Do mục tiêu , sứ mệnh , chức năng và đă ̣c trưng của các trường ĐHTT đã bao hàm mục tiêu , sứ mệnh , chức năng và đă ̣c trưng của trường CĐCĐ nên ở Viê ̣t Nam , mô ̣t số trường cao đ
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, với sự hướng dẫn của các cán bộ khoa học Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào
Tác giả luận án
Ngô Thị Minh
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lời biết ơn sâu sắc tới GS,TS,NGƯT Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục và PGS TS Đặng Bá Lãm, PGS.TS Lê Đức Ngọc, những người Thầy, người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình công tác, học tập và thực hiện luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS,TS Lê Kim Long Hiê ̣u trưởng Trường Đại học Giáo dục và các GS , PGS, TS, cảm ơn Ban Giám hiệu cùng toàn thể cán bộ, giảng viên, viên chức của Trường Đại học Giáo dục đã giảng dạy, giúp
đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành chương trình đào tạo tiến sĩ
và hoàn thành luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn các chuyên gia, các giảng viên, các nhà quản
lý, các cán bộ, viên chức và đại diện học sinh, sinh viên một số trường đại học
và đại diện một số doanh nghiệp đã hỗ trợ tôi trong việc tổ chức khảo sát, điều tra, lấy số liệu và thử nghiệm một số chính sách mà luận án đưa ra
Tôi xin tri ân sự giúp đỡ, sự chia sẻ khó khăn của bạn bè, đồng nghiệp, của gia đình, người thân dành cho tôi trong suốt quá trình công tác, học tập và nghiên cứu khoa học
Hà nội, ngày 28 tháng 12 năm 2013 Tác giả luận án
Ngô Thị Minh
Trang 4MỞ ĐẦU _ 1Chương 1 _ 9
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI 9TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC TỈNH _ 9
1.1 Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án 9
1.1.1 Nghiên cư ́ u liên quan đến chính sách giáo dục 10 1.1.2 Nghiên cư ́ u liên quan đến trường đại học thuộc tỉnh _ 11 1.1.3 Nghiên cư ́ u liên quan đến chính sách về trường đại học thuộc tỉnh 12
1.2.1 Cộng đồng 15 1.2.2 Giáo dục cộng đồng 15 1.2.3 Trươ ̀ ng đại học cộng đồng _ 17 1.2.4 Trươ ̀ ng đại học thuộc tỉnh 19 1.2.5 Vị trí, sư ́ mê ̣nh trường đại học thuộc tỉnh 21 1.2.6 Chư ́ c năng, vai trò của trường đại học thuộc tỉnh đối với sự phát triển giáo dục và phát triển kinh tế – xã hội địa phương 23
1.3 Sư ̣ gắn kết với cô ̣ng đồng của các trường đa ̣i ho ̣c thuô ̣c tỉnh 25
1.3.1 Trường ĐH thuô ̣c tỉnh gắn với nhiê ̣m vụ đáp ứng cung cầu nhân lực _ 25 1.3.2 Trường ĐH thuô ̣c tỉnh gắn với nhiê ̣m vụ phổ cập nghề nghiệp 26 1.3.3 Trường ĐH thuô ̣c tỉnh gắn với nhiê ̣m vụ xây dựng xã hội học tập _ 26 1.3.4 Trường ĐH thuô ̣c tỉnh gắn với nhiê ̣m vụ phát huy sự đồng thuận XH 27
Trang 5iv
1.4 Cơ sơ ̉ lý luâ ̣n về chính sách giáo du ̣c 28
1.4.1 Chính sách 28 1.4.2 Các mô hình chính sách _ 30 1.4.3 Quá trình chính sách 35 1.4.4 Đặc điểm và các lực lượng tham gia quá trình chính sách _ 40
1.5 Đặc điểm của chính sách giáo dục và chính sách đối với trường đại
Chương 2 57THỰC TIỄN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC TỈNH _ 57
2.1 Kinh nghiệm quốc tế về chính sách đối với trường ĐH thuộc tỉnh 58
2.1.1 Kinh nghiệm của Hoa Kỳ 58 2.1.2 Kinh nghiệm cu ̉a Canada 59 2.1.3 Kinh nghiệm của Pha ́ p 60 2.1.4 Kinh nghiệm của Nhật _ 61 2.1.5 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 62
2.1.6 Kinh nghiệm của Tha ́ i Lan _ 63
2.1.7 Kinh nghiệm của Trung Quốc _ 65
2.2 Sư ̣ phát triển các trường đa ̣i ho ̣c thuô ̣c tỉnh ở Viê ̣t Nam 66 2.3 Hiê ̣n trạng chính sách đối với các trường đa ̣i ho ̣c thuô ̣c tỉnh 68
2.3.1 Các chính sách liên quan tơ ́ i viê ̣c thực hiê ̣n sứ mê ̣nh nhà trường 69
2.3.2 Các chính sách liên quan đến việc sắp xếp, quy hoa ̣ch mạng lưới _ 71 2.3.3 Các chính sách liên quan đến tổ chức, quản lý nhà trường 81 2.3.4 Các chính sách liên quan đến đầu tư tài chính phát triển nhà trường 90 2.3.5 Các chi ́nh sách liên quan đến phát triển các mối quan hê ̣ của trường 97
Trang 6v
2.4 Tác động của chính sách hiện hành đối với trường đa ̣i ho ̣c thuô ̣c tỉnh
2.4.1 Thuâ ̣n lợi và những tác động tích cực 100 2.4.2 Khó khăn và những bất cập đang có _ 110 2.4.3 Nguyên nhân của những bất cập hiê ̣n nay _ 121
2.5 Đa ́ nh giá chung về chính sách đối với các trường đa ̣i ho ̣c thuô ̣c tỉnh và
Chương 3 _ 125
ĐỀ XUẤT VIỆC HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI TRƯỜNG ĐẠI HỌC _ 125
THUỘC TỈNH Ở VIỆT NAM _ 125 3.1 Bối ca ̉ nh hiê ̣n nay của Viê ̣t Nam và của giáo dục Viê ̣t Nam 125 3.2 Đo ̀i hỏi đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Viê ̣t Nam 131 3.3 Những nguyên tắc lựa chọn giải pháp hoàn thiện chính sách đối với
3.3.1 Đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ 137 3.3.2 Đảm bảo tính kế thừa và phù hợp với đặc điểm loại hình trường _ 137 3.3.3 Thể hiện tính cấp thiết và khả thi _ 138
3.4 Các giải pháp hoàn thiện chính sách đối với trường ĐH thuô ̣c tỉnh 138
3.4.1 Hoàn thiện chính sách x ác lâ ̣p vị trí, sứ mê ̣nh nhà trường 138 3.4.2 Hoàn thiện chính sách quy hoa ̣ch trường đại học thuộc tỉnh 144 3.4.3 Hoàn thiện chính sách về quản lý và phương thức đào tạo của trường _ 149 3.4.4 Hoàn thiện chính sách đầu tư, tạo nguồn tài chi ́nh cho nhà trường _ 164 3.4.5 Hoàn thiện chính sách về phát triển các quan hệ của trường 169
3.5 Khảo sát tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp hoàn thiện chính
3.5.1 Tổ chức và phương pháp khảo sát _ 172 3.5.2 Nhâ ̣n xét chung _ 177
3.6 Thử nghiệm một số nội dung của giải pháp hoàn thiện chính sách về
3.6.1 Thử nghiệm giải pháp 180 3.6.2 Nhâ ̣n xét 182
Trang 7DANH MU ̣C PHỤ LỤC 197
Phụ lục 1: Mẫu phiếu khảo sát và đánh giá liên quan đến luận án _ 203 Phụ lục 2: Khảo sát chính sách đối với trường Đại học Trà Vinh 206
Trang 8vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực theo các cấp độ 73
Bảng 2.2: Thống kê số liê ̣u các trường ĐH, CĐ, TCCN và dạy nghề 75
Bảng 2.4: Ngân sách đầu tư cho giáo dục, đào tạo và dạy nghề 96
Bảng 2.5: Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo 100
Bảng 2.6: Tổng hợp vốn đầu tư phát triển ngành giáo dục và đào tạo 101 Bảng 2.7: Quy mô tuyển sinh TCCN ta ̣i các trường ĐHTT
Bảng 2.13: Cơ cấu trình độ lao động 3 năm (2007, 2009, 2010) 110
Bảng 2.14: Định hướng phát triển lao động qua ĐT đến năm 2020 114
Bảng 2.15: Giảng viên các trường ĐHTT năm học 2009-2010 116
Bảng 2.16: Giảng viên các trường ĐHTT năm ho ̣c 2010-2011 117
Bảng 2.17: Giảng viên các trường ĐHTT năm ho ̣c 2011-2012 117
Trang 9viii
Bảng 3.1: Phản ánh số liệu về phiếu khảo sát phát ra và thu về 176
Bảng 3.3: Số liệu phản ánh kết quả thử nghiệm 181
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: So sánh cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực theo các cấp độ 72
Hình 2.2: So sánh số liê ̣u các trường ĐH, CĐ, TCCN và dạy nghề 74
Hình 2.3: Quy mô đào tạo các trường ĐH, CĐ giai đoạn 2009-2012 76
Hình 2.4: So sánh NSNN đầu tư cho giáo du ̣c đào ta ̣o và da ̣y nghề 96
Hình 2.5: Tỷ lệ quy mô tuyển sinh các trường ĐHTT so với các trường
Hình 2.10: So sánh số liê ̣u tuyển mới HSSV ta ̣i các trường ĐHTT
Hình 2.11: So sánh số liê ̣u tuyển mới HSSV ta ̣i các trường CĐ, ĐH
Hình 2.12: Tỷ lệ tuyển mới HSSV các trường ĐHTT so với các trường
CĐ, ĐH tư ̀ năm ho ̣c 2009-2010 đến năm học 2011-2012 108
Hình 2.13: Số liệu tuyển sinh trong các trường ĐHTT năm học 2011-2012 109
Hình 2.14: Kết quả điều tra lao động việc làm 2010 110
Hình 2.15: Cơ cấu trình độ nhân lực trong 40 doanh nghiệp Nhật Bản
Hình 2.16: Số liệu về ĐH từ năm học 1999-2000 đến 2010-2011 112
Hình 2.17: So sánh Quy mô hệ thống cơ sở giáo dục đại học 112
Hình 2.18: Số sinh viên đại học từ năm 1999 đến 2011 112
Trang 10ix
Hình 2.19: Định hướng lao động theo cơ cấu bậc đào tạo đến năm 2020 113
Hình 2.21: Quy mô giảng viên các trường đại học, cao đẳng 118
Hình 2.22: Quy mô giảng viên các trường đa ̣i ho ̣c trong cả nước 119
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
(1) Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cùng với sự phát triển như vũ
bão của khoa học, công nghệ làm cho nhu cầu phát triển nhân lực ngày càng trở nên cấp bách đối với mỗi quốc gia Ngày nay, hầu hết các quốc gia đều coi nguồn nhân lực (NNL) là yếu tố cơ bản, có vai trò quyết định nhất đối với sự
phát triển đất nước nhanh và bền vững
Ở Việt Nam nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng như NQTW 2 khóa VIII, kết luận hội nghị TW 6 - khóa IX và các nghị quyết Đại hội đảng lần thứ X , XI
ngày càng nhấn mạnh điều đó Để nhanh chóng “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng
kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại ” [40], tiến kịp với các nước phát triển và hội nhập với thế
giới chúng ta phải có những giải pháp tích cực, đồng bộ và hiệu quả về đào ta ̣o NNL chất lượng cao Mặt khác, phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ cùng với
sự phát triển của KT tri thức đòi hỏi chúng ta phải có NNL phù hợp Bài học kinh
nghiệm của nhiều nước phát triển trên thế giới đã chỉ rõ rằng: Phát triển NNL chất
lượng cao là biện pháp tiên quyết để xây dựng và phát triển đất nước theo hướng công nghiê ̣p hóa-hiê ̣n đại hóa, nhất là đối với những nước chậm phát triển, những nước nghèo nàn, lạc hậu như Việt Nam và nhiều nước ở Châu Á, Châu Phi [127]
Điều này hiện nay đang là một thách thức đối với các nền kinh tế thế giới
(2) Việc đào tạo NNL đáp ứng yêu cầu về số lượng, đảm bảo về chất lượng
và có cơ cấu hợp lý, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội (KT – XH) tại mỗi đi ̣a phương đang là vấn đề cấp thiết Dân số nước ta đang ở thời kỳ dân số vàng, tuy nhiên, NNL của quốc gia mới chỉ là tiềm năng phát triển và nó chỉ trở thành động lực của sự phát triển đất nước khi được phát huy bằng những cách thức khác nhau Giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) là nhân tố quan trọng nhất để phát huy tiềm năng đó bởi thực chất, nó làm tăng giá trị con người về các mặt
Trang 12trí, đức, thể, mỹ Chất lượng NNL là yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước
Chất lượng NNL được hiểu một cách tổng hợp bao gồm nhiều thành tố tạo nên, đó là: trình độ học vấn, văn hóa, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp v.v Những thành tố đó có thể đạt được chủ yếu thông qua GD&ĐT Mă ̣t khác , trước sự đổi mới công nghệ nhanh chóng hiê ̣n nay , khiến cho tri thức, kỹ năng mới được học có thể trở thành lạc hậu sau một thời gian rất ngắn, đòi hỏi người lao động phải có tinh thần học suốt đời và biết học suốt đời; đòi hỏi hệ thống giáo du ̣c ở mỗi quốc gia phải lựa chọn giải pháp thích hợp để phát triển nhằm đạt hiệu quả và chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của chiến lược phát triển KT - XH Vì vậy, để thực hiện mục tiêu nói trên, cần có nhiều giải pháp mới trong giáo du ̣c Một trong các giải pháp đó chính là phát triển giáo dục cộng đồng
(3) Giáo dục cộng đồng (GDCĐ) là loại hình giáo du ̣c được phát triển mạnh
ở nhiều nước trên thế giới (Mỹ, Nhật, Pháp, Ấn Độ, Malaysia…), đã trở thành nhân tố quan trọng nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo du ̣c , đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của cộng đồng dân cư ở các nước Do đó việc nghiên cứu hoàn thiê ̣n chính sách đối với hệ thống GDCĐ ở nước ta là một vấn đề vừa cần thiết ,
đa ngành thuô ̣c sự quản lý của UBND các tỉnh /thành phố trực thuô ̣c trung ương
vì mục tiêu phát triển cộng đồng
Trang 13Ở nước ta sự hình thành và phát triển các loại hình GDCĐ có những đặc trưng khác biệt so với các nước khác Các cơ sở giáo du ̣c nghề nghiệp tại các địa phương rất đa dạng và biến động rất nhanh Việt Nam đã pháp chế hóa các trung tâm học tập cộng đồng , các trung tâm giáo dục thường xuyên , thành lập một số trường cao đẳng cô ̣ng đồng và một số trường đại học thuô ̣c sự quản lý nhà nước (QLNN) của UBND các tỉnh/thành phố được go ̣i tắt là trường đa ̣i ho ̣c thuô ̣c tỉnh (ĐHTT) Loại trường này hướng vào việc đào ta ̣o đội ngũ cán bộ có trình độ từ
đa ̣i ho ̣c , cao đẳng trở xuống, thoả mãn nhu cầu nhân lực cho công cuộc phát triển KT - XH ở các địa phương và các vùng kinh tế Tại một số tỉnh /thành phố trường CĐCĐ đã phát triển thành trường đa ̣i ho ̣c mang đầy đủ đặc trưng của trường cộng đồng Do mục tiêu , sứ mệnh , chức năng và đă ̣c trưng của các trường ĐHTT đã bao hàm mục tiêu , sứ mệnh , chức năng và đă ̣c trưng của trường CĐCĐ nên ở Viê ̣t Nam , mô ̣t số trường cao đẳng khác cũng là cơ s ở để thành lập trường ĐHTT
(4) Các trường ĐHTT có phát huy được vai trò của mình hay không , ngoài
sự cố gắng nỗ lực của chính các trường còn phụ thuộc nhiều vào sự chỉ đạo, điều hành và cơ chế, chính sách của các cơ quan quản lý, các nhà lãnh đạo từ trung ương đến các địa phương nơi trường hoạt động Các trường ĐHTT ở Việt Nam có mục đích vô cùng quan trọng và thiết thực là đào tạo NNL phục vụ cho công cuộc CNH-HĐH đất nước Vì vậy, việc tổng kết thực tiễn, tổ chức nghiên cứu khoa học
để hoàn thiện chính sách đối với loại trường này đang là một yêu cầu tất yếu của cuộc sống
(5) Các trường ĐHTT ở Việt Nam đã đóng góp một phần tích cực trong kết
quả đào ta ̣o NNL có trình độ văn hóa, chuyên môn về khoa ho ̣c và công nghê ̣, có tay nghề cơ bản cung cấp cho các địa phương, các vùng miền trong cả nước Đây là loại trường đại học được xếp vào nhóm thứ ba theo phân tầng chất lượng của quy hoạch phát triển giáo dục đại học Viê ̣t Nam giai đoa ̣n 2006-2020, là trường đại học
đi ̣nh hướng nghề nghiê ̣p – ứng dụng Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, có không ít các vấn đề đã và đang đặt ra với các trường ĐHTT phải giải quyết Các trường này hiê ̣n đang đảm trách sứ mê ̣nh đào ta ̣o mềm dẻo, linh hoạt, gắn đào ta ̣o
Trang 14với sử dụng NNL, với nhu cầu xã hội và nhu cầu của cộng đồng thực hiện sứ mệnh đào ta ̣o NNL cho các địa phương thông qua cơ chế liên kết với các doanh nghiệp và các đơn vị hành chính trên địa bàn, liên kết với các cơ sở dạy nghề, các trường ĐH trong và ngoài nước Thực tiễn cho thấy, quá trình hoạt động, phần lớn loại trường ĐHTT chưa thể hiện đúng với bản chất, sứ mê ̣nh của loại trường ĐH mang tính cộng đồng, sứ mê ̣nh của các trường này chưa rõ nét, chưa tạo sức hấp dẫn với cộng đồng, thiếu sự phối hợp với các cơ quan, các đoàn thể và thiếu sự chỉ đạo, sự tạo điều kiện nhiều mặt của chính quyền các địa phương để tăng cường đầu
tư cơ sở vâ ̣t chất, trang thiết bị phục vụ việc nâng cao chất lượng hoạt động của nhà trường Những ưu điểm nổi trội của loại trường ĐHTT hiện nay chưa được thừa nhận rộng rãi trong xã hội, chưa tác động tích cực đến các nhà quản lý giáo dục, các nhà lãnh đạo có trách nhiệm hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô trong Quốc hội, Chính phủ, trong các bộ ngành trung ương; sự phát triển mạng lưới các cơ sở GD&ĐT còn thiếu quy hoạch và sự đầu tư ngân sách nhà nước trong lĩnh vực này còn dàn trải và đặc biệt cho đến nay vẫn chưa có những giải pháp đồng bộ để đảm bảo và từng bước nâng cao chất lượng Trước tình trạng đó, rất cần thiết phải có các chính sách vĩ mô để loại trường ĐHTT ở Viê ̣t Nam phát triển , đảm bảo chất lượng cao trong đào ta ̣o
(6) Trong hệ thống giáo du ̣c quốc dân của Việt Nam, các nhà hoạch định chính sách chưa xác định rõ vị trí , sứ mê ̣nh của loại trường ĐHTT Tình trạng đào ta ̣o không gắn với nhu cầu sử dụng NNL và hoàn cảnh của người học đang diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi Hầu hết lãnh đạo các địa phương chưa thể chủ động cân đối cung cầu NNL ở địa phương mình Có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà giáo du ̣c của Việt Nam quan tâm đến loại trường ĐHTT và đã có một
số công trình nghiên cứu về loại tr ường này Những nghiên cứu về loa ̣i trường này đề cập nhiều đến vấn đề mang tính chất đặt nền móng, tạo điều kiện cho sự
ra đời của các trường ĐHTT, mới tập trung nghiên cứu về sự cần thiết ra đời ; về
tổ chức, quản lý đào ta ̣o liên thông ; về mô hình phát triển và về một số chính sách vi mô, tạo điều kiện cho loại trường này phát triển ở một số địa phương, một số vùng miền của đất nước Các công trình nghiên cứu này chưa đề câ ̣p sâu
Trang 15những bất cập , những khó khăn vướng mắc trong việc ban hành , triển khai các chính sách thể hiện qua việc ban hành văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t liên quan đến viê ̣c xác lâ ̣p vi ̣ trí pháp lý ; viê ̣c quy hoa ̣ch mạng lưới; chính sách đầu tư , tạo nguồn lực tài chính; cơ chế phối hợp trong quản lý, điều hành đối với loại hình trường ĐHTT ở Việt Nam trong bối cảnh hiê ̣n nay
Vì các lý do nêu trên và trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu đã
có, với mong muốn được góp phần từng bước khắc phục những vấn đề còn bất cập trong chính sách hiê ̣n hành đối với loa ̣i trường ĐHTT, tác giả quyết định lựa
chọn đề tài nghiên cứu: “Hoàn thiê ̣n chính sách đối với trường đại học thuộc
tỉnh ở Viê ̣t Nam trong bối cảnh hiê ̣n nay”
2 Mục đích nghiên cứu
Tác giả luận án đề xuất nô ̣i dung cần hoàn thiện mô ̣t số chính sách đối với
các trường đại học thuộc tỉnh trên các mặt : 1) Xác lập vị trí pháp lý ; 2) Quy
hoạch mạng lươ ́ i cơ sở đào tạo ; 3) Xác lập cơ chế quản lý và phương thức đào tạo; 4) Đầu tư , tạo nguồn lực tài chính; 5) Phát triển các mối quan hệ của trường nhằm đảm bảo cho loại hình trường này hoạt động hiệu quả , thực hiê ̣n
được sứ mê ̣nh của mình trong bối cảnh hiện nay ở Viê ̣t Nam
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Các trường đại học thuộc tỉnh ở Việt Nam
Đối tượng nghiên cứu: Chính sách đối với trường ĐHTT ở Việt Nam
4 Giả thuyết khoa học
Tại một số địa phương , loại trường ĐHTT đã và đang được thành lập để đào tạo và cung cấp nhân lực tại chỗ Do nhiều nguyên nhân khác nhau , trường CĐCĐ ở một số địa phương đã phát triển thành trường ĐHTT Tại một số tỉnh/thành phố đã thành lập trường ĐHTT trên cơ sở hợp nhất trường cao đẳng
sư pha ̣m và mô ̣t số cơ sở đào ta ̣o khác Mô ̣t số chính sách hiê ̣n hành trong các
lĩnh vực: xác lập vị trí pháp lý; quy hoạch mạng lưới; xác lập cơ chế quản lý và
phương thư ́ c đào tạo ; đầu tư nguồn lực tài chính ; chính sách phát triển các
Trang 16quan hê ̣ của trường đang còn nhiều bất câ ̣p Nếu đề xuất được các nô ̣i dung để
hoàn thiện các chính sách này, tạo cơ chế để quản lý chất lượng và hiệu quả loại trường ĐHTT thì các trường này có thể phát triển lành mạnh , hoàn thành sứ
mê ̣nh của mình, đáp ứng yêu cầu đào ta ̣o nhân lực cho các địa phương trong bối cảnh hiện nay
Trang 17MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
(1) Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cùng với sự phát triển như vũ bão
của khoa học, kỹ thuật, công nghệ làm cho nhu cầu phát triển nhân lực ngày càng trở nên cấp bách đối với mỗi quốc gia Ngày nay, hầu hết các quốc gia đều coi nguồn nhân lực (NNL) là yếu tố cơ bản, có vai trò quyết định nhất đối với sự
phát triển đất nước nhanh và bền vững
Ở Việt Nam trong nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng như: NQTW 2 khóa VIII, kết luận hội nghị TW6 - khóa IX và các nghị quyết Đại hội đảng lần
thứ X, XI ngày càng nhấn mạnh điều đó Để nhanh chóng “Đưa nước ta ra khỏi
tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại ” [40] để tiến kịp với các nước phát triển và
hội nhập với thế giới chúng ta phải có những giải pháp tích cực, đồng bộ và hiệu quả Mặt khác, phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ cùng với sự phát triển của
KT tri thức đòi hỏi chúng ta phải có NNL phù hợp Bài học kinh nghiệm của nhiều
nước phát triển trên thế giới đã chỉ rõ rằng: Phát triển NNL chất lượng cao là biện
pháp tiên quyết để xây dựng và phát triển đất nước theo hướng công nghiê ̣p hiê ̣n đại hóa (CNH-HĐH), nhất là đối với những nước chậm phát triển, những nước nghèo nàn, lạc hậu như Việt Nam và nhiều nước ở Châu Á, Châu Phi [125]
hóa-Điều này hiện nay đang là một thách thức đối với các nền kinh tế thế giới
(2) Việc đào tạo NNL có cơ cấu hợp lý đáp ứng yêu cầu về số lượng , đảm bảo
về chất lượng cho nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) nói chung và cho
sự nghiệp CNH-HĐH nói riêng ở nước ta hiện nay không những phải phù hợp với nhu cầu đào tạo NNL trong cả nước mà với mỗi địa phương cũng cần chủ động trong việc đào tạo NNL, đáp ứng tình hình phát triển KT-XH ở địa phương
Trang 18mình Nước ta đang trong quá trình CNH -HĐH, việc đào ta ̣o một đội ngũ nhân lực có chất lượng cao, đồng bộ về cơ cấu ngành nghề và trình độ đang trở thành vấn đề cấp thiết Dân số nước ta đang ở thời kỳ dân số vàng, tuy nhiên, NNL của quốc gia mới chỉ là tiềm năng phát triển và nó chỉ trở thành động lực của sự phát triển đất nước khi được phát huy bằng những cách thức khác nhau Giáo dục và đào ta ̣o (GD & ĐT) là nhân tố quan trọng nhất để phát huy tiềm năng đó bởi thực chất, nó làm tăng giá trị con người về các mặt trí, đức, thể, mỹ Chất lượng NNL là yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước
Chất lượng NNL được hiểu một cách tổng hợp bao gồm nhiều thành tố tạo nên, đó là: trình độ học vấn, văn hóa, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp v.v Những thành tố đó có thể đạt được chủ yếu thông qua GD&ĐT Tuy nhiên, sự đổi mới công nghệ nhanh chóng khiến cho tri thức,
kỹ năng mới được học có thể trở thành lạc hậu sau một thời gian rất ngắn, vì vậy đòi hỏi người lao động phải có tinh thần học suốt đời và biết học suốt đời ; đòi hỏi hệ thống giáo du ̣c ở mỗi quốc gia phải lựa chọn xu thế thích hợp để phát triển nhằm đạt hiệu quả và chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của chiến lược phát triển KT - XH Để thực hiện mục tiêu nói trên , cần có nhiều xu hướng và giải pháp mới trong giáo du ̣c Một trong các xu hướng đó chính là giáo du ̣c cộng đồng
(3) Giáo dục cộng đồng (GDCĐ) là loại hình giáo dục được phát triển mạnh ở nhiều nước trên thế giới (Mỹ, Nhật, Pháp, Ấn Độ , Malaysia…), đã trở thành nhân tố quan trọng nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo du ̣c , đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của nhiều cộng đồng dân cư ở các nước Do đó việc nghiên cứu hoàn thiê ̣n chính sách đối với hệ thống GDCĐ ở nước ta là một vấn đề vừa
Trang 19GD&ĐT Chính sự kết hợp chặt chẽ 2 yếu tố đó đã tạo nên sức sống và hiệu quả của giáo du ̣c cộng đồng GDCĐ bao gồm nhiều hình thức tổ chức như trung tâm học tập cộng đồng, trường cao đẳng cộng đồng, trường đại học đa cấp đa ngành,
đa lĩnh vực thuô ̣c sự quản lý của UBND các tỉnh /thành phố trực thuô ̣c trung ương vì mu ̣c tiêu phát triển cô ̣ng đồng
Ở nước ta sự hình thành và phát triển các loại hình GDCĐ có những đặc trưng khác biệt so với các nước khác Các cơ sở giáo du ̣c nghề nghiệp tại các địa phương rất đa dạng và biến động rất nhanh Việt Nam đã pháp chế hóa các trung tâm học tập cộng đồng , các trung tâm giáo dục thường xuyên , thành lập một số trường cao đẳng cô ̣ng đồng (CĐCĐ) và một số trường đại học thuô ̣c sự quản lý nhà nước (QLNN) của UBND các tỉnh/thành phố được go ̣i tắt là trường đa ̣i ho ̣c thuô ̣c tỉnh (ĐHTT) Loại trường này hướng vào việc đào ta ̣o đội ngũ cán bộ có trình độ từ đa ̣i ho ̣c (ĐH), cao đẳng (CĐ) trở xuống, thoả mãn nhu cầu nhân lực
kỹ thuật cho công cuộc phát triển KT - XH ở các địa phương và các vùng kinh tế Tại một số tỉnh /thành phố trường CĐCĐ đã phát triển thành trường ĐHTT , đào ta ̣o đa cấp , đa ngành và mang đầy đủ đặc trưng của trường cộng đồng Do mục tiêu, sứ mệnh, chức năng và đă ̣c trưng của các trường ĐHTT đã bao hàm mục tiêu, sứ mệnh, chức năng và đă ̣c trưng của trường CĐCĐ nên ở Viê ̣t Nam ,
mô ̣t số trường cao đẳng khác cũng là cơ sở để thành lâ ̣p trường ĐHTT
(4) Các trường ĐHTT có phát huy được vai trò của mình hay không, ngoài sự cố
gắng nỗ lực của chính các trường còn phụ thuộc nhiều vào sự chỉ đạo, điều hành
và cơ chế, chính sách của các cơ quan quản lý, nhà lãnh đạo từ trung ương đến các địa phương nơi trường hoạt động Các trường ĐHTT ở Việt Nam có mục đích vô cùng quan trọng và thiết thực là đào tạo NNL phục vụ cho công cuộc CNH-HĐH đất nước Vì vậy, việc tổng kết thực tiễn , tổ chức nghiên cứu khoa học để hoàn thiện chính sách đối với loa ̣i trường này đang là một yêu cầu tất yếu của cuộc sống
(5) Các trường ĐHTT ở Việt Nam đã đóng góp một phần tích cực trong kết quả
đào ta ̣o NNL có trình độ văn hóa , chuyên môn về khoa học và công nghê ̣ (KH&CN), có tay nghề cơ bản cung cấp cho các địa phương, các vùng miền trong
cả nước Đây là loại trường đại học được xếp vào nhóm t hứ ba theo phân tầng
Trang 20chất lượng của quy hoa ̣ch phát triển giáo du ̣c đa ̣i ho ̣c (GDĐH) Viê ̣t Nam giai đoa ̣n
2006-2020 (trươ ̀ ng đại học cấp quốc gia; trường đại học cấp khu vực/cấp ngành; trường đại học cấp đi ̣a phương ) Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận , có
không ít các vấn đề đã và đang đặt ra với các trường ĐHTT, loại trường ĐH đào tạo đa cấp, đa ngành, đa lĩnh vực ta ̣i các tỉnh/thành phố phải giải quyết Các trường này hiện đang đảm trách sứ mệnh đào tạo đa cấp, đa ngành, đa lĩnh vực, mềm dẻo, linh hoạt, gắn đào ta ̣o với sử dụng NNL, với nhu cầu xã hô ̣i (XH) và nhu cầu của
cô ̣ng đồng thực hiện sứ mệnh đào ta ̣o NNL cho các địa phương thông qua cơ chế liên kết với các doanh nghiệp và các đơn vị hành chính trên địa bàn, liên kết với các
cơ sở dạy nghề, các trường ĐH trong và ngoài nước Thực tiễn cho thấy, quá trình hoạt động, phần lớn loa ̣i trường ĐHTT (các nhà khoa học gọi loại trường này là trường ĐH đi ̣a phương) chưa thể hiện đúng với bản chất, sứ mê ̣nh của loại trường
ĐH đa cấp, đa ngành, tính cộng đồng của các trường này chưa rõ nét, chưa tạo sức hấp dẫn với cộng đồng, thiếu sự phối hợp với các cơ quan, các đoàn thể và thiếu sự chỉ đạo, sự tạo điều kiện nhiều mặt của chính quyền các địa phương để tăng cường đầu tư cơ sở vâ ̣t chất (CSVC), trang thiết bị phục vụ việc nâng cao chất lượng hoạt động của nhà trường Những ưu điểm nổi trội của loại trường ĐHTT hiện nay chưa được thừa nhận rộng rãi trong xã hội, chưa tác động tích cực đến các nhà quản lý giáo dục (QLGD), các nhà lãnh đạo có trách nhiệm hoạch định chính sách ở tầm
vĩ mô trong Quốc hội, Chính phủ, trong các bộ ngành trung ương; sự phát triển mạng lưới các cơ sở GD&ĐT còn thiếu quy hoạch và sự đầu tư ngân sách nhà nước trong lĩnh vực này còn dàn trải và đặc biệt cho đến nay vẫn chưa có những giải pháp đồng bộ để đảm bảo và từng bước nâng cao chất lượng Trước tình trạng
đó, rất cần thiết phải có các chính sách vĩ mô để loại trường ĐHTT ở Viê ̣t Nam phát triển, đảm bảo chất lượng cao trong đào ta ̣o
(6) Trong hệ thống giáo du ̣c quốc dân của Việt Nam chưa xác định rõ vị trí , sứ
mê ̣nh của loại trường ĐHTT Tình trạng đào ta ̣o không gắn với nhu cầu sử dụng NNL và hoàn cảnh của người học đang diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi Hầu hết lãnh đạo các địa phương chưa thể chủ động cân đối cung cầu NNL ở địa phương mình Có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà giáo du ̣c của Việt Nam quan
Trang 21tâm đến loại trường ĐHTT và đã có một số công trình nghiên cứu về loại tr ường này Những nghiên cứu về loại trường này phần lớn đề cập nhiều đến vấn đề mang tính chất đặt nền móng , tạo điều kiện cho sự ra đời của các trường ĐHTT (tiền thân là các trường CĐCĐ), mới tập trung nghiên cứu về sự cần thiết ra đời ;
về tổ chức, quản lý đào ta ̣o liên thông; về mô hình phát triển và về một số chính sách vi mô , tạo điều kiện cho loại trường này phát triển ở một số địa phương , một số vùng miền cụ thể của đất nước Các công trình nghiên cứu này chưa đề
câ ̣p sâu những bất cập , những khó khăn vướng mắc trong việc ban hành , triển khai các chính sách thể hiện qua việc ban hành văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t liên quan đến viê ̣c xác lâ ̣p vi ̣ trí pháp lý ; viê ̣c quy hoa ̣ch mạng lưới ; chính sách đầu
tư, XHH nguồn lực; cơ chế phối hợp trong quản lý, điều hành đối với loại hình trường ĐHTT ở Việt Nam trong bối cảnh hiê ̣n nay Vì các lý do nêu trên và trên
cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu đã có, với mong muốn được góp phần nhỏ bé của mình nhằm từng bước khắc phục những vấn đề còn bất cập trong chính sách hiê ̣n hành đối với loa ̣i trường ĐHTT nên tác giả quyết định lựa
chọn đề tài nghiên cứu: “Hoàn thiê ̣n chính sách đối với trường đại học thuộc
tỉnh ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất việc hoàn thiện mô ̣t số chính sách đối với các trường đa ̣i ho ̣c
thuô ̣c tỉnh trên các mă ̣t: xác lập vị trí pháp lý; quy hoạch mạng lưới; xác lập mô
hình tổ chức, quản lý và phương thức đào tạo; chính sách đầu tư tạo nguồn lực; chính sách phát triển các quan hệ của trường nhằm đảm bảo cho loại trường
này hoạt động hiệu quả , thực hiê ̣n được sứ mê ̣nh của mình trong bối cảnh hiện nay ở Viê ̣t Nam
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Các trường đại học thuộc tỉnh ở Việt Nam
Đối tượng nghiên cứu: Một số chính sách đối với trường đại học thuộc
tỉnh ở Việt Nam
4 Giả thuyết khoa học
Trang 22Tại một số địa phương , loại trường ĐH thuộc các tỉnh /thành phố đã được thành lập để đào tạo linh hoạt nhân lực tại chỗ Do nhiều nguyên nhân khác nhau, trường CĐCĐ ở một số địa phương đã phát triển thành trường ĐHTT , lôi cuốn một số trường CĐCĐ khác phát triển theo hướng này Tại một số tỉnh/thành phố khác đã thành lập trư ờng ĐHTT trên cơ sở hợp nhất trường cao đẳng sư pha ̣m và mô ̣t số cơ sở đào ta ̣o khác Mô ̣t số chính sách hiê ̣n hành trong
các lĩnh vực : xác lập vị trí pháp lý ; quy hoạch mạng lưới ; xác lập mô hình tổ
chức, quản lý và phương thức đào tạo; chính sách đầu tư tạo nguồn lực ; chính sách phát triển các quan hệ của trường đang còn nhiều bất câ ̣p Nếu đè xuất được các giải pháp hoàn thiê ̣n các chính sách này, tạo cơ chế phối hợp giủa các
chủ thể để quản lý một cách có chất lượng và hiệu quả thì các trường ĐHTTcó thể phát triển lành mạnh, hoàn thành sứ mệnh của mình , đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực cho các địa phương trong bối cảnh hiê ̣n nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách nói chung và chính sách trong
quản lý giáo dục nói riêng có tác động trực tiếp tới các cơ sở giáo dục đại học
trong đó có các trường ĐHTT trong bối cảnh hiê ̣n nay của nước ta
5.2.Khảo sát, đánh giá các chính sách đã ban hành và tác động của việc triển
khai các chính sách hiê ̣n hành đối với trường ĐHTT ở Việt Nam tạo cơ sở thực tiễn cho các giải pháp hoàn thiện một số chính sách đối với loại trường này , tạo điều kiê ̣n để các trường hoàn thành sứ mệnh của mình
5.3 Đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách : xác lập vị trí pháp lý ; quy hoạch mạng lưới ; xác lập mô hình tổ chức , quản lý và phương thức đào tạo ; chính sách đầu tư tạo nguồn lực ; chính sách phát triển các qua n hê ̣ của trường
nhằm đảm bảo cho loại hình trường này hoa ̣t đô ̣ng hiê ̣u quả , hoàn thành sứ
mê ̣nh của mình tại các tỉnh/thành phố của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
5.4 Thực nghiệm một số nô ̣i dung trong một giải pháp hoàn thiê ̣n chính sách,
phù hợp với điều kiện thực tế để kiểm chứng
6 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Về thời gian:
Trang 23- Số liệu đánh giá tác đô ̣ng của chính sách: từ năm 2005-2012
- Đề xuất hoàn thiê ̣n mô ̣t số chính sách để triển khai: Bắt đầu từ năm 2015
Về không gian:
Trên địa bàn một số tỉnh/thành phố đã thành lập trường ĐHTT (Hải Phòng, Thanh
Hóa, Bình Dương, An Giang, Trà Vinh)
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, so sánh các công trình khoa học, các chuyên khảo, bài báo có đề cập tơi chính sách nói chung và chính sách trong giáo dục đại học tạo cơ
sở lí luận cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện một số chính sách đối với
trường đại học và đa ̣i ho ̣c thuô ̣c tỉnh
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Khảo sát, điêu tra xã hội học bằng bảng hỏi và phỏng vấn
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp thực nghiệm
7.3 Phương pháp thống kê
8 Câu hỏi nghiên cứu: Hoàn thiện chính sách đối với trường ĐHTT phải trả lời
được mô ̣t số câu hỏi sau:
8.1 Các trường ĐHTT có đóng vai trò gì trong việc giữ ổn định và phát triển
KT - XH tại các tỉnh/thành phố trong bối cảnh hiê ̣n nay?
8.2 Trách nhiệm của lã nh đa ̣o các tỉnh /thành phố phải làm gì để các trường
ĐHTT hoa ̣t đô ̣ng hiê ̣u quả , góp phần xây dựng XH học tập và cân đối cung cầu NNL trong đào ta ̣o?
8.3 Các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương có thể quy hoạch la ̣i ma ̣ng lưới các cơ sở đào ta ̣o, hợp nhất mô ̣t số cơ sở đào ta ̣o đơn ngành trên đi ̣a bàn hiện nay để thành
lâ ̣p một cơ sở đào ta ̣o đa cấp, đa ngành, đa lĩnh vực làm nòng cốt trong viê ̣c cân đối cung cầu NNL thuô ̣c sự quản lý của UBND các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương (có thể là trường CĐCĐ hoặc trường ĐHTT) được không?
8.4 Giải quyết vấn đề đồng quản lý trường ĐHTT như thế nào trong khi nhà trường phải chi ̣u sự điều hành chuyên môn của 2 bô ̣ (Bô ̣ GD&ĐT và Bô ̣ LĐ ,
Trang 24TB&XH); mối quan hệ giữa ngành và lãnh thổ ra sao để giúp loại trường này hoàn thành sứ mệnh của mình và có sức sống mãnh liệt trong cộng đồng?
8.5 Các chính sách hiê ̣n hành có gì bất cập, cản trở viê ̣c thực hiê ̣n sứ mê ̣nh của
các trường ĐHTT? Cần hoàn thiê ̣n những chính sách nào để trường ĐHTT ở Việt Nam hoa ̣t đô ̣ng hiê ̣u quả và đa ̣t mu ̣c tiêu đề ra?
9 Những đóng góp của luận án
Về mặt lý luận: Luận án hê ̣ thống hóa các vấn đề mang tính lý luận trên
quan điểm quản lý giáo dục, kinh tế học, xã hội học , chính trị học… về các
chính sách tác động trực tiếp tới việc thực hiện sứ mệnh của trường ĐHTT trong
bối cảnh hiê ̣n nay
Về mặt thực tiễn: Luận án nghiên cứu, phân tích, đánh giá tác đô ̣ng của
viê ̣c ban hành , triển k hai mô ̣t số chính sách hiê ̣n hành để phát triển trường
ĐHTT ở Việt Nam từ đó thấy được sự cần thiết phải hoàn thiê ̣n chính sách đối
với trường ĐHTT Các giải pháp hoàn thiện một số chính sách về: xác lập vị trí
pháp lý; quy hoạch mạng lưới; xác lập mô hình tổ chức, quản lý và phương thức đào tạo; chính sách đầu tư tạo nguồn lực; chính sách phát triển các quan hệ của trường được đề xuất trên cơ sở lí luận và thực tiễn có trong luận án có thể
cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách , các nhà QLGD những thông tin cần thiết để tham khảo trong quá trình ra quyết định về đường hướng đối vớ i GDĐH và hoàn thiê ̣n các chính sách liên quan đối với GDĐH Việt Nam , phù hợp với bối cảnh hiện nay
Những điểm mới của luận án:
- Luâ ̣n án khẳng đị nh được tính chất cộng đồng của loại trường đại học thuô ̣c sự QLNN của các tỉnh/thành phố ở Việt Nam, chỉ ra rằng, loại trường này
đi lên từ các trường CĐCĐ là phù hợp điều kiê ̣n Viê ̣t Nam v à phù hợp với lôgic phát triển
- Luận án đi sâu nghiên cứu , phân tích, đánh giá mô ̣t số chính sách vĩ mô hiện đang thiếu hoă ̣c đang triển khai chưa tốt , dẫn đến việc tổ chức , thực hiê ̣n chưa đúng với sứ mê ̣nh của loại trường này ta ̣i các địa phương
Trang 25- Luận án chỉ ra sự cần thiết phải hoàn thiê ̣n mô ̣t số chính sách chưa tác động tích cực tới trường ĐHTT giúp hoàn thành sứ mệnh của nó tại các địa phương
- Luận án đề xuất viê ̣c hoàn thiê ̣n mô ̣t số chính sách vĩ mô về xác lâ ̣ p vi ̣ trí pháp lý ; về quy hoa ̣ch mạng lưới ; về mô hình tổ chức , quản lý và phương thức đào ta ̣o; về chính sách đầu tư ta ̣o nguồn lực ; về chính sách phát triển quan
hê ̣ của trường nhằm ta ̣o điều kiê ̣n để loại trường ĐHTT tại cá c tỉnh/thành phố của Việt Nam thực hiê ̣n được sứ mê ̣nh của mình , phù hợp với bối cảnh hiện nay của Việt Nam
Những kết quả đó đang rất cần để các nhà hoạch định chính sách , các nhà QLGD tham khảo trong quá trình ra quyết định liên quan đến quy hoa ̣ch ma ̣ng lưới các cơ sở GDĐH và để hoàn thiê ̣n mô ̣t số chính sách đối với GDĐH nói chung và đối với trường ĐHTT nói riêng ở Việt Nam
10 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận án được cấu trúc thành 03 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận về chính sách đối vớ i trường đại học thuộc tỉnh
Chương 2: Thực tiễn chính sách đối vớ i trường đại học thuộc tỉnh
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện chính sách đối vớ i trường đại học thuộc tỉnh
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC TỈNH
Trang 261.1 Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án
Luận án thừa kế và phát triển các nghiên cứu liên quan sau đây:
1.1.1 Nghiên cư ́ u liên quan đến chính sách giáo dục
Đã có nhiều công trình của các tác giả trong nước đề cập đến chính sách Kết quả những công trình sau được vâ ̣n du ̣ng vào luâ ̣n án:
1/ Đinh Văn Mậu, Lê Sỹ Thiê ̣p, Nguyễn Tri ̣nh Kiểm: trong cuốn“Tài liê ̣u
bồi dưỡng về Quả n lý hành chính nhà nước , phần III Quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực NXB Khoa học và Kỹ thuật” - 2007 [63b, từ Tr 324-335], tại
mục II , phần B của chuyên đề 24 đã đề câ ̣p đến mô ̣t số quan điểm phương hướng, chính sách và mu ̣c tiêu của nhà nước về giáo du ̣c đào ta ̣o
2/ Đặng Bá Lãm, Phạm Thành Nghị: trong cuốn “Chi ́nh sách và kế hoạch trong QLGD NXB Gia ́ o dục” - 1999 [80] đã bàn về các vấn đề lý luâ ̣n của
chính sách Các tác giả đã trình bày các khái niệm cơ bản của chính sách , chiến lược, kế hoa ̣ch và mối liên quan giữa các pha ̣m trù này Cuốn sách mô tả sự phức ta ̣p và đa da ̣ng của pha ̣m trù chính sách , các vấn đề về quy trình xây dựng chính sách, lâ ̣p kế hoa ̣ch chính sách vâ ̣n du ̣ng vào lĩnh vực giáo du ̣c
3/ Trần Khánh Đức: trong cuốn “Giáo dục và phát triển NNL trong thế kỷ
XXI NXB Gia ́ o dục Viê ̣t Nam” - 2009 [47] Công trình đã nghiên cứu các lĩnh vực
khác nhau của giáo du ̣c, đề cập đến những vấn đề lý luận của chính sách như khái niê ̣m chính sách, chu trình chính sách, phân loa ̣i chính sách, đánh giá tác đô ̣ng của chính sách và vận dụng trong giáo dục và phát triển NNL
4/ Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức: trong cuốn “Phát triển nhân lực công
nghê ̣ ưu tiên ở nước ta trong thời kỳ CNH -H ĐH, NXB Giáo dục” - 2002 [81]
Cuốn sách là kết quả nghiên cứu của một đề tài cấp nhà nước , tâ ̣p trung vào viê ̣c
đào tạo nhân lực trình độ cao cho những lĩnh vực công nghệ ưu tiên của nước ta
là công nghệ thông tin , công nghê ̣ sinh ho ̣c , công nghê ̣ vâ ̣t liê ̣u và tự đô ̣ng hóa Tác giả nghiên cứu cơ sở phương pháp luận và phương pháp quy hoạch phát triển NNL khoa ho ̣c công nghê ̣ nói chung , kinh nghiê ̣m quốc tế, hợp tác quốc tế trong viê ̣c đào ta ̣o nhân lực khoa ho ̣c công nghê ̣ trình đô ̣ cao nói riêng
Trang 275/ Đặng Bá Lãm (chủ biên): trong cuốn “Qua ̉n lý nhà nước về giáo dục ,
lý luận và thực tiễn, NXB Chính tri ̣ Quốc gia” - 2005 [82] Cuốn sách là tâ ̣p hợp
công trình của 23 tác giả tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận và phương pháp luâ ̣n của vấn đề đổi mới quản lý nhà nước về giáo du ̣c ; nói về thực tra ̣ng công tác quản lý nhà nước về giáo dục ở các cấp , các mô hình quản lý giáo dục , phân cấp quản lý giáo du ̣c, xã hội hóa giáo dục
6/ Luận án tiến sỹ về quản lý giáo du ̣c của Chu Trí Thắng [129] với đề tài về
“Chính sách hợp tác với nước ngoài về đào tạo sau đại học của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Quốc tế ” đã góp phần hê ̣ thống hóa những nghiên cứu về chính
1.1.2 Nghiên cư ́ u liên quan đến trường đại học thuộc tỉnh
Loại trường ĐHTT ở nước ta được nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều cách tiếp cận với những mục đích khác nhau Trong thập niên 1990 xuất hiện nhiều tài liệu xung quanh loại trường ĐH ngắn ha ̣n của các tác giả như : Nhóm tác giả Nguyễn Văn Thùy , Trần Văn Lợi [134, 135, 136] trình bày những vấn
đề nền tảng của trường đa ̣i h ọc cộng đồng (ĐHCĐ) - loại trường ĐH đa cấp , đa ngành ở Hoa Kỳ : quá trình hình thành và phát triển; cơ sở nền tảng triết lý; sứ mệnh, đặc trưng hoạt động và xu thế phát triển; tương lai ĐHCĐ Hoa Kỳ Nhóm tác giả còn trình bày về tổ chức hoạt động của các trường ĐHCĐ với các nội dung như: quản lý, điều hành và tài chính nhà trường; giảng viên và sinh viên của trường; phát triển chương trình giáo dục nghề nghiệp, giáo dục tổng hợp, giáo dục thường xuyên; khả năng thích nghi với yêu cầu đặc biệt của địa phương, yêu cầu phát triển kinh tế của cộng đồng Đồng thời , có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà khoa hoc , nhà quản lý giáo dục Việt Nam cũng rất quan tâm đến phát triển loại trường ĐH này ở Viê ̣t Nam Trên nhiều diễn đàn xuất
Trang 28hiện nhiều bài viết và các chuyên đề nghiên cứu của Lê Viết Khuyến [71], Dương Đức Hùng [65], Đặng Bá Lãm [72-85], Lê Quang Minh [98-100], Võ Tòng Xuân, Trần Khánh Đức [43,47] nêu về sự cần thiết xây dựng và phát triển, khả năng và điều kiện thực hiện loại trường ĐHTT ở nước ta
1.1.3 Nghiên cư ́ u liên quan đến chính sách về trường đại học thuộc tỉnh
Có một số học viên nghiên cứu sinh , một số luận văn , đề tài , bài viết , chuyên khảo, tham luận của một số học viên cao học đã quan tâm đến mô ̣t số nghiên cứu trường ĐHTT liên quan chặt chẽ với các nghiên cứu về trường
CĐCĐ, chính sách đối với loại hình trường Luận án tiến sỹ chuyên ngành
QLGD của Ngô Tấn Lực với đề tài: “Tổ chức quản lý đào tạo liên thông của
trường cao đẳng cộng đồng trong điều kiện hiện nay” [96] đã trình bày thực
trạng và bài học kinh nghiệm về tổ chức và quản lý đào tạo liên thông ở các trường cao đẳng cô ̣ng đồng của Viê ̣t Nam và mô ̣t số nước trên thế giới có thể áp dụng vào trường ĐHTT ở Viê ̣t Nam…
Luận án tiến sỹ chuyên ngành QLGD của Nguyễn Huy Vị với đề tài:
“Nghiên cứu xây dựng mô hình trường cao đẳng cộng đồng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội địa phương ở Việt Nam”[139] Đây là Luận án có nhiều
nô ̣i dung sát thực tiễn cuộc sống về xây dựng mô hình trường CĐCĐ, đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH và áp dụng vào trường CĐCĐ Phú yên, Bình Thuận Tuy nhiên, vì khuôn khổ và phạm vi Luận án nên tác giả chưa đề cập được nhiều tới việc đáp ứng nhu cầu đào tạo đa dạng nguồn nhân lực phục vụ các thành phần kinh tế trong cơ chế thị trường và nhu cầu cần gì học nấy của người dân trong xã hội học tập tại các địa phương này
Luận án tiến sỹ của Phạm Hữu Ngãi với đề tài: "Phát triển trường cao
đẳng cộng đồng nhằm đào tạo nguồn nhân lực cho v ùng Đồng bằng Sông Cửu Long"[102] Luận án của Phạm Hữu Ngãi quan tâm giải quyết vấn đề đào tạo
NNL cho vùng đồng bằng Sông Cửu Long vì đặc thù về nguồn nhân lực của vùng này còn thấp so với mặt bằng chung cả nước Tuy nhiên, quá trình CNH-HĐH cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ và kinh tế tri thức kết hợp với chủ trương phát triển đa dạng các thành phần kinh tế kéo theo
Trang 29sự phát triển đa dạng về nhu cầu NNL của cả nước thì đây không phải là vấn đề của riêng địa phương nào, vùng nào Mặt khác, để thực hiện được chủ trương xây dựng xã hội học tập (XHHT), tạo điều kiện để người dân được học suốt đời
với phương châm “cần gì học nấy” và phương châm “Đào tạo theo nhu cầu xã
hội” đòi hỏi các ngành chức năng và chính quyền tất cả các địa phương đều phải
có sự chuyển đổi căn bản về phương thức đào tạo và cung ứng NNL cho các thành phần kinh tế đa dạng của địa phương mình và đều phải xây dựng thiết chế giáo dục và đào tạo thích ứng, trong đó có loại hình đào tạo đa cấp, đa ngành, đa lĩnh vực, đáp ứng cung cầu của NNL theo từng giai đoạn cụ thể, phù hợp với sự phát triển KT-XH của cả nước và của từng địa phương
Luận án tiến sỹ chuyên ngành QLGD của Dương Đức Hùng với đề tài:
"Hoàn thiện mô hình trường đại học đi ̣a phương đáp ứng yêu cầu đào tạo n hân
lực cho địa phương và khu vực phụ cận" [65] Tuy Luâ ̣n án chưa đề câ ̣p tới
chính sách cụ thể nhưng các giải pháp nêu ra trong Luận án để hoàn thiện mô hình cũng là những nền tảng quan trọng để tác giả tham khảo khi nghiên cứu và
đề xuất việc hoàn thiện chính sách về trường ĐHTT ở Việt Nam…
Luâ ̣n án tiến sỹ chuyên ngành QLGD của Chu Trí Thắng với đề tài :
“Chính sách hợp tác với nước ngoài về đào tạo sau đại học của Viê ̣t Nam trong thời kỳ hội nhậ p Quốc tế ”[129] Luâ ̣n án đã xây dựng cơ sở lý luâ ̣n cho viê ̣c
hoàn thiện các chính sách hợp tác quốc tế về đào tạo nhân lực sau ĐH trong bối cảnh hội nhập hiện nay của nước ta Luâ ̣n án đã góp phần hoàn thiê ̣n chính sách hợp tác quốc tế đào ta ̣o nhân lực sau đa ̣i ho ̣c từ các nguồn lực của đất nước và các cơ hội toàn cầu hóa…
Luâ ̣n án tiến sỹ chuyên ngành QLGD của Trần Hữu Hoan với đề tài: “Quản
lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học trình độ đại học trong học chế tín
chỉ"[60] Luâ ̣n án đã làm rõ mô ̣t số vấn đề lý luâ ̣n về quản lý xây dựng và đánh giá
chương trình giáo du ̣c đa ̣i ho ̣c, đă ̣c biê ̣t là chương trình môn ho ̣c…
Luâ ̣n án tiến sỹ chuyên ngành QLGD của Phan Minh Hiền với đề tài :
“Phát triển Đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội ” Luâ ̣n án đã đánh giá thực
trạng đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội và thực trạng quản lý nhà nước về
Trang 30đào ta ̣o nghề đáp ứng nhu cầu xã hô ̣i và đã đưa ra các giải pháp phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội…
Đó là những tài liệu khá gần gũi mà tác giả luận án sẽ kế thừa để phát triển trong quá trình nghiên cứu của mình
Mặc dù có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều công trình lớn nhỏ về trường ĐHTT và mô ̣t số khía ca ̣nh của chính sách về trường ĐHTT ở Việt Nam , song những ý kiến này phần lớn đề cập đến những vấn đề mang tính chất đặt nền
móng, tạo điều kiện cho sự ra đời hoặc làm rõ mô hình hoạt động , mô hình tổ chức quản lý đào tạo liên thông của các trường ĐHTT ở Việt Nam
Xung quanh việc ra đời , việc duy trì hoạt động và viê ̣c hoàn thiê ̣n chính sách đối với loại hình trường ĐHTT ở Việt Nam , chưa có công trình khoa ho ̣c nào nghiên cứu về chính sách vĩ mô đối với trường ĐHTT, mô ̣t loa ̣i trường ĐH khá mới mẻ ở Việt nam Nhiều câu hỏi đang đă ̣t ra trong thực tiễn và đang được các nhà nghiên cứu quan tâm mà chưa có câu trả lời như:
a) Các trường ĐHTT đóng vai trò thế nào trong viê ̣c giữ ổn đi ̣nh và phát triển KT - XH ta ̣i các tỉnh/thành phố trong bối cảnh hiê ̣n nay?
b) Trách nhiệm của lãnh đạo các tỉnh /thành phố phải làm gì để các trường ĐHTT thực hiê ̣n được sứ mê ̣nh nổi trô ̣i của mình, góp phần xây dựng xã hội học
tâ ̣p, phổ câ ̣p nghề nghiê ̣p và cân đối cung cầu NNL trong đào ta ̣o?
c) Các tỉnh /thành phố c ó thể quy hoạch ma ̣ng lưới các cơ sở đào ta ̣o , hợp nhất mô ̣t số cơ sở đào ta ̣o đơn ngành trên đi ̣a bàn hiện nay để thành lâ ̣p một cơ
sở đào ta ̣o đa cấp , đa ngành , đa lĩnh vực thuô ̣c sự quản lý của UBND các
tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương (CĐCĐ hoă ̣c ĐHTT) được không?
d) Giải quyết vấn đề đồng quản lý trường ĐHTT như thế nào trong khi nhà trường phải chịu sự điều hành chuyên môn của 2 bô ̣ (Bô ̣ GD&ĐT và Bô ̣ LĐ , TB&XH) và mối quan hệ giữa ngành và lãnh thổ ra sao để giúp loại trường này thực hiê ̣n được sứ mê ̣nh của mình và có sức sống mãnh liê ̣t trong cô ̣ng đồng?
e) Các chính sách hiện hành có gì bất cập , cản trở viê ̣c thực hiê ̣n sứ mê ̣nh của trường ĐHTT ? Cần hoàn thiê ̣n mô ̣t số chính sách nào để giúp loa ̣i trường này thực hiện được sứ mệnh của mình với cộng đồng và phát triển ổn định?
Trong đề tài, tác giả sẽ tập trung giải quyết một số vấn đề nêu trên
Trang 311.2 Các khái niệm cơ ba ̉ n của luâ ̣n án
1.2.1 Cộng đồng:
Từ điển Bách khoa của Nhà xuất bản Hachette năm 1998 đã đi ̣nh nghĩa như sau: Nghĩa thứ nhất: “Cô ̣ng đồng là nét đặc trưng của cái mà nó có chung ở nhiều người, ở nhiều nhóm xã hội” ; nghĩa thứ hai : “Cô ̣ng đồng là nhóm người cùng chung sống và cùng chia sẻ những lợi ích chung , mô ̣t nền văn hóa chung hay cùng mô ̣t lý tưởng” [139] Theo UNESCO, “Cô ̣ng đồng là mô ̣t tâ ̣p hợp người, có cùng chung một lợi ích , cùng làm việc vì một mục đích chung nào đó
và cùng sinh sống trong một khu vực xác định Những người chỉ sống gần nhau, không có sự tổ chức thì la ̣i đơ n thuần chỉ là sự tâ ̣p trung của mô ̣t nhóm các cá nhân và không thực hiê ̣n chức năng như mô ̣t thể thống nhất” [58] Từ các đi ̣nh nghĩa trên, khi nói đến khái niê ̣m “cô ̣ng đồng” chúng ta thường chú ý đến mấy
đă ̣c trưng sau đây: 1/ Cô ̣ng đồng là mô ̣t tâ ̣p hợp người nằm trong tâ ̣p hợp người lớn hơn đó là xã hô ̣i ; 2/ Sự tác đô ̣ng tương hỗ trong mỗi cô ̣ng đồng cu ̣ thể giữa người với người là rất chă ̣t chẽ , mâ ̣t thiết; 3/ Mọi thành viên của cộng đồng đều
có ý thức đoàn kết , thống nhất , gắn bó tình cảm , cùng chia sẻ trách nhiệm , quyền lợi và cùng nhau phấn đấu trong viê ̣c giữ gìn và phát huy các giá tri ̣ vì
mô ̣t mu ̣c tiêu chung của cô ̣ng đồng
1.2.2 Giáo dục cộng đồng:
Theo quan niệm của Hiệp hội GDCĐ quốc tế thì: Giáo dục cộng đồng (GDCĐ) là quá trình làm cho cộng đồng có đủ khả năng kiểm soát sự phát triển
và cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng thông qua học tập suốt đời Nó tạo thêm sinh lực cho mọi người và sử dụng các nguồn lực công, nguồn lực tư
và nguồn lực tự nguyện để xây dựng, cải thiện cộng đồng thông qua việc xác định và đáp ứng những nhu cầu của cộng đồng Nó trao quyền cho mọi người để
họ có thể quyết định và hành động vì sự phát triển của cộng đồng mình Khái
niệm GDCĐ được sử dụng từ cuối thế kỷ XIX ở Bắc Mỹ (Mỹ và Canada) Khái niệm GDCĐ ở nơi đây xuất hiện gắn với sự xuất hiện các hình thức đào tạo ngắn hạn có mục đích tự thân là phục vụ nhu cầu hiểu biết và lao động sản xuất của cộng đồng địa phương , không phân biệt lứa tuổi , dân tộc, thu nhập, thành
Trang 32phần xã hội Ở Châu Âu, khái niệm này được sử dụng muộn hơn Ở Việt Nam, khái niệm này được dùng khá sớm ở miền Nam Ở miền Bắc, có một số loại hình giáo dục mang tính chất cộng đồng được xuất hiện trước khi khái niệm GDCĐ được đề cập chính thức trong hệ thống giáo dục Việt Nam như hiện nay GDCĐ nói chung và giáo dục ở các trường CĐCĐ nói riêng đang có xu hướng phát triển nhanh và được người dân quan tâm bởi những ưu thế của nó, vì nó có tính thiết thực, tính tiết kiệm và có tính kinh tế cao, có tính linh hoạt uyển chuyển và sát thực tiễn GDCĐ là loại hình giáo dục được phát triển mạnh ở nhiều nước trên thế giới trong suốt gần ba thập kỷ vừa qua Loại hình này không chỉ được phát triển ở các nước công nghiệp phát triển như : Mỹ, Nhật, Pháp
mà còn được phát triển mạnh ở các nước đang phát triển như: Ấn Độ, Malaysia, Indonesia Trong quá trình canh tân hệ thống GD&ĐT ở các nước, GDCĐ trở thành nhân tố quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu phát
triển KT-XH của các quốc gia và các cộng đồng dân cư ở các nước
Tại Việt Nam , trước năm 1975, ở miền Nam thuộc chính quyền Sài Gòn , loại hình trường CĐCĐ đã được tiếp cận khá sớm , bắt đầu từ năm 1971 có tên gọi chung l à Viện ĐH cộng đồng Lịch sử GDĐH Việt Nam tóm tắt có viết:
“Trong vùng tạm chiếm ở miền Nam , hê ̣ thống GDĐH được tổ chức thành những đơn vi ̣ tự tri ̣ gọi là Viê ̣n ĐH theo mô hình university của Pháp và sau đó chuyển dần theo mô hình university của Mỹ” Theo thống kê của cơ quan QLGD
trong vùng, năm học 1974-1975, có 4 Viện đại học công (130.000 SV): Sài Gòn, Huế, Cần Thơ , Bách khoa Thủ Đức ; 3 ĐH cô ̣ng đồng (đào ta ̣o 2 năm, 2.600 SV): Nha Trang, Đà Nẵng, Mỹ Tho và 12 Viện đại học tư (30.000 SV).”[49]
Tuy thời gian tồn tại ngắn ngủi chưa đủ 4 năm (từ 8/1971 đến 3/1975), nhưng 3
Viện ĐHCĐ Tiền Giang (thành lập 1971), Nha Trang (thành lập 1971) và Đà Nẵng (thành lập 1973) đã phác họa được các hoạt động ĐT, KH&CN bên trong các Viện và sự liên kết ra bên ngoài với các Viện đại học lớn khác cũng như với cộng đồng mà Viện có sứ mệnh phục vụ tương tự theo mô hình ĐHCĐ Bắc Mỹ Các Viện ĐH cộng đồng có 6 nhiê ̣m vu ̣ chính, được quy đi ̣nh trong “Sắc lê ̣nh”
thành lập, cụ thể như s au: 1/ Đào tạo chuyên viên trung cấp đáp ứng nhu cầu
Trang 33nhân lực phát triển KT – XH của cộng đồng; 2/ Đào tạo chương trình cơ bản 2 năm đầu, sau đó chuyển tiếp sinh viên lên học tiếp năm thứ 3 chương trình ĐH chuyên khoa ở các Viê ̣n ĐH quốc gia ; 3/ Giúp mọi công dân trong cộng đồng nâng cao trình độ GD , kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ; 4/ Hướng nghiê ̣p cho sinh viên; 5/ Thể hiê ̣n vai trò là một trung tâm văn hóa , khoa học và GD xã hội nhằm góp phần xây dựng đờ i sống tinh thần của cộng đồng ; 6/ Hướng dẫn mối quan hê ̣ hỗ tương trong phát triển GD của cộng đồng giữa các bậc giáo dục tiểu học, trung học và ĐH [139, Tr 81] Sau khi thống nhất đất nước, mô hình trường
cộng đồng được nghiên cứu trở lại từ thời kỳ đổi mới kể từ khi Đa ̣i hô ̣i VI của Đảng CSVN đề ra (12/1986) Năm 1996 ADB đã tài trợ cho một dự án thử nghiệm áp dụng mô hình CĐCĐ ở Việt Nam và Bô ̣ GD &ĐT đã giao cho Viê ̣n Nghiên cứu ĐH & GDCN nghiên cứu , đề xuất thí điểm xây dựng mô hình trường CĐCĐ ta ̣i 5 tỉnh: Hà Tây, Hải Phòng , Thanh Hóa , Phú Yên và Đồng
Tháp để xác lập một cơ sở pháp lý cho các hoạt động của “ đại học cộng đồng”
Do đó, việc nghiên cứu phát triển các loại hình GDCĐ ở nước ta là một vấn đề
cần thiết và cấp bách
1.2.3 Trươ ̀ng đại học cộng đồng:
Ở Hoa Kỳ “ Trươ ̀ ng đại học cộng đồng là những cơ sở giáo dục dựa trên cộng đồng, gắn với các nhóm cộng đồng , các nhà tuyển dụng , được mở ra để giúp cho nhiều sinh viên Mỹ được sống gần với gia đình ”[135] Ở nước ta , tại
hô ̣i thảo Viê ̣t Nam – Canada về trường đa ̣i ho ̣c cô ̣ng đồng năm 1993, Bộ GD&ĐT đã khái quát về trường cao đẳng cô ̣ng đồng : “Đó là loại trường đi ̣a
phương, được thành lập ra nhằm đáp ứng nhu cầu thiết thực về đào tạo (kể cả nghề sư phạm ) của cộng đồng tại địa phương Đây là loại trường đa cấp , đa ngành, đa lĩnh vực và được đào tạo theo nhiều chương trình khác nhau , từ dày nghề với thời hạn vài tháng đến 2 năm; đào tạo cao đẳng 2 – 3 năm Đặc biệt cao đẳng cộng đồng còn đào tạo theo các chương trình giai đoạn một của bậc đại học, cấp chứng chỉ đại học đại cương Số ưu tú trong những si nh viên đạt chứng chỉ đại học đại cương được tuyển thẳng chuyển tiếp vào học các trường
Trang 34hoặc viê ̣n đại học bảo trợ Số còn lại sẽ được đào tạo thêm kiến thức nghề nghiê ̣p để lấy chứng chỉ nghề hoặc văn bằng Cử nhân cao đẳng” [6]
Từ các trích đoa ̣n nêu trên , có thể thấy rằng, loại trường này có nơi gọi là
“cao đẳng cộng đồng ”, nơi khác go ̣i là “đại học cộng đồng ” Ở mảnh đất khởi
phát là Hoa Kỳ và các nước nói tiếng Anh khá c (như Canada), người ta go ̣i các trường này là “Community College” , khi chuyển sang tiếng Viê ̣t trước đây
“College” có thể hiểu là “cao đẳng” hoă ̣c “đa ̣i ho ̣c” Nhưng kể từ khi Viê ̣t Nam công bố Luâ ̣t Giáo du ̣c (1998, 2005, sửa đổi bổ sung 2009), [116] trong đó phân biê ̣t trình đô ̣ cao đẳng đào ta ̣o từ 3 năm trở xuống với trình đô ̣ đa ̣i ho ̣c đào ta ̣o trên 3 năm Như vậy, loại trường “ đại học cộng đồng ” như trên trong hê ̣ thống giáo dục nước ta sẽ chỉ được gọi là “trường cao đẳng cộng đồng ” Mă ̣t khác,
loại trường này ở nước ta so với ở Hoa kỳ , Canada… có sự khác biê ̣t , đó là các chương trình giai đoa ̣n mô ̣t của bâ ̣c đa ̣i ho ̣c (2 năm), cấp chứng chỉ đa ̣i ho ̣c đa ̣i cương không trở thành h iê ̣n thực do các trường đa ̣i ho ̣c không bố trí riêng cho phần ho ̣c đa ̣i cương mà tùy theo điều kiê ̣n từng trường để bố trí chương trình học đại cương đan xen khác nhau Vì vậy, các trường cao đẳng cộng đồng không thể tổ chức đà o ta ̣o 2 năm đa ̣i ho ̣c đa ̣i cương , sau đó chuyển tiếp sinh viên đến
mô ̣t trường đa ̣i ho ̣c khác để hoàn thành chương trình đa ̣i ho ̣c hoàn chỉnh Đồng thời, ở Việt Nam , tuy các trường cao đẳng cô ̣ng đồng là trường đa cấp , đa ngành, đa lĩnh vực và được đào tạo theo nhiều chương trình khác nhau , từ dạy nghề với thời hạn vài tháng đến 2 năm; đào tạo cao đẳng từ 2 – 3 năm, nhưng ở
các địa phương , bên ca ̣nh trường cao đẳng cô ̣ng đồng còn có các trường da ̣y nghề các cấp thuô ̣c các bô ̣ ngành trung ương và thuô ̣c tỉnh , các trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh và cấp huyện , các trung tâm học tập cộng đồng cấp
xã Các cơ sở giáo dục này đều tìm cách đáp ứng nhu cầu học tập , đào tạo, bồi dưỡng đa da ̣ng của cô ̣ng đồng dân cư đi ̣a phương và chia sẻ nhiều nhiê ̣m vu ̣ của trường cao đẳng cô ̣ng đồng Trong bối cảnh đó, xu thế các trường cao đẳng cô ̣ng đồng theo mô hình của Viê ̣t Nam sẽ phát triển thành các trườ ng đa ̣i ho ̣c đi ̣a phương (luâ ̣n án go ̣i là trường ĐHTT) ngày càng rõ nét
Trang 351.2.4 Trươ ̀ng đại học thuộc tỉnh
Ở Việt Nam, việc phân công quản lý được thực hiện theo ngành và theo lãnh thổ Trong giáo dục cũng vậy Theo ngành thì có các cơ sở giáo dục chịu sự quản lý của ngành, tức là các bộ, còn theo lãnh thổ thì có các cơ sở giáo dục chịu
sự quản lý của chính quyền địa phương Ví dụ trong giáo dục chuyên nghiệp có các trường TCCN Trung ương (thuộc các bộ như Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn…) và các trường TCCN địa phương Các trường cao đẳng cũng được quản lý tương tự Ví dụ như Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương là trường do Bô ̣ Giáo dục và đào tạo quản lý và trường Cao đẳng Sư phạm Hà nội là trường do Thành phố Hà Nội quản lý Trong giáo dục ĐH trước đây, chỉ có các trường ĐH do các bộ quản lý , gần đây mới có các trường ĐH được thành lập ở các tỉnh và trực thuộc UBND Tỉnh quản lý Theo logic thông thường các trường ĐH thuô ̣c sự QLNN của UBND các tỉnh /thành phố như vừa nêu được gọi tắt là trường đa ̣i ho ̣c thuô ̣c tỉnh (ĐHTT)
Như vậy, khi nói tới trường ĐHTT tức là nói tới các trường trực thuộc sự QLNN của UBND các tỉnh hoă ̣c thành phố trực thuô ̣c Trung ương và cũng chính
là nói tới trường ĐH địa phương (theo cách đă ̣t tên của các nhà khoa ho ̣c ) Khái
niệm “Trường đại học địa phương” gần đây được xuất hiện trong các văn bản
hội nghị, hội thảo về GDĐH của nước ta Theo Đặng Bá Lãm thì khái niệm
“Trường đại học địa phương” được hiểu “ là trường đại học công lập cấp tỉnh; có mục tiêu đào tạo đa ngành, đa cấp, đa lĩnh vực ở trình độ đại học và các trình độ thấp hơn, nhằm phục vụ nhu cầu nhân lực đáp ứng sự phát triển KT-XH địa phương”[68] Theo Vũ Ngọc Hải thì “Trường đại học địa phương là một tổ chức giảng dạy và nghiên cứu khoa học đa ngành, đa trình độ bao gồm các khoa, các bộ môn, trung tâm nghiên cứu, trung tâm dịch vụ và các đơn vị khác có khả năng cấp được các chứng chỉ chuyên môn, nghề nghiệp và các bằng trung cấp, cao đẳng, đại học Trường đại học địa phương là đào tạo nhân lực tại chỗ, là nơi tạo điều kiện thuận lợi cho con em ở địa phương, đặc biệt với những người nghèo có điều kiện để tiếp cận với GDĐH” Như vâ ̣y, về bản chất, trường
đa ̣i ho ̣c đi ̣a phương mà luâ ̣n án gọi tên là trường ĐHTT, trong hoàn cảnh Viê ̣t Nam
Trang 36có nhiều nét tương đồng với trường CĐCĐ và đại học cộng đồng (ĐHCĐ) đã có trên thế giới (như đã phân tích phần trên ) Trên thực tế, ngày 5/2/1996, nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Trần Xuân Nhĩ - Chủ nhiệm chương trình mục tiêu quốc gia về củng cố và xây dựng hệ thống các trường sư phạm đã khẳng định
trong thư gửi UBND các tỉnh/thành phố đẽ nêu rằng: “Trong thời gian không xa
các trường sư phạm của tỉnh sẽ chuyển thành các trường cao đẳ ng sư phạm đa
hệ và có thể từng bước làm nhiệm vụ của trường đại học cộng đồng” Ngày 4/11/1996, Bộ GD&ĐT đã có tờ trình số 8195/ĐH ngày 4/11/1996 do Bộ trưởng Trần Hồng Quân ký trình Thủ tướng Chính Phủ xin chủ trường xây dựng hệ thống đa ̣i ho ̣c cô ̣ng đồng (ĐHCĐ) Tờ trình đã nêu lên những lý lẽ có tính bức
thiết và đảm bảo tính khoa học để kiến giải vì sao phải phát triển mô hình
ĐHCĐ ở Việt Nam nhằm chuẩn bị đội ngũ nhân lực có kỹ thuật và đồng bộ hoá
cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Tờ trình đã đề nghị Thủ tướng Chính phủ:
“1) Chính thức khẳng định chủ trương xây dựng hệ thống ĐHCĐ tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 2) Trước mắt trong năm 1997 cho phép Bộ GD&ĐT phối hợp với các tổ chức quốc tế về ĐH cộng đồng xây dựng một số ĐH cộng đồng thí điểm ở một số địa phương trọng điểm (Vĩnh Long, Đồng Tháp, Tiền Giang, Bà Rịa - Vũng Tàu, Quảng Ngãi, Thanh Hoá, Hà Tây, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh ), trên cơ sở đó sẽ rút kinh nghiệm để nhanh chóng nhân rộng mô hình này ra trong cả nước nhằm kịp thời chuẩn bị cho sự cất cánh đồng đều của nền kinh tế nước ta vào đầu thế kỷ 21”[7] Đồng thời, Chính phủ và Thủ tướng Chính
phủ đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo về quy hoạch mạng lưới và nâng cao
chất lượng đào tạo của hệ thống giáo dục đại học, trong đó trường Cao đẳng
cộng đồng là một hệ thống chính thức bên cạnh các trường cao đẳng khác Với
những phân tích và lâ ̣p luâ ̣n nêu trên , kế thừa những khái niê ̣m về loa ̣i trường này của các nhà khoa học , tác giả luận án thống nhất nh ận định về khái niệm
trường ĐHTT như sau: “Trường đa ̣i ho ̣c thuô ̣c tỉnh (ĐHTT) là loại trường công
lập chi ̣u sự quản lý của UBND các tỉnh /thành phố trực thuộc Trung ương ; có mục tiêu đào tạo theo hướng nghề nghiệp ứng dụng , thực hiện chức năng đào tạo đa cấp , đa ngành, đa lĩnh vực ; trực tiếp đào tạo trình độ đại học và các
Trang 37trình độ thấp hơn ; làm nòng cốt trong việc cân đối cung cầu NNL tại mỗi địa phương; phục vụ nhanh và kịp thời nhu cầu nguồn nhân lực tại ch ỗ cho các địa phương” Với khái niê ̣m vừa nêu về trường ĐHTT thì những trường ĐH này là
những trường ĐH đa cấp, đa ngành với những chương trình đào ta ̣o đa ̣i ho ̣c , cao đẳng, THCN, bồi dưỡng có bằng cấp và không có bằng cấp ngắ n ha ̣n từ vài tuần, vài tháng đến những chương trình đào tạo dài hạn 2-4 năm, đồng thời còn cung cấp cả những di ̣ch vu ̣ giáo du ̣c và chuyển giao công nghê ̣ khác cho cô ̣ng đồng dân cư đi ̣a phương như bổ túc văn hóa , dạy nghề ngắ n ha ̣n , bồi dưỡng nâng cao tay nghề , đào ta ̣o la ̣i và đào ta ̣o chuyển tiếp (tùy theo điều kiện các trường ĐH do trường có mố i quan hê ̣) nhằm đáp ứng yêu cầu ho ̣c tâ ̣p thiết thực cho con em cô ̣ng đồng dân cư đi ̣a phương , góp phần xây dựng xã hội học tập (XHHT), phổ cập nghề nghiệp và phát huy sự đồng thuận của xã hội Các cơ sở
đào ta ̣o khác, các trung tâm học tập cộng đồng cấp xã…đều là những “ cánh tay
nối dài” của loa ̣i trường ĐHTT này
1.2.5 Vị trí, sư ́ mê ̣nh của trường đại học thuộc tỉnh
Về vi ̣ trí , sứ mệnh của loại trường ĐHTT , tại Hoa Kỳ , trường ĐH cô ̣ng đồng hay cao đẳng cô ̣ng đồng là loại trường năng động và có đóng góp to lớn vào nền GDĐH Hoa Kỳ vì các trường này luôn gắn liền với cộng đồng , mỗi trường luôn đảm nhận và hướng tới phục vụ nhiều nhiệm vụ mới , xuất phát từ yêu cầu của cộng đồng Theo Don Doucette [34, 35] cùng nhiều nhà nghiên cứu
đã thống nhất về điểm chung của các loại trường này có sứ mệnh như sau: sứ
mệnh chuyển tiếp; sứ mệnh chuẩn bị nghề nghiệp ; sứ mệnh giáo dục các kỹ năng cơ bản và phát triển ; sứ mệnh giáo dục thường xuyên (GDTX) và dịch vụ công cộng; sứ mệnh tiếp cận[34] Trong đó , sứ mê ̣nh chuyển tiếp có nghĩa là
đào ta ̣o chương trình đa ̣i ho ̣c đa ̣i cương 2 năm, sau đó chuyển tiếp sinh viên đến
mô ̣t trường đa ̣i ho ̣c liên kết để kết thúc chương trình đa ̣i ho ̣c hoàn chỉnh Ở nước
ta, GDCĐ nói chung và loại trường ĐHTT nói riêng ra đời xuất phát từ việc đáp ứng kịp thời nhu cầu học tập, nâng cao và mở rộng trình độ văn hóa , chuyên môn, khoa học và công nghê ̣ (KH&CN), tay nghề để lao động, sản xuất có hiệu quả, có việc làm ổn định, đồng thời mở rộng cơ hội học tập và học tập suốt đời
Trang 38cho mọi thành viên trong cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu NNL phục vụ phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) của địa phương , của vùng miền và của cả nước Mô ̣t số trường ĐHTT ở Viê ̣t Nam hình thành từ trường CĐCĐ có nhiều nét tương đồng với mô hình trường ĐHCĐ ở Hoa kỳ Do vậy, sứ mệnh loại trường ĐHTT của Việt Nam hiện nay là đào tạo nhân lực cho địa phương , cho vùng miền để phục vụ cộng đồng , góp phần xây dựng xã hội học tập (XHHT), phổ câ ̣p nghề nghiệp và phát huy sự đồng thuận của xã hội Vũ Ngọc Hải [57] cho rằng, trường ĐHTT ở Việt Nam có sứ mệnh đào tạo, cung cấp nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội và phát triển KT - XH cho các địa phương trên cơ sở tối ưu hóa điều kiện học tập cho sinh viên và một bộ phận dân cư đa dạng ở địa phương nhằm giúp họ trở thành những người lao động có hiệu quả thích ứng với những thách thức mới trong phát triển KT-XH địa phương, trong tìm việc làm
và làm việc ở một thế giới công việc phức tạp và luôn biến đổi trong suốt cuộc đời của người lao động
Từ vi ̣ trí , sứ mệnh nêu trên , theo Bộ GD &ĐT tương tự trường cao đẳng
cô ̣ng đồng, trường ĐHTT có các đặc điểm như: b) Gắn chặt với địa phương, là
trung tâm văn hóa, khoa học của địa phương, phục vụ phát triển KT-XH của địa phương và nhận nguồn tài trợ chủ yếu từ địa phương[29]
Đặng Bá Lãm [84] cho rằng, trường ĐHTT ở Việt Nam có sứ mê ̣nh là một dạng trường cộng đồng của giáo dục ĐH Việt Nam; là trường ĐH công lập của các tỉnh/thành phố trực thuộc TW do UBND các tỉnh/thành phố đề nghị thành lập vì sự phát triển KT-XH của địa phương; là trường ĐH được xếp vào nhóm thứ ba theo quan điểm phân tầng chất lượng của quy hoạch phát triển GDĐH
Việt Nam giai đoạn 2006-2020 (trường đại học cấp quốc gia; trường đại học
cấp khu vực/cấp ngành; trường đại học cấp địa phương); là trường ĐH thực
hiện đầy đủ các chức năng của một trường CĐCĐ Đồng suy nghĩ với các nhà
khoa nêu trên, tác giả luận án xin tóm tắt về vị trí, sư ́ mê ̣nh của trường ĐHTT đó là: (1) là trường đại học công lập của địa phương , do đi ̣a phương đề nghi ̣ thành
lâ ̣p, vì sự phát triển KT-XH của đi ̣a phương; (2) là trường đại học được xếp vào nhóm thứ ba theo phân tầng chất lượng của quy hoa ̣ch phát triển GDĐH Viê ̣t Nam
Trang 39giai đoa ̣n 2006-2020 (trường đại học cấp quốc gia ; trường đại học cấp khu
vực/cấp ngành; trường đại học cấp địa phương); (3) là trường đại học thực hiện
đầy đủ các chức năng của mô ̣t trường cao đẳng cô ̣ng đồng; (4) làm nòng cốt trong viê ̣c cân đối cung cầu NNL ta ̣i mỗi đi ̣a phương ; (5) phục vụ nhanh và kịp thời nhu cầu nguồn nhân lực ta ̣i chỗ cho các địa phương Như vâ ̣y, vị trí, sứ mê ̣nh và mục tiêu của các trường ĐHTT đã bao hàm vị trí, sứ mê ̣nh và mu ̣c tiêu của trường cao đẳng cô ̣ng đồng; mă ̣c nhiên dẫn đến hê ̣ quả là, chức năng, nhiê ̣m vu ̣ của trường ĐHTT bao hàm chức năng nhiê ̣m vu ̣ của trường CĐCĐ Đây cũng là mô ̣t thực tiễn mang tính đă ̣c thù của loa ̣i trường CĐCĐ và ĐHTT ở Viê ̣t Nam
1.2.6 Chư ́ c năng, vai trò của trường đại học thuộc tỉnh đối với sự phát triển giáo dục và phát triển kinh tế – xã hội địa phương
Trường ĐHTT là cơ sở đào tạo xuất phát từ nhu cầu thiết thực của cộng đồng, từ nhu cầu đòi hỏi của người dân sinh sống tại cộng đồng như nhu cầu nâng cao trình độ ho ̣c vấn, nâng cao hiểu biết về KH&CN, nhu cầu có một nghề
để kiếm sống, để lập thân, lập nghiệp và nhu cầu hòa nhập chung sống hữu nghị trong cộng đồng Vì vậy, chủ thể đầu tư xây dựng, tổ chức, quản lý, điều hành các mặt hoạt động của nhà trường chính là UBND tỉnh/thành phố trực thuộc
TW, đó là cơ quan đại diện cho người dân trong cộng đồng Trường ĐHTT được thành lập trên cơ sở đề nghị của UBND tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương,
Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ký quyết định thành lập Trường ĐHTT là một cơ sở giáo dục công lập trực thuộc quản lý hành chính theo lãnh thổ của UBND tỉnh/thành phố (trực thuộc trung ương) nơi trường đặt trụ sở UBND tỉnh/thành phố là cơ quan chủ quản của trường ĐHTT Trường ĐHTT do địa phương đầu
tư xây dựng và tổ chức điều hành hoạt động UBND tỉnh/thành phố có trách nhiệm cung cấp hoặc hỗ trợ tài chính, CSVC, đất đai và là đầu mối gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường với các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn của địa phương
Trường ĐHTT chịu sự QLNN của Bộ GD&ĐT về chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch và chính sách phát triển giáo dục, tiêu chuẩn giảng viên, mục tiêu, nội dung, chương trình, kế hoạch và phương pháp đào ta ̣o , về tuyển sinh , tổ chức
Trang 40đào ta ̣o, thi, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ và quản lý chất lượng đào ta ̣o Trường ĐHTT có địa vị pháp lý như các loại hình trường
ĐH khác trong hệ thống GDQD Hệ thống các trường ĐHTT hiện hữu nhìn chung đang thực hiện 3 chức năng tổng quát, đó là:
a) Đào tạo đa lĩnh vực, đa ngành, đa cấp, đa hệ nhằm đáp ứng nhu cầu NNL cho địa phương có trình độ từ ĐH trở xuống
b) GDTX nhằm giúp mọi người trong cộng đồng vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình
độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội, góp phần XHH giáo dục, xây dựng xã hội học tập ở địa phương
c) Hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) và chuyển giao công nghệ phục
vụ sản xuất và đời sống cộng đồng Trường ĐHTT là cơ sở đào tạo nằm trong bậc đào ta ̣o ĐH, thuộc hệ thống GDQD và gắn với những động thái, nhịp sống cộng đồng, huy động các nguồn lực của cộng đồng, mở rộng vòng tay đón nhận mọi thành viên đến từ cộng đồng Tại thời điểm hiện nay, để đáp ứng kịp thời NNL phục vụ trực tiếp kế hoạch phát triển KT-XH của địa phương , nhà trường về cơ bản tập trung đào tạo trình độ kỹ sư ứng dụng , thực hành và các trình độ thấp hơn, góp phần thực hiện sứ mệnh nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho cả nước và cho các địa phương Trường ĐHTT có các nhiệm
vụ đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH và thị trường lao động cho địa phương với các thang bậc trình độ khác nhau bao gồm sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và đại học; đào tạo chuyển tiếp theo hệ thống liên thông dọc, ngang và
đa chiều, giúp người học có thể học lên hoặc chuyển đổi ngành nghề dễ dàng mà không phải lặp lại những gì đã được học ở các trình độ trước; đào tạo liên tục theo hướng giáo dục thường xuyên có bằng cấp và không có bằng cấp tùy theo nguyện vọng của người học phù hợp với nhu cầu xã hội địa phương và nguyện vọng của người học; nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, đáp ứng phát triển KT-XH địa phương, phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh CNH-HĐH, hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa; tổ chức thực hiện dịch vụ đào tạo và