Vấn đề tự học là vô cùng cần thiết và quan trọng để giúp học sinh có thể hoàn toàn làm chủ được kiến thức đồng thời phát huy được năng lực của bản thân trên cơ sở hướng dẫn của giáo viên
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI THỊ HƯƠNG THẢO
HƯỚNG DẪN HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỰ HỌC VẬT LÝ THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP TỪ TRƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÝ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI THỊ HƯƠNG THẢO
HƯỚNG DẪN HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỰ HỌC VẬT LÝ THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP TỪ TRƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÝ CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN VẬT LÝ
Mã số: 8.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Văn Dũng
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Đinh Văn Dũng
đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Sư phạm, trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc Gia Hà Nội, cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy, giúp đỡ tôi trưởng thành trong thời gian học tập tại trường, cũng như đã tạo điều kiện và đóng góp rất nhiều ý kiến quý báu giúp cho tôi có thể hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các thầy cô giáo giảng dạy Vật
lý tại trường THPT Lý Thường Kiệt thành phố Bắc Ninh, cùng các thầy cô giáo trong Hội đồng giáo dục Nhà trường đã tạo điều kiện về thời gian và đóng góp ý kiến trong thời gian tôi làm thực nghiệm sư phạm tại nhà trường
Cuối cùng, tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn đến các đồng nghiệp, gia đình
và bạn bè tôi đã luôn tạo điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn
Bắc Ninh, ngày 25 tháng 9 năm 2019
Tác giả
Bùi Thị Hương Thảo
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt/ kí hiệu Chữ viết đầy đủ
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Quá trình tự học…….……… 28
Bảng 1.1 Phiếu khảo sát việc tự học……… 29
Sơ đồ 2.1 Tư duy chương Từ trường……… 37
Bảng 3.1 Thống kê kết quả kiểm tra (nhóm TN và nhóm ĐC)……… 82
Bảng 3.2 Bảng so sánh đối chứng của lớp TN và lớp ĐC ……… 83
Bảng 3.3 Tổng hợp các tham số……… 83
Bảng 3.4 Phân bố tần số, tần suất, tần suất tích lũy……… 83
Đồ thị 3.1 Phân loại kết quả học sinh theo điểm sau lần kiểm tra……… 83
Đồ thị 3.2 Phân bố tần suất tích lũy ( hội tụ lùi)……… 84
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4.1 Khách thể nghiên cứu 2
4.2 Đối tượng nghiên cứu 2
5 Vấn đề nghiên cứu 2
6 Giả thuyết nghiên cứu 3
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
9 Phương pháp nghiên cứu 3
10 Cấu trúc đề tài 4
CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Quan niệm về tự học 5
1.1.1 Quan niệm cổ đại của các nền văn minh về tự học 5
1.1.2 Quan niệm về tự học hiện nay 6
1.2 Lý luận về tự học 7
Trang 71.2.1 Một số quan điểm về tự học 7
1.2.2 Vai trò của tự học 8
1.2.3 Đặc điểm và bản chất của hoạt động tự học 10
1.3 Hướng dẫn hoạt động tự học môn Vật lý 12
1.3.1 Đặc điểm của môn Vật lý 12
1.3.2 Mục đích và ý nghĩa của hoạt động tự học môn Vật lý 13
1.3.3 Quy trình hướng dẫn hoạt động tự học môn Vật lý 16
1.3.4 Khó khăn khi hướng dẫn hoạt động tự học môn Vật lý 20
1.3.5 Các tiêu chí đánh giá tự học môn Vật lý: 21
1.4 Vài nét về trường trung học phổ thông Lý Thường Kiệt, Bắc Ninh 29
1.5 Tìm hiểu hoạt động tự học môn Vật Lý ở trường trung học phổ thông Lý Thường Kiệt, Bắc Ninh 30
CHƯƠNG 2.XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀ KẾ HOẠCH DẠY HỌC ……… 34
2.1 Mục tiêu, nội dung dạy học phần từ trường theo chuẩn kiến thức kĩ năng 34
2.1.1 Mục tiêu dạy học phần từ trường theo chuẩn kiến thức kĩ năng 34
2.1.2 Cấu trúc nội dung phần Từ trường 35
2.1.3 Sơ đồ tư duy chương Từ trường 38
2.2 Xây dựng hệ thống bài tập chương từ trường ở Trung học phổ thông 38
2.2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập 38
2.2.2 Quy trình xây dựng bài tập 39
2.2.3.Hướng dẫn học sinh tự học qua việc giải hệ bài tập 41 2.3 Các dạng bài tập và sử dụng bài tập trong việc bồi dưỡng năng lực tự học 43
Trang 82.3.1 Bài tập về từ trường, từ trường của dòng điện chạy trong các dây dẫn có
hình dạng đặc biệt 43
2.3.2 Bài tập về lực từ 51
2.3.3 Bài tập về lực lorenxo 58
CHƯƠNG 3.THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 65
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 65
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 65
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 65
3.2 Đối tượng thực nghiệm 66
3.3 Thời gian thực nghiệm 66
3.4 Thuận lợi và khó khăn khi thực nghiệm sư phạm 66
3.5 Tiến trình thực nghiệm sư phạm 67
3.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm 67
3.6.1 Tiêu chí để đánh giá 67
3.6.2 Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm về mặt định tính 68
3.6.3 Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm về mặt định lượng 69
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 75
1 Kết luận 75
2 Khuyến nghị 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong một kỉ nguyên phát triển như vũ bão về công nghiệp, công nghệ, kinh tế…đòi hỏi nguồn nhân lực cũng phải ngày được nâng cao để đáp ứng được những nhu cầu của xã hội Khi đó, con người không những phải tái hiện lại những tri thức cũ mà phải tìm tòi, sáng tạo ra những tri thức mới Chính vì vậy mà vai trò của người dạy và người học cũng thay đổi Nếu trước đây là lối dạy học truyền thụ theo một chiều, thầy đọc trò chép, người dạy
có vai trò là chính, cách học thụ động thì hiện nay người học được coi là trung tâm, người dạy đóng vai trò là người hướng dẫn, định hướng, cách học thụ động, máy móc được thay thế bởi rất nhiều hình thức học tập mới Để có thể chủ động lĩnh hội kiến thức thì đòi hỏi người học phải chủ động, phải nỗ lực trong việc học, đặc biệt phải giành nhiều thời gian cho việc tự học Vấn đề tự học là vô cùng cần thiết và quan trọng để giúp học sinh có thể hoàn toàn làm chủ được kiến thức đồng thời phát huy được năng lực của bản thân trên cơ sở hướng dẫn của giáo viên
Là một học viên cao học, cũng là một giáo viên Vật lý trung học phổ thông (THPT), tôi nhận thấy rằng việc phát triển năng lực tự học cho HS là hết sức cần thiết vì những lí do sau:
- Lượng tri thức ngày càng tăng, không thể tổ chức dạy học hết được nội dung ở trên lớp, không thể đưa hết được kiến thức vào trong chương trình, cần thiết phải hướng dẫn HS biết cách tự đọc tài liệu, tự nghiên cứu tài liệu để hình thành năng lực tự học, để có thể tự học suốt đời
- Môn vật lý với nội dung tri thức về khoa học tự nhiên, gần gũi với đời sống hàng ngày Nếu tổ chức tốt cách tự học cho học sinh thông qua dạy học vật lý, sẽ giúp cho học sinh vừa phát triển năng lực tự học, vừa phát triển khả năng biết vận dụng kiến thức vào cuộc sống
Trang 10- Các tài liệu, nguồn nghiên cứu quá nhiều dẫn đến tình trạng mơ hồ, khó khăn cho học sinh thậm chí còn dẫn đến tình trạng sai mục đích học tập
Xuất phát từ những nguyên nhân trên, chúng tôi đã nghiên cứu đề tài:
“Hướng dẫn học sinh Trung học phổ thông tự học Vật lý thông qua hệ thống bài tập Từ trường” để góp phần nâng cao quá trình dạy và học được chất lượng
hơn
2 Mục đích nghiên cứu
Từ các lý luận về năng lực tự học có thể xây dựng được hệ thống bài tập chương Từ trường giúp phát triển năng lực tự học Vật lý của học sinh THPT
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu mục tiêu dạy học, nội dung, cấu trúc kiến thức chương Từ trường, Vật lý lớp 11
- Lựa chọn và xây dựng hệ thống bài tập chương Từ trường, Vật lý 11
- Sử dụng hệ thống bài tập chương Từ trường, Vật lý 11 để hướng dẫn hoạt động tự học của học sinh
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá chất lượng, hiệu quả và tính khả thi của việc hướng dẫn học sinh hoạt động tự học
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy và học ở THPT
4.2 Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 11A5, 11A6, 11A7 THPT Lý
Thường Kiệt
5 Vấn đề nghiên cứu
Đề tài tập trung vào 2 vấn đề chính như sau:
- Xây dựng được hệ thống bài tập chương Từ trường, Vật lý 11 thế nào để
có thể hướng dẫn hoạt động tự học của học sinh?
Trang 11- Hướng dẫn học sinh như thế nào thông qua hệ thống bài tập Từ trường để hiệu quả và đúng mục đích đề ra?
6 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu có thể hướng dẫn học sinh THPT tự học Vật lý thông qua hệ thống bài tập Từ trường thì từ đó học sinh có thể tự tìm tòi tìm hiểu, tự nghiên cứu, lĩnh hội kiến thức mới sẽ giúp cho chất lượng dạy và học ngày càng nâng cao
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Kiến thức nằm trong chương Từ trường, Vật lý 11
- Quá trình hướng dẫn học sinh tự học Vật lý thông qua hệ thống bài tập
Từ trường
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận của đề tài:
Đề tài phát triển lý luận về hoạt động tự học của học sinh THPT
- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
+ Kết quả nghiên cứu có thể vận dụng vào quá trình dạy và học bậc THPT + Việc hướng dẫn học sinh THPT tự học Vật lý thông qua hệ thống bài tập Từ trường sẽ hình thành cho học sinh năng lực tự học, và cung cấp thêm nguồn tư liệu cho quá trình dạy và học
9 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận:
+ Nghiên cứu các cơ sở lý luận về bài tập Vật lý
+ Nghiên cứu các tài liệu và cơ sở lý luận tự học, hướng dẫn hoạt động tự học
- Phương pháp thu thập dữ kiện: Thu thập các dữ kiện khi đang thực
nghiệm sư phạm (TNSP) và xử lý số liệu thu được
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm (TN) theo
kế hoạch đã đề ra, thực nghiệm song song giữa lớp TN và lớp đối chứng (ĐC)
Trang 12Phân tích các kết quả thu được trong quá trình TN, đối chiếu với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu để từ đó rút ra được kết luận của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Tìm hiểu quá trình dạy (thông qua
dự giờ, trao đổi, phỏng vấn với giáo viên) và quá trình học (thông qua trao đổi với học sinh) để đánh giá sơ bộ tình hình bồi dưỡng năng lực tự học chương
Từ trường, Vật lý lớp 11
10 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn
dự kiến được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở thực tiễn và lý luận
Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập và kế hoạch dạy học
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Quan niệm về tự học
1.1.1 Quan niệm cổ đại của các nền văn minh về tự học
Tìm hiểu trong lịch sử giáo dục của nhân loại về vấn đề tự học và hoạt động tự học, có thể thấy rằng: vấn đề tự học được quan tâm từ rất sớm, ngay cả khi giáo dục còn chưa được coi là một môn khoa học thực sự Ở những thời kì
đó, người ta chỉ quan tâm cách học sao cho người học chăm chỉ, có thể ghi nhớ hết lời dạy của thầy và thực hiện theo những lời dạy đó
Cùng một vấn đề tự học, ở các nước phương Đông và các nước phương Tây lại có những quan điểm khác nhau nhưng cùng nêu lên một nội dung chính:
tự học chính là con đường mà người học đều phải tự tìm tòi, khám phá tri thức,
tự thực hiện các hoạt động của mình
Từ thế kỉ XVII, các nhà giáo dục cổ đại như Xô Cơ Rát (469- 339 TCN), J.A Comensky (1592-1670), G Brousseau (1712-1778), Usinxki (1824- 1870),…cũng đã rất coi trọng đến sự phát triển tính tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo của người học và nhấn mạnh người học phải tự tìm tòi, khám phá trong quá trình học
Còn đối với các nước Phương Đông thì vấn đề tự học cũng đã được chú ý
từ thời Khổng Tử và Mạnh Tử, đặc biệt là Khổng Tử Trong suốt quá trình dạy học trò, ông luôn coi trọng sự chủ động tìm tòi và sáng tạo Cách dạy của ông luôn mang tính gợi mở để người học có thể dễ dàng tìm ra được chân lý mới
Khổng Tử luôn nhắc nhở học trò của mình: “Không giận vì không muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ thì không bày vẽ cho, một vật có
4 góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra 3 góc kia thì không dạy nữa” (luận
Trang 14ngữ) Còn đối với Mạnh Tử, ông ví người dạy học như người bắn cung, chỉ kéo thẳng dây cung mà không bắn tên đi hộ, tự người học phải bắn lấy
Vào đầu thế kỉ XX, thì việc dạy học lấy người học là trung tâm lại càng được quan tâm và coi trọng Đã có rất nhiều nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn cao về vấn đề tự học Nhiều nhà giáo dục học trên thế giới đã đề cao quan điểm phải xây dựng tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, thầy chỉ là người cố vấn, định hướng, dẫn dắt
1.1.2 Quan niệm về tự học hiện nay
Ở Việt Nam, việc tự học cũng biết đến từ rất sớm Từ thời xã hội phong kiến, giáo dục gắn liền với hình ảnh thầy đồ, thầy dạy gì, trò đọc theo thế, làm theo thế nhưng cũng xuất hiện rất nhiều người tài giỏi xuất chúng như Nguyễn Hiền, Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, do khả năng học một biết mười của mình Những nhân tài ấy ngoài việc thầy dạy còn trên lớp, còn tự học ở nhà, đó là hình ảnh bắt đom đóm cho vào vỏ trứng để học của Nguyễn Hiền, hình ảnh Mạc Đĩnh Chi đốt củi, hết củi thì lấy lá rừng đốt lên để tự học,…Việc chủ động tìm tòi kiến thức, vận dụng linh hoạt là điểm then chốt làm lên thành công của các trạng nguyên thời đó Tuy nhiên, giáo dục theo quan điểm “thầy dạy là trung tâm” vẫn được duy trì, thầy đồ sẽ là người đưa ra kiến thức, học trò chỉ làm theo, học theo, thực hiện theo hoạt động của thầy
Vấn đề tự học chỉ thực sự quan trọng, được nghiên cứu nghiêm túc, tuyên truyền rộng rãi khi nền cách mạng cộng sản ra đời Và người thực hiện đầu tiên chính là chủ tịch Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng, đồng thời là nhà lý luận về giáo dục, về tự học Trong quan niệm về tự học, Người định nghĩa “tự học” bằng một câu ngắn gọn, súc tích nhưng đầy tính tư
tưởng: “Tự học là “tự động học tập” [1] Chủ tịch Hồ Chí Minh còn cho rằng,
còn sống còn phải học Đây là biện pháp tốt nhất để nâng cao trình độ hiểu biết,
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ cách mạng “Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được Không tiến bộ là thoái bộ Xã hội càng đi tới, công
Trang 15việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo Mình mà không chịu khó học thì lạc hậu, mà lạc hậu thì bị đào thải, tự mình đào thải mình [2] Những lời dạy chỉ
bảo của Người đã trở thành triết lý nhân văn sâu sắc, có ý nghĩa giáo dục to lớn đối với sự nghiệp giáo dục - đào tạo của dân tộc ta đến nay
Những năm đầu của thế kỉ XX, hoạt động tự học, phát triển tư duy, tính tích cực của học sinh được nhiều nhà giáo dục học nghiên cứu như: Nguyễn Cảnh Toàn (1995), Trần Kiều, Nguyễn Bá Kim, Thái Duy Tiên,…Đặc biệt, GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn đã nhấn mạnh việc tự học, tự rèn luyện của học sinh Một người thầy giỏi là người hướng dẫn cho học sinh tự học, tự nghiên cứu
Hiện nay, việc tự học nói chung và việc tự học nói riêng của học sinh ngày càng được quan tâm và chú ý đến, phương pháp dạy học đang dần dần chuyển đổi từ việc học thầy là trung tâm sang người học là trung tâm Người thầy chỉ đóng vai trò dẫn lối, chỉ bảo con đường chiếm lĩnh tri thức cho học sinh
1.2 Lý luận về tự học
1.2.1 Một số quan điểm về tự học
Tự học là một việc cực kì quan trọng và cần thiết trong quá trình tiếp nhận tri thức, là hoạt động có mục đích của con người Tự học là cách tốt nhất để hoàn thiện tri thức và nhân cách của mỗi người Nhắc đến việc tự học, không thể không kể đến chủ tịch Hồ Chí Minh, tự học có vai trò quan trọng và là một
trong những yếu tố hình thành lên trí tuệ của Người Về cách học phải “lấy tự học làm cốt” [1] là một luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục Tại sao lại là “lấy tự học làm cốt”? Người chỉ rõ:“Lấy tự học làm cốt
Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào” tức là thực hiện kết hợp 3 khâu: Tự học của
cá nhân phải làm nòng cốt, thảo luận của tập thể và hướng dẫn của giảng viên chỉ để bổ sung thêm vào Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần tự học, lấy tự học là chính để trau dồi, nâng cao kinh
Trang 16nghiệm của bản nhân Người là tấm gương cao sáng về tinh thần tự học và học tập suốt đời để chúng ta noi theo
Về quan điểm tự học, tác giả Nguyễn Kỳ cho rằng: “Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí của người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra cho mình, nhận biết vấn đề, thu thập xử lý thông tin, tái hiện kiến thức cũ, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề, xử lý tình huống, thực nghiệm các giải pháp, kết quả, kiến thức mới mình đã tự lực tìm
ra, tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học” [2]
Theo Đặng Vũ Hoạt: “Tự học là một hình thức hoạt động nhận thức của
cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp mà không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định.Tự học có quan hệ chặt chẽ đến quá trình dạy học, nhưng có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái của cá nhân” [11]
Tóm lại, tổng hợp các quan niệm về tự học của các tác giả có thể đưa ra khái niệm tự học như sau: Tự học là quá trình con người tự giác cao, tích cực tiếp thu hệ thống tri thức, những kiến thức từ môi trường xung quanh, bằng các thao tác trí tuệ, để biến những tri thức mới thành tri thức của mình, nhằm hoàn thiện nhân cách và đạt được mục đích nhất định
1.2.2 Vai trò của tự học
Tự học có vai trò quan trọng và quyết định sự thành đạt của mỗi con người Trong thực tế, chúng ta có thể thấy rằng người giáo viên luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc tổ chức, dẫn dắt điều khiển, hướng dẫn hoạt động học tập của học sinh Nhưng dù người giáo viên có kiến thức uyên bác đến đâu, có phương pháp giảng dạy có hay đến cỡ nào mà người học sinh lười học, ỷ lại, không có sự đầu tư về thời gian, không có sự say mê học tập, không có kế hoạch
và phương pháp học hợp lý thì kết quả học tập vẫn thấp Hiện nay, với đất nước công nghiệp hóa hiện đại hóa như nước ta, mọi thành tựu kĩ thuật đang phát triển cũng đòi hỏi ngành giáo dục phải nâng cao tri thức dẫn đến đòi hỏi các
Trang 17cấp bậc học phải lĩnh hội các tri thức ngày càng nặng Chính vì vậy, đòi hỏi người học sinh ngoài học trên lớp phải tự mày mò, tự nghiên cứu ngoài giờ lên lớp để có thể mở rộng và đào sâu tri thức Hoạt động tự học sẽ giúp cho học sinh rất nhiều trong quá trình học tập
Thứ nhất, việc tự học là hoạt động chỉ có sự tham gia của người học, không
có sự tham gia của người dạy Chính bản thân người học phải tự tìm tòi ra tri thức Trong quá trình đó, chúng ta sẽ phải sử dụng các thao tác khác nhau như:
so sánh, tưởng tượng, liên tưởng thậm chí phải dùng những kiến thức cũ để, xây dựng và hiểu được kiến thức mới Điều đó sẽ giúp trí não chúng ta hoạt động linh hoạt, nâng cao nhận thức, giúp cho học sinh nắm vững tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, và chính hoạt động tự học sẽ giúp học sinh biến kho tàng tri thức của nhân loại thành tri thức của mình Hoạt động tự học tạo điều kiện cho học sinh hiểu sâu kiến thức, củng cố tri thức, biết vận dụng những kiến thức đã biết vào giải quyết các nhiệm vụ học tập và giải thích một số hiện tượng cuộc sống Thứ hai, việc tự học cũng gia tăng được chất lượng và hiệu quả giáo dục Giúp cho học sinh khi còn ngồi trên ghế nhà trường có thói quen rèn luyện bản thân khả năng tự mày mò, tự nghiên cứu để tăng thêm vốn hiểu biết của mình Đối với nền phát triển kinh tế, khoa học, xã hội phát triển như vũ bão, học sinh
sẽ không bị lạc hậu, thụt lùi với sự biến đổi nhanh chóng của khoa học và công nghệ hiện nay
Thứ ba, việc tự học thường xuyên sẽ rèn luyện tính cách và phẩm chất đáng quý Tạo cho họ có khả năng độc lập, kiên trì, bền bỉ, óc phán đoán, khả năng tự phê bình, ý chí kiên cường, sự say mê nghiên cứu học tập, vượt mọi khó khăn, gian khổ
Tuy nhiên, không phải nói vậy mà hạ thấp vai trò của người giáo viên Vai trò của người giáo viên cũng vô cùng quan trọng đối với việc dẫn dắt và khuyến khích học sinh học tập đúng đắn
Trang 18Việc tự học nếu được chú trọng từ bậc tiểu học, hình thành luôn khả năng
và sự ham thích học tập, nghiên cứu từ rất sớm thì sẽ góp phần vào việc tiến bộ vượt bậc của ngành giáo dục Là hành trang để thế hệ trẻ Việt Nam thi đua với thế hệ trẻ thế giới, tạo điều kiện cho nước ta sánh vai với các cường quốc khác
1.2.3 Đặc điểm và bản chất của hoạt động tự học
Việc tự học được biết đến từ rất sớm khi con người còn coi trọng thầy đồ của làng, coi thầy đồ là người quyền năng để thăng tiến Nhưng thực tế lại cho thấy chất lượng học tập lại phụ thuộc vào ý thức và phương pháp học tập của từng người Thời kì phong kiến, khi thầy đồ là người truyền đạt kiến thức duy nhất nhưng trong lớp lại có những người học giỏi hơn, hiểu biết hơn đó là do mỗi người có ý thức học tập và phương pháp khác nhau Tự học là yếu tố chính
và quan trọng quyết định chất lượng học tập, còn hoạt động dạy chỉ là yếu tố
có tác dụng kích thích, định hướng, điều khiển trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình học Tự học thường xuyên, có kế hoạch, có mục đích sẽ hình thành thói quen
và phong cách làm việc lâu dài của từng cá nhân Tự học giúp con người có khả năng theo kịp thông tin, tri thức trong thời đại hiện nay
Việc tự học được diễn ra dưới nhiều hình thức và góc độ khác nhau:
- Hình thức 1: Cá nhân tự mày mò theo sở thích và hứng thú của mình không theo sách hoặc không có sự hướng dẫn của giáo viên
Thông qua sở thích và đam mê của bản thân mà người học sinh tự nghiên cứu, tự mày mò tìm ra được kiến thức mới Đây là hoạt động tự học của các nhà khoa học, cũng là đỉnh cao của hoạt động tự học Dạng tự học này sẽ bao gồm niềm đam mê tột độ, sự khao khát khám phá và sáng tạo cái mới Tới trình độ
tự học này, người học sinh không cần sách, không cần thầy hướng dẫn chỉ cần
cọ sát thực tế và rút ra được những kinh nghiệm của riêng mình
- Hình thức thứ 2: Tự học có sách, có tài liệu nhưng không có sự hướng dẫn, hỗ trợ của giáo viên
Trang 19Ở hình thức tự học này đòi hỏi người học sinh phải có khả năng bao quát
và chắt lọc kiến thức trước khối lượng sách nghiên cứu khổng lồ Người học sẽ
tự học để hiểu, để chiếm lĩnh kiến thức từ sách và biến nó thành tri thức của mình, qua đó sẽ phát triển được khả năng tư duy, sự tổng hợp, và việc tự học hoàn toàn với sách là điều cần thiết mà xã hội ngày nay đang hướng đến
- Hình thức thứ 3: Tự học có sách, có giáo viên hướng dẫn nhưng giáo viên ở xa
Việc tự học này đơn giản hơn so với hình thức tự học bằng sách và không
có sự hướng dẫn của học sinh Dù giáo viên ở xa nhưng vẫn có sự trao đổi thông tin của học sinh và giáo viên thông qua các phương tiện thông tin Người giáo viên có thể định hướng, gợi ý và giải đáp các thắc mắc, các vướng mắc của học sinh So với việc tự học ở hình thức 2, việc tự học này sẽ giúp người học sinh nhanh đạt được mục đích của mình
- Hình thức thứ 4: Tự học có sự hướng dẫn của thầy
Ở hình thức này, học sinh sẽ học tập trên lớp với giáo viên vài tiết sau đó người học sẽ tự học ở nhà Trong quá trình học tập trên lớp, người giáo viên đã
có thể hình thành kiến thức mới, rồi giao nhiệm vụ về nhà để học sinh đào sâu,
mở rộng kiến thức ấy hoặc người giáo viên chưa hình thành kiến thức kiến thức mới nhưng đã có sự định hướng, dẫn dắt quá trình để học sinh có thể tự tìm ra được Nhưng cả 2 mức độ học này, người thầy cũng chỉ đóng vai trò xúc tác,
hỗ trợ, tạo điều kiện để người học chiếm lĩnh tri thức Người học vẫn là nhân
tố quyết định quá trình nhận thức: tự giác, độc lập, say mê, sáng tạo và tham gia vào quá trình học tập Trong quá trình học tập ở nhà, tuy người học không gặp thầy, nhưng vẫn có sự hướng dẫn gián tiếp của thầy, bản thân người học lúc này phải tự giác, biết cách sắp xếp và có kế hoạch học tập cụ thể, huy động mọi trí tuệ và kỹ năng của bản thân để thực hiện những mục tiêu do giáo viên yêu cầu Tự học này có sự liên kết chặt chẽ với giáo viên, được giáo viên định hướng về nội dung, phương pháp cụ thể, không những vậy, việc tự học bằng
Trang 20hình thức còn tránh cho việc đi sai mục đích đặt ra, không tốn nhiều thời gian, công sức mà vẫn đạt kết quả tốt nhất Như vậy, quá trình học gắn liền với quá trình dạy nhưng chịu sự chi phối, điều tiết, hỗ trợ, hướng dẫn của người dạy Nhưng trong tất cả các hình thức trên, hình thức thứ 4 là con đường nhanh nhất
để đạt được mục tiêu đề ra
1.3 Hướng dẫn hoạt động tự học môn Vật lý
1.3.1 Đặc điểm của môn Vật lý
Môn Vật lý ở trường phổ thông là một môn được coi là khó nhưng cũng
là một môn học rất hay và thú vị Nó là một môn học cung cấp những tri thức
để giải thích cho các hiện tượng trong tự nhiên, tìm ra các quy luật tự nhiên để vận dụng, phục vụ vào cuộc sống của con người Môn Vật lý cũng được coi là một môn khoa học, nó bao gồm rất nhiều các quy luật, các định luật và các hiện tượng khác nhau, có những hiện tượng quan sát được bằng mắt thường và cũng
có hiện tượng khó có thể quan sát nên đây được coi là bộ môn tương đối khó
và khô Mặc dù khô và khó nhưng lại gắn liền với khoa học kĩ thuật, với các hiện tượng thiên nhiên nên dễ gây hứng thú với học sinh tìm tòi, nghiên cứu Bản thân môn Vật lý còn gắn liền với các định luật, giả thuyết khá trừu tượng nên buộc người học phải tư duy, hình dung, vận dụng óc sáng tạo, tuy nhiên hiện nay trong chương trình học ở THPT đã có rất nhiều thí nghiệm mô phỏng các định luật, hiện tượng đó
Kiến thức bộ môn Vật lý còn liên quan đến rất nhiều các bộ môn khác như Hóa học, Sinh học, Địa lý,…nên đòi hỏi người học phải có kiến thức bao quát, đồng đều và biết liên hệ giữa các bộ môn khác với nhau
Trong hệ thống các cấp học, dù đã có sự đầu tư trang thiết bị để phục vụ cho việc giảng dạy bộ môn Vật lý tuy nhiên vẫn chưa được đầy đủ nên một số định luật mang tính quy ước, chấp nhận gây mơ hồ cho học sinh
Trang 21Với những đặc thù trên, việc học môn Vật lý cũng đề ra cho học sinh những yêu cầu sau [3]:
Về kiến thức: Nắm và hiểu một số kiến thức cơ bản và phù hợp với quan điểm hiện đại như:
- Các khái niệm về các hiện tượng, các sự vật thường gặp trong tự nhiên
và đời sống
- Các đại lượng, các định luật và nguyên lý Vật lý cơ bản
- Nội dung chính của những thuyết Vật lý quan trọng
- Những ứng dụng phổ biến của Vật lý trong đời sống và sản xuất
- Các phương pháp đặc thù của bộ môn Vật lý: Phương pháp thực nghiệm
và phương pháp mô hình
Về kĩ năng:
- Biết quan sát các hiện tượng và quá trình Vật lý trong tự nhiên, trong đời sống hàng ngày hoặc trong các thí nghiệm, biết điều tra, sưu tầm từ các nguồn khác nhau để thu thập thông tin cần thiết
- Sử dụng được các dụng cụ đo, biết lắp ráp và tiến hành các thí nghiệm Vật lý cơ bản
- Biết đọc số liệu, phân tích, tổng hợp và xử lý thông tin để rút ra kết luận, biết đề xuất các phương án thí nghiệm để kiểm chúng dự đoán đề ra
- Vận dụng kiến thức Vật lý để giải thích các hiện tượng, các quá trình
và giải quyết các vấn đề đơn giản trong đời sống và sản xuất
- Sử dụng được các bảng biểu, các sơ đồ, các đồ thị để trình bày rõ ràng, chính xác, dễ hiểu các kết quả mà mình thu được
1.3.2 Mục đích và ý nghĩa của hoạt động tự học môn Vật lý
Từ ngàn đời xưa đến nay, cùng với tinh thần yêu nước nồng nàn thì tinh thần hiếu học cũng trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta Biểu hiện trước hết của truyền thống hiếu học đó là tinh thần ham học hỏi, thích tìm tòi một cách tự nguyện và lâu dài Người hiếu học là người luôn luôn cầu tiến, tìm
Trang 22tòi, học hỏi cho bản thân Từ thời xa xưa, khi trường lớp còn thiếu thốn, trong làng chỉ có một ông đồ chuyên dạy học cho trẻ con thì lịch sử dân tộc ta cũng
đã có rất nhiều những tấm gương hiếu học của các bậc hiền tài, đức cao vọng trọng như: Lý Công Uẩn, Trần Hưng Đạo, Chu Văn An,…cùng rất nhiều dòng
họ hiếu học trên khắp cả nước Những tấm gương này cũng cho ta thấy không nhất thiết phải đến lớp và không phải bắt buộc có người dạy thì quá trình lĩnh hội tri thức mới diễn ra, quá trình này có thể diễn ra ở nhiều mức độ và nhiều phạm vi khác nhau: có thể ở trên lớp, có thể ở ngoài lớp, với các phương pháp khác nhau Phương pháp dạy học mà người thầy chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, tổ chức còn người học là trung tâm, là chủ thể trong việc tìm tòi tri thức gọi là quá trình tự học Mục tiêu của nền giáo dục nước ta hiện nay đó là tập trung hướng vào người học, xuất phát từ người học, phát huy tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo và mọi tiềm năng của người học Vì vậy, nhu cầu tự học được nâng cao và cần thiết, quá trình học biến thành quá trình tự học, việc đào tạo sẽ thành tự đào tạo
Môn Vật lý là môn khoa học ứng dụng rất nhiều vào cuộc sống, người học Vật lý cũng có thể coi là nhà nghiên cứu khoa học, dù mức độ còn đơn giản, cơ bản thì vẫn rất cần sự tìm tòi, sáng tạo của người tham gia Chính vì vậy, việc bồi dưỡng hoạt động tự học Vật lý cho các em học sinh THPT cũng là cung cấp cho các em hành trang để nghiên cứu khoa học sau này Tất cả các kiến thức Vật lý đều xuất phát từ quá trình thí nghiệm hoặc dựa trên cơ sở các thí nghiệm Như vậy người học Vật lý phải đòi hỏi sự linh hoạt, cẩn thận, chính xác cả về trí não và tay chân thì mới hoàn thiện được kiến thức Ngay cả việc các em học trên lớp, nếu chỉ quan sát thầy cô thực hiện thí nghiệm thì bản thân người học sinh sẽ khó nhớ và hình thành kiến thức, bỏ qua cơ hội trải nghiệm, thử thách trong quá trình thí nghiệm, không thể hiện khả năng, năng lực của chính bản thân, không hình thành được năng lực tư duy, giải quyết vấn đề
Trang 23Ngoài ra, môn Vật lý cũng có tính logic khoa học, liên kết lẫn nhau nên người học phải tham gia vào quá trình tìm hiểu thì mới hiểu được bản chất của vấn đề, mới cảm nhận được ý nghĩa sâu sắc của bài học Có những định luật, những khái niệm mà các nhà khoa học phải tốn nhiều năm trời để tìm hiểu nên đòi hỏi người học phải tự mày mò nghiên cứu thêm
Muốn nắm vững và giải quyết một vấn đề vật lý thì người tham gia giải quyết cũng phải có sự vận dụng linh hoạt từ các kinh nghiệm bản thân và sự phối hợp ăn ý của nhiều kĩ năng cá nhân đã được rèn luyện từ trước Việc trông chờ vào kinh nghiệm và kĩ năng của người khác thì người học sẽ không thể giải quyết được các vấn đề khác Những kinh nghiệm và kĩ năng của người khác chỉ nên tham khảo và hỗ trợ
Việc nắm vững kiến thức môn Vật lý còn đòi hỏi người học sinh phải tư duy, tổng hợp chính vì vậy cần có thời gian Việc tư duy của mỗi con người lại
có mức độ và cần thời gian khác nhau Đối với các học sinh khá giỏi thì việc hình thành và hiểu kiến thức mới sẽ nhanh hơn với học sinh trung bình và yếu Trong khoảng thời gian học trên lớp rất ngắn để hình thành một khái niệm, một định luật mới thì đối với nhận thức của học sinh trung bình, yếu thì quả thật quá khó Chính vì vậy, một vấn đề được đặt ra là: có nên chuẩn bị ở nhà trước khi đến lớp? Việc chuẩn bị trước ở nhà sẽ giúp cho học sinh ít nhiều hình thành nên một nền tảng nội dung kiến thức trong nhận thức, giúp học sinh tìm được chỗ khúc mắc trong quá trình học tập trên lớp, như vậy thì việc tiếp thu kiến thức mới sẽ nhanh chóng và dễ hiểu hơn
Như vậy để học tốt môn Vật lý, học sinh phải biết tự học, tự mày mò nghiên cứu, tự tìm hiểu vấn đề trước khi đến lớp nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ của thầy
Trang 241.3.3 Quy trình hướng dẫn hoạt động tự học môn Vật lý
1.3.3.1 Điều kiện cho hoạt động tự học môn Vật lý
Hoạt động tự học đòi hỏi cần nhiều sự nỗ lực, sự kiên trì bền bỉ, với niềm ham thích của người học Để đáp ứng những yêu cầu trên thì đòi hỏi người học phải:
- Có niềm đam mê, có động lực học tập đúng đắn: Trong quá trình dạy học người giáo viên phải kích thích khả năng ham muốn tìm tòi, khám phá của các em học sinh để làm cho các em hứng thú khi học tập Ngoài ra, việc kiểm tra đánh giá các hoạt động tự học cũng phải công bằng, minh bạch, rõ ràng và hợp lý sao cho người thực hiện công việc khó khăn phải có điểm số cao hơn người thực hiện công việc dễ dàng Tránh trường hợp, người làm công việc dễ lại có kết quả cao hơn so với người làm công việc khó, dẫn đến sự chán nản, mất niềm tin dẫn đến mất động cơ, động lực học tập Người giáo viên cũng phải chú ý đến các hoạt động học tập cụ thể ngoài điểm số để đánh giá học sinh cho chính xác Hiện nay với thang điểm của chương trình Vật lý 11 còn ít chưa thể hiện và đánh giá được mức độ của học sinh, nên đưa thêm các thang điểm trọng
số việc thực hiện các hoạt động học tập theo cá nhân và theo tập thể,…
- Có nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng của việc tự học Thông qua các hoạt động cụ thể, GV giúp HS nhận thực đúng đắn về tự học: Giao công việc cụ thể cho từng cá nhân, từng nhóm, khen ngợi và biểu dương (có thể bằng hình thức tặng thưởng) thành quả hoạt động tự học của từng cá nhân, từng nhóm, phê bình với những cá nhân, tập thể ỷ lại, lười nhác và thụ động, theo dõi quá trình tự học của các em để kịp thời đôn đốc, chỉ bảo, định hướng giúp các em không bị nản chí Hiện nay, nhu cầu tìm hiểu cái mới của học sinh cũng rất cao, chính vì vậy, người giáo viên phải tạo ra những nội dung mới, đột ngột, bất ngờ, những yếu tố mâu thuẫn để kích thích các em
- Khả năng phán đoán, tổng hợp, chắt lọc các kiến thức trên tài liệu: Hiện nay, nguồn tài liệu là vô tận nhưng nó lại là vấn đề quyết định cho quá trình tự
Trang 25học của học sinh Tài liệu bao gồm SGK, giáo trình, các địa chỉ truy cập trên internet, sách tham khảo,…Để giúp ích cho quá trình tự học của học sinh được
dễ dàng thì người giáo viên phải chuẩn bị kỹ càng, đã đưa được cho học sinh những gợi ý hữu ích, như vậy sẽ góp phần vào chất lượng vào quá trình tự học của học sinh: chọn được con đường đi đúng và nhanh nhất Tuy nhiên, nếu không có sự giúp đỡ gợi ý của người giáo viên thì đòi hỏi người học sinh phải
có tư duy tổng hợp, óc phán đoán bao quát, biết chắt lọc kiến thức thì mới dẫn đến mục đích đã đề ra
1.3.3.2 Quy trình hướng dẫn hoạt động tự học môn Vật lý
Xuất phát từ việc đổi mới quá trình dạy học, và yêu cầu về nhiệm vụ của giáo viên và học sinh mà việc hướng dẫn hoạt động tự học được thực hiện như sau:
- Giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh
- Hướng dẫn học sinh thực hiện nhiệm vụ ở nhà
- Tổ chức các buổi thảo luận nhóm trên lớp về nhiệm vụ được giao
- Tổng kết và kết luận quá trình thực hiện nhiệm vụ
➢ Công đoạn giao nhiệm vụ cho học sinh: nhiệm vụ của học sinh là nghiên cứu trước bài mới, có thể giao dưới hình thức cá nhân hoặc hình thức tập thể Đối với cá nhân, tất cả các thành viên trong lớp đều chung một nhiệm vụ như nhau, còn đối với nhiệm vụ tập thể thì có thể khác nhau Cụ thể, có thể nhóm tập thể này nghiên cứu khái niệm phản xạ toàn phần nhưng nhóm tập thể khác lại nghiên cứu mở rộng của kiến thức trên lớp: ứng dụng của phản xạ toàn phần Công đoạn này có thể giao vào đầu tiết học hoặc cuối một tiết học Đặc biệt, người giáo viên phải chuẩn bị sẵn các câu hỏi và các bài tập chi tiết để định hướng cho việc đọc và nghiên cứu nhiệm vụ, nó phải đảm bảo dẫn dắt được học sinh tìm ra được các khái niệm, các kiến thức, các định luật cơ bản, giúp học sinh tìm được mối liên quan giữa các phần, các đơn vị kiến thức,…và ý nghĩa của từng phần, từng bài học
Trang 26➢ Công đoạn theo dõi hoạt động tự học ở nhà: ở công đoạn này, người học phải tự tìm hiểu, tự nghiên cứu các vấn đề do người giáo viên đưa ra Người giáo viên chỉ có trách nhiệm theo dõi quan sát, hướng dẫn và giải đáp các thắc mắc của học sinh khi cần Tuy nhiên người giáo viên phải chú ý sát sao tới hoạt động của học sinh vì trong quá trình học tập ở nhà, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố của môi trường xung quanh nên học sinh có thể lơ là sao nhãng Chính
vì vậy, giáo viên phải có các biện pháp kiểm tra hoạt động học tập của từng em học sinh như kiểm tra đầu giờ học kết quả học của học sinh bằng các hình thức khác nhau: vấn đáp, phiếu câu hỏi,…Hoạt động tự học ở nhà của học sinh có tác dụng củng cố rất lớn cho việc hoàn thiện kiến thức, củng cố kĩ năng, kĩ xảo
và giáo dục tư tưởng cho học sinh đặc biệt với môn Vật lý là một môn khoa học tương đối khó Việc ra nhiệm vụ cho học sinh cũng phải phù hợp với khả năng của từng đối tượng, đảm bảo với trình độ chung của cả lớp, để tạo điều kiện cho hoạt động tự học ở nhà, khối lượng phải đảm bảo vừa đủ, vừa sức với học sinh để kích thích hứng thú khả năng học tập Trong quá trình học sinh tự học
ở nhà thông qua hệ thống bài tập, nhiệm vụ cô giao, giáo viên có thể hướng dẫn thêm cho học sinh các công việc cụ thể để giải quyết các bài tập Vật lý: Bước 1: Tìm hiểu đề bài: Đọc đúng đề bài, mô tả hiện tượng Vật lý trong bài tập, có thể vẽ hình hoặc làm thí nghiệm, vẽ đồ thị nếu cần Xác định các đại lượng đã
có và đại lượng cần tìm trong hiện tượng Vật lý ở đầu bài Bước 2: Xây dựng lập luận: Đối chiếu các dữ kiện, số liệu đã có, và các đại lượng cần tìm, xem xét đặc điểm của hiện tượng Vật lý để tìm các công thức, định luật có liên quan Xác lập các mối quan hệ giữa dữ liệu xuất phát và cái cần tìm để từ đó có thể tìm được mối liên hệ cơ bản từ đó tìm ra các đại lượng cần tìm Bước 3: Lập luận và giải để tìm ra: từ các mối liên hệ cơ bản, tiếp tục lập luận và tìm ra cách giải, cách tính toán để rút ra kết quả Bước 4: Kiểm tra và biện luận kết quả: Khi đã tìm ra được đại lượng cần tìm, có thể xác nhận lại kết quả vừa tìm bằng cách kiểm tra việc giải và biện luận xem kết quả đó có phù hợp hay không?
Trang 27➢ Công đoạn tổ chức thảo luận: Mỗi bài học môn Vật lý cũng được coi là một đề tài khoa học và người tham gia cũng đóng vai trò là người nghiên cứu
Do đó, mọi hoạt động học tập đều xoay quanh và gắn liền với học sinh Học sinh sẽ trả lời các câu hỏi mà mình được yêu cầu Sau đó, người học sinh có thể đưa ra các câu hỏi mà mình thắc mắc để cùng thảo luận giữa các nhóm và cùng
cô giáo, có thể nêu ý kiến và nhận xét của mình về nhiệm vụ của mình được nghiên cứu Bằng tất cả kiến thức đã tích lũy và khả năng tư duy của mình để bảo vệ ý kiến cá nhân và bác bỏ các ý kiến phản biện Cuối cùng, tất cả các thành viên nhóm sẽ tiếp thu các ý kiến đúng đắn của các thành viên nhóm khác
để hoàn thiện bài nhóm mình Trong quá trình này, người học có thể đưa ra các thí nghiệm chứng minh, hoặc các biểu đồ, đồ thị sẵn có để gia tăng tính thuyết phục cho bài của mình Giáo viên chỉ giúp đỡ các công đoạn khó Để đánh giá khách quan và làm cho tất cả các học sinh đều hứng thú tham gia thì giáo viên
có thể đưa ra việc đánh giá sẽ được đánh giá chung cho cả nhóm và hoạt động trao đổi trên lớp
➢ Công đoạn tổng kết, kết luận: Cuối mỗi bài học, người giáo viên sẽ giải đáp các thắc mắc của học sinh, điều chỉnh lại những quan điểm, suy nghĩ lệch lạc, cho nhận xét toàn bộ tiết học và đánh giá mức độ tích cực của từng cá nhân
Ngoài các công đoạn bên trên thì việc tự học thông qua các hoạt động ngoại khóa cũng được chú trọng, nó cũng đóng vai trò vào việc phát triển năng lực tự học của học sinh Các hoạt động ngoại khóa góp phần việc giáo dục nhân cách và phát triển toàn diện của học sinh, góp phần cùng hoạt động tự học trên lớp, hoạt động ở nhà Giáo viên đưa ra một nhiệm vụ, một vấn đề nào đó, buộc người học sinh phải tự tìm hiểu trên các tài liệu, các nguồn kiến thức khác nhau Giáo viên có thể khích lệ học sinh thể hiện vấn đề đó bằng các hình thức như video, thí nghiệm mô phỏng, hình ảnh, biểu đồ Hoạt động này sẽ rèn cho học sinh khả năng tự tổng hợp, tự tích lũy, chắt lọc, tự suy nghĩ ra ý tưởng trình bày của mình làm cho kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xã hội được gia tăng
Trang 28Chú ý, trong tất cả các hoạt động tự học của học sinh, giáo viên cần hướng dẫn các cách sử dụng các phương tiện dạy học khác nhau cho học sinh để học sinh có thể lưu trữ, xử lý thông tin một cách hiệu quả, góp phần vào chất lượng
tự học của học sinh
1.3.4 Khó khăn khi hướng dẫn hoạt động tự học môn Vật lý
Về sự hứng thú môn học thì môn Vật lý không gây kích thích và hứng thú với học sinh nhiều Nhận thức về môn học, vai trò của môn học và hứng thú của của môn học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nó có mối quan hệ chặt chẽ
và ảnh hưởng đến nhau Nếu học sinh có nhận thức đúng về môn học, có tình cảm với nó thì sẽ nên động cơ mạnh mẽ từ đó có ý chí để vượt qua mọi khó khăn, trở ngại trong việc học
Việc nâng cao năng lực, rèn luyện khả năng tự học của học sinh tuy rất quan trọng như đã phân tích, nhưng thực tế vẫn còn những GV chưa thật sự quan tâm rèn luyện cho HS khả năng này Có những giáo viên chưa bao giờ rèn luyện cho học sinh khả năng tổng hợp kiến thức bài học hoặc một chủ đề nào
đó Nhiều giáo viên còn chưa thấy hết tầm quan trọng của tự học, chưa coi trọng việc phát triển năng lực tự học cho HS trong quá trình dạy học, họ không xác định được kĩ năng cần thiết để tự học Vật lý, chưa có định hướng để hướng dẫn học sinh phát triển năng lực tự học
Bản thân môn Vật lý còn liên quan đến các hiện tượng tự nhiên, các định luật liên quan đến thí nghiệm, các sơ đồ nên việc khó khăn cho học sinh để đưa
ra các kiến thức đó là khả năng sử dụng các dụng cụ thí nghiệm, các kiến thức
về đơn vị đo… Nếu hoạt động tự học diễn ra ở nhà, thì đồ dùng học tập không
có, nếu có thì chỉ rất đơn giản, không đủ để đưa ra kết quả chính xác cho các định luật, các khái niệm khoa học
Ngoài ra, môn Vật lý còn là môn khoa học liên quan đến các môn khoa học khác như toán học, hóa học, địa lý, sinh học,…nên nếu học sinh không có kiến
Trang 29thức tổng hợp, sâu rộng, biết vận dụng, khái quát, tìm mối liên hệ giữa các môn với nhau thì khó có thể tìm ra được kết quả chính xác, câu trả lời xác đáng
1.3.5 Các tiêu chí đánh giá tự học môn Vật lý:
1.3.5.1 Khả năng lập kế hoạch học tập:
Việc lập ra kế hoạch cụ thể cho hoạt động học tập cũng là vạch ra định hướng, đường đi cho quá trình hoạt động học tập đó, cũng như vạch ra các phương pháp sư phạm cần có của người dạy Việc xây dựng được kế hoạch học tập chặt chẽ, logic, chất lượng sẽ dẫn tới hiệu quả của người dạy và kích thích người học nhiều hơn Chính vì vậy mà việc đầu tiên người giáo viên phải dạy cho học sinh biết:
➢ Cách lập kế hoạch cho chủ đề (học phần, chương, )
Cụ thể đối với phần Từ trường này ta cần hướng dẫn học sinh biết các yếu
tố để có thể lập được kế hoạch học tập như sau:
- Về quỹ thời gian: Với chương “Từ trường” cần bao nhiêu tiết? Ở đây với chương này theo phân phối chương trình sẽ gồm 4 bài, 8 tiết trong đó 5 tiết lý thuyết và 3 tiết bài tập
+ Việc dạy học chương này sẽ kéo dài bao nhiêu tuần? Kéo dài trong 4 tuần + Giờ dạy được phân bố như thế nào trong thời khóa biểu (thứ mấy, tiết mấy, thời gian mỗi buổi)
- Về mục tiêu học chương này: Học sinh phải trả lời các câu hỏi sau: + Học phần này nhằm thể hiện các mục tiêu chính nào?
Ví dụ: bài từ trường: Biết được khái niệm từ trường là gì và nêu được những vật nào gây ra từ trường
Biết cách phát hiện sự tồn tại của từ trường trong những trường hợp đơn giản và trong cuộc sống
Nêu cách xác định phương và chiều, độ lớn của từ trường tại một điểm khi chịu tác dụng bởi nhiều điện tích
Trang 30+ Những mục tiêu này có ý nghĩa gì với học sinh?
Thấy được sự cần thiết, giá trị to lớn của từ trường => từ đó có thể ứng dụng vào các hiện tượng cuộc sống
+ Những mục tiêu trên có thể chia thành các mục tiêu thành phần không? Nếu có thì được sắp xếp như thế nào?
Trong chương này thì các mục tiêu đều được sắp xếp theo thứ tự từ đơn giản đến phức tạp, theo mức độ
Tuy nhiên mục tiêu đặt ra về xác định lực lo-ren-xơ và nêu được các đặc trưng cơ bản của chuyển động của hạt mang điện tích trong từ trường đều được sắp xếp ở cuối chương do kiến thức ở bài này khá trừu tượng và phức tạp + Những mục tiêu thành phần nào có thể thực hiện trong quỹ thời gian trên? Tất cả các mục tiêu
- Về nội dung và kinh nghiệm học tập: Để đánh giá được phần tiêu chí này, học sinh phải trả lời được các câu hỏi sau:
+ Có thể đạt được mục đích của chương này thông qua các nội dung cụ thể nào?
+ Có thể tích cực hóa động cơ của học sinh thông qua chương Từ trường như thế nào? Có thể yêu cầu học sinh xây dựng nội dung theo các hình thức: lấp đề cương, lập bảng, sơ đồ hóa (dạng phân nhánh hoặc dạng hình vẽ, biểu đồ,…)
+ Những kiến thức nào liên quan đến chương mà học sinh đã có? (nội dung kiến thức cái nào là mới, cái nào nhắc lại, cái gì cần bổ sung, sửa chữa?)
- Về phương pháp và phương tiện dạy học: Học sinh cần trả lời được các câu hỏi:
+ Học sinh cần học như thế nào để có thể đạt chất lượng tốt nhất? (phương pháp, phương án, biện pháp nào?)
+ Học phần nào trong chương “Từ trường” thì học sinh cần hình thành năng lực tự học? (ở tất cả các bài hay chỉ một vài bài đơn lẻ)
Trang 31+ Ở chương này cần có đồ dùng, đồ thí nghiệm hay không? Liệu đồ dùng,
đồ thí nghiệm sẽ được sử dụng ở phần nào? Làm thế nào cho việc sử dụng phương tiện học tập đạt kết quả tốt nhất?
Trên cơ sở nắm được toàn bộ kế hoạch học tập của chương “Từ trường”
do giáo viên đề ra, người học sinh có thể vạch ra một kế hoạch thật chi tiết, tỉ
mỉ để phù hợp với năng lực, khả năng của mình sao cho đạt được kết quả tốt nhất Trong quá trình thực hiện kế hoạch đặt ra, nếu thấy có gì cần bổ sung thì cần bổ sung ngay để thực hiện phù hợp với quỹ thời gian đặt ra
1.3.5.2 Học sinh biết kế hoạch hóa, để quản lý thời gian
Kế hoạch hóa mục tiêu đã đề ra là yếu tố quyết định cho việc quản lý thời gian một cách hiệu quả
Kế hoạch dài hạn: Khi việc thực hiện kế hoạch đã đề ra, việc vạch ra các mốc quan trọng là cần thiết Kế hoạch ghi rõ các ngày như: ngày kiểm tra 15 phút, ngày kiểm tra 45 phút, ngày thi,…và từ đó thực hiện những “Ngày mốc” một cách tuân thủ Từ đó có thể lập ra kế hoạch học tập cụ thể phải hoàn thành
và phù hợp trong quỹ thời gian cho phép Việc này sẽ giúp cho người học có thể bố trí những khoảng thời gian cho các hoạt động khác ngoài việc học tập
Ví dụ như khi học xong mỗi bài, hôm sau lên lớp sẽ có 10 phút đầu giờ để kiểm tra bài cũ và trong khi học hết chương này sẽ có bài kiểm tra 15 phút Biết được như vậy sẽ giúp học sinh có khoảng thời gian thích hợp học môn Vật lý cũng như các môn khác
+ Kế hoạch trung hạn: Sau khi có kế hoạch dài hạn, người học có thể lập
kế hoạch theo tuần, với các chi tiết cụ thể hơn Người học có thể dùng sổ tay,
sổ nhật ký để phục vụ cho mục đích này, tuy nhiên cần giữ nguyên các “Ngày mốc” đã đặt ra và các cam kết được đưa ra từ trước
Ví dụ: Chương “Từ trường” Gồm 8 tiết học trong 4 tuần như vậy trung bình một tuần sẽ học một bài lý thuyết và còn lại là tiết bài tập Học sinh có thể phân chia thời gian để tìm hiểu lý thuyết bài mới ít hơn so với việc tìm hiểu bài
Trang 32tập phần này Và giành thời gian tự học lý thuyết trước khi tự nghiên cứu phần bài tập
+ Kế hoạch ngắn hạn: Đó là kế hoạch hàng ngày, chi tiết nhất, nó là một phần trong kế hoạch trung hạn, nó tập trung vào từng nhiệm vụ cụ thể một Ví
dụ như: trong bài “Từ trường của dây dẫn mang dòng điện có hình dạng đặc biệt” được phân thành 2 tiết lý thuyết, và sau bài này là một tiết bài tập Như vậy, học sinh cần có kế hoạch để có thể trong ngày hôm trước tự học phần lý thuyết đến mục II, còn lại để nghiên cứu sau Kế hoạch ngắn cũng giải quyết được các thử thách khó nhất vào thời gian thích hợp nhất để giải quyết vấn đề một cách thuận lợi
Có thể thực hiện nhiệm vụ trong thời gian rảnh rỗi (ngồi chờ xe bus, lúc chờ cơm, chờ một cuộc hẹn…)
- Biết cách tự học và tự tìm tòi, nghiên cứu tài liệu, sách tham khảo, giáo trình (nghe, nhìn, ghi chép, tóm tắt, tổng hợp…)
- Biết cách tìm mâu thuẫn để thắc mắc (hỏi bạn bè, thầy cô, hay bất cứ ai
có khả năng)
Trang 331.5.3.4 Người học có khả năng tự nắm vững được nội dung kiến thức
Trước hết người học sinh phải hiểu rõ: Sách là phương tiện quan trọng cho hoạt động tự học Cho dù nguồn thông tin khoa học hiện nay đến với con người
là vô cùng đa dạng và phong phú thì mọi thông tin, tri thức từ các ấn phẩm vẫn
là nguồn quan trọng nhất Như vậy việc đọc sách trở thành năng lực cần thiết,
là công cụ chủ yếu để tự học Như vậy, người tự học phải có khả năng nắm vững nội dung kiến thức thông qua biện pháp tự học với sách Khi giáo viên đã chọn ra được một vấn đề đưa ra để giải quyết, học sinh phải tìm hiểu được các nguồn sách, tài liệu có liên quan đến chủ đề được nêu ra Khi đã chọn lọc ra các tài liệu liên quan đến lĩnh vực, chủ đề, nhiệm vụ mà mình cần hoàn thành thì yêu cầu đặt ra cho học sinh là phải chọn lọc ra được kiến thức trọng tâm nhất, chắt lọc nhất Để làm được điều này, học sinh phải trả lời được các câu hỏi: Tài liệu đó đề cập đến nội dung gì? Có những mục nào, khía cạnh nào liên quan đến vấn đề cần giải quyết, Trong tất cả các nội dung liên quan đến vấn đề thì đặc điểm, nội dung nào là chủ yếu? là quan trọng? Từ các nội dung đã nghiên cứu, tóm tắt, chắt lọc xoay quanh các đặc điểm, nội dung chính của vấn đề từ
đó có thể giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng và thuận lợi Sau khi đã tìm được các nội dung chính thì học sinh cần sắp xếp theo một trình tự nhất định
để từ đó có thể dễ dàng nhìn ra luận điểm, khái niệm, đặc điểm, nội dung chính kèm theo được những ví dụ, dẫn chứng cụ thể, chặt chẽ, thuyết phục
Ví dụ: khi học xong bài “Lực từ” giáo viên có thể gợi ý cho học sinh: + Những tài liệu nghiên cứu về lực từ?
+ Về “Lực từ” ta cần chú ý những nội dung chính nào?
+ Sau đó diễn đạt, sắp xếp các ý chính, nội dung chính thành một trật tự logic chặt chẽ:
Về khái niệm “Lực từ”
Về đặc điểm vecto “Lực từ”
Trang 341.5.3.5 Người học phải có khả năng vận dụng kiến thức
Khi đã nắm được kiến thức, người học phải thường xuyên vận dụng các kiến thức đó để trả lời các câu hỏi, để làm bài tập, và đặc biệt có thể vận dụng vào chuyên môn, vào thực tiễn công việc hàng ngày, vận dụng vào cuộc sống của mình Việc vận dụng nhiều kiến thức đó khiến cho người học nhớ lâu kiến thức đó và người học mới thấy kiến thức đó rất cần thiết, cần thiết để vận dụng giải quyết vấn đề liên quan đến các môn học khác hay có thể lý giải một hiện tượng thiên nhiên nào đó từ đấy gây ra sự hứng thú với kiến thức đã học, khiến người học ngày càng hăng say nghiên cứu hơn
1.5.3.6 Người học phải có khả năng diễn đạt kiến thức bằng ngôn ngữ, quan điểm của riêng mình
Để giải quyết một nhiệm vụ, một vấn đề không chỉ nắm vững kiến thức
đó mà còn yêu cầu người học phải có khả năng diễn đạt kiến thức, tự tin, truyền cảm, đây là một kỹ năng quan trọng không chỉ cho việc học tập trên lớp mà còn rất quan trọng trong cuộc sống hàng ngày Người học sẽ trình bày kiến thức, sự hiểu biết hoặc niềm tin của mình về một vấn đề cụ thể, đây cũng là một phương pháp nhằm nâng cao kiến thức Để làm được điều này, người trình bày cần có một kiến thức tổng quan, sâu sắc về vấn đề đó, sau đó trình bày cụ thể như sau: + Thông tin này phải phù hợp, hữu ích với người nghe
+ Bài trình bày phải có mở đầu, dẫn dắt vấn đề, đưa ra một cái nhìn tổng quát trước, sau đó mới làm rõ các vấn đề trọng điểm (lý lẽ đưa ra bao gồm các dẫn chứng cụ thể), cuối cùng là tóm tắt lại vấn đề vừa nêu, có thể thay cho một lời tổng kết
+ Thông tin phải được sắp xếp theo trình tự từ đơn giản đến phức tạp, vấn
đề phải được trình bày một cách cụ thể, thích hợp, chẳng hạn như ngữ điệu bằng lời nói, tốc độ nói, cách phát âm, độ to nhỏ, nhấn mạnh khi trình bày cho phù hợp Chú ý trong khi người học diễn đạt có thể kích thích, tạo cơ hội cho
Trang 35người khác nêu câu hỏi hoặc trình bày quan điểm, hiểu biết của họ về vấn đề đang đưa ra
1.3.5.7 Người tự học phải có khả năng tự hoàn thiện nhiệm vụ học tập theo mục tiêu đề ra
Người tự học cần phải tự vận động mình để luôn thực hiện theo quy trình tự học: Tự học của bản thân, tự học với bạn bè, tự học với thầy cô hoặc người hướng dẫn Bản thân người tự học luôn theo một quy trình tự học hợp lý sẽ giúp cho người học luôn sẵn sàng, hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập tiếp theo
Sơ đồ 1.1 Quá trình tự học
- Tự học của bản thân: Người học tự nghiên cứu, tự khám phá ra kiến thức, cách thức mới để xử lý, giải quyết vấn đề thầy cô đặt ra Có thể, theo các trình
tự sau:
+ Nhận biết ra vấn đề, phát hiện ra các vấn đề liên quan
+ Thu thập thông tin, dữ liệu, bằng chứng liên quan đến vấn đề
+ Xử lý các thông tin liên quan đến vấn đề
+ Xây dựng các tình huống, các cách để giải quyết vấn đề
+ Thử nghiệm các phương án đã đưa ra
+ Tổng kết và đưa ra kết luận cuối cùng
- Tự học với bạn bè: Sau khi trải qua quá trình tự nghiên cứu, người học
có thể trao đổi thông tin trực tiếp với bạn bè Kết quả ban đầu do cá nhân tự
Tự học của bản thân
Tự học với bạn bè
Tự học hợp tác với giáo viên, người hướng dẫn
Trang 36nghiên cứu thể hiện niềm tin của người học, tuy nhiên để cho khách quan hơn thì kết quả đó phải được trải qua quá trình đánh giá, phân tích của các chủ thể khác (có thể là lớp học) Khi cá nhân người học trao đổi cá nhân với các bạn khác trong nhóm - lớp thông qua các hình thức khác nhau và người học cũng phải qua các thao tác sau đây:
+ Đưa ra các phương án, cách xử lý để giải quyết vấn đề
+ Đưa ra các kết quả nghiên cứu, xử lý của mình (có thể bằng văn bản, powerpoint, biểu đồ,…) sao cho người nghe dễ hiểu nhất
+ Tự trình bày sản phẩm đầu tiên của mình, dùng các lý lẽ sắc bén để bảo
đỡ của người giáo viên, là người trọng tài khoa học kết luận cuộc thảo luận và đưa ra kết quả cuối cùng trên nền tảng những kiến thức, phương án, cách xử lý của người học
- Tự học hợp tác với giáo viên, người hướng dẫn: Trong lúc học, người học cũng phải giữ vai trò chủ thể tích cực, không thụ động nghe giáo viên kết luận mà phải chủ động hỏi thầy về những vấn đề còn thắc mắc, về cách học, cách làm Sau đó ghi lại ý kiến kết luận của người giáo viên Dựa vào kết luận của giáo viên người học tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh bản thân, tự điều chỉnh sản phẩm, kết quả ban đầu để thành một một sản phẩm hoàn thiện Như vậy, nếu quy trình tự học luôn được thực hiện thì qua rất nhiều chủ đề, nhiều vấn đề của môn học, tự năm học này sang năm học khác, người học sẽ tự
Trang 37hình thành và phát triển dần dần cho bản thân các kỹ năng độc lập, tự chủ, năng lực giải quyết vấn đề và năng lực tự học sáng tạo
1.4 Vài nét về trường trung học phổ thông Lý Thường Kiệt, Bắc Ninh
Địa hình thành phố Bắc Ninh nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh, tiếp giáp với tỉnh Bắc Giang, cách trung tâm Hà Nội 30 km về hướng Nam Thành phố Bắc Ninh có địa hình tương đối bằng phẳng, là vùng địa hình đồng bằng, tiếp giáp trung du và tương đối bằng phẳng, không có đồi núi Bắc Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí hậu ôn hòa, lượng mưa trong năm dao động từ
1530 – 1776 giờ Với thế “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” nên thành phố Bắc Ninh thu hút rất nhiều các nhà đầu tư, các khu công nghiệp lần lượt mọc lên Chính bởi vì vậy, nên không ít các em học sinh đi học với mục đích kiếm được tấm bằng cấp 3 để về làm công nhân
Trường THPT Lý Thường Kiệt trước kia có tên là trường THPT Tiên Du
số 2, nằm trên địa bàn xã Hạp Lĩnh của huyện Tiên Du Nhưng từ năm 2015 đến nay, quy hoạch thành phố Bắc Ninh mở rộng nên trường đổi tên thành trường THPT Lý Thường Kiệt và thuộc phường Hạp Lĩnh, thành phố Bắc Ninh
Dù thuộc một phường của thành phố nhưng người dân nơi đây vốn gốc vẫn là thuần nông nên khả năng nhận thức còn chưa cao, trình độ dân trí còn thấp, các gia đình vẫn chưa quan tâm lắm đến việc học của các em nên học lực của các
em học sinh còn khá thấp, nhận thức còn chưa cao Điểm đầu vào của trường luôn đứng top cuối trong các trường THPT top 2 của tỉnh và dao động từ 11,5 đến 20 điểm Năm 2018 - 2019, tỉ lệ tuyển sinh học sinh thi trên 30 điểm chỉ ở con số rất ít Tỉ lệ đỗ tốt nghiệp dù đạt 100% tuy nhiên xét về số điểm thi đại học trên 20 điểm thì năm 2017 - 2018 chỉ đạt 10 học sinh, so với các trường khác thì tỉ lệ này khá thấp Chính bởi các số liệu thống kê trên nên ta cũng có thấy ý thức học tập của các em không cao
Trang 381.5 Tìm hiểu hoạt động tự học môn Vật Lý ở trường trung học phổ
thông Lý Thường Kiệt, Bắc Ninh
Để khảo sát hoạt động tự học của các em học sinh, tôi đã khảo sát trên 300 học sinh khối 11 tại trường THPT Lý Thường Kiệt vào đầu năm học 2018-2019 Các em đã hoàn thiện phiếu khảo sát được đưa ra và kết quả như sau:
Bảng 1.1 Phiếu khảo sát việc tự học
STT Câu hỏi Câu trả lời Số học sinh
Câu 1
Ở nhà rảnh rỗi
em thường làm gì?
phim, nghe nhạc, chơi điện tử…
B Học bài và làm bài giáo viên giao
D Phụ giúp các việc trong gia đình
C Muốn học
Trang 39B Có sự liên môn kiến thức với các môn khác
Trang 40C Nhiều hiện tượng, định luật quá trừu tượng
D Cả 3
Kết quả khảo sát cho thấy:
Ý thức tự học của học sinh chưa cao: 3% học sinh không tự học ở nhà và 60% học sinh giành 1 tiếng tự học ở nhà Trong số đó, 54% học sinh tự học là
do yêu cầu của bố mẹ, thầy cô giáo, không phải động lực tự thân…
Ý thức tự học môn vật lý: 13% học sinh không bao giờ tự học môn vật
lý ở nhà và 43% học sinh chỉ giành 30 phút để tự học môn vật lý Có thể thấy
ý thức tự học của học sinh còn ít, còn chưa được chú trọng
Nguyên nhân của tình trạng trên:
- Nguyên nhân khách quan: Do học sinh thiếu thời gian tự rèn luyện và tự học, do thời gian học chính vào buổi sáng, buổi chiều học sinh còn phải học thêm ở trường nên không có thời gian để tự học Tài liệu để tham khảo còn mông lung, không trọng tâm, lan giải Do hoàn cảnh kinh tế địa phương và hoàn cảnh xã hội (tỉ lệ học đại học ra trường xin được việc thấp, các nhà máy, xưởng sản xuất nhiều, xu hướng ra nước ngoài làm việc gia tăng) Sự quan tâm và kết hợp giữa giáo viên và phụ huynh học sinh còn chưa nhiều
- Nguyên nhân chủ quan:
+ Về phía học sinh: Thiếu động cơ học tập, thiếu kĩ năng và phương pháp học để nâng cao năng lực tự học Bản thân học sinh còn chưa khắc phục được những khó khăn, vướng mắc của mình