1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hướng dẫn học sinh trung học phổ thông đọc hiểu văn bản "Chữ người tử tù" của Nguyễn Tuân theo đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn

126 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 886,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC BÙI THỊ HẠNH CHÂM HƯỚNG DẪN HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” CỦA NGUYỄN TUÂN THEO ĐẶC TRƯNG THI PHÁP CHỦ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI THỊ HẠNH CHÂM

HƯỚNG DẪN HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” CỦA

NGUYỄN TUÂN THEO ĐẶC TRƯNG THI PHÁP

CHỦ NGHĨA LÃNG MẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI THỊ HẠNH CHÂM

HƯỚNG DẪN HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

ĐỌC HIỂU VĂN BẢN “CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” CỦA

NGUYỄN TUÂN THEO ĐẶC TRƯNG THI PHÁP

CHỦ NGHĨA LÃNG MẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Ái Học

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian nghiên cứu miệt mài, nghiêm túc, cuốn luận văn của tôi

đã hoàn thành Bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Ái Học, người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo của trường Đại học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội - những người luôn tâm huyết với công tác giảng dạy người thầy đã để lại những ấn tượng hết sức tốt đẹp trong suốt 2 năm tôi học tập tại đây

Xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp đang giảng dạy tại trường THPT Bến Tắm, Chí Linh, Hải Dương đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai đề tài Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã dành cho tôi sự quan tâm khích lệ và chia sẻ trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng luận văn khó tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 11 năm 2014

Tác giả luận văn

Bùi Thị Hạnh Châm

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Viết tắt Viết đầy đủ

DH

GV

GS

Dạy học Giáo viên Giáo sư

Nxb PGS

Nhà xuất bản Phó giáo sư

STK STT

TB

Sách tham khảo

Số thứ tự Trung bình THPT

TL TPVC

TS

Trung học phổ thông Trả lời

Tác phẩm văn chương Tiến sĩ

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục từ viết tắt trong luận văn ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 11

1.1 Những vấn đề chung về đọc hiểu tác phẩm văn chương 11

1.1.1 Khái niệm đọc hiểu tác phẩm văn chương 11

1.1.2 Bản chất việc đọc hiểu 14

1.1.3 Nội dung đọc hiểu tác phẩm văn chương 17

1.2 Chủ nghĩa lãng mạn và đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam 23

1.2.1 Chủ nghĩa lãng mạn 23

1.2.2 Đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam 27

Chương 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC VĂN BẢN “CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ” CỦA NGUYỄN TUÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NÀY THEO ĐẶC TRƯNG THI PHÁP CHỦ NGHĨA LÃNG MẠN 34

2.1 Thực trạng dạy học văn bản “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân ở trường Trung học phổ thông 34

2.1.1 Mục đích khảo sát 34

2.1.2 Đối tượng khảo sát 34

2.1.3 Phương pháp khảo sát 35

2.1.4 Kết quả khảo sát 35

2.1.5 Nhận xét 43

2.2 Hướng dẫn đọc hiểu văn bản “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân theo đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn 44

2.2.1 Những yêu cầu cơ bản khi đọc hiểu “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân theo đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn 44

Trang 6

2.2.2 Những biện pháp hướng dẫn đọc hiểu văn bản “Chữ người tử tù”

của Nguyễn Tuân theo đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn 69

Chương 3 : THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 87

3.1 Mô tả thực nghiệm 87

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 87

3.1.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 87

3.2 Thiết kế giáo án thực nghiệm: 87

3.3 Tổ chức thực nghiệm 110

3.3.1 Giao nhiệm vụ thực nghiệm 110

3.3.2 Tiến hành thực nghiệm 110

3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 111

3.4.1 Kết quả thực nghiệm 111

3.4.2 Đánh giá kết quả 112

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 114

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Bảng khảo sát lực học ban đầu của học sinh 111 Bảng 3.2: Tổng hợp kết quả học tập (tính ra %) của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 111 Bảng 3.3: Tổng hợp kết quả mức độ hứng thú với bài học của lớp thực nghiệm

và lớp đối chứng 111

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Thế kỷ XXI là thế kỷ của khoa học kỹ thuật, của công nghệ thông tin Con người muốn tồn tại, muốn hoà nhập, tự khẳng định mình thì nhất định phải là những thành viên năng động, tích cực, sáng tạo, có óc quan sát nhạy bén, trí tuệ linh hoạt, có thái độ lựa chọn thông tin và hiểu thông tin một cách sáng tạo Đáp ứng yêu cầu đó của xã hội, nhiệm vụ hiện đại hoá giáo dục được đặt ra như một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác phát triển giáo dục, trong đó đổi mới nội dung phương pháp dạy và học là vấn đề then chốt trong chiến lược như một lẽ tồn tại Luật Giáo dục số 38/2005/QH11,

điều 28 qui định: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Cũng trên tinh thần

đó, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) đã nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật

và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực” Như vậy, đổi mới PPDH

phải lấy người học là trung tâm, bồi dưỡng cho người học năng lực tự hành động, phát triển năng lực nội sinh của mình, phát triển tư duy độc lập sáng tạo Do đó việc xây dựng cho người học tư thế tự tin, chủ động tìm kiếm, lựa chọn, xử lí tiếp cận thông tin là vô cùng quan trọng

Gần đây nhất, trong lần thay sách giáo khoa Ngữ văn 2006, việc đổi mới chương trình sách giáo khoa đã đặt trọng tâm vào việc đổi mới PPDH Chỉ có đổi mới cơ bản phương pháp dạy và học chúng ta mới có thể tạo được

Trang 9

sự đổi mới trong giáo dục, đào tạo được lớp người năng động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức

1.2 Môn Ngữ văn là môn học có một vị trí rất quan trọng trong giáo dục Nó vừa nằm trong hệ thống các môn khoa học xã hội và nhân văn, bộ môn thuộc

lĩnh vực giáo dục thẩm mỹ, vừa là một bộ môn có tính chất công cụ Song

hiện nay môn học này lại không được HS coi trọng Thực trạng các giờ dạy văn đặc biệt là giờ dạy đọc hiểu văn bản văn học còn đơn điệu, tẻ nhạt khiến

HS không hứng thú Nguyên nhân của tình trạng trên thì rất nhiều, song cơ bản là GV vẫn sử dụng phương pháp truyền thống thiên về đọc chép, chưa phát huy được vai trò tích cực của HS Có GV đã đưa phương pháp mới vào quá trình dạy đọc hiểu song chưa triển khai theo đúng bản chất của nó, còn mang tính hình thức, chưa chú ý đến việc rèn luyện kĩ năng đọc hiểu cho người học Nhiều GV khi hướng dẫn HS đọc hiểu chỉ tập trung phân tích hình tượng nhân vật, chưa chú ý đến đặc trưng thi pháp của văn bản Vì vậy nên độ sâu sắc và toàn diện của tác phẩm chưa được khám phá

Xuất phát từ mục đích và thực trạng trên, đọc hiểu TPVC theo đặc trưng thi pháp của một trào lưu hay một phương pháp sáng tác được xem như một PPDH tích cực góp phần đổi mới PPDH văn Đó là quá trình chuyển từ trọng tâm giảng văn sang trọng tâm đọc văn để học sinh tự chiếm lĩnh giá trị của TPVC; từ việc phân tích văn bản mang tính chung chung sang việc phân tích hướng vào đặc trưng thể loại và đặc trưng thi pháp Vì vậy việc hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản văn chương theo đặc trưng thi pháp đóng vai trò không thể thiếu, là yếu tố cơ bản gốc rễ cho hoạt động đọc hiểu văn bản văn chương 1.3 Nguyễn Tuân là một trong 9 tác giả lớn được học trong chương trình phổ thông Tác phẩm của ông được học xuyên suốt từ lớp 11 đến lớp 12 Mỗi trang viết của ông đều thể hiện sự tài hoa, uyên bác, độc đáo hết mực của một

tâm hồn nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp Một trong những cái đẹp mà ông

kiếm tìm giữa buổi Tây Tàu nhố nhăng là “Chữ người tử tù” Tác phẩm tiêu

Trang 10

biểu cho phong cách Nguyễn Tuân trước Cách mạng, là nơi kết tinh hội tụ tinh hoa, tài năng, tâm sức của bút lực của nhà văn Nhiều thế hệ bạn đọc đã cảm nhận cái hay của ngôn từ trong “Chữ người tử tù”, nhận biết tác phẩm viết bằng bút pháp lãng mạn nhưng việc chỉ ra biểu hiện của chủ nghĩa lãng mạn trong tác phẩm và đưa dẫn chứng minh họa còn mơ hồ, lúng túng thiếu chính xác, chưa bám vào lí luận

Những hứng thú, hấp dẫn và cả những khó khăn trên đã thôi thúc chúng

tôi quyết định đi sâu nghiên cứu đề tài: “Hướng dẫn học sinh THPT đọc hiểu văn bản “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân theo đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề đọc hiểu

Trên thế giới: Vào những thập niên 70 của thế kỉ XX, trên thế giới đặc biệt là ở các nước Âu Mĩ, các nhà lí luận đã quan tâm và nghiên cứu rất sớm

về lí thuyết đọc hiểu trong phạm trù đọc văn bản Tiêu biểu như K Goodman (1970), A.Pugh (1978), P.Arson (1984), L.Baker, A.Brown (1984), U Frith

(1985), M Adams (1990), R Jauss với “Hoạt động học” và “Hiện tượng học

và đọc”, R Vemezki với “yêu cầu kĩ năng của việc đọc”, B Naiđenxốp với

“Phương pháp đọc diễn cảm”, Sorenbenalt với “Phản ứng tâm lí của quá trình đọc” Các công trình nghiên cứu trên dù có những cách lập luận khác

nhau nhưng đều tập trung lí giải về hoạt động đọc, từ đó đưa ra các kĩ năng đọc, coi các kĩ năng đọc như một phương pháp để tiếp cận và chiếm lĩnh tác phẩm, giúp người học sẽ chủ động và tích cực hơn

Ở Cộng hòa Liên bang Đức, vào những năm 80 của thế kỉ XX, hàng loạt sách về đọc hiểu nâng cao lần lượt xuất hiện với nội dung tập trung giải quyết mối quan hệ giữa văn học với chương trình Ngữ văn cải cách nhằm từng bước thay đổi diện mạo và chất lượng dạy học Ngữ văn trong nhà trường trung học

Trong những năm gần đây, có rất nhiều tác giả nghiên cứu về đọc hiểu

Trang 11

như: Erich Schon với cuốn “Lịch sử việc đọc” hay Ursula Christman và cuốn

“Tâm lí học của việc đọc” Ở các công trình này, các nhà nghiên cứu không

chỉ dừng lại ở việc cung cấp về việc đọc một cách bài bản mà còn tập trung nhấn mạnh đến việc học đọc và dạy đọc sao cho hiệu quả

Ở Liên Xô cũ, việc nghiên cứu vấn đề đọc hiểu thu hút nhiều tác giả

như M.K Bogoliu Pxkaia, V.V Septsenko với “Đọc và kể chuyện văn học ở vườn trẻ”, A Primacôpxki với “Phương pháp đọc sách” Thành tựu đáng kể

của những công trình nghiên cứu trên nhấn mạnh khái niệm hiểu và nội dung cần hiểu trong quá trình đọc tác phẩm văn học là vẻ đẹp và giá trị thẩm mĩ của ngôn từ

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây vấn đề này cũng được khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Trong đó phải kể đến PGS.TS Nguyễn Thái

Hòa với bài viết “Vấn đề đọc hiểu và dạy đọc hiểu” đã nêu lên tầm quan

trọng, ý nghĩa cấp thiết của vấn đề đọc hiểu đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường

Và cũng nói về tầm quan trọng của vấn đề đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà phổ thông, GS TS Trần Đình Sử có thể coi là người khởi

xướng Với bài viết: “Đọc hiểu văn bản - một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy Văn hiện nay”, tác giả đã nhấn mạnh: “ Dạy văn là dạy cho

HS năng lực đọc, kĩ năng đọc để giúp các em hiểu bất cứ văn bản cùng loại

Từ đọc hiểu văn mà trực tiếp tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể hiện các tư tưởng và các cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ ” [39]

Đồng thời ông cũng nhận ra ý nghĩa và khả năng phương pháp của đọc hiểu trong đổi mới dạy học văn là vô cùng to lớn

Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoàn, một nhà nghiên cứu đầy tâm huyết về vấn

đề đọc hiểu cũng đã có rất nhiều chuyên luận đóng góp cho đề tài đọc hiểu

như: “Một số vấn đề đọc hiểu thơ trữ tình và tác phẩm văn chương nghị luận”, một loạt sách đọc hiểu văn bản Ngữ văn từ lớp 6 đến lớp 9… Nhìn chung theo

quan điểm của tác giả thì việc đọc gắn liền với tài năng, phong cách tác giả;

Trang 12

gắn liền với vấn đề loại thể, chú giải văn bản và mở rộng các lớp nghĩa từ văn bản… để từ đó người đọc vượt lên những kinh nghiệm, vươn tới những chân trời rộng lớn và mới lạ của tri thức nhân loại Như vậy, đọc được coi là khâu khởi đầu cho những năng lực khác, đặc biệt là năng lực nhận biết, phân loại và tri giác các văn bản

Đặc biệt, các công trình nghiên cứu của GS TS Nguyễn Thanh Hùng – người không những đặt nền móng đầu tiên cho vấn đề đọc hiểu mà còn là người nghiên cứu kĩ lưỡng và đầy đủ hơn cả về vấn đề này ở Việt Nam Từ

tiểu luận khoa học đầu tay mang tên: “Dạy đọc hiểu là nền tảng văn hóa cho người đọc” xuất hiện trước khi SGK Ngữ Văn có nội dung đọc hiểu, tác giả

đã nhấn mạnh tầm quan trọng của đọc hiểu: “Đọc được xem như năng lực văn hóa có ý nghĩa cơ bản đối với sự phát triển nhân cách bởi vì phần lớn những tri thức hiện đại được truyền thụ qua việc đọc của học sinh Trên cơ sở đó sự phát triển kĩ năng đọc của học sinh trong nhà trường phổ thông là nhiệm vụ

cơ bản của giáo viên Ngữ văn….” Như vậy, GS đã chỉ rõ rằng: “Hình thành năng lực đọc tác phẩm cho học sinh không thể không dựa vào những kết quả nghiên cứu sự hiểu biết về đặc điểm ngôn ngữ văn học và thể loại”

Năm 2008, PGS.TS Nguyễn Thanh Hùng đã ấn hành công trình lí

thuyết đầu tiên về đọc hiểu bao quát những nội dung cốt yếu là “đọc để hiểu những giá trị đích thực trong tác phẩm” Tuy nhiên với tác giả công trình trên

chưa phải đã hoàn tất

Gần đây nhất, kế thừa và phát triển những thành tựu của lí thuyết đọc

hiểu, PGS.TS Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn “Kĩ năng đọc hiểu văn” (2011) - Nxb Đại học Sư phạm đã nghiên cứu rất tỉ mỉ về các kĩ năng đọc

hiểu Trong cuốn sách này, tác giả còn kiến giải sâu hơn về hoạt động đọc văn, đưa ra các về mô hình đọc hiểu theo từng loại thể, chỉ rõ được nội dung và bản chất của việc đọc hiểu Từ đó đưa ra những kĩ năng đọc hiểu văn cơ bản nhất nhằm giúp người GV dựa trên đó để hướng dẫn HS đọc hiểu tác phẩm

Trang 13

Nhìn chung, các tác giả trên thế giới và ở Việt Nam đều thể hiện rõ ràng quan điểm của mình về vấn đề đọc hiểu văn bản Ngữ văn, đánh giá rất cao vai trò của đọc hiểu đối với việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học văn trong nhà trường phổ thông hiện nay Tuy nhiên, các bài viết trên mới chỉ dừng lại ở những lý thuyết chung về vấn đề đọc hiểu mà chưa tập trung vào việc hướng dẫn đọc hiểu một văn bản cụ thể nào Đó chính là những gợi ý thiết thực

để chúng tôi triển khai đề tài của mình

2.2 Lịch sử nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân

Nguyễn Tuân là một cây bút độc đáo trong làng văn Việt Nam Sinh ra

và lớn lên trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam đang buổi giao thời, cũ mới đan xen, Á - Âu xáo trộn, Nguyễn Tuân đã di dưỡng tâm hồn mình trong nền văn hoá cổ truyền của dân tộc với những phong tục, nề nếp, với cách ăn ở, với những thú chơi từ một thời xưa nay chỉ còn vang bóng Trong những thú chơi

tao nhã đó, ông có nhắc đến thú chơi chữ trong “Chữ người tử tù” – một tác

phẩm bộc lộ rõ phong cách tài hoa, độc đáo của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, được đưa vào chương trình SGK Ngữ văn 11 Chính vì lẽ đó mà “Chữ người tử tù” tạo được sự quan tâm của giới nghiên cứu văn học Song hầu hết những nghiên cứu về tác phẩm này chỉ dừng lại ở phạm vi nhỏ hẹp như:

Tác giả Nguyễn Ngọc Hoá nghiên cứu tác phẩm trên hai bình diện: cái

tài hoa; cái thật và khẳng định “trong truyện “Chữ người tử tù”, cái thật trội hẳn lên” và cụ thể hơn “cái tấm lòng thực của ông đã hoà quyện trong cái tài hoa của một nghệ sỹ bậc thầy đã tạo dựng nên một thiên truyện vừa cổ kính vừa hiện đại, không chỉ thức tỉnh sự suy ngẫm mà chỉ ra con đường để giữ lấy thiên lương” [28, tr.288, 289]

Tác giả Văn Tâm trong bài viết “Về truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân” tập trung khai thác tác phẩm trên phương diện tinh thần

dân tộc ở các khía cạnh: Bậc thầy ngôn ngữ dân tộc trong việc miêu tả đầy

Trang 14

chất tạo hình và điện ảnh của cảnh cho chữ; Thái độ luyến tiếc nhã thú văn hoá cổ truyền đang lụi tàn dần – thưởng ngoạn thư pháp; Sự trân trọng tiếng

mẹ đẻ qua việc sử dụng từ cổ…

Tác giả Hà Bình Trị gọi Nguyễn Tuân là “Thầy chữ Nguyễn Tuân với nghệ thuật vẽ mây nảy trăng, nghệ thuật, văn xuôi điêu luyện, nhịp điệu câu văn, chất hoạ và nhạc trong câu văn” [28, tr.301, 302]

Như vậy, việc nghiên cứu “Chữ người tử tù” chủ yếu vẫn tập trung ở hai phương diện chính là nội dung (cái thật, cái tài hoa, tinh thần dân tộc) và nghệ thuật (thầy chữ, nghệ thuật cổ điển kết hợp với hiện đại)

Gần đây, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới PPDH, việc nghiên cứu dạy học “Chữ người tử tù” trong nhà trường phổ thông được chú ý nhiều hơn Một số công trình nghiên cứu đã đi sâu vào vấn đề cụ thể như:

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Cúc “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học tác phẩm Nguyễn Tuân ở trường phổ thông” đã khảo

sát trên 4 tác phẩm của Nguyễn Tuân là truyện ngắn “Chữ người tử tù”, tùy bút “Người lái đò sông Đà”, “Tờ hoa” và tác phẩm phê bình văn học “Thời và thơ Tú Xương” Với luận văn này tác giả mới chỉ tập trung nghiên cứu đọc hiểu chung ở 4 truyện ngắn của Nguyễn Tuân

Luận văn thạc sỹ của Phan Hồng Hiệp “Bồi dưỡng năng lực thẩm văn cho học sinh giỏi Văn khi học “ Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân” đã đưa

ra những biện pháp thiết thực nhằm mục đích bồi dưỡng năng lực cảm nhận văn chương cho học sinh khi học tác phẩm thấm đẫm sự tài hoa trong ngòi bút của Nguyễn Tuân

Luận văn thạc sỹ của Phạm Thị Quy “Những cách thức triển khai tình huống có vấn đề trong dạy học tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân” đã nêu ra những cách thức triển khai tình huống có vấn đề là: Phát

hiện, gọi tên tình huống có vấn đề; Lưu giữ và duy trì tình huống có vấn đề; Củng cố tình huống có vấn đề; Phân tích tình huống có vấn đề; Giải quyết tình huống có vấn đề Áp dụng những cách thức trên vào việc dạy học tác

Trang 15

phẩm “Chữ người tử tù”, tác giả khẳng định vai trò quan trọng của tình huống

có vấn đề trong phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề

Luận văn thạc sĩ của Trần Quốc Khả “Tổ chức đối thoại trong dạy học

“Chữ người tử tù”, tác giả nêu khái quát về nội dung và bản chất của phương

pháp dạy học đối thoại Từ đó vận dụng phương pháp này vào đọc hiểu tác phẩm

“Chữ người tử tù” nhằm phát huy vài trò chủ động sáng tạo cho người học

Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Hồng Bắc “Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu tác phẩm chữ người tử tù của Nguyễn Tuân cho học sinh lớp” đã tập trung

vào mục đích: giúp học sinh hiểu được cái hay của tác phẩm “Chữ người tử tù” từ tầng cấu trúc ngôn từ đến tầng cấu trúc hình tượng nghệ thuật cũng như tầng cấu trúc vị nhân sinh thông qua các kĩ năng đọc chính xác, đọc phân tích, đọc sáng tạo và kĩ năng đọc tích lũy

Qua đây chúng tôi thấy: Các công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả trên đều có cái nhìn khá sâu sắc ở một vấn đề, khía cạnh của tác phẩm Tuy nhiên chưa có một công trình nào đi sâu vào khai thác đặc trưng thi pháp

của chủ nghĩa lãng mạn trong tác phẩm “Chữ người tử tù” để từ đó đưa ra

những định hướng phù hợp hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản một cách toàn diện, thấu đáo

Xuất phát từ thực tế trên, ở công trình này chúng tôi tập trung vào đề

tài: “Hướng dẫn học sinh THPT đọc hiểu văn bản “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân theo đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc tìm hiểu thực trạng dạy học văn bản “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân ở trường THPT nhằm đề xuất các phương pháp dạy học cụ thể, tích cực, hiệu quả khi đọc hiểu văn bản này theo đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu, tìm hiểu về lí luận đọc hiểu tác phẩm văn chương

Trang 16

- Nghiên cứu, tìm hiểu về đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn và biểu hiện của nó trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân

- Khảo sát thực trạng dạy học văn bản “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân trong trường THPT Bến Tắm – thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương

- Đề xuất, xây dựng một số biện pháp hướng dẫn học sinh đọc – hiểu văn bản “Chữ người tử tù” theo đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn

- Thiết kế giáo án và đưa vào thực nghiệm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu trong luận văn này là một số biện pháp nhằm hướng dẫn học sinh THPT đọc hiểu văn bản “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân theo đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Phạm vi nghiên cứu của đề tài là văn bản “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân (SGK Ngữ văn 11 ban cơ bản - NXBGD 2007); đặc trưng thi pháp của chủ nghĩa lãng mạn

- Phạm vi khảo sát, ứng dụng: chỉ khảo sát học sinh và giáo viên lớp 11 tại trường THPT Bến Tắm – Chí Linh – Hải Dương

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: Sưu tầm, đọc tài liệu nghiên

cứu về tác giả Nguyễn Tuân và tác phẩm “Chữ người tử tù”; kĩ năng đọc hiểu Văn; phương pháp dạy học Văn

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra - khảo

sát bằng phiếu hỏi, tổng kết kinh nghiệm, đưa giáo án vào thực nghiệm

- Nhóm phương pháp xử lý thông tin: Định lượng, định tính, thống kê

và phân tích thống kê

6 Giả thuyết khoa học

Nếu bám sát những yêu cầu cơ bản và sử dụng những biện pháp cụ thể

Trang 17

như trong luận văn đã nêu thì sẽ hướng dẫn cho học sinh đọc hiểu văn bản

“Chữ người tử tù”của Nguyễn Tuân theo đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn một cách hiệu quả

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương chính:

- Chương 1: Cơ sở lí luận

- Chương 2: Thực trạng dạy học văn bản “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân ở trường THPT và việc định hướng đọc hiểu văn bản này theo đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn

- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Những vấn đề chung về đọc hiểu tác phẩm văn chương

1.1.1 Khái niệm đọc hiểu tác phẩm văn chương

1.1.1.1 Khái niệm đọc

Bằng suy luận trực cảm, chúng ta đều biết rằng đọc bắt đầu lịch sử của

nó từ chữ viết Từ xa xưa hoạt động đọc đã tích lũy vô vàn những dạng thức đọc, kiểu đọc, dạng đọc, phương pháp đọc, kĩ năng đọc, kĩ thuật đọc khác nhau Song cho đến nay lịch sử nghiên cứu vẫn chưa có những tiêu chí cụ thể

để phân loại một cách rạch ròi ranh giới khoa học giữa chúng Vậy đọc là gì?

Phạm Thị Thu Hương cho rằng: “Đọc là phát âm các chữ cái và tổng hợp chúng thành từ ngữ” “Đọc là hiểu những gì trên trang giấy” [20, Tr 15] Còn

với GS TS Nguyễn Thanh Hùng – một người dành cả cuộc đời mình để nghiên

cứu vấn đề đọc - khẳng định: “Đọc là sự thu nhận thông tin có nội dung ý nghĩa nào đó Vì thế đọc lại liên quan đến khả năng nhận thức, đến nhu cầu sống và giao tiếp của con người với sự sáng tạo cuộc sống ngày càng cao” [18,

Tr 24] Từ cơ sở của việc đọc văn bản nói chung, GS Nguyễn Thanh Hùng đã lí giải khá sâu sắc và rất khoa học về vấn đề đọc văn Ông chỉ ra điểm khác biệt

đọc văn với đọc văn bản khác là: “Hoạt động đọc văn đòi hỏi người đọc trước hết phải huy động khả năng tri giác ngôn ngữ để tìm hiểu không chỉ các tầng ý nghĩa của lớp từ và câu mà còn thức tỉnh cảm xúc, khơi dậy năng lực liên tưởng, tưởng tượng để tái hiện thế giới nghệ thuật của tác phẩm Nghệ thuật đòi hỏi những ý nghĩ và tình cảm đặc biệt như là sự dấn thân, nếu không một tác phẩm nghệ thuật đối với chúng ta hoàn toàn chỉ là đối tượng quan sát Nhìn thấy đó mà vô hồn, sẽ không tiếp cận được và không thể hiểu sâu sắc những gì mà nghệ sĩ suy tư về cuộc sống” [18, Tr 34] Từ đó, tác giả kết luận:

“Đọc văn chương là đọc cái chủ quan của người viết bằng cách đồng hóa tâm hồn, tình cảm, suy nghĩ của mình vào trang sách Hoạt động đó không chỉ là

Trang 19

tái tạo âm thanh từ chữ viết mà còn là quá trình thức tỉnh cảm xúc, quá trình tri giác nhuần thấm tín hiệu để giải mã ngôn từ, mã nghệ thuật, mã văn hóa đồng thời với việc huy động vốn sống, kinh nghiệm cá nhân người đọc, để lựa chọn giá trị tư tưởng thẩm mĩ và ý nghĩa vốn có của tác phẩm” [18, Tr 34]

Trong cuốn “Phương pháp dạy học văn” Tập 1, Nxb Đại học Sư phạm

– 2004, các tác giả đã khẳng định rằng: “Đọc văn để tiếp nhận, lĩnh hội, đọc văn để hiểu và cảm nhận văn, có ấn tượng và định hình biểu tượng về tác phẩm văn Người đọc văn phải làm sống lại hình tượng nghệ thuật từ văn bản tác phẩm rồi chuyển hình tượng đó vào trong đầu trở thành biểu tượng, ấn tượng của mình ” [23, Tr 429]

Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoàn quan niệm: Đọc là một hoạt động nhận thức nhằm hiểu nghĩa thông qua quá trình chủ thể người đọc làm việc với văn bản Trước văn bản, người đọc vận dụng những kiến thức đã có cùng với những gợi ý (trực tiếp và gián tiếp, hiển ngôn và hàm ngôn) trong bài đọc để hiểu ý nghĩa tác phẩm

Trong bài viết: “Từ giảng văn qua phân tích tác phẩm đến dạy học đọc

hiểu văn bản văn học”, GS Trần Đình Sử cho rằng khái niệm đọc văn bản văn

học nhìn chung có thể xác định với sáu nội dung như sau:

- Đọc là hoạt động tâm lí nhằm giải mã văn bản Một là chuyển văn bản

kí hiệu văn tự thành văn bản bằng ngôn ngữ tương ứng với văn bản chữ viết Hai là giải mã văn bản để tìm ý nghĩa

- Đọc là hoạt động tìm nghĩa, và vì ý nghĩa là cái không hiển thị rõ ràng nên đọc là hoạt động cảm thụ kết hợp với tư duy nhằm kiến tạo ý nghĩa

- Đã có vai trò của cảm thụ và tư duy thì đọc là hoạt động mang tính cá thể hoá cao độ, gắn với trình độ, cá tính, trí tuệ của người đọc Đọc hiểu là tự hiểu Không ai hiểu hộ được cho ai

- Sự kiến tạo ý nghĩa xác định đọc là hoạt động sáng tạo

- Hoạt động tìm nghĩa là quá trình đối thoại với tác giả và cộng đồng lí giải – tính liên chủ thể, tính hợp tác

Trang 20

- Hoạt động chiếm lĩnh văn bản tất yếu phải xử lí mối liên hệ giữa văn bản đang đọc với trường văn bản xung quanh - tính liên văn bản, hoạt động liên kết văn hoá

Dù có rất nhiều những cách lí giải riêng về quan niệm đọc văn Song nhìn chung các quan niệm của các nghiên cứu trên đều tập trung vào các vấn

đề của đọc tác phẩm văn chương như sau:

Đọc là một hoạt động nhằm lĩnh hội và hiểu được các tầng ý nghĩa của văn bản (từ tầng ngôn từ đến tầng nghệ thuật cũng như tầng ý nghĩa vị nhân sinh của văn bản đó) Quá trình lĩnh hội đó phải dựa vào khả năng chủ động, tích cực và sáng tạo của chủ thể đọc khi khám phá tác phẩm

Đọc chính là quá trình thấu hiểu và cảm thông cũng như đối thoại với các nhà văn Thông qua đó, người đọc sẽ vận dụng một cách sáng tạo những kiến thức có trong tác phẩm vào trong cuộc sống của mình Từ đó nâng tầm hiểu biết của mình về xã hội, hình thành và phát huy những năng lực của bản thân

Nhìn chung, có thể thấy đọc là một hoạt động có ý thức văn hóa và mang tính giáo dục sâu sắc Đọc chính là sự thể hiện những nhận thức của con người thông qua ngôn từ để giao tiếp và phát triển cá thể cùng xã hội

1.1.1.2 Khái niệm hiểu

Theo GS.TS Nguyễn Thanh Hùng thì: “Hiểu tức là nắm vững và vận dụng được” Từ khái niệm hiểu nói chung đó, tác giả đi đến khái niệm hiểu tác phẩm văn chương là: “Nắm vững ý nghĩa và vẻ đẹp của nó trong tương quan với những gì đã tiềm tàng trong tác phẩm và trong kiến văn của người đọc” [17, Tr 28]

Với GS Trần Đình Sử, khái niệm hiểu tác phẩm văn chương bao hàm một phổ rất rộng với nhiều thang bậc khác nhau “Bắt đầu từ rung cảm (cảm thấy hay là đã bắt đầu hiểu, dù là chưa giải thích được), đồng cảm, đến hiểu, thưởng thức thẩm mĩ, di dưỡng tinh thần… Xuyên suốt tất cả các khâu đó là

sự hiểu” [38]

Đề cập đến vấn đề hiểu văn bản, các nhà nghiên cứu đều thống nhất

Trang 21

việc hiểu có nhiều cấp độ, từ đơn giản đến sâu sắc Nhưng một điều đặc biệt

là đối với văn bản văn học thì người đọc không chỉ hiểu được giá trị tư tưởng, tình cảm mà tác giả gửi gắm qua tác phẩm mà còn hiểu cái hay, cái đẹp đằng sau ngôn ngữ Nhìn chung bản chất tâm lí của sự hiểu là biến cái của người khác thành cái vừa của mình – vừa của người khác Hiểu bao giờ cũng là tự hiểu, nghĩa là biến cái được hiểu thành kiến thức, quan điểm, niềm tin của mình Có thể thấy biên độ của hiểu đã được đẩy ra mọi mức độ nhận biết cho tới mức độ cao nhất là đánh giá, vận dụng

Từ việc tìm hiểu hai khái niệm đọc và hiểu ở trên, chúng tôi thấy: mọi sự

đọc, dù động cơ như thế nào, đều không thoát li được việc tìm nghĩa của văn

bản, cho nên mọi sự đọc đều là đọc hiểu Nói như T.S Nguyễn Trọng Hoàn:

“Hiểu vừa là nguyên nhân vừa là mục đích của đọc Nếu đọc mà không hiểu thì không phải là quá trình đọc Có nhiều yếu tố liên quan đến hoạt động đọc, song nội hàm của khái niệm đọc không thể tách rời với hiểu” [11] Cùng chung quan điểm đó, GS.TS Nguyễn Thanh Hùng cũng khẳng định: “Đọc là hành động

cơ bản và có tầm quan trọng hết sức to lớn… hiểu là kết quả mong muốn và tất yếu của hoạt động đọc Hiểu là mục đích cuối cùng và cao nhất của bất cứ hành động đọc nào… hiểu phụ thuộc chặt chẽ và hành động đọc” [18, Tr 26,27] Vậy nên “đọc hiểu vừa là hành động vừa là kết quả của việc đọc Đọc hiểu bao hàm sự kết nối những biểu hiện khác nhau về ý nghĩa của tác phẩm và là kết quả cụ thể của sự lí giải mới nhờ tính mở của tác phẩm” [18, Tr 27]

Việc đọc hiểu TPVC phải đảm bảo việc biết rõ và hiểu đúng, phải nắm

vững và vận dụng được tư tưởng thẩm mĩ và thái độ đánh giá của nhà văn đối với hiện thực được phản ánh để người đọc đọc hiểu các TPVC cùng thể loại, cùng khuynh hướng văn học, trào lưu văn học, phương pháp sáng tác hay cùng quan điểm nghệ thuật

1.1.2 Bản chất việc đọc hiểu

1.1.2.1 Đọc hiểu là hành động nhận thức tích cực

Đặc tính cốt lõi nhất có tính độc đáo, riêng biệt của sự vật hiện tượng

Trang 22

nhằm phân biệt với các sự vật hiện tượng khác trong tự nhiên được gọi là bản chất Vậy bản chất của việc đọc hiểu là gì? GS TS Nguyễn Thanh Hùng

khẳng định: “Bản chất của việc đọc hiểu là một hoạt động của con người trong đó có hành động thu và phát tín hiệu để hiểu nhau” [18, Tr 58] Tác giả

lí giải sâu sắc: “Trước hết, đọc hiểu là hành động đọc” [18, Tr 59] Trong khi

đọc, người đọc có sự lao động cơ bắp với luồng mắt theo dõi, lia lướt trên dòng chữ, trang viết, với sự điều tiết cơ quan phát âm, tay cầm sách, chân đỡ sức nặng toàn thân, vai cổ điều chỉnh khoảng cách phù hợp giữa mắt, ánh sáng và sách Đồng thời với các hoạt động trên, con người tiến hành quá trình phân tích, tổng hợp, so sánh, liên tưởng, ghi nhớ, suy luận diễn ra liên tục trong một khoảng thời gian nhằm thu nhận thông tin để hiểu những gì chưa

hiểu trước đó Như vậy có thể nói “đọc hiểu là hoạt động có mục đích nhất định tác động vào đối tượng để nhận thức và cải tạo bản thân” [18, Tr 59]

Khi đọc hiểu TPVC, người đọc không chỉ tái tạo âm thanh từ chữ viết mà còn phải đồng hóa tình cảm, suy nghĩ của mình vào trang sách, tận dụng năng lực

tư duy, vốn tri thức và kinh nghiệm sống để hiểu trọn vẹn ý nghĩa không được nói ra trực tiếp mà chìm sâu vào phương thức biểu hiện ngầm ẩn Nó là một quá trình nhận thức vô cùng phức tạp Ngoài ra đọc hiểu cũng không phải là một công việc phó mặc hoàn toàn cho sự may rủi, được chăng hay chớ Và một trong những yếu tố thể hiện được sự tích cực, chủ động và sáng tạo của người đọc chính là ở sự vận dụng việc hiểu của bản thân người đọc trong quá trình đọc hiểu văn bản Quá trình đọc hiểu sẽ có tác dụng biến đổi và hoàn thiện tư duy, ý thức, thế giới nội tâm người đọc Vậy nên, nó sẽ ảnh hưởng quyết định đến hành vi, trình độ văn hóa của người đọc trong lao động, sinh

hoạt và hoạt động xã hội M Gorki nói: “Văn học là nhân học” là vì lẽ đó

Tóm lại, bản chất của đọc hiểu văn chương là một quá trình lao động sáng tạo mang tính thẩm mĩ nhằm phát hiện ra những giá trị của tác phẩm trên

cơ sở phân tích đặc trưng văn bản Đọc văn chương với bất kì hình thức nào cũng là một dạng thức lao động mang tính chủ động và tích cực

Trang 23

1.1.2.2 Đọc hiểu là quá trình nắm vững ý nghĩa

Đọc hiểu là một thuật ngữ kép dùng chỉ một hoạt động có mục đích cụ thể của con người Đó là hoạt động tự lĩnh hội tri thức bằng hoạt động trí tuệ Đọc hiểu vừa là năng lực, vừa là kĩ năng cần rèn luyện của con người Bàn về

đọc hiểu, trong cuốn chuyên luận: “Đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường” - Nxb Giáo dục năm 2008, GS TS Nguyễn Thanh Hùng đã chỉ ra mục đích của việc đọc hiểu TPVC: “Đọc để hiểu giá trị đích thực của tác phẩm” Không hiểu được giá trị đích thực đó, việc đọc sẽ trở nên trống rỗng

và vô nghĩa giống như chúng ta nhìn mà không thấy vậy Nói như Durkin thì

“cốt lõi của của việc đọc là sự hiểu” Cho nên đọc phải gắn liền với hiểu Nội

dung ý nghĩa của văn bản được người viết thể hiện và gợi ra từ yếu tố ngôn

từ, từ mối quan hệ thống nhất, chỉnh thể của văn bản và từ suy nghiệm, phát hiện, sáng tạo của người đọc Vậy nên, người đọc sẽ khám phá ra nghĩa của

các từ, tức “nhận ra kí hiệu và nghĩa của kí hiệu”, hiểu được các từ đó liên kết

với nhau như thế nào nhằm chuyển tải bức thông điệp gì, và chúng có tác động như thế nào đến tình cảm, nhận thức cũng như hành vi của người đọc Đọc hiểu văn bản thực chất là quá trình người đọc kiến tạo ý nghĩa của văn bản đó thông qua hệ thống các hoạt động, hành động, thao tác nhất định Đây

là một hoạt động không đơn giản diễn ra trong một thời gian ngắn mà nó xuyên suốt trong cả một quá trình GS.TS Nguyễn Thanh Hùng đã khẳng

định: “đọc mà nắm vững được nội dung ý nghĩa văn bản ngay từ khi bắt đầu chỉ là viển vông” Chính vì vậy mà Lâm Ngữ Đường khi bàn về đọc sách đặc biệt là đọc các TPVC đã đúc kết: “Tuổi trẻ đọc sách như nhìn trăng qua cái

kẽ, lớn tuổi đọc sách như ngắm trăng ngoài sân, tuổi già đọc sách như thưởng trăng trên đài” Khi người đọc có càng nhiều vốn sống, kinh nghiệm

thì đọc sách càng hiểu sâu rộng hơn

Ý nghĩa của một văn bản văn chương được gửi gắm và vùi lấp trong văn bản và được hiểu rất linh hoạt và đa dạng Để khám phá ra sự đa dạng đó phụ thuộc vào khả năng nhận thức và trình độ của người đọc trong những thời

Trang 24

điểm xác định khác nhau Và ý nghĩa trong văn bản cũng không phải là cái có sẵn trong văn bản đó mà người đọc dễ dàng tìm ra được Để khám phá được ý nghĩa của văn bản người đọc phải tư duy một cách tối đa Từ đó các tầng nghĩa và ý của văn bản cũng sẽ được người đọc dần dần chỉ ra Tất cả các lớp nghĩa như nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa đơn trị, đa trị, nghĩa văn cảnh… đều người đọc giải mã Thậm chí ngay cả những tầng ý vị nhân sinh đằng sau khoảng trống của ngôn ngữ, người đọc cũng phải vận dụng các kĩ năng phân tích, tổng hợp, so sánh, liên tưởng, ghi nhớ, suy luận để thấu hiểu Và khi đó người đọc trở thành người đồng sáng tạo với người viết ra văn bản

Hiểu được bản chất của việc đọc hiểu, mỗi người GV ý thức sâu sắc rằng dạy học văn không còn là giảng văn hay phân tích tác phẩm mà là hướng dẫn đọc hiểu TPVC cho HS Đây chính là khâu trung tâm mang tính chất đột phá của việc đổi mới phương pháp dạy học văn trong nhà trường Chỉ có vậy,

HS mới thực sự tích cực, chủ động, tự giác và trở thành “ bạn đọc sáng tạo trong quá trình dạy học văn”

1.1.3 Nội dung đọc hiểu tác phẩm văn chương

Khái niệm và bản chất cuả đọc hiểu đã xác định rõ nội dung của đọc hiểu tác phẩm văn học trong nhà trường là nắm được giá trị đích thực của tác

phẩm Người GV phải từng bước giúp HS khám phá giá trị đích thực đó, “bắt đầu từ đọc chữ, đọc câu, hiểu nghĩa của từ và sắc thái biểu cảm, hiểu nghĩa của câu, hiểu mạch văn, bố cục và nắm được ý chính cũng như chủ đề của tác phẩm” rồi đến “hiểu đặc sắc về nghệ thuật và ý nghĩa xã hội nhân văn của tác phẩm trong ngữ cảnh của nó Hoạt động đọc hiểu không những có khả năng tích hợp văn học và tiếng Việt mà còn có khả năng khơi gợi và khai thác những tri thức thuộc các lĩnh vực khoa học và văn hóa khác” [22] Như vậy, thì nội

dung đọc hiểu mới đi đúng hướng theo bản chất của nó, đồng thời cũng tích cực hơn so với khái niệm tìm hiểu, phân tích trong các giáo án truyền thống

Trăn trở với vấn đề này, GS TS Nguyễn Thanh Hùng cũng đã trình bày

khá cụ thể về nội dung đọc hiểu TPVC trong công trình mang tên “Kĩ năng

Trang 25

đọc hiểu văn” Nxb Đại học Sư phạm – 2011 Theo tác giả thì một TPVC tồn

tại ba loại cấu trúc Đầu tiên là tầng cấu trúc ngôn ngữ, kế tiếp là tầng cấu trúc hình tượng, sau cùng là tầng cấu trúc ý nghĩa Và khi đọc hiểu tác phẩm là phải khám phá, lí giải được cả ba tầng cấu trúc trên

1.1.3.1 Đọc hiểu giá trị ý nghĩa tầng cấu trúc ngôn từ tác phẩm văn chương

Ngôn từ là yếu tố đầu tiên của văn bản văn học và là chất liệu, là phương tiện biểu hiện đặc trưng của văn học Nội dung và ý nghĩa của TPVC được ẩn giấu trong lớp vỏ ngôn ngữ Các chi tiết các sự việc, các hình tượng, các nhân vật… và các thành tố khác đều được cấu tạo nên nhờ lớp ngôn từ Không có ngôn từ ta không có căn cứ cụ thể để tìm hiểu, để thưởng thức văn bản Vậy bước đầu tiên khi đọc hiểu văn bản văn học là phải đi sâu khai thác lớp ngôn từ

để tìm hiểu, khám phá Và đọc hiểu tầng cấu trúc ngôn từ là điều quan trọng nhất để người đọc để người đọc hiểu dần, hiểu sâu, hiểu đầy đủ tác phẩm

Ngôn từ được hiện diện trong câu, trong hình ảnh, trong giọng điệu của văn bản Ngôn từ ở văn bản văn học là ngôn từ nghệ thuật, có hình tượng, có tính thẩm mĩ, có sắc thái riêng theo phong cách riêng của mỗi nhà văn Mỗi nhà văn phát hiện cuộc sống và trình bày theo một phương thức nghệ thuật bằng ngôn ngữ sáng tạo của mình Trong văn học Việt Nam có ngôn từ tài hoa của Nguyễn Tuân; ngôn từ trong sáng, tinh tế của Thạch Lam; có ngôn từ chân chất, đầy màu sắc Nam Bộ của Sơn Nam… Không có ngôn từ nào là không mang dấu ấn của tác giả

Ngôn từ có vai trò quyết định đối với TPVC Nó là phương tiện chuyên chở ý nghĩa của tác phẩm Muốn có một TPVC được đọc mãi với thời gian thì tác giả phải tìm được cách diễn đạt mới, tạo ý nghĩa và hấp dẫn người đọc Thông qua đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật, nhà văn đã thổi vào đó linh hồn của tác phẩm Người sáng tác thông qua ngôn ngữ để bộc lộ quan điểm, tình cảm, tư tưởng, khát vọng, ước mơ về con người và cuộc sống còn người đọc lại thông qua ngôn ngữ, thông qua hiện thực phản ánh trong tác phẩm mà hiểu được vấn đề mà nhà văn thể hiện

Trang 26

Nhìn chung, hiểu tầng cấu trúc ngôn từ của TPVC là tìm cách nắm vững ngày càng đầy đủ và sâu sắc mối quan hệ vật chất giữa những kí hiệu nền tảng như từ, câu, đoạn, chương, phần của tác phẩm Mặt khác, người đọc phải theo dõi sát sao mối quan hệ sống động của ngôn từ tác phẩm qua thao tác thay thế và kết hợp mà nhà văn và người đọc phải hiểu ở cái lí, cái chân thật trong nhận thức đời sống, trong tình cảm, thái độ của con người, trong những khoảnh khắc tiêu biểu, điển hình của con người Ngoài ra, khi tìm hiểu tầng cấu trúc ngôn từ TPVC còn phải nắm được không gian ngữ nghĩa trong các loại văn cảnh

Hiểu được tầng cấu trúc ngôn từ là hiểu nội dung được kể và tả những

gì quan trọng trong sự lựa chọn đánh giá của nhà văn Tầng cấu trúc ngôn từ cho phép người đọc hiểu được khung cảnh xã hội của tác phẩm với sự kiện, con người, không gian, thời gian trong những biến cố chính

Vậy nên, yêu cầu đối với việc nắm vững cấu trúc ngôn từ là phải hiểu chính xác của ngôn ngữ và phương thức trình bày nghệ thuật của nhà văn Hiểu nghĩa cụ thể của phạm vi đề tài, chủ đề và sự triển khai chúng, đồng thời hiểu được cái hay, cái đẹp của cách dùng từ, tạo câu, hình thành nhịp điệu và giọng điệu của ngôn ngữ tác phẩm Hiểu tới mức thấm thía hương vị mới của ngôn từ qua cảm giác, tri giác và cảm xúc của người đọc

1.1.3.2 Đọc hiểu giá trị ý nghĩa tầng cấu trúc hình tượng nghệ thuật của tác phẩm văn chương

Đọc hiểu tầng cấu trúc ngôn từ của TPVC là nắm vững hình thức tái tạo hiện thực được nhà văn lựa chọn như thật của đời sống Đi qua nó, người đọc đến với tầng cấu trúc hình tượng nghệ thuật của tác phẩm Đây là cấu trúc

mà qua đó nhà văn biểu hiện tình cảm, thẩm mĩ của mình Hình tượng nghệ thuật làm nên tính chỉnh thể nghệ thuật của TPVC, nó tập trung thể hiện các giá trị nhân học và thẩm mĩ của nghệ thuật Vì vậy, hiểu tầng cấu trúc này người đọc có điều kiện thâm nhập vào sự sáng tạo nghệ thuật mới mẻ trong tác phẩm một cách đầy đủ, trọn vẹn nhất

Trang 27

Tuy nhiên hình tượng nghệ thuật cũng rất đa tầng, đa nghĩa và biến hóa trong vận động biểu đạt ý nghĩa như ngôn từ văn học Về mặt đối tượng nhận biết, hình tượng nghệ thuật không chỉ là nhân vật văn học mà là toàn bộ chỉnh thể tác phẩm Hình tượng nghệ thuật là hình thể phản ánh thực tại có hiệu quả thẩm mĩ Hình tượng nghệ thuật được sáng tạo trong TPVC nhờ vào những chi tiết, cốt truyện, nhân vật, hoàn cảnh, tâm trạng… Và hình tượng nghệ thuật này cũng được chia làm nhiều loại như: hình tượng trung tâm, hình tượng tính cách, hình tượng cảm nghĩ, hình tượng tác giả với những đặc điểm của chúng Về đặc trưng, hình tượng nghệ thuật không đứng yên mà luôn di động trong mối quan hệ với những yếu tố khác của tác phẩm khiến hình tượng trở nên sống động, cụ thể và đầy đặn hơn nhờ vào tính khái quát hóa nghệ thuật của nó Nhà văn chỉ có thể bộc lộ được cá tính sáng tạo của mình khi họ phát hiện ra cái mới làm nên bản chất của đời sống xã hội và biết truyền đạt cách cảm thụ và đánh giá cái bản chất ấy theo cách riêng, làm người đọc cảm nhận, lĩnh hội được

Vậy nên, muốn đọc hiểu tầng cấu trúc hình tượng nghệ thuật của TPVC, ta phải có cái nhìn sâu sắc về hệ thống ngôn từ - một chất liệu biến hóa tạo nên hình tượng Đồng thời, người đọc phải so sánh đối chiếu những hình ảnh có liên quan với nhau để xác định hình tượng trung tâm của tác phẩm Hình tượng nghệ thuật của TPVC có thể là một nhân vật, có thể là sự khái quát của nhiều nhân vật Hình tượng ấy có thể lộ diện cũng có thể được

sử dụng một cách ẩn dụ; vừa có tính cụ thể cảm tính qua biểu tượng, vừa có tính khái quát trừu tượng bằng cảm nghĩ và tư tưởng Hình tượng nghệ thuật được xây dựng bởi những thủ pháp nghệ thuật, bởi hình thức sáng tạo cụ thể của từ ngữ, câu văn, giọng điệu, nhịp điệu để tạo hình và biểu hiện chính nó Như vậy, hình tượng nghệ thuật được xem là cấp độ hình thức mới để biểu đạt và làm sáng tỏ nội dung tư tưởng tác phẩm

Do đó phân tích cấu trúc hình tượng nghệ thuật không chỉ dừng lại ở bề mặt cốt truyện và tính cách nhân vật mà phải chú ý kết cấu, cấu trúc nội (tại tức

Trang 28

là mối quan hệ qua lại giữa nhân vật và sự kiện, giữa tình huống, giữa chi tiết nghệ thuật và điểm sáng thẩm mĩ, giữa cảnh và tình, giữa bộ phận và toàn thể, giữa hiển ngôn và hàm ngôn, giữa thời gian, không gian…) Chính cấu trúc hình tượng nghệ thuật đã lưu giữ tâm hồn một cách thầm kín để tạo nên chiều sâu của tác phẩm Vậy nên, để hiểu được cấu trúc hình tượng nghệ thuật của tác phẩm chỉ có một cách đọc thông qua bản thân, tự chiêm nghiệm mà tích lũy kinh nghiệm nghệ thuật có thể cảm nhận được sự tồn tại của tầng cấu trúc này

1.1.3.3 Đọc hiểu giá trị ý nghĩa tầng cấu trúc tư tưởng và ý vị nhân sinh của tác phẩm

Khi gặp một người, điều dễ thấy là gương mặt, hình dáng bên ngoài Dần dần qua tiếp xúc ta mới hiểu chiều sâu kín trong tâm hồn của họ Đọc tác phẩm văn chương cũng vậy: từ tầng ngôn từ đến tầng hình tượng, dần dần ta tìm ra tầng tư tưởng, ý vị nhân sinh của tác phẩm Có tìm ra tầng này ta mới hiểu được những điều nhà văn muốn tâm sự cũng như thể nghiệm về cuộc sống, những quan niệm về đạo đức, xã hội hay những hoài bão của họ Đó là

những “tấc lòng” mà nhà văn muốn kí thác cho đời

Song thế giới tư tưởng cũng rất đa dạng về khuynh hướng và giá trị Nhất là tư tưởng thẩm mĩ trong TPVC càng không đơn giản Một mặt nó có một số nét gần với tư tưởng nói chung, nó xác lập cách nhìn thế giới thực tại

và con người thành những quan điểm làm chỗ dựa cho sự phát triển, hoàn thiện nhân cách và xã hội tương lai Mặt khác nó cũng có những nét riêng như: Tư tưởng chi phối tình cảm thẩm mĩ của mọi người bởi những sắc thái khác nhau trong đánh giá và thị hiếu của họ, tạo nên khả năng riêng để nhận thức thế giới Tư tưởng của TPVC chính là tư tưởng thẩm mĩ của loài người từng bước được khẳng định trong lịch sử văn học

Tư tưởng thẩm mĩ trong TPVC chính là kết quả của những suy tư là sự bừng sáng linh cảm, sự nghiền ngẫm về kinh nghiệm của hàng triệu người và

cả sự trải nghiệm gian khổ của cá nhân nhà văn để vươn tới giá trị tinh thần Đằng sau những lí lẽ trí tuệ người ta nhận ra lí lẽ của con tim Tư tưởng thẩm

Trang 29

mĩ trong TPVC “luôn tìm kiếm và muốn sống trong cuộc đời trần thế sinh động, đa dạng, mang tính người mà tình thương là thứ tôn giáo uy nghi nhất, được thực hiện trong đời sống thường nhật của con người” [18, tr 54] Điều

đó cho thấy tư tưởng thẩm mĩ của TPVC là lấy tình thương và tinh thần tự do của con người làm cứu cánh

Và khi đánh giá sức sống của tác phẩm cũng như giá trị lâu bền của tác phẩm đối với người đọc không phải là vẻ đẹp của ngôn từ hay hình tượng nghệ thuật mà cái chính là ở độ sâu của tầng cấu trúc tư tưởng thẩm mĩ Qua nhiều nghiên cứu cho thấy, cấu trúc tư tưởng thẩm mĩ của tác phẩm không bao giờ tách rời cấu trúc ngôn từ và cấu trúc hình tượng nghệ thuật Tầng cấu trúc tư tưởng thẩm mĩ của TPVC có quan hệ về cấp độ với tầng cấu trúc ngôn

từ và cấu trúc hình tượng nhưng lại vượt qua và lớn hơn về nghĩa và ý nghĩa, tác động sâu xa đến tâm hồn con người Nó là nghĩa lí của cõi người, không chỉ tác động vào nhận thức mà còn tác động vào tâm hồn, tình cảm người đọc

Vì lẽ đó, để tìm và lí giải được cấu trúc tư tưởng và ý vị nhân sinh của TPVC, người đọc cần phải nhìn nhận và đánh giá nó trong mối quan hệ với tầng cấu trúc ngôn từ và tầng cấu trúc hình tượng nghệ thuật Chính GS TS Nguyễn

Thanh Hùng cũng từng khẳng định: “cấu trúc tư tưởng thẩm mĩ đã tổ hợp được tính hạn định của cấu trúc ngôn ngữ và cấu trúc hình tượng, đã dung hòa được tính lịch sử và tính mở của tác phẩm Nó là loại cấu trúc không có hình thức xác định cụ thể nhưng bằng cảm xúc trí tuệ và sự cảm nhiễm thẩm

mĩ, người đọc có thể nhận ra dần về số mệnh của con người, sứ mệnh lịch sử

và thời đại cũng như cõi nhân sinh chứa trong tư tưởng và ý vị tác phẩm ”

[17, tr 31] Đồng thời, để khám phá được tư tưởng và ý vị nhân sinh của TPVC, người đọc cần suy nghĩ và tìm ra mối quan hệ giữa đề tài và chủ đề, giữa chủ đề và chủ đề tư tưởng…

Nói tóm lại, đọc TPVC là quá trình phát hiện và khám phá nội dung ý nghĩa xã hội, con người, thời đại trong cấu trúc hình tượng thẩm mĩ của tác phẩm được đan xen giữa hoạt động nhận thức đánh giá, thưởng thức giá trị

Trang 30

đích thực tồn tại trong hình thức nghệ thuật độc đáo của TPVC Quá trình này yêu cầu người đọc tuân thủ theo qui luật đi từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó, từ hữu hình đến vô hình, từ phân tích đến suy luận, khái quát… Vậy nên, dạy học đọc hiểu văn bản văn học trong nhà trường THPT, người GV cần vận dụng phương pháp đặc trưng phù hợp hướng dẫn HS hiểu được giá trị đích thực của TPVC lần lượt qua ba tầng cấu trúc: cấu trúc ngôn từ; cấu trúc hình tượng nghệ thuật; cấu trúc tư tưởng và ý vị nhân sinh của tác phẩm 1.2 Chủ nghĩa lãng mạn và đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam

1.2.1 Chủ nghĩa lãng mạn

1.2.1.1 Khái niệm chủ nghĩa lãng mạn

Văn học là một loại hình nghệ thuật, một hình thái ý thức xã hội đặc thù luôn vận động, biến chuyển Tiến trình văn học như một hệ thống với sự hình thành, tồn tại phát triển qua các thời kì lịch sử Hoạt động nổi bật của tiến trình văn học là các trào lưu văn học Trào lưu văn học là một hoạt động

có tính chất lịch sử, ra đời và mất đi trong một khoảng thời gian nhất định Đó

là một phong trào sáng tác tập hợp các tác giả, tác phẩm gần gũi nhau về cảm hứng, tư tưởng, nguyên tắc miêu hiện thực, tạo thành một “dòng sông lớn” có

bề thế trong đời sống văn học của một dân tộc hoặc một thời đại

Trong các trào lưu văn học lớn trên thế giới, không thể không nhắc đến trào lưu chủ nghĩa lãng mạn Chủ nghĩa lãng mạn là một trong những trào lưu văn hóa lớn nhất Âu – Mĩ vào cuối thế kỉ XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX, có ảnh hưởng và ý nghĩa lớn đối với sự phát triển văn học toàn thế giới Vào đầu

thế kỉ XVIII, từ “lãng mạn” vốn được dùng để chỉ tất cả những cái gì hoang

đường, kì lạ, khác thường chỉ thấy ở trong sách chứ không có trong hiện thực

Đến khoảng giữa thế kỉ XVIII, chủ nghĩa lãng mạn trở thành một thuật ngữ

chỉ một trào lưu văn học mới đối lập với trào lưu cổ điển chủ nghĩa Thời kì phồn thịnh nhất của trào lưu này là cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX

“Chủ nghĩa lãng mạn có nghĩa vừa là trào lưu văn học, vừa là phương

Trang 31

pháp sáng tác, mang một nội dung lịch sử xã hội - cụ thể, được hình thành một cách tiêu biểu ở Tây Âu vào sau Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 Và

dù hiểu theo nghĩa trào lưu hay phương pháp sáng tác thì chủ nghĩa lãng mạn vẫn có hai khuynh hướng: lãng mạn tích cực và lãng mạn tiêu cực, tuy

có mối liên hệ rất phức tạp với nhau” [26, tr 134]

1.2.1.2 Cơ sở xã hội và ý thức:

* Cơ sở xã hội và ý thức của chủ nghĩa lãng mạn ở phương Tây:

Cuộc Đại cách mạng tư sản Pháp năm 1789 đánh đổ chế độ phong kiến, thiết lập chế độ tư sản là một bước ngoặt lịch sử vĩ đại, không chỉ đối với Pháp mà còn đối với cả Châu Âu Chính sự sụp đổ của chế độ phong kiến

và sự hình thành quan hệ xã hội mới đã tác động sâu sắc đến tư tưởng tình

cảm của mọi tầng lớp trong xã hội

Đối với lớp người thuộc ý thức hệ quý tộc, họ cảm thấy bất mãn với trật tự xã hội mới, lo sợ trước các phong trào quần chúng, hoang mang vì tương lai mờ mịt đồng thời luyến tiếc thời oanh liệt không còn nữa Một bộ phận tầng lớp tiểu tư sản bị phá sản khi cách mạng nổ ra nên họ có tâm trạng

bi đát Vậy nên, những nhà văn lãng mạn xuất thân từ tầng lớp quý tộc trên thường tìm tới thời Trung cổ, thời hoàng kim của chế độ phong kiến, hướng tới lý tưởng về cuộc sống đẹp đẽ êm đềm của thời xưa cũ, mơ ước khôi phục lại chế độ cũ và đức tin đối với nhà thờ để truyền bá thuyết Thần bí về thế giới Sự phản ánh đó tạo nên khuynh hướng lãng mạn tiêu cực

Đối với quần chúng nhân dân đặt hy vọng vào những hứa hẹn đầy tinh thần nhân văn chủ nghĩa của cuộc cách mạng thì họ cảm thấy thất vọng Các nhà văn lãng mạn một mặt thể hiện sự thất vọng đối với lí tưởng Khai sáng, đối với thực tại đương thời, đối với viễn cảnh của tiến bộ xã hội; và mặt khác thể hiện khát vọng hoàn thiện, cao vọng vươn tới lí tưởng phổ quát, tuyệt đối, bất tận, nơi đó con người được giải phóng khỏi mọi áp bức bất công Sự phản ánh đó tạo nên khuynh hướng lãng mạn tích cực Chủ nghĩa lãng mạn tích cực chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng chủ nghĩa xã hội không tưởng, họ "nhìn vào

Trang 32

chiều hướng của sự phát triển thực tại", nhưng thực tế họ đã đi trước sự phát triển của thực tại

* Những tiền đề xã hội và văn hóa làm xuất hiện chủ nghĩa lãng mạn ở Việt Nam

Ở Việt Nam, chủ nghĩa lãng mạn với tư cách là một trào lưu văn học xuất hiện vào những năm 30 của thế kỉ XX Tiêu biểu cho trào lưu văn học

này là văn xuôi của nhóm Tự lực văn đoàn và thơ ca của phong trào Thơ mới

Một trào lưu văn học xuất hiện bao giờ cũng trên cơ sở của một hoàn cảnh xã hội, văn hóa cụ thể và phản ánh những đòi hỏi nhất định của con người thời đại sản sinh ra nó Sự xuất hiện của giai cấp tư sản và tiểu tư sản thành thị với những tư tưởng, tình cảm mới, nhưng thị hiếu thẩm mĩ mới cùng với sự giao lưu văn hóa Đông Tây là nguyên nhân chính làm cho văn học lãng mạn ra đời

Do kết quả của cuộc khai thác thuộc địa, giai cấp tư sản bản xứ yếu hèn

và giai cấp tiểu tư sản ra đời Ở giai cấp tư sản và một bộ phận tiểu tư sản lớp trên đã hình thành một lối sinh hoạt “văn minh” ở thành thị Nhiều người đã quen với cuộc sống ở nhà lầu, đi ô tô, dùng đèn điện, quạt điện, đi nghe hòa nhạc tây hoặc đi xem chiếu bóng Hằng năm ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định đều tổ chức chợ phiên, hội chợ, các cuộc thi sắc đẹp… Những kiểu sinh hoạt

ăn chơi đua đòi trụy lạc được thực dân khuyến khích Những lối sinh hoạt trên cùng với sự tiếp xúc với văn hóa Pháp đặc biệt là văn học lãng mạn Pháp làm thay đổi về tư tưởng, tình cảm, cảm xúc và thị hiếu thẩm mĩ của thanh niên

tiểu tư sản thành thị Hoài Thanh đã khẳng định: “Phương Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta Ta không thể vui cái vui ngày trước, buồn cái buồn ngày trước, yêu, ghét, giận hờn nhất nhất như ngày trước” [40, tr 16]

Lưu Trọng Lư trong một buổi diễn thuyết tại Quy Nhơn vào tháng 6 năm

1934 đã nhận xét: “Các cụ ta ưa những màu đỏ choét, ta lại ưa những màu xanh nhạt Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta lại nao nao vì tiếng gà đúng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như đã làm

Trang 33

một điều tội lỗi, ta thì cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng, cái tình đắm say, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái tình

xa xôi, cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu” Những biến đổi mới,

những vấn đề mới, những xung đột mới trong đời sống đòi hỏi cách thức phản ánh, lí giải mới về nghệ thuật Văn học cũ không đáp ứng được đòi hỏi này

Và văn học lãng mạn ra đời như một quy luật tất yếu

Trong văn học buổi giao thời (1900 - 1930) đã xuất hiện những tác phẩm được coi là mầm mống của chủ nghĩa lãng mạn nhưng phải đến đầu những năm 30 của thế kỉ XX, hoàn cảnh văn hóa – xã hội ở Việt Nam mới đầy đủ những điều kiện chín muồi để chủ nghĩa lãng mạn ra đời Và phải đến năm 1932, chủ nghĩa lãng mạn mới thực sự xuất hiện ở Việt Nam

Từ năm 1924 đến năm 1930, dưới chính sách chèn ép và bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp, đời sống nhân dân ta nói chung, đời sống của tầng lớp tiểu tư sản thành thị nói riêng lâm vào tình trạng ngột ngạt, bế tắc Các cuộc khủng bố nhằm dập tắt các cuộc khởi nghĩa và phong trào cách mạng của nhân dân ta (trong đó có giai cấp tư sản và tiểu tư sản) diễn ra hết sức khốc liệt Chúng đàn áp Việt Nam Quốc dân đảng (tổ chức của một bộ phận tri thức tiểu tư sản lớp trên), dìm phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh trong biển máu Cùng với đó, khủng hoảng kinh tế vẫn đe dọa nghiêm trọng làm cho đội quân thất nghiệp ngày càng đông Một bầu không khí căng thẳng, u ám, bế tắc bao trùm lên toàn xã hội Để giảm bớt không khí căng thẳng, ngột ngạt, thực dân Pháp đã thi hành một số chính sách cải lương bịp bợm để đánh lừa quần chúng, đồng thời hướng thanh niên vào con đường sa ngã, trụy lạc, ngày càng

xa dần với cách mạng

Trong bầu không khí văn hóa – xã hội như vậy, năm 1932, chủ nghĩa

lãng mạn mà thành phần chủ yếu là phong trào Thơ mới và tiểu thuyết Tự lực văn đoàn ra đời Đó là tiếng nói của giai cấp tư sản dân tộc và tầng lớp tiểu tư

sản đã rút ra khỏi con đường đấu tranh chính trị với đế quốc, phản ánh tư tưởng, tình cảm của các tầng lớp xã hội này

Trang 34

1.2.2 Đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam

Ở Việt Nam, ra đời trong bối cảnh nước thuộc địa, sau khi chủ nghĩa lãng mạn đã có cả một thế kỷ phát triển, văn chương lãng mạn Việt Nam một mặt chịu ảnh hưởng của văn chương lãng mạn Pháp thế kỷ XIX với các khuynh hướng đa dạng của văn học Pháp và văn học thế kỉ lúc bấy giờ, mặt khác, nó cũng tiếp chất lãng mạn rất đậm đà trong văn mạch của văn hóa dân tộc trong văn học dân gian và văn học cổ điển Văn chương lãng mạn Việt Nam có nhiều đặc điểm không giống với văn chương lãng mạn Pháp thế kỷ XIX, nhưng về phương diện cách nhìn thì cơ bản vẫn là khuynh hướng chủ quan trong tiếp cận và lí giải hiện thực Khác với các nhà văn hiện thực, đối với các nhà văn lãng mạn, việc nghiên cứu đời sống và tái hiện đời sống theo

nguyên tắc cụ thể - lịch sử không phải là chính N.A Gu-lai-ép nhận xét: “Nét khu biệt của kiểu tư duy nghệ thuật lãng mạn, tiêu biểu cho tất cả những nhà lãng mạn là ở cách tiếp cận chủ quan đối với sự mô tả thực tại” [26, tr.414]

Nhìn một cách tổng quát, đặc trưng thi pháp chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam thể hiện rõ nét qua các phương diện sau:

1.2.2.1 Đề tài:

Đề tài ưa thích nhất của chủ nghĩa lãng mạn là thiên nhiên, tình yêu

Khi miêu tả thiên nhiên, các nhà văn lãng mạn nhào nặn lại thiên nhiên theo quan điểm chủ quan của mình Người đọc cảm nhận một thiên nhiên ngồn ngộn, căng tràn sức sống qua cặp mắt “xanh non, biếc rờn” của Xuân Diệu

(Bài thơ Vội vàng); một thiên nhiên nặng trĩu nỗi sầu nhân thế của Huy Cận (Bài thơ Tràng giang); một thiên nhiên đẹp nhưng thấm đẫm nỗi buồn, sự

nuối tiếc bởi không gian xa cách, chia lìa trong sự ngóng vọng giữa trong này

và ngoài kia của Hàn Mặc Tử (Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ) Cũng giống như các

nhà lãng mạn trong văn học phương Tây, các nhà thơ, nhà văn lãng mạn Việt Nam khát khao đi tìm cái đẹp trong thiên nhiên và trong thế giới nội tâm của con người Cảm hứng đi tìm cái đẹp ở thiên nhiên cũng được bộc lộ rất rõ

trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn Trong những trang tiểu thuyết của Nhất

Trang 35

Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo tràn đầy cảm hứng về vẻ đẹp thơ mộng của phong cảnh thiên nhiên Việt Nam Còn trong sáng tác của Nguyễn Tuân cũng

có nhiều trang viết độc đáo về cảnh sắc thiên nhiên, về núi sông cây cỏ trên đất nước Việt Nam Thiên nhiên qua ngòi bút của ông hiện ra như một công trình mĩ thuật tuyệt vời của tạo hóa

Bên cạnh cảm hứng thiên nhiên, cảm hứng tình yêu cũng là nét đặc trưng của văn học lãng mạn Về một phương diện nào đó, có thể xem văn học lãng mạn là tiếng nói về tình yêu Nhiều bài thơ xuất sắc của Xuân Diệu, Hàn

Mặc Tử, Nguyễn Bính là những bài thơ tình Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn,

từ Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, đến Bướm trắng đều

xoay quanh đề tài tình yêu Các nhà văn lãng mạn đã cảm nhận và miêu tả những nỗi niềm, tâm trạng và cảm xúc yêu đương phong phú, tinh vi và chân thực chưa từng có trong văn học những giai đoạn trước đó Có thể nói, với nguồn cảm hứng đặc biệt dành cho tình yêu, đến văn học lãng mạn, tình yêu đích thực là tình yêu trần thế với sự giao cảm tuyệt đối cả thể xác lẫn tâm hồn

Các nhà văn lãng mạn còn có nguồn cảm hứng đặc biệt đào sâu vào đời

sống nội cảm của cái tôi cá nhân, cá thể Họ tuyệt đối hóa giá trị của cái tôi cá

nhân – những cá nhân cô đơn, sầu mộng và đặt chúng cao hơn thực tế khách quan của đời sống Khám phá thế giới nội tâm của con người là một đóng góp

to lớn của chủ nghĩa lãng mạn Tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn một thời làm

say đắm độc giả bởi những trang phân tích, diễn tả tinh tế và tài hoa đời sống nội tâm của con người, đặc biệt là những cảm xúc yêu đương, những cảm giác bâng khuâng, những rung động thầm kín, những cảm giác mong manh, mơ

hồ, thoáng vui, thoáng buồn trong tâm hồn nhân vật Khuynh hướng của nhiều cây bút lãng mạn là tìm vào nội tâm, tìm vào cảm giác, miêu tả thế giới nội tâm tinh vi, phong phú, phức tạp thế giới bên trong của con người Đào sâu vào đời sống nội cảm của cái tôi cá nhân, cá thể, các nhà văn lãng mạn đặc biệt khai thác nỗi đau buồn, nỗi cô đơn của con người Với họ, đó là những tình cảm đẹp Vậy nên, trong sáng tác của mình nhiều cây bút lãng mạn hay nói đến nỗi cô đơn, chuyện biệt li và cái chết

Trang 36

Nhấn mạnh vẻ riêng đến mức phi thường, lí tưởng như vậy cũng có nghĩa là tính cách của nhân vật trong chủ nghĩa lãng mạn thiếu ý nghĩa khái quát và tính phổ biến Chủ nghĩa lãng mạn thường đem nhân vật có tình cảm mạnh mẽ và lí tưởng đối lập với thực tế nghèo nàn và thù địch chung quanh Các nhà văn lãng mạn thường tìm kiếm những giá trị cao đẹp trong cảnh đời thường, tăm tối, khám phá những cái cao cả trong những số phận bị ruồng bỏ, chà đạp để nhấn mạnh những yếu tố phi thường khác lạ Trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân người đọc nhận thấy sự đối lập và tương phản giữa thú chơi chữ và cảnh ngục tù, giữa người tử tù và viên quản ngục Hay trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” - Thạch Lam là sự tương phản giữa vũ trụ bao la với những kiếp người nghèo khổ Bóng tối càng dày đặc bao nhiêu thì khát vọng hướng về ánh sáng càng khắc khoải bấy nhiêu Những cuộc đời trong bóng tối ấy cũng giống như không gian phố huyện kia, mịt mùng, tăm tối nhưng vẫn loé lên ánh sáng của một thế giới khác, một thứ ánh sáng mong manh nhưng không hề lụi tắt Mơ ước lãng mạn bao giờ cũng là cơ sở của hành động Thạch Lam đã mang đến một thông điệp giàu ý nghĩa về con người, tạo nên giá trị nhân văn của tác phẩm: Hãy tin tưởng và trân trọng vào khát vọng của con người, dẫu thực tại còn đầy bóng tối như không gian phố huyện nghèo kia, nhưng con người dù trong hoàn cảnh nào vẫn hướng về ánh

Trang 37

sáng Cảm quan lãng mạn không cho phép nhà văn đi xa hơn, nhưng cũng đủ giúp cho người đọc thêm yêu mến những con người nghèo khổ đầy hi vọng

Tính cách của nhân vật trong chủ nghĩa lãng mạn không có logic với nội tại khách quan mà chuyển biến theo ảo tưởng chủ quan của nhà văn Không bị ràng buộc vào bởi môi trường và hoàn cảnh, các nhà văn lãng mạn phát huy cao độ trí tưởng tượng phong phú của mình khi đề cao và tin tưởng vào khả năng vượt qua giới hạn của con người Họ miêu tả cuộc sống trong sự vận động và thấm nhuần khát vọng vươn tới lí tưởng Ở đó, cuộc sống của con người trở nên tốt đẹp hơn Chẳng hạn như trong truyện “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân, nhân vật Huấn cao - một người tử tù - bằng cái tài hoa và khí phách của mình đã cảm hoá được một con người tội lỗi đi nhầm đường lạc lối đó chính là viên quản ngục Thạch Lam không chỉ dừng lại ở sự cảm thương mà còn muốn những người dân nơi phố huyện nghèo thoát ra khỏi cuộc sống hiện tại cực khổ, xác xơ, quẩn quanh, bế tắc Ước mơ đó được gửi gắm vào hình ảnh chuyến tàu đêm đi qua phố huyện trong sự trông mong chờ đợi của chị em Liên Đó cũng chính là những khát vọng đầy chất nhân văn của nhà văn lãng mạn Thạch Lam

Trong sáng tác, các nhà văn lãng mạn thường lí giải theo tính cách chủ quan và biến hình tượng nghệ thuật thành phương tiện thể hiện những tâm trạng, những lí tưởng chủ quan của mình N A Gu-lai-ép đã khẳng định:

“Hình tượng lãng mạn luôn hòa hợp với mật thiết với tâm hồn tác giả, mang dấu ấn sự cảm thụ cuộc sống cá nhân của anh ta” Nhìn chung, các nhà văn

lãng mạn thường bắt nhân vật phục tùng lí tưởng của mình, để cho nhân vật hành động theo trí tưởng tượng chủ quan bay bổng của tác giả Huấn Cao

trong Chữ người tử tù là một nhân vật như thế Hành trang của một đời tung

hoành không biết trên đầu có ai cùng sự tài hoa, ngông nghênh của ông Huấn cũng chính là một phần tâm hồn Nguyễn Tuân Cũng giống như vậy, truyện

ngắn Hai đứa trẻ - Thạch Lam, nếu không từng sống những ngày thơ ấu vất

vả mà nặng trĩu yêu thương thì chưa chắc nhà văn đã cảm nhận thấu đáo thực

Trang 38

sự cuộc sống của những kiếp người nghèo khổ, vất vơ đó được, nhà văn cũng không thể viết nên được những dòng văn hay như thế về người chị dịu dàng, một người con gái thảo hiền tần tảo chăm lo cho gia đình chịu thương chịu khó Tất cả những điều đó chính là những kỷ niệm đẹp khiến cho nhà văn Thạch Lam viết về những ấn tượng những kỷ niệm vẫn còn nguyên vẹn và sâu sắc của tuổi thơ

1.2.2.3 Ngôn ngữ và biện pháp nghệ thuật

* Ngôn ngữ:

Chủ nghĩa lãng mạn đã ra sức mở rộng phương tiện diễn đạt, phát triển ngôn ngữ đến chỗ rất mực phong phú Vượt qua giới hạn chật hẹp mang tính quy phạm của văn học trung đại, so với trước năm 1930, thời kì này các nhà

văn Tự lực văn đoàn đã kết hợp nhuần nhuyễn truyền thống và hiện đại,

phương Đông và phương Tây nên ngôn ngữ văn học cũng trở nên giản dị, trong sáng, giàu khả năng diễn đạt hơn và đặc biệt là rất gần gũi với tâm hồn dân tộc Người ta biết đến một Thạch Lam bằng những sáng tác văn học đã làm cho tiếng Việt gọn ghẽ hơn, phong phú hơn, mềm mại ra và tươi đậm hơn; một Nguyễn Tuân khơi sáng lại nguồn thời gian đã chìm khuất và nhắc nhở đến một vùng trời xôn xao của âm thanh ngôn ngữ - người có đóng góp

to lớn cho sự phát triển của ngôn ngữ văn học Việt Nam

Song song với Tự lực văn đoàn, một biểu hiện khá rõ rệt của tinh thần dân tộc trong Thơ mới là lòng yêu thương tiếng Việt Cách đó hơn 40 năm,

ngôn ngữ chính thống là tiếng Pháp Tiếng Việt lúc bấy giờ bị khinh rẻ như một nàng hầu Nhưng các nhà thơ mới đã bảo vệ tiếng Việt, làm giàu cho tiếng Việt Họ dồn tất cả lòng yêu nước vào lòng yêu văn chương tiếng Việt Trong những năm dài nô lệ, tiếng Việt không những không bị nghèo nàn, lai căng mà lại còn trở nên trong sáng, giàu có hơn Bên cạnh đó, các nhà thơ

trong phong trào Thơ mới tiếp nhận ảnh hưởng của thơ Pháp và thơ Đường đã

làm thơ Việt, tiếng Việt ngày càng giàu có hơn, tinh tế hơn Thơ mới có nhiều khả năng diễn đạt hơn thơ cũ nhờ ở thể cách linh hoạt, cách hiệp vần phong

Trang 39

phú, nhạc điệu dồi dào, lối ngắt nhịp sinh động, ngôn ngữ gợi cảm, giàu hình

tượng Phong trào Thơ mới đã mở ra một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh),

mở đầu cho sự phát triển của thi ca Việt Nam hiện đại

Cùng với ngôn ngữ phong phú, giàu sức khơi gợi, câu văn trong tác phẩm lãng mạn rất phóng túng linh hoạt nhưng cũng rất mực ngân chuyển, giàu chất nhạc, chất họa Nó tràn đầy cảm xúc, kích động thống thiết bằng những định ngữ, tỉ dụ, ngoa dụ, phản ngữ… nghĩa là bằng sự huy động cao độ

mọi biện pháp tu từ Phong trào Thơ mới giải phóng triệt để khỏi các phép tắc

tu từ, thanh vận chặt chẽ của các thể loại thơ truyền thống, thậm chí có sự xuất hiện và phát triển mạnh của thể loại thơ tự do, thơ không vần, thơ cấu trúc theo bậc thang Số lượng câu thường không bị giới hạn như các bài thơ truyền thống mà diễn tả theo cảm xúc tràn đầy của cái tôi cá nhân Sự kết hợp

giữa vần và thanh điệu tạo nên cho Thơ mới một nhịp điệu riêng Sang lĩnh

vực văn xuôi lãng mạn người đọc không thể quên được những câu văn bình dị

mà rất đỗi tinh tế, trữ tình, câu văn đấy mà thấm đượm chất thơ “có cái dịu ngọt chăng tơ ở đâu đây khiến người ta vương phải” [30, tr 595] của Thạch Lam; những câu văn “có khớp xương biết co duỗi nhịp nhàng” [29, tr 134]

giàu hình ảnh như những đoạn phim quay chậm của Nguyễn Tuân

* Biện pháp nghệ thuật:

Văn học lãng mạn thường sử dụng phép tượng trưng, tương phản, đối lập để thể hiện những tình cảm, cảm xúc mãnh liệt, khắc họa những ấn tượng

đậm nét, những tính cách khác thường Huy Cận đã đặt cái tôi nhỏ bé, lạc

lõng, bơ vơ trước cuộc đời đối lập với sự mênh mông đến rợn ngợp của đất

trời để nhấn mạnh sự cô đơn ( bài thơ Tràng giang); Xuân Diệu đã đặt “lòng tôi rộng” đối lập với “lượng trời cứ chật” để thổi bừng lên khát khao muốn

“tắt nắng”, “buộc gió”, muốn ôm “cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn” (bài thơ Vội vàng); Thạch Lam đã đặt ánh sáng nhỏ bé yếu ớt của ngọn đèn, ánh

sáng mạnh mẽ vụt qua rất nhanh của đoàn tàu trong sự đối lập với bóng tối cố hữu bao trùm vây bủa lấy phố huyện nghèo để khẳng định ước mơ, khát vọng

thay đổi cuộc sống thực tại

Trang 40

1.2.2.4 Thể loại

Văn học lãng mạn thuộc loại hình văn học biểu hiện Các nhân vật, tình huống, hình ảnh được nhà văn sáng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu biểu hiện lí tưởng và tình cảm mãnh liệt của họ Chính bởi vậy, thể loại thích hợp nhất mà các nhà văn lãng mạn tìm đến là thơ trữ tình và các thể văn xuôi trữ tình

Trong công cuộc hiện đại hoá văn học nửa đầu thế kỷ XX, không thể không nói tới đóng góp của loại hình thơ trữ tình và văn xuôi trữ tình Dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình là tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm Chính vì lẽ đó

mà lần đầu tiên, trong có 13 năm trời, phong trào Thơ mới xuất hiện nhiều phong cách nghệ thuật độc đáo: Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên, thiết tha tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu [40, tr 13]

Nếu Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Huy Cận, Nguyễn Bính … là nhà thơ tiêu biểu cho thể loại thơ trữ tình thì Thạch Lam, Xuân Diệu, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Nguyễn Tuân là những nhà văn khơi nguồn cho thể loại văn xuôi trữ tình Khác với loại hình văn xuôi trào phúng, tả thực, văn xuôi trữ tình là một loại hình phức hợp, được manh nha từ những tiền đề gợi ý của phương thức trữ tình Đây là hình thức thơ trong văn xuôi bởi có sự xâm thực khá mạnh của các yếu tố thơ vào văn xuôi, khiến văn xuôi tự sự trở thành những áng thơ văn xuôi đầy ám gợi và quyến rũ Tính lưỡng phân ở cấp độ đồng đẳng giữa thơ và văn xuôi cũng như sự đan xen giữa yếu tố hiện thực và lãng mạn, giữa tính tự sự và trữ tình đã dệt nên đặc trưng thẩm mỹ riêng biệt, khó lẫn cho loại hình này

Với hai thể loại trên, văn học lãng mạn Việt Nam thời kì 1932-1945

đã góp phần rất quan trọng trong việc đưa văn học dân tộc tiến thẳng vào thời kì hiện đại

Ngày đăng: 26/09/2020, 00:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w