1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập chương Nitơ - Photpho Hóa học 11 nhằm phát triển năng lực nhận thức cho học sinh yếu kém ở trường trung học phổ thông

120 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC PHẠM VĂN CHIẾN TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƯƠNG NITƠ – PHOTPHO HÓA HỌC 11 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC CHO HỌ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM VĂN CHIẾN

TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƯƠNG NITƠ – PHOTPHO HÓA HỌC 11 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC CHO HỌC SINH YẾU KÉM Ở

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM VĂN CHIẾN

TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƯƠNG NITƠ – PHOTPHO HÓA HỌC 11 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC CHO HỌC SINH YẾU KÉM Ở

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học

Mã số: 60 14 0111

Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS NGUYỄN THỊ SỬU

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Nguyễn Thị Sửu, cô đã nhiệt tình, tận tâm hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo tổ Lý luận

và phương pháp dạy học Hóa học thuộc trường Đại học Giáo dục – ĐHQG

Hà Nội.Em xin cảm ơn phòng sau Đại học – Trường Đại học Giáo dục – ĐHQG Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian học tập

Em xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ, giúp đỡ, tạo điều kiện của nhà trường, các thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Đồ Sơn Quận Đồ Sơn – Hải Phòng Xin cảm ơn những chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu khoa học, đóng góp ý kiến của các bạn bè đồng nghiệp, hỗ trợ tôi tìm kiếm tài liệu liên quan đến đề tài

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và những người thân đã luôn động viên khích lệ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2014

HỌC VIÊN

Phạm Văn Chiến

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục các từ viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng vi

Danh mục các hình vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5

1.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực 6

1.2.1 Một số quan điểm chỉ đạo định hướng đổi mới giáo dục trung học phổ thông 6

1.2.2 Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông 7

1.2.3 Một số quan điểm dạy học làm cơ sở lý luận cho việc đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông 8

1.3 Cơ sở lý luận về quá trình nhận thức học tập của học sinh 11

1.3.1 Khái niệm về quá trình nhận thức học tập và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nhận thức 11

1.3.2 Khái niệm tư duy và những hình thức của tư duy 13

1.4 Một số vấn đề liên quan đến học sinh yếu kém 13

1.4.1 Khái niệm học sinh yếu kém 13

1.4.2 Những biểu hiện của học sinh yếu kém 14

1.4.3 Nguyên nhân dẫn đến HS học yếu kém 14

1.5 Bài tập hóa học 16

1.5.1 Khái niệm về bài tập hoá học 16

1.5.2 Phân loại bài tập hóa học và xu hướng phát triển 16

1.5.3 Ý nghĩa của BTHH trong dạy học hóa học 19

1.5.4 Sử dụng bài tập hóa học để bồi dưỡng học sinh yếu kém 20

Trang 6

1.6 Thực trạng về học sinh yếu kém và việc sử dụng BTHH để phát triển năng lực nhận thức cho HS yếu kém ở một số trường trung học phổ thông thành phố Hải Phòng 20 1.6.1 Điều tra thực trạng học sinh học yếu kém môn hoá học ở trường trung học phổ thông 20 1.6.2 Kết quả điều tra chất lượng giảng dạy bộ môn hóa học ở các trường THPT tại Hải Phòng năm học 2013-2014 21 1.6.3 Thực trạng việc sử dụng bài tập hóa học trong dạy học đối với học sinh yếu kém 24 Tiểu kết chương 1 25 Chương 2: TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƯƠNG NITƠ-PHOTPHO – HÓA HỌC 11 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC CHO HỌC SINH YẾU KÉM 26 2.1 Phân tích nội dung và cấu trúc chương Nitơ-Photpho – Hóa học 11 trung học phổ thông 26 2.1.1 Mục tiêu dạy học chương Nitơ-Photpho – Hóa học 11 26 2.1.2 Nội dung, cấu trúc chương Nitơ – photpho 27 2.1.3 Những chú ý về nội dung và phương pháp dạy học chương Nitơ - Phopho 28 2.2 Một số nguyên tắc xây dựng và sử dụng bài tập hóa học trong dạy học với học sinh yếu kém 29 2.2.1 Nguyên tắc lựa chọn và xây dựng hệ thống bài tập hóa học dùng cho đối tượng HS yếu kém 29 2.2.2 Qui trình xây dựng bài tập HH 30 2.3 Xây dựng hệ thống bài tập chương Nitơ-Photpho – Hóa học 11 trung học phổ thông 30 2.3.1 Hệ thống BTHH chủ đề 1: Nitơ 31

Trang 7

2.3.4 Hệ thống BTHH chủ đề 4: Muối nitrat 39

2.3.5 Hệ thống BTHH chủ đề 5: Photpho 41

2.3.6 Hệ thống BTHH chủ đề 6: Axit photphoric và muối photphat 43

2.4 Sử dụng hệ thống bài tập chương Nitơ-Photpho – Hóa học 11 trong hoạt động dạy học 47

2.4.1 Sử dụng bài tập hóa học trong bài dạy nghiên cứu kiến thức mới 47

2.4.2 Một số giáo án bài dạy minh họa 48

2.4.3 Sử dụng bài tập hóa học trong bài dạy luyện tập 68

2.4.4 Một số giáo án bài dạy 68

2.4.5 Sử dụng bài tập hóa học trong phụ đạo học sinh yếu kém 75

Tiểu kết chương 2 78

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 79

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 79

3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 79

3.2.1 Lựa chọn địa bàn và đối tượng thực nghiệm sư phạm 79

3.2.2 Xác định nội dung thực nghiệm sư phạm 79

3.2.3 Chuẩn bị thực nghiệm sư phạm 79

3.3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 80

3.3.1 Thời gian thực nghiệm sư phạm 80

3.3.2 Tiến hành các hoạt động thực nghiệm sư phạm 80

3.3.3 Thu thập và xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm 81

Tiểu kết chương 3 91

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC 96

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ biểu diễn kết quả kiểm tra số 1 85

Hình 3.2 Đồ thị đường tích lũy bài kiểm tra số 1 86

Hình 3.3 Biểu đồ biểu diễn kết quả kiểm tra số 2 88

Hình 3.4 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 2 88

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, nguồn lực con người càng trở lên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Hiện nay giáo dục đã và đang thực hiện từng bước đổi mới phương pháp dạy học (PPDH), đẩy lùi tình trạng học theo kiểu đọc chép, HS không còn thụ động trong việc tiếp thu kiến thức, giáo viên (GV) chỉ là người tổ chức, tư vấn, hướng dẫn để HS chủ động tìm tòi, thu nhận kiến thức mới

Lý luận dạy học hiện nay ngày càng đề cao vai trò của việc phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh trong quá trình học tập Đây là vấn

đề được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực dạy học nói chung cũng như phương pháp luận dạy học từng bộ môn nói riêng, trong đó có môn hóa học

Trong dạy học thì bài tập là một trong những PPDH cũng như phương tiện dạy học không thể thiếu được trong quá trình tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập cho HS Với bộ môn Hoá hóa, việc sử dụng bài tập được xác định là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học

bộ môn Tuy nhiên việc lựa chọn và sử dụng bài tập hoá học (BTHH) phù hợp với từng đối tượng HS là rất quan trọng Đặc biệt là với HS yếu kém, đối tượng HS này thường không có hứng thú với việc học cũng như giải quyết các bài tập GV thường không có đủ kiên nhẫn và không dành được nhiều thời gian cho đối tượng này

Vấn đề lớn đặt ra là làm thế nào để học sinh yếu kém nâng dần được hứng thú học tập bộ môn và có nhu cầu giải các dạng BTHH Thực tế dạy học cho thấy tỉ lệ HS yếu kém bộ môn Hoá học là không nhỏ Xuất phát từ

Trang 11

xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập chương Nitơ-Photpho - Hóa học 11 nhằm phát triển năng lực nhận thức cho học sinh yếu kém ở trường THPT” Tôi mong muốn tuyển chọn và xây dựng được hệ thống bài tập theo từng dạng, phù hợp với mức độ nhận thức của HS yếu kém và sử dụng một cách hợp lí, hiệu quả trong dạy học để góp phần phát triển năng lực nhận thức, tư duy cho các em, làm tiền đề để các em có thể phát triển ở mức cao hơn

2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:

2.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài:

Tuyển chọn xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập chương Nitơ - Photpho hóa học 11 chương trình cơ bản THPT trong dạy học nhằm phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho HS yếu kém

2.2 Nhiệm vụ nghiêm cứu:

Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu được đề ra như sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài về các ván đề: quá trình nhận thức, tư duy của HS trong dạy học; đổi mới PPDH theo hướng tích cực

- Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng BTHH trong dạy học của GV và nhận thức, tư duy của HS yếu kém (số lượng và nguyên nhân)

- Lựa chọn xây dựng hệ thống BTHH chương nitơ - Photpho hóa học 11 chương trình cơ bản theo các mức độ nhận thức và tư duy

- Nghiên cứu các cách sử dụng hệ thống bài tập đã xây dựng vào quá trinh dạy học để phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho HS yếu kém

- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá chất lượng, tính phù hợp và hiệu quả của hệ thống bài tập và các biện pháp sử dụng chúng để nâng cao chất lượng học tập của HS yếu kém trong dạy học

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học môn hóa học chương Nitơ - Photpho - Hóa học 11 chương trình cơ bản hóa học THPT

Trang 12

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Hệ thống các bài tập chương Nitơ - Photpho - Hóa học 11 chương trình

cơ bản hóa học THPT

4 Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài tập trung vào nghiên cứu các dạng bài tập chương Nitơ - Photpho để phát triên năng lực nhận thức và tư duy của HS yếu kém, với cả hai dạng bài tập trắc nghiệm khách quan (TNKQ), tự luận và phương pháp sử dụng trong các dạng bài dạy

5 Vấn đề nghiên cứu

Tuyển chọn xây dựng hệ thống bài tập chương Nitơ - Photpho và sử dụng hệ thống bài tập đó như thế nào để nâng cao năng lực nhận thức, tư duy cho học sinh yếu kém ở trường THPT?

6 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu giáo viên tuyển chọn và xây dựng được một hệ thống bài tập chương Nitơ - Photpho đa dạng, phong phú phù hợp với các mức độ nhận thức, tư duy đồng thời sử dụng chúng một cách hợp lí trong các bài dạy sẽ làm phát triển được năng lực nhận thức cho học sinh yếu kém

- Đề xuất các phương pháp sử dụng hệ thống BTHH này trong việc nâng cao hứng thú học tập và kết quả học tập cho HS yếu kém

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: phân tích, tổng hợp, khái quát các

Trang 13

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: quan sát, điều tra, trao đổi với GV, chuyên gia… về thực trạng sử dụng BTHH, nguyên nhân của đối tượng

HS yếu kém và thực nghiệm sư phạm dánh giá tính phù hợp và hiệu quả của các đề xuất

- Phương pháp xử lí thông tin: sử dụng phương pháp thống kê toán học

áp dụng trong khoa học Giáo dục để xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày theo 3 chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập chương Nitơ - Photpho - Hóa học 11 nhằm phát triển năng lực nhận thức cho học sinh yếu kém

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

1 Trịnh Văn Thịnh (2005), Những biện pháp giúp HS yếu kém đạt được yêu cầu và kết quả cao hơn trong học tập môn Hóa học ở các trường THPT các tỉnh miền núi phía Bắc, Luận văn thạc sĩ Khoa học Giáo dục, Trường Đại

4 Nguyễn Thị Oanh (2012), Nâng cao khả năng học tập cho HS yếu kém trong DHHH chương 2 và 4 lớp 10 chương trình cơ bản - THPT, Luận văn thạc

sĩ Sư phạm hóa học, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội

5 Ngô Minh Phương (2013), Một số biện pháp bồi dưỡng HS yếu kém trong DHHH (Chương hiđrocacbon no, chương hiđrocacbon không no - Hóa học 11), Luận văn thạc sĩ Khoa học Giáo dục, Trường ĐHSP Hà Nội…

Hầu hết các luận văn trên đều chỉ ra được những biểu hiện của học sinh yếu, kém, nguyên nhân và đề xuất một số biện pháp để bồi dưỡng học sinh yêu kém nâng cao được kĩ năng học tập, củng cố khắc sâu kiến thức Các công trình nghiên cứu này là nguồn tư liệu quý giá để nghiên cứu, tìm hiểu và

Trang 15

của HS yếu kém là HS chưa hứng thú học tập môn Hóa học Vì vậy nghiên cứu cần làm rõ vấn đề làm thế nào để nâng cao hứng thú học tập của học sinh yếu kém trong học tập môn Hóa học? Từ đó mới phát triển được năng lực nhận thức cho học sinh yếu kém

1.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực

1.2.1 Một số quan điểm chỉ đạo định hướng đổi mới giáo dục trung học phổ thông

Những quan điểm và đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục trung học được thể hiện trong các văn bản sau đây:

Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã khẳng định:

“Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay”

Luật giáo dục - 2005, điều 28 - mục 2 đã nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 Đảng cộng sản Việt Nam khóa XI

về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo: “Tiếp tục đổi mới mạnh

mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lới truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin

và truyền thông trong dạy và học” [13]

Trang 16

Những quan điểm, định hướng nêu trên tạo tiền đề, cơ sở và môi trường pháp lý thuận lợi cho việc đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, đổi mới PPDH hóa học ở trường phổ thông nói riêng

1.2.2 Đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông

Theo các tài liệu [11], [14], việc đổi mới PPDH hóa học ở trường phổ thông có thể thực hiện theo các hướng như sau:

1 Xây dựng cơ sở lý thuyết có tính phương pháp luận để tìm hiểu bản chất PPDH và định hướng hoàn thiện PPDH, chú ý những quan điểm phương pháp luận về PPDH

2 Hoàn thiện chất lượng các PPDH hiện có và sử dụng phối hợp nhiều phương pháp dạy học

Việc hoàn thiện chất lượng PPDH và sử dụng trong dạy học hóa học được thực hiện bằng cách:

a Tổ chức cho người học được học tập trong các hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo

b Sử dụng phối hợp nhiều PPDH của giáo viên, nhiều hình thức hoạt động của HS, giúp HS được hoạt động chủ động, sáng tạo, khai thác và tận dụng mặt tốt của mỗi PPDH

c Tăng cường năng lực vận dụng tri thức đã học vào cuộc sống và sản xuất luôn đổi mới Chú ý hình thành năng lực tự giải quyết vấn đề cho HS và

có biện pháp hình thành từng bước năng lực tự giải quyết vấn đề một cách sáng tạo từ thấp đến cao

d Đổi mới các hoạt động của HS và tăng thời gian dành cho HS hoạt động trong giờ học Dành thời gian thích đáng để chỉ dẫn, uốn nắn phương pháp học tập cho HS

e Từng bước đổi mới công tác kiểm tra đánh giá, nhằm đánh giá những biểu hiện chủ động sáng tạo của HS, kĩ năng thực hành và kĩ năng biết vận

Trang 17

f PPDH hóa học phải thể hiện được phương pháp nhận thức khoa học đặc trưng của bộ môn hóa học là thực nghiệm hóa học, do đó phải tăng cường

sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực quan, phải dạy cho HS cách tự nghiên cứu và tự học khi sử dụng chúng Tăng dần sử dụng phương pháp nghiên cứu trong khi tiến hành các thí nghiệm

3 Sáng tạo ra các PPDH mới

Việc sáng tạo ra các PPDH mới có thể bằng các cách như sau:

a Liên kết nhiều phương pháp riêng lẻ thành những tổ hợp PPDH phức hợp (có hiệu quả cao hơn)

b Liên kết PPDH với các phương tiện kĩ thuật dạy học hiện đại (phương tiện nghe nhìn, máy vi tính ) tạo ra tổ hợp PPDD có sử dụng phương tiện kĩ thuật

c Chuyển hóa phương pháp khoa học thành phương pháp đặc thù bộ môn Như thực nghiệm hóa học, tập nghiên cứu khoa học (phương pháp dự án), phương pháp grap dạy học

4 Chuyển đổi chức năng của PPDH từ tính chất thông báo, tái hiện đại trà chung cho cả lớp sang tính chất tìm tòi, phân hóa - cá thể hóa cao

độ, tiến lên theo nhịp cá nhân

1.2.3 Một số quan điểm dạy học làm cơ sở lý luận cho việc đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông

Những quan điểm, những tiếp cận mới dùng làm cơ sở cho việc đổi mới PPDH nới chung và PPDH hóa học nói riêng đã được trình bày trong các tài liệu: [12], [11], [8], [9], [14], [22] Cụ thể:

1.2.3.1 Quan điểm dạy học lấy người học là trung tâm

Dạy học lấy HS làm trung tâm được coi là một tư tưởng, một quan điểm, một cách tiếp cận quá trình dạy học Quan điểm này đặc biệt nhấn

mạnh vai trò của người học Hoạt động học Quan điểm này chi phối cả mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức và đánh giá hiệu quả dạy học

Trang 18

* Bản chất của việc đổi mới PPDH “lấy HS làm trung tâm”: Bản chất

của quan điểm này là đặt người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, chú trọng đến những phẩm chất, năng lực riêng của mỗi người, họ vừa là chủ thể vừa là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học, phấn đấu cá thể hóa quá trình dạy học để cho các tiềm năng của mỗi cá thể được phát huy tối đa

* Đặc điểm của dạy học “lấy HS làm trung tâm”:

- Hướng vào việc chuẩn bị cho HS sớm thích ứng với đời sống xã hội, hòa nhập và phát triển cộng đồng, tôn trọng nhu cầu, lợi ích, tiềm năng của người học

- Chú trọng các kĩ năng thực hành vận dụng các kiến thức lí thuyết, năng lực phát hiện và giải quyết các vấn đề thực tiễn Chương trình giảng dạy giúp cho từng cá nhân biết hành động và tích cực tham gia vào các hoạt động của cộng đồng, “từ học làm đến biết làm, muốn làm và cuối cùng là muốn tồn tại phát triển như nhân cách một người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo”

- HS chủ động tham gia các hoạt động học tập, GV đóng vai trò là người tổ chức, điều khiển động viên, huy động tối đa vốn hiểu biết, kinh nghiệm của từng HS trong việc tiếp thu kiến thức và xây dựng bài học

- Nôi dung kiểm tra chú ý đến các mức độ khác nhau: tái hiện, vận dụng, suy luận, sáng tạo, cố gắng phát huy hết năng lực của HS

Như vậy, trong quá trình dạy học “lấy HS làm trung tâm” người học vừa là mục đích vừa là chủ thể của quá trình học tập, để người học tham gia tích cực vào hoạt động học huy động kinh nghiệm và nguồn lực của họ, tôn trọng nhu cầu và mong muốn của họ, để họ tự lực thực hiện những tiềm năng của bản thân nhằm phát triển năng lực sáng tạo, giải quyết những vấn đề của đời sống thực tiễn

1.2.3.2 Quan điểm dạy học “Hoạt động hóa người học”

Quan điểm này xuất phát từ định hướng hành động trong dạy học,

Trang 19

cân đối giữa tư duy và hành động, giữa lí thuyết và thực hành Quá trình dạy học hình thành và phát triển năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo cho mỗi

HS, quan điểm hoạt động hóa người học có ý nghĩa rất lớn cho việc thực hiện nguyên lí giáo dục kết hợp lí thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động để giáo dục được đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ đào tạo về mặt trí tuệ và đào tạo năng lực hành động

* Bản chất của việc đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hóa người học

- Tổ chức cho người học học tập trong các hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo

- Rèn luyện phong cách “học tập sáng tạo” với phương châm trang bị cho HS đầy đủ những kiến thức khoa học kĩ thuật hiện đại và kĩ năng sử dụng chúng thành thạo và rèn luyện một cách có hệ thống cho mỗi HS các năng lực hành động để các em có thể học tập, sáng tạo và phát triển

* Một số biện pháp hoạt động hóa người học

- Tổ chức các hoạt động học tập cho HS hoạt động tự lực ở mức độ tối

đa để giải quyết nhiệm vụ học tập

- Tăng cường sử dụng các thí nghiệm hóa học và các phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật trong dạy học hóa học

- Trong giờ học GV cần sử dụng phối hợp nhiều hình thức hoạt động của HS, nhiều PPDH như: thí nghiệm, dự đoán lí thuyết, mô hình hóa, giải thích, thảo luận Nhằm giúp HS được hoạt động tích cực chủ động

- Tăng thời gian hoạt động của HS trong giờ học Hoạt động của GV chú trọng đến việc thiết kế, hướng dẫn điều khiển hoạt động tư duy của HS thông qua các hoạt động cá nhân hay hoạt động nhóm

- Từng bước đổi mới công tác kiểm tra đánh giá nhằm đánh giá cao (và ngày càng cao) những biểu hiện chủ động, sáng tạo của HS và đánh giá cao kĩ năng thực hành cũng như kĩ năng giải quyết những vấn đề của thực tiễn

1.2.3.3 Quan điểm dạy học tích cực [11]

Dạy học tích cực là thuật ngữ thường dùng để chỉ các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Quan

Trang 20

điểm này thể hiện sự tương tác chặt chẽ, mật thiết hai chiều giữa GV và HS Trong đó GV đóng vai trò là người thiết kế hoạt động, người cố vấn, giúp đỡ

HS khi cần thiết, còn HS chính là chủ thể của hoạt động nhận thức, tích cực hoạt động để tìm ra kiến thức mới

Đặc điểm của PPDH tích cực:

- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập cho HS: hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa biết

- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

- Dạy học có sự phối hợp sử dụng rộng rãi các phương tiện trực quan, nhất là các phương tiện kĩ thuật nghe nhìn, máy vi tính, phần mềm dạy học

- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Như vậy, quan điểm dạy học tích cực cũng dựa trên quan điểm dạy học

“lấy HS làm trung tâm” và dạy học “hoạt động hóa người học” Vì vậy khi sử dụng các PPDH trong dạy học hóa học chúng ta cần khai thác những yếu tố tích cực của từng phương pháp, đồng thời cũng cần phối hợp các PPDH với phương tiện trực quan để nâng cao hiệu quả của quá trình đổi mới PPDH hóa học 1.3 Cơ sở lý luận về quá trình nhận thức học tập của học sinh

1.3.1 Khái niệm và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nhận thức

Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn

Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể

Đối với học sinh, hoạt động chủ yếu của các em là học tập Thông qua

Trang 21

năng lực nhận thức cũng như phát triển trí tuệ, có quan điểm đạo đức và thái

độ đúng đắn

Do vậy, nhận thức học tập là sự phản ánh thế giới khách quan thông qua các kiến thức môn học vào ý thức của người học theo hướng tích cực, nhờ

đó giúp người học phát triển năng lực nhận thức và tư duy

Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nhận thức:

Mỗi cá nhân nhìn nhận và đánh giá cùng một sự vật, sự viêc khác nhau

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quá trình nhận thức như:

Người nhận thức: Khi chủ thể nhận thức nhìn một đối tượng và diễn đạt cái mà họ nhìn thấy thì sự diễn đạt đó bị ảnh hưởng mạnh bởi những đặc tính các nhân của chủ thể nhận thức đó Những đặc tính cá nhân ảnh hưởng

rất mạnh đến nhận thức là thái độ, động cơ, lợi ích, kiến thức, những kinh nghiệm quá khứ và những mong đợi của con người Ví dụ: cùng một dạng bài

toán nhưng với các đối tượng học sinh khác nhau thì có cách định hướng, tiếp nhận nội dung khác nhau

Đối tượng nhận thức: Những đặc tính của đối tượng nhận thức chi phối đến đều được nhận thức Do đối tượng không được nhìn một cách cô lập, quan hệ của đối tượng với nền của nó ảnh hưởng tới nhận thức Con người luôn có xu hướng nhóm những cái giống nhau hoặc tương tự nhau thành một nhóm, những đối tượng gần với nhau sẽ có xu hướng được nhận thức thành một nhóm hơn là từng thành phần riêng biệt Ví dụ: Bài toán một kim loại tác dụng với dung dịch HNO3 và bài toán hai hay nhiều kim loại tác dụng với dung dịch HNO3 thường được nhận thức chung là kim loại tác dụng với dung dịch HNO3, trong khi hai dạng bài này mức độ kiến thức hoàn toàn khác nhau

Tình huống trong đó quá trình nhận thức diễn ra: Những yếu tố của môi trường ảnh hưởng quan trọng đến nhận thức của con người Ví dụ: Trong các bài tập toán hóa học sinh phải giải các phương trình, hệ phương trình liên quan đến môn Toán nhưng các em lai hoàn toàn không để ý, ngược lại nếu trong một bài toán mà có xuất hiện các chất hoặc công thức hóa học thì chắc

Trang 22

hẳn sẽ làm các em nảy sinh nhiều nghi vấn và hiển nhiên các em sẽ có những chú ý đặc biệt

1.3.2 Khái niệm tư duy và những hình thức của tư duy [16]

1.3.2.1 Khái niệm về tư duy

Theo M.N Sacdacop thì “Tư duy là sự nhận thức khái quát gián tiếp các

sự vật và hiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính chung và bản chất của chúng Tư duy cũng là sự nhận thức sáng tạo của những sự vật và hiện tượng mới, riêng lẻ của hiện tượng trên cơ sở những kiến thức khái quát đã thu nhận được”

1.3.2.2 Những hình thức cơ bản của tư duy

- Tư duy khái niệm: là hình thức của tư duy về một tư tưởng phản ánh những dấu hiệu những thuộc tính chung, tính chất của tư tưởng đó

- Tư duy phán đoán: là một hình thức của tư duy biện chứng, là công cụ

để thể hiện tính biện chứng của nhũng mối quan hệ với những đặc điểm của đối tượng

- Tư duy suy lý: là hình thức đi từ những khái niệm, tri thức đã được biết để đưa ra những phán đoán mới

Khái niệm, phán đoán và suy lý luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, trong

đó khái niệm là cơ sở, là tế bào của tư duy

1.4 Một số vấn đề liên quan đến học sinh yếu kém.[3], [4]

1.4.1 Khái niệm học sinh yếu kém

HS yếu kém là những HS chưa đủ khả năng hoàn thành những yêu cầu

có tính mắt xích của các giai đoạn trung gian trong quá trình học tập, biểu hiện sức học yếu và kết quả học tập không đạt chuẩn tối thiểu

HS yếu kém có thể tồn tại ở nhiều dạng khác nhau: học kém mang tính thời điểm hoặc lâu dài; học yếu ở một học kỳ hoặc cả năm… Về bản chất, HS yếu kém chưa đủ khả năng hoàn thành độc lập toàn bộ các hành động học tập

Trang 23

chất của khái niệm khoa học Sự tích lũy liên tục tình trạng này khiến cho năng lực học tập của các em giảm sút và dần dần mất đi hứng thú học tập

Theo quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông ban hành kèm theo quyết định số: 40/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 10 năm 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định [3], học lực được xếp thành 5 loại: giỏi, khá, trung bình, yếu và kém

- Học sinh yếu là học sinh có điểm trung bình các môn từ 3,5 trở lên, không có môn nào dưới 2,0 và văn hoặc toán từ 3,5 trở lên đến 5,0

- Học sinh kém là học sinh có một hoặc nhiều môn có điểm dưới 2,0 Trong nghiên cứu này chúng tôi dùng khái niệm “HS yếu kém” với ý nghĩa để chỉ học sinh có lực học yếu và kém theo quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo

1.4.2 Những biểu hiện của học sinh yếu kém

Dựa vào kinh nghiệm của bản thân và qua trao đổi với đồng nghiệp cũng như điều tra từ phía học sinh, chúng tôi nhận thấy học sinh yếu kém thường có những đặc điểm sau:

- Nhận thức chậm, chậm hiểu bài, lâu thuộc bài và hay quên

- Không nắm vững kiến thức, kỹ năng cơ bản theo yêu cầu tối thiểu cho mỗi giờ học, mỗi phần trong chương trình

- Quá trình nhận thức còn hạn chế về các mặt: tư duy logic và khả năng

so sánh, tổng hợp, khái quát hóa …

- Không làm hoặc rất ít khi làm bài tập, không đảm bao yêu cầu của chuẩn kiến thức và kĩ năng

- Hay bỏ giờ, bỏ tiết

- Bị nhiều điểm kém, điểm yếu và thường có tính tự ti hoặc bất cần

1.4.3 Nguyên nhân dẫn đến HS học yếu kém

Qua thực tế giảng dạy tại trường THPT Đồ Sơn Quận Đồ Sơn - Thành phố Hải Phòng, trao đổi với giáo viên trong trường và một số trường trong cụm trường (trường THPT Kiến Thụy huyện Kiến Thụy, THPT Mạc Đĩnh

Trang 24

Chi Quận Dương Kinh, THPT Nguyễn Đức Cảnh …), qua điều tra HS, chúng tôi nhận thấy HS yếu kém môn Hóa học chủ yếu do 5 nguyên nhân sau đây:

1.4.3.1 Học sinh yếu kém do không có kiến thức, kĩ năng căn bản

Học sinh bị hổng kiến thức từ cấp THCS, các kiến thức cơ bản như các khái niệm, qui luật trong hóa học, phép toán học, cách diễn đạt, cách đọc, tìm hiểu sách giáo khoa để tìm mấu chốt vấn đề, nội dung trọng tâm của bài học gần như không có, không biết cách liên hệ kiến thức ở các bài với nhau Càng lên cao, kiến thức càng nhiều các em không nắm được kiến thức cơ bản sẽ dẫn tới việc học yếu dần dần dẫn tới ngại học, lười học và tình hình học tập ngày càng giảm xút

1.4.3.2 Học sinh yếu kém do khả năng tự học thấp và học tập không có kế hoạch

HS thường thụ động tiếp nhận kiến thức GV truyền đạt trong các giờ học, các em chỉ ghi chép bài đầy đủ mà không hề tư duy, suy nghĩ, so sánh với bài học trước Điều này khiến cho việc học của các em trở thành học vẹt

Bên cạnh đó, việc học tập của học sinh thường là không có kế hoạch, các em thường chỉ học trên lớp và làm bài tập về nhà một cách đối phó với

GV cũng như việc học chỉ diễn ra khi đứng trước một bài kiểm tra nào đó Vì vậy, việc luyện tập hoặc tự học tập, ôn tập rất khó thực hiện

1.4.3.3 Học sinh yếu kém do phương pháp học tập

Đa số HS yếu kém môn Hóa học đều chưa có phương pháp học tập, hoặc có nhưng chưa khoa học trong việc áp dụng phương pháp học tập đặc thù riêng của bộ môn, dẫn tới mặc dù các em có ý thức học tập, dành nhiều thời gian cho việc học nhưng kết quả chưa cao

1.4.3.4 Học sinh yếu kém do không quan tâm, lơ là việc học, lười học

Một số em học sinh không xác định được động cơ học tập do vậy không quan tâm tới bộ môn, không coi trọng việc học, thậm chí lười học

Với địa bàn Quận Đồ Sơn - một quận phát triển về du lịch và có nhiều

Trang 25

1.4.3.5 Một số nguyên nhân khác

Đội ngũ giáo viên chưa thật sự đồng đều về trình độ và sự quan tâm đến đối tượng học sinh này Điều kiện dạy học của các trường như về hóa chất, phòng thực hành thí nghiệm còn chưa được trang bị đày đủ, tình trạng học chay vẫn còn diễn ra trong các giờ có thí nghiệm biểu diễn hoặc thực hành

Về điều kiện gia đình, đa số học sinh yếu kém đều nằm trong diện gia đình hộ nghèo hoặc cận nghèo, không có đầy đủ điều kiện học tập, các em còn phải đi làm thêm giúp đỡ gia đình không có thời gian cho việc học Một

bộ phận còn lại gia đình có điều kiện về kinh tế, nhưng bố mẹ lại mải lo làm

ăn không có nhiều thời gian cho con cái, không quan tâm, kiểm tra, động viên được việc học của các em

Về mặt xã hội có nhiều yếu tố tác động làm phân tán sự chú ý của các

em như: các trò chơi điện tử, các trang mạng xã hội, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, ma túy đã ảnh hưởng không nhỏ tới tâm sinh lý của các em

1.5 Bài tập hóa học [11], [14], [19]

1.5.1 Khái niệm về bài tập hoá học

Bài tập là những dạng bài gồm các bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả câu hỏi và bài toán, mà trong khi hoàn thành chúng, học sinh lĩnh hội được những kiến thức hoặc kĩ năng nhất định sau khi hoàn thiện chúng

Bài tập hóa học là những bài toán hoặc những câu hỏi mà thông qua việc hoàn thành chúng, học sinh sẽ lĩnh hội được nội dung các định nghĩa, khái niệm, tính chất của chất … hoặc hình thành các kĩ năng thí nghiệm thực hành, kĩ năng quan sát hoặc hoàn thiện các kĩ năng đó Việc giải quyết các bài toán hóa học cho phép HS thực hiện những mối liên hệ qua lại giữa các kiến thức đã và đang được học

1.5.2 Phân loại bài tập hóa học và xu hướng phát triển

1.5.2.1 Phân loại BTHH:

Hiện nay BTHH được phân loại dựa vào các cơ sở khác nhau, như là:

a Phân loại bài tập dựa vào hình thức trả lời

Dựa vào hình thức trả lời - BTHH phân thành bài tập trắc nghiệm khách quan và bài tập tự luận

Trang 26

Bài tập trắc nghiệm khách quan: là loại bài tập hay câu hỏi có kèm

theo câu trả lời sẵn và yêu cầu HS suy nghĩ trả lời Bài tập TNKQ được chia thành 4 dạng chính: dạng điền khuyết, dạng ghép đôi, dạng đúng sai, dạng nhiều lựa chọn Hiện nay bài tập TNKQ nhiều lựa chọn là dạng bài tập thông dụng nhất do những ưu điểm của nó như: có độ tin cậy cao, tính giá trị tốt hơn

Bài tập trắc nghiệm tự luận: là dạng bài tập yêu cầu HS phải biết kết

hợp cả kiến thức hóa học, ngôn ngữ hóa học và các công cụ toán học để trình bày nội dung của bài toán Hóa học, phải tự viết câu trả lời bằng ngôn ngữ của chính mình Trong bài tập TNTL chia ra các dạng: bài tập định tính, bài tập định lượng, bài tập thực tiễn… dựa vào tính chất, nội dung bài tập Dạng bài tập này cho phép GV kiểm tra kiến thức của HS ở góc độ hiểu và khả năng vận dụng Hình thành cho HS kĩ năng sắp đặt ý tưởng, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp…phát huy tính độc lập, chủ động và tư duy sáng tạo

b Phân loại bài tập dựa vào nội dung: Dựa vào nội dung BTHH được

chia thành các loại:

Bài tập định tính: là các dạng bài tập có liên hệ với sự quan sát để mô

tả, giải thích các hiện tượng hóa học Các dạng bài tập định tính:

- Giải thích, chứng minh, vận dụng kiến thức lý thuyết

- Viết PTHH của các phản ứng

- Phân biệt các chất

- Bài tập thực tiễn

Bài tập định lượng: (bài toán hóa học) là loại bài tập cần dùng các kỹ

năng toán học kết hợp với kỹ năng hóa học để giải

Bài tập thực nghiệm: là dạng bài tập có liên quan đến kỹ năng thực

hành thí nghiệm như:

- Quan sát để mô tả, giải thích các hiện tượng thí nghiệm

- Làm thí nghiệm để nghiên cứu tính chất của một chất hoặc một hiện

Trang 27

Bài tập tổng hợp: là dạng bài tập có tính chất bao gồm các dạng trên

c Phân loại bài tập hóa học theo mục tiêu sử dụng

Có thể chia bài tập theo 2 dạng: bao gồm bài tập GV dùng trong quá trình trực tiếp giảng dạy và bài tập cho HS tự luyện tập thông qua các phương tiện truyền tải thông tin mà không có sự xuất hiện trực tiếp của GV

d Phân loại bài tập hóa học theo mức độ nhận thức

Có bốn mức độ nhận thức: Biết - Hiểu - Vận dụng - Vận dụng sáng tạo BTHH được phân loại theo dạng bài tập tái hiện, bài tập hiểu, bài tập vận dụng và vận dụng sáng tạo Các dạng bài tập này được dùng để phát triển tư duy và phân hóa học sinh

Trên thực tế, sự phân loại trên chỉ mang tính chất tương đối, vì giữa các cách phân loại không có ranh giới rõ rệt, sự phân loại thường để nhằm phục

vụ cho mục đích nhất định

1.5.2.2 Xu hướng phát triển bài tập hóa học

Hiện nay, BTHH được xây dựng theo các xu hướng:

- Loại bỏ những bài tập có nội dung kiến thức hóa học nghèo nàn, lạm dụng quá nhiều thao tác toán học và mang tính đánh đố HS như giải hệ nhiều

ẩn, nhiều phương trình, bất phương trình…

- Loại bỏ những bài tập có nội dung lắt léo, giả định rắc rối phức tạp,

xa rời hoặc sai với thực tiễn

- Tăng cường sử dụng các bài tập thực nghiệm hoặc các bài tập gắn với thực tế đời sống

- Tăng cường sử dụng các bài tập theo hình thức TNKQ, trong đó các đáp án được lựa chọn kỹ càng Nội dung bài tập có kiến thức hóa học phong phú, sâu sắc Phần tính toán đơn giản, nhẹ nhàng

- Xây dựng bài tập có tác dụng rèn cho HS năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề đối với những vấn đề có liên quan đến vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống

Trang 28

- Xây dựng hệ thống bài tập mới về hóa học với môi trường, đa dạng hóa các loại hình bài tập như sử dụng sơ đồ, vẽ đồ thị, dùng hình vẽ hoặc lắp ráp các mô hình thí nghiệm đơn giản

- Xây dựng và tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm định lượng

- Sử dụng bài tập hóa học trong sự phát triển tự học của HS thông qua các hình thức giải đáp thắc mắc, phổ biến bài tập thông qua các phương tiện truyền thông như Website của trường, các forum

Như vậy, xu hướng của bài tập hóc học hiện nay là hướng đến rèn luyện và phát triển năng lực chung và các năng lực dặc trưng của môn học, ví

dụ phát triển năng lực tư duy hóa học cho HS ở các mặt: Lý thuyết, thực hành

và ứng dụng Những bài tập có tính chất học thuộc trong các câu hỏi lý thuyết

sẽ giảm dần và được thay bằng các câu hỏi đòi hỏi sự tư duy và tìm tòi

1.5.3 Ý nghĩa của BTHH trong dạy học hóa học

BTHH giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo nói chung và mục tiêu môn học nói riêng

BTHH vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là PPDH có hiệu quả

Lý luận dạy học coi bài tập là một PPDH cụ thể, được áp dụng phổ biến và thường xuyên ở các cấp học và các loại trường khác nhau, được sử dụng ở tất

cả các khâu của QTDH: nghiên cứu tài liệu mới, củng cố, vận dụng, khái quát hóa - hệ thống hóa và kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của HS

Nó cung cấp cho HS cả kiến thức cả con đường dành lấy kiến thức, bên cạnh

đó còn mang lại niềm vui khi có phát hiện mới, tìm ra đáp số

BTHH có tác dụng:

Với HS: nó là phương pháp học tập tích cực, hiệu quả, giúp HS nắm

vững, chính xác hóa các kiến thức hóa học, phát triển tư duy và hình thành kỹ năng, vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn, từ đo giảm nhẹ sự nặng nề căng thẳng của khối lượng lớn kiến thức lý thuyết, củng cố thường xuyên và

Trang 29

Với GV: BTHH là phương tiện, là nguồn kiến thức mà thông qua đó

GV hướng dẫn HS hình thành khái niệm hóa học, tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong quá trình dạy học GV sử dụng BTHH để tạo tình huống có vấn đề nhằm kích thích hoạt động tư duy tìm tòi sáng tạo của HS, rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề độc lập, nâng cao hứng thú học tập của HS

1.5.4 Sử dụng bài tập hóa học để bồi dưỡng học sinh yếu kém

Với ý nghĩa và tác dụng của BTHH chúng tôi nhận thấy BTHH là phương tiện hiệu quả để phát triển năng lực nhận thức cho HS Với việc bồi dưỡng HS yếu kém GV có thể sử dụng BTHH để thực hiện các nhiệm vụ dạy học như:

- Sử dụng BTHH để tạo động cơ, hứng thú học tập cho HS yếu kém

- Sử dụng BTHH để bổ sung, hoàn thiện và củng cố hệ thống kiến thức,

kỹ năng hóa học cơ bản cho HS

- Rèn luyện tư duy khái quát trong giải BTHH

- Rèn luyện năng lực độc lập suy nghĩ và năng lực tự học cho HS

- Tăng cường cho HS giải bài tập có vận dụng kiến thức thực tiễn, kiến thức gắn với môi trường giúp HS có năng lực vận dụng kiến thức, năng lực giải quyết vấn đề

- Phát triển tư duy sáng tạo của HS thông qua việc hướng dẫn HS tự ra

đề, tự giải và tự kiểm định kết quả

1.6 Thực trạng về học sinh yếu kém và việc sử dụng BTHH để phát triển năng lực nhận thức cho HS yếu kém ở một số trường trung học phổ thông thành phố Hải Phòng

1.6.1 Điều tra thực trạng học sinh học yếu kém môn hoá học ở trường trung học phổ thông

Trang 30

- Xác định những PPDH môn Hóa học đang được GV sử dụng trong DHHH ở trường THPT

- Nắm được nhu cầu học tập môn hóa học của HS ở trường THPT Đồ Sơn từ đó định hướng nội dung và phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh

1.6.1.2 Phương pháp điều tra

Sử dụng phiếu điều tra, trao đổi, phỏng vấn, quan sát…HS và GV ở các trường THPT thuộc cụm trường Đồ Sơn - Kiến Thụy - Dương Kinh thành phố Hải Phòng

Số lượng điều tra: 8 GV hóa học, 303 HS (125 HS lớp 11 trường THPT

Đồ Sơn, 43 HS lớp 11 THPT Mạc Đĩnh Chi, 45 HS lớp 11 THPT Nguyễn Đức Cảnh, 47 HS lớp 11 THPT Kiến Thụy, 43 HS lớp 11 THPT Thụy Hương) thuộc đối tượng HS yếu kém, 20 phụ huynh của HS thuộc diện yếu kém của trường THPT Đồ Sơn năm học 2013-2014

1.6.2 Kết quả điều tra chất lượng giảng dạy bộ môn hóa học ở các trường THPT tại Hải Phòng năm học 2013-2014

Bảng 1.1 Kết quả phiếu điều tra đối với GV về HS yếu kém

1 Rỗng kiến thức cơ bản từ cấp dưới 7/8 87,5%

3 Không chăm chỉ, không chịu khó học

Trang 31

Bảng 1.2 Kết quả điều tra đối với phụ huynh của HS yếu kém

5 Mức độ tham gia kiểm tra đánh giá

Bảng 1.3 Kết quả điều tra đối với HS yếu kém

2 Gia đình thuộc diện khó khăn 55/303 18,15%

3 Phân tán tư tưởng do hoàn cảnh gia đình 43/303 14,2%

5 Không hứng thú học tập bộ môn 242/303 79,87%

6 Không xác định rõ mục tiêu học tập 164/303 54,13%

7 Không tiếp cận được phương pháp giảng

Không chú ý nghe giảng, không thực hiện

Trang 33

Bảng 1.4 Điều tra về cơ sở vật chất của các trường THPT trong

cụm trường Đồ Sơn - Kiến Thụy - Dương Kinh

Tổng

số lớp

Số lớp

11

Tổng số phòng học

Phòng thí nghiệm

Bảng 1.5 Kết quả điều tra về chất lượng giảng dạy bộ môn hóa học khối 11 ở

các trường THPT trong cụm Đồ Sơn - Kiến Thụy - Dương Kinh

Tên trường

THPT

Tổng số lớp 11

Tổng số học sinh

Tổng số học sinh yếu kém

Tỉ lệ HS yếu kém

- HS rỗng về kiến thức cơ bản từ THCS được đánh giá từ 80% - 93,4%

- Không hứng thú học tập được đánh giá từ 62,5% - 79,87%

Trang 34

Đây là hai tiêu chí được đánh giá cho kết quả xác nhận 2 yếu tố cơ bản dẫn đến thực trạng yếu kém trong học tập môn hóa học

1.6.3 Thực trạng việc sử dụng bài tập hóa học trong dạy học đối với học sinh yếu kém

Theo quan sát, dự giờ, chúng tôi nhận thấy việc sử dụng bài tập hóa học trong hoạt động dạy học ở trường phổ thông còn một số hạn chế như sau:

- Vì tâm lí của GV, một số GV muốn thể hiện trình độ của mình nên thường ra những bài tập mang tính chất đánh đố đối với học sinh, một bộ phận GV có kiểu áp đặt trình độ của mình cho HS, GV thấy bài dễ là HS phải làm được

- Đa số bài tập sử dụng cho một tiết học là không phù hợp với trình độ chung của HS, thường vẫn chỉ là những câu hỏi và bài tập dành cho HS khá giỏi, HS yếu không tham gia trả lời được dần dần dẫn đến các em mất hứng thú, thấy mình mất đi vai trò trong giờ học, dẫn tới lười học, không tập trung

- Hệ thống bài tập được sử dụng phần lớn là kiến thức hàn lâm, ít hoặc không gắn liền với thực tế học tập của các em, gây nhàm chán

- Nhiều GV còn ít sử dụng, ngại sử dụng bài tập hóa học trong quá trình giảng dạy bài mới, hầu hết là chỉ sử dụng một cách hình thức trong các bài ôn tập, luyện tập Phần lớn GV vẫn chỉ dạy cho HS cách làm mà hầu như không dạy cho HS cách phân tích đề và tự làm

Trang 35

Tiểu kết chương 1 Trong chương này, chúng tôi đã nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, gồm có các nội dung chính sau:

1 Tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu của đề tài

2 Tìm hiểu về định hướng đổi mới PPDH theo hướng dạy học tích cực: Một số quan điểm chỉ đạo định hướng đổi mới giáo dục trung học phổ thông; phương hướng đổi mới PPDH hóa học ở trường phổ thông

3 Cơ sở lý luận về quá trình nhận thức học tập của học sinh: Khái niệm quá trình nhận thức và các yếu tố ảnh hưởng; khái niệm về tư duy, các hình thức của tư duy

4 Một số vấn đề liên quan đến HS yếu kém: khái niệm HS yếu kém, biểu hiện của HS yếu kém và nguyên nhân dẫn đến HS học yếu môn hóa học

5 Bài tập hóa học: khái niệm về bài tập hóa học, phân loại bài tập hóa học và ý nghĩa của bài tập hóa học trong dạy học hóa học

6 Điều tra thực trạng HS học yếu môn hóa học ở trường phổ thông và việc sử dụng bài tập hóa học trong dạy học ở trường phổ thông

Tất cả những nội dung trên là cơ sở để chúng tôi tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập hóa học phù hợp với trình độ của HS yếu kém, sử dụng bồi dưỡng, giúp các em phát triển năng lực nhận thức, phấn đấu vươn lên đạt yêu cầu, có kết quả cao hơn trong học tập, qua đó giảm tỉ lệ HS yếu kém môn hóa học ở trường THPT Đồ Sơn - Hải Phòng

Trang 36

CHƯƠNG 2 TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƯƠNG NITƠ-PHOTPHO - HÓA HỌC 11 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC CHO HỌC SINH YẾU KÉM

2.1 Phân tích nội dung và cấu trúc chương Nitơ-Photpho - Hóa học 11 trung học phổ thông

2.1.1 Mục tiêu dạy học chương Nitơ-Photpho - Hóa học 11

Kiến thức

Học sinh biết được:

- Vị trí trong bảng tuần hoàn, cấu hình electron nguyên tử của nguyên tố nitơ và photpho

- Cấu tạo phân tử, tính chất vật lí (trạng thái, màu, mùi, tỉ khối, tính tan), ứng dụng chính, trạng thái tự nhiên; điều chế nitơ trong phòng thí nghiệm và trong công nghiệp

- Tính chất của đơn chất và hợp chất của nitơ và photpho

- Ứng dụng của các đơn chất và hợp chất của nitơ và photpho

- Điều chế nitơ và photpho, điều chế một số hợp chất quan trọng của nitơ

và photpho

Học sinh hiểu được:

- Sự liên quan giữa vị trí nitơ, photpho trong bảng tuần hoàn với cấu tạo nguyên tử và phân tử của chúng

- Sự liên quan giữa cấu tạo nguyên tử, phân tử của nitơ, photpho với tính chất hóa học của đơn chất và hợp chất của chúng

- Phân tử nitơ rất bền do có liên kết ba, nên nitơ khá trơ ở nhiệt độ thường,

Trang 37

- Tính chất hoá học đặc trưng của nitơ: tính oxi hoá (tác dụng với kim loại mạnh, với hiđro), ngoài ra nitơ còn có tính khử (tác dụng với oxi)

Kĩ năng

- Dự đoán tính chất, kiểm tra dự đoán và kết luận về tính chất hoá học của nitơ

- Viết các PTHH minh họa tính chất hoá học Xác định được vai trò của nitơ, photpho trong các phản ứng mà chúng tham gia

- Tiến hành được một số thí nghiệm đơn giản để nghiên cứu tính chất hóa học của đơn chất nitơ, photpho và các hợp chất của chúng

- Viết được các phương trình phản ứng theo sơ đồ chuyển hóa các chất Tính thể tích khí nitơ ở đktc trong phản ứng hoá học; tính % thể tích nitơ trong hỗn hợp khí

Tình cảm thái độ

- Có ý thức tích cực, tự giác và hợp tác trong học tập

- Có ý thức bảo vệ môi trường

2.1.2 Nội dung, cấu trúc chương Nitơ - photpho

Chương nitơ - photpho Hóa học 11 gồm 8 bài chia thành 12 tiết theo cấu trúc như sau:

11 Nitơ

12-13 Amoniac và muối amoni

14-15 Axit nitric và muối nitrat

16 Luyện tập: tính chất của nitơ và hợp chất của

Trang 38

21 Kiếm tra 45 phút

22 Bài thực hành số 2

2.1.3 Những chú ý về nội dung và phương pháp dạy học chương Nitơ - Phopho

Giảng dạy chương Nitơ - Photpho cần chú ý những điểm sau:

- Trong chương nitơ - photpho chỉ xét hai nguyên tố nitơ và photpho nên cần làm rõ sự giống và khác nhau của các đơn chất và các hợp chất của hai nguyên tố đó Đây là những kiến thức mới đối với học sinh Do học sinh

đã được học đầy đủ cơ sở lý thuyết như cấu tạo nguyên tử, bảng tuần hoàn, liên kết hóa học, khái niệm về axit bazo, lý thuyết về sự điện li Vì vậy giáo viên cần phải dẫn dắt để học sinh vận dụng những kiến thức lý thuyết chủ đạo

đã có để dự đoán tính chất của đơn chất cũng như các hợp chất của nitơ và photpho Tuy nhiên với học sinh yếu kém thì giáo viên cần phải kết hợp với các phương tiện trực quan như thí nghiệm, hình ảnh minh họa để học sinh quan sát và từ đó nhận xét rút ra kiến thức mới hay khẳng định tính đúng đắn của những dự đoán

- Sự khác nhau về cấu tạo và độ bền liên kết trong phân tử nitơ và photpho: ở điều kiện thường nitơ bền hơn photpho vì phân tử N2 có kích thước nhỏ hơn P4 nên lực tương tác giữa các phân tử N2 nhỏ hơn nhiều so với phân tử P4; vì trong phân tử nitơ các nguyên tử nitơ liên kết với nhau bằng liên kết ba bền hơn rất nhiều so với liên kết đơn trong phân tử photpho Nitơ

có cộng hóa trị cực đại là 4 trong khi cộng hóa trị cực đại của photpho là 5 vì electron ở phân lớp 2s không thể tách khỏi cặp electron ghép đôi để lên phân lớp 3s được vì sự chênh lệch năng lượng rất lớn

- Trong quá trình điều chế nitơ bằng phương pháp chưng cất phân đoạn không khí lỏng nhất thiết không được để lẫn khí oxi, có thể loại bỏ hết oxi lẫn trong khí nitơ bằng cách cho hỗn hợp khí điều chế được đi qua hệ thống chứa

Trang 39

- So sánh tính chất của NH3 và PH3 chủ yếu dựa vào sự phân cực trong hai phân tử này Liên kết trong phân tử NH3 là phân cực nên có thể tạo thành liên kết hidro với nhau và với nước, liên kết trong phân tử PH3 không phân cực nên không tạo được liên kết hidro

- Tính bazo của NH3 không phải do NH3 tác dụng với nước thành

NH4OH

- Cần làm rõ sự giống và khác nhau giữa muối amoni và muối của kim loại kiềm: giống là các muối amoni tan nhiều trong nước, khi tan thì phân li hoàn toàn và ion NH4+ không màu giống ion kim loại kiềm; khác với muối của kim loại kiềm là muối amoni thì có môi trường axit do ion NH4+ có khả năng cho proton

- Cần làm rõ phản ứng nhiệt phân của muối amoni vì tùy theo điều kiện

và gốc axit trong muối mà sản phẩm là khác nhau

- Với axit HNO3 và H3PO4 để đơn giản với học sinh yếu kém thì chỉ đề cập đến tính axit mạnh và tính oxi hóa mạnh của dung dịch HNO3; tính axit của dung dịch H3PO4

- Phản ứng nhiệt phân muối nitrat cho sản phẩm phức tạp tùy theo mức

độ hoạt động của kim loại trong muối Nên hệ thống cho học sinh dưới dạng

sơ đồ

- Photpho: không đi sâu vào sự biến đổi qua lại giữa các dạng thù hình

mà chỉ giúp học sinh nhớ được photpho có hai dạng thù hình chính là photpho

Bài tập hóa học được xây dựng dựa trên các nguyên tắc sau:

- Đảm bảo mục tiêu và chuẩn kiến thức kĩ năng của chương

- Đảm bảo tính khoa học, chính xác và cơ bản

Trang 40

- Đảm bảo phù hợp với năng lực nhận thức của HS yếu kém

- Bài tập phải phát triển năng lực nhận thức và tư duy của HS yếu kém

- Hệ thống bài tập đảm bảo tính logic phát triển của nội dung học tập và

sự tăng dần của mức độ nhận thức của HS

- Nội dung bài tập phải ngắn gọn, không quá nặng về tính toán mà cần chú ý tập trung vào rèn luyện kĩ năng cơ bản và phát triển các năng lực nhận thức, tư duy HH và hành động cho HS

- Khi ra đề kiểm tra cho HS yếu kém thì chủ yếu cho ở 3 mức độ: biết chiếm khoảng 70%, hiểu chiếm khoảng 25% và vận dụng là 5%; còn các mức độ cao hơn tạm thời chưa đề cập tới trong đề tài này

2.2.2 Qui trình xây dựng bài tập HH

Xây dựng bài tập HH có thể được tiến hành qua các bước sau

1 Xác định mục tiêu cần đạt được của bài tập, kiến thức và kĩ năng chú trọng đến các kiến thức, kĩ năng cơ bản

2 Chọn nội dung kiến thức và dạng BTHH

3 Xác định kiến thức đã có và kiến thức cần hình thành cho HS

4 Xác định điều kiện và yêu cầu của bài tập

5 Trình bày diễn đạt bài tập

6 Giải thử, chỉnh sửa, chính xác hóa bài tập

7 Kiểm tra thử, tham khảo ý kiến của đồng nghiệp, xin ý kiến chuyên gia, chỉnh lý và sắp xếp thành hệ thống bài tập

2.3 Xây dựng và lựa chọn hệ thống bài tập chương Nitơ-Photpho - Hóa học 11 trung học phổ thông

Để thuận tiện cho quá trình dạy học, chúng tôi xây dựng và sắp xếp hệ thống bài tập chương Nitơ - Photpho - Hóa học 11 theo nguyên tắc sau:

- Sắp xếp theo ác chủ đề: (6 chủ đề)

* Chủ đề 1: Nitơ

Ngày đăng: 26/09/2020, 00:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w