Bộ phận Marketing-kinh doanh: Hoạt động tuyên truyền, quảng bá hình ảnh thương hiệu và sản phẩm củaProtrade đến được các khách hàng tiềm năng, thực hiện các hoạt động giao tiếp - đàmphá
Trang 1THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM SANG THỊ TRƯỜNG HOA
KỲ TẠI CÔNG TY TNHH MTV MAY MẶC BÌNH DƯƠNG
2.1 Giới thiệu công ty TNHH MTV May Mặc Bình Dương
Ngành nghề kinh doanh: May xuất khẩu
Địa chỉ: Bình Hòa, Thuận An, Bình Dương
Điện thoại: 0650.755143 / 755519 Fax: 0650.755415
Email: info@protradegarment.com
Website: http://www.protradegarment.com
Lĩnh vực hoạt động : Sản xuất quần áo may sẵn
Vị trí Tọa lạc trên khu đất có diện tích 65.803 m2, trong đó khối văn phòng đượcthiết kế xây dựng trong khuôn viên rộng 1.082m2
Nguồn vốn hoạt động Với số vốn cố định 40.525,21 triệu VNĐ và vốn lưuđộng là 177.531,5 triệu VNĐ
Tổng số Cán bộ, Công nhân viên, kỹ sư làm việc tại công ty lên đến 2800 lao
Kim ngạch xuất khẩu tính từ đầu năm đến hết tháng 06/2011 doanh thu xuất
khẩu của công ty đạt 24,2 triệu USD
Thị trường xuất khẩu chủ yếu : ANH, ĐỨC, MỸ, BỈ, NGA, NHẬT, TRUNG QUỐC…
Năng lực sản xuất :
o JACKETS:1.200.000 sản phẩm/năm;
o SƠ MI: 1.100.000 sản phẩm/năm;
o CÁC LOẠI QUẦN: 2.000.000 sản phẩm/năm
Trang 2Công ty là một trong những đơn vị tiêu biểu về ứng dụng công nghệ hiện đại,
đạt danh hiệu “Doanh nghiệp áp dụng công nghệ thông tin tốt” do Hiệp hội Dệt May
Việt Nam phối hợp Thời báo Kinh tế Sài Gòn bình chọn, và Bộ Công nghiệp tặng
bằng khen “Doanh nghiệp tiêu biểu ngành dệt – may Việt Nam” 6 năm liền 2005 –
2010
2.1.2 Quá trình phát triển
Ngày 25/10/1982 theo quyết định số 02 và 03 của Thường vụ tỉnh Sông
Bé nay là tỉnh Bình Dương thành lập XÍ NGHIỆP XUẤT KHẨU HÀNG CAO
SU 3/2 SÔNG BÉ Hoạt động kinh doanh được Công ty ban đầu áp dụng là đa sảnphẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu chủ yếu sang các nướctheo Xã Hội Chủ Nghĩa lúc bấy giờ như: Liên Xô cũ, Tiệp Khắc cũ, Cộng HoàDân Chủ Đức Nên lúc ban đầu đã đầu tư xây dựng các phân xưởng sản xuất vớicác sản phẩm khác nhau như : Dép xốp, Nước đá, Gỗ, Hồ tiêu
Ngày 30/09/1984 Công ty vinh dự lần đầu tiên đón nhận Huân ChươngLao Động Hạng 3 theo (QĐ số 539/KT-HĐNN), đây là phần thưởng cao quý củaHội đồng nhà nước ban tặng cho doanh nghiệp nhà nước hưởng ứng tốt chủtrương cho phép của Đảng là Doanh nghiệp nhà nước cùng làm kinh tế với mụcđích lúc bấy giờ là giúp các Công ty chủ động hơn về tài chính của mình
Ngày 16/11/1985 Công ty lại một lần nữa đón nhận Huân Chương LaoĐộng Hạng I theo (QĐ 777/KT-HĐNN)
Đến năm 1988 tình hình kinh tế ở các nước Đông Âu, do bị ảnh hưởng bởitình hình chính trị làm cho hoạt động kinh doanh xuất hàng sang các nước nàykhông thể thực hiện được Đứng trước những khó khăn này Ban giám đốc đãchuyển hướng kinh doanh, chính là những đơn vị kinh tế không hoạt đông tốt nữa
sẽ bị giải thể và thành lập các đơn vị kinh tế mới phù hợp với xu hướng phát triểntrong tương lai
Tháng 08/1989 xí nghiệp may được thành lập với quy mô nhỏ, chuyênmay áo đầm xuất khẩu sang Ba Lan Mới thành lập khi ấy xí nghiệp có 3 phânxưởng chuyên gia công áo jacket và hàng thun, khởi nghiệp với khoảng 300 côngnhân may
Năm 2003 Công ty KP APPAREL được thành lập và hoạt động tạiCampuchia với 100% vốn do Công ty đầu tư sang
Quyết định số 134/ 2006/ QĐ-UBND ngày 22/5/2006 của UBND tỉnhBình Dương quyết định chuyển mô hình hoạt động của Công ty theo mô hìnhcông ty mẹ-công ty con, và từ đó công ty TNHH MTV MAY MẶC BÌNHDƯƠNG(hay PROTRADE GARMENT) với tên giao dịch là PROTRADEGARMENT COMPANY LTD được thành lập và hoạt động dưới sự điều hànhcủa công ty SX & XNK BÌNH DƯƠNG
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của công ty
2.1.3.1 Tổ chức bộ máy của công ty
Cách thức trao đổi thông tin quản lý trong Protrade được quy định trong các tàiliệu của hệ thống Theo đó trách nhiệm cung cấp, xử lý thông tin được quy định theochức năng nhiệm vụ từng cấp bậc trong bộ máy hoạt động của công ty
Các hình thức truyền đạt thông tin khác có thể thông qua:
- Các cuộc hợp, các lớp huấn luyện, đào tạo.
- Các thông báo, báo cáo có thể bằng văn bản hay bằng lời trực tiếp.
Trang 3Đại diện Lãnh đạo có trách nhiệm đảm bảo các thông tin trong nội bộ được thôngsuốt, và các thông tin về hoạt động của hệ thống được truyền đến Lãnh đạo.
BẢNG 2.1 : Danh sách hội đồng thành viên và ban điều hành quản lý
HỌ VÀ TÊN CHỨC VỤ NGÀY BỔ NHIỆM
Ông Nguyễn Văn Minh Chủ tịch 08/12/2006
Ông Lê Hồng Phoa Thành viên 08/12/2006
Bà Nguyễn Thị Trúc Thanh Thành viên 08/12/2006
Ông Nguyễn Hữu Tấn Thành viên 08/12/2006
Ông Hoàng Công Thành Thành viên 08/12/2006
(Nguồn: phòng nhân sự)
BẢNG 2.2 : Danh sách ban tổng giám đốc.
Bà Nguyễn Thị Trúc Thanh Phó tổng giám đốc 22/12/2006
Bà Nguyễn Thị Kim Nguyên Phó tổng giám đốc 14/11/2007
(Nguồn: phòng nhân sự)
BẢNG 2.3 : Danh sách ban kiểm soát
(Nguồn: phòng nhân sự)
Trang 4SVTH: NGUYỄN NGỌC NHƯ GVHD: ThS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
Trang 52.1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban
Các chức danh lãnh đạo trong công ty
Hội dồng thành viên:
Là cơ quan quyết định cao nhất của công ty, quyết định những vấn đề chungcho toàn công ty, quyết định phương hướng nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của nămtài chính
Ban kiểm soát:
Hoạt động độc lập có nhiệm vụ cung cấp trực tiếp tình hình công ty trước hộiđồng thành viên
Tổng giám dốc:
Tổng giám đốc là người quản lý điều hành trực tiếp mọi hoạt động kinh doanhcủa công ty, là người đại diện pháp nhân của công ty trong mọi giao dịch và chịutrách nhiệm trước hội dồng thành viên
Phó tổng giám dốc và các giám đốc:
Ngoài việc giúp đỡ cho tổng giám đốc theo chức năng và nhiệm vụ dược quyđịnh tại điều lệ hoạt động của công ty còn quản lý một số phòng ban-phân xưởng trựcthuộc
Trách nhiệm và quyền hạn của Ban giám đốc PROTRADE:
- Lập và công bố chính sách chất lượng ;
- Đảm bảo việc thiết lập các mục tiêu chất lượng;
- Chịu trách nhiệm về mọi vấn đề liên quan đến chất lượng ;
- Chỉ đạo toàn bộ các hoạt động của Protrade;
- Chỉ đạo việc truyền đạt trong toàn Công ty về tầm quan trọng của việc đáp ứngkhách hàng cũng như các yêu cầu của pháp luật và các chế định ;
- Điều hành cuộc họp xem xét của Lãnh đạo;
- Đảm bảo có sẵn các nguồn lực ;
- Phân công trách nhiệm và quyền hạn cho các trưởng bộ phận;
Trách nhiệm và quyền hạn các vị trí còn lại được Công ty quy định trong tàiliệu QĐ-GĐ cùng với quan hệ của nhân viên trong tất cả mọi vấn đề liên quan đếnchất lượng Mọi nhân viên làm việc tại Protrade đều được giới thiệu về trách nhiệm
và quyền hạn của mình cùng môí liên hệ với các vị trí liên quan
Phòng nhân sự:
Tham mưu cho Giám đốc nhân sự về công tác quản lý nhân sự trong toànCông ty, quản lý đội xe đưa rước công nhân, đội bảo vệ, phòng y tế, nhiệm vụ chủyếu là tuyển dụng lao động, giải quyết học việc, thử việc, nghỉ việc, sa thải, lập kếhoạch đề bạt, xử lý kỉ luật, giải quyết các chế độ (BHXH,BHYT, trợ cấp thấtnghiệp ), đánh giá thành tích công việc
Phòng tài vụ:
Giữ nhiệm vụ về toàn bộ công tác hạch toán, báo cáo thống kê các nghiệp vụkinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, giám sát và kiểm traquá trình sử dụng tài sản, phân tích báo cáo tài chính, phân tích hiệu quả hoạt độngkinh doanh của Protrade để tham mưu cho cấp trên các quyết định về tài chính
Trang 6Phòng hành chánh tổng hợp:
Quản lý các hoạt động hành chánh văn phòng, cung cấp các thiết bị phục vụnhu cầu cần thiết cho công tác tại các phòng ban, tổ chức quản lý các hoạt động hổtrợ các hoạt động trong cơ quan, lưu giữ và truyền đạt thông tin các cấp
Phòng mẫu
Thực hiện may mẫu đối với những thiết kế sản phẩm kinh doanh và nhữngthiết kế cho sản phẩm gia công, giúp khách hàng tiếp cận sản phẩm tương lai trướckhi sản phẩm được sản xuất hàng loạt, hướng dẫn kỹ thuật may cho các phân xưởng,tiếp nhận kế hoạch sản xuất và tài liệu kỹ thuật, lập tiệu chuẩn kỹ thuật, định mức sảnphẩm, quy trình công nghệ, theo dõi hoạt động triển khai sản xuất và có biện pháp kịpthời xử lý khi có sự cố xảy ra
Bộ phận Marketing-kinh doanh:
Hoạt động tuyên truyền, quảng bá hình ảnh thương hiệu và sản phẩm củaProtrade đến được các khách hàng tiềm năng, thực hiện các hoạt động giao tiếp - đàmphán hợp đồng, thiết lập và thực hiện phương án kinh doanh đề ra, tiếp xúc kháchhàng và các đối tác của khách hàng, thu thập và xử lý thông tin có ảnh hưởng đến quátrình tác nghiệp của Protrade
2.2 Một số hoạt động Marketing của Công ty
2.2.1 Giới thiệu một số hàng hoá, dich vụ
Là một công ty may mặc với bề dày kinh nghiệm hoạt động trong ngành thì hiệnnay công ty đã có thể sản xuất các sản phẩm may mặc như:
Sản xuất quần áo may sẵn,
Sản xuất các đồ phụ trợ quần áo (cổ cồn đăng ten, thêu ren, thắt lưng)
Hình thức kinh doanh bao gồm nhận gia công các sản phẩm may mặc, hay xuấtnhập khẩu hàng may mặc khi khách hàng có nhu cầu Bên cạnh đó công ty còn kinhdoanh các ngành nghề tổng hợp mà Nhà nước cho phép như:
Mua bán hàng may- thêu;
Mua bán nguyên phụ liệu ngành may mặc;
Mua bán công nghệ thông tin trong ngành may mặc;
Mua bán máy móc thiết bị ngành may mặc;
Kinh doanh dịch vụ WASH (không hoạt động tại trụ sở);
Trang 7khẩu sang các thị trường lớn như:ANH, ĐỨC, MỸ, BỈ, NGA, NHẬT, TRUNG QUỐC…
Gần đây xu hướng toàn cầu hoá lan rộng, nhu cầu về sản phẩm may mặc thờitrang cũng tăng nên thị trường tiêu thụ sản phẩm may mặc được mở rộng, một số thịtrường tiêu thụ mới được các chuyên gia đầu ngành đánh giá cao trong hoạt động
kinh doanh quốc tế như:TRUNG ĐÔNG, PAKISTAN… Theo đó Công ty cũng đã
có những bước đầu tiếp xúc với một vài đối tác tại những thị trường mới này, kết quả
là đã xuất đi thành công nhiều chuyến hàng, hứa hẹn đây sẽ là một thị trường tiềmnăng cho ngành dệt may nói chung và sản phẩm may mặc của công ty nói riêng
2.2.3 Kênh phân phối
Nhằm phát triển hoạt động xuất khẩu của công ty, công ty đã có những kếhoạch về kênh phân phối đa dạng
Kênh phân phối trực tiếp : khách hàng các nước khi có nhu cầu có thể trựctiếp đặt các đơn hàng với những thoả thuận hay những quy định về điều kiện muahàng trực tiếp với công ty thông qua một số phương tiện hổ trợ hiện đại như điệnthoại, internet…
Kênh phân phối gián tiếp:chính là việc thiết lập mối quan hệ giữa kháchhàng tiềm năng và công ty thông qua một người thứ ba đóng vai trò làm trunggian Trung gian nay trên thực tế có mối quan hệ tốt với khách hàng và giờ đây họđại diện khách hàng xúc tiến thương mại với công ty
Ngoài việc bắt tay với các nhà xuất nhập khẩu thuần tuý, công ty còn tìm hiểu
cơ hội hợp tác kinh doanh trực tiếp với các hãng may mặc có tên tuổi, các tập đoànphân phối với chuỗi siêu thị rộng lớn, điều này đang được tiến hành và hứa hẹn sẽmang lại thắng lợi lớn cho công ty
Hiện nay công ty đang xúc tiến phát triển nhiều kênh phân phối hiệu quả nhấtnhằm giới thiệu hình ảnh, nâng cao uy tín công ty với các khách hàng tiềm năngthông qua những hoạt động thường xuyên và định kỳ như tham gia hội chợ xúc tiếnthương mại do các cơ quan có thẩm quyền hổ trợ, thông qua những khách hàng quen
để tìm hiểu thêm những khách hàng tiềm năng, xây dựng những văn phòng đại diện ởHONG KONG, TRUNG QUỐC, MỸ, CAMPUCHIA, nhằm phát triển hệ thống phânphối và xúc tiến thương mại của công ty
2.2.4 Các hình thức xúc tiến bán hàng
Trong nỗ lực gia tăng các hoạt động xuất khẩu sản phẩm may mặc để khôngngừng phát triển, công ty đã chú trọng hơn vào hoạt động quảng cáo, giới thiệu sảnphẩm may mặc, giới thiệu năng lực sản xuất của công ty để khách hàng tại thị trườngtiêu thụ tiềm năng hiểu rõ và xây dựng mối quan hệ kinh doanh với công ty
Tại các hội chợ quốc tế chuyên ngành may mặc ở Đức, Nhật Bản, ĐàiLoan cũng như khi công ty tham gia các hội chợ triển lãm hàng dệt may và thiết
bị may trong nước, công ty đã mang các sản phẩm may mặc có chất lượng cao củacông ty để giới thiệu với các khách hàng Qua các hội chợ triển lãm này công tyđược rất nhiều khách hàng quan tâm, đến tìm hiểu và qua đó công ty có thể ký kếtngay các hợp đồng với khách hàng hoặc sau đó khách hàng sẽ liên hệ với công tyđặt các đơn hàng
Công ty cũng tham gia các hiệp hội trong ngành may mặc trong vàngoài nước nhằm phát triển khách hàng và cũng nhằm tìm kiếm đối tác kinhdoanh, bởi vì trong kinh doanh thông tin công ty khi được các hiệp hội cung cấp
Trang 8đến đối tác cũng được xem như đã đặt được một nền tản phát triển mối quan hệkinh doanh thuận lợi.
Bên cạnh việc tham gia trực tiếp vào các hội chợ triển lãm công ty cònđẩy mạnh hoạt động quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng như: Báochí, Truyền hình, Các trung tâm và Cửa hàng giới thiệu sản phẩm của công ty,đồng thời công ty còn hoà mạng lập trang Web riêng Thông qua đó, các kháchhàng trong và ngoài nước đều có thể biết đến công ty
Ngoài việc tận dụng tối đa sức tăng trưởng hiện tại với các loại hàng đãxuất được sang thị trường tiêu thụ ở các nước, với những sản phẩm có chất lượngcao đã tạo được uy tín cho công ty thì hiện nay công ty bắt đầu chuyển dần mộtphần đầu tư sang sản xuất hàng may mặc có thương hiệu riêng của mình nhằmmục đích cũng cố lòng tin với khách hàng hiện hữu, cũng là nhằm chứng minhnăng lực phát triển của công ty với khách hàng tiềm năng trên thị trường thế giới.Hoạt động xúc tiến thương mại đem lại những kết quả hết sức khả quan, sảnphẩm của công ty đến nay đã có mặt ở trên nhiều nước trên thế giới
Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), Kim ngạch xuất khẩu dệt may 2010đạt 11,2 tỷ USD, tăng 23,2% so với năm 2009, Trong đó, thị trường Mỹ đạt hơn 6 tỷUSD, tiếp tục duy trì trong top 5 quốc gia có lượng hàng dệt may xuất khẩu lớn nhấtvào thị trường Mỹ Công ty Protrade cũng đóng góp giá trị kim ngạch xuất khẩu năm
2010 sang thị trường Mỹ gần 20 triệu USD
Hiện nay, Việt Nam đang là nước xuất khẩu hàng dệt may lớn thứ 7 trên bản đồdệt may thế giới (theo tổ chức Thương mại Thế giới), sau thị trường Trung Quốc, khuvực EU, Hồng Kông, Thổ Nhĩ Kỳ, Bangladesh, Ấn Độ, và đang chiếm 2,7% thị phầnxuất khẩu thế giới Trong đó, Mỹ, EU, Nhật Bản, Canada và Nga là những khu vựctiêu dùng hàng dệt may lớn nhất thế giới, chiếm tới 86,4% thị phần nhập khẩu, vàđáng chú ý đây cũng là nhóm thị trường truyền thống của dệt may Việt Nam
Trong thời gian qua, Mỹ tiếp tục duy trì là thị trường xuất khẩu lớn nhất của dệtmay Việt Nam, chiếm đến 51% thị phần xuất khẩu Việt Nam là thị trường xuất khẩulớn thứ 2 sau thị trường Trung Quốc xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ EU là thịtrường xuất khẩu lớn thứ hai khi chiếm 17% thị phần xuất khẩu của hàng dệt mayViệt Nam, hiện Việt Nam đang là nhà cung cấp hàng dệt may lớn thứ 8 vào thị trường
EU sau Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Bangladesh, Ấn Độ, Tunisia, Morocco và Pakistan.Mặc dù trong những tháng đầu năm 2011, thị trường Nhật Bản liên tiếp gặp phảinhững khó khăn do thảm họa động đất và sóng thần, nhưng đây vẫn là thị trường xuấtkhẩu dệt may lớn thứ 3 của Việt Nam, chiếm khoảng 12% thị phần xuất khẩu Vớimức tăng trưởng trong thời gian qua, Việt Nam đã vượt qua Italy để trở thành nhà
Trang 9cung cấp sản phẩm dệt may đứng ở vị trí thứ 2 sau Trung Quốc, và đang chiếm4,45% thị phần tại thị trường này.
2.2.5.2 Cạnh Tranh
Đối thủ cạnh tranh trong nước: Dệt may là ngành có lực lượng lao động lớn
với khoảng trên 2 triệu người, trong đó trên 1,2 triệu lao động làm việc trong cácdoanh nghiệp công nghiệp, số còn lại thuộc các Hợp Tác Xã, hộ gia đình người trồngbông, trồng dâu nuôi tằm Lao động ngành dệt may là lao động trẻ, đa số tuổi đờidưới 30 (ngành dệt chiếm 38%, ngành may chiếm trên 64%), lao động trên 50 tuổi có
tỷ lệ rất thấp (dệt 3%, may 1,2%) Thời gian làm việc của một người lao động phầnlớn chỉ dưới 10 năm, và chỉ có khoảng 10 doanh nghiệp có từ 5000 lao động trở lêncòn lại là các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Các công ty trong ngành cạnh tranh nhau trong việc huy động nguồn lao độngnhằm gia tăng lợi thế lao động rẽ trong mắt khách hàng thế giới, cạnh tranh trong việctìm hiểu và phát triển chiến lược tại thị trường tiêu thụ, mà còn cạnh tranh nhau trongviệc tìm kiếm nguồn nguyên liệu
Đối thủ cạnh tranh quốc tế nặng ký hiện nay của doanh nghiệp dệt may Việt
Nam nói chung và của Protrade nói riêng tại thị trường Hoa Kỳ là Trung Quốc, ẤnĐộ những nước có khả năng sản xuất nhiều loại sản phẩm dệt may có giá cạnh tranh
và có nguồn lao động lành nghề, giá tương đối thấp, không khác mấy Việt Nam.Bangladesh và Pakistan cũng là đối thủ cạnh tranh mới về một số mặt hàng như áodệt kim, sơ mi vải bông, quần áo vải bông có giá thành tương đối thấp
2.2.6 Nhận xét về tình hình tiêu thụ và công tác Marketing của Công ty 2.2.6.1 Về công tác nghiên cứu thị trường.
Việc nắm bắt được thị hiếu của khách hàng cũng đồng nghĩa với công ty sẽ tiêuthụ được sản phẩm của mình, do sản phẩm được sản xuất ra đáp ứng đúng nhu cầucủa người tiêu dùng trên thị trường mục tiêu Đối với thị trường may mặc là thịtrường mà nhu cầu thay đổi theo tính thời vụ, do đó công tác điều tra thị trường càngđược sự quan tâm Công ty PROTRADE đã ý thức được điều này nên từ khi thịtrường Mỹ mở cửa, công ty đã thông qua các kênh khác nhau để tiến hành thâm nhậpthị trường, tìm hiểu nhu cầu của người tiêu dùng Mỹ về sản phẩm hàng may mặc.Công ty đã tổ chức điều tra thị trường nhưng chỉ qua các kênh gián tiếp như Đại sứquán, các tổ chức thương mại Chưa đi sâu khai phá hết nhu cầu sản phẩm May Mặccủa người dân Mỹ, chỉ tập trung vào các sản phẩm thông thường như áo sơ mi, quầnjeas… mà vẫn chưa phát triển các sản phẩm có giá trị cao như áo Vest, Comple…
2.2.6.2 Về kế hoạch tiêu thụ sản phẩm.
Việc lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm thông thường diễn ra tại bộ phận Kế hoạchthị trường Những đối với Công ty thì không chỉ bộ phận kế hoạch thị trường có tráchnhiệm mà phòng Xuất nhập khẩu cũng phải tiến hành xây dựng kế hoạch điều này rất
có thể dẫn đến sự chồng chéo nhiệm vụ cũng như là trách nhiệm của hai đơn vị này.Việc lập kế hoạch hàng năm là căn cứ để tiến hành lập kế hoạch của quý, tháng Các
kế hoạch này thường được dựa trên các đơn đặt hàng của khách hàng, ngoài các kếhoạch ngắn hạn công ty cũng lập các kế hoạch trung và dài hạn nhưng các kế hoạchnày chỉ dừng lại ở tất cả các thị trường chứ chưa có kế hoạch trung hạn và dài hạncho từng thị trường Từ đó có thể gây khó khăn khi đánh giá hiệu quả tiêu thụ trêntừng thị trường cụ thể để tìm ra những điểm cần khắc phục
2.2.6.3 Về chính sách tiêu thụ sản phẩm.
Trang 10Nội dung của kế hoạch này là định hướng sản phẩm phù hợp thị trường nhằmđảm bảo cho sự phát triển bền vững của Doanh nghiệp, tạo ra sự đa dạng hoá, khácbiệt sản phẩm…
Tuy các chính sách sản phẩm được lập ra phần lớn ở Công ty PROTRADE làmột danh sách các sản phẩm đa dạng và phong phú Nhưng do đặc điểm của công ty
là thường xuất khẩu theo đơn đặt hàng mà gia công là chủ yếu trong một thời giandài Nên việc tập trung vào chính sách sản phẩm chưa được quan tâm đúng mức, Mặc dù đã nhận thức được tầm quan trọng của chính sách sản phẩm nhưng tronggiai đoạn này công ty cần tập trung cao độ vào việc xây dựng chất lượng sản phẩmcũng như tạo dựng thương hiệu cho sản phẩm, nhằm tăng cường sự tín nhiệm củakhách hàng, tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu cho công ty
2.2.6.4 Chính sách giá của công ty
Với một hệ thống định giá theo tiêu chuẩn đã đề ra, sau khi khách hàng đặt hàngthì phòng kinh doanh sẽ lên phương án báo giá với khách hàng Mặc dù có nhiềuphương án xây dựng giá khác nhau như phương pháp hoà vốn, định giá cạnh tranh…nhưng tại công ty thì vẫn sử dụng phương pháp định giá thành sản phẩm bằng dựavào giá sản phẩm cộng với phần trăm lợi nhuận mong muốn Giá bán được phân chiathành các hạn mục chi phí khác nhau để từ đó tính tổng, tuỳ thuộc vào số lượng đơnđặt hàng và ngày giao, quy cách, chất lượng mà có giá khác nhau Có thể có nhữngđơn hàng chỉ tính công trong 2 công đoạn là may và đóng gói thì giá cả lại khác vớihình thức CMPT là làm tất cả đến khi hoàn thiện sản phẩm, hình thức này của Công
ty chỉ phù hợp với trường hợp xuất khẩu theo phương thức gia công
Càng chuyển sang giai đoạn xuất khẩu theo dạng FOB thì chính sách giá củacông ty phải có sự thay đổi mới có thể thâm nhập vào thị trường Mỹ có hiệu quả Khi
đó phương pháp định giá phải là phương pháp hiện đại, dựa trên cơ sở hoạt động(ABC), hay chính sách giá phù hợp với mục tiêu của công ty trong tương lai
2.2.6.5 Về chính sách phân phối.
Đặc điểm chủ yếu của hệ thống phân phối của công ty là qua khâu trung gian,qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho hàng may mặc của công ty vào thị trường dễ dànghơn Nhưng những nhà trung gian của Công ty lại không trực tiếp bán hàng mà lạiphân phối lại cho các nhà bán lẻ khác trước khi đến tay được người tiêu dùng Điềunày làm cho chi phí nâng lên và công ty không kiển soát được giá, khi đó giá cả củangười tiêu dùng cuối cùng lại phụ thuộc vào sự quyết định của nhà bán lẻ cuối cùng.Khi xuất khẩu hàng may mặc của Công ty qua nhiều trung gian làm cho khảnăng thu nhận thông tin của công ty về khách hàng gặp khó khăn và thường khôngchính xác Qua đó làm cho việc xác định nhu cầu và nắm bắt nhu cầu mới của kháchhàng trở nên khó khăn Làm cho công tác xác định các chính sách khác như chínhsách sản phẩm, chính sách giá… phức tạp và thường không chính xác
2.2.6.6 Về chính sách xúc tiến hỗn hợp.
Xúc tiến hỗn hợp là một công cụ của Marketing nhằm hỗ trợ và thúc đẩy việctiêu thụ sản phẩm của công ty Trong giai đoạn hiện nay công ty đang từng bước xâydựng thương hiệu của riêng mình, do đó công ty đã có sự đầu tư vào công tác quảngcáo trên Truyền hình, phát thanh, báo chí… Tham gia hội chợ trong nước và quốc tế.Việc tham gia hội chợ không nằm ngoài mục tiêu là tìm kiếm khách hàng nhằm đẩymạnh hoạt động xuất khẩu vào thị trường Mỹ Tuy tham gia vào các chương trình nàynhưng công ty vẫn chưa có sự đầu tư cao vào công tác xúc tiến, chưa xây dựng ấntượng nổi bậc với khách hàng
Trang 11là hợp đồng 12/PR-PAC/2009 dựa theo các chứng từ thể hiện ở phụ lục
2.3.1 Công tác tiếp cận thị trường Mỹ của Công ty TNHH MTV may mặc Bình Dương
Mỹ là thị trường lớn nên phải chia thành các thị phần nhỏ để có chiến lược tiếpcận rõ ràng hơn (như địa lý, thói quen, sở thích) Công ty xác định khu vực sinh sốngnhiều của người Việt tại Hoa Kỳ Là ở các bang California, Texas, Washington DC,ngoài việc phục vụ sản phẩm cho nhóm khách hàng này công ty còn muốn thông quavăn phòng đại diện, đại lý bán hàng để tiếp xúc với khách hàng bản địa về sản phầmcủa công ty, nhằm đưa ra sản phẩm phù hợp nhất thoả mản nhu cầu khách hàng.Trong những năm qua đối tác lớn nhất của công ty ở thị trường Mỹ là công tyPacific Sunwear, được thành lập vào năm 1982, trụ sở chính ở Anaheim California,chuyên về cung cấp quần áo, giày dép bình dân cho giới trẻ Hiện tại Pacific Sunwear
có 932 cửa hàng ở Hoa Kỳ và PuertoRica, công ty cũng phát triển hình thức bán hàngqua mạng ở địa chỉ www.pacsun.com
Sản phẩm mà Pacsun đặt là sản phẩm quần Jean dành cho nam, thời hạn hợpđồng thường là 1 năm, và thực hiện giao hàng thành từng đợt Như vậy có thể thấyrằng, Pacsun là một đối tác rất quan trọng, mang lại nguồn doanh thu lớn cho công ty,
có thể xem Pacsun là một trong những khách hàng truyền thống của công ty tại thịtrường Hoa Kỳ
2.3.2 Công tác chuẩn bị hàng may mặc xuất khẩu sang thị trường Mỹ
Bước 1: Thực hiện mẫu
Đối với những sản phẩm sản xuất theo đơn hàng Pacsun, thì mẫu thiết kế, tài liệu
kỹ thuật, và một số nguyên phụ liệu cần thiết do Pacsun cung cấp cho đội ngũ thiết kếcủa công ty sản xuất mẫu thử trước khi đưa vào dây chuyền sản xuất chính thức
SƠ ĐỒ 2.2: Quy trình wash màu và may mẫu đối với lô hàng của Pacsun
Sau khi nhận được vải dùng may mẫu công ty phải thực hiện các bước washmàu và may mẫu Đối với các mẫu wash, quan trọng nhất là màu wash cógiống màu wash mẫu gốc hay không Đối với các mẫu may, quan trọng nhất làmay đúng thông số kỹ thuật trong tài kiệu mà Pacsun cung cấp
(1) Công ty sẽ sử dụng mẫu gốc và vải chính tiến hành giao cho bên xưởngwash mẫu gốc+quần sống( cắt trên cùng một cây vải) để thực hiện wash mẫutarget, mẫu này gồm 3 cái (2 cái sẽ được gửi Pacsun và 1 cái lưu) Mẫu targetphải gần giống với màu wash mẫu gốc
Trang 12 (2) Sau khi mẫu target được duyệt, sẽ tiến hành wash mẫu dups và may mẫufit mẫu wash dups gồm 7 cái (6 cái gửi Pacsun và 1 cái lưu), quần sống đểwash mẫu dups được cắt từ 2 đến 3 cây vải khác nhau Màu wash mẫu dupsphải gần giống màu ở mẫu target Khi may mẫu fit quan trọng nhất là đúngthông số kỹ thuật hoặc nằm trong dung sai cho phép.
(3) Khi mẫu dups được ký duyệt, công ty tiếp tục cho wash mẫu shadeband,quần sống để wash shadeband sẽ được cắt từ nhiều cây vải khác nhau, bộ washshadeband sẽ gồm 4 ánh màu : màu light, medium, dark và một tông màu lạ.Nếu bộ wash shadeband được ký duyệt thì khi đưa vào sản xuất hàng loạt, cácmàu wash phải nằm trong ánh màu của bộ wash shadeband đã được duyệt
Sau khi mẫu fit được duyệt sẽ tiến hành may mẫu reference, Pacsun yêu cầumay mẫu này chỉ để chắc chắn thêm mẫu đã được may đúng với các thông số
kỹ thuật
(4) Sau khi mẫu reference được duyệt, sẽ tiếp tục may mẫu PP, nếu mẫu nàyđược duyệt, công ty sẽ đưa vào dây chuyền sản xuất chính thức, vì vậy mẫunày phải đúng cả màu wash lẫn các thông số kỹ thuật
(5) Khi hàng được đưa lên dây chuyền sản xuất hàng loạt, trước khi xuất đơnhàng đi công ty phải chọn ra 1 mẫu gửi cho Pacsun để kiểm tra lại màu washcũng như thông số kỹ thuật để chắc rằng lô hàng đã đáp ứng được chất lượngnhư yêu cầu mẫu này gọi là mẫu TOP
Bước 2: Thương lượng hợp đồng.
Phòng kinh doanh sẽ tính toán các chi phí có liên quan đến việc sản xuất hàngnhư:
Chi phí nhân công
Chi phí mua vải
Các nguyên phụ liệu(nút, dây kéo, nhãn giấy, nhãn da, túi nilon…)
Từ đó đề nghị mức giá bán và thông thường thì khách hàng trao đổi qua mail làmsao chọn được mức giá phù hợp để 2 bên cùng có lợi
Sau đó phòng kế hoạch lên bảng “đề nghị làm hợp đồng xuất khẩu” cho hợp đồng
số 12/PR-PAC/2009, bảng này ghi chi tiết mã hàng xuất là quần dài các loại, số lượnghàng là 382,471 PCS, đơn giá mỗi sản phẩm tùy vào mã hàng (phụ lục 1), sau đó gửi
kế hoạch cho bộ phận kế hoạch để lên kế hoạch sản xuất và phòng xuất nhập khẩu đểlàm hợp đồng xuất khẩu chính thức với các điều kiện thương mại kèm theo như:Phương thức thanh toán là L/C, đồng tiền thanh toán là USD, điều kiện giao hàng làFOB, nước nhập khẩu là USA, và một số điều kiện khác theo như thoả thuận
Bước 3: Đây chính là bước thể hiện rõ nét hoạt động xuất nhập khẩu tại Công ty
Protrade
Trình tự các bước tiến hành được áp dụng thực hiện cho lô hàng xuất theo hợp đồng
số 12/PR-PAC/2009, thực hiện hợp đồng từ ngày 20/04/2009 đến ngày 30/08/2009.được thực hiện thông qua quy trình nhập khẩu như sau
2.3.2.1 Soạn thảo hợp đồng xuất khẩu.
Sau khi nhận được thông tin chi tiết đầy đủ trong “giấy đề nghị làm hợp đồng “của hợp đồng xuất khẩu số 12/PR-PAC/2009 từ phòng kinh doanh, thì trưởng phòngxuất nhập khẩu phân công cho nhân viên xuất khẩu sọan thảo hợp đồng mua bán vớinước ngoài (Sales Contract)( phụ lục 1)
Trang 13Nhân viên được phân công, căn cứ chi tiết thoả thuận của hợp đồng tiến hànhsọan thảo hợp đồng, trình cho trưởng phòng xem xét và ký tắt vào hợp đồng (để xácnhận hợp đồng đã được kiểm tra); sau đó trình Ban giám đốc ký và gửi văn thư đóngdấu Khi hợp đồng đã được 2 bên ký tên, đóng dấu, nhân viên xuất khẩu mở sổ theodõi hợp đồng và điền số hợp đồng cùng các thông tin hàng hóa
2.3.2.2 Đăng ký duyệt hợp đồng
Nhân viên nhập khẩu lập hồ sơ để đăng ký hợp đồng tại Chi Cục Hải quan tỉnhBình Dương Sau khi Hải quan xem xét và chấp nhận đăng ký hợp đồng, thì nhânviên xuất khẩu được nhận lại 1 bộ hợp đồng (phụ lục 1) có xác nhận đóng dấu “ ĐÃĐĂNG KÝ” của Hải quan và cho số theo dõi để sữ dụng thường xuyên suốt quá trìnhhọat động nhập khẩu, xuất khẩu và thanh lý hợp đồng
Hồ sơ đăng ký hợp đồng gồm:
Công văn :1 bản gốc
Hợp đồng: 2 bản gốc
Bảng theo dõi nguyên phụ liệu để nhập khẩu: 2 bản
Bảng thống kê tờ khai nhập khẩu
Sau khi Hải quan xem xét hợp đồng, nhân viên xuất khẩu nhận lại 1 hợp đồngbản gốc có dấu xác nhận “ ĐÃ ĐĂNG KÝ HỢP ĐỒNG”, nhân viên xuất khẩu photo,chuyển hợp đồng tới các bộ phận liên quan như: Phòng kinh doanh, phân xưởng, khonguyên phụ liệu
Đồng thời nhân viên xuất khẩu photo lưu và chuyển cho phòng tài vụ làm cơ sởlập hóa đơn tài chính cho lô hàng xuất thuộc hợp đồng 12/PR-PAC/2009
2.3.2.3 Chuẩn bị hồ sơ nhập khẩu.
Dựa trên hợp đồng xuất khẩu đã ký, làm hợp đồng nhập khẩu nguyên phụ liệu
do Pacsun chỉ định mua như :
Mua vải chính từ công ty Lanefort Hong Kong theo hợp đồng nhập khẩu
Nhân viên nhập khẩu tiến hành khai báo tờ khai hàng hoá nhập khẩu thông quaphần mềm của Hải quan với đầy đủ những gì thể hiện trong bộ chứng từ(thực nhập),sau khi có được sự phản hồi từ phần mềm là “đã tiếp nhận”, thì nhân viên nhập khẩutập hợp hồ sơ đăng ký tờ khai Hải quan hàng nhập
2.3.2.4 Đăng ký làm thủ tục hải quan và nhận hàng.
Trang 14Trình ký và đóng dấu hồ sơ nhập khẩu : Nhân viên nhập khẩu sau khi in mẫu
tờ khai tiến hành kiểm tra nội dung tờ khai và trình lãnh đạo ký tắt vào bộ hồ sơ đểxác định rằng hồ sơ này đã được kiểm soát trước khi Ban lãnh đạo ký và đóng dấuvào bộ hồ sơ Bộ hồ sơ nhập khẩu bao gồm :
Phiếu đề nghị kết quả phúc tập hồ sơ(BMHQ):1 bản
Danh mục nguyên phụ liệu được HQ duyệt:2 bản sao
Hóa đơn tiền cứơc vận chuyển
Công văn cam kết nhập nguyên phụ liệu làm hàng XNK
Tiến hành đăng ký tờ khai: tại Hải quan tỉnh Bình Dương, khi bộ hồ
sơ được chuyển đến khâu hoàn thành tờ khai, nhân viên nhập khẩu sẽ tách bộ
hồ sơ thành 2 phần, một bàn giao hải quan lưu và một bản nhân viên nhập khẩulưu
Bản lưu Hải quan gồm các chứng từ được sắp theo thứ tự sau:
o Phiếu ghi kết quả phúc tập hồ sơ;
o Phiếu tiếp nhận bàn giao hồ sơ Hải quan;
o Lệnh hình thức và mức độ kiểm tra Hải quan;
o Tờ khai hàng hoá nhập khẩu;
o Hợp đồng và danh mục nguyên vật liệu(bản lưu hải quan);
o Chứng từ ghi số thuế phải thu
Bản lưu người khai Hải quan gồm:
o Tờ khai hàng hoá nhập khẩu;
1 bản gửi phòng nguyên phụ liệu để chuẩn bị cho việc sắp xếp kho bốc dỡ hàngxuống khi đã hoàn thành các thủ tục Hải quan Và giấy “đề nghị điều xe” dùngchuyên chở hàng từ cảng về kho công ty Với những lô hàng nhập này nhân viênnhập khẩu chọn xe tải có trọng tải phù hợp cho từng lô hàng và có mui kín để vậnchuyển hàng từ cảng về kho Công ty với đoạn đường ước tính 30 km Sau đó nhânviên nhập khẩu lập giấy đề nghị tạm ứng tiền làm hàng với số tiền dự kiến từng lôhàng dựa vào giấy báo hàng đến, cùng với chi phí khi nhận hàng tại cảng
Đồng thời khi nhận được thông báo hàng đến (thường bằng fax), nhân viêngiao nhận phải mang vận đơn gốc (nếu vận đơn theo lệnh của Ngân hàng thì phải có
Trang 15ký hậu của Ngân hàng), giấy giới thiệu của Công ty đến hãng tàu hoặc đại lý hãng tàu
để nhận lệnh giao hàng D/O Hãng tàu hoặc đại lý hãng tàu giữ lại vận đơn gốc vàtrao 3 bản D/O cho nhân viên nhập khẩu Tiếp theo là nhân viên nhập khẩu cùng xenhận hàng tiến hành đi vào cảng nhập Nộp một D/O tại Hải quan bãi, sau đó cùng xenhận hàng vào kho hàng số 3 theo như giấy thông báo hàng đến, tại đây nhân viênnhập khẩu nộp một D/O và tờ khai vào phòng tiếp nhận để đối chiếu và đóng mộckiểm tra, nhân viên nhập khẩu tiếp đến sẽ phải đóng tiền lưu kho, phí xếp dỡ, các chiphí khác như trên hoá đơn cước vận chuyển của hãng tàu, sau đó lấy biên lai thanhtoán phí mang về nộp cho Công ty Hàng được lấy từ kho sếp dỡ ra xe và khi xe racổng thì cần thanh lý tờ khai với Hải quan cảng, để chứng minh hàng đã được nhận
đủ số lượng thực nhập
2.3.2.5 Kiểm tra đối chứng và hoàn tất thủ tục nhập hàng vào kho
Trước khi hàng về kho nhân viên nhập khẩu cung cấp bộ chứng từ nhập hànggồm C/O, P/L, phiếu đề nghị nhập kho nhằm để kho biết được kế họach nhập hàng.Sau khi kho nguyên phụ liệu kiểm số hàng nhập về, sẽ đưa bảng báo cáo nguyên phụliệu cho phòng xuất nhập khẩu và phòng tài vụ có xác nhận số lượng thực nhập, sữdụng phiếu nhập kho nguyên phụ liệu để lưu hồ sơ làm cơ sở đối chiếu chứng từ vớikhách hàng Nhân viên nhập khẩu ký xác nhận số lượng thực nhập với phòng tài vụtrên phiếu nhập kho nguyên phụ liệu
Nhân viên nhập khẩu tiến hành lập các khoảng mục chi phí cho lô hàng nhập
để khấu trừ vào số tiền đã nhận tạm ứng trước đó với phòng tài vụ của Công ty
Sau khi đã tập hợp đủ tất cả nguyên phụ liệu cần thiết để sản xuất sản phẩm thìCông ty giao việc sản xuất sản phẩm cho xưởng 3 là xưởng được đầu tư máy mócthiết bị, dây chuyền tiên tiến phục vụ cho công tác sản xuất sản phẩm thời trang làQuần jear, các xưởng khác tuỳ theo hợp đồng mà hổ trợ công việc hoàn thành sảnphẩm kịp tiến độ
Tiếp theo sẽ là công việc sản xuất sản phẩm theo hợp đồng xuất số PAC/2009, nhân viên xưởng cắt sẽ theo kế hoạch sản xuất sản phẩm mà liên hệ vớiphòng nguyên phụ liệu để sử dụng nguyên phụ liệu chính là vải mang về xưởng, thựchiện các khâu rập khuôn các chi tiết của sản phẩm
12/PR-Sau đó những chi tiết sản phầm có yêu cầu yếu tố thêu biểu tượng lên sảnphẩm thì sẽ được chuyển những chi tiết có vị trí thêu cho xưởng thêu thực hiện trước
Sau đó chuyển về xưởng 3, tại đây sản phẩm được may, ráp chi tiếp theo cácchuyền Đầu các chuyền là ráp các chi tiết nhỏ như túi, nhãn vải, rồi đến ráp các chitiết như thân quần Đối với sản phẩm quần jean thì có thêm yếu tố thời trang trênmẫu sản phẩm đã được thoả thuận, nên số quần được ráp các chi tiết được chuyểnsang xưởng WASH (phân xưởng này nằm ngoài khuôn viên Công ty), tại phân xưởngnày sản phẩm được WASH cho giống với mẫu đã thể hiện,tiến hành giặc sạch sảnphẩm, sấy khô, sau đó sản phẩm được vận chuyển trở về Công ty thực hiện các khâucuối cùng để hoàn thành sản phẩm như: may tem da, tem thương hiệu, ủi sản phẩm,xếp, đóng gói Sau khi hoàn chỉnh thì sản phẩm được kiểm tra, sản phẩm được hoànthành phải được đóng gói bao bì hoàn chỉnh và được đựng trong các thùng cacton,bên ngoài thể hiện chi tiết sản phẩm để sản phẩm dể kiểm soát
Sản phẩm gần đến ngày hoàn thành theo hợp đồng thì trước đó 7 ngày nhânviên xưởng phải báo cáo tiến trình và lập detail packinglist và gửi lên phòng xuấtnhập khẩu để tiến hành các thủ tục xuất hàng ra nước ngoài
2.3.2.6 Công tác thuê tàu
Trang 16Sau khi hàng đã lên dây chuyền sản xuất và gần đến ngày hoàn thành, trưởngphòng XNK hoặc Trưởng bộ phận xuất hàng nhận thông báo “Kế họach xuấthàng”(trước khi hàng thực xuất là 7 ngày) từ bộ phận kế họach sản xuất, hàng xuấtcủa khách hàng Pacsun Trưởng phòng xuất nhập khẩu căn cứ vào kế họach xuấthàng, triển khai, phân công cho nhân viên xuất khẩu tiến hành theo dõi đơn hàng đểlàm thủ tục xuất khẩu cho lô hàng
Theo thoả thuận hàng phải được xuất đủ trước ngày hết hạn hợp đồng là ngày30/08/2009 thì cước phí vận chuyển bằng tàu sẽ do Pacsun chi trả, trường hợp hàng
bị rớt lại thì công ty sẽ phải chịu mọi chi phí phát sinh, kể cả việc phải vận chuyểnbằng đường hàng không để hàng đến đúng ngày như trong hợp đồng
2.3.2.7 Khâu kiểm tra
Dựa trên cơ sở detail packinglist từ bộ phận sản xuất của các phân xưởng đểđặt booking cho lô hàng Chi tiết như sau: Lô hàng xuất khẩu này đi bằng tàu biển(trước đó bộ phận sản xuất phải cung cấp detail packinglist trước 7 ngày) cho nhânviên xuất khẩu để làm căn cứ booking cho hãng tàu, theo đó booking phải ghi rõ sốlượng hàng sẽ gửi đến hãng tàu Và được dùng làm căn cứ xác định các chứng từ cầnchứng thực trên tờ khai hàng hóa xuất khẩu
Đồng thời nhân viên xuất khẩu sẽ lập bảng cân đối định mức cho các mã hàng,
để sau đó đăng ký định mức ở chi cục Hải quan Đối với các mã hàng lập lại, đã đăng
ký định mức trước đó thì không cần phải khai báo lại, chỉ cần đăng ký tờ khai xuấtkhẩu mà thôi
Nhân viên xuất khẩu tiến hành việc khai báo qua phần mền Hải quan cung cấp,
và tờ khai hàng hoá xuất được đăng ký, sau khi đã có được phản hồi từ phần mền Hảiquan thì nhân viên xuất khẩu tiến hành in tờ khai và tập hợp đủ bộ hồ sơ sau đó trìnhtrưởng phòng và đại diện Công ty ký tên Bộ hồ sơ gồm:
- Phiếu ghi kết quả phúc tập hồ sơ: 1 bản;
- Phiếu tiếp nhận và bàn giao hồ sơ Hải quan: 1bản;
- Đơn đề nghị chuyển cửa khẩu hoặc biên bản bàn giao: 2 bản;
- Tờ khai hàng hoá xuất khẩu HQ/2002-NK: 2 bản
- Phụ lục tờ khai Hải quan (nếu có): 2 bản;
- Packing list: 2 bản;
- Các công văn (nếu có): 2 bản gốc
Khi bộ hồ được chuyển đến khâu hoàn thành tờ khai Tại đây, nhân viên xuấtkhẩu sẽ tách bộ hồ sơ thành 2 phần, một bàn giao Hải quan lưu và một bản ngườikhai Hải quan lưu
Bản lưu Hải quan gồm các chứng từ được sắp xếp theo thứ tự sau:
- Phiếu ghi kết quả phúc tập hồ sơ Hải quan;
- Phiếu tiếp nhận bàn giao hồ sơ Hải quan;
- Lệnh hình thức, mức độ kiểm tra Hải quan;
- Tờ khai hàng hoá xuất khẩu;
- Packing list (bản gốc);
- Các chứng từ khác (nếu có yêu cầu)
Bản lưu người khai Hải quan gồm :
- Tờ khai hàng hoá xuất khẩu;
- Packing list (bản sao);
- Đơn đề nghị chuyển cửa khẩu
Trang 17Khi đến ngày giao hàng, bộ phận kiểm tra của công ty sẽ lập một biên bản final đểxác nhận hàng giao đúng số lượng và chất lượng như hợp đồng xuất khẩu đã ký kết,nếu như hàng được giao đến và khách hàng kiểm tra thấy không đúng chất lượng, sốlượng như thoả thuận trong hợp đồng thì Công ty sẽ bị phạt theo các điều khoảng ghitrong hợp đồng
2.3.2.8 Giao nhận và đóng hàng lên phương tiện
Căn cứ vào Booking note của hãng tàu và detail packing list có xác nhận của lãnhđạo phân xưởng (phù hợp với số liệu đã khai ở tờ khai xuất khẩu), nhân viên XNK đềnghị kho hoàn tất cho hàng lên xe chở container dưới sự giám sát của bảo vệ Sau khihàng đến cảng mà hãng tàu đã chỉ định, phòng xuất nhập khẩu sẽ gửi bản chi tiết làmbooking đến hãng tàu Căn cứ trên bảng chi tiết này, hãng tàu sẽ phát hành Bill oflading và hẹn ngày đến lấy
Khi lấy Bill từ hãng tàu, nhân viên xuất khẩu sẽ làm bộ chứng từ để xin cấp C/O,tại phòng thương mại và công nghiệp Bình Dương Bộ hồ sơ gồm có :
- Bảng định mức sản phẩm;
- Giấy biên nhận bộ hồ sơ đề nghị cấp C/O
- Bản đăng ký danh mục sản phẩm xuất khẩu
- Tờ khai xuất;
- Hoá đơn chứng minh nguồn gốc sản phẩm được mua tại Việt Nam
- Tờ khai nhập photo chứng minh nguồn gốc sản phẩm được nhập từ nước
ngoài
2.3.2.9 Hoàn tất quy trình xuất khẩu
Sau khi có C/O, nhân viên xuất khẩu sẽ gửi một bộ chứng từ gồm: Hoá đơn,Packing list, bill và C/O, đến phòng tài vụ, phòng tài vụ chịu trách nhiệm thực hiệnkhâu thanh toán của bộ chứng từ
2.3.3 Phân tích kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm chủ yếu của công ty
BẢNG 2.4 : Tình hình kim ngạch xuất khẩu theo sản phẩm qua các năm
2008-2009-2010
ĐơnVị Tính: USD
Sản phẩm
2008 2009 2010 So sánh 2009/2008 So sánh 2010/2009 Kim ngạch % Kim ngạch % Kim ngạch % Chênh lệch % chênh lệch %
Áo sơ mi 7,176,740 21.28 10,935,303 25.92 10,555,695 28.15 3,758,564 52.37 -379,608 -3.47 Quần 22,991,867 68.17 29,686,515 70.37 25,566,310 68.19 6,694,648 29.12 -4,120,205 -13.88 Váy 0 0 403,955 0.96 39,006 0.1 403,955 100 -364,949 -90.34
Đồ thể thao 3,286,717 9.75 1,160,809 2.75 1,333,878 3.56 -2,125,908 -64.68 173,069 14.91
Tổng 33,726,870 100 42,186,583 100 37,494,890 100 8,459,713 25.08 -4,691,693 -11.12
(Nguồn: Phòng xuất nhập khẩu)
Theo số liệu Bảng 2.4 cho thấy giá trị kim ngạch xuất khẩu sản phẩm cao nhấtthuộc về 2 sản phẩm là Quần các loại luôn chiếm gần 70% tổng trị giá kim ngạchxuất khẩu và Áo sơ mi chiếm trên 20% tổng trị giá kim ngạch xuất khẩu Các sảnphẩm còn lại như: Jacket, Váy, Đồ thể thao… chiếm tỉ trọng không cao, nhưng cũngđóng góp khoảng 10% giá trị kim ngạch xuất khẩu tại công ty
Số liệu kim ngạch xuất khẩu qua các năm cho thấy thì năm 2009 là năm công tyđạt được giá trị kim ngạch xuất khẩu cao nhất đạt giá trị 42,186,583 USD tăng
Trang 1825.08% về giá trị so với năm 2008 Nguyên nhân tăng giá trị kim ngạch được cácchuyên gia nhận định là do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế trong năm 2008làm người tiêu dung phải thay đổi dần quan niệm về thời trang nói chung và xuhướng thời trang nói riêng, thị hiếu tiêu dùng thay đổi dần sang sử dụng các sản phẩmthông dụng mang tính phổ thông như Quần Jean, Áo sơ mi…Tránh việc chi tiêu quánhiều cho sản phẩm hàng hiệu khi thật không cần thiết
Năm 2010 giá trị kim ngạch xuất khẩu giảm, chỉ đạt 37,494,890 USD tươngđương chỉ đạt được 88.88% so với năm 2009, nhưng đây cũng là một con số làm thoảmản các vị lãnh đạo trong công ty vì sự nổi lực vược bật là không mất thị trường tiêuthụ cũng như không để sụt giảm kim ngạch xuất khẩu theo biến động phức tạp từ thịtrường trong và ngoài nước
Trong khi cuốc khủng hoảng kinh tế cuối năm 2008 vừa gây ra chấn động mạnhđến nền thời trang thế giới, một loạt những nhãn hàng tên tuổi trong làng thời trangthế giới bị ảnh hưởng nghiên trọng như: Chỉ đến ngày 02/01/2009, hãng bán lẻ thờitrang trẻ em của Anh, là Adams Childrenswear, đã phải thông báo có thể sa thải3.200 lao động tại Anh và Ireland, đến ngày 07/01/2009 hãng bán lẻ quần áo của AnhMarks & Spencer cũng thông báo đã đóng cửa 27 cửa hàng và cắt giảm 1.200 việc,Ngày 15/01/2009, hãng thể thao của Đức, Reebok International, đã buộc phải cắtgiảm 300 việc làm tại Bắc Mỹ và châu Mỹ Latinh, và ngày 16/01/2009 cửa hàng bán
lẻ của Mỹ, Saks cho biết sẽ cắt giảm 1.100 việc làm Mặc dù bối cảnh kinh tế rất ảmđảm, tỷ lệ thất nghiệp ngày càng tăng và sản xuất thì ngưng trệ nhưng vẫn có nhiềudấu hiệu hồi phục Với các số liệu kinh tế vượt khủng hoảng chưa từng thấy và sự tồntại của các thị trường mới nổi như Trung Quốc,Việt Nam… việc tìm ra những xuhướng lạc quan đã bắt đầu sớm từ đầu năm 2009 Một số thay đổi chúng ta có thểnhận biết như: hàng loạt chuổi cửa hàng bán lẻ những sản phẩm may mặc hàng ngày
ra đời tại nhiều quốc gia, còn trong lĩnh vực thiết kế thì những nguyên vật liệu đắttiền được sử dụng một cách tối thiểu để tạo ra những sản phẩm "giá rẻ nhưng vẫn đápứng nhu cầu thời trang" của người tiêu dùng
Theo như số liệu thể hiện thì người viết có nhận định như sau về các sản phẩm:
Ba sản phẩm là Pyjama, Túi ngủ, Jacket: Một là công ty nên có chủ trương tạm
Trang 19cao, tốc độ tăng trưởng qua các năm giảm, mà các sản phẩm này đã từng là sản phẩmxuất khẩu chủ lực của công ty Nên chuyển đội ngũ chuyên sản xuất 2 sản phẩm ấy,cũng như tận dụng nguồn máy móc thiết bị sang tập trung sản xuất các sản phẩm khác
có nhu cầu tăng cuờng lao động, một mặt là tận dụng lao động có tay nghề, có thâmniên làm việc, mặt khác là nhằm giữ lại nguồn lao động có kỹ thuật tốt về sản phẩm
có thể phục vụ sản xuất khi thị trường về sản phẩm hồi phục Hai là công ty nên địnhhướng phát triển sản phẩm theo từng thị trường thật cụ thể, bởi vì có thể nhu cầu hoặc
sở thích thời trang của sản phẩm đó không còn phù hợp với thị trường truyền thốngnữa, mà có những thị trường khác đang có nhu cầu về sản phẩm
Hai sản phẩm Váy và Đồ thể thao công ty nên tăng cường đội ngũ phát triển sản
phẩm, bởi lẻ xu hướng thời trang hiện nay về nhu cầu sản phẩm rất mạnh, trong khicông ty khó có thể chinh phục khách hàng tiềm năng bằng những thiết kế đơn giản,
kỹ thuật may trung bình… mà phải đầu tư sâu hơn nữa Vì đây cũng là sản phẩm mànhững năm trước đem lại giá trị kim ngạch rất lớn cho công ty, sự tăng giảm kimngạch qua các năm chứng tỏ nhu cầu thị trường về sản phẩm còn cao, cụ thể năm
2009 thị phần sản phẩm có giảm so với năm 2008 từ 9.75% xuống còn 2.75%, nhưngđến năm 2010 cũng có dấu hiệu tăng lại chiếm 3.56% trong tổng kim ngạch xuấtkhẩu
Hai sản phẩm là Áo sơ mi và Quần các loại là 2 sản phẩm chủ lực của công ty từ
lúc mới thành lập cho đến nay, ban đầu công ty chỉ hoạt động gia công sản phầm rồixuất sang các thị trường do đối tác yêu cầu, nhờ đó mà công ty đã có được nền tảntrong việc phát triển sản phẩm Trong những năm gần đây theo xu hướng hạn chếxuất khẩu gia công trong ngành may mặc Việt Nam, công ty cũng đã thành côngtrong việc chinh phục đối tác ký hợp đồng những sản phẩm hoàn toàn do công ty thiết
kế và sản xuất ra Trong tình hình như hiện nay thì 2 sản phẩm này được đánh giá cao
là phù hợp với xu hướng tiêu dùng trên thế giới Sản phẩm Áo sơ mi chiếm tỉ trọngtăng đều qua các năm nhưng giá trị kim ngạch thì biến động, năm 2009 kim ngạchxuất khẩu tăng 52.37% so với năm 2008, đạt giá trị là 10,935,303 USD, nhưng sangnăm 2010 sản lượng có giảm nhưng cũng đạt gần 96% so với năm 2009 Sản phẩmQuần các loại trong đó có quần Jean là nhận được nhiều hợp đồng nhất, là sản phẩmchiếm tỉ trọng cao trong kim ngạch xuất khẩu của công ty nên công ty rất quan tâmphát triển sản phẩm từ khâu thiết kế đến sản xuất và wash sản phẩm theo yêu cầucũng như thị hiếu khách hàng trong năm 2008 kim ngạch xuất khẩu đạt giá trị là22,991,867 USD sang năm 2009 giá trị kim ngạch tăng thêm 6,694,648 USD tươngđương tăng 30% so với năm 2008, năm 2010 giá trị kim ngạch tuy có giảm nhưngcũng đạt con số ấn tượng là 25,566,310 USD Vì thế công ty cần quan tâm hơn nửachính sách phát triển sản phẩm sang các thị trường xuất khẩu tiềm năng
2.3.4 Phân tích kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường chủ yếu của công ty BẢNG 2.5 : Tình hình kim ngạch xuất khẩu theo thị trường qua các năm
Mỹ 10,337,275 30.65 24,140,454 57.22 19,357,119 51.63 13,803,180 133.53 -4,783,335 -19.81
Bỉ 4,786,079 14.19 0 0.00 0 0.00 -4,786,079 -100.00 0 0.00 Nga 98,971 0.29 126,697 0.30 168,887 0.45 27,725 28.01 42,190 33.30