1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Biện pháp phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú của tỉnh Yên Bái : Luận văn ThS. Giáo dục học: 60 14 05

142 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN HỮU DƯƠNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ CỦA TỈ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN HỮU DƯƠNG

BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ CỦA TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

(yêu cầu bìa 1: bìa màu, trình bày như my, chú ý cân đối giữa các phần trong trang bìa, chỉ dùng chữ Ti

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN HỮU DƯƠNG

BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ CỦA TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 05

(Yêu cầu bìa 2 (bìa lót) : giấy trắng, trình bày như mẫu này, chú ý cân đối giữa

các phần trong trang bìa, chỉ dùng chữ T

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Quang Sơn

Trang 3

NHỮNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

CNH-HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

CNTT&TT Công nghệ thông tin và truyền thông

ICT Information and Communication Technology-

Công nghệ thông tin và truyền thông

Trang 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ỨNG

DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC QUẢN

LÝ Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TRUNG

Trang 5

1.2 Một số khái niệm cơ bản 15

1.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong các nhà trường phổ thông 321.3.1 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 321.3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục 341.3.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý trường

1.4 Nội dung quản lý phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong

quản lý nhà trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở 351.4.1 Nâng cao nhận thức đối với cán bộ quản lý, giáo viên về ứng

dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý 351.4.2 Xây dựng và triển khai mô hình ứng dụng công nghệ thông tin

1.4.3 Quản lý đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hợp lý cán bộ và giáo

viên, học sinh về năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong công

1.4.4 Quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng ứng dụng công nghệ thông tin 371.4.5 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá, khen thưởng về ứng dụng công

1.4.6 Quản lý công tác xã hội hóa việc phát triển ứng dụng công nghệ

Trang 6

Tiểu kết chương 1 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG

CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ Ở

CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TRUNG HỌC CƠ

2.1 Đặc điểm về điều kiện địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh

2.2.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục 502.3 Khái quát về các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở

2.3.1 Trường phổ thông dân tộc nội trú trong hệ thống giáo dục quốc

2.3.2 Trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở 552.3.3 Đặc điểm tình hình các trường phổ thông dân tộc nội trú trung

2.3.5 Học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở 65

Trang 7

2.4 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý

ở các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở của tỉnh Yên

2.4.1 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 702.4.2 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản

2.5 Đánh giá chung thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong

công tác quản lý ở các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ

THÔNG TIN TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ Ở CÁC TRƯỜNG

PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ CỦA

Trang 8

3.2.5 Tính khả thi 893.3 Biện pháp quản lý phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong

công tác quản lý ở các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ

3.3.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và giáo

viên về tầm quan trọng của việc phát triển ứng dụng công nghệ thông

3.3.2 Biện pháp 2: Xây dựng và triển khai mô hình ứng dụng công

nghệ thông tin trong công tác quản lý nhà trường 943.3.3 Biện pháp 3: Đẩy mạnh bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng ứng

dụng công nghệ thông tin cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và

3.3.4 Biện pháp 4: Nâng cấp cơ sở hạ tầng ứng dụng công nghệ thông

3.3.5 Biện pháp 5: Tăng cường đôn đốc, kiểm tra, đánh giá, khen

thưởng về công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường 1053.3.6 Biện pháp 6: Đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong việc phát

triển ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà trường 108

3.5 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 111

Trang 9

2.2 Uỷ ban nhân dân tỉnh Yên Bái 121

2.4 Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Yên Bái 1222.5 Với các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở của tỉnh

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

Trang

Hình 1.2 Vai trò của thông tin trong công tác quản lý 17

Bảng 2.6 Thống kê xếp loại hạnh kiểm học sinh 50Bảng 2.7 Sự phát triển về quy mô trường lớp, số lượng học sinh 61Bảng 2.8 Thống kê điểm tuyển sinh vào lớp 6 của các trường 62Bảng 2.9 Thống kê xếp loại về học lực của học sinh DTNT THCS 62Bảng 2.10 Thống kê xếp loại về hạnh kiểm của học sinh DTNT

Bảng 2.11 Thống kê tỉ lệ % học sinh đỗ tốt nghiệp THPT 64

Trang 11

Bảng 2.13 Trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân

Bảng 2.14 Thống kê cơ sở vật chất, thiết bị dạy học 69Bảng 2.15 Trình độ tin học của cán bộ quản lý, giáo viên 71Bảng 2.16 Thống kê ứng dụng CNTT trong công tác quản lý 76Bảng 2.17 Thống kê mức độ sử dụng các phần mềm trong công tác

Hình 3.1 Mô hình ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản

lý ở các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở của tỉnh

Hình 3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý dạy

và học ở các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở của

Bảng 3.1 Kết quả đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp quản

lý phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý ở

các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở của tỉnh Yên Bái 112Bảng 3.2 Kết quả đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp quản lý

phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý ở các

trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở của tỉnh Yên Bái 115Bảng 3.3 Tổng hợp mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện

pháp quản lý phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác

quản lý ở các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở của

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, công nghệ thông tin (CNTT) đã và đang được ứng dụng rất mạnh mẽ và thực sự đã chứng tỏ vai trò to lớn trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý là một xu hướng tất yếu của tất cảc các ngành, các lĩnh vực Thế kỷ 21, thế kỷ của công nghệ thông tin, của nền văn hoá tri thức trong xu thế toàn cầu hoá,

đã đưa giáo dục Việt Nam đến những thời cơ và thách thức mới Trong nền kinh tế tri thức, khoa học công nghệ có tầm quan trọng đặc biệt, là động lực

cơ bản thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội

Trong quản lý giáo dục nói chung và quản lý nhà trường nói riêng, công nghệ thông tin là công cụ quản lý và điều hành rất hiệu quả, đảm bảo xử

lý nhanh chóng, chính xác giúp người quản lý đưa ra được những quyết định đúng đắn, kịp thời Để thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam về việc đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục Việt Nam trong đó đổi mới quản lý giáo dục là khâu then chốt thì việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà trường là một trong những giải pháp hết sức quan trọng và cấp bách

Cùng với việc đổi mới công tác quản lý giáo dục, cải cách thủ tục hành chính, việc tận dụng những ưu thế vượt trội của công nghệ thông tin trong công tác quản lý ở các nhà trường nói chung, trong đó có các trường phổ thông dân tộc nội trú là một trong những giải pháp đổi mới thiết thực, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, chất lượng giáo dục

Qua quá trình tìm hiểu, tác giả nhận thấy trong những năm gần đây, các trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT) đã sử dụng công nghệ thông tin như một phương tiện quản lý và đã đạt được một số kết quả nhất định

Trang 13

Công nghệ thông tin đã góp phần quan trọng giúp cán bộ lãnh đạo các trường

có tầm nhìn bao quát trong công tác quản lý, phát triển các nguồn lực của nhà trường; giúp giáo viên làm việc có tính kỷ luật, khoa học; góp phần tăng hiệu quả công tác quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục của các nhà trường

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc ứng dụng công nghệ thông tin tại một số trường phổ thông dân tộc nội trú, nhất là các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở (PTDTNT THCS) ở các huyện vùng núi của tỉnh Yên Bái vẫn còn nhiều hạn chế Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý chưa hiệu quả, chưa khai thác hết tiềm năng, nguồn lực sẵn

có của nhà trường Những nguyên nhân cơ bản của những hạn chế đó là:

- Cán bộ quản lý các trường chưa nhận thức đầy đủ vai trò, tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý tại các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở chưa được quan tâm đúng mức

- Kiến thức và kỹ năng công nghệ thông tin của cán bộ quản lý và giáo viên còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý

- Có nhiều phần mềm quản lý được sử dụng trong nhà trường nhưng phần lớn trong số đó là phần mềm phức tạp, khó sử dụng, chưa đáp ứng thiết thực cho công tác quản lý tại các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học

cơ sở của tỉnh Yên Bái

Với mong muốn khai thác hiệu quả các nguồn lực hiện có, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý ở các trường phổ thông

dân tộc nội trú, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài: “Biện pháp phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý ở các trường phổ thông dân tộc nội trú của tỉnh Yên Bái”

Trang 14

- Trên cơ sở phân tích, đánh giá hiện trạng, đề xuất các biện pháp phát triển ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng được nhu cầu ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý và phù hợp với điều kiện hiện có của các trường phổ thông dân tộc nội trú của tỉnh Yên Bái

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý tại các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở của tỉnh Yên Bái

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Một số biện pháp quản lý phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý tại các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ

sở của tỉnh Yên Bái

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nói chung và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý

ở các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở nói riêng

Trang 15

- Khảo sát thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý ở các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở của tỉnh Yên Bái

- Đề xuất một số biện pháp phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý tại các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ

sở của tỉnh Yên Bái

5 Giả thuyết khoa học

Quản lý phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý tại các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở của tỉnh Yên Bái hiện nay đã đạt được một số kết quả nhất định song vẫn còn nhiều hạn chế Nếu chọn lựa, đề xuất và áp dụng được một số biện pháp quản lý phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý phù hợp với thực tiễn thì

sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng giáo dục tại các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở của tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Tỉnh Yên Bái có 7 trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở và

01 trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông Do điều kiện về thời gian, nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý tại 3 trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở của tỉnh Yên Bái

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu Luật giáo dục, các văn kiện, chỉ thị của Đảng và Nhà nước về định hướng phát triển việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý ở các nhà trường

Trang 16

- Nghiên cứu các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, Bộ Thông tin và Truyền thông về ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý

- Tham khảo các tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của luận văn

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra: Thông qua phỏng vấn trực tiếp, phiếu trưng cầu ý kiến, tìm hiểu nhận thức, nguyện vọng của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh để thu thập thông tin về hiện trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý tại 3 trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở của tỉnh Yên Bái

- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến của các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý

7.3 Những phương pháp hỗ trợ khác

Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong việc xử lý các số liệu

8 Những đóng góp mới của đề tài

Hệ thống hóa được cơ sở lý luận về phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản ở trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ

sở

Khảo sát, đánh giá được thực trạng phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý tại các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở của tỉnh Yên Bái

Đề xuất được 6 biện pháp quản lý phù hợp với thực tiễn nhằm phát triển

Trang 17

dân tộc nội trú trung học cơ sở của tỉnh Yên Bái Các biện pháp có tính cần thiết và khả thi cao đã được khảo nghiệm qua đánh giá của các cán bộ quản lý giáo dục đang công tác tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Yên Bái, các cán bộ quản lý, giáo viên của các trường các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở của tỉnh Yên Bái

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài gồm 3 chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý ở các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở

Chương 2: Thực trạng quản lý phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý ở các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở của tỉnh Yên Bái

Chương 3: Một số biện pháp phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý ở các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở của tỉnh Yên Bái

Trang 18

và đang chi phối tới tất cả các mặt của cuộc sống và góp phần quan trọng thúc đẩy cho tất cảc các ngành phát triển vượt bậc trong đó có ngành giáo dục và đào tạo

Trên thế giới, việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin vào quản

lý nói chung và quản lý các nhà trường được tiến hành từ rất sớm đặc biệt là ở những nước có trình độ công nghệ thông tin tiên tiến như Mỹ và các nước Bắc

Âu Ở các nước này, việc sử dụng công nghệ thông tin như một công cụ quản

lý nhà trường gần như là một điều tất yếu Ở đó, ngay từ cuối những thập niên

90 của thế kỷ trước, quản lý nhà trường bằng công nghệ thông tin đã nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của Chính phủ Có những trường

đã xây dựng và vận hành thành công mô hình trường học điện tử

Tuy nhiên, việc nghiên cứu phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục không đồng đều tại các khu vực trên thế giới Trong khi ở khu vực Bắc Âu và Mỹ ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục phát triển rất mạnh, thì ở châu Á và châu Phi còn chậm

Tại châu Á, ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống giáo dục chưa có nhiều thành công vì một số lý do như: các quy tắc, luật lệ bảo thủ, tệ

Trang 19

quan liêu, sự ưa chuộng đào tạo truyền thống của văn hóa, vấn đề ngôn ngữ không đồng nhất, cơ sở hạ tầng nghèo nàn và nền kinh tế lạc hậu ở một số quốc gia Tuy vậy, các quốc gia châu Á đang dần phải thừa nhận tiềm năng không thể chối cãi mà ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống giáo dục mang lại Một số quốc gia, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển tại châu Á cũng đang có những biện pháp nỗ lực phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống giáo dục và đã đạt được những kết quả ấn tượng như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc

1.1.2 Trong nước

1.1.2.1 Chính sách phát triển công nghệ thông tin

Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến phát triển giáo dục, coi giáo dục là Quốc sách hàng đầu Cùng với việc chăm lo phát triển giáo dục và đào tạo, Đảng và Nhà nước cũng có những chính sách ưu tiên phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục Chỉ thị số 58/CT-TW ngày 17/10/2000

của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ:“Các cấp

uỷ, tổ chức Đảng chỉ đạo khẩn trương xây dựng các hệ thống thông tin cần thiết phục vụ lợi ích công cộng của nhân dân, phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước Sớm hoàn thiện, thường xuyên nâng cấp và sử dụng có hiệu quả mạng thông tin diện rộng của Đảng và Chính phủ Đảm bảo đến năm 2005, về cơ bản xây dựng và đưa vào hoạt động hệ thống thông tin điện

Trang 20

Nghị quyết số 49/CP ngày 04 tháng 8 năm 1993 của Chính phủ về phát

triển công nghệ thông tin ở Việt Nam trong những năm 90 cũng nêu rõ: “Cần

nhanh chóng đào tạo chính quy một đội ngũ chuyên viên lành nghề trong lĩnh vực công nghệ thông tin, giáo dục phổ cập về công nghệ thông tin trong trường trung học, phổ biến kiến thức về công nghệ thông tin trong xã hội, đồng thời tăng cường áp dụng công nghệ thông tin trong bản thân ngành Giáo dục và Đào tạo” [15] Tin học hóa quản lý giáo dục vừa là nhiệm vụ

phải thực hiện đồng thời cũng là biện pháp để thực hiện tốt nhất, hiệu quả nhất công tác quản lý giáo dục

Trong những năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng luôn quan tâm đến việc phát triển giảng dạy và ứng dụng công nghệ thông tin trong các nhà trường, cơ sở giáo dục Hàng năm Bộ Giáo dục và Đào tạo đều có những văn bản chỉ đạo nhằm thúc đẩy mạnh mẽ ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý:

- Chỉ thị số 29/2001/CT-BGDĐT ngày 30/7/2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ

thông tin trong ngành giáo dục nêu rõ: “Tập trung phát triển mạng máy tính

phục vụ GD&ĐT, kết nối Internet đến tất cả các cấp quản lý và cơ sở giáo dục, hình thành một mạng giáo dục (EduNet)” [6] nhằm tăng cường giảng

dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giai đoạn 2005;

2001 Chỉ thị số 55/2008/CT2001 BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012 đã nêu:

“Điều tra, khảo sát hiện trạng, xác định nhu cầu và nhiệm vụ về công nghệ thông tin trong các cơ quan quản lý giáo dục và cơ sở giáo dục trên toàn

Trang 21

quốc, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin dài hạn của ngành

Ứng dụng công nghệ thông tin để triển khai thực hiện cải cách hành chính và Chính phủ điện tử, thực hiện việc chuyển phát công văn, tài liệu qua mạng; Tin học hoá công tác quản lý ở các cấp quản lý giáo dục (Bộ, sở, phòng) và ở các cơ sở giáo dục

Xây dựng hệ thống thông tin quản lý giáo dục và thống kê giáo dục thông qua việc tích hợp cơ sở dữ liệu từ các cơ sở giáo dục đến các cấp quản

lý giáo dục.” [7]

Để khẳng định tầm quan trọng của công nghệ thông tin trong giáo dục,

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chọn chủ đề năm học 2008 - 2009 là “Năm học

ứng dụng công nghệ thông tin”

Với chính sách khuyến khích, đầu tư mạnh mẽ của Đảng, Nhà nước,

công nghệ thông tin và truyền thông ở Việt Nam đang phát triển hết sức mạnh

mẽ và có tác động trực tiếp đến tất cả các ngành, lĩnh vực Sự phát triến của Giáo dục và công nghệ thông tin có mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ, thúc đẩy lẫn nhau

1.1.2.2 Việc nghiên cứu phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục

Việc nghiên cứu phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam đã được các cấp, các ngành, các đơn vị và nhiều doanh nghiệp quan tâm Tại các hội nghị, hội thảo và các đề tài nghiên cứu khoa học về công nghệ thông tin trong giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn

đề quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như:

Trang 22

Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo tại Đại học Quốc gia Hà Nội năm

Hội thảo Quốc gia về công nghệ thông tin và truyền thông lần thứ tư diễn ra tại thành phố Huế với chủ đề “Công nghệ thông tin và sự nghiệp Giáo dục-Y tế” đã tập trung thảo luận vấn đề làm thế nào để thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin nhằm phục vụ một cách hiệu quả nhất cho sự phát triển của giáo dục trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế của chúng ta

Hội thảo khoa học về công nghệ thông tin và truyền thông “Các giải pháp công nghệ và quản lý trong ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào đổi mới phương pháp dạy-học” do Trường Đại học Sư phạm Hà Nội phối hợp với Dự án Giáo dục đại học tổ chức từ 9-10/12/2006 tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trong tất cả các hội thảo, các nhà khoa học, các nhà quản lý đều khẳng định vị trí, tầm quan trọng của việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đặc biệt là đối với giáo dục

Phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục nói chung và quản lý nhà trường nói riêng là một vấn đề đang được nhiều nhà

Trang 23

Viện Chiến lược đã đề cập nhiều đến việc phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục Tuy nhiên, các nghiên cứu thường chỉ đề cập chung đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục Nhiều luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý cũng đề cập đến vấn đề phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường nhưng chủ yếu tập trung vào việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý dạy học

Một số ít đề tài đề cập đến ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà trường phổ thông như:

- Đề tài “Một số biện pháp chỉ đạo việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý dạy học tại các trường trung học phổ thông” của tác giả Nguyễn Văn Tuấn đề cập đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý giáo dục tại trường trung học phổ thông Ngô Quyền thành phố Hải Phòng

- Đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy, học và quản lý ở trường phổ thông tiến tới xây dựng mô hình trường học điện tử” do Tiến sỹ

Võ Thanh Bình - Đại học Sư phạm kỹ thuật Hưng Yên chủ trì

Tuy nhiên, các đề tài trên đều nghiên cứu dựa trên đánh giá thực trạng

và đề xuất giải pháp đối với các trường trung học phổ thông ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển

Gần đây, ngày 10/4/2011, Trường Đại học FPT phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội tổ chức hội thảo “Ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong quản lý và điều hành ngành giáo dục Thủ đô” Tại hội thảo, các nhà khoa học, các nhà quản lý đã đề cập đến những vấn đề: Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác giảng dạy và quản lý tại cơ sở giáo dục; toàn cảnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và điều hành của ngành giáo dục thủ đô; một số ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và điều hành

Trang 24

Các thành viên tham gia hội thảo đã cho thấy: Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành ngành giáo dục đào tạo đã được triển khai

từ khá sớm với các phần mềm quản lý tài chính, quản lý thi và tuyển sinh, quản lý cơ sở vật chất, hệ thống thư viện và học liệu Tuy nhiên, những ứng dụng này chưa đồng bộ và còn mang tính tự phát, chưa có phần mềm “lõi” về quản lý điều hành trong phạm vi Sở và các cơ quan trực thuộc, chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu chung cho toàn ngành Đội ngũ cán bộ, viên chức trong ngành có nhận thức và kỹ năng về công nghệ thông tin cũng ngày càng tăng song nhân lực phụ trách và trực tiếp thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan quản lý giáo dục và các nhà trường còn thiếu

Bên cạnh sự quan tâm của các cấp quản lý, các nhà khoa học đối với việc đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy, học và quản lý trong nhà trường thì các doanh nghiệp, các tổ chức cũng nhận thấy đây là một mảng thị trường đầy tiềm năng Nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã đầu tư nghiên cứu và xây dựng các phần mềm hỗ trợ quản lý nhà trường như:

Dự án hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục thuộc Ủy ban châu Âu (Support

to the Renovation of Education Management - gọi tắt là Dự án SREM) với các sản phẩm phần mềm PEMIS, VEMIS,

Công ty Công nghệ tin học nhà trường đã có rất nhiều sản phẩm của tác giả Bùi Việt Hà: Phần mềm School Viewer để quản lý nhà trường, loạt phần mềm TKB để hỗ trợ xếp thời khóa biểu, các phần mềm hỗ trợ học tập

Công ty TNHH phần mềm Hoàng Hà với Hệ thống phần mềm tổng thể

hỗ trợ công tác quản lý trong ngành giáo dục

Công ty phần mềm ứng dụng Hà Nội - HanoiSoft với Phần mềm Quản

lý học sinh (của nhà trường)

Trang 25

Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) cũng phát triển các phần mềm quản lý nhà trường cùng với các chương trình hỗ trợ về máy tính cho các cơ sở giáo dục để truy cập Internet

Một số phần mềm quản lý nhà trường miễn phí của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Tuy nhiên, hầu hết các phần mềm đã đầu tư rất nhiều nhưng thường ôm đồm quá nhiều chức năng, được xây dựng theo ý kiến chủ quan của những người thiết kế phần mềm, các kỹ sư lập trình mà chưa có thời gian nghiên cứu

kỹ thực tiễn quản lý, khả năng nguồn lực công nghệ thông tin của các nhà trường Chính vì vậy, khi các trường mua và triển khai vào thực tế đã bộc lộ nhiều hạn chế như:

- Cơ sở dữ liệu rất đồ sộ thừa nhiều thông tin, chức năng không cần thiết trong khi lại thiếu những thông tin, chức năng thiết thực trong công tác quản lý thường ngày của nhà trường

- Các phần mềm thường khó sử dụng, giao diện không thân thiện, sử dụng nhiều thuật ngữ khó hiểu

- Các phần mềm không có cơ sở dữ liệu lõi, theo chuẩn thống nhất nên không chia sẻ được cho nhau dẫn đến mỗi công việc quản lý lại phải nhập lại

số liệu gây khó khăn, phiền phức, lãng phí

Tóm lại: Qua tổng quan về các đề tài, các hội thảo nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam từ trước tới nay, hầu hết các tác giả đều khẳng định ý nghĩa

to lớn của công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo Các nghiên cứu cũng chỉ ra thực tế ở Việt Nam việc đưa công nghệ thông tin vào các hoạt động nhà trường nói chung và hoạt động quản lý nhà trường nói riêng còn tồn tại nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết Mặt khác, các nghiên cứu

Trang 26

chỉ tập trung vào việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và chủ yếu đối với các trường trung học phổ thông

Luận văn này nhằm nghiên cứu đề xuất các biện pháp phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý phù hợp với điệu kiện thực tế của các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở của tỉnh Yên Bái nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của các trường học này

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

Thuật ngữ quản lý đã có từ rất lâu và được sử dụng rộng rãi nhưng hầu như vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất Theo lý luận quản lý của Henri Fayol (người Pháp - người đạt nền móng cho lý luận tổ chức cổ điển) ông nói

về nội hàm của khái niệm quản lý như sau: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” [41, tr.59]

Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về “quản lý là chức năng và hoạt động của hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau, bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó” [37, tr.590]

Theo quan điểm duy vật lịch sử thì lịch sử phát triển của xã hội loài người trải qua 5 giai đoạn, ở mỗi giai đoạn có một hình thái kinh tế xã hội đặc thù và có một đặc trưng về tổ chức, quản lý xã hội Ngay từ khi sơ khai tổ chức sinh hoạt và lao động của loài người đã mang tính cộng đồng, cho đến khi xuất hiện các tổ chức thị tộc, bộ lạc vấn đề tổ chức xã hội và quản lý xã hội chính thức được ra đời cùng với sự quản lý và phân chia lao động Hoạt động quản lý gắn liền và được xem như là một bộ phận của khoa học lao động, khoa học tổ chức, xã hội học

Trang 27

Khái niệm “quản lý” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên những cách tiếp cận khác nhau Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật đang là vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm

Trong Tập bài giảng Khoa học quản lý đại cương của các tác giả

Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã trích dẫn:

“- Theo F.W.Tay lor (nhà quản lý người Mỹ 1856 - 1915) Ông cho rằng “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái

đó bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”, được thể hiện cụ thể qua bốn nguyên tắc quản lý của ông

- Theo H.Fayol (1841-1925 ), kỹ sư người Pháp - Ông quan niệm:

“Quản lý hành chính là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra;

và được thể hiện trên 14 nguyên tắc quản lý của ông Trong học thuyết quản

lý của mình H Fayol đưa ra 5 chức năng cần thiết của một nhà quản lý là: Dự báo và lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp, kiểm tra và sau này được kết hợp thành 4 chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra” [14]

Sau khi xem xét phân tích các khái niệm quản lý trên có thể đưa ra khái niệm về quản lý như sau: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên của một tổ chức, phát triển hợp quy luật nhằm sử dụng các nguồn lực hợp lý để đạt được các mục đích đã định”

Với khái niệm này, về bản chất quá trình quản lý có thể được biểu diễn dưới dạng sơ đồ sau:

Trang 28

Hình 1.1 Sơ đồ bản chất quá trình quản lý

Trong sơ đồ này chúng ta thấy thông tin có vai trò, vị trí hết sức quan trọng trong qua trình quản lý Thông tin là căn cứ quan trong nhất để thực hiện các việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra

Ngoài ra, trong bất kỳ một tổ chức nào cũng có thể xác định ba hệ thống :

- Hệ thống điều khiển (Chủ thể quản lý), có nhiệm vụ ra các quyết định

- Hệ thống bị điều khiển (Khách thể quản lý, đối tƣợng quản lý) thực hiện các hoạt động nhằm thi hành các quyết định xác định bởi hệ thống điều khiển

- Hệ thống thông tin thực hiện sự liên hệ giữa hai hệ thống trên, đảm bảo cho tổ chức hoạt động đạt đƣợc các mục tiêu đã đặt ra

Hình 1.2 Vai trò của thông tin trong công tác quản lý

Trang 29

Nhiệm vụ quan trọng của người quản lý là ra các quyết định Hệ thống thông tin cung cấp cho người quản lý các cứ liệu, các điều kiện, các cơ sở pháp lý, độ tin cậy để ra quyết định

* Lập kế hoạch

Kế hoạch là văn bản, trong đó xác định những mục tiêu và những quy định, thể thức để đạt được những mục tiêu đó Có thể hiểu lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu, hệ thống các hoạt động và các điều kiện đảm bảo thực hiện các mục tiêu đó

Nói cách khác, kế hoạch là bản hướng dẫn, theo đó:

- Một hệ thống, cơ quan, đơn vị sẽ đầu tư nguồn lực theo nhu cầu để đạt được mục tiêu

- Các thành viên của hệ thống, cơ quan, đơn vị tiến hành các hoạt động

có liên quan chặt chẽ tới các mục tiêu, các quy định và các quá trình; đồng thời trên cơ sở đó giám sát và đánh giá việc thực hiện các mục tiêu và có thể điều chỉnh các hoạt động nếu không thoả mãn những tiến độ đạt được

* Tổ chức

Tổ chức là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, phân định quyền hạn và trách nhiệm cụ thể với các nguồn lực và điều kiện hoạt động cho các thành viên của tổ chức để họ có thể tiến hành các công việc nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả Ứng với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc của tổ chức của đơn vị cũng khác nhau Người quản lý cần lựa chọn cấu trúc của tổ chức cho phù hợp với mục tiêu và nguồn lực hiện

có Quá trình đó còn được gọi là thiết kế tổ chức

* Chỉ đạo

Trang 30

Chỉ đạo là điều hành, điều khiển tác động, huy động và giúp đỡ những cán bộ dưới quyền thực hiện những nhiệm vụ được phân công Hoạt động chỉ đạo là làm việc với con người

Như vậy bản chất chỉ đạo là tác động một cách có ý thức của chủ thể quản lý vào đối tượng bị quản lý trên cơ sở phát huy một cách tối đa những năng lực của cấp dưới nhằm đạt tới hiệu quả cao nhất những mục tiêu của tổ chức Nếu chỉ đạo hướng hành vi chủ đạo vào kết quả hoạt động tập thể thì quản lý bám sát các mục tiêu cụ thể và gắn với các thao tác

* Kiểm tra

Kiểm tra là một trong những chức năng cơ bản của quản lý, là quá trình xem xét thực tế nhằm kiểm nghiệm giữa mục tiêu đề ra với cái đạt được trên thực tế của đối tượng để thu nhận thông tin ngược tạo nên quá trình điều chỉnh và tự điều chỉnh của hệ thống bị quản lý Như vậy kiểm tra là quá trình thu nhận thông tin, điều chỉnh thông tin, tạo lập kênh thông tin phản hồi trong quản lý giáo dục, giúp các nhà quản lý điều chỉnh có hiệu quả mục tiêu quản

Người quản lý phải kiểm tra các hoạt động của đơn vị và việc thực hiện các mục tiêu đề ra Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:

- Xây dựng chuẩn thực hiện

- Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn

- Nếu có sự chênh lệch thì cần điều chỉnh hoạt động Trong trường hợp cần thiết có thể điều chỉnh mục tiêu

Đề cập đến vấn đề quản lý, tác giả Đặng Vũ Hoạt và tác giả Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [28, tr.29]

Trang 31

Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường Với khái niệm trên, quản lý bao gồm các các yếu tố (các điều kiện) sau:

- Phải có một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động, và một đối tượng bị quản lý phải tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý tạo ra Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần

- Phải có một mục tiêu đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này

là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động

- Chủ thể có thể là một người, nhiều người, một thiết bị Còn đối tượng

có thể là con người (một hoặc nhiều người) hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết

bị, đất đai, thông tin, hầm mỏ v.v…) hoặc giới sinh vật (vật nuôi, cây trồng)

Như vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý, nhưng bản chất của quản lý chính là quá trình tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản

lý vào đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra

Hình 1.3 dưới đây thể hiện một cách hiểu về quản lý:

Hình 1.3 Mô hình quản lý 1

Chủ thể quản lý

Đối tượng

bị quản lý

Mục tiêu

Trang 32

Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng cần hiểu quản lý một cách cởi mở, dân chủ hơn: “Quản lý chính là quá trình tác động qua lại có ý thức, hợp quy luật giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra”

Hình 1.4 dưới đây thể hiện một cách hiểu về quản lý theo quan điểm đó:

Hình 1.4 Mô hình quản lý 2

1.2.2 Quản lý giáo dục

Theo sơ đồ phân loại khoa học (tam giác khoa học) của B.M Kêđrốp thì quản lý‎ giáo dục thuộc ngành khoa học xã hội Do mỗi phương thức xã hội đều có một cách quản lý‎ khác nhau, cho nên khái niệm quản lý giáo dục đã ra đời và hình thành từ nhiều quan niệm khác nhau

Ở các nước tư bản chủ nghĩa, do vận dụng lý‎ luận quản lý xí nghiệp vào quản lý cơ sở giáo dục (trường học) nên quản lý giáo dục được coi như một loại quản lý “xí nghiệp đặc biệt”

Ở các nước xã hội chủ nghĩa, do vận dụng quản lý xã hội vào quản lý giáo dục, nên quản lý giáo dục thường được xếp trong lĩnh vực quản l‎ý văn hoá tư tưởng như A.G Afanaxep đã phân chia trong cuốn sách kinh điển nổi

Chủ thể quản lý

Đối tượng

bị quản lý

Mục tiêu

Trang 33

tiếng của ông: “Con người trong quản l‎ý xã hội” Như vậy, quản l‎ý giáo dục được coi là bộ phận nằm trong lĩnh vực quản l‎ý văn hoá tinh thần

Ở Việt Nam, quản lý‎ giáo dục cũng là một lĩnh vực được đặc biệt quan tâm Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa ra hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [18]

Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp giáo dục, kế hoạch hoá tài chính, cung tiêu… nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng, cũng như về chất lượng” [41, tr.29]

Quản lý giáo dục là một ngành khoa học nó có những đặc trưng riêng khác biệt với các quản lý kinh tế xã - hội khác Để nắm được các mô hình quản lý giáo dục và vận dụng chúng vào thực tiễn quản lý giáo dục, quản lý nhà trường chúng ta cần biết các yếu tố nào đã cấu thành lý thuyết quản lý giáo dục Các nhà lý luận cho rằng có ba thành tố sau:

- Khái niệm: Quản lý giáo dục là khoa học quản lý cũng như các khoa học quản lý khác đều có bốn chức năng cơ bản: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra được thực hiện trên toàn bộ các hoạt động giáo dục

- Quá trình hình thành “Quản lý giáo dục”: là quá trình đan xen kéo dài giữa một bên là bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, các chiến lược quản lý và các hành vi chấp nhận được để đáp ứng bối cảnh đó với một bên là những dẫn giải về các luận cứ cho việc sử dụng những chiến lược và hành vi quản lý tương ứng Như vậy, vai trò của lý thuyết quản lý giáo dục là: Làm sáng tỏ

Trang 34

những giá trị tiềm ẩn; dự báo những kết quả; tạo điều kiện cho những phân tích so sánh

- Nội dung của quản lý giáo dục: Quản lý giáo dục mang tính liên ngành

+ Xã hội học là một thành tố trong sự phát triển của lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục nổi bật nhất ở lĩnh vực lý luận tổ chức

+ Tâm lý học tổ chức cung cấp lý thuyết có tính thực hành về quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng

+ Lý thuyết quản lý kinh tế được áp dụng vào quản lý giáo dục để quản

lý tài chính, lập kế hoạch ngân sách, tính toán chi phí và tính toán hiệu quả đào tạo,

+ Triết học đóng góp vào việc đánh giá các hoạt động quản lý giáo dục

và làm tăng thêm nhận thức rõ ràng về giá trị và những vấn đề cấp bách về phương diện đạo đức đang làm nền tảng cho những hành vi quản lý trong Nhà trường

+ Bên cạnh đó có những lĩnh vực quản lý chỉ thuộc các nhà quản lý giáo dục: quản lý chương trình, quản lý dạy và học,

1.2.3 Quản lý nhà trường

Vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường vì nhà trường

là cơ sở giáo dục, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục Khi nghiên cứu về nội dung khái niệm quản lý giáo dục, khái niệm trường học được hiểu là tổ chức cơ sở mang tính Nhà nước - Xã hội trực tiếp làm công tác giáo dục- đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai của đất nước

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý trường học (nhà trường) là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học

Trang 35

sinh và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [29,tr.52]

Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là lao động của các cơ quan quản lý, nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [48]

Trong các trường thì đối tượng quản lý bao gồm:

- Nhân lực giáo dục: Là đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và nhân viên phục vụ và học sinh của nhà trường Đội ngũ này cần đủ về số lượng, mạnh

về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu sẽ tạo nên chất lượng của nhà trường Quản

lý nhân lực nhằm tổ chức đội ngũ các thầy giáo, cô giáo, cán bộ công nhân viên và tập thể học sinh thực hiện tốt các nhiệm vụ chuyên môn trong chương trình công tác của nhà trường theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cấp quản lý giáo dục

- Cơ sở vật chất và thiết bị nhà trường: Đây là điều kiện thiết yếu để tổ chức dạy và học Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị nhằm sử dụng, khai thác, bảo quản và đầu tư cơ sở vật chất phục vụ hiệu quả nhất cho việc giảng dạy

và giáo dục

- Quản lý tài chính: Là toàn bộ các nguồn thu, chi trong nhà trường Quản lý tài chính nhằm thoả mãn nhu cầu hoạt động thường xuyên của quá trình giáo dục và dạy học trong nhà trường và đảm bảo nguyên tắc quản lý tài chính theo quy định hiện hành của Nhà nước

Trang 36

- Các lực lượng giáo dục: Xã hội quan tâm đến sự nghiệp giáo dục có biện pháp chủ động phối hợp với nhà trường trong công tác giáo dục và dạy học, điều này mang một ý nghĩa rất quan trọng

Các nội dung quản lý trong nhà trường có thể được mô tả sơ bộ như bảng dưới đây

Bảng 1.1 Các nội dung quản lý nhà trường Nguồn lực

Kế hoạch (KH)

Tổ chức (TC)

Chỉ đạo (CĐ)

Kiểm tra (KT) Hoạt động

Trang 37

đào tạo Ứng dụng công nghệ thông tin sẽ giúp việc giải quyết hệ thống các khâu quản lý ở trên hữu hiệu và nhanh chóng, thuận tiện hơn

1.2.4 Biện pháp

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Biện pháp là cách làm, cách hành động, đối phó để đi đến một mục đích nhất định” [37]

Để hiểu rõ hơn khái niệm biện pháp, chúng ta cần phân biệt nó với một

số khái niệm tương tự như phương pháp, giải pháp, cách thức Điểm giống

nhau của các khái niệm này là đều nói về cách làm cách tiến hành một công việc Điểm khác nhau ở chỗ biện pháp chủ yếu nhấn mạnh đến cách làm, cách hành động cụ thể, trong khi đó phương pháp nhấn mạnh đến trình tự các bước

có quan hệ với nhau (tạo nên một hệ thống) để tiến hành một công việc có mục đích

Tóm lại: Mặc dù khái niệm biện pháp có những điểm giống với các

khái niệm nói trên song nó cũng có điểm riêng Điểm cơ bản của thuật ngữ này chủ yếu nhấn mạnh đến cách làm, cách hành động cụ thể, có nghĩa là biện pháp phải xuất phát từ các giải pháp và sử dụng các phương pháp cụ thể

Trong thực tế công tác quản lý chúng ta thường gặp các loại biện pháp sau đây:

Trang 38

Ngoài ra ta có thể có nhiều biện pháp khi đi sâu vào chi tiết từng công việc như: trao đổi, thuyết phục, họp Sự phân chia này chỉ là tương đối, không hoàn toàn rạch ròi Tuy nhiên, việc phân chia giúp nhà quản lý dễ hình dung và lựa chọn được các biện pháp phù hợp trong một tập hợp các biện pháp tường minh đã được xác định trước

Phân cấp các biện pháp quản lý:

Các biện pháp quản lí tương ứng cũng có những cấp độ khác nhau: Biện pháp vĩ mô, chiến lược (thường dùng cho các kế hoạch chiến lược của Quốc gia, Bộ, Ngành…)

Biện pháp vi mô, chiến thuật (thường sử dụng cho cấp quản lý ở cơ sở) Biện pháp bên trong, biện pháp bên ngoài

Biện pháp trước mắt, biện pháp lâu dài

Biện pháp chi tiết cho mỗi cá nhân

Tuy nhiên, “chiến lược” hay “chiến thuật”, “bên trong” hay “bên ngoài,

“trước mắt” hay “lâu dài” cũng chỉ là các khái niệm với ý nghĩa tương đối

Ví dụ như trường học cũng có thể có kế hoạch và biện pháp chiến lược của mình Điều cần quan tâm hơn là dù ở cấp độ nào, nếu các mục đích là thống nhất thì các biện pháp cũng phải thống nhất, không thể “chiến lược” một đằng, “chiến thuật” một nẻo vẫn hãy gặp trong thực tế Điều quan trọng nhất đối khi lựa chọn biện pháp là phải có tính khả thi và mang lại hiệu quả cao

1.2.5 Phát triển

Phát triển là quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Quá trình đó vừa diễn ra dần dần, vừa nhảy vọt làm cho sự vật, hiện tượng cũ mất đi, sự vật, hiện tượng mới về chất ra đời

Trang 39

Nguồn gốc của sự phát triển nằm ở mâu thuẫn bên trong của sự vật, hiện tượng; động lực của sự phát triển là việc giải quyết mâu thuẫn đó

Phát triển có tính kế thừa Sự vật, hiện tượng mới ra đời từ sự phủ định

có tính kế thừa sự vật, hiện tượng cũ; trong sự vật, hiện tượng mới còn giữ lại,

có chọn lọc và cải tạo những mặt còn thích hợp, chuyển sang sự vật, hiện tượng mới, gạt bỏ những mặt đã lỗi thời, lạc hậu của sự vật, hiện tượng cũ cản trở sự phát triển

- Phát triển có tính đa dạng, phong phú Tuy sự phát triển diễn ra trong mọi lĩnh vực (tự nhiên, xã hội và tư duy), nhưng mỗi sự vật, hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau Tính đa dạng và phong phú của sự phát triển còn phụ thuộc vào không gian và thời gian, vào các yếu tố, điều kiện tác động lên sự phát triển đó

1.2.6 Biện pháp phát triển

Dựa trên sự phân tích về khái niệm biện pháp, khái niệm phát triển, trên

cơ sở tham khảo ý kiến của một số chuyên gia, có thể đưa ra khái niệm về

biện pháp phát triển: là những cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể nhằm thúc đẩy quá trình vận động của vấn đề đó đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn

1.2.7 Công nghệ thông tin

Khái niệm “công nghệ thông tin” và “công nghệ thông tin và truyền thông” được rất nhiều tổ chức trên thế giới định nghĩa

Theo Tổ chức Hợp tác kinh tế và Phát triển (OECD), Công nghệ thông tin và truyền thông (Information and Communication Technology - ICT) là sự kết hợp của công nghiệp chế tạo và dịch vụ thu nhận, truyền, hiển thị số liệu

và thông tin bằng phương tiện điện tử

Trang 40

Tại Việt Nam, khái niệm công nghệ thông tin và truyền thông là một thuật ngữ chỉ ngành nghiên cứu khoa học tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử

lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số

Theo báo điện tử của Đảng Cộng Sản Việt Nam: “Công nghệ thông tin

là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lí thông tin Theo quan niệm này công nghệ thông tin là hệ thống các phương pháp khoa học công nghệ, phương tiện, và công cụ, bao gồm chủ yếu các máy tính, mạng truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế,

xã hội, văn hóa… của con người”

Theo luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH114 ngày 29 tháng 1 năm 2006: Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học công nghệ,

và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lí, lưu trữ và trao đổi thông tin số.[32, tr.30]

Theo các tác giả Phó Đức Hòa và Ngô Quang Sơn: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện kỹ thuật hiện đại nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội ” [20, tr.90]

Thông tin số là thông tin được tạo lập bằng phương pháp dùng tín hiệu

số Số hóa là việc biến đổi các loại hình thông tin sang thông tin số

Phần cứng là sản phẩm thiết bị số hoàn chỉnh; thiết bị số là thiết bị điện

tử, máy tính, viễn thông, truyền dẫn, thu phát sóng vô tuyến điện và thiết bị tích hợp khác được sử dụng để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ

và trao đổi thông tin số

Ngày đăng: 25/09/2020, 23:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w