1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

uản lý hoạt động dạy học trong trường tiểu học quận Hoàn Kiếm theo mô hình trường học mới (VNEN) : Luận văn ThS. Khoa học giáo dục: 60 14 01

127 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 2,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc áp dụng mô hình “Trường học mới”, có nguồn gốc từ Côlômbia từ những năm 1995-2000, là một trong những giải pháp đổi mới toàn diện, có tính hệ thống, bao gồm đổi mới cách dạy, cách h

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được Luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm, giúp

đỡ, tạo điều kiện của các thầy giáo, cô giáo; nhiều cơ quan, trường học, bạn bè đồng nghiệp tại Quận Hoàn Kiếm và người thân

Tác giả xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô Khoa Quản lý giáo dục, Ban Giám hiệu, các phòng, ban Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN đã nhiệt tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tác giả hoàn thành quá trình học tập cũng như nghiên cứu và làm Luận văn

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trịnh Văn Minh đã hướng dẫn, giúp đỡ tác giả tận tình từ khi chọn đề tài đến khi hoàn thành Luận văn này

Tác giả xin chân thành cảm ơn các cơ quan chức năng Quận ủy, UBND quận Hoàn Kiếm; Lãnh đạo, chuyên viên Phòng GD&ĐT; Cán bộ quản lý các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm và toàn thể anh, chị em, bạn bè, đồng nghiệp

đã tham gia, góp ý kiến, cung cấp các thông tin, tư liệu, tạo mọi điều kiện cho việc khảo sát, học tập và nghiên cứu thực hiện đề tài

Mặc dù có nhiều cố gắng, nỗ lực để thu được kết quả nghiên cứu bước đầu, Tác giả rất mong nhận được sự góp ý, chỉ đạo của các nhà khoa học, các thầy giáo,

cô giáo, các bạn đồng nghiệp và tất cả những ai quan tâm đến đề tài này

Tác giả trân trọng cảm ơn

Hà Nội, tháng 8 năm 2016

Tác giả

Nguyễn Thanh Hà

Trang 4

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Phương pháp học tập Tiểu học

Trung học cơ sở Quản lý

Quản lý giáo dục Quản lý nhà trường

Mô hình trường học mới : VNEN

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Câu hỏi nghiên cứu 3

5 Giả thuyết khoa học 3

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

7 Phạm vi nghiên cứu 4

8 Phương pháp nghiên cứu 4

9 Ý nghĩa khoa học của đề tài 5

10 Cấu trúc của luận văn 6

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI (VNEN) 7

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Ở ngoài nước 7

1.1.2 Ở trong nước 11

1.2 Các khái niệm cơ bản 14

1.2.1. Quản lý 14

1.2.2 Quản lý giáo dục 16

1.2.3 Quản lý nhà trường 18

1.2.4 Hoạt động dạy học 21

1.2.5 Quản lý hoạt động dạy học 23

1.3 Lý luận về hoạt động dạy học theo mô hình trường học mới 24

1.3.1 Mô hình trường học mới 24

1.3.2 Đổi mới hoạt động dạy học theo mô hình VNEN 26

Trang 6

1.3.2.1 Đổi mới về phương pháp dạy học 26

1.3.2.2 Đổi mới về tổ chức lớp học 27

1.3.2.3 Đổi mới về đánh giá học sinh 28

1.3.2.4 Đổi mới về sinh hoạt chuyên môn 29

1.3.2.5 Đổi mới về sự tham gia của cha mẹ học sinh, cộng đồng trong quá trình giáo dục 29

1.3.2.6 Đổi mới các hoạt động quản lý nhà trường……… 29

1.4 Quản lý dạy dọc theo mô hình VNEN.……… 30

1.4.1 Kế hoạch hoạt động dạy học theo mô hình VNEN……… 30

1.4.2 Tổ chức dạy học theo mô hình VNEN……… 31

1.4.3 Chỉ đạo hoạt động dạy học theo mô hình VNEN……… 32

1.4.4 Giám sát, kiểm tra, đánh giá dạy học theo mô hình Trường học mới

33 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động dạy học theo mô hình VNEN

34 1.5.1 Các yếu tố khách quan 34

1.5.2 Các yếu tố chủ quan 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI (VNEN) TẠI QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI………. 40

2.1 Một số đặc điểm kinh tế, chính trị - văn hóa, xã hội quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội 39

2.1.1. Vị trí địa lý, dân số, lao động 39

2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 40

2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 44

2.2.1 Mục tiêu khảo sát 44

Trang 7

2.2.2 Đối tượng khảo sát 45

2.2.3 Nội dung khảo sát 45

2.2.4 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu……… 46

2.2.5 Thống kê và sử lý số liệu 47

2.3 Thực trạng tổ chức dạy học theo mô hình VNEN trên địa bàn Quận Hoàn Kiếm 48

2.3.1 Thực trạng đội ngũ GV, học sinh tham gia mô hình VNEN…… 48

2.3.2 Kết quả khảo sát nhận thức CBQL, GV và PHHS về mô hình VNEN 51

2.4 Thực trạng hoạt động dạy học theo mô hình trường học mới tại các trường TH trên địa bàn quận Hoàn Kiếm…… 52

2.4.1 Công tác chuẩn bị trước khi lên lớp 53

2.4.2 Thực trạng thực hiện nội dung giảng dạy, các khâu lên lớp của giáo viên……… 54

2.4.3 Thực trạng hoạt động học tập của học sinh……… 56

2.4.4 Thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá trong dạy học của GV 58 2.4.5 Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học…… 59

2.5 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo mô hình trường học mới trên địa bàn quận Hoàn Kiếm………

61 2.5.1 Công tác xây dựng kế hoạch 61

2.5.2 Công tác tổ chức hoạt động dạy học theo mô hình trường học mới 63

2.5.3 Công tác chỉ đạo hạt động dạy học 66

2.5.4 Công tác kiểm tra hoạt động dạy học theo mô hình trường học mới 68

2.6 Đánh giá chung 70

2.6.1 Những ưu điểm 71

Trang 8

2.6.2 Những hạn chế 72

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO MÔ HÌNH

TRƯỜNG HỌC MỚI (VNEN) TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI……… 78

3.1 Định hướng phát triển giáo dục quận Hoàn Kiếm, thành

phố Hà Nội 76

3.3 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy

học theo mô hình trường học mới trên địa bàn quận Hoàn

Kiếm 78

3.3.1 Biện pháp1: Quản lý các hoạt động nâng cao nhận thức cho cán

bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh và học sinh về mô hình trường

học mới VNEN 78 3.3.2 Biện pháp 2: Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng đội ngũ GV về

kiến thức, kỹ năng, phương pháp dạy học theo mô hình trường

học mới 81 3.3.3 Biện pháp 3 Quản lý, bảo đảm các điều kiện cơ sở vật chất,

trang thiết bị phục vụ dạy học theo mô hình trường học mới… 85

3.3.4 Biện pháp 4 Triển khai thực hiện đánh giá học sinh theo mô hình

trường học mới 89

3.3.5 Biện pháp 5 Kiểm tra đánh giá mức độ thực hiện hoạt động

dạy học theo mô hình trường học mới tại các trường TH……… 93

3.3.6 Biện pháp 6 Phối kết hợp giữa Gia đình - Nhà trường - Xã hội

trong hoạt động dạy học theo mô hình trường học mới……… 96

3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 98

3.5 Khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của các biện

pháp 98

Trang 9

3.5.1 Khảo nghiệm tính cần thiết 98

3.5.2 Khảo nghiệm tính khả thi 101 3.6.3 Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện

2.1 Đối với UBND thành phố Hà Nội 105

2.2 Đối với Sở Giáo dục - Đào tạo thành phố Hà Nội 105

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 PHỤ LỤC 1 PHIẾU TRƢNG CẦU Ý KIẾN

(DÀNH CHO CBQL và GV) 110

PHỤ LỤC 1 PHIẾU TRƢNG CẦU Ý KIẾN

(DÀNH CHO CBQL và GV)……… 116

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Các yếu tố trong quản lý nhà trường

Bảng 2.1 Số lượng mẫu khảo sát tại các trường TH trên địa bàn quận Hoàn Kiếm Bảng 2.2 Tổng hợp số liệu học sinh các trường TH dạy học theo mô hình VNEN Bảng 2.3 Thực trạng đội ngũ CBQL và GV tham gia dạy học theo mô hình VNEN

Bảng 2.4 Kết quả khảo sát nhận thức về mô hình trường học mới VNEN

Bảng 2.5 Kết quả khảo sát công tác chuẩn bị của giáo viên trước khi lên lớp Bảng 2.6 Kết quả khảo sát thực trạng dạy học của giáo viên trên lớp

Bảng 2.7 Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động học của học sinh

Bảng 2.8 Kết quả khảo sát thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá trong dạy học của GV

Bảng 2.9 Kết quả khảo sát thực trạng Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học Bảng 2.10 Kết quả khảo sát thực hiện Kế hoạch hóa hoạt động dạy học theo

mô hình VNEN

Bảng 2.11 Kết quả khảo công tác tổ chức hoạt động dạy học theo mô hình VNEN Bảng 2.12 Thực trạng công tác chỉ đạo hoạt động dạy học theo mô hình VNEN Bảng 2.13 Kết quả khảo công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học theo

mô hình VNEN

Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm về mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất Bảng 3.3: Mức độ tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghị quyết Hội nghị TW lần thứ 8 khóa XI khẳng định “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực”

Muốn nâng cao chất lượng giáo dục phải đổi mới đồng bộ, trong đó đổi mới hoạt động dạy học là then chốt Mô hình trường học mới tại Việt Nam (VNEN) hướng tới việc đáp ứng các yêu cầu của đổi mới cơ bản hoạt động dạy học trong nhà trường

Việc áp dụng mô hình “Trường học mới”, có nguồn gốc từ Côlômbia từ những năm 1995-2000, là một trong những giải pháp đổi mới toàn diện, có tính hệ thống, bao gồm đổi mới cách dạy, cách học, cách đánh giá, cách thức

tổ chức quản lý lớp học, quản lý nhà trường và đổi mới cách tham gia của cha

mẹ học sinh, cộng đồng trong việc tổ chức hoạt động dạy học Mục tiêu tổng thể của Mô hình VNEN là phát triển con người : Dạy chữ - Dạy người và đổi mới đồng bộ các hoạt động sư phạm trong nhà trường Mô hình nhà trường hướng tới việc đáp ứng các yêu cầu của đổi mới PPDH, thể hiện qua một số đặc điểm cơ bản: HS được học theo tốc độ phù hợp với trình độ nhận thức của

cá nhân; Nội dung học thiết thực, gắn kết với đời sống thực tiễn hàng ngày của HS; Kế hoạch dạy học được bố trí linh hoạt; Môi trường học tập thân thiện, phát huy tinh thần dân chủ, ý thức tập thể; Tài liệu có tính tương tác cao

và là tài liệu hướng dẫn HS tự học; Chú trọng kĩ năng làm việc theo nhóm hợp tác; Phối hợp chặt chẽ giữa phụ huynh, cộng đồng và nhà trường; Tăng quyền chủ động cho GV và nhà trường, phát huy vai trò tích cực, sáng tạo của các cấp quản lý giáo dục địa phương

Trang 12

Xuất phát từ thực tiễn có sự tương đồng và khả năng áp dụng từ mô hình giáo dục của Côlômbia với giáo dục Việt Nam, từ năm học 2011-2012, ngành GD&ĐT thí điểm thực hiện dạy học theo mô hình VNEN cho HS Tiểu học Mỗi tiết học được thiết kế thành từng nhóm HS Qua 3 năm thực hiện,

HS ở các lớp học theo mô hình VNEN có nhiều tiến bộ, các em chủ động, tích cực trong giờ học, năng động, sáng tạo, tự tin trong cuộc sống Từ hiệu quả ban đầu này, ngành GD&ĐT đã nhân rộng ra các trường TH khác trên toàn quốc Thực hiện kế hoạch của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT Hà Nội, phòng GD&ĐT quận Hoàn Kiếm đã từng bước triển khai thực hiện mô hình VNEN tại một số trường trên địa bàn

Để có thể áp dụng thành công mô hình VNEN tại một số trường Tiểu học trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, việc QL hoạt động dạy học theo mô hình mới cần phải được đặc biệt quan tâm Việc nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp QL phù hợp với yêu cầu của nhà trường nói chung và QL hoạt động dạy học theo mô hình VNEN là một đòi hỏi cấp bách hiện nay ở quận Hoàn Kiếm

Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Quản lý hoạt động dạy học trong trường tiểu học

ở quận Hoàn Kiếm theo mô hình trường học mới VNEN" làm đề tài nghiên

cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài đặt mục đích nâng cao hiệu quả các hoạt động quản lý dạy học trong việc áp dụng mô hình trường học mới (VNEN) trong một số trường Tiểu học thuộc Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, thông qua việc nghiên cứu và đề xuất một

Trang 13

Quản lý hoạt động dạy học trong trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội theo mô hình trường học mới VNEN

4 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi được đặt ra cho nghiên cứu của chúng tôi đó là:

Vai trò của công tác quản lý trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội theo mô hình trường học mới VNEN như thế nào?

Cần thực hiện những biện pháp quản lý thế nào để nâng cao hiệu quả của những hoạt động dạy học theo mô hình trường học mới VNEN ở trường

TH quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội?

5 Giả thuyết khoa học

- Hoạt động dạy học theo mô hình trường học mới VNEN sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường tiểu học nói chung và ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội nói riêng Hoạt động dạy học theo mô hình trường học mới đã và đang được thực hiện trong các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội nhưng hiệu quả chưa cao, chưa nhận được nhiều sự quan tâm của xã hội

- Việc nâng cao nhận thức về dạy học theo mô hình trường học mới VNEN ở các trường TH quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội và áp dụng một

số biện pháp quản lý phù hợp từ lập kế hoạch, tổ chức chỉ đạo và kiểm tra đánh giá sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học theo mô hình trường học mới VNEN ở các trường TH quận Hoàn Kiếm nói riêng và ở thành phố Hà Nội nói chung

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

và về mô hình trường học mới VNEN, công tác Quản lý hoạt động dạy học trong một số trường tiểu học quận Hoàn Kiếm theo mô hình trường học mới VNEN;

6.2 Khảo sát thực trạng hoạt động dạy học theo mô hình trường học

mới VNEN và thực trạng công tác Quản lý hoạt động dạy học trong trường

Trang 14

tiểu học quận Hoàn Kiếm theo mô hình trường học mới VNEN ở một số trường Tiểu học trên địa bàn quận và phân tích nguyên nhân của thực trạng;

6.3 Trên cơ sở phân tích thực trạng và nguyên nhân, đề xuất một số

biện pháp quản lý khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác Quản lý hoạt động dạy học trong một số trường tiểu học quận Hoàn Kiếm theo mô hình trường học mới VNEN tại quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

7.Phạm vi nghiên cứu

Do điều kiện và khả năng có hạn, tác giả luận văn tập trung nghiên cứu công tác Quản lý hoạt động dạy học trong một số trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội theo mô hình trường học mới VNEN từ năm 2014 đến năm 2016

Tuy nhiên để có được các giải pháp quản lí hiệu quả, đề tài sẽ dành một phần quan trọng nghiên cứu thực trạng hoạt động dạy học theo mô hình trường học mới VNEN ở một số trường TH quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội từ năm 2014 đến nay

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Thu thập các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt về quản lí các hoạt động chuyên môn nhà trường; phân tích, phân loại, xác định các khái niệm cơ bản; đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan để hình thành cơ sở lý luận cho đề tài

8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra bằng bảng hỏi: Phiếu trưng cầu gồm các câu hỏi đóng/mở

Trang 15

- Phỏng vấn: Kỹ thuật nghiên cứu này nhằm thu thập những thông tin

sâu về một số vấn đề cốt lõi của đề tài Nhóm đối tượng phỏng vấn sẽ hạn chế hơn và tập trung vào GV và CBQL

8.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm để đánh giá chất lượng

Dựa trên các số liệu thống kê được về chất lượng của học sinh qua từng năm học gần đây; về thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của cán bộ quản

lý qua các nguồn số liệu, nhằm đưa ra những nhận định, phân tích, đánh giá thực trạng và giải pháp quản lí Quản lý hoạt động dạy học trong các trường tiểu học theo mô hình trường học mới VNEN

8.4 Nhóm phương pháp nghiên cứu hỗ trợ

Thống kê, toán học, biểu bảng, sơ đồ

9 Ý nghĩa khoa học của đề tài

9.1 Về lý luận

Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về công tác quản lý hoạt động dạy học trong trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội theo mô hình trường học mới VNEN, chỉ ra những thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng một số phương pháp quản lý hiệu qủa cho hoạt động này

9.2.Về thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho công tác Quản lý hoạt động dạy học trong các trường tiểu học theo mô hình trường học mới VNEN

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học trong trường

tiểu học theo mô hình trường học mới VNEN

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học theo mô

hình trường học mới VNEN ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

Trang 16

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo mô hình trường

học mới VNEN tại các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

Trang 17

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI (VNEN)

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Ở ngoài nước

Các nhà lãnh đạo, các nhà nghiên cứu của nhiều quốc gia trên thế giới đều nhất trí cho rằng: Giáo dục chính là động lực để phát triển kinh tế - xã hội, nguồn lực con người chính là tài sản quyết định cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trong những công trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu giáo dục Nga khẳng định rằng: Kết quả toàn bộ hoạt động quản lý của quản lý nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên

Tác giả P.V Zinmin, M I Kônđakốp, N I Saxerđôtôp (1985) đi sâu nghiên cứu lãnh đạo công tác giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, các ông nhận định “Công tác quản lý hoạt động giảng dạy, giáo dục trong nhà trường

là khâu then chốt trong hoạt động quản lý trường học.” [30, tr 28]

Xu thế Trường học mới, thực chất là một phong trào giáo dục, văn hóa quan trọng nhất diễn ra ở Châu Âu và châu Mĩ trong những thập niên đầu của thế kỷ XX, từ đó đã tạo đột phá, để thay đổi trước lối giáo dục truyền thống, thụ động và độc đoán Các phương pháp sư phạm mới, khái niệm giáo dục mới và các nguyên tắc của nó được dựa trên thành tựu khoa học giáo dục với tên tuổi của các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.[28, tr 155]

Phong trào về xu thế Trường học mới cũng đã được gọi là phong trào Trường học hiện đại, phong trào Cải cách giáo dục, phong trào trường học tiến bộ và giáo dục mới Và nó có vai trò chuyển tải ý tưởng về giáo dục một

“con người mới” cho một thế giới hiện đại Nó cũng đã được hình thành như một xu hướng giáo dục của “cuộc cải cách giáo dục” có tầm quan trọng nằm trong việc thay đổi loại hình giáo dục một chiều độc đoán, giáo viên làm trung

Trang 18

tâm giáo dục, thành những giáo viên mới, những người lấy học sinh làm trung tâm của hoạt động sư phạm của mình

Các nhà giáo dục và nhà triết học nổi tiếng ở châu Âu và châu Mĩ cũng như trên thế giới đã đóng góp thành tựu khoa học của mình vào việc hình thành

tư tưởng và tổ chức của một loại trường mới mà quá trình dạy học phù hợp hơn với tâm lý trẻ em, chẳng hạn như Decroly (1871-1932), Gion Điuây (1859-1952), G.Piagie (1896-1980), Claparade (1873-1940), Ferriere (1879-1960) và ở Colombia, có Agustin Nieto Caballero, Raphael Bernal Jimenez và Tomas Restrepo Cadavid và nhiều nhà khoa học khác

Có những triết gia, những nhà giáo dục có ảnh hưởng lớn tới mô hình EN như:

- L.X Vưgotxki (1896-1934) , nhấn mạnh tương tác xã hội giữa trẻ em với người khác và với thế giới

- G Piagie (1896-1980), nghiên cứu tâm lý con người, nhận thức của con người trong mối quan hệ với môi trường, với cơ thể và với não bộ

- Juan Jacobo Rousseau (1712-1778), với giáo dục cá nhân, tự phát và

tự nhiên, nhằm xây dựng Hội đồng tự quản học sinh

- Juan Amos Comenio (1592-1670), với phương pháp dựa trên bản chất, trực giác và tự hoạt động, nhằm sử dụng các trung tâm nguồn lực học tập

- Gion Điuway (1854-1952), với gợi ý một nền giáo dục chuẩn bị đời sống xã hội cho con trẻ: nhà trường nên được tổ chức như một xã hội có luật lệ riêng của nó, nơi học sinh đạt được sự học tập về hiệu quả xã hội thông qua kinh nghiệm mà không bỏ qua sự tự do về quyền và nghĩa vụ, nhằm xây dựng Hội đồng tự quản học sinh

- Maria Montessori (1869-1952), với đóng góp của học sinh tự quản lớp học Tổ chức các lớp học theo nhóm làm việc Tạo hứng thú của nhóm bởi một nhóm trưởng Học sinh được tự do trong việc tìm kiếm các thông tin và

Trang 19

trong việc tìm kiếm các nguồn tài nguyên hoặc các tư liệu khác để củng cố việc học của mình Tài liệu giảng dạy giúp bổ sung tri thức cho từng cá nhân

và cho cả nhóm Trao đổi từ chính các chủ thể và không ràng buộc cung cấp thông tin giữa giáo viên với học sinh và giáo viên với giáo viên, nhằm làm việc nhóm hiệu quả Quản lý vai trò các chủ thể Sử dụng chia sẻ tài liệu học tập giảng dạy Mối quan hệ bình đẳng giữa giáo viên với học sinh Phát triển trung tâm tài nguyên học tập tại mỗi lớp học

- Anton Macurenco (1898-1939), với sự cần thiết phải nỗ lực, kỷ luật và hoạt động mạnh mẽ trong giáo dục Công việc và sự cố gắng phải là từ tập thể Khác biệt giữa các cá nhân phải được tôn trọng Công nhận giá trị và tầm quan trọng của chơi

mà học là thành phần không thể thiếu được trong học tập và giáo dục nhằm giúp cho Hội đồng tự quản và học theo nhóm hoạt động có hiệu quả Tăng cường chia sẻ tài liệu học tập

- Johans F Harbart (1776-1841), với phương pháp luận về quá trình học tập được thực hiện trong bốn giai đoạn: Hiểu biết đối tượng (quan sát); Liên hệ hoặc so sánh: hệ thống và khái quát, trong đó bao gồm sự hiểu biết các đối tượng và so sánh chúng; Thiết lập quan hệ như là kết quả của sự so sánh; Giai đoạn thực hiện nhằm thiết kế tài liệu hướng dẫn về quá trình và phương pháp học tập có tương tác

- Federico Froebel (1782-1852), với phương pháp dạy học hướng trẻ

em theo sở thích và các đặc tính của chúng Rèn luyện học sinh trong các hoạt động giáo dục về tự hoạt động, tự chủ, lòng tự trọng, tự đánh giá và theo sở thích của trẻ trong một môi trường của hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau, nhằm phát huy Hội đồng tự quản học sinh Quản lý các công cụ hỗ trợ học tập trong lớp học Làm việc theo nhóm hiệu quả Đánh giá theo quá trình học tập của học sinh Giáo viên là người biết tư duy và là người hướng dẫn, tạo thuận lợi cho việc học của học sinh

Trang 20

- Adolfo Ferriere (1879), với giáo viên không thể độc quyền, độc đoán,

là người có những uy quyền tối cao, trong lớp học, cho phép được trừng phạt với sự hà khắc, đe dọa và đánh giá thấp trẻ em hoặc bị trừng phạt khi không phục tùng thầy giáo Giáo viên đóng vai trò như là người luôn tạo điều kiện thuận lợi cho học tập của học sinh

- Elena Parkhurt (1919), với “Kế hoạch Dalton” về những đóng góp đầy cảm hứng trong việc đánh giá giá trị ban đầu kinh nghiệm của trẻ, khả năng của trẻ có thể quan sát và tìm hiểu, tiến tới ứng dụng thực tế, nhằm quản

lý hướng dẫn giảng, dạy học tương tác Quá trình phương pháp luận dạy học Hoạt động mở và linh hoạt Trung tâm tài nguyên học tập

- Ovidio Decroly (1871-1932) với phương pháp toàn cầu hóa, đóng góp cho phương pháp sư phạm tích cực như: tôn trọng nhân cách của trẻ, nhằm đảm bảo tiến độ quá trình học của trẻ Quá trình phương pháp luận dạy học [28, tr 157]

- Mô hình trường học mới - Escuela Nueva (EN) được hình thành từ những năm 70-80 của thế kỷ XX Đây là mô hình nhà trường mới, theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh, mô hình này có tầm ảnh hưởng rộng rãi tới giáo dục các nước vùng Caribe và hầu hết các nước Mỹ Latinh Mô hình EN dựa trên năm nguyên tắc cơ bản:

+ Lấy học sinh làm trung tâm

+ Nội dung học gắn bó chặt chẽ với đời sống hằng ngày của học sinh + “Xếp lớp linh hoạt”: Học sinh được lên lớp trên nếu được giáo viên đánh giá đạt được các mục đích tối thiểu

+ Phụ huynh và cộng đồng phối hợp chặt chẽ với giáo viên để giúp đỡ học sinh một cách thiết thực trong học tập; tham gia giám sát việc học tập của con em mình

+ Góp phần hình thành nhân cách giá trị dân chủ, ý thức tập thể theo xu hướng thời đại cho học sinh

Trang 21

Trong mô hình EN, luôn luôn duy trì 4 cấu phần được coi là nền tảng của

mô hình, đó là: Cấu phần Tài liệu; Cấu phần Tập huấn; Cấu phần Quản lý; Cấu phần Cộng đồng

Đến nay, mô hình Trường học mới được triển khai thành công ở nhiều nước, trong đó có Cộng hòa Colombia Hiện nay có khoảng 22 nước đang phát triển ở khu vực Mỹ La tinh, Châu Á, Châu Phi áp dụng mô hình này Mô hình Trường học mới đã giành được một số giải thưởng quốc thế và được Ngân hàng thế giới (WB) và UNESSCO đánh giá là một trong ít mô hình phù hợp với điều kiện giáo dục của các nước đang phát triển

là quốc sách hàng đầu Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X về vấn đề định hướng phát triển ngành, lĩnh vực đã chỉ rõ về GD&ĐT: “Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế QL để tạo ra sự chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà… ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học” và “Phát triển mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động khoa học - công nghệ với GD&ĐT để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực thúc đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức Thống nhất định hướng giữa phát triển khoa học và công

Trang 22

nghệ với chiến lược GD&ĐT, phát huy quan hệ tương tác thúc đẩy lẫn nhau giữa hai lĩnh vực quốc sách hàng đầu này” [32]

Trong những năm vừa qua, hoạt động dạy học và QL hoạt động dạy học ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm đã đạt được những kết quả nhất định song còn nhiều hạn chế, bất cập do những nguyên nhân khác nhau Vì vậy, cần có những biện pháp QL hoạt động dạy học hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm

Tư tưởng trên gợi ý cho chủ thể quản lý dạy học vấn đề: quản lý dạy học phải gắn liền với thể chế xã hội, nề nếp dạy học, trình độ người dạy, năng lực tự học, tinh thần độc lập suy nghĩ và tính sáng tạo của người học Những

tác phẩm, những bài báo về khoa học quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã góp phần cải tiến, hoàn thiện hơn công tác quản lý giáo dục như: Hà Thế Ngữ, Hồ Ngọc Đại, Đặng Vũ Hoạt, Trần Kiều, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Văn Lê Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề về vị trí, vai trò của việc tổ chức quá trình dạy

học, ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng dạy học, những ưu điểm và nhược điểm của hình thức dạy học trên lớp, bản chất và mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học, vai trò của người dạy và người học, việc đổi mới nội

dung cũng như cách thức tổ chức dạy học

Các công trình nghiên cứu trên thực sự có ý nghĩa về mặt lý luận và nghiên cứu thực tiễn đối với hoạt động quản lý giáo dục trên địa phương, đồng thời cũng đóng góp những viên gạch xây dựng nền tảng hệ thống các biện pháp quản lý giáo dục trên cả nước

Mặc dù vậy, trước xu thế toàn cầu hoá, trước những yêu cầu cấp bách của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, cùng với sự bùng nổ của khoa học công nghệ truyền thông đòi hỏi ngành Giáo dục và Đào tạo cần phải có những thay đổi căn bản về chương trình giáo dục, về sách giáo khoa,

… và tất yếu phải đổi mới phương pháp dạy học sao cho phù hợp Muốn sự

Trang 23

nghiệp cải cách giáo dục đạt hiệu quả thì việc đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác quản lý là hết sức quan trọng, trọng tâm là các biện pháp quản lý hoạt động dạy học

Từ thực tiễn và trong quá trình nghiên cứu tác giả nhận thấy các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy ho ̣c ở trường học nói chung và ở trường tiểu học nói riêng khá phong phú như: nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Tịnh (2006), Đại học Sư phạm Hà Nội về “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học đối với trường Tiểu học của Phòng Giáo dục Quận 11 thành phố Hồ Chí Minh”; Đào Văn Sinh (2006), Đại học Quốc gia Hà Nội Các biện pháp quản lý của phòng giáo dục đối với hoạt động dạy học của các trường tiểu học Huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Văn Nam (2008) Đại học Sư phạm

Hà Nội “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiểu học theo chương trình đổi mới đối của phòng giáo dục đào tạo huyện Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh”; Hoàng Thị Thu Thủy (2014 ), Đại học Sư phạm Hà Nội “Quản lý hoạt động dạy học hai buổi/ ngày ở trường tiểu học thành phố Hưng Yên”; Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Hồng Giang năm 2013 về quản lí dạy học 2 buổi/ngày tại các trường Tiểu học huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc…các tác giả luận văn này đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, thực tiễn và đề ra các biện pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động dạy học dưới nhiều góc độ khác nhau Kết quả nghiên cứu đã giúp các nhà quản lý có thể tham khảo và vận dụng một cách linh hoạt trong việc quản lý hoạt động dạy học và giáo dục

Tuy nhiên, mô hình VNEN, mới được áp dụng trên cả nước nói chung và địa bàn quâ ̣n Hoàn Kiếm , thành phố Hà Nội nên đến nay chưa có tác giả nghiên cứu về các biê ̣n pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường tiểu học theo VNEN nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo du ̣c Vì vậy, tác giả chọn hướng nghiên cứu (khảo sát, đánh giá thực tra ̣ng hoa ̣t đô ̣ng và công tác quản lý hoa ̣t

đô ̣ng da ̣y ho ̣c ở trường tiểu học trên địa bàn quận Hoàn Kiếm - thành phố Hà Nội) từ đó đề xuất các biê ̣n pháp quản lý da ̣y ho ̣c theo mô hình VNEN tại

Trang 24

trường Tiểu ho ̣c của quâ ̣n nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo du ̣c trong bối cảnh hiện nay

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

Quản lý là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra, là một hoạt động bao trùm mọi mặt đời sống xã hội và là nhân tố không thể thiếu trong sự phát triển của xã hội Quản lý là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử

Quản lý là một khái niệm rộng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, vì vậy khái niệm QL khi được đưa ra luôn được gắn với các loại hình QL cụ thể

- Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về QL Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về QL Đặc biệt là kể từ thế kỷ XXI, các quan niệm về QL lại càng phong phú Các trường phái QL học đã đưa

ra những định nghĩa về QL như sau:

+ Theo từ điển Tiếng Việt do trung tâm ngôn ngữ Hà Nội xuất bản năm

1992, quản lý có nghĩa là: “Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”[31]

+ Theo Các Mác: “Bất cứ một lao động mang tính chất xã hội trực tiếp hay lao động cùng nhau, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần đến mức độ nhiều hay ít sự QL, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc

cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ vận động của toàn

bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó Một người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ huy” [33, tr.38]

+ F.W.Taylor (1856-1915) được đánh giá là cha đẻ của thuyết “Quản lí khoa học” định nghĩa “QL là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó khiến được họ hoàn thành công việc tốt nhất và rẻ nhất” [34]

Trang 25

+ Henri Fayol (1841-1925), người Pháp, người đặt nền móng cho lý luận

tổ chức cổ điển cho rằng: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy” Khái niệm này xuất phát từ sự khái quát về các chức năng của QL

+ Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu QL là một hệ thống là một quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người QL mong muốn” [16, tr 47]

+ Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý nhằm phối hợp sự nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [17, tr 32]

+ Theo Nguyễn Văn Lê: “Quản lý là một hệ thống tác động khoa học, nghệ thuật vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra của hệ thống và cho từng thành tố của hệ thống” [19, tr 67]

+ Theo Phạm Viết Vượng: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định”, “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể những người lao động nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [27, tr.24]

Tóm lại, có thể nói QL là một quá trình tác động có tổ chức, có mục đích, có định hướng của chủ thể QL lên đối tượng QL nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong

Trang 26

điều kiện biến động của môi trường, của hoàn cảnh Quản lý là sự điều khiển

có tổ chức và thỏa mãn yêu cầu, mục tiêu đã đề ra, chứ không mang tính áp đặt, cai trị Tùy theo những trường hợp cụ thể mà có những chính sách, biện pháp

QL cứng rắn hay mềm mỏng phù hợp nhất để luôn đạt được kết quả như mong muốn đồng thời phải làm cho tổ chức ngày càng phát triển

Như vậy, trong luận văn chúng tôi quan niệm, QL là sự tác động có định hướng của người QL lên đối tượng QL nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra

Bản chất của hoạt động QL là sự tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể QL đến khách thể QL trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục tiêu đề ra Trong GD, đó là tác động của nhà QLGD đến tập thể

GV, HS và các lý luận giáo dục khác trong xã hội nhằm thực hiện có hệ thống các mục tiêu QLGD

Các chức năng của QL biểu hiện bản chất của QL, chức năng của QL là một phạm trù cơ bản của khoa học QL, là những loại hoạt động bộ phận tạo thành hoạt động QL đã được tách riêng, chuyên môn hóa” Các chức năng QL

là những hình thái biểu hiện sự tác động đến mục đích tập thể người” [24, tr.16]

Có 4 chức năng cơ bản liên quan mật thiết với nhau và tạo thành chu trình QL: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra

1.2.2 Quản lý giáo dục

Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt có nguồn gốc từ xã hội Bản chất của hoạt động giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa nhân loại được kế thừa, bổ sung, hoàn thiện và trên cơ sở đó không ngừng phát triển

Trong thuật ngữ, quản lý giáo dục được hiểu như việc thực hiện đầy đủ các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra trên toàn bộ các hoạt động giáo dục và tất nhiên cả những cấu phần tài chính và vật chất của các

Trang 27

hoạt động đó nữa Do đó, quản lý giáo dục là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra Hoặc quản lý giáo dục là quá trình đạt tới mục tiêu trên cơ sở thực hiện có ý thức và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường hay nói rộng ra là quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định” [10, tr.61]

Các nhà quản lý giáo dục còn quan niệm: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay, với

sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà còn rộng ra cho mọi người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác động

có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm là hội tụ quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [24, tr.31]

- Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Ngày nay, với sứ mệnh giáo dục phát triển thường xuyên, quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành thống nhất giáo dục quốc dân” [3, tr 16 ]

Trang 28

- Theo tác giả Trần Kiểm: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích bảo đảm sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quản lý giáo dục, của sự phát triển tâm lý và thể lực của trẻ em” [17, tr 13]

Từ các khái niệm về quản lý giáo dục mà các tác giả đưa ra, có thể hiểu rằng: QLGD là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan quản lý giáo dục các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học - giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra

1.2.3 Quản lý nhà trường

Trong hệ thống GD, nhà trường chiếm giữ một phần quan trọng, chủ yếu Đa phần các hoạt động GD đều được thực hiện trong nhà trường Nhà trường là “tế bào chủ chốt” của hệ thống GD từ Trung ương đến địa phương Theo đó quan niệm QLGD luôn đi kèm với quan niệm QLNT Các nội dung QLGD luôn gắn liền với QLNT Quản lý nhà trường có thể được coi như là

sự cụ thể hóa công tác QLGD

Một số nhà nghiên cứu cho rằng: “Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có định hướng của hiệu trưởng (the principal) đến con người (giáo viên, cán bộ nhân viên và HS), đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin, vv ) hợp quy luật (quy luật QL, quy luật GD, quy luật tâm lý, quy luật kinh tế, quy luật xã hội, ) nhằm đạt mục tiêu giáo dục” [19, tr.39]

Ngày nay nhà trường trong nền kinh tế công nghiệp không chỉ là thiết

kế sư phạm đơn thuần Công việc diễn ra trong nhà trường có mục tiêu cao nhất là hình thành “nhân cách - sức lao động”, phục vụ phát triển cộng đồng làm tăng nguồn vốn con người (Human Capital), vốn tổ chức (Organizational Capital) và cả vốn xã hội (Social Capital)

Trang 29

Theo Đặng Quốc Bảo, khi nghiên cứu về quản lý nhà trường, quan niệm: "Quản lý nhà trường là quản lý một thiết chế vừa có tính sư phạm, vừa

có tính kinh tế; trong đó nhà trường trung học phải xác định sứ mệnh là đào tạo học sinh trở thành người lớn có trách nhiệm tự lập với ba giấy thông hành

đi vào đời đó là: giấy thông hành học vấn, giấy thông hành kỹ thuật nghề nghiệp và giấy thông hành kinh doanh" [4, tr.19]

Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối lãnh đạo của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý GD để tiến tới mục tiêu GD Mục tiêu đào tạo đối với ngành GD, với thế hệ trẻ và với từng HS” [11, tr.30]

Theo Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý nhà trường là: “Tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp ) của chủ thể QL đến tập thể giáo viên, HS và các cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường

mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [24, tr.10]

Quản lý nhà trường khác với QL xã hội khác, nó được quy định với bản chất lao động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học và quá trình GD, trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là chủ thể sáng tạo chủ động vừa là đối tượng QL Sản phẩm của các hoạt động trong nhà trường

là nhân cách người HS được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện, phát triển theo yêu cầu phát triển của xã hội

Quản lý nhà trường là toàn diện với mục đích là để hình thành nhân cách HS Như vậy QLNT chính là QLGD trong một phạm vi xác định đó là đơn

vị GD là nhà trường Do vậy, QLNT là vận dụng tất cả các nguyên lý chung của QLGD để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo

+ Đối tượng của quản lý nhà trường:

Trang 30

Trong thực tế cho thấy đối tượng của QLNT thường gồm: việc xây dựng và thực hiện nội dung dạy học; hoạt động dạy của giáo viên, biên soạn giáo trình, giáo án, chuẩn bị đồ dùng dạy học, lên lớp, giúp đỡ kiểm tra HS - SV học tập; hoạt động học tập của HS - SV (nề nếp, thái độ học tập, kết quả học tập); việc sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động dạy học Nếu tất cả các đối tượng trên được quan tâm, chú ý và thực hiện tốt thì công tác QLNT sẽ thu được kết quả mong muốn

+ Mục đích của quản lý nhà trường:

QLNT là QL toàn diện mọi hoạt động, mọi nguồn lực của nhà truờng Nhưng vì trong nhà trường, hoạt động dạy học là hoạt động cơ bản , đặc trưng cho trường học, do vậy QLNT chính là QL hoạt động dạy học của nhà trường nhằm đưa nhà trường đạt được hiệu suất cao nhất, chất luợng cao nhất với mục đích cuối cùng là làm sao đáp ứng cao nhất nhu cầu học tập của nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển nhân cách toàn diện cho người học ở mọi cơ

sở GD, đào tạo ra những công dân có ích cho xã hội

Sơ đồ 1.1 Các yếu tố trong quản lý nhà trường

Từ đó, ta có thể hiểu quản lý trường tiểu học là quá trình lập kế hoạch,

tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội tham gia vào các hoạt động của nhà trường, việc sự dụng các nguồn lực phù hợp (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin…) hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả các mục tiêu giáo dục đã đề ra Bản

Cán bộ quản lý

CB đoàn thể, XH

Mục tiêu Sản phẩm

Môi trường

Trang 31

chất của hoạt động quản lý này là ở chỗ tác động của con người (chủ thể quản lý) tác động một cách có mục đích đến các thành viên thuộc một hệ thống đơn

vị nhằm đạt được các mục đích đã định

1.2.4 Hoạt động dạy học

Nhiều tác giả cho rằng: “Dạy học là toàn bộ các thao tác có mục đích nhằm chuyển các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được hoặc cộng đồng đã đạt được vào bên trong một con người”

Thực tiễn đã chứng tỏ dạy học là con đường trực tiếp và thuận lợi nhất

để giúp học sinh lĩnh hội được tri thức của loài người một cách có hệ thống về

cơ bản, rèn luyện học sinh có những thói quen cần thiết (phù hợp với lứa tuổi) trong học tập, lao động, giao tiếp, lối sống… Chính hoạt động học tập sẽ kích thích mạnh mẽ sự phát triển các chức năng của não và làm xuất hiện các điều kiện để phát triển tư duy nhất là tư duy trìu tượng ở các em Đặc biệt, trong quá trình học tập các em còn lĩnh hội được chính những cơ sở của phương pháp học tập cũng như các thao tác cơ bản của tư duy Những thay đổi về nhiều mặt này có tác dụng hình thành to lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của các em

Hoạt động dạy học thể hiện trong việc thực hiện nội dung, chương trình, kế hoạch giáo dục đối với yêu cầu đầy đủ các môn học bắt buộc và các môn tự chọn, các môn học năng khiếu,… theo chương trình, kế hoạch của Bộ GD&ĐT

Hoạt động dạy học được thể hiện ở trên lớp và thực hiện ở ngoài giờ lên lớp Khi thực hiện ngoài giờ lên lớp nhà giáo dục dùng cách thức vui chơi, giải trí, văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, tham quan các di tích lịch sử của địa phương, … để tăng cường kiến thức, thái độ, kỹ năng cho học sinh

Hoạt động dạy (còn gọi là hoạt động giảng dạy) là hoạt động của giáo viên tổ chức và điều khiển hoạt động học tập của người học, giúp cho người

Trang 32

học chiếm lĩnh được nội dung kiến thức, hình thành kỹ năng, những giá trị theo mục đích giáo dục của nhà trường đã xác định

Hoạt động dạy học bao gồm hai hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh, trong đó, việc tổ chức, điều khiển của người giáo viên:

đề ra mục đích, yêu cầu, nhận thức, thái độ học tập đối với người học; tổ chức các hoạt động học thông qua các hình thức tổ chức dạy học để người học lĩnh hội tri thức, có các kỹ năng cần thiết đồng thời đảm bảo mối liên hệ ngược thông qua kiểm tra, đánh giá

Thực chất của hoạt động dạy là thầy tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra, điều chỉnh hoạt động học của học sinh Nói cách khác là thầy giúp trò tự hiểu được bản thân mình, tự hoàn thiện và phát triển trong quá trình học tập Hoạt động dạy đạt kết quả cao khi có sự phối hợp thống nhất biện chứng giữa người dạy

và người học

Hoạt động học (còn gọi là hoạt động học tập) là hoạt động đặc thù của con người diễn ra có ý thức, có đối tượng nhằm mục đích lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, những giá trị và phương thức hành động, học tập để phát triển và hoàn thiện bản thân Dưới ảnh hưởng của nhân tố đặc biệt là nhân tố người thầy và hoạt động dạy, người học không ngừng vận động và phát triển đi lên trong con đường nhận thức của bản thân

Hoạt động học là một quá trình chủ động, tự giác của người học nhằm chiếm lĩnh, đồng hóa thông tin để chuyển hóa thành tri thức và cuối cùng thay đổi hành vi một cách tổng hợp

Hoạt động học là quá trình người học càng ngày càng hoàn thiện các năng lực và các phẩm chất hoạt động trí tuệ cũng như hoàn thiện thế giới khoa học và các phẩm chất đạo đức, giúp người học ngày càng có tiền đề, cơ sở mới để tiến hành học tập ở trình độ cao hơn

* Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và học

Trang 33

Hoạt động dạy mang tính chất hai chiều, hai nhân tố trung tâm là hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Hai hoạt động này thống nhất với nhau và phản ánh tính chất hai mặt của quá trình dạy học Ở đây chúng ta có một hệ thống, thống nhất giữa dạy và học

Sự tác động qua lại trong hệ thống dạy và học chịu sự ảnh hưởng của

sự tác động qua lại chung trong hệ thống quá trình dạy học Trong hệ thống dạy và học, sự tác động của dạy mà thầy là chủ thể nhằm thúc đẩy hoạt động nhận thức của học sinh, từ đó kết quả dạy học xét cho cùng chính là tập trung

ở kết quả nhận thức của học sinh và từ đó thay đổi hành vi của họ

Như vậy chỉ có thể tìm thấy bản chất của quá trình dạy học ở hoạt động nhận thức của bản thân học sinh Hoạt động dạy học diễn ra trong những điều kiện nhất định, hoạt động này đóng vai trò chỉ đạo, điều khiển, hướng dẫn; hoạt động học đóng vai trò chủ động, tích cực, tự giác, sáng tạo nhằm đạt kết quả

Xét cho cùng, hoạt động dạy học là một quá trình giao tiếp, hợp tác đa dạng và biến đổi theo sự phát triển của xã hội Hoạt động dạy học bao gồm một chuỗi các tình huống diễn ra trong không gian và thời gian với hoàn cảnh

cụ thể các tình huống luôn thay đổi theo sự phát triển của vấn đề và theo hoàn cảnh môi trường dạy học Trong khi thực hiện môi trường giảng dạy, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, trình độ hoạt động xã hội của người thầy đã không ngừng được nâng cao, nhân cách của người thầy không ngừng được hoàn thiện

1.2.5 Quản lý hoạt động dạy học

Trong trường học mọi hoạt động đều hướng vào phục vụ hoạt động dạy học và QL trường học trọng tâm là quản lý HĐDH

QL dạy học là QL một hoạt động với tư cách là một hệ thống toàn vẹn, bao gồm các nhân tố cơ bản : mục đích, nhiệm vụ, nội dung dạy học, thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học, các phương pháp và các phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học, phương thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập

Trang 34

Bản chất của quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của dạy và học được thể hiện bằng sự hợp tác giữa dạy và học theo lôgic khách quan của nội dung

Như vậy quản lý HĐDH là QL hoạt động sư phạm của người thầy và hoạt động học tập rèn luyện của trò, để hình thành và phát triển nhân cách học sinh

1.3 Lý luận về hoạt động dạy học theo mô hình trường học mới

1.3.1 Mô hình trường học mới

Triển khai Mô hình Trường học mới ở Việt Nam dựa trên cơ sở của những nguyên lý, quy luật nhận thức và những thành tựu của khoa học giáo dục tiên tiến trên thế giới Mô hình Trường học mới được triển khai ở Việt Nam theo quan điểm: lựa chon nội dung phù hợp, những cách làm hay của các nước, đồng thời kế thừa những nội dung hay trong quá trình dạy, học, quản lý ở Việt Nam để xây dựng và vận dụng mô hình cho phù hợp với thực tiễn ở nước ta

Mô hình VNEN được xây dựng dựa trên quan điểm, định hướng giáo dục hướng tới phát triển năng lực người học, trong đó coi trọng giáo dục lấy

HS làm trung tâm Mô hình VNEN tập trung vào việc đổi mới đồng bộ từ hoạt động dạy học (của giáo viên) tới hoạt động học (của học sinh), hoạt động quản lý nhà trường (của cán bộ quản lý giáo dục) đến việc đổi mới hoạt động đánh giá học tập, tổ chức lớp học và có một điểm quan trọng hơn đó là việc hoạt động sinh hoạt chuyên môn (giáo viên và nhà quản lý), sự tham gia của cha mẹ, cộng đồng (của xã hội) vào giáo dục [29,tr 29]

Trang 35

MÔ HÌNH VNEN Hoạt động DẠY của GV

Hoạt động HỌC của HS (Đổi mới hoạt động sƣ phạm) ĐỔI MỚI CĂN BẢN

Dạy của GV Học của HS

Dạy theo lớp Học theo nhóm

Học theo thầy Học với sách

(tương tác cùng bạn)

“ TỰ ” HỌC SINH TỰ GIÁO

MÔN HỌC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

Trang 36

1.3.2 Đổi mới hoạt động dạy học theo mô hình VNEN

1.3.2.1 Đổi mới về phương pháp dạy học

Dạy học theo mô hình VNEN, người dạy và người học cùng phải thay đổi mới phương pháp dạy và phương pháp học theo tiến trình như sau:

* QUY TRÌNH 5 BƯỚC DẠY HỌC THEO MÔ HÌNH VNEN

Bước 1: Tạo hứng thú cho HS

Bước 2: Tổ chức cho HS trải nghiệm

Bước 3: Phân tích - Khám phá - Rút ra kiến thức mới

Bước 4: Thực hành - củng cố bài học

Bước 5: Ứng dụng

*QUY TRÌNH 10 BƯỚC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

1 Chúng em làm việc nhóm (nhóm trưởng lấy tài liệu và đồ dùng)

2 Em đọc tên bài học và viết vào vở

7 Chúng em đánh giá cùng thầy, cô giáo

8 Em thực hiện Hoạt động ứng dụng (với sự giúp đỡ của gia đình, người lớn )

9 Kết thúc bài, em viết vào Bảng đánh giá

10 Em đã học xong bài mới em phải ôn lại phần nào?

Mô hình dạy học truyền thống nặng về truyền thụ kiến thức, chủ yếu là thầy giảng, giải nêu vấn đề, đặt câu hỏi, học sinh suy nghĩ tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức Đối với Trường học mới, vai trò của giáo viên chuyển đổi từ giảng

Trang 37

giải, truyền thụ kiến thức sang tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động, học cá nhân, học theo nhóm, đồng thời với việc theo dõi, giám sát, đánh giá hỗ trợ đến từng học sinh Giáo viên tập trung nghiên cứu nội dung bài học trong tài liệu hướng dẫn học để điều chỉnh cho phù hợp với HS trong lớp, dự kiến tình huống

sư phạm, chuẩn bị đồ dùng dạy học… để tiết học đạt được hiệu quả cao nhất

Giáo viên duy trì một môi trường tích cực, cởi mở để bảo đảm học sinh

tự tìm tòi, suy nghĩ và chủ động nắm bắt kiến thức mới; tận dụng khả năng tổ chức các hoạt động để giúp học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng vào cuộc sống

Giáo viên hướng dẫn học sinh tự học từng bước thông qua các hoạt động, việc làm cụ thể diễn ra liên tiếp; khuyến khích học sinh có sáng kiến và sáng tạo Linh hoạt, chú ý hỗ trợ phát huy khả năng tối đa của từng học sinh trong quá trình học

Học sinh không phải ngồi nghe giáo viên giảng giải một chiều như trước đây, mà dự trên kiến thức và kinh nghiệm của cá nhân, học sinh chủ động tự thực hiện nhiệm vụ học tập thông qua sự hướng dẫn của thầy cô, lắng nghe, trao đổi, phối hợp, hợp tác trong nhóm, trong lớp để tự lĩnh hội kiến thức mới, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực; kết hợp các hoạt động ở trên lớp và các hoạt động ứng dụng ở nhà, học sinh có nhiều cơ hội để bày tỏ ý kiến của mình Đặc biệt học sinh yếu, kém được quan

tâm hỗ trợ nhiều hơn để tiến kịp các bạn

1.3.2.2 Đổi mới về tổ chức lớp học

Mô hình trường học mới thay đổi các hoạt động sư phạm trong nhà trường theo hướng tự giác, tự quản, dân chủ hóa, hình thành năng lực và phẩm chất người học Hoạt động dạy học theo kiểu truyền thụ được thay bằng việc thầy tổ chức, hướng dẫn học sinh tự học, chiếm lĩnh tri thức; quan hệ hệ học sinh chuyển đổi từ quan hệ một chiều giữa lớp trưởng, tổ trưởng giúp giáo viên theo dõi đánh giá các bạn trong lớp sang quan hệ hợp tác, học tập và

Trang 38

chủ yếu theo nhóm, học sinh tự xây dựng kế hoạch hoạt động, tự quản lý, điều hành sinh hoạt tập thể (mô hình hội đồng tự quản trong lớp học); quan hệ giữa các GV là quan hệ hỗ trợ, góp ý lẫn nhau một cách thường xuyên theo hướng xây dựng mỗi tổ chuyên môn là một tổ chức biết học hỏi, quan hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội là quan hệ phối hợp trong hoạt dộng giáo dục, mỗi bài học đều có nội dung cho học sinh về tìm hiểu thực tế ở nhà, mỗi địa phương hoặc hỏi người lớn để trang bị kiến thức và trả lời cho nội dung bài học Vì vậy, các bài học và những hoạt động trải nghiệm của HS ở trà trường,

ở gia đình và cộng đồng đều hướng tới việc phát huy tính dân chủ, chủ động, sáng tạo và hợp tác của học sinh

1.3.2.3 Đổi mới về đánh giá học sinh

Khi thực hiện mô hình VNEN, đồng thời triển khai đổi mới căn bản cách đánh giá học sinh Thay vì chỉ đánh giá kết quả học tập thông qua điểm

số như trước đây thì ở VNEN việc đánh giá bao gồm kết hợp định lượng (bằng cách cho điểm) và định tính (bằng nhận xét) của giáo viên, phụ huynh, học sinh trong quá trình học

Tự đánh giá quá trình ho ̣c tâ ̣p và kết quả ho ̣c tâ ̣p của ho ̣c sinh (Thông qua Bảng tiến độ học tập cá nhân và trong nhóm)

+ Giáo viên thường xuyên đánh giá quá trình, kết quả ho ̣c tâ ̣p, giáo dục của học sinh

+ Đánh giá của gia đình và cô ̣ng đồng về kết quả giáo du ̣c ho ̣c sinh + Đánh giá tiết da ̣y của giáo viên trong mô hình trường học mới

Cách đánh giá mới giảm được áp lực về điểm số, khuyến khích dạy - học thực chất, được xã hội đồng thuận Vì vậy, từ năm học 2014 - 2015, Bộ GD&ĐT đã áp dụng cách đánh giá mới ở tất cả các trường tiểu học trong cả nước chứ không chỉ thực hiện trong khuôn khổ các trường thực hiện mô hình VNEN Đây được xem là một bước phát triển mới của giáo dục tiểu học

Trang 39

- Thu hút các gia đình và cộng đồng tích cực tham gia cùng nhà trường thực hiện chức năng giáo dục

1.3.2.4 Đổi mới về sinh hoạt chuyên môn

Trong mô hình Trường học mới việc sinh hoạt chuyên môn trở thành hoạt động thường xuyên, có chất lượng, tránh được việc tổ chức sinh hoạt chuyên môn một cách hình thức tại các tổ chuyên môn trong tổ, trường, cụm trường Trong quá trình tổ chức sinh hoạt tổ chuyên môn theo mô hình Trường học mới sẽ kịp thời tháo gỡ những khó khăn về chuyên môn và có giải pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh, điều kiện của nhà trường và của địa phương Thông qua hoạt động này giúp nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý trong chỉ đạo chuyên môn; nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng

sư phạm cho giáo viên trong hoạt động dạy học; tạo mối quan hệ, chia sẻ, học tập giúp đỡ nhau giữa cán bộ quản lý và giáo viên, giữa các tổ, khối chuyên môn trong trường và giữa các trường tiểu học; tạo cơ hội để mỗi cán bộ, giáo viên được phát huy khả năng sáng tạo, đóng góp sáng kiến kinh nghiệm nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy và học

1.3.2.5 Đổi mới về sự tham gia của cha mẹ học sinh, cộng đồng trong quá trình giáo dục

Cha mẹ học sinh trở thành một trong những chủ đề của quá trình giáo dục trong Mô hình trường học mới Cùng với cộng đồng, cha mẹ học sinh không chỉ xây dựng môi trường giáo dục trong gia đình và xã hội, đóng góp nguồn lực đảm bảo hoạt động giáo dục con em đạt chất lượng Quan trọng hơn, gia đình trực tiếp giúp đỡ, hỗ trợ các em trong hoạt động học, cha mẹ học sinh tham gia cùng với nhà trường hướng dẫn các em Việc nhà trường, cha mẹ học sinh cùng tham gia các hoạt động giáo dục trực tiếp, thường xuyên, toàn diện là một trong những điểm mới, điểm khác biệt của mô hình trường học mới so với mô hình giáo dục trước đây

1.3.2.6 Đổi mới các hoạt động quản lý nhà trường

Trang 40

Trường tiểu học đổi mới cách dạy, cách học, đổi mới cách đánh giá học sinh, đổi mới về tổ chức lớp học, đổi mới cách tham gia của cha mẹ, cộng đồng vào giáo dục, đổi mới sinh hoạt chuyên môn mà không đổi mới quản lý thì các đổi mới trên sẽ bị kìm hãm và thực thi kém hiệu quả Vì vậy, có thể khẳng định mô hình Trường học mới công tác quản lý cũng cần được đổi mới

Đổi mới về quản lý theo tinh thần tự chủ, tạo cơ chế giúp giáo viên được tự chủ, chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong dạy học và thực hiện kế hoạch cá nhân với tinh thần tất cả vì sự tiến bộ của học sinh Đề làm được việc này yêu cầu phải đổi mới công tác quản lý Trong quá trình đổi mới giáo viên không tránh khỏi những khó khăn, bỡ ngỡ ban đầu Người quản lý phải biết tổ chức giáo viên cùng nhau đoàn kết, dân chủ, hợp tác, lắng nghe, chia

sẻ, tôn trọng, học hỏi lẫn nhau thì việc đổi mới sẽ nhanh chóng, ngược lại, sẽ gây cản trở cho việc đổi mới

1.4 Quản lý dạy dọc theo mô hình VNEN

1.4.1 Kế hoạch hoạt động dạy học theo mô hình VNEN

Do sự thay đổi cơ bản phương pháp dạy, phương học và phương tức đánh giá trong các nhà trường phổ thông Chuyển từ chủ yếu giảng bài, tự học

ít như hiện nay sang giảng ít, tự học nhiều; Từ dạy đồng loạt, số đông sang dạy học cá thể hóa, học cá nhân, từng nhóm nhỏ, HS thảo luận nhóm để hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu bài học; chuyển từ đánh giá việc tiếp thu kiến thức, đánh giá kết quả, phân loại của HS sang đánh giá quá trình học tập nhằm hình thành, phát triển năng lực, phẩm chất cho HS

Mỗi năm căn cứ vào đăng ký của các nhà trường, Phòng Giáo dục xây dựng và phê duyệt các trường, khối triển khai mô hình Trường học mới của quận/huyện

Mỗi năm, căn cứ vào kế hoạch phát triển số lớp học, sĩ số của học sinh, điều kiện cơ sở vật chất và số giáo viên của nhà trường mà tiến hành lập kế hoạch tổ chức mô hình Trường học mới

Ngày đăng: 25/09/2020, 23:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w