1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Áp dụng pháp luật trong điều tra tội phạm do người chưa thành niên thực hiện của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Qua thực tiễn hoạt động của công an tỉnh Hưng Yên

118 87 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 832,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho nên, kết quả nghiên cứu của đề tài “Áp dụng pháp luật trong điều tra tội phạm do người chưa thành niên thực hiện của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - qua th

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỌ KHANG

¸P DôNG PH¸P LUËT TRONG §IÒU TRA TéI PH¹M

DO NG¦êI CH¦A THµNH NI£N THùC HIÖN CñA LùC L¦îNG C¶NH S¸T §IÒU TRA TéI PH¹M VÒ TRËT Tù X· HéI - QUA THùC TIÔN HO¹T §éNG CñA C¤NG AN TØNH H¦NG Y£N

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỌ KHANG

¸P DôNG PH¸P LUËT TRONG §IÒU TRA TéI PH¹M

DO NG¦êI CH¦A THµNH NI£N THùC HIÖN CñA LùC L¦îNG C¶NH S¸T §IÒU TRA TéI PH¹M VÒ TRËT Tù X· HéI - QUA THùC TIÔN HO¹T §éNG CñA C¤NG AN TØNH H¦NG Y£N

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS MAI VĂN THẮNG

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và

đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trần Thọ Khang

Trang 4

TRONG ĐIỀU TRA TỘI PHẠM DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TỘI PHẠM VỀ TRẬT TỰ XÃ HỘI 7 1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về áp dụng pháp luật trong

điều tra tội phạm của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm

về trật tự xã hội 7

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của áp dụng pháp luật trong điều tra tội

phạm của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội 7 1.1.2 Yêu cầu áp dụng pháp luật trong điều tra tội phạm của lực lượng

cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội 15

1.2 Khái luận chung về tội phạm do người chưa thành niên thực

hiện và áp dụng pháp luật trong điều tra tội phạm do người chưa thành niên thực hiện của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội 18

1.2.1 Khái niệm về tội phạm do người chưa thành niên thực hiện 18 1.2.2 Đặc điểm về tội phạm do người chưa thành niên thực hiện 20 1.2.3 Khái luận về hoạt động điều tra tội phạm do người chưa thành

niên thực hiện 23

Trang 5

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động áp dụng pháp luật trong

điều tra tội phạm do người chưa thành niên thực hiện 27 1.2.5 Những đặc thù của hoạt động áp dụng pháp luật của lực lượng

cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội trong điều tra tội phạm do người chưa thành niên thực hiện 30

1.3 Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của lực

lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội 34

1.3.1 Cơ cấu tổ chức của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật

tự xã hội 34 1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng cảnh sát điều tra

tội phạm về trật tự xã hội 35

Kết luận Chương 1 38 Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG ĐIỀU

TRA TỘI PHẠM DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TỘI PHẠM

VỀ TRẬT TỰ XÃ HỘI QUA THỰC TIỄN TẠI HƯNG YÊN 39 2.1 Tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện trên

địa bàn tỉnh Hưng Yên và thực trạng về tổ chức, hoạt động của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Hưng Yên 39

2.1.1 Khái quát về tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực

hiện và xu hướng của tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện ở Hưng Yên 39 2.1.2 Thực trạng về tổ chức, hoạt động của lực lượng cảnh sát điều tra

tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Hưng Yên 49

2.2 Thực trạng phương thức và quy trình áp dụng pháp luật

trong điều tra tội phạm do người chưa thành niên thực hiện của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Hưng Yên 52

Trang 6

2.2.1 Thực trạng áp dụng pháp luật trong tiếp nhận tố giác, tin báo về

tội phạm 52

2.2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật trong áp dụng biện pháp ngăn chặn 57

2.2.3 Thực trạng áp dụng pháp luật trong tiến hành các hoạt động điều tra theo tố tụng hình sự 67

2.3 Những nguyên nhân cơ bản của thực trạng áp dụng pháp luật trong điều tra tội phạm do người chưa thành niên thực hiện của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội công an tỉnh Hưng Yên 79

2.3.1 Những ưu điểm và nguyên nhân 79

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 81

Kết luận Chương 2 85

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG ĐIỀU TRA TỘI PHẠM DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TỘI PHẠM VỀ TRẬT TỰ XÃ HỘI 86

3.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong điều tra tội phạm do người chưa thành niên thực hiện của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội 86

3.2 Những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong điều tra tội phạm do người chưa thành niên thực hiện của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội 90

3.2.1 Những giải pháp, kiến nghị chung 90

3.2.2 Những giải pháp, kiến nghị cụ thể 99

KẾT LUẬN 106

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADPL : Áp dụng pháp luật BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự CQCSĐT : Cơ quan cảnh sát điều tra CSĐT : Cảnh sát điều tra

NCTN : Người chưa thành niên TAND : Tòa án nhân dân

TTHS : Tố tụng hình sự TTXH : Trật tự xã hội VKSND : Viện kiểm sát nhân dân

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng thống kế số NCTN bị bắt theo lệnh truy nã giai

Bảng 2.2: Bảng thống kê các trường hợp bắt tạm giữ NCTN

giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015 63 Bảng 2.3: Bảng thống kê các trường hợp tạm giam NCTN qua

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở bất cứ một quốc gia nào, nhìn vào thế hệ trẻ và nhìn vào các hoạt động đầu tư cho thế hệ trẻ chúng ta sẽ đánh giá được tương lai của quốc gia

đó, bởi vì sự đầu tư bền vững nhất cho tương lai là đầu tư cho thế hệ trẻ Ở nước ta, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm đầu tư, phát triển về mọi mặt cho thế hệ trẻ, và người đặt nền móng là Chủ tịch Hồ Chí Minh với các quan điểm thể hiện tầm quan trọng của việc chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ và luôn coi thế hệ trẻ là tương lai của dân tộc, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Hiện tại, quan điểm này đã được quy định cụ thể tại nhiều văn bản của Đảng cũng như của Nhà nước Hiến pháp năm 2013

xác định: “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của

người mẹ và trẻ em” [24, Điều 36], “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” [24, Điều 37] Trong

những năm gần đây, tình trạng vi phạm pháp luật do những NCTN thực hiện

ở nước ta có chiều hướng ngày càng trở nên phức tạp Số vụ phạm tội gia tăng

về số lượng, trẻ hóa về đối tượng, nghiêm trọng về tính chất, đa dạng và tinh

vi về phương thức thủ đoạn, có một số lượng lớn các vụ phạm tội mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng, cùng với việc sử dụng vũ khí nguy hiểm và phạm tội theo băng nhóm

Trước thực trạng trên, một trong những nhiệm vụ quan trọng đang được đặt ra cho toàn xã hội nói chung và lực lượng Công an nhân dân nói riêng là: quan tâm giáo dục tầng lớp thanh, thiếu niên, nâng cao ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật cho họ, phòng, chống, ngăn chặn những hành vi vi phạm

Trang 10

2

pháp luật, và xử lí nghiêm hành vi phạm tội do NCTN thực hiện; bên cạnh đó

là việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của NCTN trong quá trình ADPL

Với đặc trưng là một tỉnh có nhiều khu công nghiệp, Hưng Yên trong những năm gần đây đã xuất hiện xu thế trẻ hóa đối tượng vi phạm pháp luật

và đây đã trở thành một vấn đề gây nhức nhối đối với Đảng bộ và chính quyền các cấp thuộc tỉnh Hưng Yên Số vụ phạm tội do NCTN thực hiện được khám phá trong thời gian qua tại địa bàn tỉnh Hưng Yên chiếm một tỷ lệ khá cao và có xu hướng gia tăng về số lượng, phức tạp về tính chất Điều này

đã tác động tiêu cực đến tình hình trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, là rào cản lớn đối với chính sách phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa của tỉnh Hưng Yên Hạn chế các vụ vi phạm pháp luật do NCTN thực hiện là nhiệm vụ mà Đảng, chính quyền và nhân dân Hưng Yên đặc biệt quan tâm trong những năm qua Tuy nhiên, quá trình thực hiện công tác này đã và đang gặp nhiều khó khăn, hiệu quả chưa cao Do đó, ADPL trong điều tra tội phạm do NCTN thực hiện trên địa bàn tỉnh Hưng Yên cần phải được khảo sát, nghiên cứu một cách đầy đủ để đánh giá đúng thực trạng, từ đó đưa ra các giải pháp để áp dụng vào thực tế nhằm làm giảm loại tội phạm này, góp phần ổn định tình hình trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này trong việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của NCTN Vì vậy, việc

lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Áp dụng pháp luật trong điều tra tội phạm do

người chưa thành niên thực hiện của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - qua thực tiễn hoạt động của công an tỉnh Hưng Yên” là cần

thiết nhằm đáp ứng đòi hỏi cấp thiết về lý luận cũng như thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đấu tranh phòng, chống và trong đó bao gồm cả hoạt động điều tra tội phạm do NCTN thực hiện đang là vấn đề nóng bỏng, bức xúc trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Để góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động

Trang 11

3

ADPL trong điều tra tội phạm do NCTN thực hiện, ở nước ta trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ luật học đã đi vào nghiên cứu hoạt động này, như:

- Luận án tiến sỹ luật học “Hoạt động của lực lượng Công an nhân dân

trong phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội trong tình hình hiện nay”

của tác giả Đỗ Bá Cở, Học viện CSND năm 2000;

- Luật văn thạc sỹ luật học “Hoạt động của lực lượng CSND trong

phòng ngừa và điều tra tội phạm hình sự do người chưa thành niên gây ra trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả”

của tác giả Bùi Ngọc Giáp, Học viện CSND năm 2004;

- Sách chuyên khảo“Phòng ngừa thanh, thiếu niên phạm tội - Trách

nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội” do GS.TS Nguyễn Xuân Yêm chủ

biên (Nxb Công an nhân dân xuất bản năm 2004);

- Sách chuyên khảo “Trẻ em lang thang phạm tội ở Việt Nam và các

giải pháp phòng ngừa của lực lượng Cảnh sát nhân dân”, của tác giả Quách

Ngọc Lân và Lê Hoài Nam, Hà Nội, năm 2009;

- Luật văn thạc sỹ luật học “Đảm bảo quyền của bị can là người chưa

thành niên phạm tội trong hoạt động điều tra vụ án hình sự của lực lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Lê Hải Phú, Học viện

CSND năm 2010

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này thường được các tác giả nghiên cứu ở các cấp độ và các phương diện khác nhau như tội phạm học; hình pháp học trên phạm vi rộng, hoặc nghiên cứu ở một hoặc một số địa bàn nhất định Vì vậy, việc áp dụng kết quả những công trình nghiên cứu này vào những địa phương khác, những đối tượng khác là chưa thật phù hợp Bởi ngoài đặc điểm chung thì ở mỗi địa phương, mỗi địa bàn, mỗi loại đối tượng lại có những đặc điểm riêng nhất định như đặc điểm về địa lý, điều kiện kinh

Trang 12

4

tế - xã hội, phong tục tập quán, đặc điểm tâm lý, lối sống, phương thức thủ đoạn phạm tội, che giấu tội phạm

Hưng Yên là một địa bàn phức tạp về an ninh trật tự, trong đó có nhiều

“điểm nóng” về trật tự, an toàn xã hội Trong đó, số vụ vi phạm pháp luật nói chung và số vụ phạm tội do NCTN thực hiện nói riêng chiếm một tỷ lệ không nhỏ và đang ngày càng trở nên phức tạp nhưng công tác tổng kết, rút kinh nghiệm trong việc điều tra làm rõ các vụ phạm tội do NCTN thực hiện vẫn chưa được tiến hành một cách thường xuyên, đầy đủ và khoa học Vì vậy, vấn đề ADPL trong điều tra tội phạm do NCTN thực hiện trên địa bàn tỉnh Hưng Yên là một nội dung cần được nghiên cứu đầy đủ, toàn diện nhưng trên thực tế thì nội dung này chưa được đáp ứng, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu để làm

rõ những ưu điểm cũng như những hạn chế, nguyên nhân còn tồn tại trong quá trình ADPL để điều tra đối với tội phạm do NCTN thực hiện Cho nên, kết quả

nghiên cứu của đề tài “Áp dụng pháp luật trong điều tra tội phạm do người

chưa thành niên thực hiện của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự

xã hội - qua thực tiễn hoạt động của công an tỉnh Hưng Yên” sẽ góp phần

trang bị lý luận cho hoạt động ADPL nói chung và ADPL trong điều tra tội phạm do NCTN thực hiện nói riêng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu:

Góp phần làm sáng tỏ hơn nữa nhận thức lý luận về ADPL trong điều tra tội phạm do NCTN thực hiện của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH; đánh giá thực trạng tội phạm do NCTN thực hiện trên địa bàn tỉnh Hưng Yên và thực trạng hoạt động ADPL trong điều tra tội phạm do NCTN thực hiện của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH Công an tỉnh Hưng Yên, trên cơ sở đó nhận xét, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ADPL trong điều tra tội phạm do NCTN thực hiện của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH

Trang 13

5

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích trên, luận văn phải giải quyết được những nhiệm

- Rút ra những nguyên nhân về thực trạng của hoạt động này trên địa bàn tỉnh Hưng Yên và trên cơ sở đó để đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Những vấn đề thực tiễn của hoạt động ADPL trong điều tra tội phạm do NCTN thực hiện của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH Công an tỉnh Hưng Yên trên cơ sở áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành

Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hoạt động ADPL trong điều tra tội phạm do NCTN thực hiện của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH Công an tỉnh Hưng Yên theo BLTTHS năm 2003, trong đó đề tài chủ yếu tập trung vào tìm hiểu hoạt động ADPL trong điều tra đối với các tội phạm thuộc nhóm Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; Các tội xâm phạm sở hữu được quy định trong BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thuộc thẩm quyền của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH Công an tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận nghiên cứu đề tài:

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-

Trang 14

6

Lênin, những lý luận cơ bản của phép biện chứng duy vật và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, các quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước và của ngành Công an về đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và ADPL trong điều tra tội phạm do NCTN thực hiện nói riêng

Phương pháp nghiên cứu:

Trong công trình sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, so sánh, chuyên gia, điều tra xã hội học, tổng kết thực tiễn và thống kê hình sự, nghiên cứu điển hình

6 Điểm mới của đề tài

- Làm rõ thực trạng hoạt động ADPL trong điều tra tội phạm do NCTN thực hiện của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH Công an tỉnh Hưng Yên giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015;

- Đưa ra dự báo về tình hình tội phạm do NCTN thực hiện trong thời gian tới và những kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động ADPL trong điều tra tội phạm do NCTN thực hiện của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH

7 Ý nghĩa khoa học của đề tài

- Luận văn là công trình chuyên khảo trong khoa học pháp lý về ADPL trong điều tra tội phạm do NCTN thực hiện Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận Các giải pháp đề tài kiến nghị khi áp dụng vào thực tế sẽ đem lại hiệu quả trong điều tra tội phạm do NCTN thực hiện tại địa bàn tỉnh Hưng Yên và những địa bàn khác có đặc điểm tương tự

- Nội dung của đề tài có thể được sử dụng như là nguồn tài liệu tham khảo trong quá trình giảng dạy, học tập ở các trong các nhà trường

8 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được chia làm 03 chương

Trang 15

7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT

TRONG ĐIỀU TRA TỘI PHẠM DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TỘI PHẠM

cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay

Trang 16

8

đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể Trong trường hợp này, các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định của pháp luật có sự can thiệp của nhà nước Trong một số trường hợp đặc biệt, theo quy định của pháp luật, cơ quan của một số tổ chức xã hội cũng có thể có thẩm quyền thực hiện hoạt động này

Khoa học pháp lý xác định:

Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội khi được nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hoá những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức

cụ thể [7, tr.503]

Như vậy, ADPL có những đặc điểm cơ bản như sau:

- ADPL là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước

Đây là hoạt động chỉ do cơ quan nhà nước hay nhà chức trách trong phạm

vi thẩm quyền của mình được phép tiến hành một số hoạt động nhất định trên cơ

sở quy định của pháp luật Trong quá trình ADPL, mọi khía cạnh, mọi tình tiết đều phải được xem xét một cách cẩn trọng và dựa trên cơ sở các quy định, yêu cầu của quy phạm pháp luật đã được xác định để ra các quyết định cụ thể

Hoạt động ADPL được tiến hành chủ yếu theo ý chí đơn phương của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể

bị ADPL ADPL có tính chất bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng và các chủ thể có liên quan Điều này được thể hiện qua việc, văn bản ADPL chỉ do các

cơ quan hay nhà chức trách có thẩm quyền ADPL ban hành mang tính bắt buộc thực hiện với những tổ chức hay cá nhân có liên quan Trong những trường hợp cần thiết, quyết định ADPL còn được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước

Trang 17

Do tính chất quan trọng và phức tạp của hoạt động ADPL, chủ thể bị ADPL bên cạnh việc có thể được hưởng những lợi ích, còn có thể phải gánh chịu những hậu quả bất lợi nên pháp luật xác định rõ cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình ADPL

- ADPL là hoạt động điều chỉnh có tính cá biệt, cụ thể đối với các quan

hệ xã hội nhất định

Quy tắc xử sự có tính chất chung trong quy phạm pháp luật thông qua hoạt động ADPL sẽ được cá biệt hóa một cách chính xác thành mệnh lệnh cụ thể trong một trường hợp cụ thể, đối với một chủ thể cụ thể

- ADPL là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo

Khi ADPL, các cơ quan nhà nước hay các nhà chức trách có thẩm quyền phải nghiên cứu kỹ vụ việc, làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó để từ

đó lựa chọn quy phạm, ra quyết định, văn bản ADPL và tổ chức thi hành Trong trường hợp pháp luật chưa quy định hoặc quy định chưa rõ thì phải vận dụng một cách sáng tạo bằng cách ADPL tương tự Để đạt tới điều đó, đòi hỏi các nhà chức trách phải có ý thức pháp luật cao, có tri thức tổng hợp, có kinh nghiệm phong phú, có đạo đức trong sáng và có trình độ chuyên môn cao

Đối với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của lực lượng công an nhân dân, ADPL trong điều tra tội phạm nói chung và trong điều tra tội phạm của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH nói riêng là một trong những hoạt động có hiệu quả về phương diện chính trị, kinh tế và xã hội nhằm đấu tranh phòng, chống tội phạm

Trang 18

10

Có nhiều quan điểm đưa ra khi đề cập tới khái niệm ADPL trong điều tra tội phạm, tuy nhiên trong lĩnh vực TTXH, khái niệm này cần được đề cập

một cách cụ thể hơn Căn cứ vào vị trí, cơ cấu của Công an nhân dân “Công

an nhân dân là lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm” [25, Điều 4]; căn cứ vào chức năng của Công an

nhân dân nói chung:

Công an nhân dân có chức năng tham mưu cho Đảng, Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm; chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về an ninh quốc gia, trật tự,

an toàn xã hội; đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội [25, Điều 14]

và căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH nói riêng, tác giả có thể đưa ra khái niệm ADPL trong điều tra tội phạm của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH như sau:

Áp dụng pháp luật trong điều tra tội phạm của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật

tự xã hội nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật trong điều tra tội phạm về trật tự xã hội theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình

1.1.1.2 Đặc điểm của áp dụng pháp luật trong điều tra tội phạm của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội

Từ khái niệm ADPL trong điều tra tội phạm của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH nêu trên, có thể rút ra một số đặc điểm về hoạt động ADPL trong điều tra tội phạm của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH:

Trang 19

11

Thứ nhất, ADPL trong điều tra tội phạm của lực lượng CSĐT tội phạm

về TTXH là hoạt động do lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH tiến hành theo quy định của pháp luật

Quy định chung về thẩm quyền điều tra và của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH nói riêng được ghi nhận tại Điều 110 BLTTHS năm 2003, đồng thời được cụ thể hóa hơn trong Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm

2004 và Thông tư số 28/2014/TT-BCA ngày 7/7/2014 của Bộ công an quy định về công tác điều tra hình sự trong công an nhân dân Theo đó, lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH trong điều tra tội phạm có thẩm quyền tiến hành điều tra các tội phạm được quy định tại các chương XII, XIII, XIV, XV, XIX,

XX, XXII của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Với những quy định của pháp luật như trên thì lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH có quyền áp dụng mọi biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm cho hoạt động điều tra tội phạm được khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Thứ hai, ADPL trong điều tra tội phạm của lực lượng CSĐT tội phạm

về TTXH phải tuân thủ chặt chẽ về trình tự, thủ tục và thẩm quyền do pháp luật quy định

Pháp luật TTHS quy định cụ thể việc ADPL trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự nói chung và điều tra tội phạm nói riêng về trình tự, thủ tục, thẩm quyền của hoạt động khởi tố bị can, hỏi cung bị can, các biện pháp ngăn chặn, đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, thời hiệu điều tra, các hoạt động điều tra thu thập chứng cứ… Tóm lại, tất cả các bước trong quá trình điều tra tội phạm đều được pháp luật TTHS quy định chặt chẽ

Thứ ba, quyết định ADPL trong điều tra tội phạm của lực lượng CSĐT tội

phạm về TTXH được pháp luật bảo đảm thi hành

Điều 25, 26 và 115 BLTTHS năm 2003 cũng như Điều 7 Thông tư số

Trang 20

12

28/2014/TT-BCA quy định về công tác điều tra hình sự trong công an nhân dân quy định cơ quan nhà nước, các tổ chức và công dân phải có trách nhiệm thực hiện yêu cầu một cách nghiêm chỉnh cũng như tạo điều kiện để cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ; nghiêm cấm mọi hành

vi cản trở hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ

Thứ tư, nội dung của hoạt động ADPL trong điều tra tội phạm của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH có phạm vi rộng lớn, xuyên suốt từ khi tiếp nhận thông tin về tội phạm; thu thập tài liệu, chứng cứ, xác định cơ sở khởi

tố, thời điểm khởi tố, khởi tố vụ án hình sự theo tội danh nào, khởi tố ai với

tư cách bị can và về tội gì; tổ chức tiến hành các hoạt động điều tra như: khám nghiệm hiện trường, khám xét, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại ; tổ chức mối quan hệ phối hợp giữa các lực lượng, phương tiện, biện pháp trong điều tra; xây dựng kế hoạch điều tra toàn diện, hợp lý cho quá trình điều tra cho đến khi kết thúc điều tra và làm hồ sơ đề nghị truy tố người phạm tội để chuyển sang VKSND Nội dung này được thể hiện thông qua một số mặt sau:

- ADPL trong tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác tội phạm và khởi tố vụ

án hình sự

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của quá trình TTHS, trong

đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án Quyết định khởi tố vụ án là cơ

sở pháp lý đầu tiên để thực hiện việc điều tra

Mọi thông tin không được xác định từ các cơ sở luật định thì không thể coi là căn cứ khởi tố vụ án hình sự Điều 100 BLTTHS năm 2003 quy định 5

cơ sở khởi tố vụ án hình sự như sau:

+ Tố giác về tội phạm là việc công dân tố cáo hành vi vi phạm pháp luật hình sự với cơ quan, tổ chức

Trang 21

13

+ Tin báo của cơ quan, tổ chức là những thông tin về tội phạm do các

cơ quan, tổ chức phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân và báo cáo bằng văn bản với CQCSĐT

+ Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng: Để phát huy vai trò to lớn của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, vì vậy khi có tin báo về tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tiến hành xem xét, xác minh tin báo đó

+ CQCSĐT, VKSND, TAND, bộ đội biên phòng, hải quân, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan khác của công an, quân đội được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm Tất cả những thông tin, tài liệu do các cơ quan tiến hành tố tụng và các

cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra thu thập theo đúng thủ tục tố tụng xác định dấu hiệu tội phạm là cơ sở khởi tố vụ án hình sự

+ Người phạm tội tự thú: “Tự thú” là việc người đã thực hiện hành vi phạm tội tự nhận, khai rõ hành vi phạm tội của mình trước cơ quan, tổ chức

Mục đích của việc khởi tố vụ án hình sự là việc xác nhận về mặt pháp

lý một vụ việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm hay không để tiến hành điều tra theo quy định của pháp luật Do đó khi xác định không có dấu hiệu tội phạm xảy ra thì không được khởi tố vụ án hình sự

Theo quy định tại Điều 104 và 108 BLTTHS năm 2003, CQCSĐT phải gửi quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố cho VKSND cùng cấp để kiểm sát

Tuy nhiên, do yêu cầu của sự hài hoà giữa mục tiêu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm; lợi ích, nguyện vọng của người bị hại nên khoản 1 Điều 105 của BLTTHS năm 2003 quy định một số tội phạm cụ thể chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của người bị hại, trong đó có một số tội

Trang 22

14

phạm thuộc thẩm quyền điều tra của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH: khoản 1 Điều 104 BLHS năm 1999 tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác; khoản 1 Điều 105 BLHS năm 1999 tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; khoản 1 Điều 106 BLHS năm 1999 tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; khoản 1 Điều 108 BLHS năm 1999 tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của người khác; khoản 1 Điều 109 BLHS năm 1999 tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính; khoản 1 Điều 111 BLHS năm 1999 tội hiếp dâm; khoản 1 Điều 113 BLHS năm 1999 tội cưỡng dâm; khoản 1 Điều 121 BLHS năm 1999 tội làm nhục người khác; khoản 1 Điều 122 BLHS năm 1999 tội vu khống

- ADPL trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong TTHS

Về lý luận, các biện pháp ngăn chặn trong TTHS là những biện pháp cưỡng chế trong TTHS được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với người chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự

Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, pháp luật TTHS của nước ta quy định nhiều biện pháp ngăn chặn khác nhau, bao gồm biện pháp bắt người (trong đó có biện pháp bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người trong trường hợp khẩn cấp; bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã), tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh và đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

Kết quả của hoạt động này là việc chủ thể có thẩm quyền ra các quyết định ADPL, như Lệnh tạm giữ, Quyết định tạm giam…

Trang 23

15

Những biện pháp ngăn chặn khi được áp dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền con người, quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác Vì vậy, khi áp dụng những biện pháp này, chủ thể có thẩm quyền phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật TTHS về điều kiện, về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục, về thời hạn đối với từng biện pháp ngăn chặn khi áp dụng trên thực tế

- ADPL trong tiến hành các hoạt động điều tra

Các hoạt động điều tra tội phạm được BLTTHS năm 2003 quy định từ Chương X đến Chương XIII, cụ thể là từ Điều 126 đến Điều 159 Trong quá trình điều tra vụ án hình sự nói chung và điều tra tội phạm nói riêng, lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH có quyền áp dụng tất cả các hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật để làm rõ về tội phạm và người thực hiện hành

vi phạm tội Theo đó, trong điều tra tội phạm, lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH được quyền áp dụng linh hoạt các hoạt động điều tra dựa trên cơ sở điều tra thực tế đối với từng tội phạm cụ thể:

+ Khởi tố bị can và hỏi cung bị can;

+ Lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; đối chất, nhận dạng;

+ Khám xét, thu giữ, tạm giữ và kê biên tài sản;

+ Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra và giám định

Để thực hiện các hoạt động điều tra này, cCQCSĐT có thể ra các quyết định ADPL như là Quyết định khởi tố bị can, Lệnh khám xét …

1.1.2 Yêu cầu áp dụng pháp luật trong điều tra tội phạm của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội

Yêu cầu ADPL trong điều tra tội phạm của lực lượng CSĐT tội phạm

về TTXH là việc bảo đảm cho mọi hành vi phạm tội và người thực hiện hành

Trang 24

16

vi phạm tội phải được phát hiện, xử lý kịp thời, chính xác theo các quy định của pháp luật hiện hành, bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và không làm oan, sai người vô tội

Trên cơ sở đó, hoạt động ADPL trong điều tra tội phạm của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH cần đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Yêu cầu về tính hợp pháp:

Yêu cầu cơ bản của hoạt động ADPL trong điều tra tội phạm của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH là yêu cầu về tính hợp pháp Yêu cầu này đòi hỏi khi ADPL phải đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục và thời hạn mà BLTTHS năm 2003 cũng như các văn bản pháp luật khác có liên quan

Trước hết, tính hợp pháp của hoạt động ADPL trong điều tra tội phạm của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH thể hiện ở chỗ, lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH có thực hiện theo đúng thẩm quyền hay không Thẩm quyền ADPL của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH được xác định theo tội phạm

cụ thể đã được thực hiện có thuộc nhóm các tội xâm phạm TTXH hay không, được xác định theo lãnh thổ nơi tội phạm đã thực hiện và được xác định theo đối tượng đã thực hiện tội phạm Để từ đó xác định chính xác lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH thuộc cấp nào có thẩm quyền trực tiếp hành điều tra tội phạm

Tiếp đến, tính hợp pháp của ADPL trong điều tra tội phạm của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH còn thể hiện ở việc các quyết định ADPL phải được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục và thời hạn quy định Lực lượng CSĐt tội phạm về TTXH phải thường xuyên kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp, trình tự ban hành các quyết định của mình đã ban hành như Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can, Quyết định tạm giam …, khi ban hành các quyết định đó đã có quyết định phê chuẩn các quyết định của VKSND cùng cấp hay chưa…

Trang 25

17

Đây là yêu cầu tất yếu và bắt buộc không thể thiếu được của việc ADPL trong điều tra tội phạm của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH

- Yêu cầu về tính khách quan, cần thiết

Tính khách quan, cần thiết khi ADPL trong điều tra tội phạm của lực lương th CSĐT tội phạm về TTXH thể hiện ở chỗ, điều tra viên khi được Thủ trưởng hoặc Phó thủ trưởng CQCSĐT phân công thụ lý, tiến hành các hoạt động điều tra tội phạm theo quy định của pháp luật cần phải nghiên cứu, đánh giá các tài liệu, đồ vật cũng như các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ

án một cách khách quan và toàn diện; nghiên cứu xem các tài liệu, đồ vật, chứng cứ thu thập được đã đầy đủ hay chưa, đánh giá về giá trị chứng minh, giá trị sử dụng của những tài liệu, đồ vật, chứng đã thu thập được có mức độ liên quan như thế nào đến những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án Đặc biệt, khi xem xét về tính khách quan, cần thiết của các tài liệu, đồ vật, chứng cứ đã thu thập được tiên hành một cách nghiêm túc, không được áp đặt

ý chí chủ quan của mình hoặc nhìn nhận sự việc một cách sơ sài, phiến diện

Tính khách quan, cần thiết của ADPL trong điều tra tội phạm của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH còn được thể hiện bằng việc vận dụng đúng nội dung quy định pháp luật, phải xem xét, đánh giá cũng như tính toán các quyết định ADPL đã ban hành có phù hợp với thực tế điều tra tội phạm hay chưa, có thật sự cần thiết hay chưa để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án đạt được hiệu quả cao nhất Điều này đòi hỏi Thủ trưởng hoặc Phó thủ trưởng CQCSĐT, điều tra viên là những người có thẩm quyền khi ra quyết định phải đánh giá phân tích kỹ những quy phạm pháp luật cần áp dụng; những tình tiết, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thoả mãn đầy đủ nội dung quy phạm pháp luật cần điều chỉnh hay chưa và có thật sự cần thiết hay không

- Yêu cầu về tính khả thi

Theo quy định của BLTTHS năm 2003 các quyết định, yêu cầu của lực

Trang 26

18

lượng CSĐT tội phạm về TTXH phải được các chủ thể bị áp dụng tự nguyện,

tự giác nghiêm túc chấp hành, thực hiện nếu không sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước trong tố tụng hình sự như áp giải, dẫn giải… Tính khả thi đòi hỏi các quyết định ADPL trong điều tra tội phạm của lực lương CSĐT tội phạm về TTXH phải có điều kiện và phải được thi hành trên thực

tế Khi đó, các quyết định ADPL được ban hành mới có ý nghĩa và đạt được mục đích của mình Các quyết định ADPL của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH như Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can, Lệnh tạm giữ, Quyết định tạm giam… phải được thi hành ngay trên thực tế, hoặc ngay sau khi có Quyết định phê chuẩn của VKSND cùng cấp Khi ra các quyết định ADPL như Quyết định tạm giam, Lệnh tạm giữ…, chủ thể có thẩm quyền phải xem xét, tính toán xem cần tạm giữ, tạm giam bao nhiêu ngày trên

cơ sở tính chất nghiêm trọng của tội phạm đã xảy ra, mức độ phức tạp của vụ án… để có đủ thời gian điều tra làm rõ các tình tiết có liên quan đến tội phạm

và người thực hiện tội phạm

Tóm lại, yêu cầu về tính hợp pháp, tính khách quan, cần thiết và tính khả thi là những yêu cầu cơ bản của hoạt động ADPL trong điều tra tội phạm của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH Thực hiện tốt các yêu cầu này thì hoạt động ADPL trong điều tra tội phạm của lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH sẽ đạt hiệu quả cao và đúng quy định của pháp luật

1.2 Khái luận chung về tội phạm do người chưa thành niên thực hiện và áp dụng pháp luật trong điều tra tội phạm do người chưa thành niên thực hiện của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội

1.2.1 Khái niệm về tội phạm do người chưa thành niên thực hiện

NCTN là những người chưa phát triển đầy đủ về nhân cách, thể chất, chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ của một công dân Bộ luật dân sự năm

2005 quy định “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên

Trang 27

19

Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên” [21, Điều 18] Đến Bộ luật

dân sự năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2017) tiếp tục khẳng định và quy

định tại khoản 1 Điều 20 “Người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên”

Từ điển Bách khoa Việt Nam, Quyển 3 trang 200 có định nghĩa: “Người chưa

thành niên là người chưa đủ 18 tuổi” Công ước của Liên Hợp quốc về quyền

trẻ em năm 1989 quy định: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ

trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” Gần đây nhất, Luật trẻ em năm 2016 được Quốc hội thông qua ngày

5/4/2016 và có hiệu lực từ ngày 1/6/2017 nhằm thay thế cho Luật bảo vệ,

chăm sóc và giáo dục trẻ năm 2004 cũng đã quy định tại Điều 1 “Trẻ em là

người dưới 16 tuổi”… Nhìn vào hệ thống các quy định về NCTN và trẻ em

trong các văn bản trên chúng ta thấy rằng không có một văn bản nào đề cập một cách cụ thể và đầy đủ về khái niệm NCTN hay trẻ em mà chỉ đề cập về

độ tuổi Tuy nhiên, xét theo độ tuổi, có thể thấy khái niệm NCTN được nêu ở các văn bản trên là khái niệm rộng hơn khái niệm trẻ em Theo đó, người dưới

18 tuổi là NCTN và người dưới 16 tuổi là trẻ em

BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về tội phạm:

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [23, Điều 8]

Trang 28

20

Còn Điều 12 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về

độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự như sau:

- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi loại tội phạm

- Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Như vậy, NCTN thực hiện tội phạm và phải chịu TNHS có thể là:

+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm một tội được quy định trong BLHS

+ Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

Tội phạm do NCTN thực hiện cũng có đầy đủ bốn dấu hiệu của tội phạm nhưng nó có điểm khác biệt cơ bản so với tội phạm nói chung về chủ thể của tội phạm Tội phạm do NCTN thực hiện thì chủ thể có phạm vi hẹp hơn, đó là những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời tương ứng với độ tuổi là tính phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm này cũng khác

Từ phân tích trên có thể hiểu tội phạm do NCTN thực hiện như sau:

Tội phạm do NCTN thực hiện là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có

đủ năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến các quan

hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ

1.2.2 Đặc điểm về tội phạm do người chưa thành niên thực hiện

Tội phạm do NCTN thực hiện do xuất phát từ những đặc điểm đặc biệt

về tâm lý, lứa tuổi và sức khoẻ nên có những nét đặc trưng sau:

- NCTN phạm tội thường xuất phát từ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, hoặc gia đình không hoàn thiện; trước khi phạm tội thường có các biểu

Trang 29

21

hiện lệch lạc về đạo đức, có những vi phạm pháp luật khác NCTN phạm tội phần lớn đều ở độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và đa số là nam giới, nữ giới chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ Tội phạm mà NCTN thực hiện phần lớn là các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; các tội xâm phạm sở hữu; các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng

- Hành vi gây án:

Các hành vi gây án thường có nguyên nhân rất đơn giản do chưa nhận thức được đầy đủ hậu quả gây ra, được thực hiện rất nhanh sau khi nảy sinh ý định phạm tội Hầu hết không có giai đoạn chuẩn bị phạm tội, khi có điều kiện thích hợp là thực hiện hành vi phạm tội hoặc không có ý thức chuẩn bị

- Thủ đoạn gây án:

Thủ đoạn gây án của các đối tượng là NCTN thường ít tinh vi, xảo quyệt, ít có sự che dấu tội phạm như: xoá dấu vết, làm giả hiện trường đánh lạc hướng điều tra của CQĐT… Bên cạnh đó cũng có trường hợp phạm tội như tội trộm cắp, cướp tài sản, cướp giật tài sản thủ đoạn thường là tinh vi hơn như phân công vai trò, chuẩn bị thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện, có nơi cất giấu, tiêu thụ tài sản Hoạt động tội phạm ở lứa tuổi này hiện nay có xu hướng hình thành các ổ nhóm để hành động, gia tăng sử dụng bạo lực, công cụ, phương tiện để phạm tội, như: lê, súng tự chế, kiếm

Bên cạnh đó, ở NCTN còn thể hiện cả ý thức phạm tội, đó là có sự chuẩn bị trước; phạm tội có tổ chức hoặc có dấu hiệu phạm tội theo nhóm (2 người trở lên) và có người cầm đầu, tổ chức hoặc chỉ huy Địa bàn gây án thường xảy ra phổ biến ở các thành phố, thị xã, thị trấn, đặc biệt là các thành phố lớn Ở mỗi địa bàn khác nhau, với những điều kiện về kinh tế, xã hội khác nhau, tội phạm được thực hiện cũng có những đặc trưng nhất định Nếu như ở các vùng nông thôn, tội phạm chủ yếu và phổ biến là trộm cắp tài sản,

cố ý gây thương tích, hiếp dâm, thì ở các đô thị, thành phố lớn, nơi tập trung

Trang 30

- Hậu quả, tác hại:

Cơ bản, hành vi phạm tội của các đối tượng NCTN thường diễn ra nhỏ

lẻ, không mang tính hệ thống, đơn giản, tuy nhiên theo dõi các vụ phạm tội gần đây cho thấy, việc thiếu kiểm soát hoạt động của nhóm đối tượng NCTN

là cơ sở để các vụ phạm tội nghiêm trọng, manh động xảy ra ngày một nhiều trong giới trẻ, gây thiệt hại tổn thất lớn về vật chất, tinh thần không chỉ đối với nạn nhân, mà còn gây mất an toàn TTXH, ảnh hưởng đến hoạt động quản

lý nhà nước về an ninh trật tự, và đây chính là mầm mống phát triển của tội phạm trong tương lai

- Động cơ, mục đích gây án:

Động cơ, mục đích phạm tội do NCTN thực hiện thường đơn giản, rõ ràng Các đối tượng chủ yếu là phạm tội lần đầu, xuất phát điểm là do nghịch ngợm, tò mò Còn động cơ gây án của NCTN không sâu sắc, mang tính đặc thù của lứa tuổi, chủ yếu là do phản ứng với tác động của các yếu tố ngoại cảnh, do bị kích động của ngoại cảnh, số có động cơ vì vụ lợi chiếm tỷ lệ cao NCTN là những người đang ở độ tuổi phát triển, chưa có nhiều kinh nghiệm sống, quá trình nhận thức bị hạn chế, nông cạn khi phân tích, đánh giá hay nhìn nhận các vấn đề xã hội, dễ bị tác động bởi các yếu tố của môi trường sống bên ngoài Vì thế, dễ bắt chước, bị lôi kéo vào những việc làm tiêu cực Hơn nữa, cùng với đặc điểm tâm lý ở NCTN, các em dễ bị xúc động, hiếu

Trang 31

23

động, hiếu thắng, thích mạo hiểm và luôn muốn thể hiện cái tôi, cố gắng tỏ ra mình là người can đảm, dũng cảm hơn người, không chịu thua kém bất cứ ai, xem thường các nội quy, yêu cầu đặt ra từ phía gia đình, nhà trường và xã hội

1.2.3 Khái luận về hoạt động điều tra tội phạm do người chưa thành niên thực hiện

Theo quy định của pháp luật, bên cạnh việc áp dụng các quy định mang tính chung nhất, NCTN phạm tội được điều tra, xử lý theo những chế định riêng BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) dành riêng Chương X quy định đối với NCTN phạm tội, trong đó quy định nguyên tắc xử lý đối với NCTN phạm tội:

Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Việc truy cứu trách nhiệm hình

sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm [23, Điều 69]

Khi ADPL trong điều tra tội phạm do NCTN thực hiện ngoài việc tuân thủ các quy định chung về điều tra vụ án hình sự thì còn phải tiến hành theo quy định tại Chương XXXII của BLTTHS năm 2003 (Thủ tục tố tụng đối với NCTN) Đặc biệt chú ý quy định tại từ Điều 302 đến 306 BLTTHS năm 2003 khi tiến hành điều tra; việc áp dụng các biện pháp như bắt, tạm giữ, tạm giam; tiến hành giám sát đối với NCTN phạm tội; bào chữa; tham gia tố tụng của gia đình, nhà trường, tổ chức Điều tra viên tiến hành điều tra đòi hỏi phải là những người có những hiểu biết nhất định, cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục, hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm do NCTN thực hiện

Như vậy, trong điều tra tội phạm do NCTN thực hiện phải được tiến

Trang 32

24

hành một cách tỉ mỉ, chính xác để thu thập đầy đủ chứng cứ phạm tội và tính đến sự cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với họ

1.2.3.1 Chủ thể tiến hành và quan hệ phối hợp trong điều tra tội phạm

do người chưa thành niên thực hiện

Theo quy định tại Điều 33, Điều 110 BLTHHS năm 2003 và Điều 1 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004, phải căn cứ vào tính chất, mức

độ của hành vi phạm tội, căn cứ vào đặc điểm nhân thân của người phạm tội

và căn cứ vào nơi tội phạm được thực hiện hoặc nơi tội phạm cư trú để xác định chính xác chủ thể có thẩm quyền tiến hành điều tội phạm do NCTN thực hiện thuộc về chủ thể nào

Trong quá trình điều tra, chủ thể tiến hành phối hợp với các chủ thể khác để phát hiện, tổ chức công tác điều tra và xử lý tội phạm:

- Sự phối hợp giữa điều tra viên và cán bộ trinh sát, giữa các cấp trong phạm vi chủ thể tiến hành:

+ Sự phối hợp giữa điều tra viên và cán bộ trinh sát trong cùng đơn vị: Cán bộ trinh sát khi tiến hành công tác nghiệp vụ của lực lượng công an nhân dân cần chủ động phát hiện vụ việc và đối tượng trên tuyến, địa bàn có liên quan đến NCTN thực hiện hành vi phạm tội Những vụ việc và đối tượng

đó qua công tác xác minh, thu thập thông tin nếu xác định có dấu hiệu tội phạm thì chuyển cho điều tra viên tiến hành thủ tục khởi tố điều tra theo quy định tại Điều 100 BLTTHS năm 2003

Trong quá trình điều tra, cán bộ trinh sát tiến hành hỗ trợ điều tra vụ án theo yêu cầu của điều tra viên và sự phân công của Thủ trưởng CQCSĐT

Điều tra viên trong khi thụ lý điều tra vụ án, áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định của BLTTHS để thu thập chứng cứ nếu xét thấy cần thiết thì

đề xuất Thủ trưởng CQCSĐT phân công cán bộ trinh sát tham gia điều tra

+ Sự phối hợp giữa CQCSĐT các cấp:

Trang 33

25

CQCSĐT các cấp tiến hành điều tra theo đúng thẩm quyền của mình, trong trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền của mình thì phải đề nghị VKSND cùng cấp ra quyết định chuyển vụ án cho CQCSĐT có thẩm quyền tiếp tục điều tra tho đúng thẩm quyền

- Quan hệ phối hợp giữa chủ thể tiến hành với công an cơ sở, và các lực lượng khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra:

Trong công tác của mình, công an cơ sở, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chủ động và kịp thời phát hiện những vụ việc, đối tượng là NCTN phạm tội để chuyển cho CQCSĐT có thẩm quyền tiến hành điều tra theo quy định của pháp luật TTHS Trong quá trình điều tra, CQCSĐT phối hợp với công an cơ sở, các lực lượng khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra để thu thập thông tin, tài liệu giúp cho việc điều tra được chính xác, toàn diện và việc xử lý NCTN phạm tội theo đúng các quy định của pháp luật

- Quan hệ phối hợp giữa CQCSĐT với các cơ quan nhà nước, tổ chức

xã hội và gia đình của NCTN

+ Mối quan hệ giữa CQCSĐT với gia đình hoặc người giám hộ của NCTN, với nhà trường, các tổ chức đoàn thể xã hội, người bào chữa cho NCTN là mối quan hệ luật định trong quá trình điều tra vụ án do NCTN thực hiện nhằm đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của NCTN và cũng như bảo đảm cho kết quả điều tra được khách quan, toàn diện

+ CQCSĐT cũng phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong quá trình điều tra tội phạm do NCTN thực hiện nhằm thực hiện chức năng giám sát của các cơ quan, tổ chức và đảm bảo quá trình thu thập thông tin, tài liệu phục vụ cho việc điều tra và đánh giá vụ án một cách toàn diện Sự phối hợp cũng cần thiết trong quản lý người phạm tội và lựa chọn biện pháp điều tra, xử lý NCTN một cách phù hợp với thực tiễn giải quyết vụ án

Trang 34

Đối với NCTN, hành vi phạm tội có thể gắn liền với các hành vi khác như gây rối trật tự công cộng, cướp tài sản, cướp giật tài sản Do đó, phải điều tra chứng minh hành vi phạm tội có đủ yếu tố cấu thành tội phạm độc lập nào khác được quy định trong BLHS nữa hay không

- Thứ hai, chứng minh người phạm tội

Khi chứng minh tội phạm do NCTN thực hiện cần thu thập những chứng cứ để chứng minh, gồm:

+ Chứng cứ xác định vai trò của NCTN trong việc thực hiện tội phạm, động cơ, mục đích và hoàn cảnh phạm tội Xác định xem có sự liên quan của người đã thành niên đến việc phạm tội của NCTN hay không; nếu có thì vai trò, tác động của người đã thành niên đến NCTN như thế nào

+ Tính chất của hành vi phạm tội: Hành vi đó có cần thiết và đủ điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc có thể xử lý bằng biện pháp nào khác hay không

+ Lỗi của NCTN khi thực hiện tội phạm là lỗi cố ý hay vô ý

+ Năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi của NCTN

Trang 35

27

+ Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người phạm tội

+ Nguyên nhân, điều kiện phạm tội của NCTN

+ Điều kiện sinh sống và giáo dục, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của NCTN

- Thứ ba, chứng minh về tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra

Tính chất và thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra đôi khi có ý nghĩa xác định có phải là tội phạm hay không Đối với NCTN, việc chứng minh tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, còn là căn cứ để quyết định hình thức xử lý đối với họ

Ngoài những vấn đề phải chứng minh theo quy định tại Điều 63 BLTTHS năm 2003, khi điều tra tội phạm do NCTN thực hiện CQCSĐT còn phải chứng minh những vấn đề khác cho sự “cần thiết” áp dụng biện pháp hành chính hay hình sự để xử lý NCTN phạm tội

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động áp dụng pháp luật trong điều tra tội phạm do người chưa thành niên thực hiện

1.2.4.1 Yếu tố pháp luật

Lực lượng công an nhân nói chung và lực lượng CSĐT tội phạm về TTXH nói riêng là một trong những cơ quan thực thi pháp luật Hoạt động ADPL trong điều tra tội phạm do NCTN thực hiện được tiến hành trên cơ sở quy định của BLTTHS và các văn bản pháp luật có liên quan để bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong TTHS và các nguyên tắc khác do BLTTHS quy định Chủ thể có thẩm quyền phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền khi ra các quyết định ADPL

BLTTHS quy định các vấn đề có liên quan đến thẩm quyền, trình tự và thủ tục ADPL trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung, cũng như điều tra tội phạm do NCTN thực hiện nói riêng

Trang 36

28

BLTTHS được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kì họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 Nội dung của bộ luật đã đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình

sự nói chung và điều tra tội phạm do NCTN thực hiện nói riêng, đem lại những kết quả tích cực trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Đồng thời các quy định của BLTTHS nhằm nêu cao hơn trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bằng việc quy định cụ thể hơn nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể

Bên cạnh BLTTHS còn có các văn bản pháp luật khác góp phần tạo dựng một khung pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động ADPL trong giải quyết các

vụ án hình sự nói chung và điều tra tội phạm do NCTN thực hiện nói riêng, như Luật công an nhân dân năm 2005, Luật công an nhân dân năm 2014, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004, Thông tư số 28/20014/TT-BCA quy định về công tác điều tra hình sự trong công an nhân dân và các văn bản dưới luật khác có liên quan Những văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn

có vai trò rất quan trọng trong bảo đảm hiệu quả hoạt động ADPL trong điều tra vụ án hình sự cũng như điều tra tội phạm do NCTN thực hiện Đặc biệt trong hoạt động thực tiễn, nhiều vấn đề đang đặt ra nhưng BLTTHS chưa đáp ứng được, thì việc ban hành văn bản hướng dẫn dưới luật là cần thiết và phù hợp để khắc phục những bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện BLTTHS

1.2.4.2 Yếu tố con người

ADPL nói chung và ADPL trong điều tra tội phạm do NCTN thực hiện nói riêng hoạt động là do con người thực hiện và phụ thuộc nhiều vào khả năng chuyên môn của người trực tiếp làm công tác ADPL, trong TTHS đó là những người tiến hành TTHS

Hiện nay, tình trạng oan, sai trong điều tra tội phạm nói chung và

Trang 37

29

trong điều tra tội phạm do NCTN thực hiện nói riêng vẫn còn, vì thế chất lượng ADPL trong hoạt động này chỉ có thể nâng lên khi yếu tố về con người được đảm bảo

Về tổ chức, bộ máy tổ chức của công an nhân dân nói chung và của lực lượng tiến hành công tác điều tra nói riêng còn có những chỗ chưa phù hợp, tính ổn định chưa cao, cần thiết phải tiến hành hoàn thiện Về lâu dài cần nghiên cứu đổi mới tổ chức, sắp xếp lại sao cho phù hợp, thuận tiện cho công tác điều tra theo hướng thu gọn đầu mối, kết hợp chặt chẽ giữa công tác trinh sát và hoạt động điều tra TTHS

Đối với đội ngũ cán bộ, cần được tạo điều kiện để bồi dưỡng, học tập nâng cao trình độ năng lực, chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp Thực tế hiện nay, trình độ và năng lực chuyên môn của cán bộ điều tra các cấp vẫn còn nhiều bất cập Số người có năng lực, có kinh nghiệm, giỏi chuyên môn chưa đáp ứng được so với yêu cầu thực tiễn Để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới do Đảng, Nhà nước đề ra và phục vụ cho công tác điều tra cần phải đặc biệt nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ làm công tác điều tra Xây dựng lực lượng điều tra viên có kỹ năng nghề nghiệp, có kiến thức thực tiễn, có phẩm chính trị vững vàng, có đạo đức trong sạch và đặc biệt dũng cảm trong đấu tranh phòng, chống tội phạm

Ngoài các yếu tố nêu trên, hoạt động ADPL trong điều tra tội phạm do NCTN thực hiện còn chịu ảnh hưởng của một số các yếu tố khác Như là:

- Yếu tố chính trị: Thể chế chính trị luôn giữ vai trò định hướng, chi phối toàn bộ các hoạt động trong xã hội Hệ thống pháp luật được xây dựng trên nền tảng của hệ thống chính trị Nhà nước được xây dựng nhằm thực hiện

sứ mệnh của đảng cầm quyền Nhà nước lại có ảnh hưởng thực sự tới các cơ quan và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, trong đó bao gồm

cả hoạt động ADPL trong điều tra tội phạm do NCTN thực hiện

Trang 38

30

- Ý thức pháp luật của chủ thể bị ADPL có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của hoạt động ADPL Chủ thể bị ADPL có ý thức pháp luật càng cao thì họ càng có điều kiện để kiểm tra, giám sát và điều chỉnh hành vi của chủ thể ADPL, qua đó đòi hỏi chủ thể ADPL phải tự bản thân không ngừng nâng cao ý thức trách nhiệm và hiệu quả trong quá trình ADPL

- Những điều kiện vật chất, kĩ thuật cần thiết bảo đảm cho hoạt động ADPL Nhiều quy định của pháp luật, muốn được thực hiện trong thực tế đồi hỏi phải có một khoản chi phí nhất định Kinh phí hoạt động cho hoạt động ADPL là một trong những điều kiện quan trọng để cho ADPL có hiệu quả Ngoài ra, còn cần quan tâm tới chế độ chính sách đối với người trực tiếp làm công tác ADPL, giúp họ giảm bớt những khó khăn về vật chất để họ có thể yên tâm công tác

1.2.5 Những đặc thù của hoạt động áp dụng pháp luật của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội trong điều tra tội phạm do người chưa thành niên thực hiện

NCTN là một trong các đối tượng đặc biệt được pháp luật hình sự và pháp luật TTHS Việt Nam quy định Hoạt động ADPL trong điều tra tội phạm

do NCTN thực hiện nói riêng phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định

Trước hết, đó là các nguyên tắc mang tính chung nhất về việc xử lí đối với NCTN phạm tội được quy định tại Điều 69 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009):

- Việc xử lý đối với NCTN phạm tội phải chủ yếu nhằm giáo dục, giúp

đỡ họ sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho

xã hội Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử đối với hành vi phạm tội do NCTN thực hiện, các chủ thể có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cũng như là nguyên nhân và điều kiện thực hiện tội phạm

Trang 39

31

- NCTN phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây nguy hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ đồng thời được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức đứng

+ Giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ 01 năm đến 02 năm đối với NCTN phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng Người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải chấp hành đầy đủ những nghĩa vụ về học tập, lao động, tuân theo pháp luật dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền xã, phường, thị trấn và tổ chức xã hội được tòa án giao trách nhiệm

+ Đưa vào trường giáo dưỡng từ 01 năm đến 02 năm đối với NCTN phạm tội, nếu thấy do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, do nhân dân và môi trường sống của người đó mà cần đưa họ vào một tổ chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ

+ Không được xử tù chung thân hoặc tử hình đối với NCTN phạm tội Khi xử phạt tù có thời hạn, tòa án cho NCTN phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng

Không áp dụng hình phạt tiền đối với NCTN phạm tội ở độ tuổi từ đủ

14 đến dưới 16 tuổi

Không áp dụng hình phạt bổ sung như phạt tiền, cấm đi khỏi nơi cư trú đối với NCTN phạm tội

Trang 40

Cùng với những quy định của BLHS, BLTTHS năm 2003 cũng đã quy định thủ tục đặc biệt trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với NCTN phạm tội tại chương XXXII:

- Về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử NCTN phạm tội, được quy định Điều 302 BLTTHS năm 2003: Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán tiến hành tố tụng đối với NCTN phạm tội phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm do NCTN thực hiện Có kinh nghiệm trong công tác giáo dục và điều tra đối với NCTN Khi tiến hành điều tra, truy tố và xét xử cần phải xác định rõ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của họ, làm rõ về điều kiện, môi trường sinh sống và giáo dục đối với họ, hành vi phạm tội của

họ có hay không có người lớn xúi dục, làm rõ những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, làm rõ những tình tiết giảm nhẹ cũng như những tình tiết tăng nặng để áp dụng các biện pháp xử lý thích hợp, đúng pháp luật

- Việc bắt, tạm giữ, tạm giam đối với NCTN phạm tội phải tuân theo những quy định tại Điều 303 BLTTHS năm 2003:

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các Điều 80 BLTTHS năm 2003 (bắt bị can, bị cáo để tạm giam), Điều 81 BLTTHS năm 2003 (bắt người trong trường hợp khẩn cấp), Điều 82 BLTTHS năm 2003 (bắt người phạm tội quả tang hoặc

Ngày đăng: 26/09/2020, 00:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w