Ngay từ khoá đầu tiên nhà trường đã rất chú trọng đến việc dạy và học ngoại ngữ cho sinh viên để đáp ứng được yêu cầu mở rộng giao lưu, tăng cường giao tiếp, tiếp cận với những tiến bộ k
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
TRƯƠNG THỊ TUYẾT HẠNH
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
HÀ NỘI - 2008
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trước xu thế hội nhập ngày càng cao, đặc biệt khi Việt Nam đã tham gia vào tổ chức thương mại lớn nhất thế giới WTO thì vai trò của ngoại ngữ càng quan trọng trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong sự nghiệp giáo dục Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng chỉ thị về việc tăng cường công tác dạy học ngoại ngữ nhân dịp về thăm trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội
vào ngày 13-01-1972: “Đối với nước ta, ngoại ngữ là môn rất quan trọng, rất cần thiết, rất cấp bách Các đồng chí phụ trách giáo dục phải rút kinh nghiệm để làm tốt giáo dục ngoại ngữ” Quan điểm này hoàn toàn phù hợp
với xu thế chung của sự phát triển nền giáo dục hiện đại Ngoại ngữ cơ bản nói chung cũng như ngoại ngữ chuyên ngành nói riêng không chỉ góp phần trang bị cho HS – SV những tri thức cần thiết về các đối tượng nhận thức thế giới khách quan thuộc chuyên ngành ấy, mà nó còn là công cụ rất quan trọng giúp cho họ nắm chắc hơn các tri thức cơ sở của các chuyên ngành khác và phát triển năng lực trí tuệ
Hiện nay ngoại ngữ chuyên ngành đã được giảng dạy ở rất nhiều trường
CĐ - ĐH trong cả nước Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chương trình khung của CĐ - ĐH không chuyên ngữ, ngoại ngữ chuyên ngành chiếm một thời lượng đáng kể (180 tiết, tương đương 12 đơn vị học phần) Song thực trạng gần đây cho thấy ở rất nhiều trường CĐ - ĐH không chuyên ngữ, SV khi vào trường đã được học ngoại ngữ ở trường phổ thông từ 3 đến 7 năm và cộng thêm khoảng thời gian được học ngoại ngữ ở trường CĐ - ĐH là 2 hoặc 3 năm, nhưng kết quả về việc sử dụng ngoại ngữ cơ bản cũng như ngoại ngữ chuyên ngành của họ lại không được như mong muốn Rất nhiều SV không có khả năng
sử dụng ngoại ngữ để giao tiếp và rất ít SV có thể sử dụng ngoại ngữ như là một công cụ để học tập, nghiên cứu và mở mang sự hiểu biết Chính điều này khiến
Trang 3họ gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề tuyển chọn nhân lực, cũng như đáp ứng được yêu cầu công việc trong tương lai
Trường Đại học LĐ - XH là trường đại học duy nhất của Bộ Lao động thương binh và Xã hội Trường đào tạo ra những CB không những phục vụ cho ngành mà còn phục vụ cho những ngành nghề khác cho xã hội như ngành: Bảo hiểm xã hội, Kế toán, Quản lí lao động, Kỹ thuật chỉnh hình và Công tác xã hội Ngay từ khoá đầu tiên nhà trường đã rất chú trọng đến việc dạy và học ngoại ngữ cho sinh viên để đáp ứng được yêu cầu mở rộng giao lưu, tăng cường giao tiếp, tiếp cận với những tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ, đặc biệt là nhu cầu giao tiếp theo chuyên ngành cụ thể Trong những năm qua, trường luôn giữ mối quan hệ, giao lưu, hợp tác với một số trường đại học nước ngoài như Đại học Phụ nữ Philipine, Đại học CTXH Thụy Điển, Đại học NewPholen Canada Bên cạnh đó nhà trường đã và đang làm việc với những dự án nước ngoài như xoá đói giảm nghèo, vấn đề bình đẳng giới Làm việc hoặc giao lưu với những trường bạn hoặc với những dự
án này đòi hỏi sự giao tiếp bằng ngoại ngữ (tiếng Anh) phải rất thường xuyên
và lưu loát, đặc biệt là những thuật ngữ về chuyên ngành
Vấn đề giảng dạy và tình trạng học ngoại ngữ đã được rất nhiều tác giả quan tâm và đưa ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả DH môn học này Các bài viết tiêu biểu mà tôi đã đọc chủ yếu đề cập đến hình thức kiểm tra đánh giá chất lượng, PPDH môn học này và chúng được áp dụng đối với SV ở các trường chuyên ngữ Đặc biệt theo khảo sát của tôi thì chưa có một nghiên cứu nào về HĐDH tiếng Anh chuyên ngành được thực hiện tại trường đại học LĐ - XH
Trường đại học LĐ - XH cũng như Bộ môn Ngoại ngữ đã và đang cố gắng để tìm ra những giải pháp hữu hiệu để góp phần nâng cao HQDH tiếng Anh chuyên ngành Là một GV trực tiếp tham gia giảng dạy môn tiếng Anh chuyên ngành, dựa trên thực tế này của nhà trường nên tôi đã chọn đề tài
Trang 4“Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh chuyên ngành ở trường Đại học Lao động - Xã hội” với mong muốn xác định các biện pháp khả thi trên cơ sở lý luận khoa học đã được học và kinh nghiệm thực tế, góp một phần nhỏ vào hoạt động dạy học tiếng Anh chuyên ngành và nâng cao chất lượng đào tạo của trường Đại học LĐ- XH
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất những biện pháp quản lý thích hợp và hiệu quả hơn cho HĐDH môn tiếng Anh chuyên ngành tại trường Đại học LĐ - XH
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận quản lý HĐDH nói chung và DH môn tiếng Anh chuyên ngành ở trường Đại học không chuyên ngữ
- Đánh giá thực trạng quản lý HĐDH môn tiếng Anh chuyên ngành tại trường Đại học LĐ - XH
- Đề xuất các biện pháp hoàn thiện quản lý HĐDH môn tiếng Anh chuyên ngành tại trường Đại học LĐ - XH
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
HĐDH môn tiếng Anh chuyên ngành tại trường Đại học LĐ - XH
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hiệu quả HĐDH môn tiếng Anh chuyên ngành tại trường Đại học LĐ - XH
Trang 5Ý nghĩa thực tế : Đề tài đề xuất các biện pháp khả thi để nâng cao hiệu quả quản lý HĐDH tiếng Anh chuyên ngành ở trường Đại học LĐ - XH
7 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả sử dụng phối hợp các
PP nghiên cứu sau:
- Nhóm PP nghiên cứu lý luận:
+ Sưu tầm sách, tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu
+ Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của
đề tài
- Nhóm PP nghiên cứu thực tiễn:
+ PP điều tra xã hội học, điều tra bảng hỏi (sử dụng các mẫu điều tra đối với SV, GV và cán bộ quản lý để thu thập thông tin về tình trạng DH ngoại ngữ chuyên ngành; những thuận lợi, khó khăn và mức độ sử dụng ngoại ngữ chuyên ngành trong học tập và phát triển chuyên môn nghiệp vụ)
+ PP hỏi ý kiến các chuyên gia, phương pháp phỏng vấn
- Nhóm PP thống kê toán học để phân tích và xử lý số liệu nghiên cứu
8 Phạm vi nghiên cứu
Trường Đại học LĐ- XH đào tạo cả 3 hệ: Hệ trung cấp, hệ CĐ và hệ
ĐH Do thời gian có hạn nên đề tài này chỉ tiến hành nghiên cứu HĐDH môn tiếng Anh chuyên ngành cho hệ đại học khoá 3 của trường Đại học LĐ - XH
9 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, kết quả nghiên cứu của đề tài được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh
chuyên ngành ở trường Đại học Lao động – Xã hội
Chương 3: Các biện pháp quản lý HĐDH tiếng Anh chuyên ngành ở
trường Đại học Lao động – Xã hội
Trang 6Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG ANH
Để xác định khung lý thuyết cơ bản của đề tài trong chương 1, tôi xin trình bày các khái niệm cơ bản sau:
1.1 Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm quản lý; chức năng quản lý
1.1.1.1 Khái niệm quản lý
Hoạt động QL bắt nguồn từ sự phân công và hợp tác lao động Chính
sự phân công và hợp tác lao động để có hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra
và điều chỉnh; và trong hoạt động QL luôn luôn có bóng dáng của người đứng đầu – của nhà quản lý Thông qua hoạt động của nhóm người quản lý
đã khéo léo phối hợp một cách nhịp nhàng những nỗ lực của các thành viên nhằm đạt được mục tiêu cao nhất mà tổ chức ấy đề ra
QL vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật Khi nói đến hoạt động này người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của K- Marx: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” [2, tr.1]
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý Song đối với phạm vi của một luận văn, tôi xin được đưa ra một số định nghĩa tiêu biểu liên quan đến hoạt động này như sau:
QL là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể tạo môi trường và điều kiện cho sự nghiệp phát triển của đối tượng [10, tr.1]
Trang 7Một định nghĩa khác về hoạt động QL đó là “sự tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý đến khách thể QL trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của mình” [10, tr.1] Khái niệm tổ chức ở đây như là một nhóm có cấu trúc nhất định, những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó, mà để đạt được mục đích đó thì một người riêng lẻ không thể nào làm được
Hoạt động QL còn được định nghĩa như là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo
và kiểm tra [10, tr.1]
Thuật ngữ “ quản lý” thể hiện được bản chất hoạt động này trong thực tiễn, nó gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: quá trình “ quản” gồm sự coi sóc giữ gìn duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”, và quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, điều chỉnh, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển” [3, tr.15]
Mặc dù các tác giả của các định nghĩa trên có những cách diễn đạt khác nhau về quản lý nhưng họ đều thống nhất ở một số đặc điểm sau:
- QL luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị quản lý, đối tượng quản lý) gồm con người, trang thiết bị kỹ thuật, vật nuôi, cây trồng và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản lý áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết, thoả thuận giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể QL và khách thể QL
- Bản chất của hoạt động QL là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể QL đến khách thể QL trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra
Như vậy QL là một hoạt động mang tính tất yếu của quá trình phát
Trang 8lại và chịu tác động của môi trường Con người là yếu tố trung tâm của hoạt động QL vì thế QL vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật Người QLphải nhạy cảm, linh hoạt, sáng tạo và mềm dẻo QL còn là một nghề Người ta có thể nói rằng sự thành công hay thất bại của một tổ chức chính là
sự thành công hay thất bại của chính người QL tổ chức đó
Có thể tóm tắt lại: QL là một phạm trù hàm chứa những khái niệm đặc trưng như chủ thể QL, khách thể quản lý và mục tiêu QL
Phần tiếp theo sẽ trình bày tóm tắt những chức năng cơ bản của QL nhằm xác định rõ cơ sở lý luận cho mục đích của đề tài
+ Tổ chức là chuyển những ý tưởng đã được kế hoạch hoá thành hiện thực,
là quá trình hình thành nên các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Tổ chức còn là quá trình điều phối thực hiện kế hoạch
+ Chỉ đạo bao hàm việc tạo ra được các mối liên kết, liên hệ của người lãnh đạo với người khác và giữa những nhóm người trong tổ chức, động viên họ hợp tác hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức
+ Kiểm tra là một chức năng QL, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những điều chỉnh, uốn nắn nếu cần thiết để tiếp tục chu trình QL ngày càng hiệu quả hơn
Tóm lại bốn chức năng QL này luôn có quan hệ biện chứng hữu cơ với nhau Khi hoạt động QL được tiến hành thì chúng đều được triển khai, bởi một
Trang 9điều tất yếu là bất cứ người QL nào cũng phải làm công việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh (sơ đồ 1.1)
Trong cuộc sống của chúng ta, mỗi một hoạt động của bất kỳ một lĩnh nào đều xuất hiện vai trò của hoạt động QL Tuy mỗi một lĩnh vực đều có những sự khác biệt nhất định, song chúng đều chứa đựng những nét cơ bản chung của hoạt động QL Đồng thời chính các hoạt động chức năng này đã góp một phần hết sức quan trọng vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của từng tổ chức Thực chất vai trò của quản lý chính là sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn, liên hoàn của mọi thành viên trong một tổ chức vì mục đích chung là đạt được mục tiêu mà tổ chức đó đề ra Tuy nhiên trong sự kết hợp nhịp nhàng đó không thể nào thiếu được vai trò của người CBQL như là người điều phối mọi hoạt động cơ bản của tổ chức theo các cấp độ khác nhau
Sơ đồ 1.1 Chức năng của quản lý
Lập kế hoạch
Chỉ đạo Thông tin
Trang 101.1.2 Quản lý giáo dục; quản lý nhà trường
1.1.2.1 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người được thực hiện một cách tự giác Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, giáo dục cũng được QL trên phương diện thực tiễn ngay từ khi hoạt động giáo dục
có tổ chức mới hình thành Bản thân sự giáo dục được tổ chức và có mục đích đã làm cho thực tiễn QLGD sống động [8, tr.2]
Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể QL ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của
xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể
lực, trí lực và tâm lý của con người Chất lượng của giáo dục chủ yếu do
nhà trường tạo nên, bởi vậy khi nói đến quản lý giáo dục phải nói đến QL nhà trường cùng với hệ thống QLGD [9, tr.71]
Theo lý luận của giáo dục hiện đại thì cụm từ QLGD được hiểu như việc thực hiện đầy đủ các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đối với toàn bộ các hoạt động giáo dục [8, tr.17] Quá trình của hệ thống quản lý này được dựa trên cơ sở của việc ra những quyết định đúng đắn, việc điều chỉnh linh hoạt và việc sử lý thông tin về các hoạt động giáo dục một cách kịp thời Quan hệ cơ bản của quản lý giáo dục là quan hệ của người QL với người dạy và người học trong hoạt động giáo dục Các mối quan hệ khác biểu hiện trong quan hệ giữa các cấp bậc QL, giữa người với người (GV và HS); giữa người với việc (hoạt động giáo dục); giữa người với vật (CSVC, điều kiện trong giáo dục) [4,tr.72]
Trang 11QLGD dựa theo nghĩa tổng quan còn là hoạt động điều hành, phối hợp các hoạt động xã hội nhằm duy trì trạng thái của các hoạt động đó theo hướng ổn định, thích ứng, tăng trưởng, phát triển và đẩy mạnh công tác giáo dục tới mục tiêu đã định trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống giáo dục quốc dân
QLGD là một loại hình của quản lý xã hội Có nhiều định nghĩa khác nhau về QLGD:
- QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất
- QLGD là quá trình tác động có ý thức, được định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố của các hoạt động giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục một cách có hiệu quả
Nói chung QLGD là quá trình vận dụng những khái niệm, nguyên lý,
PP, của khoa học quản lý vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể, một ngành chuyên biệt, đó là ngành GD
1.1.2.2 Quản lý nhà trường
Nhà trường là một thiết chế hiện thực hoá sứ mệnh của nền GD trong đời sống kinh tế – xã hội Nhà trường trong nền kinh tế công nghiệp không chỉ là thiết chế sư phạm đơn thuần Công việc diễn ra trong nhà trường có mục tiêu cao nhất là hình thành “ Nhân cách- Sức lao động”, phục vụ phát triển cộng đồng làm tăng cả nguồn vốn con người (human capital), vốn tổ chức (organizational capital), và vốn xã hội (social capital) [5, tr 30]
“ Nhà trường là vầng trán của cộng đồng” và đến lượt mình “ cộng đồng là trái tim của nhà trường” Từ nhà trường, hai quá trình “Xã hội hoá giáo dục” và “Giáo dục hoá xã hội” quyện chặt vào nhau để hình thành “ Xã hội học tập”, tạo nên sự đồng thuận xã hội, tăng trưởng kinh tế cho mỗi quốc
Trang 12gia với mục tiêu phát triển nhân văn (Human Development) đưa GD cho mỗi người, GD cho mọi người (Education for all) và huy động mọi tiềm năng, nguồn lực của xã hội cho GD (All for education) [21, tr3]
Quản lý xã hội lấy tiêu điểm lý QLGD (giáo dục là quốc sách hàng đầu) thì QLGD phải coi nhà trường là nút bấm (quản lý lấy nhà trường làm nền tảng) và quản lý nhà trường phải lấy QL việc DH là khâu cơ bản, việc
DH phải xuất phát (từ) và hướng (vào) người học (learner centred teaching)
Quản lý nhà trường thực chất là QLGD trên tất cả các mặt, các khía cạnh liên quan đến hoạt động giáo dục trong phạm vi nhà trường Đó là một
hệ thống những hoạt động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể QLGD để đạt tới mục tiêu giáo dục đặt ra đối với ngành GD trong từng giai đoạn phát triển của đất nước
Quản lý nhà trường gồm:
- Quản lý chương trình DH và giáo dục của nhà trường
- Quản lý HS (quản lý các hoạt động của HS)
- Quản lý GV, phát triển nghề nghiệp của người thày
- Quản lý CSVC, thiết bị dạy học, thư viện của nhà trường, đảm bảo cho nhà trường hoạt động để đạt được mục tiêu GD đề ra
1.1.3 Hoạt động dạy học, quá trình dạy học, quản lý hoạt động dạy học
1.1.3.1 Hoạt động dạy học
Hoạt động dạy học: DH gồm hai hoạt động gắn bó mật thiết đó là hoạt
động dạy của thầy và hoạt động học của người học Dạy và học có những mục đích tự thân đặc trưng Nếu học nhằm vào việc chủ động chiếm lĩnh khoa học thì dạy lại có mục đích là điều khiển sự học tập [31, tr95]
Hoạt động học: Học là quá trình trong đó dưới sự định hướng của
người dạy, người học tự giác, tích cực, độc lập, tiếp thu tri thức, kinh nghiệm
từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tụê và chân tay nhằm hình
Trang 13thành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngày càng hoàn thiện [31, tr.95]
Hoạt động dạy: Dạy là điều khiển quá trình người học chiếm lĩnh
khái niệm khoa học, bằng cách đó phát triển, hình thành nhân cách trò Dạy có hai chức năng thường xuyên tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau, đó là truyền đạt thông tin DH và điều khiển hoạt động DH [31, tr.96]
Hoạt động DH giúp người học lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách của người học Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy được biểu hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển hoạt động học của người học, giúp người học nắm được kiến thức, hình thành kĩ năng, thái độ Hoạt động dạy có chức năng kép là truyền đạt và điều khiển Nội dung, chương trình dạy học theo một quy định bắt buộc và được thống nhất trong mỗi cấp học
1.1.3.2 Quá trình dạy học
DH là bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là một trong những con đường để thực hiện mục đích GD QTDH được tổ chức trong nhà trường bằng phương pháp sư phạm đặc biệt, nhằm trang bị cho HS hệ thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn [26, tr52]
Trong quan niệm “truyền thống”, khi nói tới dạy học người ta hiểu đó
là nghề đặc trưng của giáo viên, là hoạt động truyền đạt kiến thức ở trên lớp Một thời gian dài, do quan niệm này, mà trong thực tiễn giáo dục người ta chỉ chú trọng đến vai trò của giáo viên Giáo viên được hiểu là nhân vật trung tâm quyết định chất lượng của quá trình dạy học Từ đó, phương pháp giảng dạy chủ yếu là truyền đạt, thông báo kiến thức Học sinh bị phụ thuộc vào giáo viên, cách học chủ yếu là nghe hiểu, ghi nhớ và tái hiện Đánh giá kết quả học tập dựa vào số lượng kiến thức học sinh đã ghi nhớ được Những điều này tạo ra nhiều hạn chế của chất lượng GD - ĐT
Trang 14Phân tích khái niệm dạy học, ngay cả khi xét về mặt hình thức chúng
ta cũng dễ dàng nhận thấy DH là hoạt động phối hợp của hai chủ thể đó là
giáo viên và HS Dạy và học được thực hiện đồng thời với cùng một nội dung
và hướng tới cùng một mục đích Phải khẳng định rằng, nếu hai hoạt động này bị tách rời sẽ lập tức phá vỡ khái niệm quá trình dạy học
Giáo viên là chủ thể của hoạt động giảng dạy, người được đào tạo chu đáo về nghiệp vụ sư phạm, người nắm vững kiến thức khoa học chuyên ngành, các quy luật phát triển tâm lý, ý thức và đặc điểm hoạt động nhận thức
của học sinh để tổ chức cho họ học tập Giáo viên giữ vai trò chủ đạo trong
toàn bộ tiến trình dạy học Giáo viên là người xây dựng và thực thi kế hoạch
giảng dạy bộ môn, người tổ chức cho học sinh thực hiện hoạt động học tập
với mọi hình thức, trong những thời gian và không gian khác nhau, người
điều khiển các hoạt động trí tuệ và hướng dẫn thực hành của học sinh trên
lớp, trong phòng thí nghiệm Giáo viên là người chỉ dẫn, giúp đỡ học sinh
học tập, rèn luyện, đồng thời là người kiểm tra uốn nắn và giáo dục học sinh
trong mọi phương diện [26, tr.54]
Trên nguyên tắc phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, giáo viên tổ chức và điều khiển quá trình học tập của học sinh, làm cho việc học tập trở thành một hoạt động độc lập có ý thức Bằng sự khéo léo của phương pháp sư phạm, giáo viên khai thác tiềm năng trí tuệ, kiến thức và kinh nghiệm sống của học sinh, giúp họ tìm ra những phương pháp học tập sáng tạo, tự lực nắm lấy kiến thức và hình thành các kỹ năng hoạt động.Trong quá trình dạy học này, các thành tố sau cần được đặc biệt chú ý:
- Chủ thể của hoạt động dạy là giáo viên, người tổ chức mọi hoạt động
học tập của học sinh, người quyết định chất lượng giáo dục [26, tr.54]
- Đối tượng hoạt động của giáo viên là hệ thống kiến thức và sự phát
triển trí tuệ và nhân cách của học sinh Trước khi lên lớp giáo viên nghiên cứu các tài liệu giáo khoa, nắm vững và gia công tài liệu đó theo chiến thuật
sư phạm, bằng phương pháp giảng dạy để chuyển tải nội dung, tác động đến
Trang 15quy luật tâm lý nhận thức của học sinh làm cho học sinh phát triển theo mục đích giáo dục [26, tr.54]
- Mục đích của hoạt động dạy là làm cho học sinh nắm vững kiến thức
và hình thành kỹ năng hoạt động từ đó mà phát triển trí tuệ và nhân cách, nghĩa là làm cho học sinh trở thành những người lao động thông minh, người công nhân có ý thức [26, tr.55]
- Nội dung hoạt động dạy là tổ chức cho học sinh nhận thức, truyền đạt
kiến thức, hướng dẫn luyện tập hình thành kỹ năng, kiểm tra uốn nắn và giáo dục thái độ học tập cho học sinh [26, tr.55]
- Phương pháp giảng dạy bao gồm phương pháp tổ chức nhận thức,
phương pháp điều khiển các hoạt động trí tuệ và thực hành, phương pháp giáo dục ý thức học tập cho học sinh [26, tr.55]
Học sinh là chủ thể của học tập Chủ thể có ý thức, chủ động, tích cực
và sáng tạo trong nhận thức và rèn luyện nhân cách
Mọi hoạt động đều phải có ý thức Việc học tập càng phải có ý thức Người học phải xác định được mục đích học tập, có động cơ và thái
độ học tập đúng, có kế hoạch học tập chủ động và luôn tích cực thực hiện tốt kế hoạch đó Tính tích cực học tập thể hiện ở cả hai mặt: chuyên cần
và tính sâu sắc trong các hoạt động trí tuệ Cách học tích cực thể hiện trong việc tìm kiếm, xử lý thông tin và sử dụng chúng vào giải quyết các nhiệm vụ học tập và thực tiễn cuộc sống, thể hiện trong sự tìm tòi khám phá vấn đề mới bằng phương pháp mới, cái mới không phải là sao chép
mà là sự sáng tạo của mỗi cá nhân
- Chủ thể của hoạt động học là HS Chủ thể tích cực trong nhận thức, rèn luyện và tu dưỡng bản thân Tuy nhiên HS còn là đối tượng giảng dạy và giáo dục của thầy giáo, người học vừa phải chủ động và sáng tạo trong học tập, vừa phải tiếp thu sự chỉ dẫn về phía thầy giáo Người học quyết định chất lượng học tập của mình
Trang 16- Đối tượng hoạt động học là hệ thống tri thức và hệ thống kỹ năng tương ứng Người học phải chiếm lĩnh được hệ thống kiến thức trong chương trình học tập để sử dụng chúng trong những tình huống học tập và thực tiễn cuộc sống
- Mục đích của hoạt động học là tiếp thu nền văn hoá nhân loại để chuyển hoá thành trí tuệ và nhân cách bản thân để trở thành người lao động thông minh năng động và sáng tạo
- Hoạt động học là quá trình nhận thức, tìm tòi thấu hiểu, nắm vững, ghi nhớ và vận dụng kiến thức vào cuộc sống
- Phương pháp học tập là phương pháp nhận thức và phương pháp rèn luyện để hình thành hệ thống kỹ năng thực hành
Hoạt động dạy và hoạt động học luôn gắn bó, không tách rời nhau, thống nhất biện chứng với nhau, tạo thành một hoạt động chung Dạy điều khiển học, học tuân thủ dạy Tuy nhiên, việc học phải chủ động, cách học phải thông minh và cách học phải sáng tạo Dạy tốt dẫn đến học tốt Thi đua dạy tốt, học tốt là một phong trào hướng vào cải tiến phương pháp dạy
và học, là việc làm cho hoạt động dạy học phù hợp với quy luật của quá trình dạy học [26, tr.56]
1.1.3.3 Quản lý hoạt động dạy học và đặc trưng cơ bản của dạy học ở đại học
Quản lý hoạt động dạy học:
Quản lý HĐDH là một bộ phận cấu thành chủ yếu của toàn bộ hệ thống quản lý HĐDH trong nhà trường Qui định DH được thực hiện theo một chương trình, kế hoạch hoạt động cụ thể trên lớp học Quản lý HĐDH được phân hoá thành hai quá trình cơ bản:
- Quản lý quá trình dạy học trên lớp
- Quản lý quá trình dạy học ngoài giờ lên lớp
Hai quá trình này đã được ghi nhận trong mục tiêu, kế hoạch hoạt động giáo dục của mỗi cấp bậc học
Trang 17Quản lý HĐDH do nhà trường hướng dẫn tổ chức và chỉ đạo nhưng nó có quan hệ tương tác, liên thông với các tổ chức giáo dục khác, hoặc các cơ quan,
tổ chức văn hoá, khoa học, TDTT, các tổ chức đoàn thể quần chúng ngoài xã hội, nơi mà trò tham gia học tập, vui chơi, giải trí có tổ chức
Quản lý DH là QL một quá trình với một hệ thống bao gồm nhiều yếu
tố như: mục đích, nhiệm vụ, nội dung, chương trình, các hoạt động dạy của thầy với hoạt động học của trò, kiểm tra, đánh giá kết quả dạy và học v.v Tất cả các nhân tố cấu trúc của quá trình DH tồn tại trong mối quan hệ qua lại thống nhất với môi trường của nó Môi trường xã hội - chính trị và môi trường cách mạng khoa học - kỹ thuật Quản lý DH phải thực sự chú trọng tới các thành tố này
Đặc trưng cơ bản của dạy học đại học:
Nghiên cứu mối quan hệ giữa HĐDH nói chung với hoạt động nhận thức thế giới khách quan của loài người và mối quan hệ biện chứng gữa hoạt động dạy của thầy với hoạt động học của trò trong các trường đại học, người
ta có thể khẳng định rằng: “Quá trình dạy học ở đại học, về bản chất, là quá trình nhận thức độc đáo có tính chất nghiên cứu của sinh viên được tiến hành dưới vai trò tổ chức, điều khiển của giáo viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm
vụ dạy học ở đại học” [20, tr.42]
Để nghiên cứu sâu sắc hơn bản chất quá trình dạy học ĐH, trước hết chúng ta cần làm sáng tỏ: Quá trình nhận thức của SV nói chung, quá trình học tập nói riêng ở các trường đại học là quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu [20, tr.44] Trong quá trình học tập ở trường đại học, mỗi SV tự mình chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng, phải nắm vững những cơ sở của nghề nghiệp tương lai ở trình độ ĐH Dưới vai trò chủ đạo của thầy, SV không nắm máy móc những chân lí có sẵn mà họ có khả năng tiếp nhận những chân lí đó với óc phê phán, có thể khẳng định, phủ nhận, hoài nghi khoa học, lật ngược vấn đề, đào sâu hoặc mở rộng
Trang 18Mặt khác, trong quá trình học tập ở ĐH, SV đã bắt đầu thực sự tham gia hoạt động tìm kiếm chân lí mới Đó là hoạt động tập dượt nghiên cứu khoa học được tiến hành ở các mức độ từ thấp đến cao, ví dụ bài tập nghiên cứu sau mỗi phần học, niên luận, khoá luận, luận văn, đồ án tốt nghiệp Hoạt động nghiên cứu khoa học này gúp SV từng bước tập vận dụng những tri thức khoa học, PP luận khoa học, những PP nghiên cứu, tự tu dưỡng, rèn luyện những phẩm chất, tác phong của nhà nghiên cứu nhằm góp phần giải quyết một cách khoa học những vấn đề do thực tiễn xã hội, thực tiễn cuộc sống, thực tiễn nghề nghiệp đề ra
Mục tiêu DH ở ĐH là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có kiến thức và kỹ năng tương xứng với trình độ được đào tạo, có khả năng phát hiện, giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo Mục tiêu đào tạo chính là kết quả học tập cần đạt được Mục tiêu của bài học góp phần thực hiện mục tiêu dạy học của học phần, của khóa học Chính vì vậy, khi xác định mục tiêu phải hướng vào người học Mục tiêu đó có thể mô tả rõ ràng và quan sát được, có thể lấy làm bằng chứng cho kết quả học tập và đo lường được
Mục đích và nhiệm vụ DH ở ĐH phản ánh tập trung nhất những yêu cầu của xã hội với quá trình DH Mục đích và nhiệm vụ DH gắn liền với mục đích giáo dục nói chung và mục đích giáo dục của từng trường ĐH nói riêng, đặc biệt là với mục tiêu đào tạo cụ thể của mỗi trường Đồng thời đây cũng là cái đích mà quá trình DH phải đạt tới Trên cơ sở đó, các trường xây dựng những nhiệm vụ dạy học cụ thể của mình Các nhiệm vụ này quy định những yêu cầu về hệ thống tri thức, kỹ năng kỹ xảo gắn liền với nghề nghiệp tương lai của SV, phát triển ở họ năng lực về phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là tư duy nghề nghiệp Hệ thống tri thức bao gồm những sự kiện khoa học, những học thuyết khoa học, những tri thức về phương pháp nhận thức khoa học, những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, những tri thức hiện đại, tri thức khoa học cơ bản, tri thức khoa học cơ sở và tri thức khoa học chuyên ngành
Trang 19Tuy nhiên khi nhắc DH ở ĐH chúng ta thấy ngay được những đặc điểm khác biệt so với dạy học ở bậc phổ thông đó là: DH ở ĐH là dạy
cách tự học, phát triển năng lực nghiên cứu, quản lý, lãnh đạo cho SV
Để có năng lực thích nghi và sáng tạo, không những cần có kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn công tác, mà quan trọng hơn, cơ bản hơn, người
SV đại học phải được đào tạo để có nền kiến thức cơ bản đủ vững, nền kiến thức đại cương đủ rộng và có kĩ năng vận dụng những kiến thức, đại cương
ấy một cách thích hợp, và đặc biệt là được đào tạo về phương pháp tự đi tìm những kiến thức cần thiết, tự rèn luyện những kỹ năng để tự học, tự cập nhật thường xuyên suốt đời Đó là:
Đào tạo cơ bản + Bồi dưỡng thường xuyên
Học cách học và tự học
Phần tiếp theo tôi sẽ tập trung trình bày những đặc trưng cơ bản của dạy học ngoại ngữ nói chung và dạy TACN nói riêng làm cơ sở để xác định các biện pháp quản lý phù hợp theo mục tiêu của đề tài
1.2 Đặc trưng dạy học ngoại ngữ và dạy học tiếng Anh chuyên ngành
1.2.1 Đặc trưng dạy học ngoại ngữ
Trong cơ chế mở cửa của Nhà nước ta hiện nay không thể thiếu chiếc cầu nối – ngoại ngữ trong giao lưu quốc tế Trong tất cả các ngoại ngữ đang được dùng làm môn học cho các trường phổ thông, CĐ và ĐH thì TA chiếm
vị trí cao TA cũng như bất kỳ ngoại ngữ nào đều có chức năng là công cụ giao tiếp được thể hiện ở năm dạng hoạt động cơ bản: nghe, nói, đọc, viết và
tư duy bằng chính ngoại ngữ đó Do tính đa dạng kể trên của công cụ giao tiếp nên các yêu cầu cụ thể của người học được xác định tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh của họ SV sau khi học xong chương trình đào tạo ngoại ngữ ở trường đại học sẽ sử dụng được ngoại ngữ để đọc hiểu các sách báo khoa học thường thức phù hợp với trình độ học vấn Trình độ văn hoá bao gồm trình
độ học vấn bộ môn và năng lực tư duy BMNN có mục đích nâng cao trình
Trang 20độ hiểu biết của người học, đồng thời góp phần nâng cao năng lực tư duy của
họ Bởi vì, để thực hiện tốt chức năng giao tiếp, việc rèn luyện thói quen tư duy bằng chính ngoại ngữ đó là hết sức quan trọng Làm tốt điều này sẽ giúp cho người học nói và viết ngoại ngữ như người bản xứ BMNN góp phần làm hoàn chỉnh thêm những thao tác tư duy cơ bản như phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, khái quát hoá, trìu tượng hoá và phát triển thêm một bước tư duy lôgic như diễn đạt tư tưởng một cách mạch lạc, sáng sủa, gãy gọn và có
lý lẽ
Về mặt phẩm chất đạo đức, BMNN có nhiều điều kiện thực hiện mục đích GD thế giới quan và nhân sinh quan Ngoại ngữ là hiện tượng xã hội, là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người và rất gắn bó với việc phát triển tư duy và văn hoá Hướng theo mục đích trên đây, BMNN cần đạt tới yêu cầu trên cả ở phương diện nhận thức tư tưởng lẫn trong hành động thực tiễn của người học
Ở mỗi một giai đoạn phát triển của đất nước nói chung, của ngành
GD nói riêng, ngoại ngữ có thể thay đổi ít nhiều về vị thế của môn học, về mức độ quan trọng, về thời lượng dành cho môn học, về yêu cầu sử dụng chúng trong cuộc sống cũng như trong nhà trường Song ngoại ngữ mãi vẫn là chìa khoá để mở cánh cửa đến với thế giới, với nền văn minh nhân loại, với khoa học công nghệ, với sự hợp tác về mọi mặt như kinh tế, văn hoá và giao lưu quốc tế
1.2.2 Tiếng Anh chuyên ngành trong trường đại học
1.2.2.1 Vai trò và đặc điểm của tiếng Anh chuyên ngành
Học TACN không những giúp cho SV củng cố kiến thức chuyên ngành, mở rộng sự hiểu biết mà họ đang học, đồng thời còn giúp họ trau dồi các kỹ năng nghiệp vụ Thông qua những bài học TACN gắn với các quy trình đào tạo, thao tác nghề nghiệp, với từng tình huống cụ thể một lần nữa gắn SV với thực tiễn chuyên ngành mà họ đang theo học Chính vì vậy, SV
Trang 21lại một lần nữa được tái hiện các kiến thức chuyên môn của mình và thực hiện nó bằng tiếng Anh Phải chăng vì thế học ngoại ngữ chuyên ngành giúp
SV được trau dồi khả năng tư duy và trí nhớ
TACN là TA dùng cho các mục đích giao tiếp nghề nghiệp cụ thể Ví dụ như tiếng Anh chuyên ngành CTXH, QLLĐ và KT Thuật ngữ này được dùng
để phân biệt với thuật ngữ tiếng Anh phổ thông, là ngôn ngữ phục vụ cho các mục tiêu giao tiếp thông thường trong cuộc sống xã hội Sự khác nhau cơ bản giữa TACN và tiếng Anh phổ thông là về mặt nội dung giao tiếp mang tính chuyên ngành Bên cạnh đó, TACN còn có những đặc điểm sau:
+ Tính rõ ràng, chính xác [36, tr.79]: Giao tiếp chuyên ngành là giao tiếp mang tính hành động Thông tin phải được truyền đạt một cách ít gây hiểu lầm nhất và cần ít thời gian nhất để giải mã TACN đòi hỏi các thuật ngữ phải được định nghĩa để có thể được hiểu một cách nhất quán
+ Tính đặc thù văn hoá [36, tr.79]: Đó là đặc thù văn hoá của người sử dụng ngôn ngữ nhiều hơn là đặc thù văn hoá của ngôn ngữ đang được sử dụng
+ Tính mục đích rõ rệt [36, tr.79] để thuyết phục đối phương làm theo
ý mình; tranh thủ cơ hội lợi nhuận và trao đổi thông tin Tiếng Anh chuyên ngành được sử dụng trong giao tiếp và giao dịch luôn là để thu được từ người khác một điều gì đó có lợi nhất cho mình
1.2.2.2 Mục tiêu dạy học của tiếng Anh chuyên ngành
Tiếng Anh là ngôn ngữ quốc tế Học tốt tiếng Anh, có trình độ tiếng Anh tốt không những sẽ giúp sinh viên tự học, tự nghiên cứu chuyên môn tốt
mà còn giúp cho họ công tác tốt khi ra trường nhất là trong thời kỳ hội nhập hiện nay Là bộ môn văn hoá cơ bản, việc dạy và học ngoại ngữ ở nước ta có những điểm chung, giống các bộ môn văn hoá cơ bản khác Nó cũng có mục đích là góp phần hình thành những phẩm chất đạo đức của con người mới XHCN, góp phần nâng cao trình độ văn hoá chung cho người học Ngoài hai mục đích ấy ra, ngoại ngữ còn có mục đích nữa là trang bị cho người học một
Trang 22của quá trình dạy học ngoại ngữ vì về bản chất thì ngoại ngữ là công cụ giao tiếp Trước xu hướng phát triển của thời kỳ mới, nhất là sau khi Việt Nam ra nhập WTO thì vị trí vai trò của môn học ngoại ngữ càng được coi trọng hơn trong chương trình đào tạo đại học
Tiếng Anh chuyên ngành là môn học dành cho tất cả các đối tượng, từ người mới học cho đến những người đã có trình độ cử nhân về tiếng Anh Mỗi một đối tượng khác nhau với mỗi mục đích học tiếng Anh chuyên ngành khác nhau, do vậy sẽ có rất nhiều chương trình tiếng Anh chuyên ngành và thời lượng giành cho môn này phù hợp với người học Tuy nhiên, họ đều có mục tiêu chung là mong muốn hiểu và sử dụng được tiếng Anh về những thuật ngữ chuyên ngành mà mình quan tâm Và thực tế, hiện nay ở phần lớn các trường đại học trên cả nước, tiếng Anh chuyên ngành đang trở thành một môn học bắt buộc đối với sinh viên và nó cũng chiếm một lượng đơn vị học trình đáng kể Bên cạnh đó, ngoại ngữ nước ngoài – chuyên ngành ngày càng được nhắc tới như một yếu tố không thể thiếu trong quá trình tạo tiền đề cho hội nhập quốc tế góp phần vào sự nghiệp CNH và HĐH đất nước Trong quá trình này, vấn đề đặt ra là ngành giáo dục và đào tạo cần có những đổi mới cơ bản và mạnh mẽ nhằm cung cấp cho đất nước những con người lao động có chuyên môn và hiệu quả trong hoàn cảnh mới Việc dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành ở bậc đại học cũng không nằm ngoài mục tiêu trên Ngoại ngữ chuyên ngành như “chiếc cầu nối” để bắt kịp nhịp phát triển kinh tế và văn hoá Việt Nam với thế giới bên ngoài
1.2.2.3 Nội dung của dạy học tiếng Anh chuyên ngành
Một điều dễ nhận thấy khi chúng ta đã bước qua ngưỡng cửa đầu tiên của thế kỉ XXI là SV được tiếp xúc hàng ngày với thông tin cập nhật, với khoa học kĩ thuật và công nghệ đang biến đổi rất nhanh chóng cùng với sự hiện diện của các ngoại ngữ mà chủ yếu là tiếng Anh với hàng loạt những
Trang 23thuật ngữ chuyên ngành Mỗi một ngành nghề khác nhau cũng sẽ có những thuật ngữ chuyên ngành tương ứng cho mỗi ngành nghề đó Nội dung giảng dạy ngoại ngữ chuyên ngành là những bài khoá, những dạng bài tập, những tình huống ứng với thực tiễn được xây dựng dựa trên những từ, những cấu trúc câu bằng ngoại ngữ chuyên ngành và nội dung phải thực sự phù hợp và gắn với chuyên ngành của người học
1.3 Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh chuyên ngành
Dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành cũng là một loại hoạt động đặc thù của con người, nghĩa là cũng bao gồm các thành tố có quan hệ và tác động đến nhau: động cơ, mục đích, điều kiện và hoạt động, hành động, thao tác Như vậy, muốn thoả mãn động cơ đề ra, phải thực hiện lần lượt các hành động cụ thể để đạt được mục đích cụ thể Trong quá trình dạy và học, kết quả của việc học tập phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động học của người học Vì vậy nhiệm vụ chính của giáo viên là tổ chức, hướng dẫn hoạt động học của người học để thông qua hoạt động học của mình, người học có thể lĩnh hội được các khái niệm chuyên ngành cần thiết để phục vụ cho công việc của họ sau khi nhận việc Vì vậy muốn quản lý, tổ chức, hướng dẫn tốt HĐDH ngoại ngữ chuyên ngành cũng như cách học của người học thực chất là hoạt động nhận thức ngoại ngữ và các phương pháp thể hiện sáng tạo ngôn ngữ được học,
GV cần nắm được quy luật chung của quá trình nhận thức một khoa học, cơ chế sinh lí của hoạt động ngôn ngữ, động cơ và mục đích của việc học ngoại ngữ, các kĩ xảo và kĩ năng giao tiếp Đối với việc dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành ở bậc ĐH, trí nhớ về những thuật ngữ chuyên ngành và sử dụng chúng trong quá trình đọc và làm việc với tài liệu chuyên ngành sau khi tốt nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng, quá trình duy trì và phát triển trí nhớ, tư duy ngôn ngữ góp phần tích cực vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành
Môi trường của người học ngoại ngữ chuyên ngành hiện nay là môi trường sống động của nền kinh tế tri thức với động lực và sự phát triển mạnh
Trang 24mẽ của khoa học kĩ thuật và công nghệ, với giao lưu hội nhập quốc tế nên giảng viên dạy ngoại ngữ chuyên ngành cũng cần nắm được kiến thức về chuyên ngành mà mình GV và cả bằng ngoại ngữ được giảng dạy tại trường Với kiến thức bằng tiếng Việt và bằng ngôn ngữ nước ngoài cần thiết cho QTDH của GV ngoại ngữ chuyên ngành, chắc chắn rằng những bài học ngoại ngữ của người học sẽ hấp dẫn hơn và hơn thế nữa, hoạt động lĩnh hội kiến thức bằng ngoại ngữ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người học trong việc đọc tài liệu, viết báo cáo khoa học, tham gia hội thảo về chuyên ngành và đặc biệt là việc ứng dụng chúng vào thực tiễn công việc sau khi ra trường để đáp ứng với những đòi hỏi của công việc
GV ngoại ngữ chuyên ngành cần nắm vững các PP giảng dạy và đưa ra được các biện pháp để giúp người học thực hiện được mục tiêu đề ra, tự lực thực hiện hành động học của mình, đặc biệt tron môi trường xã hội không có giao tiếp hàng ngày bằng ngôn ngữ được học như hiện nay
Hiện nay, hầu hết các trường ĐH ở Việt Nam, ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh chuyên ngành nói riêng là một môn học bắt buộc trong chương trình giảng dạy Sau khi hoàn thành xong thời lượng 15 đơn vị học trình tiếng Anh cơ bản (hầu hết các trường đại học hiện nay ngoại ngữ học là tiếng Anh), SV lại có cơ hội tìm hiểu lại thuật ngữ cũng như kiến thức về chuyên ngành mà mình đang nghiên cứu qua môn tiếng Anh chuyên ngành với số đơn vị học trình cũng tương đối lớn là 12 đơn vị học trình (tương đương 180 tiết học) Với tầm quan trọng của tiếng Anh chuyên ngành trong nhà trường cũng như trong thực tiễn cuộc sống nên việc phát triển năng lực dạy học tiếng Anh chuyên ngành, quản lý HĐDH tiếng Anh chuyên ngành đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
1.3.1 Quản lý hoạt động học tiếng Anh chuyên ngành của sinh viên
Hoạt động học tập của SV nói chung và hoạt động học ngoại ngữ chuyên ngành nói riêng là hoạt động song song cùng tồn tại với hoạt động dạy của thầy
Trang 25Quản lý hoạt động học của SV là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu và rèn luyện nghề nghiệp của SV Vì vậy, quản lý hoạt động học ngoại ngữ chuyên ngành của SV cũng không nằm ngoài những yêu cầu đó và được cụ thể bằng những yêu cầu chủ yếu sau:
- Phải định hướng cho SV có được động cơ đúng đắn trong việc học ngoại ngữ chuyên ngành Từ đó SV sẽ biết xây dựng cho mình thái độ học tập tốt, có ý thức tự giác tìm tòi, nghiên cứu và chủ động hơn trong những bài học ngoại ngữ chuyên ngành
- Tổ chức hướng dẫn SV học tập, tìm ra phương pháp học tập phù hợp với ngoại ngữ chuyên ngành (TACN), tìm ra hình thức rèn luyện kỹ năng đọc hiểu tài liệu chuyên ngành bằng tiếng Anh PP học tập có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập và kĩ năng nghề nghiệp cho SV
- Rèn luyện cho SV có nề nếp học tập tốt cũng như có ý thức tự học, chấp hành tốt các quy chế, nội quy trong khi học môn học ngoại ngữ chuyên ngành này Nề nếp học tập là những quy định về ý thức, thái độ và hành vi của người học phải thực hiện nhằm đảm bảo cho hoạt động dạy học ngoại ngữ chuyên ngành đạt được hiệu quả và đảm bảo chất lượng Quản lý nề nếp học tập là xây dựng và duy trì hệ thống những quy định về nề nếp học tập nhằm đảm bảo xây dựng ý thức học tập trong SV đồng thời xây dựng được
kỉ cương trong hoạt động học tập
Quản lý việc phân tích và đánh giá kết quả học tập của SV Phân tích
và đánh giá kết quả học tập của SV là yêu cầu cần thiết trong công tác quản HĐDH đối với các khoa, bộ môn nói chung và bộ môn ngoại ngữ nói riêng
Để có cơ sở cho việc đánh giá kết quả học tập của SV, tổ bộ môn, khoa cần chỉ đạo các giảng viên thực hiện nghiêm túc quy chế 04 của Bộ Giáo dục - Đào tạo, thực hiện đánh giá điểm quá trình và điểm thi các học phần đầy đủ
và nghiêm túc
Thông qua phân tích kết quả học tập của SV, Ban chủ nhiệm khoa và
Trang 26các GV, chất lượng học tập của SV qua các học phần, từ đó có biện pháp điều chỉnh quản lý hoạt động dạy học cho phù hợp
Động cơ là tiền đề, là điều kiện cho hoạt động học tiếng Anh chuyên ngành của SV Việc xây dựng động cơ tích cực học cho SV là nội dung cơ bản, rất quan trọng của công tác quản lý hoạt động học tiếng Anh chuyên ngành của SV
1.3.2 Quản lý hoạt động dạy tiếng Anh chuyên ngành của giảng viên
Trong các trường đại học việc quản lý hoạt động dạy tiếng Anh chuyên ngành của GV được thực hiện qua hai nội dung cơ bản đó là: quản lý hoạt động giảng dạy trên lớp và việc thực hiện quản lý hồ sơ chuyên môn của GV
Hoạt động giảng dạy bao gồm một số nội dung quản lý cơ bản:
- Quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy (nội dung, tiến trình)
- Quản lý giờ lên lớp và việc vận dụng PP, sử dụng phương tiện dạy học Hình thức dạy và học tiếng Anh chuyên ngành trên lớp đối với các trường ĐH hiện nay vẫn được coi là một trong các hình thức cơ bản và chủ yếu của quá trình DH Vì vậy chất lượng của HĐDH phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của các giờ lên lớp của GV
- Quản lý việc thực hiện quy chế kiểm tra, đánh giá chất lượng Kiểm tra đánh giá là khâu quan trọng và không thể thiếu trong HĐDH Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của SV là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ và khả năng thực hiện nhiệm vụ học tập của SV, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp phù hợp giúp SV học tập tiến bộ
Quản lý hồ sơ chuyên môn của các GV
- Quản lý hồ sơ chuyên môn của các GV là phương tiện giúp người quản lý nắm chắc được tình hình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của các
GV trong bộ môn, đồng thời hồ sơ chuyên môn của các GV là một trong những cơ sở pháp lý đánh giá việc thực hiện nề nếp chuyên môn của họ Những hồ sơ cơ bản cần phải có của mỗi GV gồm:
- Chương trình môn học tiếng Anh chuyên ngành mà GV đang giảng
Trang 27- Kế hoạch năm học: kế hoạch hoạt động chuyên môn của GV
- Kế hoạch giảng dạy môn học
- Tập bài soạn
- Sổ dự giờ
- Sổ theo dõi chuyên cần và điểm của SV
- Hồ sơ nghiên cứu khoa học (bao gồm: Đăng ký đề tài, đề cương nghiên cứu, tư liệu và kết quả nghiên cứu)
- Hồ sơ tự học, tự bồi dưỡng (bao gồm: kế hoạch, nội dung và tài liệu học tập)
Trang 28Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
2.1 Vài nét giới thiệu về trường
2.1.1 Vị trí chức năng, bộ máy nhà trường
Trường đại học LĐ - XH là trường ĐH công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, có chức năng đào tạo nhân lực trình độ ĐH, CĐ và trung học về lao động - xã hội, tổ chức nghiên cứu khoa học về lao động - xã hội Tiền thân là trường trung cấp Lao động - Tiền lương thuộc Bộ Lao động thành lập năm 1961 Năm 1991 hợp nhất với trường Quản lý thương binh lấy tên là trường Cán bộ Lao động - Xã hội thuộc Bộ Lao động - Thương binh và xã hội Tháng 01 năm 1997, được nâng cấp lên thành trường cao đẳng Lao động - Xã hội Từ ngày 31/01/2005 là trường đại học LĐ - XH, chịu sự quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo của Bộ GD&ĐT, chịu sự quản lý hành chính theo lãnh thổ của UBND thành phố Hà Nội Trường đại học LĐ - XH là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng, Trụ sở đặt tại số 43, Trần Duy Hưng, Trung Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội Trường có nhiệm vụ chính như sau:
(1) Đào tạo nguồn nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp trình độ đại học, cao đẳng và trung học về lao động - xã hội
(2) Nghiên cứu khoa học về lao động - xã hội, kết hợp đào tạo, nghiên cứu khoa học gắn với sản xuất và cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật
(3) Hợp tác quốc tế về đào tạo và nghiên cứu khoa học theo quy định của pháp luật
(4) Xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên của trường đảm bảo về số lượng, chất lượng và cơ cấu
Trang 29(5) Tổ chức tuyển sinh và quản lý học sinh, sinh viên
(6) Tham gia các hoạt động xã hội phù hợp với nhiệm vụ được giao (7) Quản lý CSVC, trang thiết bị và tài chính, tài sản được giao theo quy định của pháp luật
(8) Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ Lao động - Thương binh và
xã hội giao
* Về cơ cấu tổ chức bộ máy (sơ đồ 2.1)
Trường đại học LĐ - XH là đơn vị thuộc Bộ Lao động - Thương binh
và xã hội, chịu sự quản lý Nhà nước về giáo dục đào tạo của Bộ GD & ĐT, được phép thành lập các đơn vị chức năng, các hội đồng tư vấn và tuân thủ các chế độ quy định trong đào tạo, quản lý tài chính, quản lý cơ sở vật chất
Trang 30Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của nhà trường
ĐẢNG, CÔNG ĐOÀN, ĐOÀN THANH NIÊN, HỘI SINH VIÊN
Khoa Quản
lý Lao động
Khoa Bảo hiểm
Khoa Kế toán
Khoa Kỹ thuật chỉnh hình
Bộ môn Mác - LêNin
Bộ môn Luật
Bộ Môn Thống Kê
Bộ Môn Toán Tin
Bộ môn Ngoại ngữ
Bộ môn Giáo dục Thể chất - Quốc phòng
TT Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức
TT Tư vấn Công tác xã hội
TT Thông tin thư viện
Trang 31Trường có 1.7948m2 sử dụng, trong đó có 4 toà nhà cao tầng với 48 phòng học, giảng đường; 12 phòng và xưởng thực hành; 2 nhà 5 tầng KTX có khả năng tiếp nhận trên 1000 HSSV; Thư viện trường với hơn 110000 đầu sách và hàng trăm loại báo, tạp chí chuyên ngành phục vụ cho giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học, hiện nay trường đầu tư lắp đặt 40 cabin đồng bộ
và hiện đại phục vụ học ngoại ngữ, trên 200 máy vi tính trang bị phòng thực hành tin học Các phòng học đều được trang bị hệ thống phương tiện trợ giảng hiện đại như đèn chiếu, máy chiếu hắt, mic không dây
2.1.2 Quy mô đào tạo của trường
Xuất phát từ nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, từ năm 2001 đến nay trường đại học LĐ - XH hàng năm tuyển sinh từ 1500 đến gần 3000 SV hệ chính quy thuộc 4 ngành đào tạo cử nhân và cán bộ xã hội, cung cấp nguồn nhân lực cho 64 tỉnh, thành phố của ngành Lao động thương binh và xã hội và các ngành kinh tế khác
Bên cạnh đào tạo chính quy tại trường, nhà trường còn mở các hệ đào tạo tại chức, đào tạo liên thông, đào tạo liên kết chính quy theo địa chỉ và các lớp đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn… Số lượng tuyển sinh căn cứ nhu cầu của địa phương và chỉ tiêu cho phép của Bộ GD & ĐT
Với nhiều hình thức đào tạo đa dạng, quy mô đào tạo của trường ngày càng tăng theo hướng ổn định và phát triển vững chắc, số HSSV tăng từ 786 năm 2001 lên 8227 vào năm 2007 (tăng 10,53 lần) Đại đa số HSSV ra trường đều phát huy được năng lực chuyên môn, các kỹ năng xã hội, có nhiều HSSV đang giữ trọng trách lớn tại các đơn vị thuộc các ngành kinh tế, đặc biệt là ngành Lao động thương binh và xã hội
Sau đây là bảng thống kê số học sinh sinh viên chính quy có mặt hàng năm tại trường:
Trang 32Bảng 1: Quy mụ đào tạo tại trường từ năm 2001-2002 đến 2006-2007
Ngành học
Năm học 2001-
2002
Năm học 2002-2003
Năm học 2003-
2004
Năm học 2004-
2005
Năm học 2005-
2006
Năm học 2006-
(Nguồn: Phòng đào tạo - Tr-ờng Đại học LĐ-XH)
Xem xột số liệu ở bảng trờn, cú thể khẳng định trong 5 năm trở lại đõy trường đó tớch cực đa dạng hoỏ cỏc loại hỡnh đào tạo, đỏp ứng nhu cầu đào tạo của mọi tầng lớp người lao động ở tất cả cỏc thành phần kinh tế Từ năm học 2001- 2002 đến năm 2004 - 2005 là trường CĐ nờn đào tạo hai bậc trung học và
Trang 33CĐ Từ năm học 2005 - 2006 trường có quyết định lên ĐH (theo Quyết định 26/2005/QĐ TTg ngày 31/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ) trường bắt đầu tuyển sinh và đào tạo hệ đại học theo chỉ tiêu tuyển sinh của Bộ GD & ĐT giao Nhìn một cách tổng thể, chỉ tiêu đào tạo tăng nhanh, năm 2006 - 2007 so với năm học 2001 - 2002 tăng gấp 5 lần, từ 1025 tăng lên 5110 HSSV và được phân
bố tương đối đồng đều ở các ngành học, bậc học Từ khi thành lập cho đến nay trường đã đào tạo và bồi dưỡng được trên 35.000 cán bộ Lao động - xã hội phục
vụ không chỉ cho ngành Lao động - Thương binh và xã hội mà còn cho các ngành kinh tế khác trong cả nước
Kết quả phân loại HSSV (theo kết quả phân loại HSSV do phòng Công tác HSSV cấp) trong những năm qua (tính trung bình): Loại xuất sắc: 6%, loại khá giỏi 51%, loại trung bình và trung bình khá 48%, loại yếu kém 5% Từ năm 2001
- 2002 đến nay đã có 62 HSSV được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt nam
2.1.3 Bộ môn Ngoại ngữ trường Đại học Lao động Xã hội
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập về mọi mặt, giáo dục nói chung, quá trình dạy và học ngoại ngữ ở các trường đại học nói riêng hơn lúc nào hết có một vai trò và vị trí hết sức quan trọng Dạy học ngoại ngữ không chuyên như ở trường Đại học Lao động Xã hội đòi hỏi tri thức phải cơ bản, hiện đại phù hợp với thực trạng và tiến trình phát triển của đất nước Từ khi Đảng và Nhà nước ta thực hiện chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa trong mối quan hệ đối ngoại, nhất là hiện nay chúng ta trở thành thành viên của tổ chức thương mại Quốc tế WTO thì việc dạy học ngoại ngữ ở trường Đại học Lao động - Xã hội đòi hỏi những yêu cầu mới về quy mô, phương thức đào tạo mới chất lượng cao
Bộ môn Ngoại ngữ ra đời cùng với sự hình thành và phát triển của trường Đại học Lao động xã hội tiền thân là trường trung cấp Lao động – Tiền lương thuộc Bộ Lao Động đươc thành lập năm 1961
Trong những năm đầu thành lập, cũng giống như các Khoa, Bộ môn khác trong trường, Bộ môn cũng gặp những khó khăn nhất định Khó khăn
Trang 34kinh nghiệm Bên cạnh đó là những hạn chế về sách giáo khoa, tài liệu và những phương tiện chuyên dụng phục vụ cho dạy và học ngoại ngữ Không có máy in, máy tính nên GV đã phải mất rất nhiều thời gian cho việc chuẩn bị bài giảng hay chuẩn bị tài liệu cho học sinh, sinh viên Người học và người dạy lúc ấy chỉ được làm việc thông qua sự truyền đạt bằng lời của thầy và qua công
cụ giảng dạy là phấn trắng và bảng đen Nhưng giờ đây mọi thứ đã được cải thiện rất nhiều Bộ môn đã được trang bị rất nhiều phương tiện thiết yếu phục vụ cho việc dạy và học ngoại ngữ, như phòng học tiếng với 40 cabin, máy cassette, máy chiếu, giáo trình giảng dạy và tham khảo phong phú
Cùng với những nỗ lực của nhà trường, các Khoa và các Bộ môn khác, BMNN đã góp phần vào việc đào tạo những cán bộ Lao động Xã hội phục vụ cho ngành cũng như các ngành khác ở khắp mọi nơi trên đất nước Những cán bộ này có đầy đủ tri thức và kỹ năng chuyên môn, và họ biết vận dụng tốt những kiến thức được trang bị trong trường vào thực tiễn cuộc sống và phục
vụ cho công việc chuyên môn của mình Bên cạnh đó với đặc thù đào tạo của trường là đào tạo các chuyên gia công tác xã hội, những người sẽ làm việc với cộng đồng về giới, về lao động trẻ em, phụ nữ Ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường SV đã được làm việc với chuyên gia nước ngoài, với những nhóm tình nguyện viên nước ngoài về những hoạt động công tác xã hội Chính vì vậy, ngoại ngữ đặc biệt là ngoại ngữ (tiếng Anh) chuyên ngành giúp
họ rất nhiều trong việc trao đổi thông tin, nghiên cứu và tiếp cận được với chuyên ngành mà họ đang theo đuổi Đồng thời, ngoại ngữ giúp cho các SV của trường có thêm cơ hội để học tập, trao đổi chuyên môn, tham gia nghiên cứu khoa học Nhờ có ngoại ngữ mà SV của trường được đến gần hơn với những thuật ngữ chuyên ngành và công việc trong tương lai
Hiện nay, Bộ môn có 19 (100%) GV, 1 giáo vụ và các GV được đào tạo từ hai trường: Đại học Hà Nội và Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN Trong
đó có 9 GV đạt trình độ thạc sỹ và các GV khác cũng đang đang theo học những khoá nâng cao trình độ hoặc một số GV khác đang trong quá trình hoàn thiện chương trình đào tạo thạc sỹ Như vậy, đội ngũ GV của Bộ môn
Trang 35có đủ trình độ chuyên môn để đảm bảo yêu cầu về kiến thức cũng như nghiệp
vụ sư phạm để giảng dạy cho một số lượng lớn SV của nhà trường trong các chương trình chính quy, tại chức, liên thông và liên kết
Tình hình đội ngũ giảng viên tiếng Anh
Đội ngũ tiếng Anh được đào tạo cơ bản từ các trường ĐH Ngoại ngữ - ĐQGHN và trường Đại học Hà Nội nên tất cả các giảng viên đều được trang
bị một kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm tốt
Trong suốt những năm qua, Bộ môn luôn đạt danh hiệu lao động tiên tiến với 100% GV đều là lao động tiên tiến và tận tuỵ với nghề Trong số đó
có 4 giảng viên là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, 3 giảng viên đang là những đối tượng Đảng
Để đáp ứng với quy mô đào tạo của trường cũng như đáp ứng với chuẩn giáo dục đại học, GV trong Bộ môn nhận thức được rất rõ được tầm qua trọng của việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn của mình Năm
2002 có 2 GV của Bộ môn được nhà trường tạo điều kiện tham gia học tập ở Thụy Điển Đến năm 2004, 3 GV khác trong đơn vị cũng được đào tạo thạc
sỹ ở Canada Hiện nay có 8 giảng viên trong Bộ môn đang tham gia các lớp cao học
Với sự phát triển mạnh mẽ và quy mô đào tạo ngày càng tăng của nhà trường nên GV trong Bộ môn đều tham gia giảng dạy ở tất cả các hệ như chính quy, tại chức, liên thông, liên kết với số lượng giờ giảng tương đối lớn Bảng 2 sau sẽ thể hiện về sự phát triển đội ngũ GV tiếng Anh của BMNN trường Đại học LĐ - XH
Bảng 2: Số lượng giảng viên tiếng Anh Bộ môn ngoại ngữ
Trang 362006- 2007 13 1 12
Qua bảng tổng kết có thể thấy, đội ngũ GV hầu như toàn bộ (18/19) là
nữ và số chị em đang trong độ tuổi sinh con và nuôi con nhỏ chiếm một số lượng đông (11/19) Đây cũng là một vấn đề bất cập lớn của Bộ môn, vì các chị em không được dành trọn thời gian của mình vào công việc chuyên môn (thời gian của các chị bị chi phối rất nhiều bởi công việc gia đình, sức khoẻ sinh sản, chăm con nhỏ, và cùng lúc đó các chị vẫn phải tham gia các lớp học cao học) Chính điều này cũng gây khó khăn cho Bộ môn khi phân công giờ giảng và một phần nào đó ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả giảng dạy
và học tập ngoại ngữ của nhà trường
Đội ngũ GV trong Bộ môn cũng tương đối trẻ, số GV trên 5 năm kinh nghiệm chỉ là 4, đây cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới việc dạy và học ngoại ngữ và đặc biệt là ngoại ngữ chuyên ngành của Bộ môn Hầu hết GV
Bộ môn trẻ cả về tuổi đời cũng như tuổi nghề, do đó phương pháp dạy học và kỹ năng sư phạm vẫn còn non nớt (xem bảng 3) Chính vì thế lãnh đạo Bộ môn rất quan tâm, luôn tăng cường và nâng cao nhận thức về vai trò của việc dạy ngoại ngữ trong trường Đại học LĐ - XH, một môn học trong môi trường không chuyên và rất cần các kiến thức về giao tiếp nói chung cũng như thực hành chuyên ngành bằng tiếng Anh nói riêng
Mặc dù bị hạn chế về quỹ thời gian và còn trẻ về tuổi đời cũng như tuổi nghề, nhưng toàn thể GV trong Bộ môn vẫn không ngừng học tập, trau dồi kiến thức chuyên môn cũng như học hỏi kinh ngiệm sống từ những đồng nghiệp đi trước Bên cạnh đó, đội ngũ GV ngoại ngữ còn tích cực tham gia các phong trào do nhà trường phát động và hàng năm mỗi GV đều tham gia giảng dạy tích cực và giảng vượt số tiết quy định
Bảng 3: Độ tuổi và thâm niên công tác của giảng viên Bộ môn Ngoại ngữ
Trang 37Nhiệm vụ của Bộ môn ngoại ngữ
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của ngoại ngữ trong sự phát triển chung của đất nước cũng như đáp ứng được với quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng, và nhu cầu tuyển dụng sau khi tốt nghiệp của sinh viên, nhà trường
đã chỉ đạo Bộ môn ngoại ngữ với nhiệm vụ giảng dạy môn tiếng Anh cơ bản
và tiếng Anh chuyên ngành cho tất cả các chuyên ngành mà nhà trường đào tạo Chính vì vậy, Bộ môn Ngoại ngữ có những nhiệm vụ sau:
Giảng dạy tiếng Anh cơ bản cho tất cả các ngành học trong trường, gồm:
Trang 38Sinh viên chính quy: Nguồn tuyển sinh của đối tượng này là học sinh
đã tốt nghiệp phổ thông trung học sau khi được xét tuyển vào trường ở cả 3
hệ đào tạo đó là ĐH, CĐ, TH Những đối tượng sinh viên này được đào tạo tại trường Thời gian đào tạo theo quy định của Bộ GG & ĐT
Sinh viên liên thông: Đây là những đối tượng SV đã hoàn thành xong
chương trình học tập ở trường (có thể là SV từ những trường khác có nguyện vọng), và tốt nghiệp từ bằng khá trở lên thì sẽ được dự thi liên thông luôn Nhưng những SV không đạt được tiêu chuẩn trên thì cũng sẽ có cơ hội học liên thông sau 1 năm kinh nghiệm từ thực tiễn làm việc Những SV này cũng được đào tạo tại trường Thời gian đào tạo theo quy định của Bộ GD & ĐT
Sinh viên tại chức: Đối tượng này có thể là những học sinh đã tốt
nghiệp trung học phổ thông, có thể là những cán bộ từ những địa phương, tỉnh, thành phố ở mọi miền trên đất nước và có thể ở mọi lứa tuổi, có nhu cầu học tập chuyên ngành mà nhà trường đào tạo Thời gian đào tạo tương đương với bậc học mà họ thi tuyển theo quy định của Bộ GD & ĐT tại điểm đào tạo
có thể ở ngay tại trường, có thể ở ngay tại địa phương của họ, song GV cũng chính là nguồn GV của nhà trường
2.2 Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh chuyên ngành ở trường Đại học Lao động – Xã hội
2.2.1 Thực trạng dạy học tiếng Anh chuyên ngành ở trường Đại học Lao động Xã hội
2.2.1.1 Mục tiêu giảng dạy
Như đã đề cập ở trên, ngoại ngữ ngày càng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống của chúng ta, đặc biệt trong thời kỳ phát triển với làn sóng hội nhập mạnh mẽ Chính vì vậy, ngoại ngữ được xem như một môn học bắt buộc không những ở bậc phổ thông mà còn ở các trường chuyên nghiệp Bên cạnh đó, để đáp ứng với thực tế của công việc, SV khi ra trường
Trang 39ngoài vốn kiến thức chuyên ngành của mình bằng tiếng Việt, họ phải hiểu được chúng bằng cả tiếng Anh Do đó Bộ GD & ĐT đã ra quyết định dạy cả ngoại ngữ chuyên ngành cho học sinh, sinh viên ở các trường chuyên nghiệp Theo Bộ GD & ĐT thì ngoại ngữ (tiếng Anh) cơ bản của nhà trường gồm 10 đơn vị học trình tương đương với 150 tiết và được chia thành 2 học
kỳ SV sẽ học năm thứ nhất (2 kỳ liên tục), sau mỗi một kỳ SV sẽ trải qua 1
kỳ thi để lấy điểm kết quả cho giai đoạn học tập đó Và cũng như các trường bạn, mục tiêu đào tạo Ngoại ngữ (tiếng Anh) cơ bản của trường Đại học Lao động Xã hội là trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản trong giao tiếp và sử dụng thành thạo các mẫu câu thông dụng để SV có thể giao tiếp với những tình huống đơn giản và gần gũi trong cuộc sống
Sau khi học xong môn tiếng Anh cơ bản học kỳ I và II, ở kỳ IV, V, VI
SV sẽ được học tiếng Anh chuyên ngành Tiếng Anh chuyên ngành mà SV phải học là 12 đơn vị học trình (tương đương với 180 tiết), được chia thành 3
kỳ như trên, và mỗi kỳ 4 đơn vị học trình Mục tiêu cần đạt được sau khi SV học xong môn tiếng Anh chuyên ngành Lao động Xã hội là:
+ Củng cố kiến thức ngữ pháp, từ vựng và kỹ năng thực hành giao tiếp
mà SV đã được học ở phần tiếng Anh cơ bản
+ Cung cấp cho SV những thuật ngữ về chuyên ngành Lao động Xã hội như CTXH, KT, BH
+ Thông qua những bài đọc với chủ đề về chuyên ngành lao động xã hội, SV có cơ hội được làm quen với những hiện tượng ngữ pháp mới, được luyện ngữ âm khi học từ vựng, cũng như nâng cao kỹ năng viết
+ Sử dụng tiếng Anh một cách hiệu quả trong các tình huống liên quan tới chuyên ngành Lao động Xã hội
+ Hình thành và phát triển khả năng độc lập suy nghĩ bằng ngoại ngữ đang học cả trong giao tiếp, cũng như sử dụng tốt ngoại ngữ để phát triển khả
Trang 40năng nghiên cứu khoa học, đọc tài liệu chuyên môn cũng như học tập để nâng cao trình độ
Ví dụ:
+ Mục tiêu chương trình tiếng Anh chuyên ngành CTXH
Trên cơ sở những bài khoá về chuyên ngành, giúp SV một lần nữa có thêm
cơ hội ôn lại và học thêm những cấu trúc ngữ pháp tiếng Anh Bên cạnh đó trang bị cho SV vốn từ vựng về chuyên ngành CTXH như nạn buôn bán trẻ
em, phụ nữ, trẻ em lang thang cơ nhỡ, khái niệm về hoạt động CTXH Qua
đó SV có thể làm việc hoặc nghe những GV hay những chuyên gia người nước ngoài làm việc với dự án về CTXH giảng bài bằng tiếng Anh
+ Mục tiêu chương trình tiếng Anh chuyên ngành BH
Qua giáo trình tiếng Anh chuyên ngành do Bộ môn biên soạn giúp SV có thể nghe, nói, viết bằng tiếng Anh những vấn đề về Bảo hiểm xã hội, An sinh xã hội Đồng thời, giúp SV hiểu sâu sắc hơn về kiến thức chuyên ngành mà SV học thông qua tiếng Anh chuyên ngành như: Luật lao động, những khái niệm
về người lao động, người quản lý lao động, an toàn và vệ sinh lao động
Tôi đã tiến hành khảo sát 19 GV trong Bộ môn và 10 CBQL (trong đó
3 đồng chí trong BGH, 4 trưởng khoa và Bộ môn, 3 đồng chí Phòng đào tạo) với mục đích là đánh giá mục tiêu giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành tại trường Đại học LĐ - XH đã đạt yêu cầu hay chưa Việc khảo sát đánh giá theo những cấp độ sau đây:
- Cấp độ 1: Việc xác định mục tiêu môn học tiếng Anh chuyên ngành tại trường Đại học LĐ - XH đã được làm tốt
- Cấp độ 2: Việc xác định mục tiêu môn học tiếng Anh chuyên ngành tại trường Đại học LĐ - XH đã đạt yêu cầu
- Cấp độ 3: Việc xác định mục tiêu môn học tiếng Anh chuyên ngành tại trường Đại học Lao Động- Xã hội chưa đạt yêu cầu