơ sở
đó đưa ra các giải pháp định hướng về mặt pháp lý cho doanh nghiệp Việt Nam,
sẽ có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn
Trang 53 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là góp phần làm rõ các vấn đề lý luận về
điều chỉnh hoạt động nhập khẩu hàng hoá của pháp luật Hoa Kỳ; trên cơ sở đó nghiên cứu một số quy định của pháp luật Hoa Kỳ liên quan đến hoạt động nhập khẩu và đưa ra các giải pháp định hướng về mặt pháp lý cho doanh nghiệp Việt Nam
Để đạt mục đích này, luận văn có nhiệm vụ phân tích, luận giải nhằm làm
rõ các vấn đề lý luận về điều chỉnh hoạt động nhập khẩu hàng hoá của pháp luật Hoa Kỳ; trên cơ sở lý luận này, luận văn có nhiệm vụ phân tích một số quy định của pháp luật Hoa Kỳ về hàng hoá nhập khẩu để từ đó đưa ra một số giải pháp
về mặt pháp lý góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu sang Hoa Kỳ của doanh nghiệp Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số quy định của pháp luật Hoa
Kỳ về hàng hoá nhập khẩu Do khuôn khổ có giới hạn của luận văn cấp độ thạc
sỹ, hàng hoá nhập khẩu ở đây chỉ được nghiên cứu dưới góc độ là hàng hoá vật chất, không nghiên cứu hàng hoá dịch vụ và hàng hoá phi vật chất (như phần mềm chẳng hạn)
Phạm vi nghiên cứu là một số quy định pháp luật trong thể chế liên bang
của Hoa Kỳ về hàng hoá nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác- Lênin, phép biện chứng duy vật cũng như các quan điểm của Đảng và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đường lối, chính sách phát triển kinh tế đối ngoại trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế
Bên cạnh đó, luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp đối chiếu, phương pháp luật học so sánh, phương pháp phân tích, thống kê kết hợp giải thích và tổng hợp khái quát hoá…
Trang 66 Các đóng góp của luận văn
Với việc nghiên cứu đề tài “Một số qui định của pháp luật Hoa Kỳ về hàng hoá nhập khẩu: Những bài học thực tiễn đặt ra cho Việt Nam”, luận văn đạt được kết quả như sau:
- Nghiên cứu một cách tương đối toàn diện, có chiều sâu về các vấn đề lý luận liên quan đến việc điều chỉnh hoạt động nhập khẩu hàng hoá của pháp luật Hoa Kỳ
- Đưa ra các ý kiến nhận xét và đánh giá cụ thể về một số qui định của pháp luật Hoa Kỳ về hàng hoá nhập khẩu, có đặt trong mối quan hệ với hệ thống pháp luật của Tổ chức thương mại thế giới WTO
- Đưa ra một số giải pháp về mặt pháp lý nhằm góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ Nhìn từ góc độ thực tiễn, các giải pháp này phải có tính ứng dụng và có tác dụng góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ một cách
an toàn và hiệu quả trong bối cảnh nền kinh tế thị trường theo xu hướng hội nhập quốc tế
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được thiết kế gồm ba chương với tiêu đề như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về chế độ pháp lý đối với hàng hoá nhập khẩu
vào Hoa Kỳ
Chương 2: Một số qui định của pháp luật Hoa Kỳ về hàng hoá nhập khẩu
Chương 3: Những vướng mắc đặt ra cho Việt Nam trong hoạt động xuất khẩu
hàng hoá vào Hoa Kỳ và giải pháp khắc phục về mặt pháp lý
Trang 7
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI HÀNG HOÁ NHẬP KHẨU VÀO
Theo tác giả GS TS Bùi Xuân Lưu, trong cuốn Giáo trình Kinh tế ngoại thương thì “Nhập khẩu là mua hàng hoá, dịch vụ của nước ngoài” [1, tr.124] Theo nghĩa truyền thống thì hàng hoá nhập khẩu chỉ bao hàm các hàng hoá hữu hình như thiết bị máy móc, nguyên vật liệu, thực phẩm… Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nhu cầu ngày càng gia tăng của đời sống kinh tế,
xã hội thì phạm vi hàng hoá nhập khẩu ngày càng mở rộng Bên cạnh những hàng hoá hữu hình thì các hàng hoá vô hình như phần mềm máy tính, hàng hoá dịch vụ cũng trở thành đối tượng của hoạt động xuất nhập khẩu Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này, học viên chỉ nghiên cứu các vấn đề liên quan tới hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá hữu hình mà thôi
Trong thương mại hàng hoá, giao dịch nhập khẩu truyền thống điển hình là hàng hoá được nhập khẩu trọn gói, tức là nhập khẩu thành phẩm vào một nước Nhưng cũng có thể hàng hoá đã trải qua nhiều lần giao dịch, trong đó hàng hoá
Trang 8được nhập vào một quốc gia, lắp ráp thêm linh phụ kiện và trở thành hàng hoá nhập khẩu đến nước khác
Theo thuật ngữ thương mại thông thường thì hàng hoá nhập khẩu là luồng hàng hoá được đưa vào thị trường một nước để tiêu dùng [8, tr.101]
Trên thực tế, chúng ta có thể thấy có những hàng hoá được nhập khẩu để sử dụng cho mục đích nào đó nhưng không phải vì mục đích bán Ví dụ như các trang phục mẫu do các nhà sản xuất nhập làm mẫu; các tạp chí, catalog thời trang và ảnh phục vụ giới thiệu hàng và quảng cáo; hàng hóa phục vụ mục đích thử nghiệm, thí nghiệm; các tác phẩm nghệ thuật, bản vẽ, in ấn, ảnh chụp, máy móc khoa học do các nghệ sỹ chuyên nghiệp, giảng viên hoặc nhà khoa học đưa
từ nước ngoài vào để dự triển lãm, minh hoạ, xúc tiến và khuyến khích nghệ thuật; ô tô, mô tô, xe đạp, máy bay, bóng thám không, tàu thủy, xe đua và các phương tiện tương tự khác và các thiết bị liên quan được người nước ngoài tạm đưa vào để tham gia các cuộc đua chẳng hạn… Tất cả các hàng hoá thuộc loại này đều được nhập khẩu theo thủ tục hàng tạm nhập không phải nộp thuế, nhưng
sẽ phải tái xuất trong một khoảng thời gian nhất định Ở nhiều nước, các hàng hoá này còn phải có bảo chứng- một loại chứng từ cam kết bảo lãnh hàng hoá với giá trị gấp đôi số tiền thuế ước tính phải nộp để tránh trường hợp hàng không được tái xuất
Như vậy, hàng hoá nhập khẩu không phải chỉ là loại hàng hoá dịch chuyển
từ quốc gia này sang quốc gia khác mà nó còn có đặc điểm là được sử dụng cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh ở nước nhập khẩu
Tóm lại, trong khuôn khổ của luận văn này, học viên nghiên cứu hàng hoá nhập khẩu với các dấu hiệu sau:
* Có sự dịch chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác
* Là hàng hoá hữu hình: hàng tiêu dùng, nguyên vật liệu…
* Được sử dụng cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh ở quốc gia nhập khẩu hàng hoá (không phải là hàng hoá tạm nhập- tái xuất)
1.1.2 Vai trò của hàng hoá nhập khẩu
Trang 9Khi xuất khẩu được hàng hoá sang thị trường nước khác thì nước xuất khẩu thu được rất nhiều lợi ích như:
- Thu được nhiều ngoại tệ
- Thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển
- Tạo việc làm cho người lao động
Ngược lại, hàng hoá nhập khẩu cũng có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của nước nhập khẩu Điều đó thể hiện ở những mặt sau:
Thứ nhất, đó là nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu cho sản xuất trong nước Không phải nước nào cũng có đủ nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho sản xuất trong nước mình Chính vì vậy, nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu từ nước khác luôn là phần bù đắp thiếu hụt, giúp ổn định ngành sản xuất
Thứ hai, hàng hoá nhập khẩu còn góp phần thúc đẩy lợi thế sản xuất, đổi mới cơ cấu ngành trong nước cho phù hợp với lợi thế so sánh của nước mình Thứ ba, hàng hoá nhập khẩu còn giúp xây dựng thị trường có tính chất cạnh tranh, tăng cường cạnh tranh giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, tiến tới cải thiện công nghệ quản lý, công nghệ kỹ thuật và cuối cùng giảm giá bán cho người tiêu dùng
Thứ tư, hàng hoá nhập khẩu góp phần thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước khi sản xuất trong nước chưa đáp ứng được, hoặc tăng cường cơ hội cũng như phạm vi lựa chọn cho người tiêu dùng
Như vậy, hàng hoá nhập khẩu góp phần thoả mãn nhu cầu trực tiếp của người dân về hàng tiêu dùng, đảm bảo đầu vào cho sản xuất và tạo việc làm ổn định cho người lao động Tuy nhiên, tác động của hàng hoá nhập khẩu đến thị trường nước nhập khẩu không phải lúc nào cũng làm hài lòng các chủ thể của nền kinh tế bắt nguồn từ sự phát triển không đều và sự khác biệt trong điều kiện tái sản xuất giữa các quốc gia, do sự chênh lệch về khả năng cạnh tranh giữa các công ty trong nước với các công ty nước ngoài…
Do tác động của mặt trái của cơ chế thị trường, nếu các doanh nghiệp nhập khẩu chỉ chạy theo lợi nhuận thì hàng hoá nhập khẩu sẽ không đem lại hiệu quả
Trang 10chung cho nền kinh tế Ví dụ như: sử dụng nguồn vốn lớn mà không đem lại hiệu quả tương ứng; hàng hoá nhập khẩu là các công nghệ, máy móc lạc hậu; hàng hoá nhập khẩu tương đồng với hàng hoá trong nước cũng sản xuất được làm cho nền sản xuất trong nước bị suy thoái … thì hàng hoá nhập khẩu không phát huy vai trò thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Trên đây là hai tác động ngược chiều của hàng hoá nhập khẩu đến thị trường trong nước Trong thực tế, hai tác động này song song tồn tại và cũng xuất phát từ đây, xu hướng tự do hoá thương mại (tức là nhà nước áp dụng các biện pháp cần thiết để từng bước giảm thiểu những trở ngại trong hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc nhập khẩu hàng hoá) và xu hướng bảo hộ mậu dịch (tức là chủ trương hạn chế nhập khẩu) xuất hiện Giữa hai xu hướng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và chúng được sử dụng kết hợp với nhau Tuỳ theo các điều kiện và đặc điểm cụ thể mà người ta sử dụng và khéo léo kết hợp hai xu hướng trên Có thể nói, trong một chừng mực nào đó, các quốc gia đều sử dụng các công cụ bảo hộ mậu dịch với những mức độ khác nhau Công cụ này mang tính tự vệ, hỗ trợ cho các ngành sản xuất trong nước trong quá trình cạnh tranh với hàng hoá từ bên ngoài
1.2 CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI HÀNG HOÁ NHẬP KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
1.2.1 Vai trò của pháp luật trong việc quản lý hàng hoá nhập khẩu
Tuy hàng hoá nhập khẩu có vai trò quan trọng đối với đời sống kinh tế- xã hội của các quốc gia nhưng các nước nhập khẩu đều có xu hướng quản lý hoạt động nhập khẩu này bằng pháp luật để bảo hộ sản xuất trong nước
Trong lịch sử thương mại thế giới, chính sách tự do hoá thương mại và các học thuyết liên quan đã luôn khuyến khích các quốc gia mở cửa thị trường, không áp đặt chế độ bảo hộ mậu dịch Tuy vậy, quá trình thực hiện và truyền bá
lý luận tự do thương mại mà học thuyết chi phí so sánh (của David Ricardo) là nền tảng đã diễn ra không được thuận buồm xuôi gió
Trang 11Thứ nhất là do ngay từ trong thời kỳ chủ nghĩa trọng thương thống trị, tức
là vào thế kỷ 15, 16, đã có chủ nghĩa bảo hộ rồi Các quốc gia luôn muốn áp đặt các biện pháp kiểm soát chặt chẽ và hạn chế nhập khẩu với mục đích bảo hộ ngành sản xuất trong nước Hơn nữa, sự ảnh hưởng của hàng hoá nhập khẩu đến các vấn đề của quốc gia cũng là nguyên do khiến các nước cảm thấy lo ngại về chủ quyền quốc gia của mình Ngay như các thành viên của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) cũng nhận thức được rằng, do bị ràng buộc bởi điều kiện kinh tế và môi trường chính trị, nên không thể thực hiện được chính sách tối ưu hoá, tự do hoá thương mại
Rồi cuộc khủng hoảng kinh tế nặng nề trong lịch sử chủ nghĩa tư bản nổ ra cuối những năm 20 đầu những năm 30 của thế kỷ XX báo hiệu rằng: muốn cho nền kinh tế quốc dân phát triển vững chắc, lâu dài thì ngoài bàn tay vô hình ra, còn phải có bàn tay hữu hình của nhà nước điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô Trong đó đặc biệt chú ý đến chính sách liên quan đến bàn tay hữu hình- sự điều chỉnh của nhà nước Các học thuyết về vấn đề này đã tạo thành một lý luận thương mại quốc tế mới Theo đó, lý luận thương mại quốc tế mới ra đời có điểm khác cơ bản nhất với lý luận thương mại truyền thống là: lý luận thương mại quốc tế mới chứng minh rằng trong điều kiện kinh tế quy mô và thị trường không hoàn hảo, chính phủ can thiệp là hợp tình hợp lý [13, tr 211]
Về cơ bản, chính phủ can thiệp để điều tiết nền kinh tế vĩ mô, kiểm soát lượng hàng nhập khẩu thông qua các công cụ sau:
Thuế nhập khẩu
Đây là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá nhập khẩu Khoản tiền thuế này người nhập khẩu phải nộp cho cơ quan Hải quan nơi hàng đến Đương nhiên, kết quả kinh tế của thuế nhập khẩu là làm cho giá trị hàng hoá trong nước vượt cao hơn mức giá nhập khẩu và chính người tiêu dùng trong nước phải trang trải cho gánh nặng thuế quan này Việc đánh thuế nhập khẩu nhằm vào mục đích tài chính hoặc mục đích bảo hộ Trên thực tế, khi đánh thuế quan, chính phủ đều
có hai mục đích này Tuy vậy, trong những điều kiện khác nhau, thuế nhập khẩu
có thể nhằm vào mục đích bảo hộ được đề cao và thuế quan trở thành công cụ
Trang 12quan trọng nhằm đạt mục đích kinh tế- chính trị trong quan hệ buôn bán với nước ngoài Vì vậy, trong quan hệ thương mại giữa các quốc gia, vấn đề thuế quan luôn là vấn đề rõ ràng trước mắt cần được thoả thuận để đạt được mục đích trao đổi hàng hoá Việc quy định tỷ lệ thuế nhập khẩu luôn là vấn đề được quan tâm từ nhiều phương diện Xu hướng chung của thương mại quốc tế hiện nay là hàng rào thuế quan sẽ được giảm đi, đồng thời các quốc gia chuyển từ chỗ chú trọng thuế suất cao tới chỗ chú trọng điều chỉnh kết cấu thuế
Hàng rào phi thuế quan
Đây là các biện pháp thương mại được áp dụng để kiểm soát hàng hoá nhập khẩu không bao gồm thuế quan Các biện pháp này là:
- Hạn ngạch nhập khẩu
Đây là một hình thức của hàng rào phi thuế quan Hạn ngạch là quy định số lượng (hoặc giá trị) nhập khẩu đối với từng thị trường, từng mặt hàng thông qua hình thức giấy phép Nó là một công cụ phục vụ cho công tác điều tiết quản lý nhà nước về nhập khẩu vừa nhằm bảo hộ sản xuất trong nước vừa bảo vệ cán cân thanh toán Hạn ngạch nhập khẩu hạn chế số lượng nhập khẩu, do đó, nó cũng ảnh hưởng đến giá trị nội địa của hàng hoá Do hạn ngạch nhập khẩu ảnh hưởng đến mức cung nên giá cân bằng sẽ cao hơn trong điều kiện thương mại tự
do Xét về ý nghĩa bảo vệ lợi ích quốc gia, hạn ngạch cũng có tác động như thuế quan Hạn ngạch nhập khẩu là công cụ quan trọng để thực hiện chiến lược thay thế hàng nhập khẩu, bảo vệ sản xuất trong nước Đối với chính phủ và các doanh nghiệp, hạn ngạch cho biết trước số lượng hàng nhập khẩu, còn đối với thuế quan, lượng hàng nhập khẩu phụ thuộc vào mức độ linh hoạt của cung cầu và thường không cho biết trước được Sự tác động của hạn ngạch nhập khẩu khác với sự tác động của thuế quan ở hai điểm:
Mức thuế quan ít nhất cũng mang lại thu nhập cho chính phủ, từ đó có thể cho phép giảm những loại thuế khác và do đó bù đắp được một phần nào cho người trong nước, còn hạn ngạch nhập khẩu thì đưa lại lợi nhuận có thể rất lớn cho những người xin được giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch
Trang 13Hạn ngạch có thể biến một doanh nghiệp duy nhất trong nước thành một nhà độc quyền có thể đặt mức giá cao để họ thu được lợi nhuận tối đa
- Những quy định về điều kiện kỹ thuật
Đó là những quy định về tiêu chuẩn vệ sinh, đo lường, an toàn lao động, bao bì đóng gói, đặc biệt là các tiêu chuẩn về vệ sinh thực phẩm, vệ sinh phòng dịch đối với động thực vật tươi sống, tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường sinh thái… Mặc dù tiêu chuẩn kỹ thuật là một yêu cầu khách quan đối với các loại hàng hoá và nhằm bảo vệ người tiêu dùng, nhưng dưới góc độ nào đó thì nó lại được các nước áp dụng để ngăn chặn hàng hoá của nước ngoài vào nước mình một cách rất khéo léo
- Giấy phép nhập khẩu
Nhập khẩu hàng hoá phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép bằng việc cấp cho nhà nhập khẩu giấy phép nhập khẩu Tính chất kín đáo và bí mật của giấy phép cũng như thủ tục cấp giấy phép của chính phủ đã tạo khả năng hạn chế nhập khẩu mạnh Thông qua giấy phép, nhà nước can thiệp trực tiếp vào hoạt động nhập khẩu hàng hoá
Ngoài các biện pháp nói trên, chính phủ còn có thể sử dụng các biện pháp khác để hạn chế nhập khẩu, ví dụ như biện pháp qui định dùng một tỷ lệ nhất định nguyên vật liệu trong nước để sản xuất một số loại hàng (biện pháp này dẫn đến hạn chế nhập khẩu một số nguyên liệu và gây thiệt hại cho các nước mà phần nguyên liệu chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu hàng xuất khẩu của họ, đặc biệt là những nước đang phát triển)…
Khi hàng rào thuế quan giảm đi thì hàng rào phi thuế quan tăng lên Bản thân các biện pháp phi thuế quan có tính chất kín đáo và không rõ ràng, nên so với hàng rào thuế quan, các biện pháp phi thuế quan có tác dụng hạn chế nhập khẩu nhiều hơn Có thể nói, các biện pháp phi thuế quan đã dần dần thay thế hàng rào thuế quan, trở thành biện pháp chủ yếu được các nước dùng để hạn chế nhập khẩu Tuy nhiên, không phải các nước muốn áp đặt, quy định về vấn đề này như thế nào cũng được Vòng đàm phán GATT quyết định đặt biện pháp phi thuế quan dưới sự ràng buộc của các quy tắc của tổ chức này nhằm mục đích
Trang 14giảm bớt và tiến tới loại bỏ hoàn toàn các biện pháp phi thuế quan Tháng 4 năm
1979, Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) đã đạt được 5 thoả thuận về trợ cấp, thuế, hàng rào kỹ thuật thương mại, trị giá tính thuế hải quan, chính phủ thu mua và trình tự cấp phép nhập khẩu, hơn nữa còn lập ra được một hội đồng giám sát và đôn đốc việc thực hiện các thoả thuận trên Để chuẩn mực hoá hành vi hành chính của các nước thành viên, Ban thư ký GATT đã liệt kê danh sách các biện pháp phi thuế quan có ảnh hưởng tới sản xuất các sản phẩm công nghiệp, đồng thời quy định sẽ bổ sung và sửa đổi theo định kỳ tuỳ theo tình hình thay đổi Danh sách này bao gồm hàng trăm biện pháp phi thuế quan, nhưng có thể chia thành 5 nhóm: (1) Những việc chính phủ thường tham gia để hạn chế thương mại (2) Các biện pháp hạn chế nhập khẩu có tính chất hành chính và do hải quan thực hiện (3) Hàng rào có tính chất kỹ thuật đối với thương mại (4) Hạn chế đặc thù, như hạn chế cấp phép nhập khẩu, quy chế về giá trong nước (5) Lệ phí thuế nhập khẩu, như tiền ký quỹ, thuế điều tiết nhập khẩu Để quản lý, giám sát việc tuân thủ quy tắc về trợ cấp và về thuế, hàng năm GATT đều công bố báo cáo, trong đó có danh sách các biện pháp phi thuế quan Song, đáng tiếc là thoả thuận về các biện pháp phi thuế quan nói trên đạt được tại Vòng đàm phán Tokyo của GATT không được các nước ký kết thoả thuận tuân thủ, vì thoả thuận này vốn được tuyên bố là các bên ký kết có thể thực hiện trên cơ sở lựa chọn
Các biện pháp kiểm soát hàng hoá nhập khẩu nói trên thường được thực hiện trên thực tế thông qua một hình thức pháp lý là các quy phạm pháp luật Đó
lầ một trong những cách hữu hiệu để chính phủ can thiệp vào thị trường nói chung và kiểm soát hàng hoá nhập khẩu nói riêng Với các đặc tính như tính bắt buộc chung, tính quy phạm phổ biến…, pháp luật có những ưu thế riêng mà không một công cụ nào khác có được Đồng thời, trong quan hệ thương mại đa phương và song phương giữa các nước, hệ thống văn bản pháp luật quốc tế (các hiệp ước, hiệp định…) và các tập quán pháp, tiền lệ pháp… tham gia điều chỉnh hoạt động thương mại là chủ yếu
Trang 15Trong quản lý hàng hoá nhập khẩu, các quốc gia luôn có một chế độ pháp
lý để điều chỉnh vấn đề này Chế độ pháp lý đối với hàng hoá nhập khẩu vào thị trường trong nước có chức năng bảo hộ và chức năng phối hợp, điều chỉnh nền kinh tế Với chức năng bảo hộ, chế độ pháp lý đối với hàng hoá nhập khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước có khả năng đứng vững và vươn lên trong các hoạt động kinh doanh, tăng cường sức cạnh tranh với các hàng hoá từ bên ngoài, tạo thêm việc làm và đạt tới quy mô tối ưu cho các ngành kinh tế, đáp ứng yêu cầu tăng cường lợi ích của quốc gia Đồng thời, chế độ pháp lý này còn góp phần vào việc giữ vững an ninh quốc gia Với chức năng phối hợp và điều chỉnh, chế độ pháp lý đối với hàng hoá nhập khẩu tạo điều kiện cho nền kinh tế trong nước thích ứng với sự biến đổi và vận động mạnh mẽ của nền kinh tế và thị trường thế giới, thiết lập cơ chế điều chỉnh thích hợp trong điều kiện giá hàng hoá (dặc biệt là nguyên, nhiên vật liệu) trên thế giới thường xuyên thay đổi Chế độ pháp lý đối với hàng hoá nhập khẩu là một hệ thống những quy tắc
và những điều luật mà nhà nước áp dụng để điều chỉnh hoạt động nhập khẩu hàng hoá, bao gồm cả quá trình ban hành và thực thi pháp luật, nhằm thực hiện các mục tiêu xác định trong lĩnh vực ngoại thương trong một thời kỳ nhất định phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Hệ thống những quy tắc và điều luật này điều chỉnh trên các lĩnh vực thuế quan, các thủ tục nhập khẩu, các tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn, các yêu cầu về mẫu mã, bao bì, bản quyền…đối với hàng hoá nhập khẩu
1.2.2 Các bộ phận cấu thành chế độ pháp lý đối với hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ
Hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ phải chịu sự điều chỉnh của các quy tắc, các quy phạm pháp luật liên quan Hoa Kỳ là một nước điển hình theo hệ thống thông luật với đặc trưng cơ bản là các tục lệ pháp lý chiếm số lượng lớn, luật ở đây không phải luật thành văn, nó là “luật của thực tiễn xét xử” hay “luật của các quan toà” [2, tr.26] Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận là cùng với sự biến đổi dưới ảnh hưởng của nhiều yếu tố dân tộc và quốc tế, nguồn của luật ở Hoa Kỳ đã có nhiều vẻ, không chỉ có án lệ mà còn có một khối lượng đồ sộ các
Trang 16văn bản pháp luật, các văn bản của các tổ chức quốc tế mà Hoa Kỳ có nghĩa vụ thi hành với tư cách là thành viên, các tập quán thương mại quốc tế… Dưới góc
độ nguồn của pháp luật, chúng ta có thể thấy các bộ phận cấu thành chế độ pháp
lý đối với hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ như sau:
1.2.2.1 Các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động nhập khẩu hàng hoá vào Hoa
Kỳ
Hoa Kỳ luôn đưa ra những nguyên tắc quan trọng có tính chặt chẽ và bất dịch trong việc thiết lập và thực thi pháp luật về thương mại Việc Hoa Kỳ tham gia vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và tham gia vào quan hệ hợp tác thương mại với các nước đã tác động lớn đến vấn đề này Một mặt, trong tiến trình xây dựng các nguyên tắc của WTO nói chung và các nguyên tắc trong hiệp định song phương và đa phương ký kết giữa Hoa Kỳ và các nước khác nói riêng, các Uỷ ban pháp luật của Hoa Kỳ, các cơ quan đại diện của chính phủ Hoa Kỳ luôn luôn có vai trò quan trọng Nhưng mặt khác, chính các nguyên tắc đó, sau khi có hiệu lực, đã trở thành sự ràng buộc mà pháp luật về thương mại của Hoa
Kỳ phải tuân thủ Sau đây là một số nguyên tắc cơ bản:
(i) Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc Hầu hết tất cả các bạn hàng thương
mại của Mỹ đều được hưởng quy chế tối huệ quốc về thương mại Các hàng hoá
từ các quốc gia hưởng quy chế này chịu các mức thuế như nhau khi gia nhập thị trường Mỹ Khi Mỹ thay đổi một sắc thuế thì sự thay đổi đó được áp dụng bình đẳng đối với tất cả các nước được hưởng quy chế tối huệ quốc Hiện nay, Hoa
Kỳ mở rộng quy chế tối huệ quốc tới tất cả thành viên của Tổ chức thương mại thế giới và hầu hết các quốc gia khác
(ii) Nguyên tắc có đi có lại Nguyên tắc này có nghĩa là một quốc gia
không thể điều chỉnh các quan hệ bên trong của mình lớn hơn so với các nước khác khi thực hiện các hiệp định về thương mại Theo đó, Hoa Kỳ sẽ hạn chế sự thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ các hàng hoá của bất kỳ nước nào nếu nước
đó không cho phép hàng hoá của Hoa Kỳ được xuất khẩu sang
(iii) Nguyên tắc ưu đãi thuế quan đối với một số mặt hàng và đối với một
số nước Trong đó bao gồm hệ thống ưu đãi chung là chương trình miễn thuế đối
Trang 17với hơn 4450 sản phẩm từ khoảng 150 nước hoặc lãnh thổ đang phát triển nhằm mục đích hỗ trợ các nước này Bên cạnh đó còn có Chương trình khuyến khích phát triển vùng vịnh Caribe Chương trình này cho phép miễn hoặc giảm thuế đối với phần lớn sản phẩm nhập từ 24 quốc gia ở khu vực Trung Mỹ và Caribe Ngoài ra còn có ưu đãi về loại thuế quan đặc biệt dành cho các mặt hàng nhập khẩu có linh kiện sản xuất tại Hoa Kỳ Ví dụ như thuế nhập khẩu sẽ chỉ áp dụng trên giá trị phần sản phẩm sản xuất ở nước ngoài, còn phần linh kiện sản xuất ở Hoa Kỳ sẽ không bị đánh thuế Nguyên tắc này được áp dụng rộng rãi đối với các sản phẩm từ các loại xe có động cơ đến các chất bán dẫn và kể cả quần áo may ở nước ngoài nhưng vải lại dệt ở Mỹ
(iv) Nguyên tắc bảo hộ sản xuất trong nước trong tình trạng khẩn cấp
Điều 19 của GATT phê chuẩn những điều khoản “tự vệ”- theo luật của Mỹ thì điều khoản này được gọi là điều khoản giải thoát (Escape Clause)- để giúp các hãng và công nhân chịu thiệt hại do hàng hoá nhập khẩu điều chỉnh mức cạnh tranh nhập khẩu tăng lên Theo đó, mục 201 của Luật Thương mại Mỹ năm
1974 yêu cầu Uỷ ban thương mại quốc tế (USITC) phải điều tra những lời than phiền, kêu ca chính thức được coi là những khiếu nại của những ngành sản xuất
và công nhân trong nước cho rằng họ bị tổn hại hay đe doạ bị tổn hại do hậu quả của việc tăng nhập khẩu và phải hoàn thành việc điều tra trong vòng 6 tháng Luật Thương mại Mỹ nêu rõ nếu USITC thấy rằng một ngành trong nước bị thiệt hại nghiêm trọng hay đe doạ bị thiệt hại nghiêm trọng thì Uỷ ban này sẽ khuyến nghị lên Tổng thống để hỗ trợ cho ngành đó dưới cách thức hạn chế nhập khẩu tạm thời (thuế quan, hạn ngạch hoặc hạn ngạch thuế suất) hoặc hỗ trợ điều chỉnh thương mại Tổng thống sẽ cân nhắc có nên thực hiện theo những kiến nghị của USITC về việc hỗ trợ hay không Đó thường là hỗ trợ dưới dạng tăng thuế hay hạn chế số lượng Việc hạn chế nhập khẩu này không được kéo dài quá 8 năm, kể cả gia hạn
(v) Nguyên tắc đảm bảo các nguyên tắc và cam kết trong những vòng đàm phán của Tổ chức thương mại thế giới được thực thi Đây chính là nguyên tắc
pacta sunt servanda Hoa Kỳ đã đảm bảo ít nhiều thực hiện quy tắc này trên thực
Trang 18tế Ví dụ như Điều 401 Luật về các hiệp định của Vòng đàm phán Uruguay đã tác động đến pháp luật Mỹ, khi cấm mọi sự hạn chế áp dụng phí đối với các mặt hàng nông nghiệp nhập khẩu từ các nước thành viên WTO và Hoa Kỳ đã tuân thủ Một ví dụ khác là các hiệp định của Vòng đàm phán Uruguay về nông nghiệp đòi hỏi các thành viên WTO phải cam kết thực hiện và Hoa Kỳ đã chấp thuận chuyển đổi cơ chế hạn ngạch tỷ lệ thuế nhập và giảm dần các loại thuế nhập theo thời gian Điển hình là vấn đề hạn ngạch tỷ lệ thuế nhập đối với đường, trong khi Mỹ luôn là một nước nhập siêu về đường Kể từ năm 1934, Mỹ
đã có những sự hạn chế nhập khẩu đường để nuôi dưỡng ngành công nghiệp mía đường và củ cải đường trong nước Đến nay, các hạn ngạch tuyệt đối áp dụng đối với đường nhập khẩu đã được chuyển đổi thành cơ chế hạn ngạch tỷ lệ thuế nhập vào năm 1990 để đưa chương trình đường của Mỹ phù hợp hơn với GATT
và sau đó là Hiệp định của Vòng đàm phán Uruguay Theo cơ chế hạn ngạch tỷ
lệ thuế nhập, Bộ trưởng Nông nghiệp Mỹ quyết định lượng đường có thể được nhập khẩu với mức thuế thấp hơn và đại diện thương mại Mỹ phân bổ tới các nước Đường nhập khẩu vượt quá số lượng hạn ngạch thì phải chịu các mức thuế cao hơn Các hạn ngạch tỷ lệ thuế nhập cũng đã được áp dụng trong hoạt động nhập khẩu thịt, vấn đề này trước đây phải chịu sự hạn chế của Luật nhập khẩu thịt Các hạn ngạch tỷ lệ thuế nhập thay thế các hạn ngạch nhập khẩu vốn được quy định theo luật khi lượng thịt nhập khẩu vượt quá một mức độ nhất định Luật nhập khẩu thịt đã được chính thức huỷ bỏ nhờ đó pháp luật Mỹ trở nên phù hợp hơn với Hiệp định của Vòng đàm phán Uruguay về nông nghiệp [2, tr.99]
1.2.2.2 Các quy định pháp luật về hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ
Các quy định pháp luật về hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ có rất nhiều và
do rất nhiều cơ quan ban hành
Sau đây là tóm lược các cơ quan hoạch định chính sách thương mại và ban hành, thực thi pháp luật về hoạt động nhập khẩu hàng hoá vào Hoa Kỳ
Ban hành các quy phạm và thi hành Quốc hội (có sự tham gia của các Uỷ
ban như Uỷ ban pháp luật…) ban hành
Trang 19kết hợp với các cơ quan của ngành hành pháp (Bộ Thương mại, Nông nghiệp, Ngoại giao, Tài chính, Lao động, Tư pháp, Quốc phòng, Nội vụ, Giao thông vận tải, Năng lượng, Y tế,
Uỷ ban an ninh quốc gia…) Các cơ quan của ngành hành pháp thực thi
Cơ quan bảo vệ môi trường
Thực thi các biện pháp kiểm soát
thương mại (trong đó có hoạt động
kiểm soát nhập khẩu)
Cục Hải quan Mỹ
Uỷ ban thương mại quốc tế Mỹ (ITC)
Bộ Thương mại (DOC)
Uỷ ban thương mại liên bang Các cơ quan có lĩnh vực liên quan
Chúng ta có thể gộp các quy định pháp luật về hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ thành ba nhóm sau:
Nhóm một, các đạo luật về thuế nhập khẩu và hải quan: bao gồm các quy
định về thủ tục hải quan, hệ thống thuế quan, tính giá hải quan, các quy định về thuế nhập khẩu Điển hình là Luật Thuế suất năm 1930 Luật này ra đời nhằm điều tiết hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ, chống lại việc nhập khẩu hàng hoá giả Luật này quy định mức thuế rất cao đối với hàng hoá nhập khẩu Đến nay nhiều điều khoản của luật này vẫn còn hiệu lực, song thuế suất đã được nhiều lần sửa đổi và hạ xuống rất nhiều
Nhóm hai, các đạo luật về giải pháp thương mại, bao gồm:
Trang 20 Luật Thuế đối trọng (còn gọi là Luật Thuế đối kháng- Countervailing Duty Law, viết tắt là CVD), Luật Chống phá giá (Antidumping Duty Law, viết tắt là AD): Đây là 2 đạo luật phổ biến nhất mang tính chế tài để bảo vệ các ngành công nghiệp Mỹ khi phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu được buôn bán không công bằng Hai luật này quy định rằng các hàng hoá nhập khẩu, nếu bị phát hiện là xuất khẩu sang Mỹ một cách không công bằng, sẽ phải chịu thêm một mức thuế nữa Cả hai luật này đều nêu ra những thủ tục tương tự về quy trình điều tra, đánh thuế, rà soát lại và có thể bãi bỏ việc áp thuế sau một thời gian nhất định Luật Thuế đối kháng quy định việc bảo vệ lợi ích cho ngành công nghiệp Mỹ bằng cách tăng thuế nhập khẩu trên cơ sở có quyết định hàng hoá nhập khẩu có được trợ giá bất hợp pháp hay không, vì việc bán những sản phẩm được trợ cấp này ở Mỹ đã hoặc sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng đối với ngành sản xuất tại Mỹ, đặc biệt là đối với nhà sản xuất các sản phẩm tương tự hoặc ngăn cản sự ra đời của một ngành sản xuất mới Luật Chống phá giá được
sử dụng rộng rãi hơn Luật Thuế đối kháng Thuế chống phá giá được đánh vào hàng nhập khẩu khi hàng nhập khẩu đó được xác định bị bán phá giá, hoặc sẽ bị bán phá giá trên thị trường Mỹ, với mức giá thấp hơn giá trị thực của hàng hoá
đó
Luật về thương mại và thuế quan 1984 Luật này làm rõ và chi tiết hoá,
cụ thể hoá các điều khoản về thuế chống phá giá và trợ cấp, đưa ra các điều kiện cho các trường hợp áp dụng theo điều khoản 301 của Luật Thương mại 1974 đối với các trường hợp buôn bán không bình đẳng
Điều 201 đến điều 204 Luật Thương mại năm 1974 điều chỉnh hàng hoá nhập khẩu Điều luật này cho phép Tổng thống có quyền hành động khi có sự gia tăng việc nhập khẩu hàng của một nước gây ra những thiệt hại nghiêm trọng đối với một ngành công nghiệp trong nước Quyền này vẫn được áp dụng ngay
cả khi hàng nhập khẩu được định giá một cách công bằng
Hiệp định buôn bán năm 1979: bao gồm các điều khoản về sự bảo trợ của chính phủ liên quan đến các chướng ngại kỹ thuật trong buôn bán, các sửa đổi thuế bù trừ và thuế chống hàng thừa, ế- một loại thuế đánh vào các loại hàng
Trang 21hoá bị cho là có trợ giá hoặc bán phá giá Hiệp định này được thông qua nhằm mục đích thực hiện một số bộ luật được thương lượng tại Vòng đàm phán Tokyo của GATT
Luật tổng hợp về buôn bán và cạnh tranh năm 1988 Luật này uỷ nhiệm cho Tổng thống Mỹ tham gia Vòng đàm phán Urugoay, đồng thời thiết lập thủ tục đặc biệt (Super 301) cho phép Mỹ áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với các quyết định không chịu mở cửa cho hàng hoá Mỹ vào và vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của Mỹ
Hạn chế nhập khẩu theo các đạo luật về môi trường (Luật Bảo vệ động vật biển có vú 1972, Đạo luật về các loài động vật bị nguy hiểm năm 1973, Luật Bảo tồn chim rừng năm 1992, Luật Cưỡng chế đánh bắt cá bằng lưới nổi ngoài khơi…)
Hạn chế nhập khẩu do nhu cầu an ninh quốc gia; bảo vệ cán cân thanh toán; quy định về tiêu chuẩn sản phẩm; mua sắm chính phủ (còn gọi là tiếp cận thị trường nhà nước) Ví dụ như Điều 232 của Luật Mở rộng thương mại năm
1962 cho phép Tổng thống áp đặt những hạn chế đối với hàng nhập khẩu đe doạ đến an ninh quốc gia Luật này thỉnh thoảng được sử dụng, đáng chú ý nhất là nhằm ấn định hạn ngạch và lệ phí đối với dầu mỏ nhập khẩu và để cấm nhập khẩu các sản phẩm dầu lọc từ Libi Điều 122 của Luật Thương mại năm 1974 cho phép Tổng thống có quyền tăng hoặc giảm nhập khẩu để đối phó với sức ép của cán cân thanh toán Tổng thống có thể thắt chặt những hạn chế nhập khẩu thông qua hạn ngạch hoặc thuế phụ thu nhập khẩu 15% trên gía trị, hoặc kết hợp
cả hai Tuy nhiên, Luật này chưa bao giờ được sử dụng
Ngoài ra còn có rất nhiều các đạo luật khác quy định về các tiêu chuẩn sản phẩm, ví dụ như Luật về thực phẩm, thuốc và mỹ phẩm; Luật liên bang về chất độc hại; Luật về vải dễ cháy; Luật về bảo vệ an toàn cho trẻ em…
Nhóm ba, các quy định pháp luật liên quan đến an ninh chính trị và an ninh quốc tế Bao gồm:
Luật Thẩm quyền kinh tế quốc tế trong tình trạng khẩn cấp năm 1977 Luật này cho phép Tổng thống được quyền phong toả tài sản nước ngoài ở Mỹ,
Trang 22cấm vận thương mại và tiến hành các biện pháp cần thiết khác để đối phó với những đe doạ bất thường hoặc đặc biệt đối với an ninh quốc gia hoặc lợi ích kinh tế của Mỹ
Luật Thương mại về kiểm soát các chất ma tuý Luật này là một bộ phận của Luật Cưỡng chế, giáo dục và kiểm soát ma tuý năm 1986, theo đó, nếu một nước bị coi là không hợp tác đầy đủ với Mỹ trong những nỗ lực chống ma tuý thì Tổng thống có thể huỷ bỏ tất cả những đối xử ưu đãi thuế quan (như ưu đãi thuế quan phổ cập GSP) và đánh thuế lên tới 50% giá trị của các sản phẩm
Luật An ninh quốc tế và hợp tác phát triển năm 1985 Điều 505 của luật này quy định Tổng thống có toàn quyền hạn chế hoặc cấm nhập khẩu từ bất kỳ quốc gia nào mà Mỹ xác định là hỗ trợ cho các hoạt động khủng bố hoặc tổ chức khủng bố hoặc chứa chấp những kẻ khủng bố, tổ chức khủng bố
1.2.2.3 Các quy định của các hiệp định song phương và đa phương
Về cơ bản, chúng ta có các hiệp định sau:
Các hiệp định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO): Hoa Kỳ là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới, vì vậy, Luật về Hiệp định trong khuôn khổ Vòng đàm phán Uruguay của Hoa Kỳ đã qui định Hoa Kỳ thực thi theo đúng các hiệp định về nguyên tắc trong vệ sinh và kiểm dịch, về thi hành Luật Chống phá giá, về thi hành định giá thuế quan, về trợ giá và những biện pháp chống trợ giá, về kiểm dịch trước khi giao hàng lên tàu, về nguyên tắc chứng nhận xuất xứ, về các thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu Ngoài ra, Hoa Kỳ còn phải thực thi theo các hiệp định khác như Hiệp định hàng dệt may; Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập…
Hiệp định về khu vực tự do thương mại Bắc Mỹ (NAFTA) Hiệp định ký kết giữa Hoa Kỳ, Canada, Mêhicô tạo ra một thị trường lớn cho hàng hoá Sau khi được mỗi nước phê chuẩn, Hiệp định này đã có hiệu lực từ 1/1/1994 Quy định của NAFTA được áp dụng trong việc mở cửa các lĩnh vực như mua sắm chính phủ, tiêu chuẩn sản phẩm, sở hữu trí tuệ, luật xuất xứ, các biện pháp tự vệ đối phó với sự tăng đột biến của hàng hoá nhập khẩu Hiệp định này cũng quy
Trang 23định xoá bỏ ngay thuế áp dụng đối với hơn 1/2 hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ từ Mêhicô
Hiệp định về khu vực tự do thương mại Mỹ- Israel Hiệp định này được ký vào tháng 6/1985 Nội dung chính của hiệp định là cả hai bên sẽ xoá bỏ thuế của tất cả các loại sản phẩm mà hai nước buôn bán với nhau trong vòng 10 năm và đồng thời xoá bỏ những quy định khác cản trở đến thương mại song phương Ngoài ra còn có Sáng kiến vịnh Caribê, Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ và các Hiệp định tương tự khác
1.2.2.4 Tập quán thương mại và án lệ
Tập quán thương mại là những tập quán điều chỉnh hoạt động thương mại tồn tại từ lâu đời và được các nước công nhận Ví dụ như INCOTERMS cung cấp mộ bộ tập quán thương mại quốc tế quy định về quan hệ giữa người bán và người mua thuộc hợp đồng mua bán hàng hoá
Án lệ cũng là một bộ phận cấu thành của chế độ pháp lý đối với hàng hoá nhập khẩu Tại các nước theo hệ thống Luật Common Law, các toà án thường sử dụng một hoặc một số phán quyết của toà án đã được công bố để làm khuôn mẫu áp dụng cho việc giải quyết những tranh chấp tương tự Án lệ có vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế vì nhìn chung, các tranh chấp trong hoạt động thương mại quốc tế thường tập trung vào một số vấn đề và có nhiều trường hợp tương đồng
Ngoài sự phân chia theo nguồn luật nói trên, chúng ta có thể xem xét các bộ phận cấu thành chế độ pháp lý đối với hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ dưới góc
độ lĩnh vực điều chỉnh Theo đó, chúng ta có các bộ phận sau:
- Các quy định của pháp luật Hoa Kỳ về thuế quan
- Các quy định của pháp luật Hoa Kỳ về hàng rào phi thuế quan
Cụ thể hơn, chúng ta có thể xem xét các bộ phận cấu thành chế độ pháp lý đối với hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ như sau:
- Các quy định của pháp luật Hoa Kỳ về thủ tục nhập khẩu hàng hoá
- Các quy định của pháp luật Hoa Kỳ về thuế quan
- Các quy định của pháp luật Hoa Kỳ về tiêu chuẩn hàng hoá
Trang 24- Các quy định của pháp luật Hoa Kỳ về quyền sở hữu trí tuệ…
1.2.3 Các yếu tố chi phối đến chế độ pháp lý đối với hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ
Chế độ pháp lý đối với hàng hoá nhập khẩu là một hệ thống những quy tắc
và những điều luật điều chỉnh hoạt động nhập khẩu hàng hoá Hệ thống này không phải là một hệ thống đóng mà nó luôn trải qua quá trình vận động dưới tác động của các yếu tố bên ngoài để phù hợp với thực tiễn
1.2.3.1 Đặc điểm của nền kinh tế Mỹ
Đây là thị trường có tính cạnh tranh cao Thị trường Mỹ rất rộng lớn, nhu cầu nhập khẩu đa dạng nên hầu hết các nước đều đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường này và do vậy, sự cạnh tranh giữa các nước để chiếm lĩnh thị trường cũng
diễn ra rất gay gắt và khốc liệt Đồng thời, xã hội Mỹ là xã hội tiêu thụ bởi vì
phần thu nhập dành cho tiêu dùng rất lớn Thu nhập bình quân tính theo đầu người ở Mỹ là khoảng 36.200 USD/năm Theo thống kê của Bộ Thương mại,
Mỹ có khoảng 98 triệu hộ gia đình, trong đó khoảng 1 triệu hộ có tài sản trên 1 triệu USD, 5% số hộ có thu nhập hàng năm trên 100.000 USD Số hộ còn lại có thể chia làm 4 nhóm: nhóm một: nhóm có thu nhập thấp nhất khoảng 17.000 USD/năm; nhóm hai: gồm những hộ có thu nhập khoảng 30.000 USD/năm; nhóm ba: gồm những hộ có thu nhập khoảng 45.000 USD/năm; nhóm bốn: nhóm có thu nhập cao nhất khoảng 67.000 USD/năm [7, tr.59]
Qua đó, ta có thể thấy người dân Mỹ có mức sống rất khác nhau nên nhu cầu tiêu dùng cũng khác nhau Vì vậy, bên cạnh các cửa hàng dành cho người có thu nhập cao với các hàng hoá cao cấp còn có những cửa hàng dành cho người
có thu nhập thấp với các hàng hoá thiết yếu và giá cả phải chăng Do đó, hàng hoá nhập vào Mỹ cũng rất đa dạng về chủng loại và chất lượng, có cả hàng cao cấp và bình dân Mỹ có chính sách nhập hàng từ nhiều nước khác nhau, cả nước phát triển và nước đang phát triển, phục vụ cho những nhu cầu tiêu dùng khác nhau
Mặt khác, quy mô và tiềm lực của nền kinh tế Hoa Kỳ cũng tác động đến vấn đề điều chỉnh hàng hoá nhập khẩu Vào giai đoạn những năm 1970 và 1980,
Trang 25do sự gia tăng khả năng cạnh tranh quốc tế của nền kinh tế Hoa Kỳ, tỷ lệ lạm phát cao trong khi Tây Âu và Nhật Bản không còn bị coi là đối thủ cạnh tranh quốc tế chủ yếu của Hoa Kỳ nữa nên nước này đã sử dụng hạn chế các hàng rào cản trở hoạt động nhập khẩu trong quan hệ với Tây Âu và Nhật Bản
1.2.3.2 Chính sách đối ngoại của chính quyền
Nhiều khi chế độ pháp lý đối với hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ chịu sự ảnh hưởng rất lớn của chính sách đối ngoại Ví dụ như đối với Nhật Bản vào những năm 1950, Hoa Kỳ đã gắn chế độ pháp lý đối với hàng hoá của Nhật Bản xuất sang Hoa Kỳ với chiến lược đối đầu với Đông Âu Vào những năm 1952 và
1953, việc thâm nhập của hàng hoá Nhật Bản vào thị trường Hoa Kỳ được đẩy nhanh Đây là việc làm cần thiết để hạn chế sự giảm sút về kinh tế và mức sống
ở Nhật Bản Chính quyền Ai- xen- hao đã tiến hành đàm phán trên nguyên tắc đảm bảo có lợi cho Nhật Bản Hoa Kỳ đã không áp dụng biện pháp trả đũa mà tiến hành các hoạt động hỗ trợ để phục hồi nền kinh tế Nhật Bản thông qua việc tạo điều kiện thuận lợi cho Nhật Bản xuất khẩu hàng hoá sang thị trường Hoa
Kỳ Hiệp định thương mại song phương được ký kết giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản năm 1955 là một ví dụ về sự hy sinh lợi ích quốc gia để đạt được lợi ích của chính sách đối ngoại Vì lý do an ninh, đây là một Hiệp định không cân bằng về lợi ích trong đó Nhật Bản đưa ra các nhượng bộ về thuế quan còn Hoa Kỳ mở rộng việc cắt giảm thuế quan cho tất cả các hàng hoá xuất khẩu của Nhật Bản Đến cuối những năm 1960, chính sách kinh tế đối ngoại của Hoa Kỳ nói chung
và pháp luật thương mại Hoa Kỳ nói riêng được xem là một phương tiện để phát triển các hoạt động đối ngoại Một mặt, Hoa Kỳ chú trọng tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hoá của Tây Âu và Nhật Bản nhập khẩu vào nước mình để các nước này phục hồi nền kinh tế sau chiến tranh, tạo điều kiện ổn định chính trị và hạn chế sự lan rộng của các nước xã hội chủ nghĩa Mặt khác, Hoa Kỳ hạn chế các hoạt động thương mại đối với các nước xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu an ninh quốc gia
Ngay như Việt Nam cũng là một ví dụ Chính sách đối ngoại mang tính ôn hoà, đa phương, coi trọng vai trò, có tính đến lợi ích của các đồng minh, của các
Trang 26đối tác và những thiết chế quốc tế dưới thời Tổng thống B Clinton đã ảnh hưởng rất lớn đến chính sách thương mại của Hoa Kỳ với Việt Nam Theo đó, Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ ra đời đã đánh dấu bước phát triển mới của mối quan hệ kinh tế giữa hai nước
1.2.3.3 Môi trường chính trị
Hiến pháp của Hoa Kỳ quy định Quốc hội Mỹ có quyền quản lý ngoại thương và thu thuế Tuy nhiên quyết định tăng hoặc giảm thuế quan, ấn định hạn ngạch nhập khẩu, hoặc ban hành các văn bản pháp luật khác ảnh hưởng đến cả lợi ích trong và ngoài nước phức tạp đến mức Quốc hội phải thông qua một loạt các luật khác và quy định rất nhiều trách nhiệm cho Tổng thống và các cơ quan hành pháp Tuy vậy, nhiều khi quyền hạn của Tổng thống trong vấn đề này lại quá lớn cộng thêm sự phân chia quyền lực và nguyên tắc “kiềm chế đối trọng” của bộ máy nhà nước khiến Quốc hội Hoa Kỳ nhiều khi gây sức ép với Chính phủ để lựa chọn chính sách kinh tế quốc tế bằng cách hoàn thiện hệ thống pháp luật thương mại, tăng các hàng rào hạn chế nhập khẩu Ví dụ như việc Quốc hội Hoa Kỳ đưa ra sáng kiến trong ba năm thông qua một quy chế thương mại tổng hợp có hoặc không có sự hợp tác của Chính phủ Kết quả của sáng kiến này là
sự ra đời của Đạo luật cạnh tranh và thương mại Omnibus năm 1988 có đưa ra biện pháp để hạn chế đến mức tối đa sự tuỳ tiện của Tổng thống trong việc sử dụng quyền phủ quyết để điều hành chính sách thương mại
Tóm lại, các thể chế, chính sách về chính trị, ngoại giao cũng như các đặc điểm của nền kinh tế Mỹ và các yếu tố khác… đã có tác động đến các quy định pháp luật của Mỹ về hàng hoá nhập khẩu
Ngoài các yếu tố nội tại trong bản thân nước Mỹ, chúng ta thấy có thêm các yếu tố bên ngoài chi phối mà các yếu tố này cũng không kém phần quan trọng Điển hình là:
1.2.3.4 Xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới
Nền kinh tế thế giới có tác động to lớn đến chính sách thương mại và hệ thống pháp luật thương mại của Hoa Kỳ Trong giai đoạn những năm 1950 và
1960, nền kinh tế thế giới đang trong quá trình khôi phục sau chiến tranh thế
Trang 27giới thứ hai Hoa Kỳ không chú ý nhiều đến việc phát triển kinh tế trong nước
mà cố gắng mở rộng hoạt động thương mại trên quy mô toàn cầu, hỗ trợ các nước tư bản chủ nghĩa bằng cách cắt giảm các hàng rào đối với hàng hoá của các nước này nhập khẩu vào Hoa Kỳ Tuy nhiên, vào những năm 1970 và 1980, nền kinh tế Hoa Kỳ đã gặp phải các khó khăn đặc biệt là tình trạng lạm phát đi đôi với suy thoái ở trong nước, trong khi Tây Âu và Nhật Bản đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao và cán cân thanh toán thặng dư đang đối đầu với Hoa Kỳ Do
đó, chính quyền Ních- xơn đã nhanh chóng đưa ra các thay đổi, các hàng rào thương mại được Hoa Kỳ sử dụng chặt chẽ hơn Theo đó, Đạo luật thương mại năm 1974 ra đời gia tăng mức độ bảo hộ đối với các công ty của Hoa Kỳ trước
sự cạnh tranh gay gắt của hàng hoá nhập khẩu từ Nhật Bản và các nước mới công nghiệp hoá NICs Đạo luật này còn đưa ra các điều khoản quy định việc giảm thuế theo quyết định của Tổng thống, nhưng Quốc hội Hoa Kỳ đã không xem xét lại các quy định hiện hành nhằm giảm bớt các hàng rào phi thuế quan trên nguyên tắc có đi có lại theo các vòng đàm phán về thương mại mà chỉ áp dụng một hệ thống cắt giảm thuế quan nhanh
1.2.3.5 Hệ thống pháp luật của WTO
Hoa Kỳ là nước khởi xướng việc tự do hoá thương mại thế giới Chính vì vậy, qua các cuộc đàm phán, ảnh hưởng của Hiến pháp và các đạo luật của Hoa
Kỳ lên quá trình lịch sử của GATT và WTO là điều đương nhiên Ví dụ như Bộ luật Chống bán phá giá của GATT năm 1967 đã chịu ảnh hưởng rất lớn của những ràng buộc pháp lý của Hoa Kỳ áp đặt lên các nhà thương thuyết Mỹ Ngược lại, luật pháp và chính sách thương mại của Hoa Kỳ cũng chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật của WTO Ngay cả khi Quốc hội Hoa Kỳ bắt đầu xem xét pháp chế để chuẩn y và thực thi những Hiệp định của Vòng đàm phán Tokyo thì EC (nay là EU), trong sự lo ngại hợp lý rằng thủ tục quốc gia như vậy
sẽ ảnh hưởng đến những thuyết minh trong tương lai về các Hiệp định đó, nên
đã bố trí những chuyên gia tư vấn kinh tế và pháp lý có mặt tại thủ đô Oasinhton
để theo dõi và báo cáo về Brussels diễn tiến Nghị viện tại nước này [11, tr.96]
Trang 28Luật pháp của WTO ảnh hưởng đến luật pháp và chính sách thương mại Hoa Kỳ thông qua các con đường sau:
Thứ nhất, thông qua con đường chuẩn y của cơ quan lập pháp Một số quốc gia, trong đó có Hoa Kỳ, có sự phân biệt giữa luật quốc gia và luật quốc tế Sự phân biệt này liên quan đến việc một hiệp ước quốc tế có được Toà án và những
cơ quan nhà nước đối xử như một phần của luật pháp quốc gia hay không, tương
tự như luật thành văn vậy Một số quốc gia, nhất là Anh, được xem là có lập trường nhị nguyên, tức là các hiệp ước mà họ ký kết sẽ không trở thành luật quốc gia Để thực thi một hiệp ước như thế theo luật pháp quốc gia, Quốc hội phải thông qua một đạo luật hay một công cụ pháp lý nào khác (như sắc lệnh hay nghị định của hành pháp chẳng hạn) phải được ban hành Những nước khác thì có hệ thống pháp lý mang xu hướng kết hợp các hiệp ước quốc tế vào trong luật pháp quốc gia mà không cần phải có sự can thiệp thêm nữa bằng các đạo luật Những hệ thống đó thường được gọi là những hệ thống nhất nguyên Hoa
Kỳ rơi vào tình trạng ở giữa hai loại nói trên Hiến pháp Hoa Kỳ thì buộc rằng các hiệp ước phải được đệ trình lên Thượng viện Mỹ để "tham vấn và chấp thuận" (đòi hỏi phải được 2/3 biểu quyết đồng ý) trước khi Tổng thống có thể tham gia nhân danh nước Mỹ Tuy nhiên, trong lịch sử Hiến pháp qua, người ta
đã triển khai những kiểu chuẩn y khác nhau đối với những hiệp ước quốc tế Thực tiễn của nước Mỹ phân chia các thoả ước quốc tế thành các "hiệp ước" (theo nghĩa Hiến pháp, tức các thoả ước phải được đệ trình lên Thượng viện) và các "Hiệp định của hành pháp" (tức là tất cả các thoả ước còn lại) Theo quan điểm luật pháp quốc tế, tất cả các công cụ đó đều là hiệp ước Nhưng xét theo quan điểm hiến pháp của luật pháp quốc gia Hoa Kỳ thì cách dùng thuật ngữ khác nhau này rất quan trọng
Theo thực tiễn hiến định của Hoa Kỳ, người ta có thể chuẩn y các hiệp định của hành pháp bằng một số cách:
(i) có thể đệ trình chúng lên Quốc hội chuẩn y bằng cách thông qua một đạo luật trao quyền cho Tổng thống được chấp thuận thoả ước quốc tế đó Nhiều hiệp định thương mại đã được chuẩn y theo cách thức này Ví dụ tiêu biểu nhất
Trang 29chính là việc chuẩn y phần lớn các hiệp định GATT của Vòng Tokyo bằng vào Đạo luật về các Hiệp định thương mại năm 1979
(ii) Quốc hội có thể thông qua một đạo luật uỷ quyền cho Tổng thống thương lượng, gia nhập và chấp nhận một hiệp ước quốc tế nhân danh nước Mỹ Đây chính là giải pháp mà các đạo luật về các hiệp định thương mại hỗ tương đã dành cho các hiệp định thuế quan
(iii) Một hiệp ước có thể trao trước cho Tổng thống thẩm quyền có giới hạn để tham gia vào một hiệp định của hành pháp vốn được thiết kế để thực thi hiệp ước đó
(iv) Theo Hiến pháp, Tổng thống có thể tham gia vào một số hiệp định hành pháp dựa vào thẩm quyền cố hữu của mình, mà không bị bất kỳ sự can thiệp nào trước hay sau đàm phán của toàn Quốc hội hay của riêng Thượng viện
Đó sẽ là những hiệp định được chuẩn y theo những quyền hạn mà hiến pháp đã dành cho Tổng thống (Ví dụ như Tổng thống có quyền giữ vai trò Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang) hay được hiến pháp hàm chỉ là thuộc thẩm quyền của Tổng thống (quyền hành pháp)
Các hiệp ước quốc tế (gồm năm loại nói trên: thể thức của Thượng viện và bốn loại hiệp định của hành pháp) đôi khi có thể được coi như được áp dụng tự động như một thứ "tương tự luật thành văn" tại các toà án Hoa Kỳ [5, tr.89] Nhưng mặt khác, trong Đạo luật thực thi vòng Tokyo, Quốc hội Mỹ đã vạch rõ rằng những hiệp định kết quả từ vòng đàm phán đó sẽ không có tính chất "tự động có hiệu lực" và điều đó bao gồm cả các điều khoản lập pháp tương tự cùng quá trình lịch sử lập pháp có liên quan đến những hiệp định thương mại về sau bao gồm cả vòng đàm phán Urugoay Tóm lại, người ta có thể thấy rằng cách đối xử về mặt pháp lý đối với những hiệp định thương mại đó có thể khác nhau tuỳ theo mỗi nước, một điều làm nảy sinh những cảm giác thiếu công bằng và thiếu tương nhượng lẫn nhau
Tuy vậy, sự ảnh hưởng của luật pháp WTO đến luật pháp Hoa Kỳ là không thể phủ nhận Ta có thể thấy trước vòng Tokyo, luật pháp Hoa Kỳ rất là rắc rối
Vì nhiều lý do lịch sử, hệ luật pháp này có tới 9 phương pháp định giá để tính
Trang 30thuế quan, có khi tuỳ thuộc vào cách phân loại và có khi tuỳ thuộc vào những yếu tố khác Một mục tiêu của nhiều quốc gia tại vòng đàm phán Tokyo là cắt giảm chi phí và tốn kém thời gian do các hệ thống định giá rắc rối gây ra Kết quả là một bộ thể lệ (Hiệp định phụ) mang tên Hiệp định về việc thực thi Điều VII (Điều khoản khống chế thủ tục định giá hải quan) đã ra đời Sau khi được tu chính, bộ thể lệ này trở thành một phần của văn kiện uỷ quyền trọn gói (Phụ lục 1A của WTO) vào năm 1994 và như thế ràng buộc đối với mọi thành viên WTO Tại Mỹ, thể lệ này thay thế cho hệ thống định giá cổ lỗ và rắc rối trước
đó Kết quả là số vụ khởi kiện về cách định giá của hải quan giảm xuống hẳn Luật pháp của WTO không chỉ ảnh hưởng đến luật pháp Hoa Kỳ thông qua việc áp dụng của các cơ quan Hoa Kỳ có thẩm quyền mà còn ảnh hưởng gián tiếp thông qua việc khiếu nại của những nước có liên quan đến Hoa Kỳ Các thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO được áp dụng rộng rãi và có lẽ là một bộ phận ngày càng quan trọng của bang giao kinh tế quốc tế Kể từ cuối năm 1996 đến năm 1999, đã có 64 kiếu nại được đưa ra liên quan đến 44 vấn đề lớn Trong
số đó, 14 vụ đã được giải quyết minh bạch, 2 vụ đã hoàn tất (lên đến giai đoạn kháng án) [11, tr.64] Trong hai vụ đó có vụ "Mỹ- các tiêu chuẩn cho xăng thông thường và tái chế" về những khiếu nại của Venezuela và Braxin Các kết quả điều tra của Ban trọng tài và kháng án kết luận rằng Mỹ phải thay đổi luật cho phù hợp với những nghĩa vụ của Mỹ Một ví dụ nữa liên quan đến Luật bổ sung Byrd Luật bồi thường phá giá và trợ giá, thường được gọi tắt là Luật bổ sung Byrd, được Tổng thống Mỹ ký ban hành tháng 10 năm 2000, quy định chia tiền thu được từ thuế chống phá giá và thuế chống trợ giá cho chính các công ty Mỹ
đã khởi kiện Số tiền được chia theo Luật này năm 2002 và 2003 tương ứng khoảng 207 và 270 triệu USD Đây cũng chính là lý do khiến các công ty Mỹ ngày càng lạm dụng Luật thuế chống phá giá và Luật thuế chống trợ giá Vì vậy, ngày 16/1/2003, WTO đã ra phán quyết cuối cùng khẳng định Luật bổ sung Byrd vi phạm các quy định của WTO và buộc Hoa Kỳ phải huỷ bỏ Luật này Trong dự toán ngân sách năm tài chính 2004, Chính quyền Bush đã đề nghị Quốc hội huỷ bỏ luật này, song cho đến nay vẫn chưa có phản ứng gì từ phía
Trang 31Quốc hội Hoa Kỳ Một số nước đã bắt đầu áp thuế nhập khẩu đối với một số hàng nhập từ Hoa Kỳ để trừng phạt nước này không thực hiện phán quyết của WTO liên quan đến Luật bổ sung Byrd [16]
1.3 TÁC ĐỘNG CỦA PHÁP LUẬT HOA KỲ VỀ HÀNG HOÁ NHẬP KHẨU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VÀO THỊ TRƯỜNG HOA KỲ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Chúng ta có thể thấy, từ khi có Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ, Việt Nam đã được hưởng quy chế tối huệ quốc hay còn được gọi là chế độ thương mại bình thường tương đương với các nước đã là thành viên WTO về mặt thương mại (bắt đầu từ ngày 10/12/2001) Chỉ có điểm khác đó là chế độ áp dụng đối với Việt nam có thể phải xem xét lại hàng năm theo kết quả xét miễn
áp dụng điều khoản Jackson- Vanik Do đó, thuế nhập khẩu đối với hàng hoá của Việt Nam giảm bình quân từ 40- 70% xuống còn 3- 7%, lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ đã tăng đáng kể
Tổng giá trị hàng Việt Nam nhập khẩu vào Hoa Kỳ
(Đơn vị tính: triệu USD)
(Nguồn:Trang tin điện tử của Hội đồng thương mại Việt- Mỹ- http://www.usvtc.org)
Tuy nhiên, việc xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường này cũng
có khó khăn do sự tác động của chế độ pháp lý đối với hàng hoá nhập khẩu vào
Trang 32Hoa Kỳ không phải lúc nào cũng thuận lợi Chế độ pháp lý đối với hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ nhiều khi gây ra những khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam như sau:
- Phải giảm lượng hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ
Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ đã được ký kết đã tạo điều kiện thuận lợi cho danh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng hoá vào Mỹ với mức thuế thấp Tuy nhiên, sự tồn tại của hàng loạt các quy phạm pháp luật phục vụ cho chính sách bảo hộ mậu dịch đã làm cho lượng hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ của doanh nghiệp Việt Nam nhiều khi phải giảm đáng kể Ví dụ như khi các cơ quan
Mỹ áp thuế chống bán phá giá tôm đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam, lượng tôm xuất khẩu sang Mỹ giảm hẳn Số liệu tháng 6/2004 cho thấy, trong thời gian này, Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ 3.300 tấn, giảm hơn 5.000 tấn so với cùng kỳ năm 2003 [25] Hơn nữa, không phải ngẫu nhiên mà
Bộ Thương mại Việt Nam luôn khuyến cáo các hiệp hội ngành hàng cần điều tiết lượng hàng sang Mỹ, việc xuất khẩu vào Mỹ cần được duy trì ở nhịp độ đều đặn, tránh xuất khẩu ồ ạt vào Mỹ dẫn đến bị kiện bán phá giá
Trong khi các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Hoa Kỳ như thuỷ sản, dệt may đứng trước nguy cơ phải giảm lượng hàng nhập khẩu vào
Mỹ do bị áp thuế chống phá giá, do phải theo cơ chế hạn ngạch thì các mặt hàng khác của Việt Nam lại đứng trước khó khăn không dám xuất khẩu sang thị trường này do yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật cao mà doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được Ví dụ như hiện tại, chưa có một doanh nghiệp da giày Việt Nam nào áp dụng việc quản lý theo tiêu chuẩn SA8000- một tiêu chuẩn về nhân công lao động [10, tr.205], một trong những điều kiện quan trọng để thâm nhập thị trường Hoa Kỳ Ngay như giám đốc công ty Vietek, doanh nghiệp đã làm lớn mạnh thương hiệu sản phẩm điện tử VTB, cũng đã phải khẳng định: “Phải mất vài năm nữa chúng tôi mới dám đưa thương hiệu VTB qua thị trường Mỹ” [26] Mặt khác, do pháp luật của Hoa Kỳ về hàng hoá nhập khẩu quy định rất chặt chẽ về bao bì, nhãn mác, thương hiệu…khiến nhiều doanh nghiệp Việt Nam không tích cực xuất khẩu hàng hoá vào thị trường này khi chi phí xuất
Trang 33khẩu quá cao Ví dụ: Theo quy định mới của Luật về An ninh nông nghiệp và phát triển nông thôn của Hoa Kỳ, kể từ ngày 30/9/2004, các mặt hàng thuỷ sản bán tại các cửa hàng bán lẻ của Mỹ bắt buộc phải có nhãn xuất xứ và ghi rõ sản phẩm được đánh bắt tự nhiên hay nuôi trồng Đối với các sản phẩm nông nghiệp khác như rau quả, thịt gia súc thì chỉ phải ghi nhãn xuất xứ và thời hạn áp dụng cho các sản phẩm này được lùi đến tận ngày 30/9/2006 Bộ Nông nghiệp Hoa
Kỳ ước tính khi thực hiện quy định này sẽ khiến các nhà sản xuất và tiêu dùng phải tiêu tốn 582 triệu đến 3,9 tỷ USD trong những năm đầu thực hiện [25] Điều này sẽ gây khó khăn rất lớn cho doanh nghiệp Việt Nam trong tình hình vốn đầu tư còn hạn hẹp Có thể nói, thị trường Mỹ là thị trường gần như đã đạt đến chuẩn mực quốc tế về mọi vấn đề, vì vậy, không phải doanh nghiệp nào cũng đủ tiềm lực để xuất khẩu hàng hoá vào Mỹ
Một vấn đề nữa liên quan đến tập quán thương mại trong mua bán hàng dệt may là việc Mỹ có thói quen thường yêu cầu mua hàng theo điều kiện FOB, tức
là mua thẳng hàng thành phẩm Như vậy, doanh nghiệp Việt Nam phải đảm nhiệm từ công đoạn tổ chức nguồn nguyên liệu, sản xuất, cho tới khâu bao bì, đóng gói giao cho khách hàng Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến ngành may mặc của Việt Nam vốn chủ yếu kinh doanh theo phương thức gia công xuất khẩu (Vì một mặt, các doanh nghiệp Việt Nam chưa tự đáp ứng được nguyên liệu chất lượng cao, thiết kế mẫu hàng phục vụ nhu cầu sản xuất hàng xuất khẩu; mặt khác, kinh doanh theo phương thức gia công xuất khẩu ít rủi ro hơn)
- Luôn đứng trước nguy cơ bị khởi kiện
Các doanh nghiệp Việt Nam cũng như tất cả các doanh nghiệp khác đang xuất khẩu hàng vào Mỹ luôn đứng trước nguy cơ bị kiện chống bán phá giá, hoặc bị kiện về chất lượng hàng hoá… Ví dụ như đồ gỗ của Việt Nam đang được Bộ Thương mại coi là một trong những mặt hàng chủ lực xuất khẩu sang Hoa Kỳ; tuy nhiên, mặt hàng này đang trong tầm ngắm của Luật bán phá giá Hoa Kỳ Hiện sản phẩm đồ gỗ Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 1% trong số hàng nội thất nhập khẩu của Mỹ Tuy nhiên, nếu cứ phát triển với tốc độ như hiện nay (khoảng 2 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu) thì đồ gỗ Việt Nam xuất vào Mỹ năm
Trang 342004 sẽ tăng nhanh và đạt tới ngưỡng 3% Ngưỡng này có thể sẽ bị xem xét áp thuế chống bán phá giá vì đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp của
Mỹ
- Luôn trong tình thế bị động, chịu nhiều rủi ro
Cho dù được hưởng các ưu đãi thuế quan khi nhập khẩu hàng hoá vào Hoa
Kỳ nhưng trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp Việt Nam phải chịu các biện pháp rào cản thương mại được pháp luật Hoa Kỳ qui định chặt chẽ Danh sách các quy phạm pháp luật quy định các biện pháp này không phải là ít, ví dụ như:
an toàn tiêu dùng, bảo vệ động vật, bảo vệ môi trường, bảo vệ thực vật, bao bì, bệnh tật, cạnh tranh không lành mạnh, chống gian lận, chống luật cấm vận, chống phá giá, chống trợ cấp, chất độc hại, chứng từ nhập khẩu, chất dễ cháy, dịch bệnh, giám định, gian lận thương mại, hàm lượng dinh dưỡng, hàng độc hại, hàng nguy hiểm, hạn ngạch, lao động cưỡng bức, mác hàng hoá, nhãn hàng hoá, quyền sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ, xuất xứ… Với hàng loạt các biện pháp này, doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá vào thị trường Hoa Kỳ luôn trong tình thế bị động khi có thể bị khởi kiện, bị đánh thuế cao, bị cấm nhập khẩu… bất kỳ lúc nào
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
1 Hàng hoá nhập khẩu trong phạm vi nghiên cứu của luận văn là hàng hoá hữu hình dịch chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm phục vụ mục đích sản xuất, tiêu dùng
2 Hàng hoá nhập khẩu có hai tác động ngược chiều lên thị trường nước nhập khẩu, hai tác động này song song tồn tại trong thực tế và xuất phát từ đây, các quốc gia có hai xu hướng điều chỉnh lĩnh vực nhập khẩu hàng hoá: xu hướng tự
do hoá thương mại và xu hướng bảo hộ mậu dịch Hai xu hướng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và chúng được sử dụng kết hợp với nhau, tuỳ theo các điều kiện và đặc điểm cụ thể
3 Xuất phát từ các đặc tính riêng có của pháp luật, chính phủ điều tiết hàng hoá nhập khẩu trên thực tế thông qua hình thức pháp lý là các quy phạm pháp
Trang 35luật Một hệ thống những quy tắc và những điều luật mà nhà nước áp dụng để điều chỉnh hoạt động nhập khẩu hàng hoá, bao gồm cả quá trình ban hành và thực thi pháp luật, nhằm thực hiện các mục tiêu xác định trong lĩnh vực ngoại thương trong một thời kỳ nhất định phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của đất nước tạo thành một chế độ pháp lý đối với hàng hoá nhập khẩu
4 Các bộ phận cấu thành chế độ pháp lý đối với hàng hoá nhập khẩu vào Hoa
Kỳ bao gồm: các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động nhập khẩu hàng hoá vào Hoa
Kỳ, các quy định pháp luật về hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ, các quy định của các hiệp định song phương và đa phương, tập quán thương mại và án lệ Các
bộ phận này không bất biến mà luôn vận động, biến đổi dưới tác động của các yếu tố bên ngoài, bao gồm các yếu tố chủ yếu sau: đặc điểm của nền kinh tế Hoa
Kỳ, chính sách đối ngoại của chính quyền, môi trường chính trị, xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới và hệ thống pháp luật của Tổ chức thương mại thế giới WTO
5 Pháp luật Hoa Kỳ về hàng hoá nhập khẩu có tác động hai chiều đến hoạt động xuất khẩu hàng hoá vào thị trường Hoa Kỳ của các doanh nghiệp Việt Nam; một mặt, thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa hai nước, mặt khác lại làm giảm lượng hàng nhập khẩu của Việt Nam vào Hoa Kỳ, khiến các doanh nghiệp Việt Nam luôn trong tình thế bị động, chịu nhiều rủi ro…
Trang 36CHƯƠNG 2 MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
HOA KỲ VỀ HÀNG HOÁ NHẬP KHẨU
Các quy định của pháp luật Hoa Kỳ về hàng hoá nhập khẩu có rất nhiều Tuy nhiên, dưới đây, luận văn chỉ nghiên cứu một số quy định của pháp luật Hoa Kỳ về hàng hoá nhập khẩu có liên quan trực tiếp và chủ yếu đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam như thủ tục nhập khẩu, các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật đối với hàng hoá, các qui định về quyền sở hữu trí tuệ, các qui định về thuế suất và các yêu cầu đối với những mặt hàng bị kiểm soát chặt chẽ
2.1 CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ VÀO HOA KỲ
Thủ tục nhập khẩu hàng hoá là các bước công việc theo quy định mà người nhập khẩu hoặc người được người nhập khẩu uỷ quyền làm trực tiếp với cơ quan cửa khẩu nơi hàng đến
Nói chung, mọi hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ đều phải làm thủ tục hải quan trừ các lô hàng có trị giá dưới 200 USD Những lô hàng có trị giá dưới
1250 USD được coi là nhỏ và thủ tục hải quan đòi hỏi đơn giản hơn nhiều so với các lô hàng lớn, đơn giản chỉ cần vận đơn, hoá đơn và bản kê đóng gói hàng hoá Nếu trị giá hàng hoá trên 1250 USD thì phải làm thủ tục hải quan chính thức [22] Thông thường nhà nhập khẩu Hoa Kỳ sử dụng môi giới hải quan để làm thủ tục này Họ có thể khai báo qua hệ thống ABI (Automated Broker Interface) rồi môi giới hải quan làm tiếp các thủ tục còn lại
Ngoài thủ tục với Hải quan, người nhập khẩu còn phải làm thủ tục với các
cơ quan khác tuỳ theo từng loại hàng hoá Ví dụ, các mặt hàng chịu sự kiểm soát của cơ quan Quản lý thực phẩm và thuốc bệnh (FDA), cần phải liên hệ với đại diện FDA gần nhất; hoặc các mặt hàng như rượu, thuốc lá, vũ khí, sản phẩm động vật hoang dã (lông, da, ), ô tô, và các hàng hoá do các cơ quan chuyên ngành liên bang quản lý
Trang 37Người nhập khẩu ở Hoa Kỳ có thể điền 2 tờ khai: tờ khai hàng hoá và tờ khai để tính thuế và thống kê thông qua internet
Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày hàng đến cảng Hoa Kỳ, người nhập khẩu phải xuất trình các chứng từ cho Hải quan như: Manifest nhập khẩu (Entry Maniest), hoặc đơn xin rút hàng ngay (Application and Special Permit for immediate Delivery (Custom Form 3461), hoặc các form khác theo yêu cầu của Hải quan, bằng chứng về quyền nhập cảnh hàng hoá, hoá đơn thương mại hoặc Pro-forma invoice, packing lists, các chứng từ khác để xác định nguồn gốc hàng hoá…
Hoa Kỳ cũng quy định đối với một số mặt hàng, người nhập khẩu có thể nhận hàng ngay lập tức sau khi hàng đến cảng Trong trường hợp này, người nhập khẩu làm đơn xin phép nhận hàng ngay đối với một số loại hàng hoá sau:
- Hàng đến từ Canada hoặc Mehicô, nếu được Hải quan chấp nhận
- Rau quả tươi từ Canada hoặc Mehicô chuyển tải từ vùng biên giới đến kho người nhập khẩu trong phạm vi cảng
- Hàng của cơ quan chính phủ Hoa Kỳ
Trang 38pháp không, ví dụ: thực phẩm, đồ uống phải phù hợp quy định của Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm (FDA) Việc kiểm tra ma tuý đòi hỏi những biện pháp đặc biệt và có thể phải kiểm hoá cả bên trong và vỏ ngoài kiện hàng, container Hàng dệt may được coi là nhóm hàng nhạy cảm (sensitive-trade) và
có thể bị kiểm hoá chặt chẽ hơn các mặt hàng khác
Nói chung, khi nói đến thủ tục nhập khẩu hàng hoá người ta hay chú ý đến
cơ chế giấy phép nhập khẩu tức là cách thức người nhập khẩu xin các loại giấy
tờ của cơ quan có thẩm quyền xác nhận được phép nhập hàng hoá Hiệp định về các thủ tục cấp phép nhập khẩu (ILP) của Tổ chức thương mại thế giới WTO quy định rằng các cơ chế giấy phép nhập khẩu này phải đơn giản, rõ ràng và minh bạch Ví dụ, Hiệp định qui định rằng chính phủ các nước phải công bố thông tin đầy đủ để người kinh doanh có thể biết vì sao cần xin giấy phép và xin như thế nào Một số giấy phép phải mặc nhiên được cấp ngay khi đơn xin phép
đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện Hiệp định nêu ra các tiêu chí áp dụng trong trường hợp này sao cho các thủ tục được áp dụng không gây hạn chế đối với thương mại [12, tr 111] Với các qui định của pháp luật Hoa Kỳ về thủ tục nhập khẩu hàng hoá, có thể nói rằng, người nhập khẩu phải cần rất nhiều loại giấy phép nhập khẩu của các cơ quan quản lý như Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm (FDA), Cơ quan giám định động- thực vật (APHIS), Cơ quan giám định an toàn thực phẩm… Tuy nhiên, về tổng thể, chúng ta có thể thấy rằng thủ tục hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ mang tính đơn giản và tiện ích bởi nước này có nền khoa học kỹ thuật phát triển cao Việc ứng dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào quy trình thủ tục giúp việc nhập khẩu hàng hoá nhanh gọn Hơn nữa, từ khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Hoa Kỳ phải tuân thủ các quy định của nhiều hiệp định điều chỉnh những vấn đề
kỹ thuật hoặc pháp lý gây trở ngại cho thương mại, trong đó có cả Hiệp định về các thủ tục cấp phép nhập khẩu nói trên
Ngoài ra, đối với nhà nhập khẩu, quy trình xác định trị giá hải quan đối với một sản phẩm có thể gây nhiều rắc rối tương tự như quy trình thu thuế Trước
Trang 39khi có Hiệp định về định giá hải quan (1994), luật pháp Mỹ rất là rắc rối khi quy định tới 9 phương pháp định giá để xác định trị giá hải quan Đến khi thực thi theo Hiệp định nói trên thì pháp luật Hoa Kỳ liên quan đến vấn đề này đã trở nên thống nhất, khách quan, phù hợp với thực tiễn và không còn cơ sở cho việc
sử dụng những mức giá tuỳ tiện hay giả định Do đó, số vụ kiện về cách định giá của hải quan đã giảm hẳn
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, thủ tục nhập khẩu hàng hoá vào Hoa
Kỳ thường do phía đối tác tiến hành Tuy nhiên, việc nghiên cứu thủ tục này là
vô cùng quan trọng để góp phần giảm thiểu đến mức tối đa những rủi ro khi xuất hàng vào Hoa Kỳ, tránh trường hợp hàng bị xuất trả lại hoặc có sai sót về mặt
Về vấn đề này, với mục đích từng bước tự do hoá thương mại, Tổ chức thương mại thế giới luôn có tham vọng cắt giảm dần các hàng rào thuế quan và phi thuế quan của chính phủ Theo đó, trong lịch sử các vòng đàm phán của tổ chức này, mục đích thứ nhất- tức là cắt giảm các hàng rào thuế quan- có thể đạt được thông qua các lộ trình cắt giảm theo thoả thuận giữa các thành viên Tuy nhiên, mục đích này lại rất khó có thể thực hiện được bởi chính phủ trong một chừng mực nào đó có thể sử dụng các công cụ phi thuế làm rào cản đối với hàng hoá nhập khẩu Một ví dụ đơn giản là mức giới hạn 10% đối với thuế quan đánh lên xe đạp đã bị một chính phủ tránh né bằng cách đặt hạn ngạch lên xe đạp nhập khẩu, do đó đã làm hỏng mục tiêu tự do hoá thương mại của ràng buộc thuế quan Chính vì thế, mục đích thứ hai đã được đặt ra Đó là cắt giảm các hàng rào phi thuế quan Trên thực tế, việc cắt giảm các hàng rào phi thuế quan này là rất khó khăn
Trang 40Trong lĩnh vực về các qui định tiêu chuẩn chất lượng và kỹ thuật của hàng hoá nhập khẩu, các nước thường đưa ra yêu cầu hàng hoá nhập khẩu phải tuân thủ các tiêu chuẩn bắt buộc mà họ áp dụng để bảo vệ sức khỏe và an toàn của dân chúng hoặc để bảo vệ môi trường Để giải quyết vấn đề này, Điều 20 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT cho phép các nước được can thiệp vào trao đổi hàng hoá nhằm bảo vệ sức khoẻ và cuộc sống của con người
và động vật hoặc bảo tồn các loài thực vật, với điều kiện các nước không được phân biệt đối xử và không được lạm dụng nhằm bảo hộ trá hình Ngoài ra, hiện
Tổ chức thương mại thế giới WTO có riêng hai Hiệp định điều chỉnh mức độ an toàn của lương thực, sức khoẻ và sự an toàn cho các loài động thực vật, cũng như tiêu chuẩn kỹ thuật đối với một số sản phẩm WTO hy vọng đảm bảo được rằng các tiêu chuẩn bắt buộc đối với các sản phẩm cần phải được các nước áp dụng sao cho không tạo ra các cản trở không cần thiết cho thương mại quốc tế Hơn thế nữa, các tiêu chuẩn bắt buộc này phải được dựa trên các thông tin và chứng cứ khoa học Đó là Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT) và Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS)
Các hiệp định nói trên đều cho phép các nước xây dựng cho mình những tiêu chuẩn riêng Theo đó, Hoa Kỳ cũng qui định rất nhiều các tiêu chuẩn chất lượng đối với hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ, từ các hàng hoá phức tạp như máy móc, thiết bị cho đến những sản phẩm đơn giản như nông sản, từ các hàng hoá là nguyên, nhiên vật liệu đến những hàng hoá tiêu dùng, từ đồ chơi cho trẻ
em đến hàng hoá dành cho người lớn… Ngay như việc nhập khẩu một số hàng nông sản (ví dụ như: cà chua, xoài, cam, nho, hạt tiêu, khoai tây, dưa chuột, quả trứng gà, hành khô, các quả đóng hộp như: mận, ô liu đóng hộp) cũng phải đảm bảo các yêu cầu về nhập khẩu của Mỹ về chủng loại, kích cỡ, chất lượng và độ chín (7 U.S.C.608(e)) Các hàng này phải qua giám định và chứng chỉ giám định phải do Cơ quan giám định và an toàn thực phẩm (Food Safety & Inspection Service) thuộc Bộ Nông nghiệp cấp Các điều kiện hạn chế khác có thể được Cơ quan Giám định thực vật và động vật (Animal and plant health inspection service- APHIS) thuộc Bộ Nông nghiệp áp đặt theo điều luật về Kiểm dịch cây