1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hướng dẫn học sinh đọc hiểu đoạn trích "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" từ đặc trưng thể loại và phong cách nghệ thuật kịch của Lưu Quang Vũ

122 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRƯƠNG THỊ HỒNG VÂN HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC HIỂU ĐOẠN TRÍCH “HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT” TỪ ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT K

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRƯƠNG THỊ HỒNG VÂN

HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC HIỂU ĐOẠN TRÍCH

“HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT” TỪ ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT KỊCH

CỦA LƯU QUANG VŨ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRƯƠNG THỊ HỒNG VÂN

HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC HIỂU ĐOẠN TRÍCH

“HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT” TỪ ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT KỊCH

CỦA LƯU QUANG VŨ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (bộ môn Ngữ văn)

Mã số: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN ÁI HỌC

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp

đỡ Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy giáo, Cô giáo của trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới TS Nguyễn Ái Học –

người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

và thực hiện đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các bạn đồng nghiệp, các học viên trong lớp K8 Ngữ văn và các thầy cô giáo, các em học sinh trường THPT Yên Hòa đã nhiệt tình giúp đỡ và đóng góp ý kiến cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã dành cho tôi sự quan tâm khích lệ và chia sẻ trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng luận văn khó tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn !

Hà Nội, tháng 11 năm 2014

Tác giả

Trương Thị Hồng Vân

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ĐHSP: Đại học Sư phạm GS: Giáo sư

NXB: Nhà xuất bản PGS: Phó giáo sư SGK: Sách giáo khoa SGV: Sách giáo viên TS: Tiến sĩ

HS: Học sinh GV: Giáo viên

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng vi

Danh mục các sơ đồ vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 11

1.1 Các vấn đề chung về đọc hiểu tác phẩm văn chương 11

1.1.1 Khái niệm đọc, hiểu và đọc hiểu văn bản 11

1.1.2 Các bước đọc hiểu tác phẩm văn chương 14

1.2 Kịch và đặc trưng thể loại kịch 16

1.2.1 Khái niệm kịch 16

1.2.2 Đặc trưng thể loại kịch 17

1.3 Phong cách nghệ thuật và những đặc trưng của phong cách nghệ thuật kịch Lưu Quang Vũ 21

1.3.1 Phong cách nghệ thuật 21

1.3.2 Lưu Quang Vũ - “nhà viết kịch xuất sắc của thời kì hiện đại” 22

1.3.3 Những đặc trưng của phong cách nghệ thuật kịch Lưu Quang Vũ 24

1.3.4 “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” – tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật kịch của Lưu Quang Vũ 38

1.4 Mối quan hệ giữa đọc hiểu tác phẩm văn chương với đặc trưng thể loại kịch và phong cách nghệ thuật kịch Lưu Quang Vũ 41

1.4.1 Mối quan hệ giữa đọc hiểu tác phẩm văn chương và thể loại 41

1.4.2 Mối quan hệ giữa phong cách nghệ thuật và đọc hiểu tác phẩm văn chương 41

1.4.3 Mối quan hệ giữa phong cách nghệ thuật của nhà văn và thể loại văn học 42

Tiểu kết chương 1 44

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP .45

2.1 Thực trạng dạy học văn bản “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” – Lưu Quang Vũ ở trường THPT 45

Trang 6

2.1.1 Mục đích khảo sát 45

2.1.2 Đối tượng khảo sát 45

2.1.3 Phương pháp khảo sát 46

2.1.4 Quá trình khảo sát và kết quả 46

2.2 Một số yêu cầu có tính nguyên tắc 50

2.3 Biện pháp hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” từ đặc trưng thể loại và phong cách nghệ thuật kịch Lưu Quang Vũ 51

2.3.1 Tạo tâm thế tích cực, chủ động, chờ đón giờ học của học sinh 51

2.3.2 Biện pháp hướng dẫn học sinh khai thác, lựa chọn thông tin về kịch gia Lưu Quang Vũ, trong đó đặc biệt chú trọng đến phong cách nghệ thuật 53 2.3.3 Hướng dẫn học sinh đọc phân vai sát hợp đặc trưng thể loại kịch, với giọng kịch giàu triết lí, mang cảm hứng thế sự và giàu chất thơ 54

2.3.4 Hướng dẫn học sinh tái hiện, kiến tạo hình tượng nghệ thuật 57

2.3.5 Sử dụng hệ thống câu hỏi phù hợp để giúp học sinh tiếp cận phong cách nghệ thuật kịch Lưu Quang Vũ thể hiện trong văn bản 61

2.3.6 Tạo bầu không khí đối thoại, dân chủ qua hình thức “phỏng vấn”, làm việc hợp tác, thảo luận nhóm 62

2.3.7 Giảng bình để chiếm lĩnh những giá trị của văn bản "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" 65

2.3.8 Hướng dẫn học sinh so sánh để khắc sâu và mở rộng tri thức về văn bản “Hồn Trương Ba, da hàng thịt" 67

2.3.9 Nghiên cứu để khái quát, mở rộng về nội dung và nghệ thuật tác phẩm “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” và phong cách nghệ thuật kịch của Lưu Quang Vũ 70

Tiểu kết chương 2 72

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73

3.1 Mô tả thực nghiệm 73

3.2 Tiến trình thực nghiệm 74

3.3 Thiết kế bài soạn thực nghiệm 74

3.4 Kết quả thực nghiệm 102

Trang 7

3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 104

Tiểu kết chương 3 105

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 106

1 Kết luận .106

2 Khuyến nghị .108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Bảng khảo sát lực học ban đầu của học sinh 74 Bảng 3.2: Kết quả kiểm tra lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 103

Trang 9

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa đọc hiểu văn bản văn học – phong cách

nghệ thuật – thể loại của văn bản văn học 43

Sơ đồ 2.1: Graph khuyết tóm tắt đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” 59

Sơ đồ 2.2: Graph đầy đủ tóm tắt đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” 60

Sơ đồ 3.1 Giá trị đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” 100

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Tại Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Tổng bí

thư Nguyễn Phú Trọng đã kí ban hành Nghị quyết với nội dung: “Đổi mới

căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

và hội nhập quốc tế” Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu của đổi mới lần

này là: Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân; giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả

Hiện nay ngành giáo dục đang thực hiện công cuộc cải cách và đổi mới

để đưa giáo dục Việt Nam vươn ra khu vực và thế giới Nhiều phương pháp giảng dạy sai lầm và thiếu hiệu quả đã và đang được thay thế bằng những phương pháp đúng đắn và hiệu quả hơn Việc hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản đang thay thế cho phương pháp giảng văn trước đây Thay thế phương pháp giảng văn truyền thống bằng đọc hiểu văn bản là một việc làm đúng đắn, theo kịp với phương pháp dạy học hiện đại trên thế giới Nếu trước đây, học văn là thầy đọc giảng, trò chép; thầy áp đặt cách hiểu của mình cho học sinh thì hiện nay học sinh trở thành người tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn chương Phương pháp hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản là phương pháp nhằm giúp cho học sinh có khả năng lĩnh hội được tri thức một cách chủ động, sáng tạo và đạt hiệu quả cao nhất, tạo nên sự phát triển toàn diện về kĩ năng cũng như tâm lí, nhận thức, nhân cách của người học Tuy nhiên, trong thực tế, việc thay đổi phương pháp giảng dạy cũ chủ yếu là thuyết giảng sang phương pháp giảng dạy mới là một điều không đơn giản Một điều dễ thấy trong nhiều trường phổ thông hiện nay

Trang 11

là tuy phương pháp đọc - hiểu văn bản đã được áp dụng từ khá lâu song các giáo viên rất lúng túng khi dạy một giờ đọc hiểu văn bản theo đúng nghĩa Nhiều giáo viên chưa nhận thức rõ ràng đọc hiểu là như thế nào vì vậy giờ học văn trở thành giờ tập đọc, câu hỏi rời rạc, nhàm chán khiến học sinh không hiểu, không hứng thú Trước thực trạng như vậy, chúng tôi muốn góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học văn hiện nay, giúp người dạy người học có cái nhìn rõ hơn về hoạt động đọc hiểu văn bản văn học

Tác phẩm văn học nào cũng tồn tại trong một hình thức thể loại nhất định Dạy học đọc hiểu văn bản để giúp học sinh có thể tiếp nhận được các lớp thông tin tiềm ẩn sau bề mặt ngôn từ, tất yếu phải tháo gỡ cấu trúc bề mặt

ấy một cách hợp lí, đúng quy luật của sáng tạo văn chương Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại sẽ giúp học sinh không chỉ hiểu một văn bản cụ thể trong chương trình mà còn có thể tự đọc hiểu những văn bản cùng loại khác trong đời sống Chính vì vậy, dạy học văn theo đặc trưng thể loại mặc dù đã sớm được nghiên cứu nhưng vẫn cần được tìm tòi, suy ngẫm sâu hơn trong quá trình đổi mới nâng cao hiệu quả của phương pháp dạy học văn Điều đó càng trở nên đúng đắn khi những kịch bản văn học Việt Nam sau một thời gian “vắng bóng” đã “có mặt trở lại” trong chương trình Ngữ văn phổ thông

để hoàn thiện năng lực đọc hiểu văn bản kịch cho học sinh Khai thác sức mạnh riêng bằng chính đặc trưng của thể loại kịch trong quá trình giáo dục và đào tạo vừa phù hợp quy luật của sáng tạo văn học, vừa đáp ứng được những yêu cầu của tiến trình vận động đổi mới cách dạy học văn trong nhà trường phổ thông hiện nay

Lưu Quang Vũ là nhà viết kịch xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại,

có những đóng góp to lớn cho nền sân khấu nước nhà Với khả năng sáng tạo phi thường, trong gần 10 năm, Lưu Quang Vũ đã viết được gần 50 kịch bản và hầu hết trong số đó đều đã được dàn dựng Ngay khi ra đời, các vở kịch của ông đã nhanh chóng được công chúng đón nhận nồng nhiệt Cho đến nay, sau

Trang 12

một độ lùi thời gian cần thiết, nhiều vở kịch của ông vẫn có sức sống mãnh liệt trong lòng công chúng Lưu Quang Vũ có được thành công đó là bởi những sáng tác của ông không chỉ đáp ứng được nhu cầu của công chúng đương thời

mà còn đề cập đến những vấn đề của muôn đời Những sáng tác đó đã khẳng định được giá trị nội dung và nghệ thuật của mình qua phép thử thời gian Trong các sáng tác của Lưu Quang Vũ, chúng ta không thể không nhắc đến vở

kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” Đây là một trong những vở diễn được

dàn dựng nhiều nhất, được diễn ở nhiều nước trên thế giới và cũng là vở kịch thu hút sự chú ý của công chúng hơn cả Bắt đầu từ năm học 2008 – 2009, văn

bản “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” được đưa vào chương trình phổ thông và

được học ở lớp 12 Đến nay, tuy văn bản không còn mới mẻ, song ở các nhà trường, nhiều giáo viên còn lúng túng khi hướng dẫn học sinh đọc hiểu đoạn trích trên sao cho hiệu quả Vì vậy việc dạy và học đoạn trích này theo phương pháp đổi mới ra sao là một điều rất cần được quan tâm Chính điều này đặt ra cho người viết suy nghĩ cần phải nghiên cứu, tìm hiểu để có một hướng dạy

học văn bản “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” sao cho hợp lí và hiệu quả nhất

Mỗi tác phẩm văn học là đứa con tinh thần của nhà văn do vậy những tác phẩm xuất sắc luôn là sự biểu hiện cụ thể phong cách nghệ thuật của nhà văn

“Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là một trong những kịch bản thành công nhất,

thể hiện rõ nét những đặc điểm của kịch Lưu Quang Vũ, gắn liền với tên tuổi Lưu Quang Vũ Do vậy, tìm hiểu kịch bản này, chúng ta không thể tách rời việc tìm hiểu phong cách nghệ thuật kịch của Lưu Quang Vũ nói chung Việc tìm hiểu phong cách nghệ thuật kịch Lưu Quang Vũ sẽ là tiền đề quan trọng giúp

giáo viên và học sinh đọc và hiểu văn bản “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”

Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu của luận văn là: HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC HIỂU ĐOẠN TRÍCH “HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT” TỪ ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT KỊCH CỦA LƯU QUANG VŨ

Trang 13

biệt của mình Thậm chí GS Phan Ngọc còn khẳng định: “Lưu Quang Vũ là

nhà viết kịch lớn nhất thế kỉ này của Việt Nam” [49; tr 264]

Lịch sử nghiên cứu về tác gia Lưu Quang Vũ và những tác phẩm kịch của ông đã được bắt đầu ngay khi những tác phẩm của ông ra đời Chúng đã được công chúng đón nhận và đưa ra những nhận xét khác nhau Ngay từ những ngày đầu hàng loạt bài báo, bài nghiên cứu về các tác phẩm của Lưu

Quang Vũ liên tục xuất hiện như: “Sống mãi tuổi 17” hay bài ca về người cộng

sản trẻ tuổi” (Văn nghệ - 3/1980) (Vũ Quang Vinh) ““Nguồn sáng trong đời” một vở diễn đẹp” (Tạp chí sân khấu – 3/1985) (Nguyễn Thị Minh Thái), “Kịch Lưu Quang Vũ những trăn trở về lẽ sống, lẽ làm người” (Tạp chí văn học –

5/1986) (Phan Trọng Thưởng), “Một vở diễn hướng thiện”(Tạp chí sân khấu - 4/1988) (Lam Hồng), “Sự kiện Lưu Quang Vũ” (Tuổi trẻ chủ nhật – 4/1988) (Phong Lê), “Nhân đọc và xem “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”” (Tạp chí văn

học – 1/1989) (Phan Trọng Thưởng),… thậm chí một học giả người Pháp cũng

có lời ngợi ca rất cao đối với kịch tác gia Lưu Quang Vũ: “Moliere ở Việt Nam

tên là Lưu Quang Vũ” (1988) Những kịch bản của Lưu Quang Vũ vẫn còn tiếp

tục được nghiên cứu ngày một sâu rộng hơn bởi cả ngành sân khấu và văn học Tính đến thời điểm năm 2005 – khi PGS TS Lí Hoài Thu và em gái của tác giả Lưu Quang Vũ – PSG.TS Lưu Khánh Thơ in tuyển tập những bài viết những

công trình nghiên cứu về Lưu Quang Vũ trong cuốn: “Lưu Quang Vũ – tác

gia và tác phẩm” thì thư mục mà hai tác giả sưu tầm được đã lên tới con số

238 Đến nay con số đó đã tăng lên rất nhiều Điều đó cho thấy sức sống của những tác phẩm kịch của Lưu Quang Vũ trong lòng công chúng Tác phẩm của

Trang 14

ông sẽ được quan tâm hơn nữa đối với nhà trường phổ thông vì Lưu Quang Vũ

đã có hai tác phẩm được đưa vào chương trình học là “Tôi và chúng ta” (lớp 9) và “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” (lớp 12)

Trong các bài viết của mình, các nhà nghiên cứu có nhắc đến một vài khía cạnh của kịch Lưu Quang Vũ Đáng chú ý là bài viết của Phan Trọng

Thưởng: “Kịch Lưu Quang Vũ những trăn trở về lẽ sống, lẽ làm người” Tác giả đã đề cập đến chất thơ của đề tài, của tư tưởng như một “đặc điểm nổi bật

nhất, quán xuyến sáng tác, làm nên thành công và tạo nên phong cách riêng của anh” [56; tr.142] GS Phan Ngọc cũng chỉ ra một “kịch pháp Lưu Quang Vũ” nhưng do nhiều lí do nên ông chưa thể khảo sát được Đặc biệt, tác giả Vũ

Thị Thanh Hoài đã có những nghiên cứu rất đầy đủ, chính xác về đặc điểm

kịch Lưu Quang Vũ trong luận văn thạc sĩ: “Đặc điểm kịch Lưu Quang Vũ” Tác giả đã cố gắng “làm sáng tỏ những đặc điểm có tính chất quán xuyến, bao

trùm làm nên gương mặt, diện mạo riêng của phong cách kịch Lưu Quang Vũ”

[12; tr.13] Trong công trình của mình, tác giả đã tìm hiểu những đặc điểm tiêu biểu của kịch Lưu Quang Vũ dưới góc độ thể loại kịch Đây là một tư liệu tham khảo quan trọng để chúng tôi tiến hành tìm hiểu kịch và những đặc điểm kịch của Lưu Quang Vũ Tuy nhiên, khác với tác giả Vũ Thị Thanh Hoài, chúng tôi không chỉ tìm hiểu kịch như những tác phẩm văn học đơn thuần mà còn tiến hành tìm hiểu những đặc điểm, tính chất nổi bật, đặc trưng cho phong cách nghệ thuật của ông và dễ hiểu với học sinh nhằm định hướng cho việc đọc - hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông

2.2 Các bài viết về tác phẩm “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” và về vấn đề giảng dạy văn bản trên trong nhà trường phổ thông

Từ xưa đến nay, các bài nghiên cứu, phê bình thường tập trung vào các

vở kịch của Lưu Quang Vũ Trong đó, vở kịch được các nhà nghiên cứu quan

tâm nhất là vở “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” Chúng ta có thể kể tên một

số bài viết tiêu biểu như:

Trang 15

- “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” từ truyện cổ dân gian đến kịch của

Lưu Quang Vũ – xét về mặt tư tưởng triết học Tạp chí sân khấu, số 10/2003

của Đặng Hiển

- Chung quanh vở diễn “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu

Quang Vũ Báo Văn nghệ, số ngày 3/1/1989

- Sự khai thác motip dân gian trong kịch Lưu Quang Vũ của Lưu Khánh Thơ

- Nhân đọc và xem “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” Tạp chí Văn học

Số 1/1989 của Phan Trọng Thưởng

- “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” ở Liên Xô Báo Văn nghệ số ngày

2/6/1990 của Viễn Triều

- Nghĩ về Lưu Quang Vũ nhân xem vở “Hồn Trương Ba, da hàng

thịt”, tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật, số 1/1988 của Trần Việt

- Hồn và xác trong “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” Tạp chí Văn học

và tuổi trẻ Số 2/2009 của Lê Huy Bắc

Ngoài ra các nhà nghiên cứu, phê bình khác cũng có đề cập đến kịch bản trên trong những bài viết của mình như Ngô Thảo, Phạm Vĩnh Cư, …

Trong các bài viết trên, các tác giả đã đưa ra những nhận định, những đánh giá về các tác phẩm Lưu Khánh Thơ nhận xét về triết lí sâu sắc về sự

vạy mượn thân xác của hồn Trương Ba: “Cuộc sống thật đáng quý nhưng

không phải sống thế nào cũng được Sống vay mượn, chắp vá, không có sự hài hòa giữa hồn và xác chỉ đem lại bi kịch cho con người Cuộc sống chỉ có giá trị khi con người được sống đúng là mình, được sống trong một thể thống nhất” [49; tr 317] Nhà nghiên cứu Phan Trọng Thưởng chỉ ra nghĩa tự nó và

nghĩa cho nó của “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”: “…nghĩa tự nó của Hồn

Trương Ba…là sự hoà hợp và ý thức đạo lí về phần hồn và phần xác của con người Còn nghĩa cho nó là cuộc đấu tranh cho sự hoàn thiện nhân cách con người mà chúng ta đang tiến hành hiện nay theo đòi hỏi không chỉ của ý thức đạo lí mà còn của chính nhu cầu tồn tại của con người, là quan niệm nhân sinh trong môi trường đạo đức xã hội mới” [49; tr 346] Tác giả Phạm Vĩnh

Trang 16

Cư lại tìm thấy trong cách kể của Lưu Quang Vũ như “một bi kịch triết lí thời

nay với hai chiều kích đan thoa: chiều kích nhân sinh, xã hội và chiều kích bản thể siêu hình ” [49; tr 272]

Ý kiến của các nhà nghiên cứu đã cho thấy sự quan tâm đến tác phẩm

“Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ Đồng thời qua đó ta cũng

thấy giá trị của tác phẩm Đúng như nhà nghiên cứu Ngô Thảo đã nhận định:

“Cùng với thời gian, có thể nhiều vở diễn phục vụ các yêu cầu kịp thời của Vũ sẽ

bị quên đi Nhưng riêng tôi cứ tin là rồi cái vở kịch mượn tích xưa này rồi sẽ trên sân khấu một thời gian dài nữa” [49; tr.255] Tuy nhiên, hầu hết các ý kiến

đều chỉ dừng lại ở việc chỉ ra một vài đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, nêu ra những nhận định cá nhân về vở kịch hoặc nêu những nhận định về

vở kịch để minh hoạ cho một tính chất nào đó trong kịch của Lưu Quang Vũ Các bài viết, ý kiến đánh giá tuy chưa nhiều và chỉ dừng lại ở góc độ khái quát nhưng là những tư liệu quan trọng cho việc xác định sự thể hiện của đặc điểm

kịch Lưu Quang Vũ trong tác phẩm "Hồn Trương Ba, da hàng thịt"

Từ khi “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” được đưa vào chương trình

phổ thông, tác phẩm bắt đầu nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu PPDH Văn và các nhà giáo Các tác giả đã chỉ ra những giá trị về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm để định hướng giáo viên và học sinh tiếp cận văn bản Tuy nhiên, sự tiếp cận này mới chỉ dừng lại ở việc đi sâu vào văn bản nhưng lại chưa đặt văn bản trong hệ thống những kịch bản của Lưu Quang Vũ để thấy được tính chất đặc trưng của nó, từ đó có hướng dạy học tác phẩm thích hợp

Về phương pháp dạy học đoạn trích trên còn có khóa luận tốt nghiệp

“Dạy học "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" theo đặc trưng thể loại” của Trần

Thị Diệu Linh, ĐHSPHN 2006, “Dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba, da

hàng thịt” (SGK Ngữ văn 12) từ đặc điểm tính thời sự và những giá trị muôn thuở của xung đột kịch Lưu Quang Vũ” của Đặng Thị Mai Hoa,

ĐHSPHN, 2009, “Định hướng đọc hiểu “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” từ

Trang 17

đặc điểm kịch Lưu Quang Vũ”, ĐHSPHN, 2009 của Trương Thị Hồng Vân,

“Tổ chức thảo luận nhóm trong giờ học trích đoạn kịch bản văn học “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ” của Quản Thị Thu Phương,

ĐHSPHN, 2011 Các công trình nghiên cứu này đã đưa ra các biện pháp tiếp cận đoạn trích hoặc từ góc độ thể loại hoặc từ đặc điểm kịch của Lưu Quang

Vũ, hoặc đề xuất một hướng dạy học hiện đại đối với đoạn trích “Hồn

Trương Ba, da hàng thịt” Đó đều là những hướng tiếp cận đúng Tuy nhiên,

những tài liệu nghiên cứu trên còn quá ít ỏi, chưa có tài liệu nào đề xuất việc giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản có sự kết hợp đặc trưng thể loại kịch và phong cách nghệ thuật tác giả Chính vì vậy, việc thực hiện đề

tài “Hướng dẫn học sinh đọc hiểu đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng

thịt” từ đặc trưng thể loại và phong cách nghệ thuật kịch Lưu Quang Vũ”

là cần thiết

3 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu tính khả thi của việc hướng dẫn học sinh lớp 12 đọc hiểu

văn bản “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” từ đặc trưng thể loại và phong cách

nghệ thuật kịch của Lưu Quang Vũ

- Xây dựng biện pháp phù hợp, tích cực trong giờ dạy học đoạn trích

“Hồn Trương Ba, da hàng thịt” nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,

sáng tạo của học sinh lớp 12, góp phần nâng cao chất lượng dạy học tác phẩm văn chương

- Thiết kế bài soạn thực nghiệm: Hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản

“Hồn Trương Ba, da hàng thịt” từ đặc trưng thể loại và phong cách nghệ

thuật kịch của Lưu Quang Vũ

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất: Cơ sở lý luận của đề tài Trong phần này, đề tài sẽ nghiên

cứu về kĩ năng đọc hiểu văn bản văn học, về đặc trưng thể loại kịch và một số đặc điểm nổi bật trong phong cách nghệ thuật kịch Lưu Quang Vũ

Trang 18

Thứ hai: Đánh giá thực trạng và đề xuất biện pháp dạy học văn bản

“Hồn Trương Ba, da hàng thịt”

Thứ ba: Thiết kế giáo án và đưa vào thực nghiệm

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu là quá trình dạy học văn bản “Hồn Trương Ba,

da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ trong chương trình Ngữ văn 12

Đối tượng nghiên cứu là các biện pháp nhằm hướng dẫn học sinh lớp

12 đọc hiểu văn bản “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” từ đặc trưng thể loại và

phong cách nghệ thuật kịch của Lưu Quang Vũ

6 Vấn đề nghiên cứu

Sử dụng những biện pháp nào để hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản

“Hồn Trương Ba, da hàng thịt” từ đặc trưng thể loại và phong cách nghệ

thuật kịch Lưu Quang Vũ

7 Giả thuyết khoa học

Nếu sử dụng một số biện pháp như trong luận văn thì sẽ rèn được kĩ

năng đọc hiểu văn bản “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” từ đặc trưng thể loại

và phong cách nghệ thuật kịch Lưu Quang Vũ, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học văn bản này

8 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Văn bản “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” – Lưu Quang Vũ SGK Ngữ

văn 12, tập 2, Cơ bản, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2011

- Đặc trưng thể loại kịch

- Một số đặc điểm quan trọng trong phong cách nghệ thuật kịch Lưu Quang Vũ

9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa lý luận của đề tài:

Bước đầu xác định được cơ sở lí luận của việc xây dựng những biện

pháp nhằm hướng dẫn học sinh lớp 12 đọc hiểu văn bản “Hồn Trương Ba, da

hàng thịt” từ đặc trưng thể loại và phong cách nghệ thuật kịch Lưu Quang Vũ

Trang 19

- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

+ Nội dung luận văn có thể giúp giáo viên có thêm tư liệu phục vụ việc

giảng dạy văn bản “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ nói

riêng, các tác phẩm kịch nói chung

+ Giúp học sinh có kỹ năng đọc hiểu văn bản từ đặc trưng thể loại kết hợp với phong cách nghệ thuật của tác giả, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông

10 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Sưu tầm, đọc tài liệu, nghiên

cứu về tác giả Lưu Quang Vũ, văn bản “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”; kĩ năng đọc hiểu văn bản

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra, khảo sát

bằng phiếu hỏi, dự giờ đồng nghiệp, tổng kết kinh nghiệm, tham vấn chuyên gia

- Nhóm phương pháp xử lý thông tin: Định lượng, định tính, thống kê

và phân tích thống kê

11 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng và biện pháp

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 20

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Các vấn đề chung về đọc hiểu tác phẩm văn chương

1.1.1 Khái niệm đọc, hiểu và đọc hiểu văn bản

Tác phẩm văn học là kết tinh quá trình tư duy nghệ thuật của nhà văn, biến những biểu tượng, ý nghĩ, cảm xúc của nhà văn thành tác phẩm văn học Đồng thời tác phẩm văn học cũng là một hệ thống ký hiệu thẩm mỹ Nhà văn

là người sinh ra tác phẩm nhưng bạn đọc mới là người quyết định sinh mệnh của tác phẩm Bạn đọc là người mang đến cuộc sống thứ hai cho tác phẩm văn chương khi họ giải mã các ký hiệu ngôn ngữ bằng sự vận dụng tổng hợp các năng lực của bản thân Một tác phẩm văn học có đời sống dài lâu hay ngắn ngủi phụ thuộc vào độc giả Quá trình bạn đọc tiếp xúc, giải mã tác phẩm gọi là quá trình tiếp nhận văn học Học sinh là bạn đọc sáng tạo Lý thuyết tiếp nhận được đề cập ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau nhưng nổi bật là lý thuyết đọc hiểu Vấn đề đọc – hiểu hiện nay đang được các nhà nghiên cứu và các bạn đọc quan tâm và trở thành vấn đề then chốt trong việc dạy và học Ngữ Văn hiện nay

Hiện nay có nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa, lý giải khái niệm đọc – hiểu

GS Đỗ Đức Hiểu trong cuốn “Thi pháp hiện đại” có bài viết về “Đọc

văn chương”, GS khẳng định: “Đọc văn chương nghĩa là tháo gỡ các ký hiệu

văn chương trong văn bản, là tìm hiểu ý nghĩa của tác phẩm thông qua cấu trúc của văn bản (cốt truyện, kết cấu, nhân vật, …) Đọc văn chương nghĩa là chuyển đổi tác phẩm nghệ thuật thành một vũ trụ tình cảm, cảm xúc, tư duy hình tượng riêng của bạn đọc” GS đã chỉ ra cụ thể các khâu của việc đọc

(cảm tưởng, phân tích, đối chiếu, tổng hợp, đánh giá, phát hiện, sang tạo) và phương pháp đọc (a Lựa chọn sách đọc; b.Định hướng đọc để làm gì; c.Đi tìm mã của văn bản; d Biết đánh giá tác phẩm theo định hướng)

GS Phan Trọng Luận trong “Phương pháp dạy học văn” đã nhấn

Trang 21

mạnh đọc là khõu đầu tiờn và là quan trọng nhất, là tiền đề cơ sở thiết yếu

để học sinh cảm thụ sõu sắc một tỏc phẩm văn học Đọc để làm sống dậy những ký hiệu chết, thổi vào đú hơi thở ấm ỏp của cảm xỳc, điệu tõm hồn của mỗi nhà văn

Sỏch Ngữ văn 10 đó đưa ra khỏi niệm: “Đọc – hiểu là phương thức đọc

văn nhằm mục đớch hiểu biết chớnh xỏc cặn kẽ tỏc phẩm văn chương, khỏm phỏ những giỏ trị vật chất (văn húa, xó hội) mới mẻ lớn lao hữu ớch.”

GS Nguyễn Thanh Hựng giải thớch cặn kẽ “Đọc tỏc phẩm văn chương

là giải mó văn bản bằng cỏch đọc được thao tỏc phự hợp, cú cơ sở khoa học chắc chắn”

GS Trần Đỡnh Sử trong bài viết của mỡnh cú định nghĩa:

“Đọc là một tổng hoà của nhiều quá trình, nhiều hành vi nhằm đạt mục

đích nắm bắt ý nghĩa của văn bản”[42; tr.19] Chúng ta có thể đọc bằng nhiều

cách: bằng mắt, bằng miệng, bằng liên tưởng, tưởng tượng, so sánh… để hiểu

được vấn đề trình bày trong văn bản Vậy còn hiểu là gì? “ Hiểu văn bản là

biết về văn bản, thông cảm, đồng cảm với cuộc sống trong văn bản, giải thích, biểu đạt về ý tưởng, cái hay của văn bản” [42; tr.19]

PGS TS Đỗ Ngọc Thống sau khi tham gia nhúm nghiờn cứu Chương

trỡnh đỏnh giỏ học sinh quốc tế (PISA – Program for International Student

Assessment) đó cú một bài viết nhằm giới thiệu cho độc giả cỏch đỏnh giỏ của

quốc tế về năng lực đọc - hiểu Trong bài viết “Pisa đỏnh giỏ năng lực đọc -

hiểu của học sinh như thế nào?” tỏc giả đó dẫn định nghĩa của OECD

(Organisation for Economic Co-operation anh Development) về reading

literacy: “Đọc hiểu là sự hiểu biết, sử dụng và phản hồi lại trước một văn bản viết, nhằm đạt được mục đớch phỏt triển tri thức và tiềm năng cũng như việc tham gia hoạt động của một ai đú trong xó hội” [46; tr.17] Đọc - hiểu là một

hoạt động rất quan trọng và cần thiết đối với mọi người Chớnh vỡ vậy PISA

cũng đó khẳng định: “Đọc hiểu khụng cũn là một yờu cầu của suốt thời kỡ tuổi

thơ trong nhà trường phổ thụng mà trở thành một nhõn tố quan trọng trong

Trang 22

việc xây dựng, mở rộng những kiến thức, kĩ năng và chiến lược của mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời khi họ tham gia vào các hoạt động ở các tình huống khác nhau, trong mối quan hệ với người xung quanh, cũng như trong cộng đồng rộng lớn” [46; tr.16]

Theo Từ điển tiếng Việt, “đọc” là “1 Phát thành lời những điều đã

được viết ra theo đúng trình tự Tập đọc Đọc lời tuyên thệ Đọc thuộc lòng

bài thơ 2 Tiếp nhận nội dung của một tập hợp kí hiệu bằng cách nhìn vào

các kí hiệu Đọc bản vẽ thiết kế 3 Thu lấy thông tin từ một thiết bị nhớ của

máy tính, như từ một đĩa từ 4 Hiểu thấu bằng cách nhìn vào những biểu hiện

bề ngoài Qua ánh mắt, đọc được nỗi lo sợ thầm kín [35; tr.330] Khái niệm

“đọc” trong đọc hiểu bao gồm 2 nét nghĩa thứ 1 và thứ 2

Khái niệm “hiểu” có nhiều bình diện nội dung Theo cách hiểu thông thường, như trong Từ điển tiếng Việt (2004), “hiểu” có nghĩa là: “1 Nhận ra ý

nghĩa, bản chất, lí lẽ của cái gì, bằng sự vận dụng trí tuệ (Hiểu câu thơ Hiểu vấn

đề Học thuộc nhưng không hiểu) 2 Biết được ý nghĩ, tình cảm, quan điểm của

người khác (Tôi tất hiểu anh ấy Một con người khó hiểu).[35; tr.439] Khái

niệm “hiểu” trong đọc hiểu bao gồm cả 2 nghĩa ấy

Từ các ý kiến trên chúng tôi xin đưa ra khái niệm đọc - hiểu trên cơ sở

tham khảo và học hỏi: Đọc hiểu văn bản văn chương là quá trình lao động

sáng tạo mang phẩm chất thẩm mỹ cao nhằm phát hiện ra tất cả các giá trị của tác phẩm trên cơ sở tìm hiểu những đặc trưng của văn bản

Dạy học sinh đọc - hiểu văn bản là dạy học sinh năng lực biết xuất phát

từ văn bản của tác giả để kiến tạo được tác phẩm văn chương của riêng mình Khác với phương pháp dạy học cũ, phương pháp này lấy học sinh làm trung tâm, nghĩa là lấy việc đọc văn của học sinh làm trung tâm, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, định hướng cho học sinh Hoạt động đọc và hiểu phải là hoạt động chủ yếu trong nhà trường Với cách dạy học văn như vậy, học sinh

là người tích cực, chủ động trong việc kiến tạo tri thức cho bản thân, không phải đối tượng nhồi nhét tri thức của thầy Do đó, học sinh có sự phát triển

Trang 23

toàn diện về trí tuệ, tâm hồn, nhân cách và năng lực

Hiện tại, dạy đọc hiểu tác phẩm văn chương đang dần trở nên quen thuộc, thay thế cho giảng văn truyền thống trước đây Bắt đầu từ kì thi tốt nghiệp THPT và Đại học năm 2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa đọc hiểu văn bản thành một phần của đề thi Chính những đổi mới trong hình thức thi

và kiểm tra sẽ là một động lực to lớn thúc đẩy quá trình đổi mới việc dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường nói chung Việc dạy đọc hiểu tác phẩm văn chương sẽ ngày càng phát huy hiệu quả hơn đối với học sinh

1.1.2 Các bước đọc hiểu tác phẩm văn chương

1.1.2.1 Đọc hiểu ngôn từ

Ngôn từ là yếu tố cơ bản tạo nên văn bản văn học Khi ta đọc một văn bản văn học, bao giờ cũng bắt đầu từ việc đọc văn bản ngôn từ Do vậy, muốn hiểu được hết cái hay của tác phẩm văn học, người đọc cần hiểu ngôn từ của văn bản đó Yêu cầu trước hết đối với việc nắm vững tầng cấu trúc ngôn từ là phải hiểu sự chính xác của ngôn ngữ và phương thức trình bày nghệ thuật của nhà văn Hiểu nghĩa cụ thể của phạm vi đề tài chủ đề và sự triển khai chúng, đồng thời hiểu được cái hay cái đẹp của cách dùng từ, tạo câu, hình thành nhịp điệu và giọng điệu riêng của ngôn ngữ tác phẩm

Để đọc hiểu văn bản văn học thì trước hết phải có ấn tượng toàn vẹn về văn bản Mà muốn vậy, cần phải đọc thông suốt toàn văn bản, hiểu được các

từ khó, từ lạ, các điển cố, điển tích, các phép tu từ… Đối với thơ, nếu đọc thuộc thì càng tốt, bởi như thế, ấn tượng về âm hưởng, hình ảnh thơ sẽ ăn sâu vào tâm trí, tạo điều kiện để hiểu thơ hơn Đối với tác phẩm tự sự, phải nắm được cốt truyện và các chi tiết từ mở đầu đến kết thúc Đối với các tác phẩm kịch cần nắm được cốt truyện và xung đột kịch mà tác giả xây dựng

Khi đọc văn bản văn học cần hiểu được cách diễn đạt, nắm bắt mạch văn xuyên suốt từ câu trước đến câu sau, từ ý này sang ý khác, đặc biệt là phát hiện ra mạch văn ngầm – mạch hàm ẩn, từ đó mới phát hiện ra chất văn Bởi thế, phải đọc kĩ thì mới phát hiện ra chất văn Bởi thế, phải đọc kĩ thì mới phát

Trang 24

hiện những điểm đặc sắc, khác thường, thú vị Như vậy, đọc kĩ mạch văn là bước cơ bản để từ ngôn từ mà đi sâu vào nội dung văn bản

1.1.2.2 Đọc hiểu hình tượng nghệ thuật

Hình tượng trong văn bản văn học hàm chứa nhiều lớp nghĩa Đọc hiểu hình tượng nghệ thuật của văn bản văn học đòi hỏi người đọc phải biết tưởng tượng các tình cảnh để hiểu những điều mà ngôn từ chỉ có thể biểu đạt khái quát

Ví dụ: Muốn hiểu chính xác những câu thơ trong bài thơ “Bài ca ngất

ngưởng” của Nguyễn Công Trứ: “Đô môn giải tổ chi niên/ Đạc ngựa bò vàng

đeo ngất ngưởng” thì người đọc cần phải tưởng tượng hoàn cảnh mà tác giả

khắc họa Đó là khi cụ Thượng Trứ cáo quan về hưu, cưỡi một con bò vàng

có đeo đạc ngựa như đang muốn trêu tức cả thế gian kinh kì Hành động khác người, khác đời đó cho thấy thái độ ngất ngưởng của cụ, cho thấy một con người có cá tính độc đáo và luôn muốn khẳng định cá tính đó dưới nhiều hình thức khác nhau Hiểu được điều đó, tưởng tượng được cảnh đó, người đọc mới hiểu được văn bản Thiếu năng lực tưởng tượng thì cũng khó mà cảm nhận được hết cái hay của văn

Đọc hiểu hình tượng nghệ thuật còn đòi hỏi người đọc phải biết phát hiện các mâu thuẫn tiềm ẩn trong đó và tìm hiểu logic bên trong của chúng

Ví dụ, khi đọc trích đoạn “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, người đọc ngạc

nhiên tại sao cuối tác phẩm Trương Ba lại chấp nhận chết, trả lại thân xác cho anh hàng thịt và không nhập vào bất kì một thân xác nào nữa Để hiểu được quyết định mâu thuẫn này, người đọc phải tìm hiểu và lí giải được nguyên nhân sâu xa bên trong của mâu thuẫn này Có hiểu được lí do cao cả của Trương Ba, người đọc mới có thể hiểu được ý nghĩa xã hội, ý nghĩa triết lí mà tác giả Lưu Quang Vũ gửi gắm đến độc giả Người đọc phải khám phá logic bên trong hình tượng nghệ thuật thì mới thực sự hiểu các hiện tượng văn học

bề ngoài có vẻ như là mâu thuẫn

Trang 25

1.1.2.3 Đọc hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả trong văn bản văn học

Nhà văn sáng tác bao giờ cũng nhằm thể hiện tư tưởng, tình cảm trong

tác phẩm Đó là linh hồn của tác phẩm Bielinxki đã khẳng định: “Trong

những tác phẩm nghệ thuật chân chính, tư tưởng đâu phải là một khái niệm trừu tượng được thể hiện một cách giáo điều, mà nó là linh hồn của chúng, nó chan hòa trong chúng như ánh sáng chan hòa trong pha lê” Nhà văn

Kolorenco nói một cách ngắn gọn hơn: “Tư tưởng là linh hồn của tác phẩm

văn học” Vì vậy, đọc hiểu văn bản văn học là phải phát hiện được tư tưởng,

tình cảm của nhà văn ẩn chứa trong văn bản Tuy nhiên, tư tưởng, tình cảm của tác giả trong văn bản văn học thường không được trực tiếp nói ra bằng lời Chúng thường được thể hiện ở giữa lời, ngoài lời, vì thế, người ta đọc hiểu tư tưởng tác phẩm bằng cách kết hợp ngôn từ và phương thức biểu hiện hình tượng Trong truyện ngắn “Vợ nhặt”, Kim Lân đã gửi gắm cái nhìn yêu thương, trân trọng đối với những người nông dân nghèo như bà cụ Tứ, như Tràng trong những lời văn mộc mạc, giản dị Qua suy nghĩ, hành động của các nhân vật, người đọc cảm nhận được thái độ trân trọng, ngợi ca, cảm nhận được sự thương xót của nhà văn dành cho nhân vật Vì vậy, văn bản văn học, nói chung không bao giờ nói thẳng tuột ý muốn biểu đạt, cho nên việc đọc hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả ở đây đòi hỏi người đọc phải có năng lực phán đoán, khái quát chính xác, và đó là một biểu hiện của sáng tạo

Trang 26

Cấp độ 2 – cấp độ thể loại, “thuật ngữ kịch (đram) được dùng để chỉ một thể loại văn học – sân khấu có vị trí tương đương với bi kịch và hài kịch” [9; tr.168]

Trong cuốn “150 thuật ngữ văn học”, Lại Nguyên Ân cũng chỉ rõ:

“Một trong ba loại văn học (bên cạnh tự sự và trữ tình), kịch vừa thuộc về sân khấu, vừa thuộc về văn học Nó là cơ sở đầu tiên của vở diễn, vừa được cảm thụ bằng việc đọc”

Như vậy, chúng ta có thể hiểu: Kịch là một trong ba thể loại cơ bản của văn học Kịch có hai đời sống: Đời sống văn học và đời sống sân khấu

Do đặc thù của hoạt động dạy học, học sinh thường chỉ tiếp xúc với đời sống văn học của kịch dưới dạng trích đoạn kịch bản văn học Tuy nhiên, muốn học sinh hiểu đúng, hiểu sâu kịch bản văn học, các em cần được tiếp cận với cả 2 đời sống của kịch Sân khấu là loại hình nghệ thuật tổng hợp Để giúp cho sự biểu diễn đạt hiệu quả cao, cần có sự tham gia của nhiều ngành nghệ thuật như hội họa, âm nhạc, trang trí, vũ đạo… Các môn nghệ thuật này

có tác dụng rất lớn trong việc cụ thể hóa hình tượng kịch Gogol đã khẳng

định: “Kịch chỉ sống trên sân khấu Thiếu sân khấu thì kịch giống như tâm

hồn mà không có thể xác” A.N Ostrovski cũng cho rằng: “Chỉ khi nào đem trình diễn trên sân khấu, sự hư cấu của kịch mới có được hình thức trọn vẹn, hoàn toàn” Chính vì thế, không thể nói ta hiểu trọn vẹn nội dung và ý nghĩa

của một vở kịch nếu ta chưa được xem vở kịch đó

1.2.2 Đặc trưng thể loại kịch

1.2.2.1 Kịch tính là đặc trưng nổi bật nhất của kịch

Kịch khác tác phẩm tự sự ở kịch tính Kịch tính là đặc điểm nổi bật của

thể loại kịch Kịch tính là “trạng thái căng thẳng đặc biệt của mâu thuẫn,

xung đột, được tạo ra bởi những hành động thể hiện các khuynh hướng tính cách và ý chí tự do của con người” [39; tr.214]

Không có xung đột, không có mâu thuẫn thì không có kịch tính Xung đột

là “sự đối lập, sự mâu thuẫn được dùng như một nguyên tắc để xây dựng các mối

Trang 27

quan hệ tương tác giữa các hình tượng của tác phẩm nghệ thuật” [9; tr.431] Có

xung đột bên ngoài nảy sinh do mâu thuẫn xã hội, do sự va chạm tính cách giữa các nhân vật, sự đấu tranh giữa nhân vật và hoàn cảnh sống Có xung đột nảy sinh bên trong do những mâu thuẫn nội tại, do những cuộc đấu tranh nội tâm bên trong nhân vật Xung đột kịch chỉ có thể trở thành cơ sở tốt đẹp của

vở kịch khi nó nảy sinh như một sự phản ánh độc đáo những mâu thuẫn điển hình trong cuộc sống Xung đột càng gay gắt, vở kịch càng hay, càng hấp dẫn Xung đột kịch không chỉ cần bao quát được những vấn đề tiêu biểu của cuộc sống đương đại mà còn cần phải chứa đựng những giá trị nhân văn có ý nghĩa

muôn đời Trong vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, Lưu Quang Vũ đã

xây dựng được xung đột giữa linh hồn trong sạch, thẳng thắn, cao khiết của Trương Ba và thân xác thô lỗ,dung tục, bản năng của xác hàng thịt Chính xung đột không thể dung hòa của hai đối tượng này đã đẩy mâu thuẫn lên cao trào, làm cho kịch tính của vở kịch tăng dần Xung đột này chính là trung tâm của toàn bộ vở kịch, thu hút sự chú ý của khán giả

Tuy nhiên, không phải cứ miêu tả mâu thuẫn, xung đột của đời sống hiện thực là tác phẩm văn học sẽ có kịch tính Trong các tác phẩm tự sự, khi phản ánh mâu thuẫn, xung đột, tác giả muốn làm nổi bật sức mạnh tuyệt đối của cái tất yếu, khách quan Còn trong các tác phẩm kịch, khi phản ánh mâu

thuẫn, xung đột của đời sống, các vở kịch ấy “làm nổi bật sức mạnh của hành

động có lí do, có ý đồ, có động cơ thể hiện khuynh hướng tính cách cùng ý chí

tự do của con người, và vì hành động ấy, con người phải gánh chịu một hậu quả, một trách nhiệm nào đó” [39; tr.213]

Có thể nói, với bất kì một tác phẩm kịch nào, muốn thành công, tác giả phải xây dựng được kịch tính Kịch tính không phải dấu hiệu hình thức, cũng không thuộc về phương diện nội dung cụ thể của tác phẩm mà là đặc điểm

quan trọng “mang tính loại hình của nội dung thể loại” [39; tr.215]

1.2.2.2 Cốt truyện kịch tập trung cao độ

Nếu kịch tính là đặc điểm của nội dung thể loại, thì sự tập trung cao độ

Trang 28

của cốt truyện là đặc điểm kết cấu của kịch bản văn học Cốt truyện là “hệ

thống sự kiện cụ thể, được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch” [9; tr.99]

Một cuốn tiểu thuyết có thể xây dựng một hệ thống cốt truyện phức tạp, nhiều tuyến nhân vật, nhiều sự kiện đồng thời diễn ra, ở nhiều không gian, ở nhiều thời gian khác nhau Tuy nhiên, một vở kịch thường chỉ được phép trình diễn trong khoảng 3 đến 5 giờ đồng hồ, trên một sân khấu bị giới hạn Như vậy, chính không gian và thời gian hạn hẹp của sân khấu đòi hỏi hành động kịch phải thống nhất và cốt truyện kịch phải có sự tập trung cao độ

“Cốt truyện tập trung là cốt truyện tạo được sự thống nhất cao độ giữa hệ thống sự kiện, biến cố, các chi tiết, tình tiết với tư tưởng chủ đề cơ bản và hứng thú trung tâm mà vở diễn mang đến cho công chúng” [39; tr.215] Cốt

truyện kịch thường đơn tuyến Mỗi vở diễn thường chỉ tập trung phát triển một tuyến cốt truyện Trong kịch, không có nhân vật thừa, hành động thừa, ngôn ngữ thừa Các sự kiện, biến cố, hệ thống nhân vật đều cần được liên kết,

tổ chức sao cho chặt chẽ, lôgic Cốt truyện kịch thường phải tập trung cao độ, phát triển với nhịp điệu mau lẹ Một vở kịch thường được chia thành ba hoặc năm hồi tương ứng với ba giai đoạn vận động rất mau lẹ của hành động kịch: trình bày – thắt nút – đỉnh điểm – mở nút – vĩ thanh

1.2.2.3 Nhân vật kịch có tính cách xác định

Kịch là nghệ thuật thể hiện hình tượng con người một cách sống động nhất Tuy nhiên, con người ngoài đời thực và nhân vật văn học không thể trùng khít Trong các tác phẩm văn học, các nhà văn xây dựng tính cách văn

học của các nhân vật Tính cách văn học là “sự khái quát về bản chất xã hội,

lịch sử, tâm lí của con người dưới hình thức những con người cá thể Cơ sở tâm lí học của tính cách văn học là tổng hòa các đặc điểm cá nhân vững bền của một nhân cách, hình thành và thể hiện trong hoạt động và giao tiếp, quy định các phương thức hành vi điển hình đối với cá nhân đó Do vậy, tính cách

Trang 29

văn học thường biểu hiện ở phương thức hành vi ổn định, lặp đi lặp lại trong các tình huống khác nhau của nhân vật” [9; tr.345]

Nhân vật kịch là nhân vật được xây dựng để diễn, do vậy nhân vật kịch chịu sự chi phối, ràng buộc chặt chẽ bởi những điều kiện, luật lệ của nghệ thuật sân khấu Do kịch bị giới hạn về thời gian, không gian biểu diễn nên các nhân vật cần có tính chất xác định cao độ của tính cách Với các thể loại khác, các nhà văn có thể xây dựng nhiều nét tính cách khác nhau Có những nhân vật tính cách rất mờ nhạt, không tham gia vào các sự kiện, biến cố của cốt truyện Tuy nhiên, kịch không cho phép như vậy

Nhân vật kịch chủ yếu là nhân vật loại hình Chúng ta có thể dễ dàng xác định được nét chủ yếu của tính cách Dù tính cách của nhân vật được xác định cao độ song không vì thế mà đơn giản, một chiều Xoay quanh nét tính cách nổi bật được nhấn mạnh còn có nhiều nét tính cách khác Nhờ vậy nhân vật không đơn điệu cứng nhắc mà vẫn có tính cách đa dạng, phong phú và sinh động

1.2.2.4 Lời thoại là hành động và là phương tiện để thể hiện tính cách

Trong các tác phẩm kịch, nhân vật tự thể hiện tính cách của mình qua hành động và lời nói, đặc biệt là lời nói Về cơ bản, kịch bản văn học chỉ có một thành phần lời nói Đó là lời các nhân vật được thể hiện bởi những diễn viên đóng vai các nhân vật đó Lời thoại của các nhân vật trong kịch gồm 3 dạng: đối thoại (lời các nhân vật nói với nhau), độc thoại (lời nhân vật tự nói với chính mình) và bàng thoại (lời nhân vật nói riêng với khán giả) Trong kịch, lời thoại không chỉ có chức năng cung cấp thông tin, thể hiện cảm xúc của người nói mà đặc biệt, lời thoại cũng là hành động đầy kịch tính Chức năng hành động của lời nói bộc lộ đầy đủ nhất trong lời đối thoại của các nhân vật Qua các lời thoại, các nhân vật khuyên nhủ, thúc giục, ra lệnh… Muốn như vậy, những lời nói của các nhân vật trong tác phẩm phải thể hiện một mục đích, một khuynh hướng ý chí, một khát vọng mãnh liệt Qua lời nói của mình “Tôi đã nghĩ kĩ… Tôi không nhập vào hình thù ai nữa! Tôi đã chết rồi, hãy để cho tôi chết hẳn”, Trương Ba đã đưa ra quyết định quan trọng: không nhập vào thân xác nào khác nữa, chấp nhận vĩnh viễn ra đi

Lời thoại của các nhân vật trong kịch cũng là phương tiện để thể hiện tính

Trang 30

cách của chính nhân vật đó Qua lời nói của Thị Mầu trong vở chèo “Quan Âm Thị Kính” chúng ta thấy được một nhân vật vừa lẳng lơ, vừa tiềm tàng một bản năng sống mãnh liệt, vừa thấy được nỗi đau của người phụ nữ trong xã hội cũ Qua lời thoại của nhân vật anh hàng thịt “Ông cứ việc bịt tai lại! Chẳng có cách nào chối bỏ tôi được đâu! Mà đáng lẽ ông phải cảm ơn tôi Tôi đã cho ông sức mạnh Ông có nhớ hôm ông tát thằng con ông tóe máu mồm máu mũi không? Cơn giận của ông lại có thêm sức mạnh của tôi…Haha!” ta thấy được

sự thô lỗ, ti tiện của hắn ta

1.3 Phong cách nghệ thuật và những đặc trưng của phong cách nghệ thuật kịch Lưu Quang Vũ

1.3.1 Phong cách nghệ thuật

“Phong cách” bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp- “stylos”- dùng để chỉ một cái

que một đầu nhọn và tù Người La Mã thì gọi “stylus”, cũng để chỉ cái que

đó, còn đầu nhọn dùng để viết còn đầu tù dùng để xoa trên một cái bảng có thoa sáp đến người Pháp thì dùng chữ “style”, nhưng ban đầu cũng chỉ có nghĩa là nét chữ, sau mới có nghĩa là bút pháp với những đặc điểm ngôn ngữ

và văn thể Và cuối cùng, nó mới có nghĩa là “phong cách” như trong mệnh

đề: “phong cách là người” của Buyphông mà đã có lần Mác nhắc đến

Trên thế giới xuất hiện nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về

“phong cách” Vậy ta nên hiểu khái niệm này như thế nào? Cách hiểu sau đây

được nhiều nhà nghiên cứu lí luận văn học chấp nhận: “Phong cách nghệ thuật

là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật có phong cách thẩm mĩ thể hiện trong những sáng tác của những nhà văn ưu tú”[39; tr.89] Những nét khác biệt,

độc đáo đó phải thống nhất trong toàn bộ sáng tác của nhà văn; phải xuất hiện thường xuyên, có tính bền vững và phát triển theo một quy luật nhất định

Như vậy, một nhà văn ưu tú luôn phải tạo cho mình một phong cách nghệ thuật độc đáo Có người đã từng ví văn học là cây đàn nhiều dây, mỗi nhà văn là một dây căng trên dây căng trên cây đàn ấy Từng dây phải có cung bậc, âm điệu riêng dù hợp lại chúng vẫn làm nên một hoà âm Phong cách nghệ thuật của nhà văn cũng vậy Nó giúp nhà văn có một giọng hát

Trang 31

riêng, đặc biệt, nổi bật trong thế giới nhiều cung bậc của văn học

Phong cách nghệ thuật của nhà văn xét đến cùng là cảm quan thế giới của nhà văn tạo ra, là kết quả cách nhìn nhận, khám phá cuộc sống của nhà văn Mỗi nhà văn hoàn toàn có khả năng khám phá thế giới một cách khác nhau Do đó, trang viết của họ cũng mang màu sắc rất khác nhau Có bao nhiêu yếu tố trong tác phẩm thì có bấy nhiêu chỗ cho phong cách nghệ thuật phát triển Phong cách có thể biểu hiện ở việc lựa chọn đề tài Có những tác giả lựa chọn đề tài nên thơ, gắn nhiều với việc tả cảnh như Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ… Có nhà văn lại ưa thích đề tài rắc rối phức tạp, khai thác nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống như Vũ Trọng Phụng, Nam Cao … Có nhà văn xây dựng nhân vật lí tưởng, giàu yếu tố lãng mạn như nhân vật của Nguyễn Tuân, Thạch Lam Nhưng cũng có nhiều nhân vật giàu tính hiện thực, phản ánh khuôn mặt phong phú, phức tạp của đời sống nội tâm con người trong sáng tác của Nam Cao… Có rất nhiều yếu tố khác như cảm hứng chủ đạo, ngôn ngữ, cách xây dựng không gian, thời gian… có thể là mảnh đất cho tài năng nghệ thuật thể hiện

Qua phong cách nghệ thuật, độc giả có thể nhận diện tác giả đó về nhiều mặt Phong cách thể hiện những nét tài hoa, bản lĩnh của nhà văn nhưng đồng thời cũng là kết quả của một quá trình tìm tòi, khám phá, suy ngẫm, kết quả của một chặng đường lao động không mệt mỏi của nhà văn Không có một nhà văn giỏi nào không có phong cách nghệ thuật độc đáo Do đó, hiểu phong cách nghệ thuật của nhà văn sẽ giúp chúng ta hiểu rõ những tác phẩm cụ thể của nhà văn đó hơn

Như vậy, phong cách nghệ thuật của một nhà văn là tiếng nói riêng biệt, độc đáo và ổn định của nhà văn để chứng tỏ sự tồn tại của bản thân trong dòng chảy văn học

1.3.2 Lưu Quang Vũ - “nhà viết kịch xuất sắc của thời kì hiện đại”

Lưu Quang Vũ sinh ngày 17 tháng 4 băn 1948 tại xã Thiệu Cơ, huyện

Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật (Cha là nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Thuận) Ngay từ nhỏ, Lưu

Trang 32

Quang Vũ đã sớm bộc lộ một tâm hồn đa cảm tài hoa và yêu thích văn học Thời ấu thơ, Lưu Quang Vũ sống ở vùng đồi trung du Phú Thọ, nơi có khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, giàu chất thơ, đã để lại dấu ấn đậm nét trong tâm hồn cậu bé Lưu Quang Vũ và trở thành nguồn cảm hứng cho hàng loạt sáng tác sau này của Vũ

Cuộc đời ông có những lúc u buồn, thất vọng như chính ông tâm sự:

“Có những lúc tâm hồn tôi rách nát Như một tấm gương chẳng biết soi gì”

Đó là khi gia đình ông tan vỡ, ông bị thất nghiệp, phải làm nhiều nghề

để kiếm sống Sau này, ông kết hôn lần thứ hai với nữ sĩ Xuân Quỳnh Đây cũng là lúc ông tìm được bến đỗ cho cuộc đời mình như chính ông tâm sự:

“Biết ơn em từ miền gió cát

Về với anh, bông cúc nhỏ hoa vàng”

Khoảng những năm 1960: ông bắt đầu sáng tác thơ và được bạn đọc

yêu mến Đó là những vần thơ giàu cảm xúc, trăn trở, khát khao như: “Và

anh tồn tại”, “Tiếng Việt”, “Vườn trong phố”, “Bầy ong trong đêm sâu”,…

Những năm 1980: ông chuyển sang lĩnh vực sân khấu và nhanh chóng thành

công ở lĩnh vực này Ngày 29/08/1988, Lưu Quang Vũ cùng vợ là nữ sĩ Xuân

Quỳnh và con trai là Lưu Quỳnh Thơ mất trong một tai nạn giao thông, khi tài

năng đang độ chín

Lưu Quang Vũ là một nghệ sĩ đa tài Ông đến với nghệ thuật bằng sáng tác thơ Thơ của ông giàu cảm xúc, trăn trở, khát khao Bên cạnh thơ, ông

cũng sáng tác nhiều truyện ngắn in trong ba tập “Người kép đóng hổ”, “Mùa

hè đang đến”, “Truyện ngắn Lưu Quang Vũ” Truyện của ông thường viết

về đời sống thường nhật, về những mối quan hệ riêng, những nỗi niềm riêng Ngay từ những truyện ngắn của ông ta đã thấy được cảm hứng thế sự, tính thời sự, chất triết lí xuất hiện cùng chất thơ Đây sẽ là những đặc trưng quan trọng trong phong cách nghệ thuật kịch của ông sau này Tuy nhiên, nhắc đến Lưu Quang Vũ là chúng ta nghĩ đến một nhà viết kịch tài hoa Ông được đánh

Trang 33

giá là nhà viết kịch tài năng của nước ta, là một hiện tượng đặc biệt của nền sân khấu trong những năm tám mươi của thế kỉ trước Ông được đánh giá là:

“nhà viết kịch xuất sắc của thời kì hiện đại” Thậm chí nhà nghiên cứu Tất

Thắng còn đánh giá: “Sự có mặt của Vũ đã làm lu mờ đi, thậm chí rơi hẳn đi

cả một thế hệ tác giả từng ngự trị trên sân khấu suốt một thời” Chỉ trong

khoảng mười năm ngắn ngủi nhưng Lưu Quang Vũ đã có những cống hiến to lớn cho nền sân khấu nước nhà với hơn 50 kịch bản văn học Trong số đó, hầu hết đã được dàn dựng và nhận được sự ủng hộ nhiệt liệt từ phía công chúng Sân khấu nước ta lúc đó đâu đâu cũng thấy vở diễn của ông Nhà văn Nguyễn

Khải đã có lần nói: “Ở Sài Gòn dịp này đi ngả nào cũng đụng phải kịch của

Lưu Quang Vũ” [49; 398] Hội diễn văn nghệ toàn quốc năm 1985, Lưu

Quang Vũ có 8 vở kịch tham gia thì 6 vở đạt huy chương vàng, 2 vở nhận huy chương bạc Đó là những con số kỉ lục, khó có ai có thể vượt qua

Dù chỉ có thời gian ngắn ngủi nhưng Lưu Quang Vũ đã khẳng định được tài năng và nhiệt huyết của mình đối với nền kịch nói nước nhà Tuy đã

đi xa nhưng những cống hiến to lớn của ông mãi tồn tại trong lòng độc giả cũng như chúng sẽ mãi trường tồn với thời gian bởi những giá trị tự thân của chúng Với hơn 50 kịch bản văn học, Lưu Quang Vũ đã tạo ra cho mình một thế giới nghệ thuật riêng với những đặc trưng phong cách thống nhất trong các tác phẩm kịch của ông

1.3.3 Những đặc trưng của phong cách nghệ thuật kịch Lưu Quang Vũ

1.3.3.1 Kịch giàu tính thời sự, tính hiện đại và tính dân chủ

Đất nước sau chiến tranh với nhiều vấn đề bề bộn Cuộc sống lặng im tiếng súng nhưng cũng chứa đựng trong mình những phức tạp, khó khăn riêng, đòi hỏi con người phải có bản lĩnh để giải quyết Đó là cơ chế quan liêu bao cấp kìm hãm sự phát triển của xã hội Đó là hàng loạt các hiện tượng xã hội cho thấy sự suy thoái về phẩm chất đạo đức Tất cả thực trạng ấy đòi hỏi cần có một sự đổi mới trong xã hội

Trước những thay đổi trong xã hội, văn học cũng có những đổi thay,

Trang 34

chuyển mình, từ văn học thời chiến sang văn học thời bình Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 có đặc điểm quan trọng là đậm chất sử thi, phù

hợp với thời kì hào hùng của lịch sử dân tộc, khi mà “cả nước có chung tâm

hồn, cùng chung khuôn mặt” (thơ Chế Lan Viên) Khi cuộc kháng chiến

chống Mĩ kết thúc là lúc chúng ta bước vào thời kì hiện đại Cuộc sống của con người khi bước vào thời kì hoà bình với biết bao đổi thay trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nhu cầu đổi mới toàn diện được đặt ra Văn học nghệ thuật cũng nằm trong dòng chảy đó Bắt đầu từ thập kỉ tám mươi, văn học nước ta đã chuyển mạnh từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự, đời tư, các tác phẩm viết về cảm hứng sử thi bị lấn át dần Cảm hứng thế sự trong các tác phẩm văn học đã rút ngắn khoảng cách giữa con người và văn học, giúp

cho văn học có “khả năng chiếm lĩnh con người ở góc độ đời tư” [3; tr.127]

Nằm trong dòng mạch văn học đó, kịch của Lưu Quang Vũ mang đậm cảm hứng thế sự khi viết về các vấn đề thời sự nóng bỏng, có ý nghĩa với

cuộc sống của nhân dân như vấn đề đổi mới và dân chủ qua “Tôi và chúng

ta”, “Nếu anh không đốt lửa”…, vấn đề về hạnh phúc đích thực của con

người, vấn đề về giá trị của đồng tiền trong đời sống của con người… Chiến tranh đã qua đi cùng với những vấn đề của nó Sống trong thời bình cũng là lúc con người phải đối mặt với những nỗi lo lắng thường nhật, những vấn đề

mà trước đây bị coi là “tủn mủn, vặt vãnh”

Kịch của Lưu Quang Vũ ngay từ khi ra đời đã được công chúng đón nhận nhiệt liệt Yếu tố đầu tiên góp phần tạo nên sự thành công đó là tính hiện

đại Nhà nghiên cứu Tôn Thảo Miên nhận xét: “Là một nghệ sĩ có tâm hồn

nhạy cảm, Lưu Quang Vũ nhanh chóng bao quát được sự biến đổi của hiện thực trên của bề rộng và bề sâu của nó” [12; tr.10] Cảm hứng thế sự chi phối

ngòi bút của ông tạo nên những tác phẩm mang tính hiện đại “Tôi và chúng

ta” đưa chúng ta đến với việc đổi mới trong cơ chế quản lí và phương pháp

làm việc của xí nghiệp Thắng Lợi - một xí nghiệp “lỗ thật, lãi giả” “Nếu anh

không đốt lửa” cũng đề cập đến vấn đề dân chủ và đổi mới cần phải có trong

Trang 35

một xí nghiệp sửa chữa tàu Nếu không có những con người dám đứng lên nhận trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm như Định thì vấn đề cần phải đổi mới

sẽ không bao giờ trở thành vấn đề trung tâm Đưa những vấn đề thời sự nóng bỏng lên sân khấu, Lưu Quang Vũ đã đi thẳng vào những vấn đề trực tiếp của đời sống, tác động trực tiếp vào tư duy của con người, khiến con người phải suy nghĩ Ngoài vấn đề đổi mới, ông còn đề cao quyền hạnh phúc, quyền tự

do cá nhân của mỗi con người Trước đây, do hoàn cảnh chiến tranh, những vấn đề trọng đại của đất nước được đặt lên hàng đầu, con người cá nhân với những tâm tư tình cảm riêng ít được nhắc đến trong văn học kháng chiến Giờ đây, những vấn đề nhân sinh như quyền hạnh phúc, quyền sống, quyền tự do của con người được đề cập đến ở hầu hết các lĩnh vực Đó là những vấn đề vừa mang tính thời sự nhưng đồng thời cũng mang tính nhân văn Vấn đề này được thể hiện ở hầu hết các tác phẩm của Lưu Quang Vũ Đó là vấn đề con

người cần phải sống như thế nào trong “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, cần

cư xử như thế nào với nhau trong cuộc sống trong “Người tốt nhà số 5”; là vấn đề chúng ta cần dung hoà giữa lí tưởng và hiện thực trong “Hoa cúc xanh

trong đầm lầy”… Câu chuyện có thực trong đời sống, được nhiều người biết

như câu chuyện bác sĩ Nguyễn Trọng Nhân mổ mắt cho họa sĩ Lê Duy Ứng

nhưng khi đưa vào tác phẩm “Nguồn sáng trong đời” thì tình huống đó đã

mang một ý nghĩa rộng lớn hơn nhiều, vượt ra ngoài cơ sở thực tế mà mọi người biết Lưu Quang Vũ đã vượt ra ngoài tính chất đưa tin thông thường để vươn tới tính nghệ thuật vĩnh hằng khi gửi gắm những giá trị nhân văn cao đẹp vào trong tác phẩm của mình

Lưu Quang Vũ cũng có những vở kịch được viết dựa theo tích truyện dân gian Tuy nhiên, thông qua những tích truyện cổ, những câu chuyện dân gian, Lưu Quang Vũ muốn gửi gắm đến người xem những bài học nhân sinh,

những câu chuyện của thời hiện đại Ông đã đọc trong đó “những ý tưởng mà

con người hiện đại cũng phải kính nể” Thông qua chuyện hồn Trương Ba

mượn xác hàng thịt quen thuộc từ bao đời nay, không có ai tranh cãi về ý nghĩa

Trang 36

của nó (con người có phần hồn và phần xác, phần hồn thì bất tử, phần xác thì hữu hạn, yếu đuối, phần hồn là phần cao quý, cần được trân trọng), Lưu Quang

Vũ đã thổi vào đó những xung đột sâu sắc và ý nghĩa nhân sinh mới mẻ, thể hiện tư tưởng nghệ thuật riêng của mình Đó là chúng ta cần sống chân thật, chân thật với chính mình vì sống giả dối, vay mượn, chắp vá không có sự hài

hoà giữa hồn và xác chỉ đem lại bi kịch, đau khổ cho chính mình “Lời nói dối

cuối cùng” cũng mượn tích truyện về chú Cuội, “nói dối như Cuội” đã in sâu

vào tâm thức người Việt bao đời nay để sáng tạo nên một câu chuyện mới, để lại ấn tượng trong lòng công chúng Mọi việc làm chỉ có ý nghĩa khi đó là những hành động trung thực Mọi sự dối trá đều không thể đem đến kết quả tốt đẹp Đây cũng là điều phải đến cuối cùng chú Cuội mới nhận ra, tuy là sự nhận thức muộn mằn, khi Cuội đã chỉ còn lại một mình cô đơn Một truyện khác

cũng dựa trên cốt truyện dân gian, lịch sử là “Ông vua hoá hổ” Truyện cho ta

thấy rằng chỉ có tình yêu thương con người, tình bạn, tình yêu chân thực mới là gốc rễ, là nền tảng của cuộc sống Như vậy, học tập dân gian là điều nhiều nhà văn đã làm từ xưa đến nay nhưng với Lưu Quang Vũ, ông đã đưa vào đó những bài học nhân sinh có ý nghĩa hiện đại bởi đối tượng của nó là những con người hiện đại với những vấn đề bức bối khó giải quyết

Được viết bằng cảm hứng thế sự, các tác phẩm của ông đều mang tính hiện đại, tinh thần dân chủ sâu sắc Những xung đột ông xây dựng đều mang tính thời sự và tinh thần dân chủ Điều này không chỉ thể hiện trong các phẩm viết về đề tài hiện đại mà thể hiện trong tất cả các kịch bản của ông Một

trong số đó là kịch bản "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" Qua một câu chuyện

có nguồn gốc từ tích truyện cổ dân gian, Lưu Quang Vũ đã xây dựng xung đột giữa cái cũ và cái mới trong thời điểm kinh tế thị trường mới xuất hiện Từ đó tác giả không chỉ gửi gắm những ý nghĩa triết lí mà còn lên tiếng cảnh báo những vấn đề nóng bỏng của xã hội đương thời Việc miêu tả bối cảnh thiên đình là một ví dụ Ta tưởng tượng ra khung cảnh nguy nga tráng lệ nhưng khung cảnh đó nhanh chóng bị bóc trần qua câu chuyện của Nam Tào, Bắc

Trang 37

Đẩu Thực trạng bị phơi bày là một thực trạng đáng xấu hổ: quan nhà trời làm

ăn quan liêu, vô trách nhiệm dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng Chính sự tắc trách đó dẫn đến việc hồn Trương Ba phải sống trong thân xác anh hàng thịt và từ đó gây ra biết bao rắc rối Sự chắp vá mà Đế Thích dùng để sửa sai không những không thể sửa sai mà còn gây ra phiền phức cho biết bao nhiêu người Màn kết tuy cho thấy sự chiến thắng của cái Thiện, cái Đẹp nhưng cũng không khỏi gieo một nỗi buồn vào lòng người đọc, người xem bởi sự chiến thắng ấy cũng là có cái giá phải trả - cái giá quá đắt Qua đó, chúng ta thấy một sự thật: không phải bất cứ sai lầm nào cũng có thể sửa sai được, mọi

sự sửa sai, chắp vá đều không thể sửa chữa được lỗi lầm đã phạm phải do vậy chúng ta phải cố gắng để không bao giờ phạm sai lầm Bên cạnh đó, thực trạng nông thôn Việt Nam nói riêng, xã hội Việt Nam nói chung đang dần bị tha hoá bởi sức mạnh của đồng tiền cũng được Lưu Quang Vũ cảnh báo qua

vở kịch này Chính việc tham lam trước ánh bạc mà xã hội mới xuất hiện tệ nạn tham nhũng, hối lộ, cũng chính đồng tiền là một trong những nguyên nhân khiến tình cảm gia đình, tình cảm giữa con người với con người bị tha hoá, bị rạn nứt, tan vỡ… Tất cả những thực trạng xã hội đó được gửi gắm kín

đáo và đầy đủ trong tác phẩm "Hồn Trương Ba, da hàng thịt"

Với nhãn quan đời sống nhạy cảm, Lưu Quang Vũ đã kịp thời nắm bắt những vấn đề nóng bỏng của đời sống đương thời để đưa vào các kịch bản của mình Chính vì được viết bằng cảm hứng thế sự nên các tác phẩm của ông đều mang tính đối thoại, đều chứa đựng trong mình những vấn đề làm nảy sinh sự đối thoại giữa công chúng với những vấn đề đó, giữa công chúng với tác giả, giữa công chúng với công chúng và đối thoại ngay trong nhận thức của mỗi người đọc, người xem Tuy đó là những vấn đề giàu tính thời sự nhưng không hề sống sượng, gượng gạo vì chúng đã được chắt lọc qua lăng kính của nhà nghệ sĩ tài hoa Tính chất đối thoại cũng là tính chất quan trọng của tác phẩm văn học trong nhà trường bởi lẽ nó tạo ra những kích thích đối

với tư duy của học sinh, yêu cầu các em tìm tòi, suy nghĩ Đoạn trích "Hồn

Trương Ba, da hàng thịt" đã đáp ứng được những yêu cầu đó

Trang 38

1.3.3.2 Kịch giàu chất triết lí nhân sinh

Đặc điểm nổi bật, dễ nhận thấy của kịch Lưu Quang Vũ là tính triết lí - những triết lí nhân sinh về lẽ sống, lẽ làm người Đặc điểm này được thể hiện

ở tất cả mọi phương diện trong kịch của ông

Vấn đề mấu chốt của kịch đó là xây dựng được những xung đột Kịch của Lưu Quang Vũ cũng xây dựng được nhiều xung đột khác nhau như xung đột trong quan niệm giữa lẽ Sống và cái Chết, xung đột giữa cái Cũ và cái Mới, giữa cái Thiện và cái Ác Tuy nhiên, một điểm dễ nhận thấy trong kịch của Lưu Quang Vũ đó là tính chất không gay gắt của xung đột Kịch của ông không xuất hiện những xung đột gay gắt đòi hỏi phải được giải quyết bằng bạo lực cách mạng hay bằng chiến tranh bởi chúng đều được xây dựng để gửi gắm những giá trị triết lí nhân sinh về lẽ sống, lẽ làm người Lưu Quang Vũ không xây dựng những xung đột đối kháng giai cấp Qua những xung đột mang tính chất muôn thuở, Lưu Quang Vũ muốn gửi gắm những bài học, những quan niệm sống đúng đắn tới công chúng

Xung đột giữa lẽ Sống và cái Chết được khắc họa trong khá nhiều tác

phẩm của Lưu Quang Vũ như: “Người trong cõi nhớ”, “Nguồn sáng trong

đời”, “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, “Tôi và chúng ta”, “Người tốt nhà

số 5”, … Trong các tác phẩm của mình, dù ít hay nhiều tác giả cũng đưa vào

những quan niệm về lẽ Sống Đây là vấn đề Lưu Quang Vũ luôn quan tâm,

suy nghĩ ngay từ khi còn là một thanh niên còn ngồi trên ghế nhà trường: “…

Rất có thể sẽ có một điều vô lí nào đó tới cắt đứt cuộc đời ta Cái chết – ta không sợ nó, nhưng nếu chết bây giờ thì uổng quá Chưa làm được gì cả, ăn hại 17 năm rồi chết ư? Cái chết ơi, ta chẳng cần nhiều đâu Độ 20 năm nữa, khi ta đã trả nợ xong, khi có thể coi là đã làm được chút gì đó cho đời, ta

sẽ chẳng ân hận gì khi nhắm mắt…” Lời của chàng thanh niên Vũ khi ấy

cũng tương tự như câu nói của Paven Corsaghin mà bao thế hệ đã thuộc: “Cái

quý nhất của đời người là đời sống Đời người chỉ sống có một lần Phải sống sao cho không xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí…”

Trang 39

(Thép đã tôi thế đấy) Đối với Lưu Quang Vũ, sống không đơn giản chỉ là sự

tồn tại cơ học Đời người là hữu hạn, sống đồng nghĩa với cống hiến, sống là phải khẳng định được sự tồn tại tốt đẹp của mình trên đời, sống có ý nghĩa với mọi người để khi ta ra đi thì vẫn mãi sống trong cõi nhớ thương của mọi

người Xung đột này được thể hiện rất rõ trong “Hồn Trương Ba, da hàng

thịt” qua cuộc đấu tranh giữa tâm hồn cao khiết của Trương Ba và xác thịt thô

lỗ, tầm thường của anh hàng thịt Ông Trương Ba sống một cuộc sống thanh sạch với thú đánh cờ, với công việc làm vườn hàng ngày, luôn mâu thuẫn với

quan niệm “phi thương bất phú”, làm giàu bằng mọi giá của anh con trai

Mâu thuẫn giữa hai cách sống còn được nâng cao hơn nữa khi chính ông Trương Ba phải chọn lựa: hoặc chấp nhận cuộc sống tầm thường và cách sống khác hẳn quan niệm của mình trước đây, hoặc vẫn giữ quan niệm sống, nhân cách cao quý của mình nhưng không được sống trên đời nữa Thực chất xung đột đó chính là xung đột giữa hai phần trong chính một con người: giữa thân xác và linh hồn – hai phần quan trọng không thể tách rời Qua xung đột giữa hồn – xác và cụ thể hơn là cuộc đối thoại giữa hồn và xác, Lưu Quang Vũ muốn gửi gắm đến người đọc quan niệm nhân sinh: Hồn và xác là hai phần quan trọng của con người, có mối quan hệ biến chứng với nhau Chúng ta phải coi trọng, quan tâm đến cả hai bộ phận này, không thể bỏ bê thân xác, chỉ chú trọng đến những nhu cầu tinh thần, cũng không thể chỉ chạy theo nhu cầu thuần tuý bản năng, thân xác, của những dục vọng Chúng ta phải luôn đấu tranh để có được một thân xác khoẻ mạnh trong một tâm hồn khoẻ mạnh, phải luôn cố gắng để hoàn thiện nhân cách của mình

Ngoài ra qua xung đột giữa cái Thiện và cái Ác, giữa cái Cũ và cái Mới,

ta cũng thấy tính chất triết lí thể hiện rất rõ Xung đột giữa cái Ác và cái Thiện

trong “Trái tim trong trắng” không chỉ là xung đột giữa kẻ đổ tội giết người

cho người khác, những kẻ đầu gấu trong tù có thói quen hành hạ người khác

mà còn là giữa chính những ngời thừa hành pháp luật chưa đúng đắn dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như Hùng – cán bộ điều tra, ông chánh án, ông

Trang 40

công tố viên… Trong “Dạ khúc cho tình yêu”, cái Ác nấp trong bóng tối, nấp

trong những đồng tiền phạm pháp nhưng cuối cùng cái Thiện cũng chiến thắng, cái Ác phải trả giá xứng đáng Xung đột giữa cái Cũ và cái Mới cũng là xung

đột thường xuất hiện trong các tác phẩm của Lưu Quang Vũ như “Tôi và

chúng ta”, “Nếu anh không đốt lửa”, “…Dù có xây dựng xung đột nào thì kết

thúc tác phẩm, Lưu Quang Vũ cũng hé mở một hướng đi tươi sáng, phần thắng nghiêng về cái Thiện, cái Mới Sự chiến thắng của sự Sống, cái Thiện, cái Mới cho ta thấy quan điểm của Lưu Quang Vũ về cuộc sống, là lời tuyên ngôn về quan niệm sống của tác giả: Cuộc sống có thể có nhiều sự kiện cản đường, có nhiều thế lực chưa tốt, thậm chí xấu xa sẵn sàng kéo chúng ta vào sự tha hoá, kéo chúng ta quay lại những sự bảo thủ, trì trệ nhưng cuối cùng chiến thắng thuộc về những người tốt, thuộc về những người dám mở đường dù vì mở đường mà họ chịu không ít thiệt thòi

Trong nhiều tác phẩm, Lưu Quang Vũ không tập trung xây dựng xung

đột chính như “Hoa cúc xanh trên đầm lầy”, “Cô gái đội mũ nồi xám”,

“Nguồn sáng trong đời”, “Người trong cõi nhớ”… Tuy nhiên, qua những

vở kịch này, Lưu Quang Vũ vẫn gửi gắm những giá trị triết lí về cuộc sống,

về lẽ làm người đến người đọc, người xem

Về ngôn ngữ, tính triết lí cũng được thể hiện rõ Ngôn ngữ kịch của Lưu Quang Vũ cũng mang những đặc điểm của kịch nói chung Tuy nhiên,

dưới ngòi bút của anh “một nét đặc sắc nổi bật của kịch Lưu Quang Vũ là

ngôn ngữ nhân vật thường không chỉ tự nhiên, gọn, sáng sủa mà còn nhiều sức gợi nghĩ” [8; tr.72] Lưu Quang Vũ đã khắc phục được một nhược điểm

thường gặp của kịch là tính đơn nghĩa của lời thoại, “dứt lời là dừng ý” vì vậy ngôn ngữ kịch của ông thường “tự nhiên, hồn nhiên mà vẫn nhiều lớp

lang ý tứ” [8; tr.72] Ngôn ngữ giàu chất triết lí của ông là “sản phẩm của cảm hứng triết luận trước những vấn đề phức tạp của đời sống” [12; tr.114]

Nhân vật của Lưu Quang Vũ thường có những đoạn triết lí về cuộc sống, lẽ sống khi trò chuyện với nhau hay trong những khoảnh khắc đối diện với

Ngày đăng: 26/09/2020, 00:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w