Đề tài “Cải cách thủ tục hành chính trong tổ chức công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo” Chủ nhiệm - đồng chí Lê Đình Đấu- Vụ trưởng Vụ xét khiếu tố, Thanh tra Nhà nước - V
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -*** -
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -*** -
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO HÀNH CHÍNH
1.1 Quan niệm pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
1.1.1 Tố cáo, giải quyết tố cáo hành chính
1.1.1.1 Khái niệm tố cáo hành chính
1.1.1.2 Khái niệm giải quyết tố cáo hành chính
1.1.2 Pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
1.2 Nội dung và vai trò của pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo
hành chính
1.2.1 Nội dung của pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành
chính
1.2.2 Vai trò của pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
1.2.2.1 Pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính bảo
đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân
1.2.2.2 Pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính bảo
đảm phát huy quyền làm chủ của nhân dân 1.2.2.3 Pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính góp
phần nâng cao hoạt động quản lý nhà nước 1.2.2.4 Pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính là
phương thức tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.3 Tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện
pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
1.3.1 Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải
quyết tố cáo hành chính
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng pháp luật về tố cáo và
giải quyết tố cáo hành chính
1.3.3 Hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
là yêu cầu cấp thiết trong tình hình hiện nay
1.4 Pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo của một số nước trên thế
giới
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT
TỐ CÁO HÀNH CHÍNH
2.1 Tình hình tố cáo, giải quyết tố cáo hành chính từ 1999 đến nay
2.1.1 Khái quát về tình hình tố cáo
Trang 42.2 Thực trạng pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính ở
nước ta hiện nay
2.2.1 Khái quát sự hình thành, phát triển pháp luật về tố cáo và giải
quyết tố cáo ở Việt Nam 2.2.2 Thực trạng các quy định pháp luật về tố cáo, giải quyết tố cáo ở
nước ta hiện nay
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA HIỆN
NAY
3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo
hành chính
3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
phải bảo đảm cho công dân có quyền tố cáo
3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
phải bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của việc giải quyết tố cáo
3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
phải bảo đảm trách nhiệm của các cơ quan hành chính trong việc
giải quyết tố cáo
3.1.4 Hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
phải bảo đảm yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân; yêu cầu cải cách nền hành chính
3.2.3 Hoàn thiện quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
thông qua ban hành Luật tố cáo và giải quyết tố cáo
3.2.4 Nghiên cứu và hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến
công tác giải quyết tố cáo
3.2.5 Nâng cao chất lượng, trình độ xây dựng pháp luật về tố cáo và
giải quyết tố cáo hành chính
3.2.6 Nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm với các nước về giải quyết tố
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Trong số các quyền cơ bản của con người về chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội thì quyền khiếu nại, quyền tố cáo có vị trí quan trọng và liên quan chặt chẽ tới các quyền cơ bản khác Nghiên cứu lịch sử dân tộc ta cho thấy, các triều đại phong kiến hưng thịnh trước đây đều chú ý đảm bảo cho người dân thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo Quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật, quyền tố cáo đã sớm được ghi nhận tại Hiến pháp và trở thành một trong những quyền cơ bản của công dân Điều 74 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:
Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào Việc khiếu nại, tố cáo phải được
cơ quan nhà nước xem xét, giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định
Thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo là phương thức để nhân dân giám sát và tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước Vì vậy, giải quyết khiếu nại, tố cáo là bảo đảm quyền dân chủ nhân dân, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phòng chống các hành vi tham nhũng, tiêu cực, góp phần phát triển kinh tế – xã hội
Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tới việc giải quyết có hiệu quả các khiếu nại, tố cáo Những năm vừa qua, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đã có những chuyển biến tích cực Nhiều văn bản pháp luật được ban hành đã tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền tố cáo Đảng và Nhà nước đã có nhiều Chỉ thị, Nghị quyết nhằm tăng cường hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo Các cấp, các ngành đã xác định được trách nhiệm của mình trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và coi đây là một
Trang 6trong những công tác trọng tâm, góp phần tạo điều kiện để nhân dân tham gia vào quá trình quản lý nhà nước
Tuy nhiên, thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo cho thấy mặc
dù các cơ quan nhà nước đã có cố gắng trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nhưng hiệu quả giải quyết chưa cao Có nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân quan trọng là các quy định pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo có những điểm bất hợp lý Đáng lưu ý là những bất cập của pháp luật hiện hành
về cơ chế, thẩm quyền, thủ tục giải quyết tố cáo khiến cho việc áp dụng các quy định pháp luật vào thực tế gặp những khó khăn, vướng mắc, hiệu quả việc giải quyết tố cáo chưa cao
Ngoài ra, để nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, tạo lập hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất và có tính khả thi, đi vào cuộc sống, ngày 24/5/2005 Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hòan thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010, định hướng 2020 Theo tinh thần Nghị quyết thì việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi chính là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Trong đó, nội dung quan trọng của Nghị quyết là :
Hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo, bảo đảm mọi quyết định và hành vi hành chính trái pháp luật đều được phát hiện
và có thể bị khởi kiện trước tòa án; đổi mới thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo và thủ tục giải quyết các vụ án hành chính theo hướng công khai, đơn giản, thuận lợi cho dân, đồng thời bảo đảm tính thông suốt, hiệu quả của quản lý hành chính [11, tr 4]
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận – thực tiễn về tố cáo và giải quyết tố cáo để góp phần hoàn thiện quy phạm pháp luật có liên quan có ý nghĩa rất quan trọng trên các bình diện lập pháp, thực tiễn và lý luận Từ những phân tích trên cho thấy nghiên
Trang 7cứu đề tài “Hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo ở Việt Nam hiện nay” là cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo là vấn đề được những người làm công tác nghiên cứu, xây dựng pháp luật quan tâm, đặc biệt là những người làm công tác thanh tra Trong phạm vi và mức độ nhất định đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài này Cụ thể là:
- Về đề tài nghiên cứu khoa học: Đề tài cấp bộ: “Giải quyết khiếu tố của
nhân dân- thực trạng giải pháp và những bài học kinh nghiệm” (Đề tài nghiên
cứu khoa học của Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh) Đề tài “Cải cách thủ tục hành chính trong tổ chức công tác tiếp
dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo” (Chủ nhiệm - đồng chí Lê Đình Đấu- Vụ
trưởng Vụ xét khiếu tố, Thanh tra Nhà nước)
- Về luận văn: “Hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công
dân trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay”, Luận
văn thạc sĩ Luật học, của Mai Thị Chung, 2001; “ Một số giải pháp nhằm tăng
cường hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo”, Luận văn thạc sĩ Luật
học, của Phạm Văn Long; “ Hòan thiện sự điều chỉnh pháp luật về thẩm quyền
và thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học,
của Ngô Mạnh Toan”…
- Về các công trình đăng trên các tạp chí: “Những kinh nghiệm rút ra qua
giải quyết khiếu nại, tố cáo thời gian qua”, Ngô Đăng Huynh, Tạp chí Thanh
tra số 9/1999); “Những yêu cầu đặt ra trong việc thực hiện các quy định của
pháp luật về khiếu nại, tố cáo” (Tạp chí Thanh tra, số 9/1999); “Một số ý kiến
về đổi mới việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của chính quyền địa phương” (Thạc
sĩ Nguyễn Văn Hạnh, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 5/2000)v.v…
Nhìn chung các công trình trên đây dù ít hay nhiều đều đề cập đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo Tuy nhiên, trong điều kiện tố cáo có những đặc thù
so với khiếu nại, các công trình trên chỉ đề cập tới việc giải quyết khiếu nại, tố
Trang 8cáo nói chung; chưa tách riêng, đi sâu nghiên cứu những vấn đề mang tính đặc thù về tố cáo và giải quyết tố cáo, chưa có công trình nào nghiên cứu có hệ thống vấn đề “Hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo ở Việt Nam hiện nay”, đi sâu đề xuất các biện pháp hoàn thiện nội dung của pháp luật tố cáo và giải quyết tố cáo nhằm giải quyết các vướng mắc trong việc giải quyết
tố cáo Mặc dù vậy, tác giả sẽ kế thừa, tiếp thu có chọn lọc và bổ sung, phát triển kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan để hòan thiện vấn đề nghiên cứu của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là đề xuất quan điểm, giải pháp và nội dung mang tính hệ thống nhằm hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo, nhằm đảm bảo cho nhân dân thực hiện quyền tố cáo và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của việc giải quyết tố cáo ở nước ta hiện nay
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ khái niệm tố cáo, giải quyết tố cáo; khái niệm, đặc điểm của pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo
- Xây dựng cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo
- Đánh giá tình hình, kết quả việc giải quyết tố cáo hiện nay và thực trạng quy định pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp và nội dung hoàn thiện pháp luật về
tố cáo và giải quyết tố cáo trong điều kiện hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo có phạm vi rộng, bao gồm cả tố cáo, giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự, hành chính, lao động và việc giải quyết tố cáo có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu làm rõ vấn đề tố cáo và giải quyết tố cáo
Trang 9hành chính (tố cáo đối với cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lê
Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về Nhà
nước và pháp luật, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng của triết học Mác- Lênin và những phương pháp cụ thể như: phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kế, tổng kết thực tiễn
6 Đóng góp của luận văn
Mặc dù đã có một số đề tài đề cập tới việc hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác giải quyết tố cáo, nhưng trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, tăng cường hội nhập quốc tế hiện nay, thông qua việc nghiên cứu đề tài, tác giả đi sâu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn giải quyết tố cáo trong lĩnh vực hành chính Từ đó, đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính; sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn công tác giải quyết tố cáo và thông
lệ quốc tế; góp phần hoàn thiện cơ chế giải quyết tố cáo hành chính trong thời gian tới
7 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo trong lĩnh vực hành chính Do vậy, tác giả mong muốn góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và các quy định pháp luật về giải quyết tố cáo hành chính nói riêng, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc giải quyết tố cáo hành chính, góp phần ổn định tình hình kinh tế –
xã hội
Trang 108 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
Chương 2 Thực trạng pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
Chương 3 Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính ở nước ta hiện nay
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỐ
CÁO VÀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO HÀNH CHÍNH
1.1 Quan niệm pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
1.1.1.Tố cáo hành chính, giải quyết tố cáo hành chính
1.1.1.1.Khái niệm tố cáo hành chính
Để cai trị đất nước, các bậc vua anh minh trong thời kỳ phong kiến ở nước ta đều dựa vào dân và coi chính sách an dân là chiến lược quan trọng trong quá trình cai trị đất nước của mình Một số triều đình phong kiến đã tạo điều kiện để người dân có thể dễ dàng bày tỏ nguyện vọng của mình với các quan lại, triều đình Cụ thể là:
"Năm 1158 đời Vua Lý Anh Tông (1137-1175), nhà Vua ra lệnh cho đặt một cái hòm ở giữa sân để ai muốn trình bày việc gì thì bỏ thư vào hòm ấy" [6, tr 22] Đến đời nhà Trần đặt ra ngự sử đài - một cơ quan chuyên trách có nhiệm vụ "Đàn hặc các quan, nói bàn về chính sự hiện thời, phàm các quan làm trái phép, chính sự hiện thời có thiếu sót đều được xét hoặc trình bày, cũng là xét bàn về thành tích của các nha môn, đề lĩnh, phủ doãn, trần thủ, thừa ty và xét hỏi các vụ kiện về người quyền quý ở kinh ức hiếp, về người cai quản hà lạm" [2, tr 357] Thời kỳ Lê – Trịnh đặt ra ngự sử đài – có nhiệm vụ tai mắt cho Nhà nước, cốt để dấy nhức kỷ cương và làm gương về việc can gián Phàm các hàng tể tướng và võ tướng có điều lầm lỗi, bách quan có điều trái phép và chính sự có điều thiếu sót thì cho trình bày, tâu hặc[13, tr 129] Một số nhà nước phong kiến đã ban hành luật lệ và nhiều bản quy định việc gửi đơn thư của thần dân và quy định trách nhiệm của quan lại trong việc xem xét, giải quyết các khiếu nại, tố cáo của người dân, trong đó phải kể đến bốn bộ luật có quy mô tương đối lớn, có nội dung phong phú và đa dạng là: Bộ luật Hình thư, ban hành vào năm 1024; Bộ Quốc triều Hình luật của thời Trần năm 1341; Bộ luật Hồng Đức thời Lê năm 1483 và Bộ luật Gia long của thời Nguyễn năm
1815 Ngoài ra còn có Bộ luật Khám tụng điều lệ ban hành vào thời Hậu Lê
Trang 12năm 1777, ghi nhiều điều, khoản quy định giải quyết nại, tố cáo và kiện tụng của nhân dân Như vậy, tố cáo có từ xa xưa và gắn liền với sự phát triển của các nhà nước Song do pháp luật trong thời kỳ phong kiến chưa phát triển cho nên giải quyết tố cáo thường mang trong nó lượng thông tin về sự không công bằng hoặc việc vi phạm các chuẩn mực đã được thừa nhận
Ngày nay, tố cáo là thuật ngữ thường được sử dụng trong cuộc sống, trên các sách, báo và phương tiện thông tin đại chúng Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì “tố cáo” là vạch rõ tội lỗi của kẻ khác trước cơ quan pháp luật hoặc trước
dư luận [52, tr 1163] Một số quan điểm cho rằng, tố cáo là nói cho mọi người biết tội ác của kẻ khác, là việc đề nghị với cơ quan có thẩm quyền xét một việc làm trái phép, vi phạm pháp luật Nhìn chung, những khái niệm này đã phần nào phản ánh được bản chất của tố cáo, song chưa đầy đủ, chưa thể hiện hết sự phức tạp và đa dạng của tố cáo phát sinh trong đời sống xã hội
Nghiên cứu thực tế công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo cho thấy, tố cáo phát sinh khi một người cho rằng quyền hoặc lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, nhà nước đã bị xâm hại hoặc có thể bị xâm hại và người đó báo với cơ quan nhà nước
Ngay từ những ngày đầu giành độc lập, Chủ tịch Hồ chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64/SL ngày 23 tháng 11 năm 1945 về thành lập Ban thanh tra đặc biệt, trong đó Điều 2 của Sắc lệnh quy định rõ Ban thanh tra đặc biệt có toàn quyền
"nhận các đơn khiếu nại của nhân dân…" Tuy nhiên, khiếu nại được nói đến trong Sắc lệnh này là khiếu nại của nhân dân về việc làm hoặc không làm của cán bộ, công chức nhà nước Điều 11 Sắc lệnh cũng quy định Ban thanh tra đặc biệt có "…ủy nhiệm là đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ" Như vậy, khiếu nại trong Sắc lệnh được hiểu cả bao gồm tố cáo, là nhân dân báo với chính quyền khi cho rằng cán bộ, nhân viên nhà nước đang làm việc trong chính quyền có những hành vi vi phạm pháp luật hoặc vi phạm quyền lợi của mình
Tuy nhiên, tố cáo là hành động nhằm bảo vệ và ngăn chặn khả năng vi phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ
Trang 13chức Những việc làm trái pháp luật không phải chỉ của cán bộ, công chức nhà nước mà của cả các cơ quan, tổ chức Những hành vi trái pháp luật thường bị công dân phát hiện và báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ngăn chặn, phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật và xử lý người vi phạm Luật Khiếu nại, tố cáo quy định tố cáo là việc công dân, theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Đối với khiếu nại thì nhằm bảo vệ hoặc khôi phục các quyền hoặc lợi ích của chính chủ thể khiếu nại khi bị vi phạm, do đó nếu các quyền này bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại sẽ dẫn đến khiếu nại Như vậy, những hành vi bị tố cáo thường có tính chất nguy hiểm cho xã hội hơn so với khiếu nại Chính vì khiếu nại và tố cáo không giống nhau cho nên Pháp lệnh giải quyết khiếu nại, tố cáo trước đây và Luật Khiếu nại, tố cáo hiện hành đã quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo khác với thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại Tuy nhiên, điểm khác nhau cơ bản giữa tố cáo và khiếu nại là:
Về chủ thể: chủ thể của tố cáo là công dân, trong khi đó chủ thể khiếu nại bao gồm công dân, cơ quan, tổ chức
Về đối tượng: đối tượng bị khiếu nại gồm quyết định hành chính, hành vi hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán
bộ, công chức, còn đối tượng của tố cáo rộng hơn, bao gồm hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
Về mục đích: mục đích của tố cáo là bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, trong khi đó khiếu nại nhằm bảo vệ hoặc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại
Theo quy định pháp luật, Tố cáo là việc công dân theo thủ tục Luật Khiếu nại, tố cáo quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
Trang 14biết về hành vi vi phạm của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
Chúng ta thấy rằng, tố cáo hành chính hay nói cách khác tố cáo xảy ra trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước có những đặc điểm sau đây:
- Chủ thể tố cáo là công dân Việt Nam, người nước ngoài hoặc người không có quốc tịch
- Đối tượng bị tố cáo là cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước; cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong lĩnh vực quản lý nhà nước
- Hành vi bị tố cáo xảy ra trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước nguy hiểm cho xã hội, nhưng chưa đến mức bị coi là tội phạm
- Thẩm quyền giải quyết tố cáo xảy ra trong lĩnh vực quản lý nhà nước thuộc cơ quan hành chính nhà nước
Như vậy, tố cáo hành chính hay tố cáo trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước là việc công dân báo tin cho cơ quan, người có thẩm quyền biết
về hành vi vi phạm pháp luật (không phải là tội phạm) xảy ra trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và đặc điểm của hành vi bị tố cáo và đối tượng bị tố cáo mà pháp luật quy định thẩm quyền giải quyết tố cáo, ví dụ, tố cáo tội phạm do các cơ quan tư pháp giải quyết, tố cáo công chức vi phạm pháp luật trong khi thi hành công vụ do Thủ trưởng cơ quan quản lý công chức giải quyết
Tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính nhà nước là
tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật (mà không phải là tội phạm) của cơ quan, cán bộ, công chức thuộc hệ thống cơ quan hành chính nhà nước hoặc hành vi vi phạm pháp luật của những người khác xảy ra trong lĩnh vực thuộc chức năng quản lý của cơ quan hành chính nhà nước, đã gây thiệt hại hoặc đe dọa gây
Trang 15thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
Quy định thẩm quyền giải quyết tố cáo của cơ quan hành chính nàh nước xuất phát từ cơ sở: tố cáo phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành,quản lý nhà nước, thực hiện quyền hành pháp Do đó, trước hết các cơ quan hành chính nhà nước phải có trách nhiệm giải quyết những vấn đề phát sinh do chính hoạt động quản lý của mình gây ra Hơn nữa, trách nhiệm này xuất phát từ chính yêu cầu tự thân của quản lý hành chính nhà nước và vai trò của hoạt động giải quyết tố cáo đối với hoạt động chấp hành và điều hành
* Phân biệt tố cáo hành chính và tố cáo tư pháp
Quan hệ giữa cơ quan hành chính và cơ quan tư pháp là mối quan hệ phân công, phối hợp trong việc việc thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp Quyền hành pháp được thực hiện bởi cơ quan hành chính nhà nước thông qua hoạt động chấp hành và điều hành, là quá trình thực thi pháp luật và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước Quyền tư pháp được thực hiện bởi các cơ quan tư pháp (Công an,Toà án, Kiểm sát, Thi hành án ) thông qua hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án Mối quan hệ giữa cơ quan hành chính và cơ quan tư pháp trong việc giải quyết tố cáo thông qua việc xem xét, xử lý hành vi phạm pháp luật xảy ra trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước Nếu hành vi vi phạm pháp luật chưa đến mức cấu thành tội phạm thì thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước, nếu đến mức đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì thuộc thẩm quyền của cơ quan tư pháp Để đánh giá, kết luận hành vi vi phạm pháp luật có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không phải căn cứ vào tính chất, mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm phạm pháp luật Những tính tiết sau đây phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật: hình thức của hành vi vi phạm, hậu quả (thiệt hại vật chất, tinh thần), lỗi của người vi phạm, hoàn cảnh xảy ra vi phạm, địa điểm vi phạm, nhân thân người vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ v.v
Trang 16Ở đây cần phân biệt giữa tố cáo khác với tin báo, thông tin vi phạm pháp luật Tố cáo khác với tin báo, thông tin vi phạm pháp luật ở yếu tố chủ thể Chủ thể của tố cáo là chủ thể được xác định cụ thể và phải chịu trách nhiệm về thông tin về vi phạm pháp luật do mình đưa ra Mặt khác khi công dân thực hiện quyền tố cáo đã phát sinh một quan hệ pháp luật về tố cáo, trên cơ sở đó,
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có nghĩa vụ giải quyết và trả lời cho người tố cáo biết Còn tin báo vi phạm pháp luật thì chủ thể có thể xác định hoặc không xác định, nội dung của tin báo chỉ là thông tin tham khảo, nếu có căn cứ thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ xử lý theo quy định của pháp luật Điểm khác nhau nữa là giữa tố giác, tin báo về tội phạm vơi tố cáo là tố cáo thì đối tượng
là mọi hành vi vi phạm pháp luật, còn tố giác và tin báo về tội phạm thì đối tượng chỉ bao gồm tội phạm, hành vi vi phạm pháp luật có tính nguy hiểm cao
và được quy định trong Bộ luật hình sự
Điều 101 Bộ Luật Tố tụng Hình sự quy định về tố giác và tin báo về tội phạm: “ Công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với cơ quan, tổ chức khác Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác
Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản”
Nhưng phân biệt hành vi vi phạm đến mức nào là tội phạm là vấn đề cực kỳ khó khăn nhất là đối với người dân đi tố cáo hay tố giác Với quy định như hiện nay, khi phát hiện một hành vi vi phạm pháp luật, người dân hoàn toàn có thể thực hiện việc tố cáo theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo mà cũng có thể tố giác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự mà giữa quy định giữa hai văn bản này lại có nhiều điểm không thống nhất Đây có thể coi là một trong những nguyên nhân gây ra sự chồng chéo trong hoạt động của các cơ quan thanh tra, điều tra, viện kiểm sát, giữa cơ quan quản lý
và cơ quan tiến hành tố tụng
Trang 171.1.1.2 Khái niệm giải quyết tố cáo hành chính
Hiến pháp năm 1980 quy định "Mọi hành động xâm phạm quyền lợi ích chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh…Nghiêm cấm trả thù người khiếu nại, tố cáo" Để thể chế hóa quyền khiếu nại, tố cáo trong Hiến pháp này, ngày 27 tháng 11 năm 1981, Hội đồng Nhà nước (nay là Ủy ban Thường vụ Quốc hội) đã ban hành Pháp lệnh Xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân quy định về quyền khiếu nại, tố cáo; thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo v.v và việc kiểm tra công tác xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo Pháp lệnh Thanh tra cũng quy định các cơ quan thanh tra nhà nước có nhiệm vụ xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo Nhìn chung, việc giải quyết tố cáo đã được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật, song các văn bản pháp luật trước đây mới chỉ đề cập đến việc "xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo" nói chung
Để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991 ra đời thay thế Pháp lệnh Xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân Căn cứ vào tên gọi của Pháp lệnh này chúng ta sẽ thấy rằng có sự thay đổi trong quan niệm về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo Pháp lệnh năm 1991 không chỉ quy định việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo là trách nhiệm và thẩm quyền của các cơ quan nhà nước mà còn quy định nhiều vấn đề khác xung quanh quyền khiếu nại, tố cáo Với tên gọi mới, Pháp lệnh thể hiện được tính toàn diện hơn của nguyên tắc pháp lý quyền lợi đi đôi với nghĩa vụ, sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, khắc phục được hạn chế trước đây là chỉ nhấn mạnh đến việc xét và giải quyết Mặc dù đã
có được những tiến bộ rõ rệt, song Pháp lệnh năm 1991 cũng chưa phân biệt và giải thích rõ thế nào là "giải quyết khiếu nại", "giải quyết tố cáo", mới chỉ lược
bỏ việc "xét" trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
Hiến pháp năm 1992 ra đời đã xác định việc khiếu nại, tố cáo phải được
cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định Tiếp theo đó, Quốc hội đã ban hành Luật Khiếu nại, tố cáo và để khắc phục các hạn chế nêu trên, Điều 2 của Luật này quy định rõ giải quyết tố cáo là việc xác
Trang 18minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc quyết định xử lý của người giải quyết
tố cáo
- Nội dung hoạt động giải quyết tố cáo hành chính::
Điều 4 của Luật Khiếu nại, tố cáo quy định rõ: "Việc khiếu nại, tố cáo
và giải quyết khiếu nại, tố cáo phải được thực hiện theo quy định của pháp luật" Đây chính là nguyên tắc chung trong việc thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo và việc giải quyết khiếu nại, giải quyết tố cáo Theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo thì nội dung của giải quyết tố cáo gồm các công việc chủ
yếu sau sau đây:
+ Tiếp nhận đơn tố cáo và thụ lý tố cáo: Cơ quan nhà nước khi nhận
được đơn có trách nhiệm phân loại và xử lý theo quy định pháp luật Khi nhận được đơn tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết thì cơ quan có thẩm quyền phải thụ lý tố cáo đảm bảo nhanh chóng; thậm chí trong trường hợp cần thiết để ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm pháp luật thì cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận tố cáo phải báo ngay cho cơ quan có trách nhiệm để áp dụng biện pháp cần thiết
+ Thẩm tra, xác minh, kết luận nội dung tố cáo: Thẩm tra, xác minh,
kết luận là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào nội dung đơn tố cáo và thu thập các chứng cứ liên quan để làm rõ nội dung sự việc, kết luận về tính đúng, sai của tố cáo
+ Xử lý tố cáo: Căn cứ vào kết quả xác minh, kết luận về nội dung tố
cáo, người giải quyết tố cáo đưa ra các quyết định, xử lý thích hợp
Giải quyết tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước là việc kiểm tra, xác minh, kết luận về tính hợp pháp của hành vi bị tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính nhà nước để có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức
- Phân biệt giải quyết tố cáo hành chính và giải quyết khiếu nại hành chính
Trang 19Theo Luật Khiếu nại, tố cáo thì giải quyết tố cáo là việc xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và ra quyết định xử lý của người giải quyết tố cáo, giải quyết khiếu nại hành chính là việc xác minh, kết luận và ra quyết định giải
quyết của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính
Như vậy, giải quyết khiếu nại và giải quyết tố cáo có điểm chung là cơ quan nhà nước có thẩm quyền đều phải thực hiện hoạt động xác minh, kết luận
và ra quyết định để xử lý vụ việc - quyết định này bằng văn bản Tuy nhiên, do
tố cáo có những điểm khác so với khiếu nại đến việc giải quyết tố cáo cũng có những điểm khác so với giải quyết khiếu nại Cụ thể là:
+ Chủ thể giải quyết khiếu nại, tố cáo: Đối với tố cáo, việc giải quyết thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan khác nhau Theo quy định của pháp luật hiện hành thì tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết Tố cáo hành vi phạm tội sẽ do các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Đối với khiếu nại, chủ thể giải quyết khiếu nại hành chính là các cơ quan hành chính nhà nước
+ Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo: Theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo thì điểm khác nhau cơ bản trong trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại và giải quyết tố cáo là để giải quyết tố cáo, kết quả của việc giải quyết tố cáo là xử lý người có hành vi vi phạm - có thể là một quyết định xử phạt, quyết định kỷ luật hoặc một bản án hình sự của tòa án Vì vậy, để giải quyết tố cáo thì người có trách nhiệm phải ban hành quyết định xử lý tố cáo Ngoài ra, xuất phát từ đặc thù của tố cáo là việc công dân "báo" cho cơ quan nhà nước biết về hành vi vi phạm pháp luật, cho nên pháp luật quy định riêng
về việc xử lý tố cáo khuyết danh, mạo danh Trong khi đó, giải quyết khiếu nại hành chính, người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại lần đầu và lần hai có trách nhiệm ra quyết định giải quyết khiếu nại Khiếu nại luôn gắn với quyền, lợi ích của cơ quan, tổ chức, công dân cụ thể nên không có việc xử lý khiếu nại này
Trang 20Việc giải quyết tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo tư pháp cũng khác nhau Giải quyết tố cáo hành chính được Luật khiếu nại, tố cáo quy định
Bộ Luật tố tụng hình sự đưa ra những quy định cụ thể để xử lý tố giác và tin báo tội phạm Điều 103 Bộ Luật tố tụng hình sự quy định nhiệm vụ giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của cơ quan điều tra và Viện kiểm sát
1.1.2 Khái niệm pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
Theo Đại từ điển tiếng Việt, thì "pháp" được hiểu là những phép tắc luật
lệ do nhà nước quy định, "pháp" cũng được hiểu là pháp chế, pháp điển, pháp đình, luật pháp hoặc cách thức làm một việc gì, bao gồm pháp danh, pháp trị Cũng theo
từ điển này, "Pháp luật" là những quy tắc, hành vi của công dân do nhà nước quy định, ban hành, buộc phải tuân theo, không được làm trái [32, tr 1319-1320] Theo một số công trình nghiên cứu khoa học thì "pháp luật là hệ thống các quy phạm do Nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị" Tuy nhiên quan điểm được nhiều người thừa nhận hơn cả là "pháp luật là tổng hợp hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội" [27, tr 64]
Pháp luật là một hiện tượng phức tạp với nhiều biểu hiện khác nhau Từ thực tiễn đến lý luận, từ lý luận vào thực tiễn, tùy theo các góc độ khác nhau mà người ta có những cách quan niệm, nhận thức khác nhau về pháp luật Một định nghĩa pháp luật mang tính chính thức, phù hợp với chúng ta hiện nay, được nhiều người thừa nhận là “pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, được xác định chặt chẽ về hình thức thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu, các lợi ích của toàn xã hội, được nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vì sự trật tự, ổn định, phát triển bền vững của xã hội, bảo đảm và bảo vệ các quyền con người.”[19]
Trang 21Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người đã có thời kỳ không có pháp luật Đó là thời kỳ công xã nguyên thủy khi đó chỉ có những quy tắc tập quán điều chỉnh quan hệ giữa người với nhau Theo quan điểm của học thuyết Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật thì pháp luật chỉ phát sinh và tồn tại trong xã hội có giai cấp Pháp luật là hiện tượng đặc thù của đời sống xã hội có giai cấp, là người bạn đồng hành của Nhà nước, nó là công cụ đặc thù riêng của Nhà nước để thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình Tính giai cấp, tính xã hội
là thuộc tính vốn có của pháp luật, cho dù pháp luật đó là pháp luật chủ nô, phong kiến hay tư bản, xã hội chủ nghĩa Nhà nước do giai cấp thống trị lập ra
và Nhà nước đặt ra các quy định pháp luật, do vậy trước hết pháp luật thể hiện
ý chí của giai cấp thống trị đối với toàn xã hội
Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện qua việc điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội của pháp luật Trong xã hội có thể có nhiều quy ước, tập quán khác nhau, thể hiện ý chí và nguyện vọng của các nhóm người trong xã hội, song chỉ có pháp luật do nhà nước đặt ra là có giá trị áp dụng chung đối với mọi người trong xã hội đó Chính vì vậy mà C Mác - Ph Ăngghen cho rằng,
"pháp luật tư sản chẳng qua chỉ là ý chí của giai cấp tư sản đề lên thành luật, cái
ý chí mà nội dung của nó là do điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp tư sản quyết định" [16, tr 262] Mặc dù có thuộc tính trên, song pháp luật cũng thể hiện ý chí của giai cấp khác trong xã hội, bởi vì pháp luật do nhà nước ban hành và đại diện cho toàn xã hội Như vậy có thể nói rằng, pháp luật vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính xã hội và những thuộc tính này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn cụ thể của lịch sử thì tính giai cấp
và tính xã hội của pháp luật thể hiện khác nhau và chúng phụ thuộc vào các điều kiện về kinh tế, xã hội, đạo đức, đường lối, quan điểm và các trào lưu chính trị xã hội của mỗi nước
Xuất phát từ bản chất của tố cáo, giải quyết tố cáo hành chính và của pháp luật cho thấy, pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính là hệ thống các quy định do Nhà nước ban hành liên quan tới quyền tố cáo công dân đối với hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt
Trang 22hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo; thiết chế bộ máy nhà nước nhằm đảm bảo việc giải quyết các tố cáo có hiệu quả Pháp luật về khiếu nại tố cáo cũng bao hàm các quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và công dân trong việc giám sát, kiểm tra hoạt động giải quyết tố cáo và việc quản lý công tác giải quyết tố cáo của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Theo nghĩa hẹp thì pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính
là hệ thống các quy định pháp luật về thủ tục thực hiện quyền tố cáo; thẩm quyền, thủ tục giải quyết tố cáo và việc xử lý các vi phạm quy định pháp luật
về tố cáo và giải quyết tố cáo
Như vậy có thể nói rằng, pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính là tổng hợp các quy tắc xử sự chung có tính bắt buộc do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh việc tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân và việc giải quyết tố cáo đó của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, được bảo đảm bằng hình thức cưỡng chế của Nhà nước
Khái niệm trên cho thấy, pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo có phạm vi rất rộng, bởi vì các hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân xảy ra ở tất cả các lĩnh vực kinh tế –xã hội, do đó việc giải quyết tố cáo được quy định trong nhiều văn bản pháp luật Do vậy, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo theo nghĩa hẹp và trong khuôn khổ các quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo và Nghị định
số 136/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo, bao gồm các vấn đề liên quan đến chủ thể có quyền
tố cáo; quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo; thẩm quyền giải quyết; trình tự, thủ tục tố cáo, giải quyết tố cáo và việc xử lý các vi phạm pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo
Trang 231.2 Nội dung và vai trò của pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính
1.2.1 Nội dung của pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính
Nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành cho thấy các quy định pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính thể hiện các nội
dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, pháp luật tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính
quy định quyền, nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo và người giải quyết
tố cáo: Theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo thì công dân có quyền tố cáo với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
Để công dân thực hiện quyền tố cáo, Luật Khiếu nại, tố cáo quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của người tố cáo Theo đó, người tố cáo có quyền gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; yêu cầu giữ
bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của mình; yêu cầu được thông báo kết quả giải quyết tố cáo; yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trù dập, trả thù Luật Khiếu nại, tố cáo cũng quy định về các nghĩa vụ của người tố cáo như trình bày trung thực về nội dung tố cáo; nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình; chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo sai sự thật Tương tự như vậy, Luật này cũng quy định cụ thể các quyền, nghĩa vụ của người bị tố cáo, người giải quyết tố cáo trong quá trình giải quyết tố cáo Người tố cáo có quyền được thông báo về nội dung tố cáo; đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung
tố cáo là không đúng sự thật; được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không đúng gây ra; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người tố cáo sai sự thật Người bị tố cáo có nghĩa vụ giải trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu; chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý tố cáo của cơ quan, tổ chức,
Trang 24cá nhân có thẩm quyền; bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật của mình gây ra Trong quá trình xác minh tố cáo, người giải quyết tố cáo có quyền và nghĩa vụ bảo đảm khách quan, trung thực, đúng pháp luật trong việc giải quyết tố cáo; yêu cầu người tố cáo cung cấp bằng chứng, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo; yêu cầu người bị tố cáo giải trình bằng văn bản
về hành vi bị tố cáo; yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo; trưng cầu giám định, tiến hành các biện pháp khác theo quy định của pháp luật
Thứ hai, pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính
xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước: Theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo thì thẩm quyền giải quyết tố cáo được xác định theo các nguyên tắc: tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà người
bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm
vụ, công vụ của người thuộc cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan,
tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết Ngoài ra, Luật khiếu nại, tố cáo còn quy định: tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nào thì cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết Tố cáo hành vi phạm tội do các
cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng hình
sự
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền; trong trường hợp cần thiết thì giao cho cơ quan thanh tra hoặc cơ quan có thẩm quyền khác tiến hành thẩm tra, xác minh, kết luận và kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo Chánh thanh tra các cấp có thẩm quyền xác minh, kết luận nội dung tố cáo, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của thủ trưởng cơ quan cùng cấp khi được giao; xem xét, kết luận nội dung tố cáo mà thủ trưởng cơ quan cấp dưới trực tiếp của thủ trưởng
Trang 25cơ quan cùng cấp đã giải quyết nhưng có vi phạm pháp luật; trong trường hợp kết luận việc giải quyết tố cáo có vi phạm pháp luật thì kiến nghị người đã giải quyết xem xét, giải quyết lại
Tổng Thanh tra có thẩm quyền xác minh, kết luận nội dung tố cáo, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ tướng Chính phủ khi được giao; xem xét kết luận về nội dung tố cáo mà Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết nhưng có vi phạm pháp luật; trong trường hợp kết luận việc giải quyết có vi phạm pháp luật thì kiến nghị người đã giải quyết xem xét, giải quyết lại
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc giải quyết những tố cáo mà nội dung đặc biệt phức tạp; quyết định xử lý tố cáo mà Tổng thanh tra đã kết luận, kiến nghị theo quy định trên
Thứ ba, pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính
quy định thủ tục đối với việc tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính: Theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo thì khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân thì người tố cáo có thể viết đơn hoặc trực tiếp đến trình bày với cơ quan có thẩm quyền Để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc tiếp nhận và xử lý tố cáo, người tố cáo cần phải gửi đơn đến đúng có quan có thẩm quyền Tuy nhiên trong trường hợp không xác định được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết thì người
tố cáo có thể tố cáo với cơ quan nhà nước gần nhất, thuận lợi nhất Cơ quan này
sẽ có trách nhiệm tiếp nhận và xử lý tố cáo đó Đối với thủ tục giải quyết tố cáo, nếu tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì phải chuyển cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết Nếu thuộc thẩm quyền giải quyết tố cáo thì trong thời hạn luật quy định phải thụ lý để giải quyết
Thứ tư, pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính
quy định việc xử lý các hành vi vi phạm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện quyền tố cáo, giải quyết tố cáo: Theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo thì người giải quyết tố cáo nếu có hành vi thiếu trách nhiệm
Trang 26trong việc giải quyết tố cáo; gây phiền hà, sách nhiễu, cản trở việc thực hiện quyền tố cáo; cố tình trì hoãn việc giải quyết tố cáo; làm sai lệch hồ sơ vụ việc trong quá trình giải quyết tố cáo; ra quyết định xử lý tố cáo trái pháp luật, không kịp thời áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật; đe dọa, trù dập, trả thù người tố cáo …thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
Thứ năm, pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành
chính quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội trong công tác giải quyết tố cáo: Ngoài các nội dung trên, Luật Khiếu nại, tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng quy định về trách nhiệm của Quốc hội,
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trong việc giám sát việc thi hành pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc phối hợp với cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền để giải quyết có hiệu quả các tố cáo Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, trách nhiệm của cơ quan báo chí, thanh tra nhân dân trong việc giải quyết các tố cáo Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật này cũng quy định việc tổ chức việc tiếp công dân đến trình bày tố cáo và việc quản lý nhà nước về công tác giải quyết tố cáo
1.2.2 Vai trò của pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính
Trước hết cần phải khẳng định rằng bất kỳ một sự đánh giá thấp nào về vai trò của pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính đều không những đối lập với kinh nghiệm lịch sử mà còn không phù hợp với luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và quan điểm của Đảng ta Pháp luật là của Nhà nước, chỉ khi nhà nước nhận thức được nhu cầu phải điều chỉnh bằng pháp luật và ban hành pháp luật một cách khách quan phù hợp với nhu cầu tiến bộ của xã hội Hoàn toàn không được quan niệm đơn giản, thuần túy rằng pháp luật là phương tiện của Nhà nước, trong tay nhà nước, nhà nước có quyền ban hành theo ý muốn chủ quan của
Trang 27mình Cũng chính vì vậy, pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính giữ vị trí, vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội
1.2.2.1 Pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân cũng như lợi ích của Nhà nước
Trước đây, trong điều kiện của một Nhà nước cực quyền, mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân là mối quan hệ lệ Nhà nước với tính cách là bộ máy quan liêu đã áp bức, đè nén người dân, người dân bị lệ thuộc vào Nhà nước, các quyền tự do dân chủ bị hạn chế Quyền thì ít, nghĩa vụ lại nhiều Trước nhà nước người dân chỉ thấy nghĩa vụ và bổn phận mà không được quyền đòi hỏi Ngày nay khi quyền lực thuộc về nhân dân, mối quan hệ giữa bộ mỏy Nhà nước và nhân dân đã thay đổi Công dân có đầy đủ quyền tự do, dân chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân được xác lập trên cơ sở tôn trọng các lợi ích giữa các bên Luật pháp không chỉ quy định địa vị pháp lý của công dân mà còn buộc các cơ quan Nhà nước phải tôn trọng và đưa ra các đảm bảo thực tế cho các quyền ấy, tránh mọi nguy cơ bị xâm hại từ phía các cơ quan Nhà nước, các nhà chức trách Trong mỗi thời đại, ở mức độ khác nhau công dân đều nhận thấy, nhà nước là người có trách nhiệm và khả năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trên cơ sở các quy định của pháp luật Tố cáo xuất hiện như một hiện tượng tất yếu của xã hội có giai cấp, có nhà nước, do các hành vi vi phạm pháp luật gây ra Nhưng suy cho cùng, tố cáo nó không có nội dung và xuất xứ cụ thể mà thường xuất hiện từ các quyền khác và có nội dung từ các quyền khác, ví dụ như tố cáo tham nhũng khi lợi ích của Nhà nước
bị xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm từ phía người thi hành công vụ Hiến pháp của Việt Nam cũng ghi nhận toàn bộ các quyền chính trị, xã hội và quyền tự do
cá nhân, tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, mít tinh, lao động, học hành, tự do
Trang 28tín ngưỡng, tự do đi lại…và đảm bảo cho tất cả công dân được hưởng các quyền đó
Trên cơ sở đó và các quy định pháp luật, các cơ quan nhà nước sẽ tiến hành việc xem xét các hành vi trái pháp luật Như vậy có thể thầy rằng, pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm lợi ích của Nhà nước cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
1.2.2.2 Pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính bảo đảm phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tiến hành các cuộc đấu tranh cách mạng, trải qua bao hy sinh gian khổ đánh đuổi xâm lược làm nên cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945, tự mình thành lập nên Nhà nước của mình Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam ngày này là Nhà nước do nhân dân mà nòng cốt là liên minh công – nông – trí thức tự tổ chức thành, tự mình định đoạt quyền lực Nhà nước Quyền lực Nhà nước Việt Nam không thuộc về một cá nhân nào, một nhóm người nào mà thuộc về toàn thể nhân dân
Để xây dựng Nhà nước ta là Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân
và vì dân, do Đảng cộng sản lãnh đạo, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta đó được thiết lập và đang từng bước hoàn thiện dần Với quan điểm phát triển, Đảng ta đó chỉ rõ “ Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình thực hiện dân giàu nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hóa, có kỷ cương, xóa
bỏ áp bức, bất công, tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc” Bản chất dân chủ của Nhà nước ta thể hiện một cách toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa và xã hội Đại hội Đảng lần thứ VII khẳng định:
Tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước theo phương hướng: Nhà nước thực sự là của dân, do dân, và vì dân Nhà nước quản lý xã hội
Trang 29bằng phỏp luật, dưới sự lónh đạo của Đảng; tổ chức hoạt động theo nguyờn tắc tập trung dõn chủ, thực hiện thống nhất quyền lực nhưng phõn cụng, phõn cấp rành mạch; bộ mỏy tinh giản, gọn nhẹ và hoạt động cú chất lượng cao trờn cơ sở ứng dụng cỏc thành tựu khoa học,
cơ quan Nhà nước Thông qua việc tố cáo và giải quyết tố cáo, nhân dân gián
tiếp giám sát hoạt động của các cơ quan nhà n-ớc, trong đó có hoạt động của các cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan đó, qua đó thể hiện quyền làm chủ của nhân dân
1.2.2.3 Phỏp luật về tố cỏo hành chớnh và giải quyết tố cỏo hành chớnh gúp phần nõng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước
Để quản lý xó hội, Nhà nước phải ban hành phỏp luật nhằm xỏc định cho cỏc cơ quan, tổ chức, cỏ nhõn những việc được làm, khụng được làm hoặc phải làm Bờn cạnh đú, phỏp luật được Nhà nước ban hành nhằm thể chế húa đường lối, chớnh sỏch của Đảng và làm cho đường lối, chớnh sỏch đú đi vào cuộc sống Song cỏc quy định của phỏp luật chỉ thực sự phỏt huy tỏc dụng và
cú hiệu quả khi mọi cơ quan, tổ chức và cỏ nhõn trong xó hội nghiờm chỉnh chấp hành nú Mục đớch của tố cỏo hành chớnh và giải quyết tố cỏo hành chớnh
là nhằm bảo vệ lợi ớch của Nhà nước, quyền và lợi ớch của cơ quan, tổ chức,
Trang 30công dân được thực hiện nghiêm chỉnh Ngoài ra, thông qua hoạt động giải quyết tố cáo hành chính, Nhà nước thấy được năng lực và phẩm chất đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình thực thi công vụ, việc tổ chức thực hiện hoạt động quản lý của nhà nước có hiệu quả hay không, yêu cầu và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, đặc biệt là phát hiện được những khiếm khuyết, sơ hở trong hoạt động quản lý nhà nước, từ đó có cơ sở nghiên cứu,
bổ sung để hoàn thiện pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
1.2.2.4 Pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính
là phương thức tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Theo quan điểm được nhiều người thừa nhận thì "pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị - xã hội, trong đó tất cả các
cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhân viên nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác" [27, tr 510] Tăng cường pháp chế XHCN, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục nâng cao đạo đức Nguyên tắc này được quy định tại Điều 12 Hiến pháp năm 1992 : “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế XHCN” Việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước phải được tiến hành theo đúng pháp luật trên cơ sở của pháp luật; mọi cán bộ, nhân viên nhà nước đều phải nghiêm chỉnh và triệt để tôn trọng pháp luật khi thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ của mình Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật Thực hiện tốt nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là cơ sở đảm bảo cho sự hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước, tạo ra sự thống nhất đồng bộ, phát huy được hiệu lực quản lý của Nhà nước, bảo đảm công bằng xã hội
Mục đích của tố cáo nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Hành vi tố cáo thể hiện ý thức và trách nhiệm của công dân trước các hành vi vi phạm pháp luật diễn ra trong xã
Trang 31hội Vì vậy, thông qua việc thực hiện quyền tố cáo và việc giải quyết tố cáo, lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, công dân
đã bị xâm hại sẽ được bảo vệ Ngoài ra, việc thực hiện pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính giúp cho hoạt động quản lý, điều hành của các cơ quan hành chính có hiệu quả Như vậy, pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính có vai trò quan trọng trong việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.3 Tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính
1.3.1 Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính
Hoàn thiện pháp luật là vấn đề luôn được Nhà nước ta hết sức quan tâm
từ trước đến nay Thông qua hoàn thiện pháp luật, Nhà nước tạo ra khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân, tạo tiền đề cho việc quản lý có hiệu quả kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, đối ngoại… và thực hiện các quyền tự do, dân chủ của nhân dân Tuy nhiên, để hoàn thiện pháp luật thì cần phải căn cứ vào các tiêu chuẩn và những điều kiện hoàn cảnh cụ thể để từ đó xem xét một cách khách quan các hạn chế, nhược điểm cần phải được khắc phục, đồng thời có được giải pháp thích hợp để hoàn thiện các quy định của pháp luật Pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính là bộ phận cấu thành hệ thống pháp luật, cho nên hoàn thiện pháp luật
về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính phải tuân thủ các tiêu chí của việc hoàn thiện pháp luật và những đặc thù của pháp luật tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính Dựa trên những tiêu chí đánh giá mức
độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật nói chung và căn cứ vào những đặc thù của tố cáo hành chính, giải quyết tố cáo hành chính có thể thấy rằng để đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính cần phải dựa theo những tiêu chí sau đây:
Trang 32Thứ nhất, tính toàn diện của pháp luật về tố cáo hành chính và giải
quyết tố cáo hành chính Tính toàn diện là tiêu chuẩn đầu tiên thể hiện mức độ hoàn thiện pháp luật tố cáo và giải quyết tố cáo Đây chính là tiêu chí mang tính định lượng cho việc hoàn thiện pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính Với đặc thù pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính là pháp luật hình thức thì tiêu chí về tính toàn diện rất quan trọng, đặc thù có nghĩa là pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính phải có đủ các văn bản pháp luật hoặc các quy định pháp luật liên quan đến việc thực hiện quyền tố cáo và các trình tự, thủ tục cho việc giải quyết có hiệu quả các tố cáo đó
Thứ hai, tính đồng bộ của pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết
tố cáo hành chính Tiêu chí này đòi hỏi các quy định về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính, sau khi hoàn thiện phải loại trừ được các mâu thuẫn, chồng chéo và đồng bộ với nhau, đồng thời phải thống nhất với các quy định của pháp luật có liên quan Để bảo đảm yêu cầu về tính đồng bộ đòi hỏi quá trình nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính phải rà soát, phát hiện những quy định trùng chéo hoặc mâu thuẫn giữa pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính với các quy định của pháp luật trong các lĩnh vực khác Bên cạnh đó, tiêu chí về tính đồng bộ trong việc hoàn thiện pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính cũng đòi hỏi quá trình hoàn hiện hệ thống pháp luật này phải bảo đảm sự thống nhất giữa các quy định trong chính hệ thống văn bản pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính Chẳng hạn như việc bảo đảm sự thống nhất giữa các quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo và các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ…có quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo
Thứ ba, tính phù hợp của pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố
cáo hành chính Tính phù hợp ở đây đòi hỏi việc hoàn thiện pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính phải bảo đảm sự phù hợp với trình
Trang 33độ phát triển của kinh tế - xã hội; phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng
và Nhà nước về việc phát huy quyền dân chủ của nhân dân; bảo đảm việc tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính là phương thức để bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và bảo đảm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Thứ tư, tính đơn giản, thuận tiện, dễ nhớ, dễ thực hiện Tiêu chí này
xuất phát từ bản chất của pháp luật là ý chí của nhân dân, đồng thời là phương tiện, vũ khí để thực hiện việc bảo vệ quyền, lợi ích của nhân dân, chứ không chỉ
là công cụ, phương tiện của Nhà nước trong việc quản lý xã hội Pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính quy định công dân có quyền tố cáo Như vậy, đối tượng áp dụng chính là công dân Với đặc thù như vậy thì tính đơn giản, thuận tiện, dễ nhớ, dễ thực hiện là tiêu chí đặc thù đối với pháp luật tố cáo và giải quyết tố cáo hành chính Tiêu chí này đòi hỏi các trình tự, thủ tục tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính phải hết sức đơn giản,
dễ hiểu, dễ nhớ, thuận tiện cho công dân trong quá trình thực hiện quyền tố cáo
Thứ năm, tính ổn định của pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết
tố cáo hành chính Tính ổn định đòi hỏi quy định pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính phải là cơ sở pháp lý lâu dài để công dân thực hiện việc tố cáo và là cơ sở cho việc giải quyết tố cáo của cơ quan hành chính nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nước ta hiện nay cũng như sau này Vì vậy, quá trình hoàn thiện cần phải căn cứ vào chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp cũng như việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Thứ sáu, kỹ thuật lập pháp là một trong các tiêu chuẩn cơ bản thể hiện
mức độ của việc hoàn thiện pháp luật Khi nói đến hình thức thể hiện bên trong của văn bản pháp luật, các nhà lập pháp còn sử dụng thuật ngữ “kỹ thuật lập pháp” Thuật ngữ này được sử dụng với tư cách là tổng thể các quy tắc của việc sắp xếp hợp lý và diễn đạt đúng đắn quy phạm pháp luật và chế định pháp luật trong văn bản pháp luật, là tổng thể các quy tắc điều chỉnh những vấn đề tổ
Trang 34chức soạn thảo văn bản hoặc với tư cách là hệ thống quy tắc xác định cơ cấu của pháp luật phù hợp với tính quy luật của nó trong việc thể chế hóa bằng pháp luật các quan hệ xã hội Những quy tắc, yêu cầu của kỹ thuật lập pháp được sử dụng ở tất cả các giải đoạn của quy trình lập pháp, nhưng tập trung nhất là ở giai đoạn soạn thảo và thông qua Những quy tắc, yêu cầu đó là tính
rõ ràng, minh bạch trong chuyển tải nội dung, tính nhất quán về lôgic trong kết cấu, trình bày; tính hợp lý bên trong của văn bản, hình thức thể hiện của văn bản pháp luật phải phản ánh một cách chính xác yếu tố nội dung; tính ngắn gọn, cô đọng của quy phạm; tính chính xác và tính xác định của các thuật ngữ
sử dụng trong văn bản pháp luật; tính thống nhất, đồng bộ; tính thống nhất của việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật lập pháp trong quá trình xây dựng Do vậy, việc hoàn thiện pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính phải có được các giải pháp tối ưu trong việc giải quyết những vấn đề hạn chế đang đặt ra trong thực tế Các quy định pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính sau khi được xây dựng, hoàn thiện thể hiện bằng ngôn ngữ cô đọng, lôgíc, chính xác và đơn nghĩa, đảm bảo các yêu cầu nêu trên
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoàn thiện pháp luật về
tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính
Để hoàn thiện pháp luật thì ngoài việc nghiên cứu các tiêu chí hoàn thiện cần phải xác định được các yếu tố ảnh hướng tới việc hoàn thiện pháp luật Do vậy, hoàn thiện pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính phải xem xét đến các yếu tố tác động đến chất lượng và hiệu quả của việc hoàn thiện Nhìn chung, có những yếu tố cơ bản dưới đây làm ảnh hưởng tới chất lượng hoàn thiện pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính:
Một là, thực tiễn hoạt động giải quyết tố cáo: để việc hoàn thiện pháp
luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính khắc phục được các vướng mắc đang đặt ra trong công tác giải quyết tố cáo thì quá trình hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực này cần phải tiến hành tổng kết thực tiễn
Trang 35việc thực hiện các quy định pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính Rút ra được các ưu, nhược điểm trong các quy định của pháp luật,
từ đó xác định các quy định pháp luật không còn phù hợp cần phải sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế Ngoài ra, tổng kết thực tiễn cũng cho phép thấy được những vấn đề mới phát sinh, từ đó nghiên cứu bổ sung các quy định trong trong các văn bản pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả việc giải quyết tố cáo hành chính
Tiêu chí căn cứ vào thực tiễn hoạt động giải quyết tố cáo, so sánh với quy định pháp luật hiện hành về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính, chúng ta thấy, theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo thì công dân có quyền tố cáo cơ quan, tổ chức, cá nhân khi cho rằng có hành vi vi phạm pháp luật hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tuy nhiên, hành vi vi phạm pháp luật trên thực tế rất đa dạng, phức tạp Có hành vi vi phạm phải bị xử lý hành chính, có hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng phải bị xử lý hình sự; nhiều trường hợp thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính, song nhiều trường hợp thuộc thẩm quyền của cơ quan tư pháp v.v…Chính vì vậy mà nhiều quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong Luật khiếu nại, tố cáo chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế công tác giải quyết tố cáo và có những điểm chưa thống nhất với các văn bản
pháp luật khác; về thẩm quyền giải quyết tố cáo, Luật khiếu nại, tố cáo đã đề
cập về nguyên tắc xác định thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết tố cáo và quy định về giải quyết tố cáo trong các cơ quan hành chính nhà nước, song chưa quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo trong các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan khác của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế Chưa quy định cụ thể thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc giải quyết tố cáo cũng như trách nhiệm của thanh tra các cấp, các ngành trong việc giúp thủ trưởng cùng
cấp trong việc giải quyết tố cáo; Về thủ tục: Luật khiếu nại, tố cáo chưa quy
Trang 36định đầy đủ về thủ tục giải quyết tố cáo như: thời hiệu tố cáo; việc giải quyết
tố cáo tiếp; việc thẩm tra, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo, quyết định xử
lý tố cáo; hình thức tố cáo; việc tiếp nhận và xử lý đơn tố cáo v.v Theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo thì “giải quyết tố cáo” là việc xác minh, kết luận
về nội dung tố cáo và việc quyết định xử lý của người giải quyết tố cáo Tuy nhiên, các thủ tục của việc xác minh, kết luận chưa được quy định cụ thể Luật khiếu nại, tố cáo mới chỉ tập trung điều chỉnh về thẩm quyền, thủ tục về phía cơ quan có trách nhiệm giải quyết tố cáo, chưa quy định rõ thủ tục cho công dân khi họ thực hiện quyền cáo, do vậy làm hạn chế việc tố cáo các hành vi vi
phạm pháp luật Về quyền, nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo, người
giải quyết tố cáo: Luật khiếu nại, tố cáo đã có quy định về quyền, nghĩa vụ của
người tố cáo, người bị tố cáo và người giải quyết tố cáo, song nhìn chung chưa đầy đủ, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong quá trình thực hiện quyền tố cáo, vì vậy chưa tạo ra cơ chế khuyến khích, động viên người dân báo cho các cơ quan nhà nước về hành vi vi phạm pháp luật Chẳng hạn như chưa quy định rõ công dân có quyền gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo hoặc tố cáo thông qua điện thoại, mạng thông tin điện tử; được nhận thông báo chuyển vụ việc tố cáo sang cơ quan có thẩm quyền giải quyết; chưa quy định đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người giải quyết tố cáo, người được giao nhiệm vụ xác minh nội
dung tố cáo v.v…Về các biện pháp bảo vệ người tố cáo: Luật khiếu nại, tố cáo
chưa có cơ chế bảo vệ người tố cáo khi họ bị đe doạ, trả thù, trù dập hoặc bị phân biệt đối xử; chưa có quy định về việc khen thưởng vật chất đối với người
có công tố cáo và giải quyết tố cáo; thiếu cơ chế tổ chức thực hiện, do vậy làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền tố cáo của công dân Nhiều người không dám tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền vì sợ bị trả thù, trù dập, một
số khác thì tố cáo dấu tên, không có địa chỉ Đáng lưu ý có những trường hợp người tố cáo bị trả thù, trù dập mà người vi phạm không bị xử lý Tình trạng đó
đã và đang làm cản trở việc tố cáo và giải quyết tố cáo
Trang 37Hai là, trình độ, kỹ thuật pháp lý của những người làm công tác xây
dựng pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính: trình độ,
kỹ thuật pháp lý của đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật là yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng của việc hoàn thiện pháp luật Bởi vì, những người này có trách nhiệm trực tiếp xây dựng, soạn thảo các quy định pháp luật Trình
độ, kỹ thuật pháp lý ở đây được hiểu là năng lực trình độ trong việc nghiên cứu, xây dựng pháp luật và hiểu biết về chuyên môn, nghiệp vụ Những cán bộ tham gia hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo phải có hiểu biết nhất định về công tác giải quyết tố cáo, đồng thời phải có kinh nghiệm trong việc xây dựng pháp luật Nếu đội ngũ cán bộ này thiếu hoặc yếu năng lực trình độ thì chất lượng của việc hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo sẽ không thể đạt chất lượng, hiệu quả
Ba là, công tác soạn thảo, rà soát văn bản pháp luật: Công tác soạn thảo
các văn bản pháp luật ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng hoàn thiện pháp luật Muốn việc hoàn hiện pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính đảm bảo chất lượng thì cần phải đầu tư nhằm nâng cao chất lượng việc soạn thảo văn bản pháp luật trong lĩnh vực này Phải hiện đại hóa phương thức
và phương tiện xây dựng pháp luật, nhất là việc khai thác, ứng dụng tối đa kết quả nghiên cứu khoa học có liên quan trong quá trình nghiên cứu, soạn thảo các quy định pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính
Ngoài ra, để việc hoàn thiện các quy định pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính đạt hiệu quả thì phải thường xuyên tiến hành việc rà soát các văn bản pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính nhằm phát hiện được các mâu thuẫn, chồng chéo trong các quy định pháp luật, từ đó tiến hành việc sửa đổi, bổ sung kịp thời các quy định pháp luật đó, tạo sự thống nhất, đồng bộ giữa các quy định pháp luật trong lĩnh vực này
Bốn là, cam kết quốc tế và kinh nghiệm các nước về giải quyết tố cáo
hành chính: việc hoàn thiện pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo phải phù hợp
Trang 38với các quy định về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết hoặc gia nhập Để đảm bảo yêu cầu này thì cần phải tham khảo kinh nghiệm, đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước có liên quan về giải quyết tố cáo hành chính trong quá trình hoàn thiện, qua đó bảo đảm các quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo của nước
ta phù hợp với thông lệ quốc tế
1.3.3 Hoàn thiện pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính là yêu cầu cấp thiết trong tình hình hiện nay
Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay thì việc hoàn thiện pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính là yêu cầu hết sức cần thiết Bởi vì:
Nhà nước pháp quyền, nói một cách khái quát là hệ thống các
tư tưởng, quan điểm đề cao pháp luật, pháp chế trong tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước và trong đời sống xã hội Nhà nước pháp quyền là Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật và đề cao quyền của con người, quyền của công dân Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân là cách thức cơ bản để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm mọi quyền lực nhà nước thuộc
về nhân dân Đó là Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế, xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi vi phạm pháp luật nhằm thực hiện và bảo vệ các quyền tự do dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân, ngăn ngừa mọi sự tùy tiện lạm quyền từ phía cơ quan nhà nước và cán bộ viên chức Nhà nước, ngăn ngừa hiện tượng dân chủ cực đoan, vô kỷ luật kỷ cương, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước Đó là Nhà nước mà tất cả các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, kể cả tổ chức Đảng đều phải hoạt động theo pháp luật, tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước nhân dân về các hoạt động của mình Mọi công dân đều có nghĩa vụ chấp hành hiến pháp
và pháp luật, phải sống và làm việc theo pháp luật [15, tr 1 ]
Trang 39Pháp luật tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính quy định về quyền tố cáo của công dân đối với hành vi trái pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức; thể chế hoá quyền tố cáo được ghi nhận trong Hiến pháp của Nhà nước ta và phản ánh giá trị dân chủ Do vậy, xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay cũng đồng nghĩa với việc hoàn thiện pháp luật nói chung, đặc biệt là pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính
Việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật tố cáo hành chính và giải quyết
tố cáo hành chính còn xuất phát từ yêu cầu của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung của nước ta hiện nay Trong bối cảnh xây dựng và phát triển kinh
tế đất nước, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai và minh bạch là việc làm vô cùng quan trọng Chỉ có thông qua việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật mới thể chế hóa kịp thời, đúng đắn và đầy đủ đường lối của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật trong việc quản lý kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị và bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của nhân dân Chính vì lẽ
đó mà Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật xác định rõ một trong các nội dung của việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị là chúng ta cần phải "hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo, bảo đảm mọi quyết định và hành vi hành chính trái pháp luật đều được phát hiện và có thể bị khởi kiện trước Tòa án; đổi mới thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo và thủ tục giải quyết các vụ án hành chính theo hướng công khai, đơn giản, thuận lợi cho công dân, đồng thời bảo đảm thông suốt, hiệu quả của quản lý hành chính" [11, tr 4]
Ngoài ra, hoàn thiện pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính là yêu cầu đặt ra trong quá trình hội nhập Nhà nước đã tiến hành nhiều hoạt động nhằm thúc đẩy quá trình đàm phán, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới và nước ta đã trở thành thành viên của tổ chức này Việc mở cửa
Trang 40hội nhập sẽ đem lại nhiều cơ hội, song cũng đặt ra nhiều thử thách đối với việc phát triển kinh tế đất nước Để vượt qua các thử thách, giải quyết các khó khăn vướng mắc đang đặt ra trong thực tiễn thì chúng ta phải hoàn thiện pháp luật, nhất là pháp luật về tố cáo hành chính và giải quyết tố cáo hành chính nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình hội nhập, làm trong sạch môi trường sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế phát triển, từ đó thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước ta
1.4 Pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo của một số nước trên thế giới
1.4.1 Việc tiếp nhận đơn thư tố cáo
Tiếp nhận đợn thư tố cáo là một trong những nội dung quan trọng tác động đến hiệu quả của việc giải quyết tố cáo Các quốc gia có những quy định thiết lập khung pháp lý tạo thuận lợi cho việc tiếp nhận, xử lý đơn thư tố cáo Hiệu quả xử lý các vụ việc tố cáo cũng cho thấy vai trò quan trọng của việc thu thập và xử lý đơn thư tố cáo Cụ thể như:
Singapore có quy định cụ thể các hình thức tố cáo nhằm tạo thuận lợi cho người dân báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền các hành vi vi phạm pháp luật Theo đó, người dân có thể gửi đơn tố cáo bằng văn bản, tố cáo qua điện thoại Các loại tố cáo này được phân chia thành hai loại là tố cáo có danh
và tố các nặc danh Tố cáo có danh thường nhận được từ các tổ chức hay các cơ quan Tố cáo nặc danh thường nhận được từ bức thư không có tên gửi qua đường bưu điện hoặc do điện thoại từ quần chúng nhân dân chuyển cho nhân viên trực ban Việc tố cáo nặc danh thường cung cấp những thông tin chính xác đặc biệt là những thông tin về tham nhũng Điều tra, tìm hiểu, thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm làm sáng tỏ nội dung tố cáo đối với các tố cáo nặc danh thường rất phức tạp và mất thời gian Kết quả phụ thuộc chủ yếu vào năng lực nhân viên và người điều tra cần phải có phương pháp thu thập thông tin, chứng cứ giải quyết vụ việc